Hình thức đăng ký này dựa vào thông báo tuyển sinh của trường Đại học toàn cầu, sinh viên học tại Việt Nam học trực tiếp với trường nước ngoài và được các chính sách, phương pháp, hình t
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN E-LEARNING
TÌM HIỂU VỀ MÔ HÌNH E-LEARNING CỦA COURSERA VÀ ĐỀ XUẤT PHÁT TRIỂN MÔ
HÌNH E-LEARNING TẠI UIT
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Kim Dung
Sinh viên thực hiện :
Phạm Nguyễn Trường An CH1101062 Nguyễn Thị Ngọc Diễm CH1101075 Trần Nguyên Phong CH1101028
Trang 21.1 Giới thiệu: 1
3.3 Phân tích vai trò của giảng viên và học viên 15
3.4 Phân tích ưu – khuyết điểm của mô hình Course 17
Phần 4: Áp dụng Coursera vào việc giảng dạy bằng E-learning tại trường Đại học
4.1 Thực trạng ứng dụng E-learning tại trường Đại học Công nghệ thông tin 19
Trang 34.2 Áp dụng mô hình Coursera vào việc giảng dạy E-learning tại trường Đại học
4.2.1 Việc triển khai mô hình đào tạo trực tuyến tại UIT trong tương lai 23 4.2.2 2.2 Áp dụng mô hình của Coursera vào việc giảng dạy bằng E-learning tại UIT 24
Trang 4Phần 1: Tổng quan.
1.1 Giới thiệu:
Khái niệm học trực tuyến (E-learning) đã khá phổ biến đối với hệ thống giáo dục thế giới Ở các trường Đại học danh tiếng, hệ thống đào tạo e-learning được xem là hệ thống đào tạo tiêu chuẩn và bắt buộc phải có trong quá trình khẳng định chất lượng và tiêu chuẩn của trường Những lợi ích của việc học e-learning mọi người đều đã biết: nguồn thông tin cung cấp phong phú, học viên có thể điều chỉnh
và chủ động thời gian học, phương pháp học tập chuẩn hóa khiến bằng cấp sau khi tốt nghiệp có giá trị đồng nhất (do cùng học 1 hệ thống), giảm chi phí
Thời gian vừa qua, đã bắt đầu có nhiều sinh viên Việt Nam đăng ký trực tiếp vào các trường Đại học của nước ngoài thông qua hình thức học E-learning Hình thức đăng ký này dựa vào thông báo tuyển sinh của trường Đại học toàn cầu, sinh viên học tại Việt Nam học trực tiếp với trường nước ngoài và được các chính sách, phương pháp, hình thức học hoàn toàn giống với các sinh viên học tại trường hoặc học tại các nước khác trên thế giới
Một số phản ánh của các sinh viên khi đăng ký học trực tuyến chính là rào cản về ngôn ngữ và phương pháp học Ví dụ một chương trình MBA, để hoàn thành 1 môn học, kéo dài khoảng 8 tuần, mỗi môn học sẽ trải qua tối thiểu 4 bài luận, phải thảo luận trên các diễn đàn của hệ thống, bài thi hoặc kiểm tra nộp lên
hệ thống Với khối lượng kiến thức nhiều và khối lượng bài làm lớn như vậy, kết hợp với ngôn ngữ dùng là tiếng nước ngoài (thường là tiếng Anh) do đó, sinh viên Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình học và tương tác với hệ thống
Với những khó khăn như vậy, nhận thấy các trường đại học trước khi tuyển sinh toàn cầu cần xây dựng hệ thống hỗ trợ học viên tại các quốc gia mà sinh viên học trực tuyến Tại Việt Nam, đã xuất hiện một số tổ chức có uy tín làm dịch vụ
hỗ trợ học viên trong việc hoàn chỉnh kiến thức, phương pháp học, hỗ trợ ngôn ngữ nhằm giúp sinh viên tự tin nhất khi học E-learning Với những tiện ích tuyệt vời mà hệ thống e-learning mang lại, nếu có những hỗ trợ này, học viên Việt Nam
