Tuy đổi mớiPPDH là vấn đề không mới nhưng vẫn mang tính thời sự, đòi hỏi các cấp, các sởđào tạo và mọi người có sự quan tâm chính đáng.Xuất phát từ thực trạng chung của xã hội, của trườn
Trang 1Mục lục
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Phương pháp nghiên cứu 2
1.4 Giới hạn của bài tiểu luận 2
2 Phần nội dung 3 2.1 Tìm hiểu về quy luật 3
2.1.1 Khái niệm về quy luật 3
2.1.2 Phân loại quy luật 3
2.2 Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại 4
2.2.1 Khái niệm về chất 4
2.2.2 Khái niệm về lượng 5
2.2.3 Khái niệm về độ, điểm nút, bước nhảy 6
2.2.4 Mối quan hệ biện chứng giữa lượng - chất 6
2.2.5 Ý nghĩa phương pháp luận 7
2.3 Vận dụng quy luật lượng - chất trong công tác đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta 8
2.3.1 Thực trạng của công tác đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta 8 2.3.2 Yêu cầu của công tác đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta 11
Trang 22.3.3 Giải pháp cho việc vận dụng quy luật lượng chất trong việc
đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta 14
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành được bài tiểu luận này, tôi xin gởi lời cám ơnchân thành đến TS.Nguyễn Chương Nhiếp và TS.Nguyễn Ngọc Khábởi những bài giảng của các thầy hết sức cô đọng và súc tích.Đồng gởi lời cám ơn đến các bạn học viên trong lớp đã chia sẽnhững suy nghĩ của bản thân về công tác đổi mới phương phápdạy học ở nước ta hiện nay
Bài tiểu luận này soạn thảo bởi Texmaker trên Texlive2011,
mã nguồn có tại website http://violet.vn/thanhansp/
Nguyễn Thành An
Trang 4KÍ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG BÀI TIỂU LUẬN
Kí hiệu, từ viết tắt Nội dung của kí hiệu, từ viết tắt
Trang 5xã hội Việc đào tạo nguồn nhân lực giàu khả năng sáng tạo, nắm bắt được côngnghệ mới đang là vấn đề mà tất cả các nước trên thế giới quan tâm.
Hơn nữa, đây là thời kì mà nước ta đang thực hiện CNH, HĐH đất nướcvới mục tiêu đề ra đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp Quátrình thực hiện CNH, HĐH là quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế và dần thay đổinguồn nhân lực Hơn bao giờ hết, sự nghiệp giáo dục đào tạo cần phải được coitrọng hơn Chính vì vậy, phương pháp dạy học cần được đổi mới, đáp ứng yêu cầucủa thời kì mở cửa và hội nhập, nhằm rút ngắn khoảng cách giữa nước ta với cácnước bạn trên thế giới
Nhận thức được tầm quan trọng và cần thiết đó, Đảng và Nhà nước ta trongNghị quyết TW 2 khóa VII và Đại hội IX đã đề ra các nhiệm vụ cho ngành giáodục Trong đó nhấn mạnh việc "tập trung chỉ đạo đổi mới nội dung,chương trình,phương pháp giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, sử dụng công nghệ thôngtin tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và quốc tế, gắn bó hơn với cuộc sống
xã hội, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của đất nước và các địa phương" Trongnhững năm vừa qua, chúng ta đã cố gắng thực hiện những nhiệm vụ đó, và gặt háinhững thành công nhưng cũng còn không ít khó khăn, bất cập, đặc biệt là phongtrào đổi mới PPDH Vấn đề đổi mới PPDH được đặt ra và được thực hiện sôi nổi ởcác trường học, các cơ sở đào tạo, bắt đầu từ việc chống "dạy chay học chay", chốngcách dạy "đọc chép", thay vào đó là việc xây dựng cách dạy "lấy học sinh làm trung
Trang 6tâm" và hiện nay là phương thức đưa các phương tiện hiện đại vào dạy học đangđược áp dụng Nhiều cuộc hội thảo về đổi mới PPDH đã diễn ra ở các trường học,các cơ sở đào tạo, đặc biệt là các trường sư phạm Tuy nhiên, hiệu quả giáo dục chođến nay vẫn còn non kém, phương pháp truyền thống vẫn là cơ bản Tuy đổi mớiPPDH là vấn đề không mới nhưng vẫn mang tính thời sự, đòi hỏi các cấp, các sởđào tạo và mọi người có sự quan tâm chính đáng.
