Gần đây, một số nghiên cứu trên người và động vật đã gợi ý rằng, chì có khả năng kích thích tạo gốc tự do và làm giảm chức năng của hệ thống chống gốc tự do trong cơ thể.. Hệ thống này h
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Chì và các hợp chất vô cơ của chì (gọi chung là chì) đã được sử dụng từ hàng ngàn năm trước công nguyên Mặc dù có nhiều tác hại đối với sức khoẻ con người, song chì là nguyên liệu không thể thay thế trong nhiều ngành công nghiệp [25] Vì vậy, chì vẫn tiếp tục được sử dụng rộng rãi trong hiện tại và tương lai cho nên số lượng người tiếp xúc không những không giảm mà còn
có xu hướng tăng lên Hiện có khoảng hơn 150 nghề và trên 400 quá trình công nghệ khác nhau có sử dụng chì và các hợp chất của chì [3] Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sản xuất ắc quy và sản xuất thuốc gợi nổ là hai ngành rất quan trọng, không những phục vụ cho quốc phòng mà còn phục vụ cho sự phát triển của đất nước
Chì gây nhiều tổn thương đa dạng và phức tạp trên hầu hết các cơ quan
và tổ chức như tổn thương hệ thống thần kinh, tiêu hóa, sinh sản, tim mạch, xương khớp, thận tiết niệu và đặc biệt nổi bật trên hệ thống tạo máu… Các nhà khoa học đã chứng minh rằng, cơ chế gây độc của chì là ức chế và liên kết đặc hiệu đối với các enzym, các chất sinh học có chứa nhóm -SH trong cấu trúc phân tử [25]
Từ những hiểu biết cơ bản này, người ta đã điều chế ra một số thuốc điều trị đặc hiệu để sử dụng trong điều trị nhiễm độc chì như dimercaprol (British Anti Lewisite, BAL), D-penicillamin, succimer, CaNa2EDTA Các thuốc này khi đưa vào cơ thể sẽ can thiệp vào cơ chế bệnh sinh do chì gây ra [5], [25], [62] Tuy nhiên, hiệu quả điều trị chưa được như mong muốn, nhất
là trong nhiễm độc chì mạn tính Bởi vậy, người ta đặt vấn đề: phải chăng ngoài cơ chế gây nhiễm độc được thừa nhận như đã nêu trên, chì còn gây tổn thương cơ thể theo những cơ chế khác nữa
Trang 2Vấn đề đặt ra là cần phải có hướng nghiên cứu tiếp về cơ chế bệnh sinh
và điều trị người tiếp xúc nghề nghiệp với chì Gần đây, một số nghiên cứu trên người và động vật đã gợi ý rằng, chì có khả năng kích thích tạo gốc tự do
và làm giảm chức năng của hệ thống chống gốc tự do trong cơ thể Như vậy, chì được xem như một xenobiotic, khi vào cơ thể có khả năng tác động như một stress oxy hóa Có thể đây là một trong các cơ chế sinh bệnh học quan trọng cần phải làm sáng tỏ Điều này phù hợp với đặc điểm tổn thương đa dạng và không mang tính đặc hiệu trên nhiều tổ chức và cơ quan trong nhiễm độc chì Làm rõ được vấn đề này, cần đánh giá sự thay đổi các enzym chống oxy hóa ở công nhân tiếp xúc nghề nghiệp với chì [36], [70], [123], [152]
Hiện nay, trên thị trường có nhiều loại dược phẩm có tác dụng chống oxy hóa như belaf, selen, glutathion… Ngoài tác dụng được coi là bổ, tăng lực, sinh thích nghi, chống viêm, giảm đau, bảo vệ gan…thì sâm Ngọc Linh
tự nhiên và sâm Ngọc Linh sinh khối đã được chứng minh là có khả năng chống oxy hóa rất tốt, bảo vệ cơ thể chống lại các stress oxy hóa [20] Việc ứng dụng và đánh giá hiệu quả bảo vệ của sâm Ngọc Linh tự nhiên hoặc sâm Ngọc Linh sinh khối đối với các đối tượng tiếp xúc độc hại nói chung và chì nói riêng là những vấn đề mới thực tế chưa được nghiên cứu nhiều Làm sáng
tỏ được vấn đề này, sẽ góp phần tìm kiếm thêm một loại chế phẩm tốt phục vụ cho công tác dự phòng và điều trị nhiễm độc chì trong tương lai
Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài này với mục tiêu:
1 Xác định sự thay đổi một số thông số chống oxy hóa và hóa sinh máu ở người tiếp xúc nghề nghiệp với chì và ở chuột nhắt trắng được gây nhiễm độc chì
2 Đánh giá tác dụng bảo vệ của sâm Ngọc Linh sinh khối trên chuột nhắt trắng được gây nhiễm độc chì bán trường diễn.
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Gốc tự do và hệ thống chống gốc tự do của cơ thể.
1.1.1 Khái niệm.
Gốc tự do là những nguyên tử, nhóm nguyên tử hay phân tử mà lớp ngoài cùng chứa các điện tử không ghép cặp (điện tử đơn độc) Chúng có thể mang điện tích âm hoặc không mang điện và có khả năng phản ứng cao Vì vậy, gốc tự do thường bất ổn cả về năng lượng cũng như động học Nó có khuynh hướng đạt tới sự ổn định, thời gian tồn tại rất ngắn, hoạt tính rất mạnh Quá trình sinh gốc tự do là một quá trình chuyển hóa bình thường của
cơ thể [12], [38], [138]
Gốc tự do có xu hướng mất điện tử để trở thành gốc khử hoặc nhận điện tử để trở thành gốc oxy hóa Gốc tự do không ghép cặp nên dễ dàng tấn công vào các phân tử tạo ra các phân tử mới, gốc mới và gây ra phản ứng dây chuyền Các gốc tự do chủ yếu là các dạng oxy hoạt động được hình thành qua chuỗi hô hấp tế bào, trong quá trình peroxy hóa lipid của các acid béo chưa bão hòa [2], [12], [38]
1.1.2 Gốc tự do và các dạng oxy hoạt động trong cơ thể.
Trong đời sống tế bào bình thường, oxy là nhiên liệu chủ yếu cần thiết cho sự sống của tế bào và cũng là nguồn gốc chính sản sinh ra gốc tự do Các dạng oxy hoạt động (reactive oxygen species - ROS) là những gốc tự do, những ion hoạt động, phân tử có chứa nguyên tử oxy, có khả năng sinh ra gốc
tự do hoặc được hoạt hóa bởi các gốc tự do [39]
Những dạng ROS quan trọng trong cơ thể sinh vật gồm: anion
superoxid O•2 , hydrogen peroxide (H
2O2), gốc hydroxyl (•OH), oxy đơn bội
1O2, gốc alkoxyl (LO•) hoặc peroxyl (LOO•)…
Trang 4+ Superoxid được tạo thành từ chuỗi hô hấp tế bào hoặc từ một số phản ứng tự oxy hóa và trong quá trình bùng nổ hô hấp của hiện tượng thực bào.
là chất tan trong lipid và có thể xuyên qua các màng sinh học
+ Gốc hydroxyl (•OH) được hình thành từ phản ứng Fenton hoặc phản ứng Haber-Weiss xảy ra chậm Khả năng phản ứng của gốc hydroxyl là rất lớn trong môi trường sinh học, có khả năng phản ứng với rất nhiều thành phần của tế bào
+ Gốc alkoxyl (LO•) hoặc peroxyl (LOO•), có thể được tạo ra dưới tác động của một gốc tự do có chứa oxygen (O•2 , HO• ) trên những chuỗi acid béo có nhiều nối đôi
+ Oxy đơn bội (1O2) là một dạng oxy có năng lượng cao, hình thành khi
O2 được cung cấp năng lượng, nó không phải là gốc tự do nhưng có khả năng oxy hóa cực mạnh, chỉ tồn tại trong nước và thời gian bán hủy là 2µs Oxy đơn bội được tạo thành ở hệ thống sinh học trong một số sắc tố như chlorophyll, retinal và flavin khi chúng được chiếu sáng với sự có mặt của oxy
1.1.3 Stress oxy hóa.
Trong những cơ thể sống ái khí khỏe mạnh, gần như có sự cân bằng giữa sản sinh các dạng oxy hoạt động với hệ thống chống oxy hóa [42] Stress oxy hóa dùng để chỉ sự mất cân bằng nghiêm trọng giữa quá trình tạo thành các dạng oxy hoạt động với hệ thống chống oxy hóa Nếu stress oxy hóa ở mức độ nhẹ, các phân tử sinh học bị tổn thương có thể được sửa chữa hoặc thay thế Ở mức độ nặng nề hơn, stress oxy hóa có thể gây tổn thương không hồi phục hoặc chết tế bào [12], [38]
Trang 5Stress oxy hóa có thể là kết quả của ba yếu tố: suy giảm hệ thống chống oxy hóa, tăng tạo thành các dạng oxy hoạt động và thiếu khả năng sửa chữa các tổn thương do quá trình oxy hóa trong cơ thể [12].
1.1.4 Quá trình hình thành các gốc tự do.
Các gốc tự do trong cơ thể được tạo ra thường xuyên: qua chuỗi hô hấp
tế bào, tác nhân phóng xạ, hội chứng viêm, trong hiện tượng thiếu máu cục bộ
- tưới máu lại, các tác nhân xenobiotic và một số tác nhân khác
1.1.4.1 Chuỗi hô hấp tế bào
Hô hấp tế bào được thực hiện trong ty thể, bao gồm các phản ứng oxy hóa khử oxy để sinh ra nước và năng lượng dưới dạng ATP (phản ứng oxy hóa khử là quá trình cho và nhận điện tử, do vậy sản sinh ra các gốc), O2 mà chúng ta hít thở nhận một điện tử ở bước đầu tiên tạo ra O•2 .