sẽ vừa được tiếp cận công nghệ đào tạo tiên tiến nhất thế giới (e-learning) vừa kết hợp với phương pháp học truyền thống: học với giảng viên, học nhóm Điều này không chỉ mang lại chất lượng tối đa trong chất lượng đào tạo mà còn tạo thuận lợi cho tất cả mọi người tham gia đào tạo bất kể họ ở đâu và học ở thời điểm nào Ngoài ra, các bằng cấp cấp cho sinh viên khi học E-learning hoàn toàn giống như học tại trường nước ngoài (On Campus) do đó, sinh viên hoàn toàn có thể tự tin
Trang 5với kiến thức và tấm bằng nhận được sau khi tốt nghiệp
E-learning là xu hướng tất yếu trong đào tạo tại Việt Nam Trong thời gian tới, chắc chắn hình thức này sẽ ngày càng phổ biến và nó sẽ là công cụ mạnh mẽ giúp xã hội hóa giáo dục tại Việt Nam
1.2 Mục tiêu đề tài:
- Tìm hiểu về E-learning và thực trạng triển khai E-learning ở Việt Nam
- Tìm hiểu mô hình Coursera (Một hệ thống triển khai E-learning thành công)
- Phân tích, so sánh phương pháp triển khai của Coursera với mô hình triển khai E-learning tại trường Đại học Công Nghệ Thông Tin
- Đưa ra một số ý tưởng nhằm cải tiến phương pháp triển khai E-learning
tại trường Đại học Công nghệ thông tin
1.3 Phương pháp tiếp cận:
Để thực hiện đề tài, chúng tôi dựa vào những trải nghiệm thực tế về việc dạy
và học E-learning để phục vụ cho việc nghiên cứu và phân tích Phương pháp chủ yếu sử dụng là phương pháp tổng hợp, thu thập, so sánh, phân tích
1.4 Ý nghĩa thực tiễn:
Đề tài ở dạng thu hoạch, tổng hợp, đánh giá, nên ý nghĩa thực tiễn mà đề tài mang lại là tạo một trắc quan thực tế, cụ thể hơn về E-learning Những gợi ý mà đề tài đưa ra có thể ứng dụng thực tế vào quá trình triển khai E-learning tại trường
Trang 6Phần 2: Giới thiệu Elearning
1.1 Khái niệm về E-learning
Elearning bao gồm tất cả các hình thức điện tử hỗ trợ cho việc giảng dạy Hệ thống công nghệ thông tin, dù có nối mạng hay không, phục vụ như một phương tiện truyền thông cụ thể thực hiện quá trình học tập
E-learning (viết tắt của Electronic Learning) là thuật ngữ mới, tạm dịch là dạy và học trực tuyến Hiện nay, theo các quan điểm và dưới các hình thức khác nhau, có rất nhiều cách hiểu về E-learning Hiểu theo nghĩa rộng, E-learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông Hiểu theo nghĩa hẹp, E-learning là sự phân phát các nội dung học tập
sử dụng các phương tiện điện tử và mạng viễn thông Trong đó nội dung học tập chủ yếu được số hóa; người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo trực tuyến (online conference)…
E-Learning dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông Cụ thể hơn là công nghệ mạng, kĩ thuật đồ họa, kĩ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán…
E-Learning bổ sung rất tốt cho phương pháp học truyền thống do e-Learning
có tính tương tác cao dựa trên multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và
- Giao tiếp không đồng bộ là hình thức mà những người giao tiếp không nhất thiết phải truy cập mạng tại cùng một thời điểm, ví dụ như: các khoá
tự học qua Internet, CD-ROM, e-mail, diễn đàn Đặc trưng của kiểu học này là giảng viên phải chuẩn bị tài liệu khoá học trước khi khoá học diễn
ra Học viên được tự do chọn lựa thời gian tham gia khoá học
Trang 7Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng nói chung E-Learning đều có những điểm chung sau :
- E-learning là một loại hình đào tạo năng động Nội dung thông tin mang tính thời đại, thực tế, không phải là những thông tin cũ hoặc “những thông tin ít phổ biến” Các chuyên gia về mạng trực tuyến, các nguồn thông tin đáng tin cậy nhất, các phương pháp tiếp cận trong trường hợp khẩn cấp nhanh chóng và đơn giản
