1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định quan hệ giữa thành tích thi đấu với chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật của vận động viên chạy cự ly trung bình ở lứa tuổi 16 – 18

211 1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác định quan hệ giữa thành tích thi đấu với chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật của vận động viên chạy cự ly trung bình ở lứa tuổi 16 – 18
Tác giả Trịnh Toán
Người hướng dẫn PGS.TS Lê Nguyệt Nga
Trường học Viện Khoa Học Thể Dục Thể Thao - Bộ Văn Hóa Thể Thao Và Du Lịch
Chuyên ngành Khoa Học Thể Dục Thể Thao
Thể loại Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 4,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống hóa các chỉ tiêu đã được sử dụng trong đánh giá chức năng sinh lý, tố chất thể lực và kỹ chiến thuật của VĐV ĐK chạy CLTB: .... Thực tiễn chỉ ra công tác HLTT hiện đại đòi ho

Trang 1

TRỊNH TOÁN

XÁC ĐỊNH QUAN HỆ GIỮA THÀNH TÍCH THI ĐẤU VỚI CHỨC NĂNG SINH LÝ, TỐ CHẤT THỂ LỰC, KỸ CHIẾN THUẬT CỦA VẬN ĐỘNG VIÊN CHẠY CỰ LY TRUNG BÌNH Ở LỨA TUỔI 16 - 18

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, NĂM 2013

Trang 2

VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

TRỊNH TOÁN

XÁC ĐỊNH QUAN HỆ GIỮA THÀNH TÍCH THI ĐẤU VỚI CHỨC NĂNG SINH LÝ, TỐ CHẤT THỂ LỰC, KỸ CHIẾN THUẬT CỦA VẬN ĐỘNG VIÊN CHẠY CỰ LY TRUNG BÌNH Ở LỨA TUỔI 16 - 18

Chuyên ngành: Huấn luyện thể thao Mã số: 62.14.01.04

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Lê Nguyệt Nga

HÀ NỘI, NĂM 2013

Trang 3

Tôi xin cam đoạn đây là công trình nghiên cứu của riêng Tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận án

Trịnh Toán

Trang 4

Trang

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt trong luận án

Danh mục viết tắt các thông số sinh lý

Danh mục các đơn vị đo lường sử dụng trong luận án

Danh mục các bảng biểu

Danh mục các biểu đồ và hình vẽ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1 Đặc điểm chung và kỹ thuật môn chạy CLTB: 6

1.1.1 Sơ lược phát triển môn Điền kinh: 6

1.1.2 Đặc điểm sinh lý VĐV chạy CLTB của lứa tuổi 16 - 18: 8

1.1.3 Kỹ thuật chạy và các thông số động học và động hình học của kỹ thuật chạy cự ly trung bình: 11

1.1.4 Đặc điểm hoạt động thi đấu chạy CLTB: 13

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thành tích môn chạy CLTB: 15

1.2.1 Yếu tố hình thái 16

1.2.2 Yếu tố chức năng của cơ thể: 18

1.2.3 Yếu tố tố chất thể lực 25

1.2.4 Yếu tố tâm lý: 29

1.2.5 Yếu tố kỹ thuật và chiến thuật: 30

1.3 Xu hướng huấn luyện hiện đại và các giai đoạn huấn luyện VĐV chạy CLTB: 36

1.4 Các công trình nghiên cứu và phương pháp đánh giá TĐTL của môn chạy cự ly trung bình: 40

1.4.1 Khái niệm và quan điểm: 40

1.4.2 Nghiên cứu về phương pháp kiểm tra, đánh giá TĐTL: 41

Trang 5

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 49

2.1 Phương pháp nghiên cứu: 49

2.1.1 Phương pháp tham khảo tài liệu: 49

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn: 49

2.1.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm: 50

2.1.4 Phương pháp kiểm tra chức năng sinh lý: 51

2.1.5 Phương pháp toán thống kê: 59

2.2 Tổ chức nghiên cứu: 61

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu: 61

2.2.2 Khách thể nghiên cứu: 62

2.2.3 Kế hoạch nghiên cứu: 62

2.2.4 Địa điểm nghiên cứu: 62

2.2.5 Các đơn vị phối hợp nghiên cứu: 62

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 63

3.1 Cơ sở xác định nội dung đánh giá chức năng sinh lý, tố chất thể lực và kỹ chiến thuật của VĐV chạy CLTB lứa tuổi 16 -18 63

3.1.1 Hệ thống hóa các chỉ tiêu đã được sử dụng trong đánh giá chức năng sinh lý, tố chất thể lực và kỹ chiến thuật của VĐV ĐK chạy CLTB: 63

3.1.2 Xác định các nội dung đánh giá thông qua kết quả phỏng vấn: 65

3.1.3 Kiểm nghiệm độ tin cậy của các chỉ tiêu được lựa chọn: 68

3.1.4 Kiểm nghiệm tính thông báo của các chỉ tiêu được lựa chọn: 69

3.2 Hiện trạng chức năng sinh lý, tố chất thể lực và kỹ chiến thuật của VĐV chạy CLTB ở lứa tuổi 16 - 18 74

3.2.1 Hiện trạng chức năng sinh lý, tố chất thể lực và kỹ chiến thuật của VĐV chạy CLTB ở lứa tuổi 16 - 18 qua các nội dung 74

3.2.2 Xây dựng thang điểm đánh giá chức năng sinh lý, tố chất thể lực và kỹ chiến thuật của nam và nữ VĐV chạy CLTB lứa tuổi 16 - 18: 106

Trang 6

sinh lý, tố chất thể lực và kỹ chiến thuật của nam và nữ VĐV chạy CLTB lứa

tuổi 16 - 18: 115

3.3.1 Nghiên cứu mối tương quan giữa thành tích chạy 800m và 1500m với các yếu tố chức năng sinh lý, tố chất thể lực và kỹ chiến thuật của nam và nữ VĐV ở lứa tuổi 16 - 18: 115

3.3.2 Nghiên cứu xác định tỷ trọng ảnh hưởng của các yếu tố chức năng sinh lý, tố chất thể lực và kỹ chiến thuật với thành tích chạy 800m và 1500m của nam và nữ VĐV ở lứa tuổi 16 - 18: 125

3.3.3 Xác định mối quan hệ giữa thành tích chạy 800m và 1500m với các yếu tố chức năng sinh lý, tố chất thể lực và kỹ chiến thuật của nam và nữ VĐV ở cùng nhóm tuổi 16 – 18 sau một năm tập luyện: 132

3.3.4 Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật của VĐV chạy CLTB lứa tuổi 16 – 18 theo tỷ trọng ảnh hưởng của từng yếu tố: 134

3.3.5 Ứng dụng tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật cho VĐV chạy CLTB cùng lứa tuổi 16 – 18 sau một năm tập luyện: 135

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 144

KẾT LUẬN: 144

KIẾN NGHỊ: 145

CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tiếng Việt

Tài liệu tiếng Anh

PHỤ LỤC

Trang 7

STT Từ viết tắt Diễn giải

10 SEA Games Southeast Asian Games (Đại hội Thể

thao Đông Nam Á)

Trang 8

STT Từ viết tắt Tên đầy đủ tiếng Anh Tên tiếng Việt

1 ATP Adenozin Triphosphate

2 ADP Adenozin Diphosphate

3 AT4 Acid lactic threshold Ngưỡng axit lactic 4 mmol/lít

5 CO2 Carbon dioxide Khí các bô nic

6 CP Creatine Phosphate

7 CNT Heart work (HW) Công năng tim

13 PWC170 Physical Working Capacity

15 VAnT Velocity Anaerobic Threshold Ngưỡng yếm khí tốc độ

16 VO2max Volume oxy maximum uptake Thể tích oxy hấp thụ tối đa

Trang 9

STT Từ viết tắt Diễn giải

Trang 10

Bảng Tên bảng Trang

1.1 Thành tích các VĐV ĐK Việt Nam tiêu biểu tại SEA Games 24 và 25 7 1.2 Thời gian hoạt động và hệ thống cung cấp năng lượng của các môn ĐK 10 1.3 Nhu cầu năng lượng và khả năng cung cấp về số lượng và công suất của

các hệ thống trao đổi chất trong cơ bắp VĐV chạy các cự ly

2.5 Tiêu chuẩn ngưỡng tốc độ lactate của nam và nữ chạy các cự ly ĐK 59 3.1 Kết quả kiểm định theo phương pháp Wilcoxon qua 2 lần phỏng vấn 66 3.2 Hệ số tương quan qua 2 lần kiểm tra các chỉ tiêu đánh giá thể lực của

3.4 Hệ số tương quan các chỉ tiêu đánh giá chức năng sinh lý, tố chất thể lực

và kỹ chiến thuật với thành tích thi đấu của nam VĐV chạy CLTB lứa

tuổi 16 - 18 (n = 14)

70

3.5 Hệ số tương quan các chỉ tiêu đánh giá chức năng sinh lý, tố chất thể lực

và kỹ chiến thuật với thành tích thi đấu của nữ VĐV chạy CLTB lứa

tuổi 16 - 18 (n = 10)

71

Trang 11

lứa tuổi 16 - 18

3.7 Hiện trạng đánh giá các tố chất thể lực của nam và nữ VĐV chạy CLTB

lứa tuổi 16 - 18

84

3.8 Hiện trạng các chỉ tiêu kỹ chiến thuật chạy cự ly 800m và 1500m của

nam và nữ VĐV lứa tuổi 16 - 18

91

3.9 So sánh thời gian và tốc độ chạy 400m(1) và 400m(2) cự ly chạy 800m

của nam VĐV chạy CLTB

96

3.10 So sánh thời gian và tốc độ chạy 400m(1) và 400m(2) cự ly chạy 800m

của VĐV nữ

99

3.11 Diễn biến ĐDB và TSB chạy cự ly 1500m của VĐV nam lứa tuổi 16-18

tại giải vô địch các lứa tuổi trẻ năm 2008 thành phố Hồ Chí Minh (n=7)

101

3.12 Diễn biến ĐDB và TSB chạy cự ly 1500m của VĐV nữ lứa tuổi 16-18

tại giải vô địch các lứa tuổi trẻ năm 2008 thành phố Hồ Chí Minh (n=7)

103

3.13 Kiểm định phân phối chuẩn Shapyro - Winky các chỉ tiêu của nam VĐV

chạy CLTB lứa tuổi 16 - 18 (n = 30)

108

3.14 Kiểm định phân phối chuẩn Shapyro - Winky các chỉ tiêu của nữ VĐV

chạy CLTB lứa tuổi 16 - 18 (n=26)