Cơ chất e- + •O-O• O 2•
•
2
O sinh ra tỷ lệ thuận với cường độ hô hấp tế bào (tỷ lệ với năng lượng
sinh ra), là một gốc anion độc hại ở mức trung bình và chúng bị phân hủy bởi
nhiều cơ chế khác nhau Sự phân huỷ O•2 được xúc tác bởi enzym SOD,
chuyển thành H2O2 theo cơ chế tự oxy hóa khử
2O•2 + 2H+ SOD →
H2O2 + O2SOD có hai dạng chính là MnSOD (là SOD mà trung tâm hoạt động có mangan) và CuZnSOD (là SOD mà trung tâm hoạt động có đồng và kẽm) Trong ty thể, enzym MnSOD phân hủy khoảng 80% gốc O•2 khi chúng vừa được
sinh ra, còn gốc nào thoát ra bào tương (khoảng 20%) sẽ bị loại bỏ bởi enzym CuZnSOD và nhờ hai enzym này mà gốc O•2 không đến được màng tế bào, vượt
ra ngoài tế bào và do vậy dịch ngoại bào hầu như không có O•2 [39], [134]
Trang 6H2O2 thường xuyên sinh ra do sự phân hủy O•2 , nồng độ H
2O2 (10-8 mol/L) và O•2 (10-12 mol/L) trong tế bào tương đối ổn định Tuy nồng độ thấp như vậy, nhưng sự tồn tại đồng thời của chúng trong môi trường sinh học là rất nguy hại Phản ứng giữa chúng sinh ra những sản phẩm 1O2 cũng rất nguy hại, gốc •OH với hoạt tính cao, có khả năng phá hủy những cấu trúc hữu cơ bền vững nhất của cơ thể và gây ra các quá trình bệnh lý
Khi không có mặt của ion Fe2+, Cu2+ thì phản ứng này xảy ra chậm, gọi
là phản ứng Harber-Weiss
O•2 + H
2O2 HO• + HO- + 1O2Khi có mặt của các ion Fe2+, Cu2+ thì tốc độ phản ứng xảy ra rất nhanh (phản ứng Fenton) Hai tiểu phân O•2 và H
2O2 không độc có thể tạo ra 1O2,
•OH có khả năng phản ứng rất cao, dễ dàng phản ứng với các chất hữu cơ tạo
ra các peroxid và từ đó tạo ra nhiều sản phẩm độc hại cho tế bào
2 O•2 + 2 H+ H2O2 + O2
Và khi đó ion kim loại chuyển tiếp (Fe2+, Cu2+) dễ dàng phân tách H2O2 thành gốc hydroxyl
Fe2+ + H2O2 HO• + HO- + Fe3+
Gốc •OH có khả năng phản ứng mạnh với hầu hết các phân tử sinh học
ở tốc độ khuếch tán, vì vậy nó thường phản ứng trước khi khuếch tán tới những nơi có khoảng cách xa trong tế bào Gốc •OH có thời gian tồn tại ngắn, khả năng gây tổn thương lớn, nhưng chỉ gây tổn thương trong phạm vi bán kính nhỏ [3], [12], [39], [145]
1.1.4.2 Tác nhân phóng xạ.
Các tia phóng xạ hoặc bức xạ có năng lượng cao, có khả năng bẻ gãy một phân tử tạo ra 2 hay nhiều gốc tự do Trong cơ thể chúng ta chiếm phần
Trang 7lớn là nước, do vậy khi các bức xạ có năng lượng cao tác động trên cơ thể, sẽ phân huỷ nước tạo thành các phân tử khác và sản sinh gốc tự do [3], [43].
1.1.4.3 Trong hội chứng viêm.
Theo Almagor M và cs (1984) [34], hội chứng viêm là một phản ứng
tự vệ của cơ thể khi có các tác nhân lạ xâm nhập vào cơ thể Khi các tác nhân (là các kháng nguyên) xâm nhập vào cơ thể sẽ bị bạch cầu đa nhân trung tính bắt giữ, đồng thời lại kích hoạt bạch cầu đa nhân trung tính tăng tiêu thụ oxy, kích thích enzym của màng tế bào là NADPH-oxidase, từ đó gây phản ứng xúc tác bởi enzym này, kết quả cuối cùng là tạo ra O•2 Nếu số lượng gốc tự
do sinh ra quá nhiều sẽ gây nên một tỷ lệ bạch cầu bị chết, giải phóng các gốc ROS ra ngoại bào gây nên hiện tượng viêm
1.1.4.4 Trong quá trình thiếu máu cục bộ và tưới máu lại.
Khi thiếu máu cục bộ do lòng mạch máu bị hẹp hoặc có cục máu đông, các chất xanthine được tích lũy do tăng thoái hóa ATP và xanthine oxidase được hoạt hóa Khi có sự tưới máu trở lại, với sự có mặt của oxy, xanthine oxidase xúc tác phản ứng chuyển điện tử từ hypoxanthine và xanthine sang O2
và phản ứng oxy hóa xảy ra rất mạnh, một lượng lớn gốc O•2 hình thành lại
Trang 8-COOH tạo thành các chất dễ tan trong nước và tiếp tục liên hợp với các chất, đào thải ra khỏi cơ thể.
Trong quá trình chuyển hóa các chất xenobiotic, tạo ra các dạng ROS như O•2 , 1O2 có độc tính cao và gây ra tình trạng stress oxy hóa Các chất chống oxy hóa trong cơ thể như SOD, catalase, protein có nhóm SH, ceruloplasmin trong hồng cầu và gan rất nhạy cảm với các xenobiotic Do vậy, khi có các xenobiotic xâm nhập vào cơ thể, các chất chống oxy hóa này
sẽ thay đổi theo hướng chống lại các tác nhân đó [27], [68], [138]
1.1.4.6 Một số tác nhân khác.
Trong một số bệnh lý: bệnh đái đường, vữa xơ động mạch, bệnh lý nhãn khoa, lão hóa, bệnh Parkinson và Alzheimer…cũng tăng tạo các dạng ROS [7], [12]
1.1.5 Hệ thống chống oxy hóa trong cơ thể.
Trong cơ thể luôn tồn tại các dạng oxy hoạt động, đồng thời cũng tồn tại một hệ thống chống oxy hóa để loại bỏ các tác hại của chúng Hệ thống này hoạt động theo 4 con đường sau: (1) tạo phức làm mất khả năng xúc tác của các kim loại chuyển tiếp (transferin), (2) làm gián đoạn các phản ứng lan truyền (α-tocoferol), (3) làm giảm nồng độ các gốc tự do hoạt động (glutathion), (4) thu dọn các gốc tự do tham gia khơi mào phản ứng (superoxid dismutase) [41]
Hệ thống gồm các chất chống oxy hóa có bản chất enzym và có bản chất không enzym
Trang 9Sơ đồ 1.1 Mối liên quan giữa các enzym bảo vệ tế bào
và các chất chống oxy hóa
(Nguồn: theo William J Marshall, Stephen K Banger (1995) [161])
1.1.5.1 Hệ thống chống oxy hóa có bản chất enzym.
- Superoxid dismutase (SOD, EC 1.15.1.1)
Superoxid dismutase (SOD) là enzym chống oxy hóa có chứa kim loại
thuộc loại oxidoreductase, nó xúc tác cho phản ứng chuyển hóa superoxid thành O2 và H2O2:
Trang 10Cơ chế phản ứng của SOD: SOD là metalloenzym chống oxy hóa hữu hiệu trong tế bào, xúc tác phản ứng dị ly oxy hóa khử, phân hủy gốc superoxid Quá trình trao đổi điện tử thực chất xảy ra tại trung tâm hoạt động ion kim loại (Me) theo cơ chế phản ứng oxy hóa khử vòng gồm 2 bước:
Me3+ + O•2 Me2+ + O2
Me2+ + O•2 + 2H+ Me3+ + H2O2Đầu tiên Me3+ bị khử bằng cách nhận một điện tử của gốc O 2• và trở
thành dạng oxy hóa Me2+,còn O•2 chuyển thành O
2 Khi đó Me2+ tiếp tục tương tác với một gốc O•2 và nhường điện tử cho nó, với sự có mặt của H+ chúng kết hợp với nhau để tạo thành H2O2 Quá trình này tiếp tục lặp đi, lặp lại tạo nên một chu trình phản ứng khép kín Chu kỳ bán hủy của SOD từ vài phút đến vài giờ, nó phụ thuộc vào nhóm SOD khác nhau SOD không qua được màng
tế bào nên chỉ có tác dụng cải thiện khả năng chống oxy hóa nội bào [12], [39]
- Catalase (CAT, EC 1.15.1.1).
Catalase là enzym xúc tác phản ứng phân hủy H2O2 và chỉ hoạt động khi H2O2 ở nồng độ cao (lớn hơn 10-8 mmol/L), catalase không phân hủy được peroxide hữu cơ và H2O2 vô cơ ở nồng độ thấp vì chúng chỉ được hoạt hóa khi H2O2 ở nồng độ cao
H2O2 H2O + ½ O2
Catalase có mặt trong hầu hết các tế bào và các mô động vật nhưng hoạt tính mạnh nhất là ở gan và thận, ít nhất là ở mô liên kết và trong các mô, catalase có chủ yếu trong các ty thể và peroxisome [12], [39], [88], [138]
Trang 11Peroxidase là một nhóm enzym xúc tác các phản ứng oxy hóa khử, thuộc lớp oxidoreductase, xúc tác cho phản ứng sau.
AH2 + H2O2 A + 2H2O
Những gốc O•2 được sinh ra từ O
2 trong chuỗi vận chuyển điện tử sẽ bị SOD phân huỷ, nhưng lại tạo ra nhiều H2O2 Vì vậy việc loại bỏ H2O2 là rất cần thiết, đảm bảo hoạt động nội bào diễn ra bình thường Peroxidase sử dụng
H2O2 như là một chất nhận điện tử xúc tác cho nhiều phản ứng oxy hóa khử khác nhau, khi đó H2O2 bị khử thành H2O
Hầu hết các peroxidase có cùng cơ chế xúc tác phản ứng phân giải
H2O2 và được thực hiện theo các bước sau:
- Glutathion peroxidase (GPx) (E C.1.11.1.9).
