1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề nhiều bản sao trong điều kiện số lượng cập nhật lớn

29 409 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề nhiều bản sao trong điều kiện số lượng cập nhật lớn
Tác giả Lê Quốc Dũng
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Văn Sơn
Chuyên ngành Hệ Phân Tán
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 530,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành phần của hệ phân tán bao gồm các hệ thống cục bộ mạng hay máy đơn, trong đó một hay nhiều hệ thống phát các yêu cầu thông tin còn các hệ thống khác trả lời các yêu cầu có liên quan

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Hệ phân tán là lĩnh vực kiến thức tiên tiến nhằm giúp cho các chuyên viên công nghệ thông tin trong công tác nghiên cứu, phân tích và thiết kế các hệ thống tin học Đây là lĩnh vực có tầm ứng dụng cao đang trên đà phát triển nhanh chóng và đã đạt được những thành tựu ứng dụng đáng kể Thành phần của hệ phân tán bao gồm các hệ thống cục bộ (mạng hay máy đơn), trong đó một (hay nhiều) hệ thống phát các yêu cầu thông tin còn các hệ thống khác trả lời các yêu cầu có liên quan đến phần dữ liệu của mình Các hệ thống truyền thống như hệ rời rạc hay tập trung không thể đáp ứng chính xác và nhanh chóng các yêu cầu thông tin từ xa với lưu lượng thông tin lớn

Các thao tác chuẩn của hệ phân tán bao gồm :

 Tiếp nhận và ghi yêu cầu chỉ dẫn

 Dịch yêu cầu để có thể tìm thông tin cần thiết Thực hiện một số việc riêng của hệ thống cục

bộ như : kiểm tra quyền truy cập thông tin …

 Gửi kết quả cho hệ thống đã phát yêu cầu

Các đặc điểm cơ bản của tất cả các hệ thống tin học phân tán là :

 Thời hạn truyền thông tin trong hệ thống không giống nhau, các thông điệp có thể bị mất trong quá trình chuyển tải, các thông điệp có thể được truyền kép và hệ thống có thể rơi vào

Trong giới hạn của một báo cáo tiểu luận kết thúc môn học “Hệ phân tán”, báo cáo này trình bày những nội dung sau:

Trân trọng cám ơn!

Trang 2

A PHẦN LÝ THUYẾT CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HỆ PHÂN TÁN

I Hệ phân tán (Distributed System):

Hệ tin học phân tán là một hệ thống đa dạng, nhiều thành phần và phức tạp về mặt cấu trúc, là vùng tri thức hiện đại đang được các chuyên gia công nghệ thông tin đặc biệt quan tâm nghiên cứu

và đỗi mới một cách nhanh chóng Trong điều kiện đó, đứng trên một quan điểm khác nhau người ta

đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về hệ phân tán như sau:

Theo định nghĩa của Andrew Tanenbanum:

Hệ phân tán là một tập hợp các máy tính độc lập mà xuất hiện đối với các người sử dụng như một máy tính đơn Với các đặc điểm:

 Nhiều bộ phận

 Kết nối thông qua mạng truyền thông

 Chia xẻ các tài nguyên

Hình 1.1 Ví dụ về hệ phân tán - Một Intranet tiêu biểu Nói chung, một định nghĩa phổ biến và khá đầy đủ về hệ phân tán được trình bày trong tài liệu [1] như sau:

“Hệ tin học phân tán hay nói ngắn gọn là hệ phân tán (Distributed System) là hệ thống xử lý

thông tin bao gồm nhiều bộ xử lý hoặc bộ vi xử lý nằm các tại các vị trí khác nhau và được liên kết với nhau thông qua phương tiện viễn thông dưới sự điều khiển thống nhất của một hệ điều hành.”

