khái niệm về vụ án Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Vụ án hôn nhân và gia đình là những việc phát sinh tại Tòa án do các đương sự khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi í
Trang 2MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU……… ………… ….1 CHƯƠNG I: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VỤ
ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI…… … 4 1.1 Khái niệm và đặc trưng pháp lý về vụ án Hôn nhân và gia đình……… 4
1.1.1 khái niệm về vụ án Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài 4
1.1.2 Đặc trưng pháp lý về vụ án Hôn nhân và gia đình có yêu tố nước
ngoài 4
1.2 Những quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp có yêu tố nước ngoài ……… 7
1.2.1 Căn cứ phát sinh vụ án hôn nhân gia đình 7 1.2.2 Căn cứ xác định vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố có nước
ngoài 1
CHƯƠNG II: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NHỮNG VƯỚNG MẮC VÀ KIẾN NGHỊ…….16
2.1 Thực tiễn giải quyết vụ án Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh 16 2.2 Những vướng mắc và kiến nghị trong giải quyết vụ án Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài 17 KẾT LUẬN………26
Trang 3NHẬT KÍ THỰC TẬP
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Gia đình - hạt nhân cốt lõi của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người,
là môi trường quan trọng để hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vàoviệc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thìgia đình lại càng tốt hơn Sự tác động và chi phối lẫn nhau giữa gia đình và xãhội được khẳng định rõ nét trong hôn nhân Bởi lẽ, nền tảng vững chắc để xâydựng gia đình chủ yếu là xuất phát từ quan hệ hôn nhân
Luật Hôn nhân và gia đình là một ngành luật độc lập trong hệ thốngpháp luật của nước CHXHCN Việt Nam , gồm tổng hợp các quy phạm phápluật điều chỉnh các quan hệ Hôn nhân và gia đình và các vấn đề khác liênquan đến Hôn nhân và gia đình Hay nói cách khac luật Hôn nhân và gia đình
là một văn bản quy phạm pháp luật được Quốc Hội nước CHXHCN ViệtNam ban hành quy định chế độ Hôn nhân và gia đình, trách nhiệm của côngdân, Nhà nước và Xã hội trong việc xây dựng, củng cố Hôn nhân và gia đìnhViệt Nam
Xuất phát từ việc đánh giá đúng vai trò quan trọng của Hôn nhân vàGia đình trong mọi thời kì, Đảng và Nhà nước ta luôn giành sự quan tâm tolớn đối với vấn đề Hôn nhân và gia đình và sớm đã có chủ trương thể chế hóabằng pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng về vấn đề này Sau khi cáchmạng tháng 8 thành công Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời, trên cơ
sở hiến pháp năm 1959, một trong những đạo Luật được ban hành sớm nhất làLuật Hôn nhân và Gia đình công cụ góp phần quan trọng để Nhà nước xâydựng và thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản:
phần thúc đẩy sự nghiệp cách mạng trong phạm vi cả nước
Tùy từng giai đoạn phát triển của Xã hội, Luật Hôn nhân và gia đình cónhững nhiệm vụ củ thể khác nhau đáp ứng những đòi hỏi của giai đoạn lịch
sử đó nhằm phục vụ cho việc xây dựng những quan hệ Xã hội mới của chế độ
Xã hội chủ nghĩa
Chính vì vậy sau khi Luật Hôn nhân gia đình năm 1959 ra đời thì nhànước ta đã hai lần thay đổi bổ sung một số nội dung cơ bản của Luật Hônnhân và gia đình năm 1959 Đó là vào năm 1986 năm đầu của thời kì đổimới,qua hơn 13 năm thi hành, những quy định pháp luật chung của Luật vẫnđược phát huy hiệu lực trong đời sống Xã hội, được nhân dân tôn trọng vàchấp hành Tuy nhiên, bên cạnh Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 cũngbộc lộ những vấn đề bất cập cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp vớitình hình thực tế Cho nên năm 2000 thì Nhà nước ta đã ban hành Luật Hôn
Trang 6nhân và gia đình năm 2000 để thay thế cho Luật Hôn nhân và gia đình năm1986.