GPx là enzym xúc tác cho phản ứng loại bỏ các loại peroxid, hoạt động ở
các mô và trong hồng cầu khi nồng độ H2O2 thấp
Trang 12Enzym này chủ yếu tồn tại bên trong ty thể và bào tương của tế bào, ở dịch ngoại bào rất thấp
GPx có hai loại: không phụ thuộc selen chiếm 20%, xúc tác sự khử các hydroperoxid hữu cơ khi có mặt glutathion nhưng không có tác dụng trên
H2O2; GPx phụ thuộc selen chiếm 80% xúc tác loại bỏ H2O2
Glutathione có bản chất là một tripeptide (L-γ-glutamyl cysteinyl glycine), chính nhờ sự liên kết γ-peptide giữa glutamic acid và cysteine đó mà glutathione được bảo vệ, tránh khỏi sự phân hủy bởi amino peptidase Glutathione tồn tại ở 2 dạng: dạng khử (thiol GSH) và oxy hóa (disulfide GS-SG) Cơ chế phản ứng của glutathione tham gia vào quá trình phân giải hợp chất peroxide như sau:
Hệ thống glutathion peroxidase gồm: glutathion peroxidase, glutathion reductase, glucose-6-phosphat dehidrogenase Hoạt độ của GPx và catalase phụ thuộc vào nồng độ H2O2, khi nồng độ H 2O2 cao ức chế GPx và hoạt hóa catalase hoạt động và ngược lại khi nồng độ H2O2 thấp chỉ có GPx hoạt động
và catalase bị ức chế, điều này rất quan trọng vì nó tiết kiệm glutathion dạng khử cho cơ thể [2], [137]
1.1.5.2 Hệ thống chống oxy hóa có bản chất không enzym.
Gồm ba nhóm chính: nhóm các polyphenol, các phối tử sắt và đồng, các thiol Các nhóm có thể tồn tại ở cả trong và ngoài tế bào Hệ thống này hỗ trợ hệ thống chất chống oxy hóa có bản chất enzym
- Nhóm các polyphenol
Trang 13Các polyphenol (dạng ortho) có khả năng tạo phức với ion sắt hoặc đồng nên có thể làm mất khả năng xúc tác của những ion này ở phản ứng Fenton [12].
+ Vitamin E.
Là chất chống oxy hóa hòa tan trong lipid, phân bố rộng khắp trong các
tế bào, được coi như chất bảo vệ của màng sinh học và ngăn cản quá trình oxy hóa các acid béo chưa bão hòa của màng
Vitamin E có thể liên kết với phần hydrocacbon của acid béo chưa bão hòa nhiều nối đôi, vì vậy nó tiếp cận gần vị trí của quá trình peroxi hóa, dập tắt những phản ứng chuỗi của gốc tự do
Cơ chế chống oxy hóa: vitamin E bị oxy hóa, trở thành gốc tocopherol không bền vững và bị bẻ gẫy dị vòng tạo nên tocopherol quinon (đây không phải là chất chống oxy hóa trong cơ thể sống và không biến đổi trở lại thành vitamin E) Hoạt tính chống gốc tự do của vitamin E được tăng cường nếu phối hợp với β caroten, vitamin C và selen [23], [38]
+ Các flavonoid
Là một họ chất rất phổ biến trong thực vật, có bản chất hóa học là những polyphenol Các flavonoid có các nhóm hydroxyl phenolic, nhóm carbonyl, vòng thơm benzen nên chúng có khả năng phản ứng rất lớn Chúng
có khả năng triệt tiêu các gốc tự do sinh ra trong quá trình bệnh lý của cơ thể, tạo nên những gốc tự do của chúng bền vững hơn và không tham gia vào dây chuyền phản ứng gốc [3], [38]
Trang 14caroten có thể hấp thu năng lượng của hàng ngàn phân tử 1O2 rất nguy hiểm, sau đó giải phóng năng lượng dưới dạng nhiệt vô hại [2], [3].
+ Vitamin C.
Vitamin C là chất chống oxy hóa, chống gốc tự do điển hình ở ngoại bào Vitamin C có tác dụng đưa vitamin E từ dạng oxy hóa về dạng khử (phục hồi vitamin E sau khi vitamin E tham gia quá trình chống gốc tự do)
Vitamin E-O• + Vitamin C khử Vitamin E-OH + Vitamin Coxy hóa
Vitamin C còn có tính chất chống oxy hóa ở môi trường nước như loại hydrogen peroxide, loại bỏ các gốc O 2• ,•OH và chặn đứng các phản ứng dây chuyền theo cơ chế gốc tự do [3], [12], [28]
- Nhóm các phối tử sắt và đồng.
Ion sắt và đồng xúc tác phản ứng Fenton, tạo nên hai dạng oxy hoạt động rất độc hại cho cơ thể là gốc hydroxyl (•OH) và oxy đơn bội Ion sắt nếu tạo được phức qua đủ 6 liên kết phối trí thì không có khả năng xúc tác phản ứng trên nữa Một số chất tạo phức chelat với sắt có đủ 6 liên kết phối trí như:
+ Transferrin: là dạng protein vận chuyển sắt của huyết tương, ở
người khỏe mạnh chỉ cần huy động 20 - 30% lượng transferrin là đủ làm mất hoạt tính xúc tác của sắt Trong một số trường hợp quá tải sắt (hồng cầu vỡ nhiều trong huyết tán, uống thuốc chứa sắt quá nhiều, tổn thương cơ ), huyết tương không đủ transferrin và phản ứng Fenton xảy ra rất mạnh
+ Lactoferin: có nhiều trong dịch sữa, dịch nước mắt, nước mũi, nước
bọt Lactoferin làm mất hoạt tính xúc tác của sắt trong các dịch trên
+ Ceruloplasmin: là một protein chứa đồng, có khả năng tạo phức với
đồng và làm mất hoạt tính xúc tác phản ứng Fenton của đồng, nó cũng oxy hóa Fe2+ thành Fe3+, ngăn cản sự tạo thành các gốc oxy hoạt động từ phản ứng Fenton [39], [85]
- Nhóm các thiol
Trang 15Có cấu trúc RSH (R: gốc hydrocarbon), có tính khử mạnh Nhóm các thiol cùng với vitamin C chuyển vitamin E từ dạng oxy hóa sang dạng khử, hồi phục chức năng, dập tắt mạch peroxy hóa lipid của vitamin E [2], [12].
Các thiol có khả năng trung hòa gốc tự do như •OH tạo ra gốc thyil R-SH + HO• RS• + H2O
Các gốc thyil (RS•) có thể kết hợp với nhau để tạo thành phức hợp chất disulfur (RS-SR) hoặc trung hòa một gốc oxy hóa khác:
- Trạng thái chống oxy hóa toàn phần (total antioxidant status: TAS).
TAS là trạng thái chống oxy hóa toàn phần của huyết tương dựa trên khả năng ức chế và chống lại các chất oxy hóa của các chất chống oxy hóa Chúng được quy cho là bao gồm tất cả các chất chống oxy hóa có trong cơ thể, gồm nhiều hệ thống bảo vệ nhằm chống lại những ảnh hưởng có hại của gốc tự do và hiện tượng peroxid đối với cơ thể
TAS được sử dụng để đánh giá tổng quát nhất về tình trạng hoạt động của hệ thống chống oxy hóa của cơ thể, biểu thị tính sẵn sàng ứng phó của cơ thể đối với stress oxy hóa [12], [23], [27]
Tình trạng chống oxy hóa toàn bộ trong cơ thể phụ thuộc vào các chất chống oxy hóa có bản chất enzym và các chất chống oxy hóa có bản chất không enzym Khi khảo sát giá trị TAS có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá khả năng đáp ứng cơ thể với việc loại bỏ gốc tự do sinh ra trong cơ thể
Trang 161.2 Ảnh hưởng của chì đối với cơ thể.
- Chì và các hợp chất vô cơ của chì thường được sử dụng là chì kim loại, quặng chì, chì thiếc, các loại oxyd chì, chì acetat, stypnat chì, azotua chì…
- Một số nghề nghiệp tiếp xúc với chì như sản xuất pin ắc quy, sơn chống gỉ, làm chất màu trong sơn tổng hợp và trong hội họa, trong ngành dược, ngành nông nghiệp để diệt côn trùng, trong y học tại các buồng chụp x-quang, xạ trị để bảo vệ nhân viên y tế Trong kỹ thuật quân sự, chì được sử dụng với lượng lớn để đúc đầu đạn, chế tạo các thuốc gợi nổ , những rối loạn của cơ thể do đạn chì lưu lại trong cơ thể đã được Menally W M quan sát sau
27 năm [25]
Hiện tại có nhiều ngành nghề mà công nhân phải trực tiếp tiếp xúc với chì, trong đó sản xuất pin ắc quy chì, sản xuất đầu đạn, thuốc gợi nổ trong ngành công nghiệp quốc phòng là hai ngành rất quan trọng và có số lượng lớn công nhân phải làm việc và tiếp xúc hàng ngày, do vậy họ có thể bị nhiễm độc chì
1.2.2 Đường xâm nhập, phân bố, thải trừ chì trong cơ thể.
1.2.2.1 Đường xâm nhập.