Mục tiêu của hệ phân tán:

Trang 3

 Tăng tốc độ bình quân trong tính toán, xử lý

 Cải thiện tình trạng luôn luôn sẵn sàng của các loại tài nguyên

 Tăng độ an toàn cho dữ liệu

 Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ tin học

 Đảm bảo tính toàn vẹn của thông tin

II.Các mô hình hệ phân tán:

1.Các lớp dịch vụ phần mềm và phần cứng:

Các lớp phần mềm:

Kiến trúc phần mềm: cấu trúc của phần mềm như là các lớp và các module trong các thuật ngữ của các dịch vụ đưa ra và yêu cầu giữa các tiến trình trên cùng hoặc trên các máy tính khác nhau Platform (hệ nền): phần cứng mức thấp nhất và các lớp phần mềm (hệ điều hành)

Middleware: một lớp của phần mềm mà mục đích của nó là đánh dấu heterogeneity và để cung cấp một mô hình lập trình cho các ứng dụng, như: CORBA, RMI (Remote Method Invocation), DCOM (Distributed Component Object Model),

2.Kiến trúc hệ thống phân tán:

2.1.Mô hình Client/Server:

Một WebServer thường là một client của một File Server cục bộ

Các WebServer và các Server của Internet khác là các client của một DNS Server cái mà dịch các tên miền Internet thành các địa chỉ mạng

Trang 4

Một máy tìm kiếm là một Server, nhưng nó chạy chương trình được gọi là Web Crawlers cái mà truy cập các Web server thông qua Internet cho thông tin yêu cầu

 Dịch vụ cung cấp bởi nhiều server:

Nhiều Server có thể:

 Mỗi phần là một tập hợp các đối tượng

 Duy trì các bản copy của toàn bộ tập hợp các đối tượng trên một vài máy

 Ví dụ Web Proxy Server:

Web Proxy Server cung cấp một bộ nhớ cache chia xẻ cho các máy client tại một site hoặc băng qua một vài site khác nhau

2.2.Mô hình kiến trúc hệ phân tán ngang hang

Đặc điểm nổi bật của hệ thống này là dữ liệu được tổ chức ở các nút có chức năng như nhau Đồng thời sự tổ chức dữ liệu ở các nút này lại có thể rất khác nhau, từ đó cần phải có:

Trang 5

 Định nghĩa dữ liệu tại mỗi vị trí : tại mỗi phút phải xây dựng lược đồ dữ liệu cục bộ LIS (local Internal Schema)

 Mô tả cấu trúc logic toàn cục: Lược đồ khái niệm toàn cục GCS(Global Conceptual Schema)

 Mô tả cấu trúc logic tại mỗi vị trí , điều nảy xảy ra do nhân bản và phân mảnh , gọi là lược đồ khái niệm cục bộ LCS (Local Conceptual Schema)

 Mô tả cấu trúc dữ liệu của các ứng dụng gọi là lược đồ ngoại giới ES (External Schema)

Cấu trúc hệ thống bao gồm hai thành phần chính : Bộ tiếp nhận người dùng (User Processor) và bộ phận xử lý dữ liệu (Data Processor).Hai modul này được đặt chung trên mỗi máy chứ không tách biệt như hệ thống khách đại lý

Các chức năng cơ bản của từng modul như sau :

 User Interface Handler – Giao tiếp người sử dụng : Diễn dịch yêu cầu , định dạng kết quả

 Semantic Data Controler – Kiểm soát dữ liệu ngữ nghĩa Dựa vào lược đồ khái niệm toàn cục để kiểm tra câu truy vấn tin có thực hiện được hay không

 Global Query Optimizer – Tối ưu hóa câu hỏi toàn cục : Định ra chiến lược thực thi tốt nhất trên các nút

 Global Execution Monitor – Điều khiển thực thi câu truy vấn toàn cục

 Local Query Processor – Xử lý câu truy vấn cục bộ

 Local Recovery Manager – Quản lý khôi phục cục bộ : Quản lý sự nhất quán khi có sự

cố

 Run-time Support Processor – Bộ hận hỗ trợ thực thi : Quản lý truy xuất cơ sở dữ liệu

Trang 6

2.3.Mô hình tương tác trong hệ phân tán:

 Thực hiện truyền thông:

Trang 7

• Sự trì hoãn xếp hàng: thời gian cần để một thông điệp xếp hàng ở cuối máy chủ hoặc ở các node trung gian đợi để truyền đi

 Băng thông (bandwidth): Tổng số thông tin có thể được truyền đi trong một thời gian đã cho

 Sự biến đống tạp (Jitter): thời gian khác nhau giữa các sự trì hoãn ảnh hưởng bởi các thông điệp khác nhau

 Đồng hồ và thứ tự các sự kiện:

 Không có khái niệm toàn cục của thời gian

 Nhịp độ đồng hồ trôi: nhịp độ tương đối ở một đồng hồ máy tính trôi dạt ra khỏi từ một đồng hồ tham chiếu hoàn hảo

 Đồng bộ hóa đồng hồ:

 Hệ thống định vị toàn cầu (GPS): một ít máy tính có thể sử dụng máy thu radio để nhận thời gian đọc từ GPS với độ chính xác là 1 micro-giây Chúng có thể gữi các thông điệp thời gian đến các máy tính khác trong mạng tương ứng của chúng

 Các đồng hồ logic: mỗi thông điệp là thời gian đóng dấu lên với một số nối tiếp mà phản chiếu thứ tự lôgic của chúng

Trang 8

CHƯƠNG II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NHIỀU BẢN SAO

I.Đặt vấn đề

Tại sao sử dụng bản sao? Có hai lý do sau đây:

- Tăng độ tin cậy và tính sẵn sàng của hệ thống: khi dữ liệu bị lỗi hay vì một nguyên nhân nào đó mà không thể dùng được, ta có thể dùng ngay bản sao dữ liệu đó để hệ thống không phải dừng lại và tránh được tình trạng sử dụng các dữ liệu không chính xác

- Tăng hiệu năng của hệ thống: có thể tăng quy mô hệ thống cả về số lượng lẫn phạm vi địa

Tuy nhiên việc sử dụng nhân bản cũng phải trả giá, đó là tính nhất quán dữ liệu của hệ thống bị suy giảm Do sử dụng bản sao nên có thể xảy ra trường hợp có sự thay đổi trên một dữ liệu mà không cập nhật trên các bản sao của nó Điều này sẽ gây ra các sai sót trong hệ thống Do đó phải tốn nhiều công sức để xây dựng các mô hình đảm bảo tính nhất quán của dữ liệu

II.Các mô hình nhất quán lấy dữ liệu làm trung tâm

1 Mô hình nhất quán chặt

Thao tác đọc bất kỳ trên mục dữ liệu x đều trả về một giá trị tương ứng với kết quả của thao tác ghi gần nhất trên x đó Mô hình này khó áp dụng cho hệ phân tán

2 Mô hình nhất quán tuần tự và mô hình nhất quán tuyến tính

Mô hình nhất quán tuần tự

Là mô hình lỏng lẻo hơn, yếu hơn mô hình nhất quán chặt Kết quả của sự thực hiện bất kỳ là như nhau nếu thao tác đọc và ghi do các tiến trình thực hiện trên mục dữ liệu một cách tuần tự và các thao tác của mỗi tiến trình xuất hiện trong chuỗi thao tác này chỉ ra bởi chương trình của nó

Mô hình nhất quán tuyến tính

Là mô hình yếu hơn mô hình nhất quán chặt nhưng mạnh hơn mô hình nhất quán tuần

tự Kết quả của bất kì sự thực hiện nào là như nhau nếu các thao tác (đọc và ghi) của tất cả các tiến trình lên dữ liệu được thực hiện môt cách tuần tự và các thao tác của mỗi tiến trình xuất hiện trong chuỗi thao tác này phải theo thứ tự đã được chỉ ra trong chương trình của nó Thêm vào đó, nếu tsop1(x) < tsop2(y) thì thao tác op1(x) phải được thực hiện trước op2(y) trong chuỗi thao tác