3.19 Phân loại các chức năng sinh lý, tố chất thể lực và kỹ chiến thuật của

nam VĐV chạy CLTB lứa tuổi 16 - 18

113

3.20 Phân loại các chỉ tiêu chức năng sinh lý, tố chất thể lực và kỹ chiến thuật

của VĐV nữ chạy CLTB lứa tuổi 16 - 18

114

3.21 Hệ số tương quan giữa thành tích chạy 800m và 1500m với từng chỉ tiêu

chức năng sinh lý, tố chất thể lực và kỹ chiến thuật của nam VĐV lứa

116

Trang 12

3.22 Hệ số tương quan giữa thành tích chạy 800m và 1500m với từng chỉ tiêu

chức năng sinh lý, tố chất thể lực và kỹ chiến thuật của nữ VĐV lứa

tuổi 16 - 18

117

3.23 Hệ số tương quan giữa yếu tố chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ

chiến thuật và thành tích chạy 800m, 1500m của nam VĐV lứa tuổi 16 -

18

126

3.24 Tỷ trọng ảnh hưởng (β) của các yếu tố chức năng sinh lý, tố chất thể lực,

kỹ chiến thuật với thành tích chạy 800m và 1500m của nam VĐV lứa

tuổi 16 - 18

127

3.25 Hệ số tương quan giữa yếu tố chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ

chiến thuật và thành tích chạy 800m, 1500m của nữ VĐV lứa tuổi 16 -

18

129

3.26 Tỷ trọng ảnh hưởng (β) của các yếu tố chức năng sinh lý, tố chất thể lực,

kỹ chiến thuật với thành tích chạy 800m và 1500m của nữ VĐV lứa tuổi

16 – 18

130

3.27 Hệ số tương quan giữa thành tích chạy 800m, 1500m với các yếu tố

chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật của nam VĐV lứa tuổi

16 – 18 Tp Hồ Chí Minh

132

3.28 Hệ số tương quan giữa yếu tố chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ

chiến thuật và thành tích chạy 800m, 1500m của nữ VĐV lứa tuổi 16 – 18 Tp Hồ Chí Minh

133

3.29 Phân loại tổng hợp chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật có

tính đến tỷ trọng ảnh hưởng của từng yếu tố của nam và nữ VĐV chạy

CLTB lứa tuổi 16 – 18

135

3.30 Bảng xếp hạng thành tích chạy 800m, 1500m và điểm tổng hợp phân

loại của nam VĐV chạy CLTB lứa tuổi 16 – 18 của Thành phố Hồ Chí

Minh (n=14)

136

3.31 Bảng xếp hạng thành tích chạy 800m, 1500m và điểm tổng hợp phân

loại của nữ VĐV chạy CLTB lứa tuổi 16 – 18 của Thành phố Hồ Chí

Minh

137

Trang 13

Thể

3.2 Diễn biến tần số và độ dài bước của VĐV nam chạy cự ly 800m 93

3.4 Diễn biến tần số và độ dài bước của VĐV nữ chạy cự ly 800m 97 3.5 Diễn biến độ dài bước và tần số bước chạy cự ly 800m của

VĐV nữ Quốc tế

98

3.7 Diễn biến tần số và độ dài bước của VĐV nam chạy cự ly

1500m

102

3.9 Diễn biến độ dài bước và tần số bước chạy cự ly 1500m của

VĐV nữ

105

3.11 Tỷ lệ phần trăm ảnh hưởng của các yếu tố chức năng sinh lý, tố

chất thể lực, kỹ chiến thuật với thành tích chạy 800m của nam VĐV lứa tuổi 16 – 18

128

3.12 Tỷ lệ phần trăm ảnh hưởng của các yếu tố với thành tích chạy

1500m của nam VĐV lứa tuổi 16 – 18

128

3.13 Tỷ lệ phần trăm ảnh hưởng của các yếu tố với thành tích chạy

800m của nữ VĐV lứa tuổi 16 – 18

131

3.14 Tỷ lệ phần trăm ảnh hưởng của các yếu tố với thành tích chạy

1500m của nữ VĐV lứa tuổi 16 – 18

131

1.1 Diễn biến tốc độ chạy ở từng đoạn 100m của VĐV có trình độ

thành tích chạy 800m khác nhau (từ dưới 1'49'' đến 1'58'')

Trang 14

PHẦN MỞ ĐẦU

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX đã nêu rõ: "Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ VĐV thể thao thành tích cao, đưa thể thao Việt Nam lên trình độ chung trong khu vực Đông Nam Á và có vị trí cao trong nhiều bộ môn" [34]

Trong những năm gần đây TTTT nước ta đã có những bước tiến đáng ghi nhận Từ sau SEA Games 22 Việt Nam đăng cai đến nay thành tích đoàn thể thao Việt Nam luôn đạt thứ hạng trong tốp nhất, nhì và ba ở đấu trường Đông Nam Á ĐK là môn thể thao cơ bản và quan trọng trong chương trình thi đấu của các đại hội thể thao Olympic quốc tế Thành tích của môn ĐK qua các kỳ SEA Games không ngừng tăng lên Môn ĐK từ chỗ chưa có huy chương vàng ở SEA Games 16 nhưng đến SEA Games 22, 23, 24, 25 môn ĐK đã giành được 8 huy chương vàng Có được những thành tích trên là do điều hành chuyên môn của

Ủy ban Thể dục Thể thao; sự đầu tư về cơ sở vật chất; là kết quả của quá trình tuyển chọn và huấn luyện lâu dài

Ngày nay, cuộc tranh tài các môn thể thao nói chung và ĐK nói riêng ngày càng quyết liệt Các kỷ lục thế giới của ĐK, bơi lội liên tiếp phá vỡ và nhiều kỷ lục mới được thiết lập trong các kỳ Đại hội Olympic, giải đấu thế giới, châu lục

và khu vực Do đó công tác đào tạo VĐV có vai trò quan trọng Ở các nước tiên tiến trong những thập niên gần đây, công tác đào tạo VĐV không chỉ dựa vào yếu tố sẵn có của bẩm sinh, di truyền, vào năng khiếu và cũng không đơn thuần chỉ dựa vào yếu tố của công tác huấn luyện, sự khổ luyện của VĐV, mà huấn luyện thể thao phải là sự kết hợp của nền khoa học tiên tiến, tạo thành quy trình công nghệ đào tạo VĐV Đó là quy trình đào tạo khoa học với sự kết hợp nhiều mặt, nhiều giải pháp như y sinh học (sinh lý, sinh hóa, sinh cơ, di truyền, giải phẫu), kỹ thuật, tâm lý trong đó sự tác động của khoa học công nghệ vào lĩnh vực này chiếm tỷ trọng ngày càng cao Vì vậy việc vận dụng thành quả của các

Trang 15

môn khoa học vào quá trình tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện nâng cao TTTT có

ý nghĩa quan trọng

Khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng là vùng thấp của TTTT so với châu lục và thế giới Để đuổi kịp các nước có nền thể thao tiên tiến, ngành TDTT nước ta đã xác định "cần phát triển thể thao thành tích cao", coi đó

là nhiệm vụ chiến lược xuyên suốt của ngành Theo Viện khoa học thể dục thể thao: "Để tạo dựng cơ sở khoa học cho định hướng và chuẩn hóa quy trình đào tạo VĐV nhiều năm, giải pháp có tính thực tiễn và khả thi hơn cả là vận dụng phương pháp tiếp cận đi tắt đón đầu, từng bước xây dựng các chỉ tiêu đặc trưng

mô hình của VĐV cấp cao từng môn thể thao trọng điểm, đồng thời, trong phạm

vi có thể, vẫn tiến hành dần dần đánh giá TĐTL của VĐV trẻ các cấp trong chương trình thể thao quốc gia nhằm nâng cao hiệu quả tuyển chọn và huấn luyện VĐV các cấp" Điều này rất có ý nghĩa về mặt thực tiễn cũng như lý luận Trong đó TĐTL là một phức hợp gồm nhiều thành tố: Y - sinh, tâm lý, kỹ chiến thuật, thể lực, ngày càng được nâng cao nhờ ảnh hưởng trực tiếp, lâu dài của lượng vận động tập luyện và thi đấu cũng như các liệu pháp hỗ trợ ngoại sinh khác Thực tiễn chỉ ra công tác HLTT hiện đại đòi hỏi việc kiểm tra - đánh giá TĐTL của VĐV và ở bất kỳ môn thể thao nào cũng được xem xét một cách toàn diện các mặt như: Hình thái - thể lực, kỹ chiến thuật và tâm - sinh lý theo một quy trình và trong hệ thống chặt chẽ, khoa học, nhằm xác định hiệu quả huấn luyện đối với sự phát triển năng lực thể thao của VĐV

Nhiều tác giả trong và ngoài nước đều cho rằng: Thành tích các môn thể thao, nhất là các môn vận động chu kỳ trong đó có môn ĐK, phụ thuộc vào các yếu tố sau đây: Hình thái, chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ thuật, một số yếu tố tâm lý Các yếu tố đó tạo nên công suất cơ thể, mà thành tích các môn chạy ngắn và trung bình có tương quan chặt chẽ đến công suất của cơ thể Do vậy môn ĐK chạy ngắn và trung bình có hệ thống tiêu chuẩn đánh giá bao gồm các yếu tố cấu thành TTTT: Hình thái, chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật, một số yếu tố tâm lý Các yếu tố này nhờ vào thuật toán của môn

Trang 16

xác suất thống kê đã đưa các phương pháp phân tích nhân tố (factor analyse), hệ

số tương quan bội, phương pháp tính các tỷ trọng các nhóm nhân tố, phương pháp quay vòng các nhân tố; phương trình hồi quy đa tuyến tính, có thể giúp chúng ta xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá VĐV

Với các điểm nêu trên việc nghiên cứu khả năng phù hợp tập luyện để xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá và xác định tỷ trọng ảnh hưởng của các yếu

tố cấu thành TTTT của VĐV ĐK chạy CLTB là việc làm có ý nghĩa khoa học và cần thiết cho thực tiễn

Đã có nhiều tác giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu đánh giá TĐTL của VĐV ở nhiều môn thể thao khác nhau như: I V Aulic (1977); Bành Mỹ Lệ (1989); Viktoxovơ P V (1991); Hậu Chính Khánh (1994); Philin V P (1996); Vork X L (2001); Xirotin O A (2001)

Ở nước ta đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu như: Trương Anh Tuấn (1989); Lê Nguyệt Nga, Trịnh Hùng Thanh (1998); Nguyễn Thế Truyền (1999); Nguyễn Kim Minh (1999); Lê Văn Lẫm, Nguyễn Xuân Sinh (1999); Phan Hồng Minh (2000) Đặc biệt năm 2002, Viện khoa học TDTT đã hoàn thành đề tài: "Đánh giá TĐTL và dự báo tiềm năng của VĐV một số môn thể thao trọng điểm trong chương trình Quốc gia về Thể thao" của nhiều tác giả: Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Danh Thái, Dương Nghiệp Chí, Lê Quý Phượng, Nguyễn Xuân Sinh, Lưu Quang Hiệp, Nguyễn Hiệp, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Kim Minh Trong những năm gần đây có nhiều luận án tiến sĩ cũng đã nghiên cứu các tiêu chuẩn đánh giá TĐTL của một số môn thể thao khác nhau như Chung Tấn Phong (2000) [37], Nguyễn Tiên Tiến (2001) [48], Nguyễn Kim Lan (2004) [25], Nguyễn Quang Vinh (2008) [59]