Trang 17Chì có thể xâm nhập vào cơ thể qua 3 con đường: đường hô hấp, đường tiêu hóa và qua da, nhưng chủ yếu qua đường tiêu hóa, hô hấp Đường qua da thường ít gặp trừ khi da bị tổn thương Chì hấp thu qua đường hô hấp
sẽ đi thẳng vào máu, tới các cơ quan mà không qua vai trò khử độc của gan, nên rất nguy hiểm Qua đường tiêu hóa, chì được giữ lại ở gan, tại đây chì được chuyển hóa làm giảm độc tính, sau đó đào thải qua mật, nước tiểu và phân ra ngoài, phần còn lại trong cơ thể có thể gây độc tính trên các cơ quan,
tổ chức [25], [160]
1.2.2.2 Phân bố và thải trừ chì trong cơ thể.
- Phân bố: chì được phân bố rộng trên nhiều cơ quan tổ chức, nhưng chủ yếu ở xương (xương xốp), hồng cầu, gan, thận, tổ chức thần kinh… Người ta thấy rằng có đến 94 - 95% chì trong cơ thể tập trung ở xương và chủ yếu dưới dạng không hoà tan, trong máu chì chủ yếu tập trung trong hồng cầu (chiếm 95%) [25], [67]
Khi mổ tử thi những người nhiễm chì ở vùng Bantimo thấy chì phân bố trong các mô mềm như sau: gan chứa 2,2µg chì/g tổ chức, thận chứa 2,0µg chì/g, phổi chứa 0,80µg chì/g và tụy chứa 0,92µg chì/g tổ chức Như vậy, gan
và thận chứa nhiều chì hơn, có thể do đảm nhận chức năng khử độc và chức năng bài tiết [25]
- Thải trừ: chì được thải trừ chủ yếu qua đường tiết niệu và tiêu hóa, qua tuyến nước bọt, chì đọng lại ở niêm mạc miệng tạo thành đường viền Burton, qua mật, phân Ngoài ra còn các đường bài tiết khác như mồ hôi, bong da, rụng lông, tuyến sữa (phụ nữ cho con bú) [67], [160]
Chì xâm
nhập vào cơ
Chì gắn vào
tổ chức mềm Chì gắn vào
tổ chức
Chì đào thải (nước tiểu,
Trang 18Sơ đồ 1.2 Phân bố chì trong cơ thể
(Nguồn: theo Baloh R W (1974 [37])
- Quá trình phân bố và tích lũy chì trong cơ thể thể hiện:
+ Xâm nhập vào các mô mềm (tủy xương, gan, thận ) và gây độc trực tiếp
+ Tích lũy vào các tổ chức cứng (trong xương, tóc, răng ) và có thể giải phóng trở lại máu gây nhiễm độc tái phát
1.2.3 Cơ chế tác dụng, khả năng sinh gốc tự do, ức chế hệ thống chống oxy hóa của chì vô cơ.
1.2.3.1 Cơ chế tác dụng chung.
Chì cũng giống như một số kim loại khác, sau khi vào cơ thể sẽ ức chế
và liên kết chọn lọc đối với hệ thống enzym, các phân tử sinh học có chứa nhóm thiol -SH gây ra nhiều rối loạn sinh hóa quan trọng của tế bào Từ đó gây nên nhiều tổn thương đa dạng, phức tạp trên hầu hết các cơ quan và tổ chức Tác dụng đối với các enzym rất phức tạp vì ngoài tác dụng của phản ứng giữa ion kim loại với protein của enzym, nó còn tác dụng đối với trung tâm hoạt động
và gây ảnh hưởng tới cơ chế xúc tác của enzym [25], [160]
Chì ức chế các enzym chứa nhóm -SH theo sơ đồ sau :
Trang 19Cơ chế trên được thể hiện rõ ràng nhất trong quá trình tổng hợp Hem
và hemoglobin Chì tác động lên nhiều chặng của quá trình đó: làm giảm hoạt tính δ-ALAdehydratase, tích lũy và tăng thải theo nước tiểu acid δ-aminolevulinic (ALA), tăng thải theo nước tiểu coproporphyrin, giảm hàm lượng hemoglobin, giảm số lượng hồng cầu, tăng số lượng hồng cầu hạt kiềm, sắt huyết thanh
Jangid A P và cs (2012) [82], nghiên cứu trên 250 người, từ 20 - 70 tuổi, thấy δ-ALAD tương quan nghịch với nồng độ chì máu y = -0,587x + 46,79 (r = -0,425; p<0,001) Wang Q và cs (2010) [158], trong nghiên cứu của mình, cũng cho thấy δ-ALAD có tương quan nghịch với nồng độ chì máu
Chu trình Krebs
Succinyl-CoenzymA + Glyxin
ALA-synthase Acid δ-aminolevulinic (ALA)
ALA dehydratase (ALAD)
Porphobilinogen
Porphobilinogen deaminase
Trang 20Sơ đồ 1.3 Các vị trí tác động của chì trong quá trình tổng hợp Hem
(Nguồn: theo Ahamed M, Siddiqui M K J (2007) [33])
1.2.3.2 Cơ chế sinh gốc tự do, ức chế hệ thống chống oxy hóa của chì vô cơ.
Trên cơ sở hiểu biết về cơ chế tác dụng của chì, các nhà khoa học đã nghiên cứu và chế tạo ra một số sản phẩm thuốc để sử dụng trong dự phòng và điều trị nhiễm độc chì cấp tính và mạn tính như: BAL, D-penicillamin, succimer Các thuốc này đều có hai nhóm -SH, khi đưa vào cơ thể sẽ tạo phức với chì, do đó hạn chế tác dụng của chì lên hệ thống enzym chứa nhóm -SH
Tuy nhiên, hiệu quả dự phòng và điều trị, thực tế là chưa cao như kỳ vọng, nhất là trong nhiễm độc mạn tính, chính vì vậy các nhà khoa học đặt câu hỏi phải chăng ngoài cơ chế tác dụng của chì như đã biết, chì còn có tác động lên cơ thể theo những cơ chế khác Trong những năm gần đây, một số nhà khoa học đã đề cập đến khả năng sinh gốc tự do của chì, coi chì là một xenobiotic, khi vào cơ thể gây stress oxy hóa Đây là vấn đề mới đang được quan tâm nghiên cứu và từng bước làm sáng tỏ
Một số tác giả cho rằng, chì vô cơ gây ra stress oxy hóa bằng 2 cơ chế đối lập và liên quan chặt chẽ đến nhau: kích thích tạo gốc tự do và giảm khả năng chống oxy hóa của cơ thể
- Kích thích tạo gốc tự do: Gốc tự do được tạo thành từ 4 nguồn chính
là: (1) quá trình enol hóa và oxy hóa của acid aminolevulinic (ALA), (2) quá trình tự oxy hóa của oxyhemoglobin, (3) sự tăng cường hoạt tính của các enzym oxy hóa, (4) sự oxy hóa của nitric oxid bởi các gốc tự do
Tác động trên quá
Trang 21+ Từ acid δ-aminolevulinic (δ-ALA) (nguồn gốc chính): do chì có khả năng gắn với nhóm -SH của ALAD, ức chế ALAD và ferrochelatase nên δ-ALA không chuyển hóa thành Hem được, dẫn đến ứ đọng δ-ALA ALA ứ đọng nhanh chóng bị enol hóa, từ dạng ceto=ALA thành enol-ALA, enol-ALA
sẽ bị oxy hóa thành các gốc tự do, kèm theo sản phẩm chuyển hóa là dioxovaleric acid là một chất alkyl hóa cũng có khả năng gây tổn thương cho vật liệu di truyền Kết quả dẫn đến giải phóng các chất tiền oxy hóa như O•2
4,5-và H2O2, OH•, NH4+, ALA• [3], [33], [36],[102]
+ Chì tương tác với oxyhemoglobin trong hồng cầu, kích thích quá trình tự oxy hóa của hemoglobin Sản phẩm của quá trình tự oxy hóa này là H2O2 [70]
+ Từ các enzym chống oxy hóa: trong nghiên cứu in vitro tế bào nuôi
cấy, cho thấy chì cũng có khả năng làm tăng hoạt tính của một số các enzym
có khả năng dẫn đến hình thành các gốc tự do, bao gồm enzym CuZn-SOD và xanthine oxidase [36]
+ Tạo gốc tự do từ sự oxy hóa nitric oxid: các gốc tự do vừa sinh ra có khả năng oxy hóa nitric oxid thành peroxynitrit ONOO- lại là chất oxy hóa mạnh tạo ra các gốc tự do [152]
Sơ đồ 1.4 Quá trình sinh gốc tự do của chì.
(Nguồn: theo Flora S J, Mittal M, Mehta A (2008) [62])
- Ức chế hệ thống chống oxy hóa:
Trang 22+ Chì gắn kết với nhóm -SH: nhóm -SH có trong GSH, ALAD, G6PD,
GR Gắn với nhóm -SH của GSH, GR làm giảm mức GSH, GR Gắn nhóm -SH của G6PD làm giảm hoạt tính G6PD, GSH và tỉ lệ GSH/GSSH [49],[123].+ Chì làm giảm hấp thu yếu tố vi lượng như selen, Cu, Zn Các enzym chống oxy hóa như GPx, SOD, CAT cần có các yếu tố vi lượng này để duy trì hoạt tính Do đó chì làm giảm hoạt tính các enzym chống oxy hóa [85] Nồng
độ chì máu có sự tương quan nghịch với nồng độ selen trong máu cũng như selenoprotein Mà selen là chất chống oxy hóa rất quan trọng, dẫn đến chì làm giảm khả năng chống oxy hóa của cơ thể [3]
+ Tăng tính phản ứng của màng tế bào với các tấn công oxy hóa Tấn công oxy hóa lên màng tế bào thường nhằm vào các acid béo bằng cách tách một nguyên tử H ra khỏi nhóm CH3 của chuỗi carbon Các liên kết đôi C=C làm cho nguyên tử H dễ bị tách ra khỏi các nhóm CH2 hơn so với các liên kết đơn C-C Vì thế các acid béo chưa no, nhiều liên kết đôi dễ dàng bị tổn thương hơn
là các acid béo no, ít liên kết đôi do bị các tấn công oxy hóa [133]
Các nghiên cứu cho thấy chì làm tăng số lượng liên kết đôi trong các phân tử acid, base màng tế bào, vì thế làm cho màng tế bào tăng tính cảm thụ với các gốc tự do Đồng thời chì cũng gắn trực tiếp vào phosphotidylcholine của lớp phospholipid màng tế bào, do đó tạo thuận lợi hơn cho quá trình tấn công oxy hóa lên màng tế bào [124]
- Từ đó chúng tôi tổng hợp thành sơ đồ:
Trang 23Sơ đồ 1.5 Cơ chế kích thích tạo gốc tự do
và ức chế hệ thống chống oxy hóa do nhiễm độc chì vô cơ
1.2.4 Tác hại của chì trên các cơ quan.
1.2.4.1 Trên hệ tạo máu
Trong nhiễm độc chì, thiếu máu là một trong những triệu chứng hay gặp Do chì gây rối loạn tổng hợp hem: ức chế nhiều enzym trong quá trình tổng hợp hemoglobin, tác động vào việc sử dụng sắt hoặc ảnh hưởng tới quá trình tổng hợp các chuỗi globin của hồng cầu, sự tổng hợp không đồng bộ giữa các chuỗi α và β globin [25], [32], [67]
Hồng cầu có sự giảm thẩm thấu do chì ức chế enzym Na-K-ATPase ở màng tế bào cùng với sự mất kali nội tế bào gây rối loạn ion trong và ngoài hồng cầu, làm mất sự toàn vẹn của màng hồng cầu dẫn đến hồng cầu dễ vỡ và tuổi thọ hồng cầu ngắn lại [25], [145], [160]
Trang 24Chì ảnh hưởng đến hình thái tế bào, ức chế hoạt động của enzym pyrimidine-5-nucleotidase, làm tích tụ pyrimidin nucleotid dẫn đến xuất hiện nhiều hồng cầu hạt kiềm trong máu ngoại vi Ngoài ra, bạch cầu trung tính giảm khả năng hóa ứng động ở những người tiếp xúc với chì và trên động vật thực nghiệm [160]
1.2.4.2 Trên hệ thần kinh.
Chì có thể gây tác hại trên não hoặc thần kinh ngoại vi [136]
Bệnh não do chì: bệnh nhân vật vã, dễ cáu giận, nhức đầu, run cơ, hoang tưởng, mất trí nhớ, mê sảng, co giật, liệt và hôn mê Ở những trường hợp tử vong, thấy có phù não và biến đổi mạch máu Chì có thể gây viêm não kiểu Parkinson
Theo Lê Trung [25], trong nghiên cứu 11 năm của Needleman H L thấy rằng chức năng ứng xử giảm, chỉ số IQ giảm, phản xạ tay, mắt giảm và có mối tương quan nghịch giữa chì máu và chì trong răng
Đối với hệ thần kinh ngoại biên: các chức phận vận động bị tổn thương, suy nhược các cơ duỗi, tăng cảm hoặc mất cảm giác đau, suy giảm tốc độ dẫn truyền thần kinh [10], [160]
1.2.4.3 Trên hệ thống tiết niệu.
Tổn thương thận trong nhiễm độc chì, thường gặp là tổn thương mạn tính Nguyên nhân do chì gây tổn thương mạch máu (chủ yếu là mao mạch) dẫn đến tổn thương vi tuần hoàn thận đồng thời chì còn có khả năng gây tổn thương nhu mô thận, rối loạn NAG (N-acetyl-beta-D-glucosaminidase) ở ống thận [53], [73] Viêm thận cấp do nhiễm chì thường hiếm gặp [67], [159]
Theo Lê Trung [25], trong một nghiên cứu ở 102 trường hợp nhiễm độc chì nhận thấy có 18 trường hợp có bệnh thận mạn tính được xác định về lâm sàng và khi định lượng nồng độ chì máu trong khoảng từ 42 - 141 μg/dL; trong những trường hợp nhiễm độc chì mạn tính (liều thấp, dài ngày) thấy có
Trang 25thay đổi về hình thái và chức năng thận, tế bào ống thận (có biểu hiện của suy thận: làm tăng nồng độ ure máu, giảm độ thanh lọc creatinin).
1.2.4.4 Trên hệ thống tiêu hóa.
- Cơn đau bụng chì, táo bón, buồn nôn, nôn, chán ăn, gầy sút cân thường gặp ở các công nhân có nhiễm độc chì [25], [67] Tỷ lệ cơn đau bụng chì tăng lên khi nồng độ chì máu tăng, cơn đau bụng chì cũng còn được xác định qua lượng coproporphirin niệu tăng, hồng cầu hạt kiềm tăng và thiếu máu [10]
- Đối với gan: chì được cố định tại gan và thải trừ do vậy có thể gây độc, nó tác động đối với hệ thống cytochrom P450 của gan, do vậy ảnh hưởng tới quá trình chuyển hoá thuốc và các chất xenobiotic [10], [25]
Theo Lê Trung [25], khi nghiên ở 301 thợ đúc chì thấy hoạt độ AST tăng trên 50 U/L, ở 11,5% số người có nồng độ chì máu nhỏ hơn 70 μg/100 mL, ở 20% số người có nồng độ chì máu 70 μg/100 mL và ở 50% số người nhiễm độc
có nồng độ chì máu lớn hơn 100 μg/100 mL
1.2.4.5 Trên hệ thống tim mạch
- Tác hại đến mạch: chì làm cho động mạch thận bị biến đổi, xơ hóa, gây
tăng huyết áp, trong bệnh não chì thấy thẩm thấu mao mạch tăng [10], [151]
Trương lực động mạch, tĩnh mạch nhỏ, mao mạch tăng lên khá sớm khi nhiễm độc chì, nguyên nhân có thể do tổn thương thần kinh vận mạch tại chỗ gây nên [25]
Baloh R W (1974) [37], nhận thấy chì tác động lên lớp cơ động mạnh, gây vữa xơ động mạch, tăng trương lực động mạch, tổn thương cơ tim và tăng huyết áp Hu H và cs (1999) [76], khi nghiên cứu mối quan hệ giữa chì trong xương, chì trong máu và huyết áp, nhận thấy rằng sự tích lũy chì phản ánh qua đo chì trong xương tăng lên và đó là một yếu tố nguy cơ độc dẫn đến tăng huyết áp ở nam giới
- Tác hại đến tim: một số tác giả cho rằng, có thể có khả năng trùng hợp giữa nhiễm độc chì và viêm cơ tim, khi điều trị nhiễm độc chì bằng thuốc thải
Trang 26chì cũng làm cho mất các dấu hiệu về tim Trong nhiễm độc chì thấy rối loạn
về trao đổi chất trên tế bào cơ tim, rối loạn điều hòa thần kinh tim, rối loạn tuần hoàn mạch vành; trên điện tâm đồ thấy có sự rối loạn nhịp tim [21]
Theo Lê Trung [25], nồng độ chì máu có liên quan tới sự tăng block nhĩ thất ở nam giới và gợi ý rằng sự tích lũy chì có thể làm giảm nhịp tim dù ở mức
độ nhỏ
1.2.4.6 Ảnh hưởng đến sinh sản.
Đối với nữ: có thể có đẻ non, trẻ chết khi mới sinh, rối loạn rụng trứng Nhận thấy có liên quan giữa tỷ lệ rối loạn rụng trứng, những chu kỳ không rụng trứng với sự xuất hiện ALA niệu cao 8 - 10 mg/L [25]
Đối với nam: khi tiếp xúc với chì có thể gây giảm khả năng sinh sản, tinh trùng yếu, số lượng ít và biến đổi hình dạng, suy tuyến sinh dục [10], [127] Theo Gidlow D A (2004) [67], khi nghiên cứu khả năng sinh sản ở nam công nhân tiếp xúc nghề nghiệp với chì cũng nhận thấy nhiễm độc chì làm giảm khả năng sinh sản: tình trạng tinh trùng yếu, số lượng ít và biến đổi hình dạng
1.2.4.7 Trên hệ thống miễn dịch.
Theo Gidlow D A (2004) [67], chì làm giảm khả năng bảo vệ của cơ thể Chì ảnh hưởng trên cả hệ thống miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào [111], [160] Theo Mishra K P và cs (2010) [112], chì gây tăng lympho CD45 và giảm lympho CD4 so với nhóm chứng
Queiroz M L và cs (1993) [128], nghiên cứu trên công nhân làm việc tiếp xúc trực tiếp với chì, ở nhóm công nhân có nồng độ chì máu 75 ± 18 μg/dL thấy giảm các chỉ số: tế bào lympho T hỗ trợ, IgG, IgM, mức bổ thể C3,
C4, giảm quá trình di chuyển của các tế bào neutrophil và không thấy có sự liên quan giữa thời gian tiếp xúc với sự thay đổi các thông số miễn dịch
1.2.4.8 Trên hệ thống nội tiết.
Trang 27Chì làm giảm chức năng tuyến giáp và chức năng tuyến thượng thận, chuyển hóa tryptophan bị rối loạn [10] Theo Lại Văn Hòa [10], chì làm giảm nồng độ T4, TSH trong máu, tác giả đề nghị cần theo dõi xét nghiệm T4 và TSH trong máu ở những công nhân tiếp xúc thường xuyên với chì Tuppurainen M
và cs (1998) [150], nghiên cứu 176 nam công nhân, khi phân tích theo thời gian tiếp xúc với chì thì nhận thấy có sự tương quan nghịch với nồng độ T3, T4 và ở những công nhân nhiễm chì nặng, thời gian dài thì chức năng tuyến giáp bị suy giảm rõ rệt Vyskocil A và cs (1991) [153], tiến hành thực nghiệm gây nhiễm độc acetat chì 1% trên chuột trong thời gian 3 - 6 tháng và theo dõi trục dưới đồi - tuyến yên - tuyến giáp, tuyến thượng thận, thấy rằng lượng noadrenalin vùng dưới đồi giảm rõ, tăng catecholamin máu
1.2.4.9 Khả năng gây ung thư của chì
Hiện nay, chưa có cơ sở đầy đủ để khẳng định chì là chất có khả năng gây ung thư [67] Trong một nghiên cứu trên 4500 công nhân sản xuất pin, ắc quy và 2300 công nhân nấu kim loại chì từ năm 1947 - 1995, thấy rằng có tăng tỷ lệ ung thư dạ dày [10] Trong một nghiên cứu khác cũng cho thấy thâm nhiễm chì làm tăng nguy cơ ung thư phổi, u thần kinh [21]