Xuất phát từ thực trạng chung của xã hội, của trường sở tại và tính cấpthiết trong công tác giảng dạy của bản thân, tôi chọn đề tài này với mong muốnphát huy vai trò triết học đối với đời sống xã hội, cụ thể đề tài đó là "Vận dụngquy luật lượng - chất trong công tác đổi mới phương pháp dạy học ở nước
ta hiện nay" Thiết nghĩ, đề tài này có ý nghĩa thiết thực đối với chúng ta trongbối cảnh ngành giáo dục hiện nay đang ra sức tập trung thay đổi phương pháp dạy
và học để đáp ứng cho xã hội
1.2 Mục đích nghiên cứu
Dưới ánh sáng của triết học duy vật biện chứng, nhận thức lại yêu cầu, địnhhướng của công tác đổi mới PPDH, đánh giá thực trạng đổi mới PPDH trong nhữngnăm qua Từ đó đưa ra giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình đổi mới PPDH ở nước
ta nhằm đáp ứng về mọi mặt nguồn nhân lực cho xã hội
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành tiểu luận này tôi chủ yếu sử dụng phép biện chứng duy vật.Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp cụ thể như sau:
• Phương pháp phân tích
• Phương pháp so sánh, chứng minh
• Phương pháp khái quát, tổng hợp
1.4 Giới hạn của bài tiểu luận
Đây là một bài tiểu luận nhỏ nên chưa thể hiện được đầy đủ nội dung mộtcách sâu sắc, tổng quát nhưng nó cũng một phần nào đó cho chúng ra thấy đượccông tác đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta hiện nay
Trang 7Chương 2
Phần nội dung
2.1 Tìm hiểu về quy luật
Trong đời sống của con người, các hiện tượng tự nhiên và xã hội diễn ramột cách muôn màu muôn vẽ, dần dần con người nhận thức được tính trật tự vàmối liên hệ có tính lặp đi lặp lại của các hiện tượng Từ đó, hình thành nên kháiniệm "quy luật" Quy luật là một phạm trù dùng để chỉ mối liên hệ khách quan,bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp đi lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộctính bên trong một sự vật nào đó, hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
Các quy luật của tự nhiên và quy luật xã hội cũng như tư duy con ngườiđều mang tính khách quan chứ không mang tính chủ quan Bởi vậy, con người chỉnhận thức và vận dụng nó vào thực tiễn Còn các quy luật được phản ánh trongkhoa học không phải do con người tùy ý sáng tạo ra mà nó được phát hiện ra chínhnhờ sự phản ánh của các quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội cũng như tư duycủa con người
2.1.2 Phân loại quy luật
Các quy luật hết sức đa dạng và phong phú Chúng khác nhau về mức độphổ biến, về phạm vi bao quát, về tính chất, về vai trò của chúng đối với quá trìnhvận động và phát triển của sự vật Do vậy, việc phân loại quy luật hết sức cần thiết
để nhận thức và vận dụng một cách hiệu quả vào hoạt động thực tiễn của con người
Theo lĩnh vực tác động ta có thể phân chia quy luật thành ba dạng là quyluật tự nhiên, quy luật xã hội và quy luật tư duy Quy luật tự nhiên tồn tại kháchquan trong tự nhiên, trong cơ thể con người, nhưng không phụ thuộc vào ý thức của
Trang 8con người Quy luật xã hội là quy luật hoạt động của chính con người có ý thức,song không phụ thuộc vào ý thức của con người Quy luật tư duy là quy luật nội tạigiữa các khái niệm, phán đoán để biểu đạt của con người về thế giới khách quan.Theo mức độ phổ biến ta có thể phân chia quy luật thành ba dạng là quy luật riêng,quy luật chung và quy luật phổ biến Quy luật riêng là những quy luật chỉ tác độngtrong môt phạm vi nhất định của các sự vật, hiện tượng cùng loại Quy luật chung
là những quy luật mà phạm vi tác động rộng hơn quy luật riêng như quy luật bảotoàn năng lượng, bảo toàn khối lượng tác động trong cả quá trình vận động cơ giới,vận động hoá học, vận động sinh học Quy luật phổ biến là những quy luật tác độngtrong cả lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy
Đây chính là những quy luật của phép biện chứng duy vật Với tư cách làmột khoa học, phép biện chứng duy vật nghiên cứu những quy luật phổ biến, tácđộng trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội va tư duy của con người
2.2 Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng
thành những thay đổi về chất và ngược lại
Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng bao gồm hai mặt chất và lượng Hai mặt
đó thống nhất hữu cơ với nhau trong sự vật, hiện tượng Bởi vậy, trong quá trìnhphát triển của triết học đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm chất,lượng cũng như quan hệ giữa chúng Tới khi phép duy vật biện chứng ra đời thì mới
có quan điểm đúng đắn về khái niệm chất và lượng
Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn
có của sự vật, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật là nóchứ không phải là cái khác
Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có những chất vốn có, làm nênchính chúng Nhờ đó chúng mới khác với các sự vật, hiện tượng khác; nhờ đó conngười mới có thể phân biệt được các sự vật, hiện tượng Thuộc tính của sự vật lànhững tính chất, những trại thái, những yếu tố cấu thành sự vật, Đó là những cáivốn có của sự vật từ khi sự vật được sinh ra và hình thành trong sự vận động vàphát triển của nó Tuy nhiên những thuộc tính vốn có của sự vật, hiện tượng chỉđược bộc lộ ra thông qua sự tác động qua lại của nó với các cơ quan xúc giác của
Trang 9chúng ta.
Mỗi sự vật, hiện tượng có rất nhiều thuộc tính; mỗi thuộc tính lại biểu hiệnmột chất của sự vật Do vậy, mỗi sự vật có rất nhiều chất Chất của sự vật đượcbiểu hiện qua các thuộc tính của nó nhưng không phải bất kỳ thuộc tính nào cũngbiểu hiện chất của sự vật Thuộc tính của sự vật có thuộc tính cơ bản và thuộc tínhkhông cơ bản Những thuộc tính cơ bản được tổng hợp lại tạo thành chất của sựvật Chính chúng quy định sự tồn tại, sự vận động và phát triển của sự vật, chỉ khinào chúng thay đổi hay mất đi thì sự vật mới thay đổi hay mất đi Những thuộctính của sự vật chỉ bộc lộ qua các mối quan hệ cụ thể với các sự vật khác Bởi vậy,
sự phân chia thuộc tính thành thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản chỉmang tính tương đối
Chất của sự vật không những quy định bởi chất của những yếu tố tạo thành
mà còn bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành, nghĩa là bởi kết cấu của
sự vật Từ đó, có thể thấy sự thay đổi về chất của sự vật phụ thuộc cả vào sự thayđổi các yếu tố tạo thành sự vật lẫn sự thay đổi phương thức liên kết giữa các yếu
tố ấy
Lượng là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sựvật về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũngnhư các thuộc tính của sự vật
Lượng là cái vốn có của sự vật, quy định sự vật ấy là nó Lượng của sự vậtkhông phụ thuộc vào ý chí, ý thức của con người Đồng thời lượng tồn tại song songvới chất Do đó, lượng của sự vật cũng có tính khách quan như chất của sự vật
Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít,quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm, nên sựphân biệt giữa chất và lượng của sự vật chỉ mang tính tương đối Điều này phụthuộc vào từng mối quan hệ cụ thể xác định Có những tính quy định trong mốiquan hệ này là chất của sự vật, song trong mối quan hệ khác lại biểu thị số lượngcủa sự vật và ngược lại
Trang 102.2.3 Khái niệm về độ, điểm nút, bước nhảy
Đối với quy luật lượng - chất, ngoài hai phạm trù lượng và chất thì cácphạm trù độ, điểm nút và bước nhảy hết sức cần thiết Bởi đây là ba yếu tố thểhiện được mối liên hệ biện chứng giữa lượng và chất
• Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi vềlượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật Sự vật vẫn là nó,mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong một độ thích hợp khi lượng biến đổivượt quá giới hạn độ thì sự vật không còn là nó