Những công trình trên được tiến hành nghiên cứu trên các VĐV các môn thể thao có TĐTL ở các lứa tuổi và giới tính khác nhau Riêng môn ĐK đáng chú ý nhất là các đề tài "Nghiên cứu khả năng phù hợp tập luyện (dưới góc độ

sư phạm) nhằm góp phần nâng cao hiệu quả tuyển chọn và dự báo thành tích của

Trang 17

VĐV trẻ chạy 100m ở Việt Nam" của Đàm Quốc Chính [7], đề tài "Tuyển chọn

và định hướng thể thao đối với VĐV trẻ trong chạy CLTB và cự ly dài" của Nguyễn Đại Dương [12] và đề tài "Mô hình hóa các chỉ tiêu về thể lực chuyên môn của VĐV xuất sắc môn chạy 800m" của tác giả Nguyễn Tuấn Anh Riêng ở

cự ly chạy từ 800m đến 1500m của nam và nữ trong độ tuổi 16 - 18 là lứa tuổi của giai đoạn chuyên môn hóa sâu, chuẩn bị cho giai đoạn hoàn thiện thể thao, bảo đảm đạt TTTT, thì hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá đầy

Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài:

"Xác định quan hệ giữa thành tích thi đấu với chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật của VĐV chạy CLTB ở lứa tuổi 16 - 18"

Mục đích nghiên cứu:

Mục đích của đề tài là lựa chọn nội dung các chỉ tiêu đánh giá TĐTL, xác định quan hệ giữa thành tích thi đấu với chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật của VĐV chạy CLTB ở lứa tuổi 16 – 18, nhằm cung cấp những thông tin khoa học, định hướng cho công tác tuyển chọn, huấn luyện VĐV nâng cao TTTT môn chạy CLTB ở giai đoạn chuyên môn hóa sâu

Giả thuyết khoa học:

Theo nhiều hướng nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về các môn chạy của ĐK có thể nêu ra giả thuyết khoa học của luận án: Thành tích môn chạy CLTB của lứa tuổi 16 - 18 phụ thuộc vào các yếu tố như: Hình thái, chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật và một số yếu tố khác Các yếu tố

Trang 18

này tạo nên công suất của cơ thể và có tương quan chặt chẽ đến thành tích môn chạy CLTB

Mục tiêu nghiên cứu:

Để thực hiện mục đích của đề tài, luận án tiến hành nghiên cứu với các mục tiêu sau đây:

Mục tiêu 1 Xác định cơ sở lựa chọn nội dung đánh giá chức năng sinh lý,

tố chất thể lực và kỹ chiến thuật

Mục tiêu 2 Hiện trạng chức năng sinh lý, tố chất thể lực và kỹ chiến thuật của VĐV chạy CLTB ở lứa tuổi 16 - 18

Mục tiêu 3 Xác định quan hệ giữa thành tích thi đấu với chức năng, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật của VĐV chạy CLTB ở lứa tuổi 16 - 18

Trang 19

CHƯƠNG 1:

TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Đặc điểm chung và kỹ thuật môn chạy CLTB:

1.1.1 Sơ lược phát triển môn Điền kinh:

Theo Dương Nghiệp Chí, Nguyễn Kim Minh, Phạm Khắc Học, Võ Đức Phùng, Nguyễn Đại Dương và Nguyễn Quang Hưng thì môn ĐK có nguồn gốc hình thành và phát triển như sau:

Đi bộ, chạy, nhảy và ném đẩy là những hoạt động tự nhiên của con người

Từ những hoạt động với mục đích di chuyển, tìm kiếm thức ăn, tự vệ và phòng chống thiên tai, dần dần hình thành các trò chơi vận động, các cuộc thi đấu và nó

đã thu hút mọi người tham gia tập luyện [3, tr 9]

Các bài tập ĐK đã được loài người sử dụng từ thời cổ Hy Lạp Song lịch sử phát triển của ĐK được ghi nhận trong cuộc thi đấu chính thức vào năm 776 trước Công nguyên Từ đại hội thể thao Olympic Aten (Hy Lạp 1896), ĐK đã trở thành nội dung chủ yếu trong chương trình thi đấu của các đại hội thể thao Olympic Năm 1912, Liên đoàn Điền kinh nghiệp dư quốc tế IAAF (International Amateur Athletic Federation) ra đời, trụ sở đặt tại Monaco Đây là

tổ chức tối cao lãnh đạo phong trào ĐK toàn thế giới Đến nay đã có 209 thành viên là các Liên đoàn Điền kinh Quốc gia ở các châu lục, trong đó có Liên đoàn Điền kinh Việt Nam [3, tr 10]

Ở Việt Nam, trong lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh sinh tồn, dựng nước và giữ nước của dân tộc, tổ tiên chúng ta đã rất quen thuộc với các hoạt động đi bộ, chạy, nhảy, ném đẩy

Trong thời gian dài thực dân Pháp đô hộ nước ta, môn ĐK phát triển rất chậm, và yếu ở cả Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ Theo tờ báo "Tương lai Bắc kỳ" (bằng tiếng Pháp), cuộc thi đấu ĐK đầu tiên được tổ chức ở Hà Nội vào tháng 4/1925 bao gồm 9 môn: Chạy 100m, 110m rào, 400m, 1500m, nhảy cao, nhảy sào, đẩy tạ, ném đĩa, phóng lao và thành tích thi đấu còn rất thấp

Trang 20

Từ năm 1945 - 1954, kế tục truyền thống hào hùng của dân tộc, một lần nữa các hoạt động đi bộ, chạy, nhảy, ném đẩy như một động lực phát triển môn

ĐK trong tương lai lại được vận dụng nhiều trong chiến tranh giữ nước Ở miền Bắc nước ta, từ khoảng 1959 – 1969 phong trào tập luyện môn ĐK trong nhân dân phát triển tương đối rộng rãi Các phong trào "Chạy, Nhảy, Bơi, Bắn, Võ",

"rèn luyện chạy vì miền Nam ruột thịt" được nhân dân hưởng ứng Hàng năm đều có từ 3 đến 5 cuộc thi đấu ĐK của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Thành tích các môn ĐK có trong chương trình thi đấu đại hội thể thao Olympic quốc tế đều được nâng lên rõ rệt trong giai đoạn này Từ tháng 5/1975 đến nay, môn ĐK đã giành được một số huy chương trong các Đại hội Thể thao Đông Nam Á và Châu Á [3, tr 9 - 18] Thành tích của các VĐV ĐK Việt Nam tiêu biểu tại SEA Games 24 và 25 trình bày ở bảng 1.1

Bảng1.1: Thành tích các VĐV ĐK Việt Nam tiêu biểu

tại SEA Games 24 và 25 [81]

Thành tích SEA Games

24

Thành tích SEA Games

25

Thứ hạng

4 Vũ Văn Huyện 10 môn PH 7457đ 7558 đ HCV

6 Nguyễn Duy Bằng Nhảy cao 2.17m - HCB

8 Nguyễn Thị Thu Cúc 7 môn PH 5259 đ 5166 đ HCB Riêng môn chạy CLTB, tập luyện và thi đấu có sớm nhất ở Anh từ thế kỷ XVIII Khi các Đại hội Olympic được khôi phục, chạy CLTB đã có trong chương trình thi đấu ngay từ Đại hội lần thứ nhất vào năm 1898 ở A - Ten Có

Trang 21

hai cự ly tiêu biểu luôn có trong chương trình thi đấu tại các đại hội Olympic, các Đại hội TDTT và các Giải vô địch ĐK cho cả 2 giới nam và nữ là cự ly 800m và 1500m [30, tr 35]

1.1.2 Đặc điểm sinh lý VĐV chạy CLTB của lứa tuổi 16 - 18:

Đặc điểm nổi bật của VĐV chạy CLTB thường có chiều cao cơ thể tương đối cao, cơ bắp không những phát triển ở chân mà cả hai vai, có khả năng duy trì tốc độ cao trong thời gian tương đối dài Tính chất hoạt động đòi hỏi sức bền chuyên môn và những tính chất đặc biệt của cơ quan vận động [16, tr 177]

- Hệ thần kinh:

Tính linh hoạt hệ thần kinh tương đối cao, cũng gần giống như chạy ngắn, tốc độ chạy tương đối nhanh nên yêu cầu có khả năng thay đổi quá trình hưng phấn và ức chế ở vỏ não Hệ thống thần kinh luôn luôn duy trì sự thay đổi quá trình hưng phấn và ức chế trong thời gian tương đối dài Tế bào thần kinh dễ bị mệt mỏi do tiếp nhận và điều khiển xung động cao [43, tr 103 - 104] Đặc điểm

hệ thần kinh của lứa tuổi 16 – 18 cùng với sự phát triển hoàn thiện thể hình, kích thước vỏ não và hành tủy đạt đến mức của người trưởng thành Hoạt động phân tích - tổng hợp của vỏ não tăng lên, tư duy trừu tượng đã hình thành tốt, nâng cao không ngừng tính linh hoạt thần kinh ở vỏ não, nên cần đảm bảo sự hoạt động thay đổi nhanh giữa cơ co và cơ đối kháng, nâng cao chức năng ổn định cơ bắp là điều quan trọng để nâng cao thành tích đối với chạy CLTB

- Hệ tuần hoàn:

Hệ tuần hoàn là cơ quan bảo đảm cung cấp máu đến hệ cơ xương, cung cấp dưỡng chất và năng lượng đáp ứng kịp thời công suất hoạt động đồng thời mang các chất đào thải của quá trình chuyển hóa chất nhanh chóng ra ngoài

Môn chạy CLTB có cường độ chạy gần bằng môn chạy ngắn, nhưng thời gian hoàn thành cự ly tương đối dài, cần đến 3 - 5 phút Trong tập luyện và thi đấu các môn chạy CLTB, hệ thống thần kinh thực vật buộc phải thích ứng với yêu cầu chức năng vận động cơ năng nên có ảnh hưởng rất lớn đến chức năng sinh lý Nhịp tim có thể đạt mức độ cao khả năng cơ thể con người 200 - 250

Trang 22

lần/phút Huyết áp cơ thể cũng đạt đến khả năng cực hạn Lượng tâm thu vào khoảng 150 - 210ml, lưu lượng tim trên phút có thể đạt 30 - 40 lít/phút, tăng 6 -