Ngày nay, trong xu thế hội nhập - quốc tế hoá ngày càng được mởrộng thì hòa vào sự phát triển của nền kinh tế, quan hệ hôn nhân cũng đượchình thành dưới nhiều góc độ khác nhau của xã hội, dựa trên những nguyêntắc nhất định Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc tôn giáo,giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo, giữa công dân ViệtNam và người nước ngoài, được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ trên cơ
sở nguyên tắc tiến bộ, một vợ , một chồng bình đẳng
Cơ sở thiết lập quan hệ hôn nhân hiện nay đã vượt ra khỏi phạm vilãnh thổ quốc gia, chịu tác động và chi phối bởi các yếu tố nước ngoài Dotính chất phức tạp vốn có của quan hệ này, nhà nước đã kịp thời thừa nhận vàbảo vệ bằng cách thông qua hình thức ban hành các văn bản quy phạm phápluật để điều chỉnh và có những sửa đổi bổ sung để hoàn thiện nội dung củachế định trên thực tế Cụ thể, những văn bản ra đời trước như Luật Hôn nhân
và Gia đình năm 1986, Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân ViệtNam với người nước ngoài, và hiện nay là Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2000, Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính Phủ quy địnhchi tiết một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 về quan hệHôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Nghị định số 69/2006/NĐ-CPsửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002 Đây là cơ sở pháp lývững chắc hướng các chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tốnước ngoài phát huy tối đa quyền tự do bình đẳng trong quan hệ hôn nhân vàđảm bảo trật tự cũng như sự ổn định xã hội Tuy nhiên, trong quá trình ápdụng pháp luật đã bộc lộ không ít những thiếu sót và bất cập, ảnh hưởng lớnđến cuộc sống của chủ thể trong quan hệ hôn nhân và những giá trị đạo đứctruyền thống của xã hội xưa nay, kết hôn có yếu tố nước ngoài một mặt thểhiện ý nghĩa tích cực, thúc đẩy giao lưu hợp tác quốc tế trong nhiều lĩnh vựcnhưng vẫn không thể phủ nhận những hạn chế đang tồn tại trong trong đó Thực tiễn cho thấy qua hơn mười một năm áp dụng Luật Hôn nhân
và gia đình ở nước ta, bên cạnh những điểm phù hợp thì Luật Hôn nhân vàgia đình năm 2000 còn có môt số điểm hạn chế nhất định
Là một sinh viên được đi thực tiễn ở tòa án nhân dân thành phố HồChí Minh tôi muốn tìm hiểu về các vấn đề thuộc lĩnh vực Hôn nhân và giađình đặc biệt là về các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài
Từ suy nghĩ này của bản thân tôi mong muốn được học tập, tìm hiểu
và vận dụng những kiến thức đã biết vào thực tế để góp phần nhỏ bé vào việcxây dựng, củng cố chế độ Hôn nhân và gia đình Việt Nam Chính vì vậy tôi
quyết định chọn đề tài “Thực trạng giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước
Trang 7ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh” làm bài viết thu hoạch thực tập tốt
nghiệp cho bản thân mình
Trong phạm vi bài báo cáo này tôi xin phân tích một số quy định của phápluật hiện hành để cho thấy được những khó khăn và vướng mắc trong việc ápdụng và thực trạng của việc ly hôn có yếu tố nước ngoài hiện nay tại thànhphố Hồ Chí Minh Trên những cơ sở đó sẽ tổng kết và rút ra những tồn tại vàgiải pháp để từ đó tiến tới khắc phục vấn đề và từ những tài liệu, thực tiễn tạitòa có một số kiến nghị và đề xuất
Về kết cấu đề tài được xây dựng với hai chương :
và những vướng mắc-kiến nghị Trong quá trình thực hiện, bài viết khó thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong các thầy giáo, cô giáo cùng với bạn đọc tham khảo và góp ý để bàiviết được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Trang 8CHƯƠNG I: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VỤ
ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI.