- E-Learning là hoạt động thực tế Bạn học những kiến thức mình cần vào thời điểm nào bạn cần
- E-learning là loại hình đào tạo mà học viên là chủ đạo Người tham gia vào loại hình đào tạo E-learning tự kiểm soát tốc độ học, công cụ học tập, địa điểm học cũng như khối lượng kiến thức mà họ muốn thu nhận, họ được tự mình quyết định cách thức thu nhận kiến thức, kĩ năng và khả năng phù hợp với phong cách học của chính mình
- E-learning là một loại hình đào tạo mang tính cá nhân Mỗi học viên của chương trình đào tạo E-learning lựa chọn các hoạt động từ danh mục cơ hội học tập cá nhân liên quan trực tiếp nhất tới kiến thức nền tảng, nhiệm
vụ và công việc của mình tại thời điểm đó
- E-learning là loại hình đào tạo tổng quát E-learning cung cấp các hoạt động đào tạo từ rất nhiều nguồn khác nhau, bao gồm tất cả các chủ đề
có thể nghĩ ra được, cho phép học viên lựa chọn dạng thức hoặc phương pháp học tập hoặc nhà cung cấp dịch vụ đào tạo tùy ý
- E-learning là loại hình đào tạo hiệu quả E-learning cho phép học viên tương tác với công cụ học tập để có thể ghi nhớ được tối đa khối lượng kiến thức đã học được
- E-learning là loại hình đào tạo tiết kiệm thời gian E-learning cho phép học viên có thể học với tốc độ hiệu quả nhanh nhất có thể Loại hình đào tạo E-learning tự học giúp cho học viên ghi nhớ kiến thức nhanh hơn thông qua tính tương tác của nó, cho phép học viên tăng tốc độ học thông qua các công cụ học tập mà họ đã quen thuộc và tiếp nhận những công cụ học tập mà họ ít sử dụng nhất
Trang 8E-Learning sẽ trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức Hiện nay, E-Learning đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nước trên thế giới với rất nhiều tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực E-Learning ra đời.
1.2 Một số hình thức E-learning hiện nay
Có một số hình thức đào tạo bằng E-Learning, cụ thể như sau:
- Đào tạo dựa trên công nghệ (TBT - Technology-Based Training) là hình thức đào tạo có sự áp dụng công nghệ, đặc biệt là dựa trên công nghệ thông tin
- Đào tạo dựa trên máy tính (CBT - Computer-Based Training) Hiểu theo nghĩa rộng, thuật ngữ này nói đến bất kỳ một hình thức đào tạo nào có sử dụng máy tính Nhưng thông thường thuật ngữ này được hiểu theo nghĩa hẹp để nói đến các ứng dụng (phần mềm) đào tạo trên các đĩa CD-ROM hoặc cài trên các máy tính độc lập, không nối mạng, không có giao tiếp với thế giới bên ngoài Thuật ngữ này được hiểu đồng nhất với thuật ngữ CD-ROM Based Training
- Đào tạo dựa trên web (WBT - Web-Based Training): là hình thức đào tạo
sử dụng công nghệ web Nội dung học, các thông tin quản lý khoá học, thông tin về người học được lưu trữ trên máy chủ và người dùng có thể
dễ dàng truy nhập thông qua trình duyệt Web Người học có thể giao tiếp với nhau và với giáo viên, sử dụng các chức năng trao đổi trực tiếp, diễn đàn, e-mail thậm chí có thể nghe được giọng nói và nhìn thấy hình ảnh của người giao tiếp với mình
- Đào tạo trực tuyến (Online Learning/Training): là hình thức đào tạo có sử dụng kết nối mạng để thực hiện việc học: lấy tài liệu học, giao tiếp giữa người học với nhau và với giáo viên