7 lần so với lúc yên tĩnh [43, tr 103 - 104] Ở lứa tuổi 16 -18 có nhịp tim 70 -

78 lần/phút, HA tối đa 110 - 120, HA tối thiểu 70 – 85, thể tích tâm thu 60 – 70ml Trong tập luyện và thi đấu thể tích tâm thu gần như người lớn 120 - 140ml, lưu lượng tim trên phút 24 - 28 lít/phút Như vậy đặc điểm hoạt động tuần hoàn của VĐV chạy CLTB có tần số nhịp tim, HA và lượng tâm thu khá cao, mới có thể nâng cao công suất cơ thể

- Sự biến đổi hệ hô hấp

Đặc điểm sinh lý lứa tuổi 16 – 18, tần số hô hấp 12 - 18 lần/phút Độ sâu

hô hấp (400 - 500ml) cũng như DTS tương đối cũng gần bằng người lớn (80ml/1kg trọng lượng cơ thể), khả năng hấp thụ Oxy tối đa 3.50 lít/phút

Trong tập luyện và thi đấu của VĐV chạy CLTB, chức năng hệ hô hấp không đáp ứng kịp với cường độ hoạt động cơ bắp, như trong cự ly 1500m, khi sắp kết thúc cự ly, chức năng hệ hô hấp mới đạt được mức độ tối đa Tần số hô hấp 45 - 55 lần/phút trong phạm vi có hiệu quả hô hấp, lượng thông khí phổi đạt

100 - 140 lít/phút, nhu cầu oxy 8.5 - 12.5 lít/phút, nợ oxy từ 52 - 75% Tuy số %

nợ oxy thấp hơn chạy ngắn (99%) nhưng trị số tuyệt đối đạt 19 - 20 lít, cao hơn chạy ngắn Trong 4 vùng cường độ của Pharphell thì CLTB có trị số nợ oxy lớn nhất, hàm lượng axit lactic máu tăng lên có thể đạt 250mg%, axit lactic trong nước tiểu cũng tăng theo đạt đến 250mg% [43, tr 103 - 104]

- Sự trao đổi chất và năng lượng:

Đặc điểm chính của lứa tuổi thanh thiếu niên là quá trình đồng hóa chiếm

ưu thế so với quá trình dị hóa Trao đổi năng lượng trong điều kiện yên tĩnh (chuyển hóa cơ sở) ở 15 tuổi 4.2 Kcal/m2/giờ; đến 20 tuổi 3.8 Kcal/m2/giờ Quá trình trao đổi mỡ là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng, nhưng dự trữ mỡ trong cơ thể không lớn và sự trao đổi mỡ không ổn định, do vậy lượng mỡ trong

cơ thể bị cạn rất nhanh khi có sự tiêu hao năng lượng lớn Trao đổi đường đối với cơ thể không chỉ là nguồn cung cấp năng lượng mà còn đảm nhiệm chức

Trang 23

năng cấu tạo Ở tuổi 16 - 18 nhu cầu khoảng 7.7g/kg/ngày Nước chiếm 68 - 72% trọng lượng cơ thể của tuổi 16 - 18 và nhu cầu 40 - 50g/1kg/ngày Tổng năng lượng tiêu hao vào khoảng 125 Kcal; Có VĐV đạt đến 450 Kcal

Qua các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước thì đặc điểm môn chạy CLTB thuộc vùng công suất dưới cực đại Trong đó chạy cự ly 800m có 70% sức bền yếm khí, 30% là ưa khí; Chạy cự ly 1500m có 50% yếm khí và 50% ưa khí [18, tr 367], [33, tr 502 - 503], [75, tr 85], [76, tr.110] Theo tác giả Peter Janssen (2001) chạy cự ly 800m có 30% là hệ năng lượng yếm khí phi lactat và lactat, 65% là hệ lactate và oxygen, 5% hệ oxygen Chạy

cự ly 1500m có 20% là hệ yếm khí phi lactat và lactat, 55% là hệ lactate và oxygen, 25% là hệ oxygen [70, tr 18 – 19] Thời gian hoạt động và hệ thống cung cấp năng lượng của các môn ĐK được trình bày ở bảng 1.2 [63, tr 10]

Bảng 1.2: Thời gian hoạt động và hệ thống cung cấp năng lượng

của các môn ĐK [63, tr 10]

năng lượng chính Cự ly chạy

Dưới 30 gy ATP - CP 100m, 200m, chạy vượt rào

30 - 90 gy ATP - CP, LA 200m, 400m

1’30" - 3’00" LA, O2 800m

From Edward L Fox và Donald K Mathews (1974), Interval training, Philadelphia: Saunders

VĐV có tốc độ tương đối nhanh, cường độ tương đối lớn, sự trao đổi năng lượng vừa thiếu oxy vừa có oxy tham gia, song chủ yếu là do hệ thống cung cấp năng lượng không oxy tham gia Trong quá trình chạy VĐV có thể xuất hiện

"cực điểm" và "hô hấp lần hai", song điều này phụ thuộc vào trình độ huấn luyện, trình độ huấn luyện càng cao thì hiện tượng trên càng ít xuất hiện [32, tr

34 - 36.] Cho nên để phát triển thành tích chạy CLTB cần tăng cường khả năng trao đổi đường ở pha yếm khí là chính, khả năng này là cơ sở sinh lý phát triển sức bền tốc độ

Trang 24

1.1.3 Kỹ thuật chạy và các thông số động học và động hình học của kỹ

thuật chạy cự ly trung bình:

Theo Dương Nghiệp Chí, Nguyễn Kim Minh, Phạm khắc Học, Võ Đức Phùng, Nguyễn Đại Dương (2000) [3, tr 147 - 154], [55, tr 56 - 61] mô tả kỹ thuật chạy CLTB gồm các giai đoạn: Xuất phát, tăng tốc độ xuất phát, chạy giữa quãng, về đích và dừng lại sau chạy

Khác với chạy trên cự ly ngắn, chạy trên CLTB có ĐDB nhỏ hơn, tư thế của thân trên thẳng hơn, chân lăn nâng gối thấp hơn, việc duỗi thẳng chân đạp sau không đột ngột, thở có nhịp điệu và sâu hơn

Trong chạy CLTB, các VĐV thường sử dụng kỹ thuật Xpc Theo lệnh "vào chỗ" VĐV bước đến vạch xuất phát và đặt chân thuận sát sau vạch còn chân kia cách nửa bước về phía sau Thân trên ngả về trước, chân gấp lại ở khớp gối, tư thế lúc này cần ổn định và thuận lợi Sau đó, VĐV gấp chân và gập thân trên về phía trước nhiều hơn nữa, song phải đảm bảo chống tựa vững vàng Tay để như trong tư thế chạy và mắt nhìn hướng hơi ra trước VĐV cũng có thể được phép

tỳ một tay (tay khác bên tay thuận) trên đất, ở phía sau vạch xuất phát

Sau khi súng nổ hay lệnh "chạy", VĐV bắt đầu chạy và cố gắng chiếm vị trí sát mép trong đường chạy Sau xuất phát, VĐV giữ tư thế nghiêng thân để tăng tốc độ, sau đó thân trên dần dần thẳng trở lại tư thế bình thường để chuyển sang chạy với nhịp điệu đều hơn ở giữa quãng Khi chạy ở đường vòng thân trên cần nghiêng vào phía trong để khắc phục lực ly tâm, bàn chân cần đặt hơi xoay mũi chân vào trong

- Chạy giữa quãng:

Bước chạy giữa quãng được thực hiện với ĐDB và TSB tương đối đều ĐDB và TSB tùy thuộc vào đặc điểm của cá nhân, chiều cao cơ thể và độ dài chân của VĐV Khi kỹ thuật chạy tốt, thân trên hơi ngã về trước, độ ngả về trước của thân trên không quá 4 – 50, Trong thời gian chạy, độ ngả thân trên thay đổi trong giới hạn 2 – 30 Nó được tăng lên lúc đạp sau và giảm đi trong pha bay Vai xoay không nhiều, bảo đảm cho việc đưa hông ra trước, đầu giữ thẳng, cơ

Trang 25

mặt và cơ cổ không bị căng Tư thế của đầu và thân trên như vậy tạo điều kiện cho VĐV không có sự căng thẳng thừa và hoạt động tốt hơn

- Hoạt động của chân:

Lực giúp thân thể chuyển động chủ yếu trong chạy là lực đạp sau, bởi vì tốc độ chạy phụ thuộc vào lực đạp và góc đạp sau của chân chống tựa Góc đạp sau trong chạy CLTB khoảng 50 - 55o

Lực đạp sau cần hướng chủ yếu về phía trước và được phối hợp chặt chẽ với độ ngả thân trên hơi về phía trước Khi đạp sau cần có sự phối hợp hoạt động của các nhóm cơ đùi, cẳng chân, bàn chân để bảo đảm chân được duỗi thẳng hoàn toàn Đùi chân lăn thoải mái đưa theo hướng về trước - lên trên và được kết thúc cùng lúc kết thúc đạp sau, tạo điều kiện làm tăng hiệu lực đạp sau Kết thúc đạp sau, chân đạp duỗi thẳng hoàn toàn, đùi chân đạp sau song song với cẳng chân của chân lăn Nhờ đạp sau và lăn chân, cơ thể chuyển sang giai đoạn bay và VĐV được nghỉ một cách tương đối

Khi kết thúc đạp sau, chân được thả lỏng và cẳng chân do ảnh hưởng của lực quán tính hơi "hất" lên trên, chân co lại ở khớp gối và đưa đùi ra trước

Kết thúc đạp sau, chân chống tựa gập gối và tích cực đưa đùi ra trước, đồng thời chân lăn bắt đầu hạ xuống, cẳng chân hơi đưa về trước và chạm đất bằng phần trước của bàn chân Điều này cho phép thân thể của VĐV theo quán tính chuyển nhanh tới thời điểm thẳng đứng Chân chống tựa gập gối hoãn xung, sau

đó lại thực hiện động tác đạp sau ở bước chạy kế tiếp

ĐDB của VĐV chạy CLTB khoảng 160cm - 220cm Sự dao động về độ dài của bước tùy thuộc ảnh hưởng của mệt mỏi, sự khác nhau giữa các đoạn đường thẳng và đường vòng, chất lượng đường chạy, lực và hướng gió, trạng thái của VĐV Tốc độ chạy được nâng lên do tăng TSB và giữ vững ĐDB thích hợp TSB trong chạy 800m và 1500m khoảng 3.5 – 4.5 bước/giây hoặc 190 - 200 bước/phút Tần số phụ thuộc và tổng thời gian của thời kỳ chống tựa

Cấu trúc chung của bước chạy (các thời kỳ, các giai đoạn, các thời điểm) được duy trì trên tất cả các cự ly Song, tùy thuộc vào tốc độ di chuyển, tương