3 Mô hình nhất quán nhân quả

Nếu sự kiện b được gây ra hoặc bị tác động bởi một sự kiện a xảy ra sớm hơn thì tính nhân quả đòi hỏi mọi thực thể khác phải “nhìn” thấy a trước rồi mới thấy b sau Các thao tác ghi có quan

hệ nhân quả tiềm năng phải được nhận biết bởi tất cả các tiến trình khác trong cùng một thứ tự Các thao tác ghi đồng thời có thể nhận biết được theo thứ tự khác nhau trên các máy khác nhau

4 Mô hình nhất quán FIFO

Nhất quán FIFO còn được gọi là nhất quán PRAM Đây là mô hình yếu nhất vì mô hình này

bỏ qua giới hạn về trật tự của bất kì thao tác đồng thời nào Các thao tác ghi bởi một tiến trình đơn phải được tất cả các tiến trình khác nhìn thấy theo cùng một trật tự mà chúng đề ra Nhưng thao tác

Trang 9

ghi bởi nhiều tiến trình khác nhau có thể được thấy theo những trật tự khác nhau bởi các tiến trình khác nhau

5 Mô hình nhất quán yếu

Mô hình nhất quán yếu không tập trung vào các thao tác trên dữ liệu như các mô hình trên mà chúng quan tâm đến trật tự các nhóm lệnh bằng việc sử dụng các biến được đồng bộ

- Việc truy cập đến một biến đồng bộ hóa được kết hợp với kho dữ liệu là một nhất quán tuần

6 Mô hình nhất quán đi ra

- Trước khi thực hiện một thao tác đọc hay ghi lên dữ liệu chia sẻ thì tất cả các thao tác

acquire do tiến trình này thực hiện trước đó phải hoàn tất

- Trước khi một thao tác release được phép thực hiện thì tất cả các thao tác đọc và ghi do tiến trình này thực hiện trước đó phải được hoàn tất

- Truy cập vào các biến đồng bộ hóa là nhất quán FIFO (Không yêu cầu nhất quán tuần tự)

7 Mô hình nhất quán đi vào

Cũng giống mô hình nhất quán đi ra, mô hình nhất quán đi vào cũng sử dụng hai lệnh acquired

và release khi muốn sử dụng vào vùng tới hạn Nhưng các lệnh này thao tác trên từng mục dữ liệu của vùng dữ liệu chia sẻ Tiến trình nào muốn sử dụng mục dữ liệu thì phải đợi cho tất cả các tiến trình khác giải phóng mục dữ liệu đó

- Một thao tác acquire để truy cập vào một biến đồng bộ hóa không được phép thực hiện trong một tiến trình cho đến khi tất cả các cập nhật lên mục dữ liệu trong tiến trình đó được thực hiện

- Trước khi một truy cập trong chế độ dành riêng của một tiến trình tới một biến đồng bộ hóa được phép thực hiện thì không tiến trình nào khác còn được giữ các biến đồng bộ hóa, trong chế độ không dành riêng thì không cần yêu cầu như vậy

- Sau khi một truy cập trong chế độ dành riêng lên một biến đồng bộ hóa được thực hiện thì bất kì sự truy cập của tiến trình nào khác trong chế độ không dành riêng lên biến đó cũng không được thực hiện cho đến khi chủ nhân của biến đồng bộ thực hiện xong việc truy cập của mình

III Các mô hình nhất quán lấy client làm trung tâm

1 Nhất quán cuối cùng

Khi một dữ liệu có nhiều bản sao thì yêu cầu đưa ra là sau các thao tác cập nhật thì tất cả các bản sao cuối cùng là phải bằng nhau Phải luôn đảm bảo rằng ngay cả khi client thay đổi về vị trí vật lý thì việc sử dụng các bản sao cũng phải chính xác Tức là các bản sao luôn luôn là nhất quán

2 Nhất quán đọc đều

Một tiến trình thực hiện thao tác đọc trên một mục dữ liệu thì phải đảm bảo bất kì thao tác đọc nào cũng đều cho cùng một kết quả hay kết quả gần đây nhất Client sẽ luôn nhìn thấy những dữ