- Đào tạo từ xa (Distance Learning): Thuật ngữ này nói đến hình thức đào tạo trong đó người dạy và người học không ở cùng một chỗ, thậm chí không cùng một thời điểm Ví dụ như việc đào tạo sử dụng công nghệ hội thảo cầu truyền hình hoặc công nghệ web
1.3. Tình hình phát triển và ứng dụng E-Learning
1.3.1. Trên thế giới
Trang 9learning phát triển không đồng đều tại các khu vực trên thế giới learning phát triển mạnh nhất ở khu vực Bắc Mỹ ở châu Âu E-Learning cũng rất
E-có triển vọng, trong khi đó châu Á lại là khu vực ứng dụng công nghệ này ít hơn
Tại Mỹ, dạy và học điện tử đã nhận được sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp của Chính phủ ngay từ cuối những năm 90 Theo số liệu thống kê của Hội Phát triển và Đào tạo Mỹ (American Society for Training and Development, ASTD), năm 2000 Mỹ có gần 47% các trường đại học, cao đẳng đã đưa ra các dạng khác nhau của mô hình đào tạo từ xa, tạo nên 54.000 khoá học trực tuyến Theo các chuyên gia phân tích của Công ty Dữ liệu quốc tế (International Data Corporation, IDC), cuối năm 2004 có khoảng 90% các trường đại học, cao đẳng
Mỹ đưa ra mô hình E-Learning, số người tham gia học tăng 33% hàng năm trong khoảng thời gian 1999 - 2004 E-Learning không chỉ được triển khai ở các trường đại học mà ngay ở các công ty việc xây dựng và triển khai cũng diễn ra rất mạnh
mẽ Có rất nhiều công ty thực hiện việc triển khai E-learning thay cho phương thức đào tạo truyền thống và đã mang lại hiệu quả cao Do thị trường rộng lớn và sức thu hút mạnh mẽ của E-Learning nên hàng loạt các công ty đã chuyển sang hướng chuyên nghiên cứu và xây dựng các giải pháp về E-Learning như: Click2Learn, Global Learning Systems, Smart Force
Trong những gần đây, châu Âu đã có một thái độ tích cực đối với việc phát triển công nghệ thông tin cũng như ứng dụng nó trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc biệt là ứng dụng trong hệ thống giáo dục Các nước trong Cộng đồng châu
Âu đều nhận thức được tiềm năng to lớn mà công nghệ thông tin mang lại trong việc mở rộng phạm vi, làm phong phú thêm nội dung và nâng cao chất lượng của nền giáo dục Công ty IDC ước đoán rằng thị trường E-Learning của châu Âu sẽ tăng tới 4 tỷ USD trong năm 2004 với tốc độ tăng 96% hàng năm
Ngoài việc tích cực triển khai E-Learning tại mỗi nước, giữa các nước châu
Âu có nhiều sự hợp tác đa quốc gia trong lĩnh vực E-learning Điển hình là dự
án xây dựng mạng xuyên châu Âu EuroPACE Đây là mạng E-Learning của 36 trường đại học hàng đầu châu Âu thuộc các quốc gia như Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng hợp tác với công ty E-learning của Mỹ Docent nhằm cung cấp các khoá học về các lĩnh vực như khoa học, nghệ thuật, con người phù hợp với nhu cầu học của các sinh viên đại học, sau đại học, các nhà chuyên môn ở châu Âu
Tại châu á, E-Learning vẫn đang ở trong tình trạng sơ khai, chưa có nhiều thành công vì một số lý do như: các quy tắc, luật lệ bảo thủ, tệ quan liêu, sự ưa chuộng đào tạo truyền thống của văn hóa châu á, vấn đề ngôn ngữ không đồng nhất, cơ sở hạ tầng nghèo nàn và nền kinh tế lạc hậu ở một số quốc gia châu á Tuy
Trang 10vậy, đó chỉ là những rào cản tạm thời do nhu cầu đào tạo ở châu lục này cũng đang trở nên ngày càng không thể đáp ứng được bởi các cơ sở giáo dục truyền thống buộc các quốc gia châu á đang dần dần phải thừa nhận tiềm năng không thể chối cãi mà E-Learning mang lại Một số quốc gia, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển hơn tại châu á cũng đang có những nỗ lực phát triển E-Learning tại đất nước mình như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,Trung Quốc,