Trang 26

quan độ dài và TSB, các đặc tính động học và động hình học có thay đổi Tương quan độ dài và TSB khác nhau tùy thuộc vào tốc độ chạy, độ dài cự ly, đặc điểm

và trình độ chuyên môn của VĐV Khi chạy 800m, sự mệt mỏi làm tăng tổng thời gian chống tựa, dẫn đến giảm TSB và hậu quả là tốc độ chạy giảm xuống Trong chạy 1500m, mệt mỏi được thể hiện ở việc giảm tốc độ trước khi rút về đích do giảm cả ĐDB và TSB

- Hoạt động của tay:

Động tác của tay phối hợp nhịp nhàng với động tác của chân Hoạt động của tay góp phần giữ thăng bằng vào tạo điều kiện tăng hay giảm nhịp điệu chạy Trong lúc chạy, tay gấp ở khớp khuỷu gần vuông góc, ngón tay nắm hờ Động tác đánh tay mềm mại và uyển chuyển, khi đánh ra trước hướng đến cằm,

ra sau hơi ra ngoài Biên độ động tác đánh tay tùy thuộc vào tốc độ chạy Tốc độ chạy càng cao tay đánh càng rộng và nhanh

Khi chạy trên đường vòng, VĐV hơi nghiêng thân về bên trái một chút, tay phải vung mạnh hơn, chân phải đặt mũi chân hơi xoay vào trong

Khi chạy giữa quãng cần giữ cho động tác thoải mái và có nhịp điệu Tần

số và độ sâu của nhịp thở có liên quan chặt chẽ với nhịp điệu chạy Thường thì việc tăng tần số nhịp thở phù hợp với việc tăng nhịp độ chạy

- Về đích và dừng lại sau khi chạy:

Việc tăng tốc độ về đích được đặc trưng bởi việc tăng TSB, đánh tay mạnh hơn và hơi tăng độ ngã của thân trên Sau khi qua đường đích, VĐV không được dừng lại đột ngột mà chuyển sang chạy chậm và sau đó là đi bộ để dần dần chuyển cơ thể vào trạng thái tương đối yên tĩnh

1.1.4 Đặc điểm hoạt động thi đấu chạy CLTB:

Môn ĐK chạy CLTB bao gồm hai cự ly thi đấu chính thức 800m và 1500m cho nam và nữ Trong các cuộc thi đấu ở bất kỳ quy mô nào cần phải xác định các yếu tố như trạng thái sung sức thể thao của VĐV, tình trạng sức khỏe, thành phần đợt chạy, trình độ và chiến thuật mà các đối thủ chính áp dụng Ngoài ra tình trạng đường chạy, điều kiện khí hậu, hình thức tiến hành thi đấu (số lượng

Trang 27

đợt chạy tứ kết, bán kết, chung kết) để đưa ra kế hoạch chiến thuật chạy thích

hợp

Trình độ huấn luyện cần dựa vào thành tích và diễn biến tốc độ trên cự ly chạy (tốc độ ở giai đoạn ban đầu, giữa quãng, về đích) Tốc độ được xác định bởi ĐDB và TSB, nên chỉ tiêu dự báo kỷ lục chạy trong thi đấu dựa trên cơ sở các tài liệu thống kê ĐDB và TSB của các VĐV giữ kỷ lục Xác định tương quan giữa ĐDB và TSB chúng ta sẽ xác định được độ lớn tốc độ chạy Trong thi đấu không phải tất cả VĐV lúc nào cũng chạy với tốc độ tối đa Sự thay đổi tốc

độ chạy phải phù hợp với ĐDB và TSB Mỗi VĐV cần có chiến thuật chạy phù hợp với đặc điểm của họ Khi VĐV cự ly trung bình chạy với tốc độ cao sẽ tạo nên sự căng thẳng cơ bắp và từ đó gây nên mệt mỏi Theo Pharphel (1969) thì đặc điểm của mỗi giai đoạn mệt mỏi phụ thuộc vào tốc độ chạy, sự thay đổi ĐDB và TSB

Giai đoạn mệt mỏi thứ nhất biểu hiện khi VĐV giảm ĐDB và tăng TSB để duy trì tốc độ chạy

Giai đoạn mệt mỏi thứ hai biểu hiện khi VĐV giảm ĐDB song không thể tăng TSB và tất nhiên dẫn tới việc giảm tốc độ chạy

Giai đoạn mệt mỏi thứ ba là khi VĐV giảm cả tần số và ĐDB chạy

Theo Volkop (1969), giai đoạn mệt mỏi có liên quan mật thiết đến sự cung cấp năng lượng cho các nhóm cơ bắp hoạt động của VĐV chạy, vì để đảm bảo cho chế độ hoạt động của cơ phải cung cấp đủ năng lượng cần thiết Nguồn năng lượng cơ thể bao gồm từ hai quá trình yếm khí và ưa khí Để bảo đảm mức thành tích dự báo VĐV chạy cần có trình độ huấn luyện phù hợp với đặc trưng

mô hình VĐV chạy [44, tr 8-12]

Chiến thuật chạy trước hết phụ thuộc vào mục đích đặt ra trước cuộc thi đấu Thường có ba loại mục đích: Thứ nhất là đạt được thành tích theo dự định, thứ hai là thắng cuộc thi đấu mà không cần thành tích, thứ ba là thắng cuộc thi đấu với thành tích cao

Trang 28

Khi chạy nhằm đạt thành tích theo dự định, VĐV thường áp dụng chiến thuật tăng tốc ngay từ đầu, duy trì nhịp độ chạy cao Phương án chiến thuật này chỉ có thể thực hiện với những VĐV có sự chuẩn bị thể lực tốt hơn đối thủ, nhờ nhịp chạy cao và đều (dao động của tốc độ không quá 3%), dẫn đầu tốp làm cho đối thủ bị kiệt sức và có khả năng rút về đích tốt

Chạy để giành chiến thắng, với mục đích này VĐV cần phải duy trì được nhịp độ chạy cao bám ngay sát phía sau người dẫn đầu (khoảng nửa bước) và chăm chú quan sát tất cả các đối thủ để sẵn sàng trong hất kỳ thời điểm nào thực hiện di chuyển nhanh bứt phá Ở những cự ly khác nhau cần sử dụng các khoảng cách khác nhau để chạy rút về đích Trong chạy 800m cần thực hiện nước rút khi cách đích 200 - 250m Trong chạy 1500m khoảng cách này là 300 - 500m (VĐV

càng mạnh có thể bắt đầu nước rút về đích càng sớm)

Đối với những VĐV chạy để thắng cuộc thi đấu với thành tích cao đạt kỷ lục thì điều quan trọng là phải biết cách làm thế nào để đua tranh với các đấu thủ

có khả năng chạy nước rút về đích nhanh Do vậy VĐV phải có tốc độ cao trên

toàn cự ly Tuy nhiên thường trên mỗi cự ly đều có các vùng mà ở đó bất kỳ

VĐV chạy nào cũng cảm thấy nặng nề vì mệt mỏi tăng lên do mức nợ oxy cao

hoặc các thay đổi bất lợi khác xảy ra trong cơ thể Các vùng tốc độ chạy thường

bị giảm ở cự ly 800m là 400m - 600m, cự ly 1500m là 600m - 1000m Để nâng cao nhịp độ trong những thời điểm đột biến trên, VĐV chạy cần được huấn

luyện với thời gian dài [44, tr 91 - 97]

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thành tích môn chạy CLTB:

TTTT của mỗi VĐV là kết quả thực hiện toàn bộ năng lực của VĐV đó trong một môn thể thao nhất định TTTT là chỉ số tài nghệ thể thao của VĐV [17, tr.14] TTTT luôn là hiện tượng đa nhân tố và phụ thuộc nhiều nguyên nhân Theo các chuyên gia trong và ngoài nước, thì các nhân tố như hình thái, chức năng sinh lý, tố chất thể lực, tâm lý và kỹ chiến thuật hình thành nên công suất cơ thể, mà thành tích các môn chạy ngắn và trung bình có tương quan chặt chẽ đến công suất của cơ

Trang 29

thể Do đó, các nhân tố ảnh hưởng đến TTTT của môn chạy CLTB bao gồm: Hình thái, chức năng sinh lý, tố chất thể lực, tâm lý và kỹ chiến thuật

1.2.1 Yếu tố hình thái

Hình thái phản ánh cấu trúc cơ thể, được xác định bởi trình độ phát triển, những giá trị tuyệt đối về nhân trắc và tỷ lệ của những chỉ số đó, các chỉ tiêu hình thái đều có độ di truyền cao Theo Nguyễn Ngọc Cừ và cộng sự: "Các chỉ tiêu hình thái chịu sự chi phối của nhiều gen Yếu tố môi trường cũng ảnh hưởng nhưng chủ yếu là do yếu tố di truyền quyết định, tùy mức độ có khác nhau ở từng chỉ tiêu và giới tính [9, tr.10] Và mỗi môn thể thao đòi hỏi phải có hình thái đặc trưng phù hợp với thực hiện kỹ thuật động tác để phát huy triệt để ưu thế của các tố chất chuyên môn Theo Trịnh Hùng Thanh (2002) “Trong thành tích đạt được của môn ĐK, nhân tố ảnh hưởng đầu tiên là kích thước cơ thể (chiều cao và trọng lượng cơ thể).” [46, tr 149 – 150]

Trên cơ sở tổng kết các tư liệu của các VĐV chạy CLTB mạnh nhất có thể thấy VĐV chạy CLTB có những đặc điểm sau: Có chiều cao thân thể trung bình

từ 175 - 180cm Trọng lượng cơ thể 60 - 70kg, tốc độ tới hạn 5.5 - 5.8 m/giây Ở nữ các chỉ số này hơi thấp hơn [2, tr 147]

Hiện có những quan điểm khác nhau về quan hệ giữa kích thước cơ thể với TTTT của môn chạy CLTB Theo L Dannop và F Muyle (1996) cho rằng kích thước cơ thể, đặc điểm hình thái không ảnh hưởng tới TTTT của VĐV, như trong các Đại hội Olympic những nhà vô địch không phải thường xuyên là những người có cấu trúc cơ thể thuộc dạng thể thao hiện đại Trong số các VĐV chạy CLTB và dài có những người cao (D Raian, R.M.G.Piri) và cả các VĐV thấp dưới mức trung bình: V Kup, Blotvikop, V Kudinski Cũng tương tự như cân nặng VĐV P Snhell nặng như một lực sĩ, E.Arđanop và S Koie có cân nặng lớn [39, tr 25 - 44] Nhưng cũng có những nhà chuyên môn khác lại cho rằng các VĐV chạy CLTB và dài cần có chiều cao và cân nặng cơ thể vừa phải Theo A Makarop (1976) thì chiều cao và cân nặng cơ thể chỉ có tác dụng nhất định chứ không đóng vai trò quyết định trong việc đạt TTTT [44, tr 25]