1.1 Khái niệm và đặc trưng pháp lý về vụ án Hôn nhân và gia đình.
1.1.1 khái niệm về vụ án Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Vụ án hôn nhân và gia đình là những việc phát sinh tại Tòa án do các đương
sự khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, hayquyền, lợi ích hợp pháp của người khác đang bị tranh chấp và mối quan hệhôn nhân và gia đình này có yếu tố nước ngoài
Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là việc kết hôn, nhận cha,
mẹ, con và việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài,giữa người nước ngoài thường trú tại Việt Nam với nhau và giữa công dânViệt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài
- Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài” là người có quốc tịch Việt Nam
cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài, không kể người đó đã nhậpquốc tịch nước ngoài hay chưa
- Công dân Việt Nam đang tạm trú có thời hạn ở nước ngoài (nhằm mục đíchcông tác, học tập, lao động ) hoặc đã hết thời hạn tạm trú ở nước ngoài màkhông được nước ngoài cho phép cư trú thì không thuộc diện “định cư” ởnước ngoài (sau đây gọi là công dân Việt Nam tạm trú ở nước ngoài) Việckết hôn, nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam tạm trú ởnước ngoài với nhau hoặc với công dân Việt Nam thường trú ở trong nước
Vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài xảy ra khi các quan hệ trênsảy ra tranh chấp giữa quyền và nghĩa vụ của các bên và có đơn khởi kiện ratòa có thẩm quyền và được tòa thụ lý
1.1.2 Đặc trưng pháp lý về vụ án Hôn nhân và gia đình có yêu tố
nước ngoài
Có tranh chấp và phải được tòa án thụ lý thì mới phát sinh vụ án
Cuộc sống gia đình thường xảy ra mẫu thuẫn, tranh cãi, thậm chí bạo lực giađình… Những mâu thuẫn này ngày càng trầm trọng, đời sống chung khôngthể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được và để giải quyết các mâuthẫn đó thì các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình đó khởi kiện ra tòa án
để yêu cầu giải quyết tranh chấp cần giải quyết
Khởi kiện dân sự về hôn nhân gia đình là những hoạt động trong quá trình tốtụng về Hôn nhân gia đình bao gồm: Khởi kiện Ly hôn, Phân chia tài sản vợ -
Trang 9chồng, Chia di sản thừa kế hoặc các yêu cầu khác về hôn nhân và gia đìnhnhư: Yêu cầu xác định cha mẹ cho con, Yêu cầu xác định con cho cha mẹ,Yêu cầu tuyên bố một người đã chết, mất tích … và các Yêu cầu khởi kiệnkhác có yếu tố Hôn nhân gia đình.
Căn cứ Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, đương sự có quyền khởi kiện đểTòa án giải quyết vụ án dân sự và quyền yêu cầu để Tòa án giải quyết cácviệc dân sự các chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình có mâu thuẫnphát sinh không thể giải quyết có đơn yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp Như vậy, khi muốn Tòa án giải quyết một tranh chấp, các bên phải làm đơnkhởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp đó gửi tới tòa án nhân dân cóthẩm quyền Sau khi nhận đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo, nếu Thẩmphán được phân công xem xét đơn khởi kiện xét thấy vụ án hành chính thuộcthẩm quyền giải quyết thì thông báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiềntạm ứng án phí; trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng ánphí hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì thông báo cho người khởikiện biết về việc thụ lý vụ án Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngàynhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiềntạm ứng án phí Toà án thụ lý vụ án vào ngày người khởi kiện xuất trình biênlai nộp tiền tạm ứng án phí
Trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc khôngphải nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lý vụ án là ngày Thẩm phán thôngbáo cho người khởi kiện biết việc thụ lý.” vụ án hôn nhân và gia đình phátsinh khi các yêu cầu giải quyết đó được tòa án ra quyết định thụ lý
Tranh chấp trong quan hệ hôn nhân và gia đình là mâu thuẫn giữa quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.
Tranh chấp Hôn nhân gia đình là nguyên nhân cơ bản dẫn tới hậu quả ly hôn.Một số dạng tranh chấp chủ yếu như tranh chấp về chia tài sản chung của vợchồng trong thời kỳ hôn nhân, nhưng chủ yếu mọi tranh chấp về hôn nhân giađình xảy ra khi hôn nhân tan vỡ Tranh chấp hôn nhân gia đình xảy ra khi mọithành viên trong gia đình không thống nhất giải quyết được các vấn đề về tàisản, con cái
Tranh chấp hôn nhân gia đình là một lĩnh vực có thể nói là rất phức tạp, liênquan đến nhiều cá nhân, nhiều thế hệ Đơn giản vì ai cũng có gia đình ( cha
mẹ, vợ chồng, con cái) và mọi sự biến động liên quan đến gia đình đều làmphát sinh hàng loạt các vấn đề pháp lý phức tạp
Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình:
- Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
- Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
- Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Trang 10- Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ
- Tranh chấp về cấp dưỡng
- Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định
Chủ thể trong vụ án hôn nhân và gia đình.