Nhật Bản là nước có ứng dụng E-Learning nhiều nhất so với các nước khác trong khu vực Môi trường ứng dụng E-Learning chủ yếu là trong các công ty lớn, các hãng sản xuất, các doanh nghiệp và dùng để đào tạo nhân viên
1.3.2. Ở Việt Nam
Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng
và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, nêu rõ: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo” Thực hiện Chỉ thị trên, Bộ GD&ĐT ban hành 2 chỉ thị: Chỉ thị
số 29 (năm 2001) về việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục giai đoạn 2001-2005 và chỉ thị số 55 (năm 2008) về việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục giai đoạn 2008-2012
Trong những năm qua, hạ tầng CNTT trong ngành giáo dục được đầu tư mạnh mẽ, với việc hoàn thành "Mạng giáo dục - Edunet" năm 2010 (chương trình hợp tác giữa Bộ GD&ĐT với tập đoàn Viễn thông quân đội Viettel), kết nối Internet băng thông rộng đến tất cả các cơ sở giáo dục từ mầm non đến đại học, Việt Nam trở thành một trong số ít quốc gia được miễn phí Internet trong giáo dục Nhiều trường đại học, cao đẳng đã trang bị hạ tầng CNTT, thiết bị dạy học hiện đại
và từng bước triển khai E-Learning Một số khóa học đào tạo trực tuyến, dạy học qua mạng đã được mở ra
Chủ trương của Bộ GD&ĐT trong giai đoạn tới là tích cực triển khai các hoạt động xây dựng một xã hội học tập, mà ở đó mọi công dân (từ học sinh phổ thông, sinh viên, các tầng lớp người lao động, ) đều có cơ hội được học tập, hướng tới việc: học bất kỳ thứ gì (any things), bất kỳ lúc nào (any time), bất kỳ nơi đâu (any where) và học tập suốt đời (life long learning) Để thực hiện được các mục tiêu nêu trên, E-Learning có một vai trò chủ đạo trong việc tạo ra một môi
Trang 11trường học tập ảo.
Các trường đại học, cao đẳng đã tích cức triển khai E-learning: Một số trường đại học đã tích cực triển khai hệ thống Elearning, xây dựng trung tâm học liệu mở, thư viện điện tử Huy động nhiều nguồn lực như kinh phí các dự án, kinh phí ngân sách, kinh phí các doanh nghiệp hỗ trợ để đầu tư hạ tầng CNT, tập huấn cho giảng viên và xây dựng hệ thống tài liệu, bài giảng phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu của học sinh, sinh viện
Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các doanh nghiệp triển khai Learning và thi trực tuyến Thứ nhất, là Cuộc thi "Thiết kế hồ sơ bài giảng điện tử E-learning" năm học 2009 - 2010 nằm trong khuôn khổ của chương trình hợp tác giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo và Quỹ Laurence S Ting Cuộc thi đã huy động được số lượng lớn giáo viên tham gia (vòng sơ khảo khoảng 3,200; vòng chung khảo 855 giáo viên) Đã có 154 bài giảng đạt giải, trong đó: Giải nhất (3), giải nhì (5), giải ba (24), giải KK (48) và quà tăng (74).Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội, Thái Bình, Kon Tum là những địa phương đạt nhiều giải cao Năm học 2010-2011 Bộ GD&ĐT tiếp tục tổ chức cuộc thi nói trên, thể hiện quyết tâm triển khai E-learning đối với HS phổ thông Thứ hai, cuộc thi giải toán qua mạng tại Website Violympic.vn, là chương trình hợp tác giữa Bộ GD&ĐT với Công ty TNHH nội dung số FPT, cuộc thi đã được tổ chức năm thứ ba, là một sân chơi bổ ích, hứng thú cho hàng trăm ngàn học sinh (tiểu học, THCS) yêu thích môn toán trên toàn quốc Thứ ba, Cuộc thi Olympic tiếng Anh (IOE) là chương trình hợp tác giữa Tổng Công ty truyền thông Đa phương tiện Việt Nam VTC với Bộ GD&ĐT Cuộc thi đã quy tụ được hơn 4000 thí sinh là HS Tiểu học, THCS của 54 tỉnh, thành phố trong cả nước