Trang 30

Theo ý kiến của tác giả R.E.Motuliansky (1997) thì trong tuyển chọn ở môn chạy CLTB có nhiều giai đoạn từ bắt đầu đến giai đoạn hoàn thiện thể thao cùng với sự tiến bộ và đẳng cấp VĐV có sự thu hẹp sự phân tán, các kích thước

cơ thể Sự lựa chọn tự nhiên được diễn ra chỉ còn lại ở các VĐV có những đặc điểm phù hợp với môn thể thao này [39, tr 25 - 44]

Các ý kiến của chuyên gia nêu trên và ý nghĩa của kích thước cơ thể với việc đạt thành tích cao của chạy CLTB trong phần lớn các trường hợp là dựa vào kinh nghiệm cá nhân và phân tích thống kê các tư liệu Để chứng minh một cách khoa học người ta đã có các nghiên cứu chuyên môn ở 136 VĐV CLTB và dài ở các lứa tuổi khác nhau (12 - 26 tuổi), và có trình độ chuyên môn từ là VĐV mới tập đến cỡ VĐV cấp quốc tế Nhờ phân tích tương quan cho thấy rằng các kích thước cơ thể cơ bản có mối quan hệ lớn nhất với thành tích chạy 1000 m

Theo Carter (1982) trong tác phẩm Physical structure of Olympic athletes,

đã nghiên cứu lứa tuổi, đặc điểm hình thái của các VĐV ĐK thế giới đạt thành tích cao trong đại hội Olympic Montréal - Canada 1982 như sau: Các Nam VĐV

ĐK có độ tuổi trung bình 23.8, chiều cao trung bình 179.1cm, trọng lượng 73.4

kg, kiểu hình thái: 1.7 - 5.0 - 2.9 Trong đó có 33% người cao gầy, có cơ bắp, vạm vỡ Nếp da tổng 37.4mm (có sự dao động lớn vì ĐK có nhiều nội dung thi đấu) So sánh các VĐV chạy ngắn, CLTB và VĐV nhảy với nhau thì VĐV nhảy

có trọng lượng lớn, đùi và vòng cẳng chân lớn hơn VĐV chạy ngắn và VĐV chạy CLTB có chân dài hơn VĐV chạy ngắn VĐV chạy CLTB có chỉ số vòng chi trên nhỏ, hông rộng hơn VĐV chạy ngắn, nếp mỡ nhỏ hơn VĐV nhảy VĐV chạy CLTB và nhảy cao có cơ bắp cao gầy nằm ở vùng trung - ngoại mô (mesoectomorphis) nhiều hơn Nữ có độ tuổi trung bình 21.8, chiều cao trung bình 168.5cm; trọng lượng trung bình 57.2kg; có kiểu hình thái 2.3 - 3.4 - 3.5 Trong đó có 47% nằm ở vùng trung - ngoại mô và cân bằng nội mô Có tổng nếp mỡ dưới da 56.8 mm VĐV chạy CLTB trẻ có vóc dáng nhỏ bé hơn VĐV chèo thuyền nhưng già dặn và lớn hơn VĐV thể dục dụng cụ, lại tương đương với VĐV chèo thuyền canoists và VĐV bơi [69, tr 73 - 74]

Trang 31

Qua nghiên cứu cho thấy thành tích chạy CLTB có mối quan hệ với tuổi của VĐV Lứa tuổi đạt thành tích cao là 23 - 25 tuổi, ở cự ly dài là 25 - 27 tuổi Phân tích một số VĐV chạy cự ly 800m xuất sắc của thế giới thì họ tập luyện cự

ly này từ 11 - 13 tuổi và phải qua 8 - 10 năm tập luyện (đến lứa tuổi 19 - 23) mới đạt thành tích cao nhất [28, tr 26]

Như vậy, theo một số tác giả nêu trên VĐV chạy CLTB có tính đặc trưng theo môn chuyên sâu và có mối tương quan với thành tích chạy

1.2.2 Yếu tố chức năng của cơ thể:

Theo các tác giả Liên Xô trước đây như V.V.Kunznhesốp, V.S.Garôzanhin và V.G.Sakaep, trong hoạt động thể thao, có thể coi cơ thể như

là một hệ thống vận động Hệ thống này được cấu thành bởi 3 bộ phận: 1) Bộ phận điều khiển, phối hợp (chính là hệ thống thần kinh) 2) Bộ phận cung cấp năng lượng (bao gồm tất cả các hệ thống sinh lý, tham gia vào quá trình trao đổi chất và năng lượng, đảm bảo cung cấp năng lượng sinh học cho các hoạt động của cơ thể) 3) Bộ phận trực tiếp tham gia vận động (cơ quan vận động)

Bảng 1.3: Nhu cầu năng lượng và khả năng cung cấp về số lượng và công suất của các hệ thống trao đổi chất trong cơ bắp VĐV chạy các cự ly

Ghi chú: 1 ~P mol.min- 1: Số phân tử gam ATP tiêu hao trong 1 phút

2 ~P mol: số phân tử gam ATP

Trang 32

khí oxy được sử dụng để tổng hợp ATP từ carbonhydrat và mỡ; trong đường hướng yếm khí, oxygen không tham gia vào quá trình tổng hợp ATP và chỉ có carbonhydrat là nguồn nguyên liệu chính [19, tr 34], [63, tr 10] Ước tính mức

độ đóng góp các nguồn năng lượng ưa khí và yếm khí của các cự ly khác nhau được trình bày ở bảng 1.4

Bảng 1.4: Ước tính mức độ đóng góp các nguồn năng lượng ưa khí và yếm

khí của các cự ly khác nhau [41, tr 36 - 38]

Cự ly chạy (m) % Năng lượng đóng góp

Như vậy quá trình chạy của cự ly 800m và 1500m phụ thuộc vào tỷ lệ phần trăm cơ chế cung cấp năng lượng ưa khí và cả yếm khí Trong đó cơ chế cung cấp năng lượng ưa khí chiếm tỷ lệ cao hơn Tuy nhiên để cạnh tranh với nguồn cung cấp năng lượng yếm khí thì VĐV chạy CLTB phải có năng lực ưa khí cao

Các yếu tố chức năng sinh lý quy định khả năng hoạt động thể lực của cơ thể Theo Nguyễn Toán (1998) khi phân tích so sánh đặc điểm của VĐV với yêu cầu của môn thể thao chuyên sâu cho rằng: "Các VĐV môn thể thao ưu thế về sức bền, đòi hỏi cao về chức năng của hệ thống tuần hoàn máu và hô hấp" [50,

tr 13] Quá trình phát triển TTTT có liên quan đến sự phát triển của các cơ quan

Trang 33

và hệ cơ quan của cơ thể như tần số mạch đập, tần số hô hấp, DTS là những chỉ tiêu được biến đổi dưới tác động của quá trình tập luyện

Chính vì vậy việc xác định các chỉ số chức năng sinh lý ở trạng thái hoạt động định lượng là những thông tin có giá trị để so sánh và đánh giá khả năng tập luyện của VĐV

1.2.2.1 Yếu tố năng lực ưa khí:

Năng lực ưa khí là khả năng thực hiện một lượng vận động trong điều kiện cơ thể được đáp ứng đầy đủ oxy, nghĩa là trong điều kiện sự tái tổng hợp ATP được tiến hành bằng đường hướng ưa khí Khả năng này biểu hiện ở những bài tập có thời gian lâu dài như vùng công suất lớn, trung bình và phụ thuộc vào

sự hoạt động của các men hô hấp tế bào, mức độ dung nạp máu của cơ; khối lượng dự trữ Glycogen ở gan và cơ; hiệu quả của các cơ quan tuần hoàn; hô hấp [21, tr 151]

Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy, công suất của cơ thể phụ thuộc nhiều vào hệ thống đảm bảo năng lượng, khả năng tiêu hao năng lượng tiết kiệm Hoạt động của hệ tim mạch được đặc trưng bởi nhu cầu oxy và mạch đập

Khi một VĐV chạy với tốc độ chậm, sự tham gia của các cơ chỉ tương đối

và không cần sản sinh ra nhiều lực để di chuyển cơ thể Trong quá trình chạy, tim bơm máu vào động mạch để đưa đến các mô và cơ quan của cơ thể Có khoảng 85% lượng máu được cung cấp cho cơ hoạt động Thông qua hệ thống tuần hoàn oxy được máu đưa vào tế bào cơ, đáp ứng đầy đủ với nhịp độ nhanh, ATP được tổng hợp từ đường hướng ưa khí có thể thỏa mãn cho nhu cầu hoạt

động cơ [41, tr 34]

Một trong những tiêu chuẩn để đánh giá trình độ tập luyện của VĐV chạy CLTB là năng lực ưa khí tối đa hay VO2max Tiềm năng công suất của một cá thể khi chạy một phần có liên quan đến năng lực ưa khí tối đa Hiệu suất ưa khí được đặc trưng bởi các chỉ tiêu VO2max, tốc độ chạy đạt ngưỡng và tới hạn có nghĩa là tốc độ đạt được ở mức ngưỡng trao đổi yếm khí và VO2max [28, tr 20]

VO2max là lượng mililit oxy sử dụng tương quan trọng lượng cơ thể khi thực hiện bài tập tối đa trong 1 phút

Trang 34

Một chỉ số VO2max cao là một dự báo tốt năng lực chạy của VĐV CLTB Trên thực tế, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra ở VĐV trẻ có mức VO2max rất cao có giá trị từ 60 - 70ml/kg/phút Một VĐV chạy với khả năng ưa khí cao (70ml/kg/ph) thì có 80% nguồn năng lượng được cung cấp từ quá trình trao đổi chất ưa khí; 20% còn lại được cung cấp từ quá trình yếm khí Huấn luyện có thể cải thiện năng lực ưa khí tối đa, làm gia tăng VO2max bởi sự tăng lưu lượng tim

và mao mạch phân phối máu đến cơ hoạt động nhiều hơn [71, tr 41]

Năng lực ưa khí tối đa hay VO2max của một cá thể một phần phụ thuộc vào di truyền của sợi cơ: Mô cơ được hợp thành từ hai loại sợi cơ rõ ràng là cơ

co chậm ký hiệu ST (slow twitch) và cơ co nhanh ký hiệu FT (fast twitch) [38,

tr 430] ST hay loại I, là những sợi cơ đáp ứng tốt nhất cho những hoạt động sức bền và được chọn lọc bởi hệ thần kinh trải qua hoạt động cường độ chậm Sợi cơ ST có một khả năng lớn hoạt động ở cự ly dài mà không mệt mỏi Bởi nó tập trung cao số lượng thể ty, các enzyme oxy hóa ưa khí và myoglobin, vận chuyển oxy đến mô cơ Như vậy, những cá nhân khi sinh ra với một tỷ lệ cao sợi