Chủ thể tham gia vào quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài rất đa dạng baogồm một trong những đối tượng sau:
- Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam bao gồm: Côngdân nước ngoài là người không quốc tịch Trên cơ sở kế thừa những quy địnhcủa pháp luật trước đó, Nghị định số 68/2002/NĐ- CP ngày 10/7/2002 củaChính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và giađình năm 2000 về quan hệ một cách cụ thể bằng cách liệt kê rõ ràng Trongđó:
+ Công dân nước ngoài được hiểu là người có quốc tịch nước ngoài, khôngphải là người có quốc tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.+ Người không quốc tịch là người không có quốc tịch của bất kỳ quốc gianào
Cả hai đối tượng nêu trên đều được Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam điềuchỉnh trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, không có sự phân biệt khixác lập quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau
- Người nước ngoài thường trú tại Việt Nam là công dân nước ngoài và ngườikhông quốc tịch cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam (khoản 2 điều 9Nghị định 68) Do điều kiện cuộc sống hay tính chất công việc họ đang làm
mà những người này đã đến và sinh sống lâu dài tại Việt Nam Và theo đómột nhu cầu hoàn toàn có khả năng phát sinh đó chính là việc đăng ký kếthôn Những đối tượng đó sẽ trở thành chủ thể trong vụ án hôn nhân và giađình có yếu tố nước ngoài khi họ có yêu cầu giải quyết tại cơ quan có thẩmquyền tại Việt Nam
- Ngoài ra, những công dân Việt Nam ra nước ngoài sinh sống một cách hợppháp và kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại cũng được đặt ra
và xem đây là một trong những trường hợp hôn nhân có yếu tố nước ngoài.Khi có yêu cầu giải quyết tranh chấp tại cơ quan có thẩm quyền thì đây là vụ
án hôn nhân có yếu tố nước ngoài Căn cứ để xác lập mối quan hệ hôn nhân ởđây là theo pháp luật nước ngoài mặc dù chủ thể tham gia là người Việt Nam Tóm lại, vụ án hôn nhân có yếu tố nước ngoài được hiểu là là việc giải quyếttranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật về điều kiện
có yêu cầu giải quyết giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, giữangười nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam, và công dân Việt Namvới nhau tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài
Trang 11Quan hệ này được quy định cụ thể trong pháp luật hiện hành, cụ thể là LuậtHôn nhân và gia đình năm 2000 và hướng dẫn cụ thể tại Nghị định số 68 vàNghị định số 69 của Chính phủ Tạo cơ sở pháp lý để điều chỉnh các quan hệmới phát sinh, đảm bảo sự ổn định và trật tự xã hội.
1.2 Những quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp có yêu tố nước ngoài
1.2.1 Căn cứ phát sinh vụ án hôn nhân gia đình
1.2.1.1 Về chủ thể khởi kiện trong vụ án hôn nhân gia đình
Địa vị tố tụng của mỗi đương sự trong một vụ kiện phản ánh quan hệ giữa cácđương sự với nhau trong một quan hệ pháp luật nhất định nào đó: người cóquyền lợi bị xâm phạm ra trước Toà án với tư cách là nguyên đơn và người cónghĩa vụ liên quan hoặc phải chịu trách nhiệm tham gia vụ kiện ở vị trí bị đơnChủ thể khởi kiện là một trong hai bên của mối quan hệ hôn nhân có đơn yêu
cầu giải quyết tranh chấp, nguyên đơn trong vụ kiện yêu cầu ly hôn là vợ hoặc người chồng ; người có yêu cầu trong việc huỷ hôn nhân trái pháp luật, không
công nhận quan hệ vợ chồng chỉ thuộc về các bên có quan hệ hôn nhân; ngườiyêu cầu thực thụ với tư cách là đương sự trong việc chấm dứt quan hệ nuôi
con nuôi là người con nuôi đã thành niên hoặc cha, mẹ nuôi ; nguyên đơn trong vụ kiện xác định cha, mẹ cho con là người con và ngược lại, nguyên đơn là người cha, người mẹ trong vụ kiện xác định con cho cha, mẹ ; người con chưa thành niên là đương sự với tư cách người có yêu cầu trong việc yêu
cầu hạn chế quyền của mẹ, cha đối với con chưa thành niên có thể là ngườiquốc tịch việt nam, nước ngoài, chủ thể này nộp đơn yêu cầu tại giải quyết tạiviệt nam, hay bắt buộc phải giải quyết theo quy định pháp luật việt nam
1.2.1.2 Về thẩm quyền giải quyết vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố
nước ngoài
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệ kinh tế quốc tế thì các
vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài xảy ra ngày càng tăng, kéo theo đó là cáctranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều Khi một tranh chấpdân sự có yếu tố nước ngoài được khởi kiện tại Tòa án của một quốc gia, vấn
đề đầu tiên là Tòa án phải xác định xem mình có thẩm quyền thụ lý giải quyếthay không? Ở Việt Nam, thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tốnước ngoài của Tòa án trước hết được xác định theo các điều ước quốc tế màViệt Nam là thành viên; trong trường hợp không có điều ước quốc tế điềuchỉnh thì xác định theo các quy định của Bộ luật Dân sự; Chương XXXI,XXXV của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 Đặc biệt, Khoản 2, Điều 410của Bộ luật Tố tụng dân sự đã có những quy định chung về thẩm quyền củaTòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
Trang 12Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương huỷ việc kết hôn tráipháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợchồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ có yếu
tố nước ngoài, xem xét việc công nhận hoặc không công nhận bản án, quyếtđịnh về hôn nhân và gia đình của Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền kháccủa nước ngoài theo quy định của Luật này và các quy định khác của phápluật Việt Nam
Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cư trú của côngdân Việt Nam huỷ việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranhchấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ,con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biêngiới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới vớiViệt Nam theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật ViệtNam
1.2.1.3 Về hình thức đơn khởi kiện
Khởi kiện dân sự về hôn nhân gia đình là những hoạt động trong quá trình tốtụng về Hôn nhân gia đình bao gồm: Khởi kiện Ly hôn, Phân chia tài sản vợ -chồng, Chia di sản thừa kế hoặc các yêu cầu khác về hôn nhân và gia đìnhnhư: Yêu cầu xác định cha mẹ cho con, Yêu cầu xác định con cho cha mẹ,Yêu cầu tuyên bố một người đã chết, mất tích … và các Yêu cầu khởi kiệnkhác có yếu tố Hôn nhân gia đình Để khởi kiện một vụ án mà được tòa án thụ
lý đương sự phải làm đơn theo đúng thủ tục theo quy định của pháp với hìnhthức và nội dung sau:
Hình thức, nội dung đơn khởi kiện
- Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;
- Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;
- Tên, địa chỉ của người khởi kiện;
- Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;
- Tên, địa chỉ của người bị kiện;
- Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;
- Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn, người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có;
- Tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợppháp;
Trang 13- Các thông tin khác mà người khởi kiện xét thấy cần thiết cho việc giải quyết
vụ án;
- Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; nếu cơ quan, tổ chứckhởi kiện thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóngdấu vào phần cuối đơn
1.2.1.4 Về nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí
Tiền tạm ứng án phí gồm có tiền tạm ứng án phí sơ thẩm và tiền tạm ứng ánphí phúc thẩm
Việc nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm
Số tiền đương sự phải nộp ngân sách nhà nước khi khởi kiện được gọi là tạmứng án phí dân sự sơ thẩm
Theo pháp lệnh án phí lệ phí năm 2009, nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu đốivới nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lậpphải nộp tiền tạm ứng án phí trừ trường hợp họ được miễn án phí hoặc đượcmiễn nộp tiền tạm ứng án phí
Trường hợp vụ án có nhiều nguyên đơn mà mỗi nguyên đơn có yêu cầu độclập thì mỗi nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí theo yêu cầu riêng củamỗi người; nếu các nguyên đơn cùng chung một yêu cầu thì các nguyên đơnphải nộp chung tiền tạm ứng án phí
Trường hợp vụ án có nhiều bị đơn mà mỗi bị đơn có yêu phản tố độc lập thìmỗi bị đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí theo yêu cầu riêng của mỗi người;nếu các bị đơn cùng chung một yêu cầu phản tố thì các bị đơn phải nộp chungtiền tạm ứng án phí