E-Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp cũng đã tài trợ xây dựng Website luyện thi trực tuyến như: hocmai.vn, truongtructuyen.vn, Elearning của Viettel
Tp HCM xây dựng các thư viện tài liệu, bài giảng, thí nghiệm ảo, như Thuvienvatly.vn, lichsuvietnam.vn, baigiang.bachkim.vn đã tạo ra một nguồn tài nguyên lớn về tài liệu và bài giảng điện tử
Việt Nam đã gia nhập mạng E-Learning châu á (Asia E-learning Network
- AEN, www.asia-elearning.net) với sự tham gia của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Khoa học - Công nghệ, trường Đại học Bách Khoa, Bộ Bưu chính Viễn Thông
Điều này cho thấy tình hình nghiên cứu và ứng dụng loại hình đào tạo này đang được quan tâm ở Việt Nam Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực E-Learning ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu còn nhiều việc phải làm mới tiến kịp
Trang 12các nước.
Trang 13Phần 3: Giới thiệu mô hình Coursera
Một trong những vấn đề nóng nhất trong giáo dục đại học những năm gần đây là sự bùng nổ của các khóa học trực tuyến miễn phí, đây là một hình thức học tập của E-learning Những khóa học trực tuyến miễn phí nổi tiếng nhất trên thế giới hiện nay là Coursera (https://www.coursera.org/) và EdX (https://www.edx.org/) Trong phần 3 này, nhóm xin trình bày về mô hình Coursera
1.1 Giới thiệu mô hình Cousera.
Coursera là một tổ chức giáo dục mà các đối tác của nó là sự liên kết của các trường đại học hàng đầu trên thế giới nhằm cung cấp các khóa học trực tuyến miễn phí, tạo cơ hội tiếp cận dễ dàng với nền giáo dục đẳng cấp quốc tế cho tất cả những
ai có nhu cầu
Coursera được thành lập bởi hai giáo sư khoa học máy tính thuộc trường Đại học Stanford, Daphne Koller và Andrew Ng, vào tháng 4 năm 2012 và hệ thống Coursera đã tạo nên một cuộc cách mạng đột phá về học tập trên toàn thế giới, thách thức vị trí của tất cả các trường đại học còn gắn bó với phương pháp giảng
Trang 14dạy tập trung truyền thống Thời điểm hiện tại, Coursera cung cấp 376 khóa học
từ 80 trường đại học (đa số là các trường đại học ở hàng đầu của thế giới), có trên 3,6 triệu tài khoản học viên Được giảng dạy bằng tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc và tiếng Ý (tính đến 31-05-2013) Ngoài ra nhiều bài giảng có phụ đề là các ngôn ngữ khác Coursera đang và sẽ làm thay đổi diện mạo của giáo dục toàn cầu
Các bài giảng liên tục được cập nhật theo các khóa Các lớp học được cung cấp trên Coursera được thiết kế để giúp học sinh nắm vững các bài giảng Học viên xem các bài giảng dạy bởi các giáo sư đẳng cấp thế giới, học theo tốc độ riêng của họ, kiểm tra kiến thức của họ, và củng cố các khái niệm thông qua các bài tập tương tác Khi học sinh tham gia một khóa học Coursera, họ cũng đang tham gia một cộng đồng toàn cầu của hàng ngàn sinh viên đang học cùng với họ Coursera cung cấp các khóa học với đa dạng chủ đề, bao