Trang 10

liệu mới hơn và không bao giờ phải nhìn thấy những dữ liệu cũ hơn những gì mà mình đã đọc trước

đó

3 Nhất quán ghi đều

Thao tác ghi trên mục dữ liệu x của một tiến trình phải được hoàn thành trước bất kỳ một thao tác ghi nào khác trên x bởi cùng một tiến trình

4 Nhất quán đọc thao tác ghi

Tác động của một thao tác ghi của một tiến trình lên mục dữ liệu x sẽ luôn được nhìn thấy bởi một thao tác đọc lần lượt trên x của cùng tiến trình đó

5 Nhất quán ghi theo sau đọc

Tác động bởi một thao tác ghi của một tiến trình lên mục dữ liệu x sẽ luôn được nhìn thấy bởi một thao tác đọc liên tiếp lên x của cùng tiến trình đó

IV Các giao thức phân phối

1 Phân loại bản sao

Có 3 loại bản sao:

Các bản sao thường trực:

Trong tiến trình hay trên máy luôn có một bản sao Số lượng các bản sao thường xuyên này rất ít, thường được tập hợp lại thành nhóm các máy trạm (COWs) hoặc trong các hệ thống phản chiếu (mirrored), thường là các Web server hay là các server có chứa cơ sở dữ liệu dự phòng

Bản sao khởi đầu từ server:

Các bản sao này được sử dụng để làm tăng hiệu năng Các bản sao này được xếp đặt

động dựa vào yêu cầu của server khác Một ví dụ điển hình là chúng được các công ty web hosting sử dụng để định vị vị trí địa lý của các bản sao gần nhất khi họ cần

Các bản sao khởi đầu từ client:

Các bản sao này được tạo ra từ yêu cầu của client, chẳng hạn như việc cache dữ liệu của

một trình duyệt Chúng được xếp đặt động dựa vào yêu cầu của client

2 Lan truyền cập nhật

Có 3 cách lan truyền các cập nhật:

Chỉ thông báo là có cập nhật:

Thường dùng trong việc cache dữ liệu.Thông báo về việc mất hiệu lực của một giao

thức.Phương pháp này tốt khi tỉ lệ các thao tác đọc so với thao tác ghi nhỏ

Truyền dữ liệu cập nhật từ bản sao này tới một bản sao khác

Thực hiện tốt khi có nhiều thao tác đọc Ghi lại các thay đổi và tập hợp các cập nhật lại

để truyền đi (chỉ truyền đi các thay đổi chứ không truyền cả dữ liệu đã bị thay đổi, vì thế tiết kiệm được băng thông)

Lan truyền các thao tác cập nhật tới các bản sao khác (nhân bản chủ động)

Tốn ít băng thông nhưng đòi hỏi năng lực xử lý cao vì trong nhiều trường hợp thì các

thao tác là rất phức tạp

Trang 11

Hai các tiếp cận lan truyền cập nhật:

Đẩy cập nhật: là giao thức do server khởi tạo, trong giao thức này các cập nhật được lan

truyền mỗi khi có một server khác yêu cầu

Kéo cập nhật: là giao thức do client khởi tạo khi client muốn được cập nhật.

V Phân tích vấn đề

Hệ tin học phân tán hay nói ngắn gọn là hệ phân tán là hệ thống xử lý thông tin bao gồm nhiều bộ xử lý hoặc bộ vi xử lý nằm tại các vị trí khác nhau và được liên kết với nhau thông qua hệ thống viễn thông dưới sự điều hành thống nhất của một hệ điều hành

Hệ phân tán được xây dựng nhằm mục đích phân tán hoá các quá trình xử lý thông tin và thực hiện công việc đó trên các trạm xa nhau Đó là những cơ sở căn bản cho việc xây dựng các ứng dụng lớn như thương mại điện tử, giáo dục điện tử, thư viện điện tử số, xây dựng các cơ sở dữ liệu tìm kiếm…

Thời gian truy cập trung bình vào thông tin trong hệ phân tán có thể được rút ngắn, nhờ vào phương pháp nhân nhiều bản và được gọi là nhiều bản sao của một đối tượng thông tin