1.2.5 Các biện pháp điều trị nhiễm độc chì.
Cho đến nay, điều trị nhiễm độc chì vẫn gặp những khó khăn nhất định, đặc biệt trong nhiễm độc mạn tính Mặc dù có các thuốc chống độc được coi
là mang tính chất đặc hiệu nhưng hiệu quả vẫn còn nhiều hạn chế, vì vậy nhiều tác giả đặt vấn đề, phải chăng chì gây tổn thương cơ thể còn theo những
cơ chế khác ngoài cơ chế đã biết
Hiện nay, sử dụng thuốc giải độc (chelators: chất tạo phức hoặc chất càng cua) là những biện pháp chính được sử dụng trong nhiễm độc chì Một nghiên cứu mới của Kianoush S và cs (2012) [93], thấy rằng tỏi có tác dụng làm giảm nồng
độ chì trong máu cũng như trong tổ chức và làm giảm các triệu chứng lâm sàng của nhiễm độc chì
Trang 28Chỉ định dùng chelators dựa trên nồng độ chì máu, tuổi và triệu chứng của bệnh nhân Ngộ độc chì nặng dùng 2,3-dimercaptopropanol (British anti- Lewisite, BAL), CaNa2EDTA (calcium disodium EDTA) Ngộ độc trung bình, nhẹ: ưu tiên dùng succimer (2,3-dimercaptosuccinic acid, DMSA), hoặc D- penicillamin Tuy nhiên dùng thuốc gắp chì cũng có những tác dụng không mong muốn nhất định Mục tiêu dùng thuốc gắp chì để đạt: chì máu < 20 µg/dL và
ổn định (hai lần xét nghiệm cuối cùng cách nhau 3 tháng)
Điều trị triệu chứng, điều trị hỗ trợ như: xử trí cấp cứu điều trị các triệu chứng: suy hô hấp, co giật, hôn mê, tăng áp lực nội sọ theo phác đồ cấp cứu Dùng thuốc chống co giật đường uống nếu có sóng động kinh trên điện não
đồ Truyền máu nếu thiếu máu nặng, dùng thuốc chống co thắt nếu đau bụng
Tiêu chuẩn nhập viện: ngộ độc mức độ trung bình và nặng (nồng độ chì máu > 70 µg/dL) hoặc diễn biến phức tạp cần theo dõi sát và thăm dò kỹ hơn
1.2.6 Đặc điểm về quy trình sản xuất tại nhà máy Zx và Công ty cổ phần pin
- Quy trình sản xuất ắc quy: chì nguyên chất được công nhân chuyển vào máy nghiền thành bột chì Sau khi chì được nghiền thành bột chuyển sang
bộ phận trát cao bằng băng chuyền, tại đây bột chì đi qua nước và dung dịch
Trang 29acid, tiếp đó qua bộ phận hóa thành rồi đến bộ phận sấy Công đoạn cuối cùng
là lắp ráp và tạo thành phẩm Các công đoạn này công nhân làm việc trong môi trường chật chội, bí, nóng và bụi
+ Hóa chất sử dụng chủ yếu là chì nguyên chất
+ Phân xưởng sản xuất ắc quy gồm hai phân xưởng là phân xưởng lắp
ắc quy và phân xưởng lá cực
1.3 Tác dụng của Sâm Ngọc Linh và Sâm Ngọc Linh sinh khối.
SNL còn được gọi là sâm Việt Nam Từ rễ SNL tự nhiên, công nghệ sinh khối tế bào thực vật đã tạo ra được sinh khối tế bào rễ SNL Các tế bào sinh khối này sau khi được nuôi cấy vẫn giữ nguyên được các đặc tính của tế bào tự nhiên ban đầu Các hoạt chất hay các chất chuyển hoá thứ cấp được sinh ra từ các tế bào có thể bị thay đổi về hàm lượng nhưng các hoạt chất vẫn được giữ nguyên [18], [20]
tố vi lượng [18], [20]
Các thành phần saponin trong sâm Việt Nam tự nhiên rất giống với thành phần của các sâm trồng, cũng chứa đầy đủ các saponin như ginsengnosid-Rb1, -Rd, -Re, -Rg1, và notoginsengnosid-R1 Đồng thời nó cũng
Trang 30chứa hàm lượng saponin có cấu trúc mạch nhánh ocotilol rất cao, đặc biệt là majonoside-R2 (MR-2) [7], [14], [96].
Hình 1.1 Cây Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv)
(Nguồn: theo Nguyen T N (1995) [117])SNLSK có thành phần hóa học chủ yếu là saponin, hàm lượng saponin toàn phần đạt 2,01% Trong đó, hàm lượng các ginsennosid Rg1, Rb1, Rd là
Rg1 = 0,31%; Rb1 = 0,36%; Rd = 0,15% [18], [20], [117]
Theo Tống Thị Ngọc Lệ (2008) [18], khi so sánh hàm lượng ginsenoside Rb1, Re, Rg1 trong SNL tự nhiên với SNLSK thấy tổng hàm lượng của 3 ginsenosid Rb1, Re, Rg1 trong SNL tự nhiên gấp 3,4 lần tổng hàm lượng của 3 ginsenosid này trong SNLSK Mặt khác, khi định lượng đồng thời một số ginsenosid trong SNLSK thấy hoạt chất chính trong SNLSK bằng khoảng hơn 20% so với rễ SNL tự nhiên [20]
1.3.2 Độ an toàn của Sâm Ngọc Linh sinh khối.
Khi nghiên cứu độc tính cấp của SNLSK: với mức liều tối đa có thể cho chuột nhắt uống (100 g/kg thể trọng) vẫn không có chuột nào chết, mà
Trang 31liều có tác dụng chỉ là 1,2 g/kg thể trọng Như vậy, mức liều đã thử cao gấp 83,3 lần mức liều có tác dụng mà vẫn chưa làm chết chuột thí nghiệm [20]
Mặt khác, khi nghiên cứu độc tính bán trường diễn của SNLSK: liều thử độc tính cao gấp 5 - 10 lần liều có tác dụng Kết quả cũng cho thấy ở những mức liều cao hơn mức liều có tác dụng 5 - 10 lần, uống liên tục (trong thời gian 42 ngày) không gây ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của động vật thí nghiệm [20] Qua đó cho thấy SNLSK có độ an toàn cao, khoảng an toàn điều trị lớn
1.3.3 Một số tác dụng của Sâm Ngọc Linh và Sâm Ngọc Linh sinh khối.
1.3.3.1 Tác dụng tăng sức lực.
Khi sử dụng dịch chiết SNL cho chuột uống với liều 50 mg/kg để tiến hành nghiệm pháp chuột bơi của Brekhman thấy rằng: thời gian bơi của chuột tại thời điểm ngay sau khi uống dịch chiết và sau một số ngày tăng hơn so với
lô so sánh sinh học [18]
Tác dụng tăng lực của SNLSK được đánh giá trên các mô hình dược lý:
mô hình chuột bơi kiệt sức, mô hình thử trên rota-rod và mô hình đo lực cơ chân chuột, nhận thấy với liều 1,2 g/kg thể trọng chuột nhắt, đã thể hiện tác dụng tăng lực trên cả 3 mô hình này Khi so sánh tác dụng tăng lực, thấy 1,2g SNLSK có tác dụng tương đương với 0,24g SNL tự nhiên [20]
1.3.3.2 Tác dụng bổ và sinh thích nghi.
SNL và SNLSK có tác dụng bổ toàn thân, cải thiện thể lực và sức lực, tăng độ dẻo dai Dùng cho người ốm nhanh phục hồi sức khỏe, ăn ngon miệng Đồng thời, làm tăng khả năng sinh thích nghi và sức đề kháng không đặc hiệu của cơ thể với những yếu tố gây độc hại như tăng khả năng chịu các tác nhân stress vật lý, hóa học, sinh học, sức bền bỉ, nâng cao khả năng làm việc cả về trí tuệ, tinh thần, thể lực [7], [14], [20], [118]
1.3.3.3 Tác dụng trên hệ thần kinh trung ương.
Trang 32SNL có tác dụng bổ thần kinh, tăng trí nhớ, tăng cường hưng phấn vỏ đại não, cải thiện tính linh hoạt của hoạt động thần kinh, chống stress và chống trầm cảm Người ta thấy rằng, dịch chiết SNL và dịch chiết sâm Triều Tiên có tác dụng chống trầm cảm tương đương nhau [7], [15], [20].
1.3.3.4 Tác dụng bảo vệ gan.
Khi dùng để điều trị viêm gan cấp, SNL có tác dụng làm phục hồi nhanh chức năng gan, làm giảm khả năng chuyển từ viêm cấp sang viêm mạn tính Thành phần ginsenosid MR-2 trong sâm có tác dụng bảo vệ tế bào gan
và một trong những cơ chế là do có khả năng chống oxy hóa, bảo vệ màng tế bào chống lại các tác nhân gây độc [20]
Theo Tran Q L và cs (2001) [148], thấy các saponin trong SNL có tác dụng bảo vệ tế bào gan trên mô hình gây độc in vitro và in vivo Đồng thời, majonosid-R2 có tác dụng ức chế sự tăng ALT và AST trong máu của chuột tiêm D-GalN/TNF-α
Theo Nguyễn Văn Long (2011) [20], SNLSK có tác dụng làm giảm AST
và ALT trong máu của động vật bị gây độc CCl4 so với lô gây độc bằng CCl4 nhưng không được dùng SNLSK Theo Nguyễn Thị Thu Hương và cs (2006) [25], cho thấy SNL có tác dụng bảo vệ gan khi gây độc thực nghiệm bằng ethanol, làm giảm hoạt độ các enzym gan
1.3.3.5 Tác dụng chống oxy hóa, chống lão hóa.
Saponin toàn phần và hoạt chất MR-2 trong SNL có tác dụng chống oxy hóa, được thể hiện cả in vitro và in vivo [13], [20], [119] Dịch chiết thân
rễ và lá SNL đều có tác dụng làm giảm đáng kể sự gia tăng nồng độ MDA trong mô gan gây tổn thương bằng ethanol [16]
Saponin toàn phần trong SNL có tác dụng ức chế phản ứng oxy hóa lipid in vitro, làm gia tăng hàm lượng các chất phản ứng với acid thiobarbituric (TBA-RS) trong tế bào não gây ra bởi stress tâm lý MR-2 được
Trang 33một số tác giả cho là hoạt chất quyết định, có tác dụng chống oxy hóa trên in vivo của SNL [13], [18], [20].