Người có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí trong vụ án dân sự không có giángạch phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng mức án phí dân sự
sơ thẩm; trong vụ án dân sự có giá ngạch phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự
sơ thẩm bằng 50% mức án phí dân sự sơ thẩm mà Tòa án dự tính theo giá trịtài sản có tranh chấp mà đương sự yêu cầu giải quyết
Nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí trong thời hạn một tháng kể từ ngàynộp đơn, trừ trường hợp được miễn án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng
án phí Toà án có thể gia hạn nộp tiền tạm ứng án phí một tháng Hết thời hạn
đó mà nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng án phí thì toà án không thụ lý vụán
Trang 14Người đã nộp tiền tạm ứng án phí được trả lại toàn bộ, nếu theo quyết địnhcủa toà án họ không phải chịu án phí hoặc được trả lại phần chênh lệch nếutheo quyết định của toà án họ phải chịu án phí ít hơn số tiền tạm ứng án phí
Việc nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm
Người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sựphúc thẩm trong thời hạn kháng cáo theo mức án phí dân sự phúc thẩm , trừtrường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc được miễn nộp án phí.Khi nhận đơn kháng cáo toà án phải báo cho người kháng cáo biết số tiền tạmứng án phí dân sự phúc thảam họ phải nộp, thời hạn nộp và hậu quả pháp lýcủa việc không nộp hoặc nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm khôngđúng hạn Nếu đã được thông báo hợp lệ mà người kháng cáo không nộp đủtiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm hoặc nộp đủ nhưng không đúng hạn thìcoi như không kháng cáo Tuy nhiên, đối với những trường hợp người khángcáo nộp tiền tạm ứng án phí quá hạn mà có lý do chính đáng thì có thể đượctoà án cấp phúc thẩm xét chấp nhận
Người đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nếu rút đơn kháng cáo trước khi
mở phiên toà phúc thẩm thì được trả lại 50% số tiền tạm ứng án phí đã nộp
Tiền tạm ứng án phí được nộp cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền để gửivào tài khoản tạm giữ mở tại kho bạc nhà nước và được rút ra để thi hành ántheo quyết định của Toà án
Người đã nộp tiền tạm ứng án phí phải chịu án phí thì ngay sau khi bản án,quyết định của Toà án có hiệu lực thi hành, số tiền tạm ứng đã thu được phảiđược nộp vào ngân sách nhà nước
Trang 15Trong trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng án phí được hoàn trả một phầnhoặc toàn bộ số tiền đã nộp theo bản án, quyết định của Toà án thì cơ quan thihành án đã thu tiền tạm ứng án phí phải làm thủ tục trả lại tiền cho họ.
Trong trường hợp việc giải quyết vụ án bị tạm đình chỉ thì tiền tạm ứng án phí
đã nộp được xử lý khi vụ án được tiếp tục giải quyết
1.2.2 Căn cứ xác định vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố có nước ngoài
Đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình khá phong phú, đa dạng gồm:nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án hônnhân và gia đình
Nguyên đơn:
Là một bên của quan hệ tranh chấp, là người khởi kiện khi người khởi kiện
có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, là chủ thể trong quan hệ hôn nhân có yếu
tố nước ngoài có hành vi khơi kiện tranh chấp đến tòa án để yêu cầu giảiquyết tranh chấp mà nguyên đơn khởi kiện, tư cách nguyên đơn phát sinh khi
có quyết định thụ lý vụ án của tòa án có thẩm quyền người khởi kiện trongpháp luật hôn nhân và gia đình là cơ quan đoàn thể chỉ là người đại diện hợppháp còn chính người có quyền lợi lợi ích bị xâm phạm mới là nguyên đơnNguyên đơn có vai trò quan trọng trong vụ án dân sự so với các đương sựkhác Vì để phát sinh vụ án dân sự tại TA, đồng thời là cơ sở đẻ bắt đầu giảiquyết vụ án dân sự phải có nguyên đơn khời kiện hoặc các chủ thể khác theoquy định của pháp luật tố tụng khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn
Để trở thành nguyên đơn thì cá nhân, cơ quan, tổ chức phải đáp ứng nhữngyêu cầu sau:
hại Điều này cho thấy việc nguyên đơn tham gia tố tụng mang tính chủ động,khi nhận thấy quyền lợi của bản thân bị xâm hại chủ thể tự mình yêu cầu cơquan chức năng bảo vệ quyền lợi cho mình Nó trái ngượi lại với tính bị động