Trong phạm vi một độ nhất định hai mặt chất và lượng tác động qua lạilẫn nhau làm cho sự vật vận động Mọi sự thay đổi về lượng đều có ảnh hưởngđến trạng thái chất của sự vật, nhưng không phải những thay đổi về lượng nàocũng dẫn đến thay đổi về chất Chỉ trong trường hợp khi sự thay đổi về lượngđạt tới mức phá vỡ độ cũ thì chất của sự vật mới thay đổi, sự vật chuyển thành
sự vật khác
• Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi vềlượng đã đủ làm thay đổi về chất của sự vật Tập hợp những điểm nút gọi làđường nút
• Sự thay đổi căn bản về chất, cái cũ mất đi cái mới ra đời phải thông qua bướcnhảy Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chấtcủa sự vật do sự thay đổi về lượng của sự vật trước đó gây nên Ta có thể phânchia bước nhảy thành hai loại như sau:
– Bước nhảy đột biến là bước nhảy xảy ra trong thời gian ngắn làm thay đổibản chất của sự vật Bước nhảy này diễn ra bằng một sự bùng nổ mãnhliệt Chẳng hạn, như cuộc cách mạng tháng 10 Nga là một bước nhảy độtbiến mang tính chất lịch sử
– Bước nhảy dần dần là bước nhảy được thực hiện bằng việc loại bỏ dầnnhững yếu tố, những bộ phận chất cũ xảy ra trong một thời gian dài mớiloại bỏ hoàn toàn chất cũ thành chất mới
2.2.4 Mối quan hệ biện chứng giữa lượng - chất
Từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất Sự thống nhấtgiữa chất và lượng tồn tại trong một độ nhất định khi sự vật còn là nó chưa trở
Trang 11thành cái khác Trong mối quan hệ giữa chất và lượng thì chất là mặt tương đối ổnđịnh, còn lượng là mặt biến đổi hơn Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờcũng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng Song không phải bất kỳ sự thay đổi nào vềlượng cũng dẫn đến sự thay đổi về chất ngay tức khắc, mặc dù bất kỳ sự thay đổinào về lượng cũng ảnh hưởng đến trạng thái tồn tại của sự vật Chỉ khi nào lượngbiến đổi đến một giới hạn nhất định1 thì mới dẫn đến sự thay đổi về chất Sự thayđổi căn bản về chất được gọi là bước nhảy Như vậy, khi lựợng biến đổi đến điểmnút thì diễn ra bước nhảy, chất mới ra đời thay thế cho chất cũ, sự vật mới ra đờithay thế cho sự vật cũ, nhưng rồi những lượng mới này lại tiếp tục biến đổi đếnđiểm nút mới lại xảy ra bước nhảy mới Cứ như vậy, quá trình vận động, phát triểncủa sự vật diễn ra theo cách thức từ những thay đổi về lựợng dẫn đến những thayđổi về chất một cách vô tận Đó là quá trình thống nhất giữa tính tuần tự, tiệmtiến, liên tục với tính gián đoạn, nhảy vọt trong sự vận động, phát triển.
Sự tác động trở lại của chất đối với lượng Khi chất mới ra đời, nó khôngtồn tại một cách thụ động, mà có sự tác động trở lại đối với lượng, được biểu hiện
ở chỗ, chất mới sẽ tạo ra một lượng mới cho phù hợp với nó để có sự thống nhấtmới giữa chất là lượng Sự quy định này có thể được biểu hiện ở quy mô, nhịp độ
và mức độ phát triển mới của lượng
Nghiên cứu quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành nhữngthay đổi về chất và ngược lại, có thể rút ra những kết luận có ý nghĩa sau:
Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải biết tích lũy vềlượng để làm biến đổi về chất theo quy luật
Khi đã tích lũy đủ về số lượng phải có quyết tâm để tiến hành bước nhảy,phải kịp thời chuyển những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, từnhững thay đổi mang tính chất tiến hoá sang những thay đổi mang tính chất cáchmạng
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, tuỳ theo mục đích cụ thể, cần từngbước tích lũy dần về lượng để có thể làm thay đổi về chất của sự vật; đồng thời cóthể phát huy tác động của chất mới theo hướng làm thay đổi về lượng của sự vật
Chống khuynh hướng “tả” khuynh, chủ quan, nóng vội, chưa có sự tích lũy
về lượng đó muốn thực hiện bước nhảy về chất Chống khuynh hướng “hữu” khuynh,
1 tới giạn hạn nhất định gọi là điểm nút
Trang 12bảo thủ, trì trệ, ngại khó không dám thực hiện bước nhảy về chất khi đó có đủ tíchlũy về lượng.