ST có lợi thế tự nhiên trong hoạt động sức bền Noakes (1991) đã thống kê và cho thấy nhiều VĐV có thành tích tốt ở cự ly marathon có hơn 80% sợi cơ ST Thông qua tập luyện làm cải thiện thành phần sợi cơ ST làm gia tăng năng lực

ưa khí của VĐV [71, tr 41] [74, tr 430] [62, tr 20 - 21]

Năng lực ưa khí còn phụ thuộc vào khả năng sử dụng oxy tiết kiệm trong tốc độ chạy Chạy không tiết kiệm dẫn đến sự đòi hỏi lớn hệ thống ưa khí và là nguyên nhân làm cho VĐV dựa vào năng lượng yếm khí nhiều hơn, dẫn đến nhanh chóng mệt mỏi Hơn nữa, chạy không tiết kiệm làm hạn chế về kỹ thuật, ảnh hưởng rất lớn đến thành tích Một trong những chỉ tiêu đánh giá VĐV chạy

là tốc độ khi tần số mạch đập ổn định ở mức 170 lần/phút Tốc độ đạt được càng cao thì tính tiết kiệm càng tốt (mạch vẫn 170 lần/phút) Trong CLTB và cự ly dài, khi mạch ở mức 170 lần/phút tốc độ chạy lớn hơn 5m/giây thì được đánh giá tốt [44, tr 29 - 30]

Trang 35

1.2.2.2 Yếu tố năng lực yếm khí:

Khả năng vận động yếm khí là khả năng thực hiện khối lượng vận động trong điều kiện cơ thể nợ Oxy, nghĩa là trong điều kiện sự tái tổng hợp ATP được tiến hành bằng đường hướng yếm khí Khả năng này được biểu hiện ở những bài tập có cường độ tối đa hay gần tối đa và phụ thuộc vào mức độ hoạt động của men creatinaz và các hệ thống men đường phân của cơ; hàm lượng creatin phosphat và glycogen trong cơ; Trạng thái của cơ thể khi nhu cầu Oxy không được thỏa mãn đầy đủ [21, tr 151]

Như vậy để đánh giá năng lực yếm khí người ta đo mức độ nợ oxy của cơ thể hay đo nồng độ axit lactic trong máu để đánh giá công suất của quá trình đường phân yếm khí (glycolysise) Theo Mensicop & Volcop trong một số môn thể thao, ở VĐV đua xe đạp lòng chảo, chạy CLTB, khúc côn cầu, bóng nước

có chỉ số của cường độ gluco - phân yếm khí lớn nhất hay theo Pharephel cường

độ gluco - phân yếm khí cao nhất khi hoạt động ở vùng công suất gần tối đa [33, tr 549]

Theo Martin, D.E và P.N Coe (1991) đã chứng minh: Sự tiêu thụ năng lượng và oxy khi chạy CLTB là mỗi lít oxy tham gia oxy hóa cung cấp 21Kj hay 5Kcal với nguồn nhiên liệu hoàn toàn là hydratcarbon Như vậy sự tiêu thụ năng lượng toàn phần của những VĐV đạt kỷ lục thế giới của cự ly 1500m là khoảng 366ml oxy cho mỗi kilogam khối lượng cơ thể hay 105ml oxy cho mỗi kilogam khối lượng cơ thể trong 1 phút, với giả thiết là chạy với tốc độ không đổi Tuy nhiên sự tiêu thụ oxy chỉ tăng chậm và phải mất 2 phút mới đạt đến trị số cực đại Và khi nhịp độ cực đại của sự tiêu thụ oxy này đạt tới thì nó cũng chỉ khoảng 80 - 85ml/kg/phút của một VĐV chạy CLTB cấp thế giới Trong thực tế không một tài năng thể thao nào, không có một sự huấn luyện nào có thể làm cho VĐV đạt được giá trị cao nhất này Do vậy sự thiếu hụt của nhu cầu oxy, năng lượng phải được đáp ứng bằng những quá trình chuyển hóa năng lượng

yếm khí [72, tr 98]

Trang 36

Khi bắt đầu xuất phát hay khi tăng tốc độ chạy, tốc độ chạy tăng gấp 20 -

30 lần, điều này làm thay đổi các quá trình hóa sinh và sinh lý của cơ thể Các nhóm cơ tham gia phải sản sinh ra lực lớn hơn, sự gia tăng sức mạnh của các nhóm cơ đòi hỏi hệ thống hô hấp và tuần hoàn tăng nhịp độ hoạt động để cung cấp nhiều oxy hơn Ví dụ từ trạng thái nghỉ ngơi đến hoạt động với cường độ cao, VĐV trẻ nhịp thở phải gia tăng 4 lần, từ khoảng 15 đến 60 lần trong 1 phút Bài tập cường độ cao làm tăng nhịp tim từ 70 - 210 lần /phút Trong thời gian nỗ lực tối đa, tim phải bơm 1 lượng máu gấp khoảng 3 - 4 lần so với lúc nghỉ Nhưng ở cường độ trên giới hạn của VO2max, quá trình cung cấp và sử dụng oxy không còn đáp ứng kịp, ATP hầu như được tổng hợp từ quá trình trao đổi chất yếm khí, chủ yếu từ ATP và CP có sẵn trong cơ Tuy nhiên nguồn nhiên liệu cơ dự trữ có hạn và bị giảm xuống nhanh chóng Lúc này vai trò của quá trình đường phân tham gia có vai trò quan trọng trong duy trì tốc độ tái tổng hợp ATP Tốc độ của quá trình đường phân phụ thuộc vào tình trạng tập luyện, khối lượng cơ và tính sẵn sàng Tuy chỉ bằng ½ tốc độ phân giải của CP, nhưng lại gấp 1,5 lần tốc độ tối đa của quá trình cung cấp năng lượng ưa khí Sự đóng góp tương đối của quá trình chuyển hóa chất yếm khí so với tổng nhu cầu năng lượng chiếm tới 60% với thời gian thi đấu 2 phút, hạ xuống khoảng 30% trong

sự nỗ lực tối đa kéo dài khoảng 4 phút, và giảm sút đến 5% trong hơn 30 phút

[72, tr 98]

Như vậy thành tích chạy cự ly 800m và 1500m không chỉ phụ thuộc vào dung lượng ưa khí cao mà còn phụ thuộc cả năng lực yếm khí tốt, vì khi chạy VĐV không chỉ đủ sức bền để hoàn thành cự ly mà còn phải có khả năng tăng tốc để bứt phá ở những quãng khác nhau hay tăng tốc cạnh tranh chạy về đích Tốc độ tối đa tổng hợp ATP từ chuyển hóa chất yếm khí và ưa khí, xấp xỉ thời gian trì hoãn trước tốc độ tối đa đạt tới ngay theo sau bài tập được trình bày ở bảng 1.5 [72, tr 98]

Trang 37

Bảng 1.5: Tốc độ tối đa tổng hợp ATP theo thời gian bài tập

Điều nghịch lý là khi tăng tốc đến cực đại, quá trình đường phân diễn ra mãnh liệt làm gia tăng axit lactic Sự gia tăng axit lactic ở mức cao, các ion hydrogen được tách ra từ những phân tử này gây phá hủy các enzym của quá trình chuyển hóa năng lượng, làm giảm sự co cơ và là nguyên nhân gây ra cảm giác mệt mỏi Hiệu suất yếm khí được đặc trưng bởi các chỉ số nợ O2 tối đa cũng như bởi khả năng chịu đựng lượng axit lactic trong máu và trong cơ, bởi khả năng của cơ thể chịu đựng được những thay đổi lớn của sự cân bằng toan - kiềm

[72, tr 98]

Để đánh giá năng lực yếm khí người ta sử dụng chỉ số "ngưỡng lactate": Khi tăng tốc bước chạy, cơ thể sẽ đạt đến một điểm mà tại đó axit lactic được sản xuất nhanh hơn tốc độ nó bị khuếch tán từ mô cơ vào máu, các nhà sinh lý vận động cho rằng đó là điểm của "ngưỡng lactate"

Ngưỡng lactate là khái niệm chỉ lượng hấp thụ oxy, công suất hoặc tốc độ vận động thể lực tại thời điểm nồng độ axit lactic trong máu đạt tới giá trị 4 mmol/L, và dùng ký hiệu AT4 để chỉ ngưỡng yếm khí lactate (LaT) Khi nồng

độ axit lactic máu đạt đến mức 4 mmol/L, tốc độ vận động có mối tương quan cao độ với sức bền của VĐV Cường độ vận động tương ứng với ngưỡng yếm khí có ý nghĩa trong đánh giá sức bền ở một số môn thể thao Công suất hay tốc

độ tại ngưỡng lactate càng lớn, năng lực ưa khí càng cao Ở cự ly 800m nam: 4,96m/gy; nữ: 3,99m/gy Ở cự ly 1500m, nam: 5,20m/gy; nữ: 4,26m/gy Mục

Trang 38

tiêu chính của huấn luyện là làm tăng tốc độ chạy nhanh mà không tăng tích lũy

axit lactic và nhịp thở khó khăn [8, tr 33 - 37] [43, tr 38] [72, tr 98]

Theo các tác giả Trung Quốc, axit lactic yên tĩnh của một số đối tượng thể hiện qua bảng sau đây: [45, tr 40]

Bảng 1.6: Chỉ số axit lactic yên tĩnh của người bình thường và VĐV của các

tác giả Trung Quốc (mmol/lít) [45, tr 40]

tính

Số

lượng

Axit lactic

5 VĐV chạy 5000m chướng

Nhân tố di truyền của năng lực yếm khí hay tố chất nhanh có liên quan đến sợi cơ FT, sợi cơ nhanh hay loại II [62, tr 20 - 21] Đặc điểm sợi FT có đường kính lớn, hệ thống enzyme oxy hóa yếm khí ở mức cao, có thể có trong điều kiện không oxy và phát sinh sự căng cơ nhanh chóng đáng kể Tuy nhiên,

sử dụng glycogen không có hiệu quả và sản sinh axit lactic, những sợi cơ này nhanh chóng mệt mỏi Một tỷ lệ % cao của sợi FT cho phép VĐV có ưu thế trong chạy đua tốc độ và CLTB như chạy cự ly 800m [71, tr 41]

1.2.3 Yếu tố tố chất thể lực

Trong chạy CLTB, VĐV cố gắng nhanh chóng đạt tốc độ thi đấu và duy trì nó trong chạy giữa quãng và tạo điều kiện để tăng tốc khi về đích Các CLTB thuộc công suất gần tối đa, khi chạy nợ oxy tăng đến kết thúc cự ly, đặc biệt cuối

cự ly nhu cầu oxy tăng cực đại Như vậy, các yếu tố tạo nên công suất của cơ thể để tạo TTTT thì bên cạnh các yếu tố chức năng của cơ thể còn có các yếu tố tố chất thể lực như sức nhanh, sức mạnh, sức bền Trong đó người ta quan tâm đến tố chất thể lực chuyên môn và tố chất thể lực đặc trưng Yếu tố thể lực đặc