Theo Daxian zhang và cs (1996) [54], dịch chiết sâm có khả năng ức chế sự tạo thành gốc OH• từ phản ứng Fenton bằng cơ chế tạo phức với các ion kim loại, đồng thời trực tiếp thu dọn gốc OH• Dịch chiết sâm có tác dụng chống oxy hóa trên cả môi trường dầu và nước, có khả năng tham gia vào tất
cả các giai đoạn của quá trình POL, ức chế quá trình POL thông qua khả năng tạo phức với ion kim loại Do vậy, sâm có tác dụng chống oxy hóa
Thành phần hóa học chủ yếu quyết định tác dụng sinh học của sâm là các ginsenosid, trong đó chủ yếu là các saponin có cấu trúc damaran triterpenoid Thành phần và mức độ tác dụng chống oxy hóa của sâm được thể hiện bởi các saponin chính như sau: Rb1> Rb2 > Rb3 [13], [18], [20]
Theo Yoo K K và cs (2002) [157], trong dịch chiết của sâm chứa một phức hợp các thành phần hoạt chất và chính phức hợp này tạo nên tác dụng của sâm Nhưng theo Nguyen T T H và cs (1998) [118], Nguyen T T H và
cs (2005) [119]: tác dụng chống oxy hóa của sâm Việt Nam chính là các thành phần khoáng có trong sâm, nó có tác dụng ức chế sự tạo thành MDA, chứ không phải các saponin Tác dụng chống oxy hóa của sâm Việt Nam được lý giải là do sự kích thích thụ thể GABA-A điều hòa các đáp ứng thần kinh trong stress Theo Nguyễn Thị Thu Hương và cs (2006) [16], nồng độ MDA của nhóm chuột gây độc ethanol, có uống bột chiết thân rễ và cao lá SNL giảm rõ rệt so với nhóm gây độc nhưng không trị
Qua thực nghiệm thấy rằng SNLSK có khả năng chống oxy hóa tốt và
tỷ lệ với mức liều dùng, ở liều 1,2 g/kg chuột nhắt, SNLSK đã có tác dụng chống oxy hóa tốt và khả năng chống oxy hóa tỷ lệ với mức liều dùng [20]
1.3.3.6 Tác dụng giảm đau, chống viêm.
Trang 34Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hương và cs, trên mô hình gây viêm ở động vật thực nghiệm, bước đầu cho thấy trọng lượng u hạt giảm rõ rệt ở liều cao SNL (180 mg/kg) [14], [119]
Tác dụng ức chế quá trình POL của sâm cũng liên quan đến khả năng chống viêm, vì sâm được một số tác giả cho là có tác dụng chống viêm, làm bền và ổn định cấu trúc lipid của màng tế bào Tác dụng chống viêm có thể do sâm ức chế hoạt độ của enzym phospholipase A2 (enzym được hoạt hóa khi có tác nhân gây viêm), enzym này tham gia vào quá trình chuyển hóa lipid, làm giải phóng acid arachidonic, một cơ chất chủ yếu cho sự tạo thành MDA từ quá trình POL [18], [45], [48]
1.3.3.7 Kích thích miễn dịch.
SNL làm tăng cường miễn dịch không đặc hiệu, nó góp phần chống độc khi cơ thể bị nhiễm độc, làm tăng chỉ số thực bào ở động vật bình thường và động vật bị gây suy giảm miễn dịch do stress tâm lý [117]
Cơ chế làm tăng cường miễn dịch của SNL là gia tăng chức năng và trọng lượng của các cơ quan liên quan tới hệ miễn dịch như tuyến ức, lách, số lượng bạch cầu và chỉ số thực bào hoặc đồng thời kích thích hoạt động của hệ lưới nội mô (là hệ thống giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì sự hằng định nội môi và khả năng miễn dịch không đặc hiệu) [18], [118], [119]
1.3.3.8 Tác dụng tăng cường chức năng sinh dục.
Một số nghiên cứu cho thấy SNL có tác dụng tăng cường chức năng sinh dục: làm tăng rõ rệt trọng lượng túi tinh của chuột đực so với nhóm đối chứng, đồng thời SNL cũng có tác dụng làm tăng trọng lượng tử cung của chuột cái [14], [20]
1.3.3.9 Tác dụng chống ung thư.
Konoshima T và cs (1998) đã tách chiết và phân lập được 7 loại saponin (1-7) từ rễ của SNL để nghiên cứu khả năng ức chế lên kháng nguyên
Trang 35EBV-EA (Epstein-Barr virus early antigen) gây ra bởi promoter ung thư là TPA (12-O-tetradecanoylphorbol-13-acetat) ở các tế bào Raji [18]
Keum Y S và cs [90] cho rằng, saponin loại ocotillol (MR-2) có khả năng ức chế sự hoạt hóa EBV-EA Mặt khác, nghiên cứu phân tích giai đoạn 2 của chu kỳ phát triển tế bào Raji thấy MR-2 có khả năng ức chế sự tác động của TPA lên chu kỳ phát triển của tế bào Hoạt chất MR-2 có khả năng chống lại sự hoạt động của các gen khởi động ung thư qua việc thử test ung thư giai đoạn 2 trên da chuột nhắt trắng bằng cách dùng DMBA (7,12-dimethylbenz anthracene) như là một chất khởi động và TPA hay fumonisin B1 như một promoter Kết quả nghiên cứu gợi ý cần nghiên cứu sâu hơn nữa để ứng dụng MR-2 làm thuốc điều trị ung thư
1.3.3.10 Tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày.
SNL có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày, chống lại các kích thích gây
loét bằng stress tâm lý thực nghiệm trên chuột cống Khi dùng dịch chiết SNL
và MR-2 làm giảm đáng kể tỷ lệ động vật thực nghiệm bị mắc loét dạ dày tá tràng và mức độ loét nhẹ hơn so với nhóm đối chứng [14]
Ngoài ra một số tác giả cũng nêu tác dụng của SNL trong hạ đường máu, giảm cholesterol….[14], [18], [20]
1.3.4 Cao đặc Sâm Ngọc Linh sinh khối.
- Phương pháp điều chế cao đặc SNLSK từ SNLSK: chiết dịch toàn phần sinh khối sâm theo phương pháp siêu âm của trường đại học Toyama (Nhật Bản) để thu được dịch chiết sinh khối sâm, bốc hơi dịch chiết trong điều kiện áp suất giảm, nhiệt độ thấp để tránh hỏng hoạt chất [18]
- Phương pháp xây dựng tiêu chuẩn chất lượng cao đặc SNLSK: sau khi thu được cao đặc với tỷ lệ 5:1, tiến hành khảo sát và phân tích các chỉ tiêu của cao SNLSK theo chuyên luận chung về cao thuốc [18]
Trang 36- Hội đồng KH&CN cấp Bộ Quốc phòng đã nghiệm thu đề tài: “Nghiên cứu bào chế và đánh giá tác dụng của viên nang mềm sâm Ngọc Linh”, trong
đó SNLSK và cao đặc SNLSK đã được đánh giá về độ an toàn và tác dụng trên động vật thực nghiệm (có biên bản nghiệm thu)
- Trong nghiên cứu của chúng tôi, có sử dụng cao đặc SNLSK để đánh giá tác dụng bảo vệ, chống oxy hóa trên động vật thực nghiệm Các nghiên cứu đã cho thấy SNLSK ở liều 1,2 g/kg (tương đương 240 mg/kg cao đặc SNLSK) có tác dụng chống oxy hóa rất tốt Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn liều cao đặc SNLSK là 375 mg/kg, cao hơn mức liều ở trên để đánh giá tác dụng chống oxy hóa Trong gây độc thực nghiệm của chúng tôi là bán trường diễn, liều này thuận lợi hơn cho việc uống để bảo vệ, đồng thời thấy rõ hơn tác dụng bảo vệ của SNLSK, hơn nữa SNLSK có độ an toàn lớn
1.4 Một số nghiên cứu về stress oxy hóa trong nhiễm độc chì và tác dụng chống oxy hóa, bảo vệ cơ thể của Sâm Ngọc Linh sinh khối.
1.4.1 Một số nghiên cứu về stress oxy hóa trên người nhiễm độc chì và động vật thực nghiệm bị gây nhiễm độc chì acetat
Trong những năm gần đây, đã có nhiều nghiên cứu về stress oxy hóa trong các loại bệnh tật khác nhau: bệnh máu và cơ quan tạo máu (bệnh bạch cầu), bệnh thận (suy thận mạn), bệnh đái đường, nhiễm độc TNT, nhiễm độc dioxin, thuốc trừ sâu, bệnh phổi phế quản (hen phế quản)…Tuy nhiên các nghiên cứu về stress oxy hóa trong nhiễm độc chì (cả trên người và động vật) vẫn còn ít hoặc chỉ nghiên cứu ở những khía cạnh nhất định
1.4.1.1 Nghiên cứu trong nước.
Trần Văn Bảo (2001) [3], nghiên cứu trên công nhân nhiễm xăng chì (chì hữu cơ) thấy rằng: giảm hoạt độ GPx và GR hồng cầu, giảm trạng thái chống oxy hóa toàn phần của huyết tương (TAS) khi nồng độ chì máu tăng và
có sự tương quan nghịch giữa GPx, GR với nồng độ chì máu; trong khi ở nhóm có nồng độ chì máu cao, lại gây tăng hoạt độ SOD hồng cầu
1.4.1.2 Nghiên cứu ngoài nước.
Trang 37* Nghiên cứu trên người.