Phải có thái độ khách quan và quyết tâm thực hiện bước nhảy khi hội đủcác điều kiện chín muồi
2.3 Vận dụng quy luật lượng - chất trong công tác đổi
mới phương pháp dạy học ở nước ta
2.3.1 Thực trạng của công tác đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta
Với những yêu cầu ngày càng cao của xã hội, thực tế trong những năm quanền giáo dục nước ta đã từng bước sử dụng những phương pháp dạy học mới, gặthái một số thành công nhưng cũng có không ít những bất cập Từ các thông tin
về đổi mới phương pháp, thực tế dạy học ở địa phương, ở trường sở tại và thực
tế giảng dạy của bản thân, tôi xin phép đưa ra một vài nhận định về thực trạngphương pháp và rút ra một số nguyên nhân như sau:
a) Thành tựu
Hưởng ứng chủ trương đổi mới phương pháp của ngành giáo dục ban hành,những năm qua ngành giáo dục nước ta đã có nhiều cuộc hội thảo về đổi mớiphương pháp, những đợt tập huấn thay sách nhằm mục đích đổi mới phươngpháp diễn ra ở các cấp Công tác đổi mới phương pháp đã trở thành một phongtrào sôi nổi không chỉ trên mô hình lí luận mà đã được kế hoạch hóa, tổ chức thựchiện bằng các hoạt động thi đua dạy - học theo mô hình phương pháp dạy họcmới trong các trường học, cấp học và với bản thân từng giáo viên Một số phươngpháp mới đã được áp dụng như phương pháp nêu vấn đề, phương pháp dạy họcđộng não, phương pháp dạy học báo cáo lại, phương pháp dạy học nghiên cứutrường hợp, Nhằm phát huy vai trò của chủ thể học, tích cực hóa hoạt độngcủa học viên Bên cạnh đó, việc đưa các phương tiện hiện đại vào quá trình dạyhọc cũng được tiến hành như Overhead, projector, multimedia, Những thànhtựu này phần nào cho thấy đổi mới phương pháp đã trở thành mối quan tâm lớncủa mọi người, đã nhận thức được tầm quan trọng của nó đối với sự nghiệp cảicách giáo dục
b) Hạn chế
Trang 13Mọi cố gắng đổi mới phương pháp dạy học ở các trường đại học, cao đẳng,trung học phổ thông, trung học cơ sở đều là những biểu hiện tích cực nhưng chỉmới phát huy ảnh hưởng một cách cục bộ Sự đổi mới phương pháp thiếu sự chỉđạo đồng bộ để có định hướng chung cho sự đổi mới Đã có một số chuyên đề bồidưỡng về đổi mới phương pháp nhưng chưa đáp ứng được những vấn đề thực tiễnbức xúc trong dạy học bộ môn Các chuyên đề bồi dưỡng còn chủ yếu thiên vềnâng cao kiến thức, chú trọng tiềm lực cho giáo viên mà chưa đi vào giải quyếtthấu đáo cơ sở khoa học của phương pháp dạy học, hệ thống phương pháp dạyhọc và bản chất của phương pháp dạy học, khả năng vận dụng phương pháp dạyhọc, Vì vậy, khi thực hiện vận dụng phương pháp mới vào quá trình dạy học,giáo viên còn lúng túng, chưa tự tin Hơn nữa, đổi mới phương pháp chủ yếu sôinổi, tích cực tại các hội thảo, trong một vài giờ thao giảng, dự giờ lên lớp, mộtvài đợt phát động thi đua, Dự hội thảo, lớp bồi dưỡng xong ai cũng gật gù khenphương pháp dạy học mới là hay nhưng về trường không áp dụng được Ngay
cả đội ngũ giáo viên giỏi được coi là xương sống, là nòng cốt cho việc triển khaicác phương pháp mới cũng chỉ dạy giỏi trong giờ thao giảng Còn để áp dụng đạitrà thì không thể Vì có vô số nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan Như vậy,đổi mới phương pháp chưa thực sự diễn ra thường xuyên trong cả quá trình dạyhọc Cho nên, tình trạng đọc chép ở một số giờ dạy các môn khoa học xã hội