Trang 39

trưng là những nhân tố ảnh hưởng lớn và có tỷ trọng cao đến thành tích các CLTB

Theo I.V Aulic (1996): "Ở những môn thể thao có chu kỳ mà sức bền là tố chất thể lực trội nhất, thì thành tích của VĐV phụ thuộc trực tiếp vào khả năng tiêu thụ oxy của cơ thể và trình độ thể lực và TĐTL hầu như trùng nhau" [1, tr 8] Qua đó cho thấy, xác định mức độ phát triển các tố chất thể lực là yếu tố quan trọng hàng đầu trong đánh giá TĐTL của VĐV chạy CLTB Trình độ thể lực của VĐV chạy CLTB thể hiện tình trạng chức năng của cơ thể và đặc biệt thể hiện ở các tố chất thể lực: sức nhanh, sức mạnh, sức bền

+ Sức bền: Theo các nhà sinh lý học thể thao thì nguyên nhân gây ra mệt

mỏi có thể do trung tâm thần kinh; Nhiễm độc các sản phẩm chuyển hóa chất;

Do thiếu oxy trong vận động; Do cạn nguồn năng lượng Do đó sức bền theo các nhà chuyên môn là khả năng khắc phục được mệt mỏi và duy trì hoạt động vận động kéo dài ở người Ngoài ra sức bền còn được khái niệm theo quan điểm của

một số nhà khoa học khác như: Tố chất sức bền là năng lực thực hiện một hoạt động với cường độ cho trước, hay là năng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể có thể chịu đựng được Nói một cách khác tố chất bền là năng lực của cơ thể chống lại mệt mỏi trong một hoạt động nào đó [49,

tr 323]

Trong thể thao, sức bền là khả năng chống lại mệt mỏi và đảm bảo cho VĐV đạt được cường độ tốt nhất (tốc độ, dùng lực, nhịp độ thi đấu ) trong thời gian thi đấu kéo dài (tương ứng trình độ tập luyện cá thể) Có sức bền VĐV sẽ duy trì được chất lượng động tác cũng như giải quyết hoàn hảo các hành vi kỹ - chiến thuật trong suốt trận đấu [19, tr 273 - 309]

Theo I.V Aulic, ở những môn thể thao có chu kỳ, sức bền là tố chất thể lực trội nhất, thành tích của VĐV phụ thuộc trực tiếp vào khả năng tiêu thụ oxy của cơ thể và TĐTL trùng nhau [1, tr 8]

Căn cứ trên cường độ, thời gian hoạt động và cơ chế cung cấp năng lượng để chia sức bền thành ba loại:

Trang 40

Sức bền trong thời gian dài: Là sức bền cần thiết để vượt qua một cự ly

mà VĐV cần trong thời gian trên 11 phút với tốc độ chạy không giảm về cơ bản Ví dụ như bơi 1.500m, chạy Maratong Thành tích sức bền này chủ yếu dựa trên năng lực hoạt động của hệ thống cung cấp năng lượng ưa khí

Sức bền trong thời gian trung bình: Là sức bền cần thiết để vượt qua một

cự ly mà VĐV cần khoảng từ 2 đến 11 phút Thành tích sức bền này dựa trên năng lực hoạt động của hai hệ thống cung cấp năng lượng ưa và yếm khí

Sức bền trong thời gian ngắn: Là sức bền cần thiết để vượt qua một cự ly

mà VĐV cần khoảng từ 45 giây đến 2 phút Thành tích sức bền này chủ yếu dựa trên năng lực hoạt động của hệ thống cung cấp năng lượng yếm khí [19, tr 273

- 309] Việc thể hiện sức bền của VĐV chạy CLTB được đánh giá bằng những test chạy 800m, 1000m, 1500m, 3000m v.v

+ Sức bền chuyên môn:

Năng lực sức bền được xác định trước hết bởi chức năng của hệ tuần hoàn tim - phổi, sự trao đổi chất, hệ thần kinh và sự phối hợp hoạt động của các hệ thống cơ quan Sức bền là một trong những yếu tố của cấu trúc thành tích và có mối quan hệ nhất định đối với tất cả các nhân tố thành tích khác Tuy nhiên năng lực sức bền phải phục vụ cho các mục đích thành tích từng môn thể thao cụ thể

Do đó, sức bền đặc trưng cho từng môn thể thao này được gọi là sức bền chuyên môn [19, tr 273 - 309]

Đối với VĐV chạy CLTB, sức bền chung và sức bền chuyên môn đóng vai trò rất quan trọng Sức bền chuyên môn giúp VĐV không chỉ giữ được tốc

độ cao trung bình trên toàn cự ly mà còn thực hiện được tăng tốc phù hợp với kế hoạch chiến thuật Mức độ phát triển sức bền chung là cơ sở để hoàn thiện sức bền chuyên môn, giúp VĐV thi đấu có hiệu quả cả ở những cự ly dài hơn Các test đánh giá trình độ thể lực của VĐV chạy CLTB từ 16 - 17 tuổi được trình bày ở bảng 1.7 [44, tr 27]

Ngày đăng: 28/12/2013, 20:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.5: Tốc độ tối đa tổng hợp ATP theo thời gian bài tập - Xác định quan hệ giữa thành tích thi đấu với chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật của vận động viên chạy cự ly trung bình ở lứa tuổi 16 – 18
Bảng 1.5 Tốc độ tối đa tổng hợp ATP theo thời gian bài tập (Trang 37)
Bảng 1.7: Các test đánh giá trình độ thể lực của VĐV chạy CLTB - Xác định quan hệ giữa thành tích thi đấu với chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật của vận động viên chạy cự ly trung bình ở lứa tuổi 16 – 18
Bảng 1.7 Các test đánh giá trình độ thể lực của VĐV chạy CLTB (Trang 41)
Bảng 1.8: Biến đổi tốc độ và sự dao động so với TĐTB trong - Xác định quan hệ giữa thành tích thi đấu với chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật của vận động viên chạy cự ly trung bình ở lứa tuổi 16 – 18
Bảng 1.8 Biến đổi tốc độ và sự dao động so với TĐTB trong (Trang 47)
Hình 2.3 Giao diện phần mềm tính VO 2 max - Xác định quan hệ giữa thành tích thi đấu với chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật của vận động viên chạy cự ly trung bình ở lứa tuổi 16 – 18
Hình 2.3 Giao diện phần mềm tính VO 2 max (Trang 68)
Bảng 3.2: Hệ số tương quan qua 2 lần kiểm tra các chỉ tiêu đánh giá thể lực - Xác định quan hệ giữa thành tích thi đấu với chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật của vận động viên chạy cự ly trung bình ở lứa tuổi 16 – 18
Bảng 3.2 Hệ số tương quan qua 2 lần kiểm tra các chỉ tiêu đánh giá thể lực (Trang 81)
Bảng 3.3: Hệ số tương quan qua 2 lần kiểm tra các chỉ tiêu đánh giá thể lực - Xác định quan hệ giữa thành tích thi đấu với chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật của vận động viên chạy cự ly trung bình ở lứa tuổi 16 – 18
Bảng 3.3 Hệ số tương quan qua 2 lần kiểm tra các chỉ tiêu đánh giá thể lực (Trang 82)
Bảng 3.6: Hiện trạng đánh giá chức năng sinh lý của nam và nữ VĐV chạy - Xác định quan hệ giữa thành tích thi đấu với chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật của vận động viên chạy cự ly trung bình ở lứa tuổi 16 – 18
Bảng 3.6 Hiện trạng đánh giá chức năng sinh lý của nam và nữ VĐV chạy (Trang 88)
Bảng 3.7: Hiện trạng đánh giá các tố chất thể lực của nam và nữ VĐV chạy - Xác định quan hệ giữa thành tích thi đấu với chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật của vận động viên chạy cự ly trung bình ở lứa tuổi 16 – 18
Bảng 3.7 Hiện trạng đánh giá các tố chất thể lực của nam và nữ VĐV chạy (Trang 97)
Bảng 3.8: Hiện trạng các chỉ tiêu kỹ chiến thuật chạy cự ly 800m và 1500m - Xác định quan hệ giữa thành tích thi đấu với chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật của vận động viên chạy cự ly trung bình ở lứa tuổi 16 – 18
Bảng 3.8 Hiện trạng các chỉ tiêu kỹ chiến thuật chạy cự ly 800m và 1500m (Trang 104)
Bảng 3.12: Diễn biến ĐDB và TSB chạy cự ly 1500m của VĐV nữ lứa tuổi 16- - Xác định quan hệ giữa thành tích thi đấu với chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật của vận động viên chạy cự ly trung bình ở lứa tuổi 16 – 18
Bảng 3.12 Diễn biến ĐDB và TSB chạy cự ly 1500m của VĐV nữ lứa tuổi 16- (Trang 116)
Bảng 3.13: Kiểm định phân phối chuẩn Shapyro - Winky các chỉ tiêu của - Xác định quan hệ giữa thành tích thi đấu với chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật của vận động viên chạy cự ly trung bình ở lứa tuổi 16 – 18
Bảng 3.13 Kiểm định phân phối chuẩn Shapyro - Winky các chỉ tiêu của (Trang 121)
Bảng 3.15: Thang điểm đánh giá chức năng sinh lý của nam và nữ VĐV - Xác định quan hệ giữa thành tích thi đấu với chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật của vận động viên chạy cự ly trung bình ở lứa tuổi 16 – 18
Bảng 3.15 Thang điểm đánh giá chức năng sinh lý của nam và nữ VĐV (Trang 123)
Bảng 3.16: Thang điểm đánh giá tố chất thể lực của nam và nữ VĐV chạy - Xác định quan hệ giữa thành tích thi đấu với chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật của vận động viên chạy cự ly trung bình ở lứa tuổi 16 – 18
Bảng 3.16 Thang điểm đánh giá tố chất thể lực của nam và nữ VĐV chạy (Trang 124)
Bảng 3.19: Phân loại các chức năng sinh lý, tố chất thể lực và kỹ chiến thuật - Xác định quan hệ giữa thành tích thi đấu với chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật của vận động viên chạy cự ly trung bình ở lứa tuổi 16 – 18
Bảng 3.19 Phân loại các chức năng sinh lý, tố chất thể lực và kỹ chiến thuật (Trang 126)
Bảng 3.20: Phân loại các chỉ tiêu chức năng sinh lý, tố chất thể lực và kỹ - Xác định quan hệ giữa thành tích thi đấu với chức năng sinh lý, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật của vận động viên chạy cự ly trung bình ở lứa tuổi 16 – 18
Bảng 3.20 Phân loại các chỉ tiêu chức năng sinh lý, tố chất thể lực và kỹ (Trang 127)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w