Trong các hệ loại này, từng hệ thống cục bộ đều có lưu trữ một bản sao của tất cả các thông tin liên quan đang có ở tất cả các hệ cục bộ

Ưu điểm nổi bậc của kiểu tổ chức này là:

1 Dễ dàng thực hiện việc truy cập thông tin cần thiết cho các yêu cầu ngay tại hệ thống cục bộ của mình

2 Cho kết quả truy cập một cách nhanh chóng

Tuy nhiên, kiểu truy vấn này chỉ cho kết quả tương đối chính xác và phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp và thời hạn cập nhật thông tin trong các cơ sở dữ liệu cục bộ

Sự tồn tại nhiều bản sao trong hệ phân tán có thể dẫn đến các hệ quả sau :

1 Cập nhật thông tin diễn (gần hoặc xa) hoặc sự thay đổi thông tin cục bộ trên một hệ cục bộ nào đó cần phải được tiến hành cho tất cả các hệ thống cục bộ và không được phép bỏ sót hệ nào cả Trong khoảng thời gian làm tươi thông tin phải đảm bảo sao cho việc truy vấn dữ liệu cho kết quả kịp thời hoặc đặt truy vấn trong trạng thái treo

2 Cần phải tránh trường hợp các thao tác trên hai bản sao khác nhau nhưng chứa cùng thông tin được truy cập bởi hai hay nhiều yêu cầu dẫn đến không gắn bó Ví dụ : một mặt hàng nào đó đã cung cấp cho khách hàng rồi thì không được phép cung cấp cho khách hàng tiếp theo nữa

Hai vấn đề vừa nêu trên xác định về các ràng buộc đối với đề gắn bó dữ liệu Nhằm đảm bảo

sự gắn bó này điều kiện đủ là bắt buộc tuân thủ trình tự nào đó cho tất cả các bản sao, các cập nhật thông tin

Biện pháp hàng đầu là áp dụng cơ chế then cài nhằm thực hiện việc loại trừ tương hỗ tổng quát trên tập hợp các bản sao, biện pháp này có mặt hạn chế là không cho phép các chương trình thực hiện song song

Một biện pháp khác là cho phép thực hiện các giao dịch trên tất cả các bản sao và thực hiện cùng một trình tự cho mỗi hệ thống cục bộ Khó khăn trong việc triển khai trình tự tổng quát có thể

Trang 12

so sánh với khó khăn của biện pháp đầu tiên đã nêu, nhưng lại cho phép các chương trình hoạt động song song

Trong môi trường phân tán, sơ đồ vị trí của các bản sao và việc cập nhật chúng có thể mô tả trong hình vẽ sau đây

Các bản sao có thể đặt trên các server S 1 , S 2 , ,S n trên các tập tin hay vùng nhớ đặc biệt eij , i=1 n,

j=1 m, trong đó i chỉ server, j chỉ bản sao, n là số lượng server được mắc nối trong mạng, m là số

lượng các bản sao cần phải cập nhật Mỗi server có thể quản lý một mạng con Ngoài ra, các bản sao

có thể được bố trí trên các trạm thể hiện bằng các t k , k=1 q, k là trạm và q là số trạm được mắc nối Nếu ta có n bản sao của đối tượng e nào đó, thì ràng buộc toàn vẹn phải là:

Trên bản sao của 1 đối tượng

e 1=e2=e3= =en Trên các bản sao của toàn bộ các đối tượng

e 11=e21= =en1

e 12=e22= =en2

e 1m=e2m= =enm

Để tham chiếu đến đối tượng e, cần thực hiện giao dịch sau (áp dụng thuật toán then cài):

Để thực hiện việc cập nhật vào các bản sao , ta cần phải cài then chúng như sau (áp dụng thuật toán then cài):

V_doc(ei) Doc(ei) Giai_phong(ei)

Để cho i:=1 đến n thực hiện V_viet(ei)