là chuyện thường ngày ở trường Kết quả là, phương pháp cũ vẫn chiếm ưu thế,chất lượng giáo dục vẫn không tốt hơn Tất nhiên chúng ta không thể phủ nhậnnhững thành tích thực sự đã đạt được của một số trường, của những giáo viêngương mẫu cố gắng thực hiện tốt công tác đổi mới phương pháp
Hiện tượng bất cập này xảy ra phổ biến ở các trường học, các cơ sở đàotạo thậm chí cả với những giáo viên mà chính họ là những người nghiên cứu đềxuất dạy theo phương pháp dạy học mới, hoặc những giáo viên trực tiếp giảngdạy môn phương pháp dạy học ở các trường đại học, cao đẳng Hiện tượng phổbiến đến nỗi nếu có một cuộc hội thảo về đổi mới phương pháp nào sắp diễn
ra, người ta nhìn nhau tặc lưỡi: lại hội thảo, đổi mới chẳng thấy đâu, chỉ thấytốn kém! Thiết nghĩ, đây là một tình trạng nhức nhối đối với ngành giáo dụcchúng ta trong những năm qua và có lẽ sẽ vẫn còn tiếp tục nếu không có biệnpháp khắc phục Có nhiều nhận định đánh giá về chất lượng của giáo dục nước
ta trong những năm qua với những thành tựu nhưng cũng không ít những yếukém, xin nêu ra vài ý kiến sau:
Trang 14• Ý kiến của Trúc Giang - TP Hồ Chí Minh trong chuyên mục diễn đàn giáodục báo phụ nữ chủ nhật, số 38 ngày 26-9-t2004 cho rằng: "Hiện nay giáodục chỉ nhằm phần nhiều đến người tổ chức giáo dục Được thấy qua hiệntượng thay đổi phương pháp dạy học giáo dục xoành xoạch để thử nghiệmcác mô hình lí luận với một bước tiến nhưng cũng kèm theo vài bước lùi.
Đó là hiện tượng chạy theo thành tích của một số không nhỏ tổ chức giáodục để được cái gọi là 100 XS, Nhưng chất lượng thì ra sao? Hiện nay nóiriêng về giáo dục bậc phổ thông, với sự thay đổi liên tục về phương pháp dạyhọc giảng dạy, sự áp đặt của nội dung chương trình, sự hời hợt trong việckiểm tra, định giá chất lượng học tập của học sinh, sự chạy theo thành tíchảo, Học sinh trở thành con rối, công cụ để thử nghiệm, để người lớn đánhbóng hình ảnh của mình, "
• Tại diễn đàn đổi mới giáo dục đại học và hội nhập quốc tế ngày 22-6-2004.Hội đồng diễn ra đã chỉ ra 6 yếu kém và bất cập cơ bản của giáo dục đại họcViệt Nam, trong đó bất cập thứ ba thuộc về chương trình và phương phápdạy học giảng dạy chậm chuyển đổi, phần lớn vẫn theo những gì vốn có của20-30 năm về trước, và đặc biệt thiếu sự gắn kết giữa đào tạo với nghiên cứukhoa học
• Còn trong báo cáo về tình hình giáo dục của chính phủ dự kiến trình quốchội ngày 15-11-2004, có đề cập tới 4 yếu kém, 3 nguyên nhân dẫn đến chấtlượng giáo dục thấp Trong đó, yếu kém đầu tiên được đề cập là chất lượnggiáo dục đại trà còn thấp so với yêu cầu, phương pháp dạy học giáo dục chậmđổi mới Điều này thể hiện ở giáo dục phổ thông vẫn chưa khắc phục đượctình trạng thiên về dạy chữ Trong giáo dục nghề nghiệp và Đại học, ngườihọc còn thiếu cố gắng, thiếu trung thực trong học tập nên chất lượng đào tạothấp Cách dạy, học trong các nhà trường chủ yếu theo lối truyền thụ kiếnthức một chiều, áp đặt
Những ý kiến trên nhìn chung đã phản ánh một thực trạng chất lượng giáodục thấp Mà một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng giáo dục thấp
là phương pháp còn quá lạc hậu
c) Nguyên nhân
Thứ nhất, về tư tưởng nhận thức, đội ngũ quản lí giáo dục còn quá chủ quan
Trang 15nóng vội trong công tác thực hiện đổi mới phương pháp Cụ thể là chưa căn cứnhững điều kiện cần thiết đáp ứng nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học Cáchquản lí thực hiện chủ trương còn nới lỏng, nặng nề hình thức chủ nghĩa, ngụythành tích Đội ngũ giáo viên phần đông chưa nhận thức đầy đủ về tầm quantrọng của phương pháp trong việc nâng cao chất lượng đào tạo Chưa được tậphuấn, bồi dưỡng nhiều về phương pháp mới Một số khác nhận thức được nhưng