Hunaiti A A và cs (2000) [79]; Ito Y và cs (1985) [80]: hoạt độ SOD, GPx, GR trong máu của một số công nhân thấm nhiễm chì thay đổi so với người bình thường và chì làm giảm khả năng chống oxy hóa của cơ thể Ye X
B và cs (1999) [156], ở công nhân nấu kim loại chì cũ: nồng độ chì máu tăng thì nồng độ MDA, hoạt độ SOD tăng một cách đáng kể và có sự liên quan giữa tăng nồng độ MDA với sự phá huỷ ADN Ahamed M và cs (2005) [31], nghiên cứu ở 62 trẻ em (từ 4 - 12 tuổi), thấy delta-ALAD giảm có ý nghĩa ở nhóm có nồng độ chì máu 11,39 ± 1,39 μg/dL so với nhóm có nồng độ chì máu 7,11 ± 1,25 μg/dL và nhóm 3,93 ± 0,61 μg/dL, trong khi catalase (CAT) cao hơn, tăng MDA, GSSG giảm dần ở các nhóm nghiên cứu Hsu P C và cs (2002) [75], thấy vitamin E, vitamin B6, vitamin C, ß-caroten, kẽm và selen có tác dụng làm giảm stress oxy hóa của chì trên cơ thể
Patil A J và cs (2006) [122], nghiên cứu trên công nhân sản xuất ắc quy thấy: nồng độ MDA huyết tương tăng, hoạt độ SOD, catalase hồng cầu giảm ở nhóm có nồng độ chì máu cao so với nhóm có nồng độ chì máu bình thường Kasperczyk S và cs (2004) [88] ở công nhân nấu kim loại chì, thấy SOD và MDA tăng ở nhóm có nồng độ chì máu > 35 μg/dL so với nhóm có nồng độ chì máu từ 25 - 35 μg/dL Permpongpaiboon T và cs (2011) [126], nghiên cứu
60 công nhân làm nghề đất nung, thấy tăng các chỉ số lipid peroxidation, MDA, chỉ số stress oxy hóa (OSI), giảm hoạt độ paraoxonase 1 (PON 1), giảm nồng độ TAS so với nhóm chứng (65 người) Stepniewski M và cs (2003) [144], nghiên cứu ở 94 thợ hàn thấy nồng độ TAS, SOD ở nhóm thợ hàn giảm so với nhóm chứng
* Nghiên cứu trên động vật.
Chì acetat đã được sử dụng từ lâu đời, là chất dễ hòa tan Các nhà khoa học khi tiến hành đánh giá tác dụng độc của chì trên thực nghiệm đều dùng chì acetat để tiến hành gây độc với các thời gian, liều lượng, đường vào (uống
Trang 38hoặc tiêm) khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu Chính vì vậy, chì acetat được coi là chất chuẩn quốc tế để tiến hành gây độc thực nghiệm đánh giá các tác hại của chì trên cơ thể.
El-Sayed I H và cs (2006) [58], gây độc trên chuột nhắt bằng chì acetat (liều 16 mg/kg) bởi đường uống hàng ngày, trong 3 tuần, thấy có sự thay đổi hoạt độ SOD, catalase (CAT), GR, glutathione-S-transferase (GST), GSH, Cu
và Zn trong huyết tương so với lô chứng Flora G và cs (2013) [61], gây độc trên chuột nhắt bằng chì acetat (25 mg/kg) bởi đường uống và nghiên cứu tác dụng của bột nghệ, uống 1 giờ sau khi gây độc; thấy bột nghệ có tác dụng hồi phục hoạt tính enzym delta-ALAD, hồi phục glutathion (cả ở dạng khử và dạng oxy hóa), giảm các gốc tự do
Mishra M và cs (2004) [110], gây độc trên chuột nhắt bằng chì acetat
và tiêm vitamin E, vitatmin C cùng lúc, thấy rằng chì acetat với liều 10 mg/kg làm tăng lượng MDA ở tinh hoàn chuột, vitamin C làm giảm lượng MDA ở tinh hoàn chuột, giảm tỷ lệ tinh trùng bất thường và vitamin E cũng có tác dụng tương tự nhưng hiệu lực thấp hơn vitamin C Acharya U R và cs (2003) [28], gây độc trên chuột nhắt bằng chì acetat, chì và thuốc bảo vệ (vitamin C) trộn lẫn với nhau và tiêm màng bụng với thể tích 1 mL/100 g chuột cũng thấy vitamin C có tác dụng làm giảm stress oxy hóa Bokara K K và cs (2009) [42], gây độc trên chuột bằng chì acetat (liều 500ppm) bởi đường uống, thời gian gây độc 1 tuần, 4 tuần, 8 tuần, thấy giảm dần hoạt độ GPx, GR, tăng hoạt
độ glutation-S-transferase (GSTase) theo thời gian gây độc Caylark E và cs (2008) [46], gây độc trên chuột bằng chì acetat (liều 2000ppm) bởi đường uống, thời gian gây độc 5 tuần, thấy giảm hàm lượng hemoglobin và vitamim
E, tăng nồng độ MDA, giảm SOD, GPx hồng cầu
Kilikdar D và cs (2011) [94], gây độc trên chuột bằng chì acetat (liều
15 mg/kg) bởi đường uống, thời gian gây độc 7 ngày; đồng thời nghiên cứu tác dụng của tỏi bằng cách cho uống tỏi trước gây độc chì acetat 1 giờ, thấy
Trang 39có sự thay đổi hoạt độ SOD, tăng xanthine oxidase (XO), lipid peroxidation (POL), catalase, GSH so với nhóm chứng và tỏi có tác dụng chống oxy hóa.
Yan L C và cs (2011) [155], gây độc trên chuột bởi chì acetat với các liều khác nhau trong 6 tuần và so sánh với nhóm chứng được uống nước cất thấy rằng T-SOD và NOS ở tim và động mạch chủ trên cả nhóm gây độc liều thấp và liều cao đều giảm so với nhóm chứng, MDA huyết tương tăng ở cả 2 nhóm gây độc so với nhóm chứng Jackie T và cs (2011) [81], gây độc trên chuột bởi chì acetat (liều 500ppm) qua đường uống trong 14 ngày, thấy giảm lipid peroxidation (LPO), TAS, SOD, GPx và glutathione S-transferase Gautam P và
cs (2009) [66], gây độc trên chuột bằng chì acetat 0,5% bởi đường uống trong 3 tuần thấy giảm GSH, SOD, catalase và tăng GSSG trong não chuột
1.4.2 Một số nghiên cứu về tác dụng chống oxy hóa của SNL.
1.4.2.1 Nghiên cứu trong nước.
Theo Nguyễn Quốc Huy (2008) [13], sau 16 giờ gây độc trên chuột bằng CCl4 (0,5 mL/kg), thấy hàm lượng MDA gan tăng, GSH gan giảm so với chứng; dùng SNLSK liều 300, 600 và 900 mg/kg/ngày x 5 ngày có tác dụng làm tăng GSH gan so với nhóm gây độctương ứng là 36%, 37% và 55% Khi dùng SNLSK liều 5 g/kg/ngày, hoạt độ SOD gan giảm; liều 8 g/kg/ngày x 7 ngày thấy hàm lượng MDA gan giảm 15% so với lô gây độc Dùng SNLSK liều 8 g/kg x 7 ngày hoặc SNL tự nhiên liều 1 g và 3 g/kg/ngày x 7 ngày thấy tăng GSH gan lên tương ứng 28%, 34% và 43% so với nhóm gây độc CCl4
Nguyễn Trọng Điệp và cs (2012) [8], nghiên cứu tác dụng chống oxy hóa của viên nang kaviran (chế phẩm có SNLSK) trên chuột nhắt bị chiếu xạ liều duy nhất thấy SNLSK có tác dụng chống oxy hóa Nguyễn Văn Long (2011) [20], SNLSK có tác dụng làm giảm hàm lượng MDA trong tổ chức gan chuột nhắt khi bị gây độc CCl4
1.4.2.2 Nghiên cứu ngoài nước
Trang 40Theo Nguyen T T H, Masumoto K và cs (1998) [118], bột chiết thân rễ
và cao lá SNL có tác dụng làm giảm hàm lượng MDA gan ở chuột bị gây độc ethanol Yoo K K và cs (2002) [157], cũng thấy tác dụng chống oxy hóa rõ rệt của sâm Theo Chen X (1996) [48], trên chuột thực nghiệm dùng sâm có khả năng ngăn chặn sự phá huỷ cơ tim khi bị thiếu máu cục bộ do oxy phân áp cao gây nên
Kim S H và cs (2003) [97], khi nghiên cứu trên người tình nguyện thấy việc sử dụng sâm dài ngày có tác dụng nâng cao khả năng chống oxy hóa tiềm tàng của cơ thể bằng cách nâng cao hệ thống các chất chống oxy hóa như SOD, catalase Theo Lee H J và cs (1999) [101], nhân sâm làm giảm nguy cơ
bị ung thư và phá huỷ mô, tế bào bởi các chất oxy hóa, tăng cường hoạt độ enzym chống oxy hóa, bảo vệ cơ thể
Lee B M và cs (1998) [100], so sánh tác dụng chống oxy hóa của nhân sâm với vitamin E, vitamin C ở những người hút thuốc, thấy tác dụng là tương đương nhau
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu.
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu.
2.1.1.1 Môi trường lao động.
Nghiên cứu đặc điểm vi khí hậu và nồng độ chì trong trong không khí tại MTLĐ