< thực hiện các cập nhật và chép lại chúng vào

tất cả các bản >

Để cho i:=1 đến n thực hiện Giai_phong(ei)

Trang 13

Để tránh bế tắc diễn ra, việc cài then các bản sao luôn luôn phải được thực hiện trong cùng một trật tự

Nói cách khác, hoặc là đối tượng đang trong quá trình cập nhật và tất cả các bản sao của nó được dự trữ cho tiến trình thực hiện cập nhật, hoặc là tất cả các bản sao được truy cập chỉ để đọc và giống nhau hoàn toàn

Gọi M là cực đại của các cập nhật có thể diễn ra đồng thời, thì M có thể tính theo công thức

M=n x m

Căn cứ vào nội dung thông tin cần phải đảm bảo sự gắn bó mà người ta chia ra hai loại giải thuật:

• Giải thuật toán gắn bó mạnh

• Giải thuật toán gắn bó yếu

Hệ thống viễn thông là đối tượng có thể diễn ra các sự cố kỹ thuật và ùn tắt đường truyền, ta

có số lần truy cập bản sao trên thực tế sẽ lớn hơn M rất nhiều; hiệu năng hoạt động của hệ trong

trường hợp này sẽ bị giảm

Một trong những giải pháp khắc phục vấn đề vừa nêu là áp dụng kỹ thuật đánh dấu bản điều khiển và căn cứ vào hệ thống tín hiệu này, người ta có thể chọn các giải thuật cập nhật thích hợp, rút ngắn được tốc độ cập nhật bình quân

Trang 14

CHƯƠNG III: MỘT SỐ THUẬT TOÁN QUẢN LÝ NHIỀU BẢN SAO

I.Thuật toán đảm bảo sự gắn bó yếu nhờ dấu

1.Nguyên lý

Tập hợp các yêu cầu cập nhật được sắp xếp theo cùng một kiểu trên tất cả các trạm nhờ cơ chế dấu Theo đó mỗi một yêu cầu được phát đi cho tập hợp các trạm Trên mỗi trạm, tồn tại một tiến trình Server đảm nhận nhiệm vụ tiếp nhận các yêu cầu theo trật tự của dấu Điều đó cho phép có được một sự gắn bó yếu giữa các bản sao

Có 2 trường hợp cần xem xét:

1

Tập hợp các yêu cầu ghi khi chờ chứa các yêu cầu từ tất cả các trạm khác Trong

trường hợp này các yêu cầu đi qua, nếu chúng tồn tại, là mới hơn so với các yêu cầu đã

đi qua Nói cách khác, yêu cầu lâu nhất chính là yêu cầu đang chờ

2

Tồn tại các trạm mà không có bất kỳ yêu cầu nào được truyền đến Ta được đưa các trường hợp trước đây bằng cách truyền cho tất cả các trạm một thông điệp yêu cầu và bắt buột phải xác nhận Do vây, sau một khoảng thời gian, theo giả thiết về độ ổn định,

ta sẽ nhận hoặc là các yêu cầu đi qua, hoặc là các trả lời cho thông điệp yêu cầu Lúc này, ta có được các thông điệp đến từ tất cả các trạm

3 Các hành vi ngoài chế độ bình thường

Hai vấn đề mở rộng hơn đối với thuật toán này cho phép rút ra hay chen vàotùy ý một trạm nào đó Ngược lại, thuật toán chỉ sống trong trường hợp có sự cố, nếu các điều kiện sau đây được tôn trọng:

1 Việc đột nhiên biến mất đi một trạm nào đó phải được các trạm khác nhận biết tự động

2 Việc phát một thông điệp là một phép toán không chia cắt được nữa Đó là một thông điệp hoặc là tất cả đều phải nhận được hoặc là không trạm nào nhận được cả

Ngày đăng: 28/12/2013, 20:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Ví dụ về hệ phân tán - Một Intranet tiêu biểu - Vấn đề nhiều bản sao trong điều kiện số lượng cập nhật lớn
Hình 1.1. Ví dụ về hệ phân tán - Một Intranet tiêu biểu (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w