vì một số lí do nên vẫn không thay đổi cách dạy cũ Hơn nữa, cách dạy cũ đãthành thói quen ăn sâu vào cách nghĩ, cách làm từ mấy chục năm nay của giáoviên Học sinh, sinh viên chưa chủ động trong học tập, ý thức tự học chưa cao.Thứ hai, chưa đổi mới phương pháp dạy học đánh giá chất lượng dạy học,kiểm tra, thi cử (tư duy có học có thi)
Thứ ba, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học chưa đáp ứng yêu cầu đổi mớiphương pháp
Thứ tư, đội ngủ giáo viên vẫn còn hạn chế trong việc áp dụng CNTT trongcông tác dạy học
Trên đây chỉ là những nguyên nhân nổi bật, việc đổi mới phương pháp chưađạt hiệu quả cao, tất nhiên còn do nhiều nguyên nhân khác nhưng ở phạm vi củabài tiểu luận nên đây cũng là vấn đề mở đòi hỏi có một hội đồng chuyên môncao để đánh giá
Hiện nay với sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật và công nghệmới, sự bùng nổ về thông tin trong mọi lĩnh vực khoa học cũng như đời sống, đòihỏi chúng ta phải thường xuyên cập nhật kiến thức Điều này dẫn đến nghịch lí vềgiáo dục là khoảng cách giữa lượng thông tin vũ trụ và giới hạn kiến thức trong nhàtrường ngày càng lớn Con người không thể hạn chế sự học trong phạm vi trườnghọc và sách giáo khoa Vì vậy, yêu cầu đặt ra là làm thế nào để chuyển tải được nộidung giảng dạy cho học sinh sinh viên một cách sâu sắc hơn mà vẫn không bị tụthậu trong việc tiếp thu những tri thức mới của nhân loại Do đó, đổi mới phươngpháp dạy học là một việc làm hết sức cần thiết
Mặt khác, ở thế kỉ này người ta thường nói đến thuật ngữ kiến thức phươngpháp, tức phương pháp chiếm lĩnh tri thức Thuật ngữ này làm cho ta nhớ đến câunói sâu sắc của nhà văn Nga nổi tiếng L.Tolstoi: "Điều quan trọng không phải biết
Trang 16trái đất tròn mà quan trọng hơn là làm như thế nào để biết trái đất tròn" Nhà văn
đã nói đến mối quan hệ giữa kiến thức và phương pháp nắm bắt kiến thức Trong đóphương pháp quan trọng hơn Nhiều người còn gọi thế kỉ XXI là thế kỉ của phươngpháp, có lẽ cũng xuất phát từ việc đề cao phương pháp Như vậy, yêu cầu của côngtác đổi mới phương pháp là gì?
Lâu nay chúng ta quen với lối mòn truyền thụ kiến thức cho học sinh, sinhviên chủ yếu bằng các phương pháp diễn giải, thuyết trình, người thầy lo mang kiếnthức đến cho học sinh hơn là tổ chức cho họ tìm tòi, phát hiện tri thức mới Vì thếnăng lực học tập độc lập, sáng tạo của học viên còn hạn chế, kĩ năng thực hành,năng lực nghiên cứu khoa học, năng lực độc lập trong công tác sau khi rời trườnggặp nhiều khó khăn, hiệu quả làm việc thấp, chất lượng giáo dục yếu kém
Đã đến lúc chúng ta phải thay đổi cách học theo kiểu này Thế nhưng thayđổi như thế nào, chưa hẳn mọi người đều hiểu rõ Có không ít giáo viên còn mù
mờ trong quan niệm đổi mới phương pháp Một số người cho rằng đổi mới phươngpháp là thay thế các phương pháp truyền thống bằng những phương pháp mới2.Một số người khác lại quan niệm đổi mới phương pháp là việc thêm hay bớt mộtvài thao tác, việc làm của thầy và trò, Những quan niệm như thế nhìn chung đềuphiến diện
Với phép biện chứng duy vật, chúng ta nên nhìn nhận vấn đề một cách khoahọc, đúng đắn hơn Trước hết, đổi mới phương pháp tức là phải đổi mới cách quanniệm về phương pháp dạy học dạy và phương pháp dạy học học, đổi mới cách dạy
và học Về điều này xin dẫn ra quan niệm của hai nhà khoa học, mà bản thân cho
là hợp lí
• GS Hồ Ngọc Đại, cho rằng học sinh không phải là cái bình chứa để giáo viênrót kiến thức vào mà học sinh phải là ngọn lửa, thầy giáo là người khơi chongọn lửa đó bùng lên
• GS.TS Lâm Quan Thiệp định nghĩa về dạy và học là "Dạy là việc giúp chongười học tự mình chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, và bồi dưỡng những cảm xúcnhất định" "Học là quá trình tự biến đổi mình bằng cách thu thập và xử líthông tin từ môi trường xung quanh"
Từ những quan niệm trên ta có thể hiểu dạy học là một quá trình biện chứngdiễn ra giữa người thầy và người trò Người học phải tự mình thu thập, xử lí thông
2 Thay thế hoàn toàn hoặc xóa bỏ
Trang 17tin để tự biến đổi bản thân thông qua sự chỉ đạo của người thầy Trò phải chủ độngtrong việc học Người dạy không phải là người truyền thụ kiến thức, càng khôngphải cung cấp thông tin đơn thuần mà chủ yếu giúp người học tự mình chiếm lĩnhkiến thức, kĩ năng, Theo đó, đổi mới phương pháp là làm cho học viên không chỉ làđối tượng chịu sự tác động trực tiếp của giáo viên trong quá trình dạy học mà còn
là chủ thể, tự giác tích cực sáng tạo của quá trình ấy Điều này xuất phát từ quanniệm lấy học sinh làm trung tâm Không bao giờ đưa kiến thức có sẵn cho học viên
mà giáo viên phải thiết kế, tổ chức cho học viên hoạt động để họ tự tìm tòi, pháthiện, khám phá, chiếm lĩnh tri thức Đó là lối dạy học bằng hoạt động, thông quahoạt động Nói cách khác, việc học thông qua làm, học bằng làm, học trong làm,học là học cách tìm kiếm chiếm lĩnh tri thức Cần sử dụng thích hợp công nghệ dạyhọc hiện đại vào quá trình học tập
Cùng với sự thay đổi cách học là sự thay đổi cách dạy Người thầy trongquá trình dạy học này giữ vai trò cố vấn, trọng tài, nhạc trưởng, thiết kế bài giảng,
tổ chức hoạt động cho học viên chiếm lĩnh tri thức 3
Thứ hai, đổi mới phương pháp nghĩa là cần phải hạn chế đến mức cácphương pháp dạy học giảng dạy có tính chất thông báo, truyền thụ kiến thức mộtchiều, tăng cường thêm các hình thức học tập như: thảo luận, semina, bài tập, tiểuluận, Nên sử dụng phương pháp bằng cách trao đổi, cùng giải quyết vấn đề để tạo
ra không khí tranh luận trong giờ học, học viên qua đó tự xây dựng cho mình mộtcách lĩnh hội kiến thức
Hiện nay nền giáo dục thế giới hiện đại đang áp dụng ba phương pháp mới
là phương pháp dạy và học giải quyết vấn đề tức là đưa học sinh tình huống có thật
và để người học tự giải quyết; phương pháp nghiên cứu điển hình tức là tìm hiểucác tình huống đã có trong thực tế; phương pháp trao đổi là các bên đưa ra ý kiếntranh luận và người học tự rút ra chân lí cho mình Đã đến lúc giáo dục nước tacũng phải làm như thế Muốn phát huy vai trò chủ động tích cực, độc lập sáng tạocủa học sinh thì các phương pháp dạy học trên là cách làm hữu hiệu nhất
Thứ ba, đổi mới phương pháp còn có nghĩa phải sử dụng phương pháp phùhợp với nội dung, mục tiêu, chương trình, tính chất bài học Người giáo viên phảibiết linh hoạt sáng tạo trong việc vận dụng các phương pháp, không áp đặt về cáchhọc, cách dạy Chúng ta biết rằng, trên thế giới không có một mô hình giáo dục nào
3 Khác với vai trò quan tòa, nhà học giả, nhà tư tưởng như trong phương pháp dạy học diễn giải, thuyết trình