gồm những ngành nhân văn, Y học, Sinh học, Khoa học Xã hội, Toán học, Kinh doanh, Khoa học Máy tính, và nhiều ngành khác Ngoài việc đảm bảo chất lượng chương trình gần như giáo trình gốc, Coursera cũng sẽ chấm điểm và trao giấy chứng nhận cho học viên khi hoàn thành chương trình được ký bởi giảng viên giảng dạy Nhiều khóa học được cấp chứng chỉ được công nhận bởi Hội đồng Giáo dục Hoa Kỳ và trường Đại học tham gia giảng dạy (học viên cần trả phí từ 30 đến 100 đô-la Mỹ cho việc này) Các chứng nhận hoàn thành từ Coursera được chấp nhận rộng rãi được xem là lợi thế cho việc
bổ sung hồ sơ cũng như sự nghiệp của các học viên
Bên cạnh những kiến thức hàn lâm, Coursera đặc biệt quan tâm đến việc giúp các bạn trẻ cải thiện những kỹ năng mềm, thực tế như làm sao để viết thư xin việc, thư tự giới thiệu bản thân và định hướng phát triển nghề nghiệp một cách tốt nhất
Trong khi đó, các công ty đứng ra tài trợ thực hiện dự án này cũng có thể tìm kiếm lợi ích bằng cách kết nối giữa các nhà tuyển dụng lao động với các sinh viên, những người đã thể hiện được năng lực trong một lĩnh vực đặc biệt nào đó Về phần mình, những trường đại học tham gia chương trình này cũng hy vọng danh tiếng của mình sẽ được biết đến trên toàn thế giới, cũng như có điều kiện liên kết với những trường khác và hy vọng nhận được những khoản quyên tặng từ những sinh viên hảo tâm học trực tuyến
Nhiều giảng viên và người hướng dẫn là tác giả của các cuốn sách giáo trình kinh điển trong lĩnh vực mà họ giảng dạy, là các giáo sư đầu ngành, các chuyên gia
có uy tín rất cao Đơn cử như khóa học Lý thuyết Automata, được giảng dạy bởi giáo sư Jeffrey D Ullman từ đại học Stanford và Pricenton, là đồng chủ biên giáo
Trang 15trình "Giới thiệu về lý thuyết Ô tô mát, ngôn ngữ và tính toán" Khóa học Kiến trúc máy tính, được giảng dạy bởi TS David Wentzlaff đến từ đại học Pricenton, nhà đồng sáng lập một tập đoàn sản xuất Chíp máy tính lớn v.v Các khóa học không chỉ được tổ chức rất bài bản, khoa học, không những tính sư phạm cao mà còn cập nhật nhiều tri thức mới, sát thực tiễn.
1.2 Phương pháp Cousera triển khai một khóa học
1.2.1 Cách thức tổ chức một khóa học
Mỗi khóa học sẽ do một hay nhiều giáo sư thuộc một trường đại học thành viên Coursera soạn thào và điều hành trong suốt quá trình khóa học diễn ra Việc lập kế hoạch và chuẩn bị tài liệu cho các khóa học thực sự được bắt đầu cách vài tháng trước khi khóa học được công bố
Lập khóa học
Việc lập khoa học phải có mục tiêu học tập tổng thể và có nhữngkỳ vọngvới mỗi bài giảng hàng tuần Trang web Coursera đòi hỏi suy nghĩ nhiều chi tiết hơn cho việc này vì mô hình không có sự tương tác trực tiếp với các sinh viên như việc giảng dạy truyền thống
Câu hỏi và bài tập về nhà
Trong giai đoạn lập kế hoạch khoá học đầu tiên, giảng viên phải có kế hoạch nói chung làm thế nào họ có thể đánh giá những gì học sinh được học tập trong khóa học Coursera cung cấp tùy chọn cho câu hỏi có thể được nhúng trong video
để cung cấp cho sinh viên một cơ hội để suy nghĩ về khái niệm chỉ được thảo luận bởi các giảng viên Tất nhiên, những nhúng ngắn các câu đố đã được lên kế hoạch cẩn thận trước khi các đoạn video sẽ cần phải có một nơi mà các bài giảng sẽ tạm dừng cho một bài kiểm tra
Để tăng cường hơn, giảng viên thiết kế câu hỏi hay các bài tập mà học sinh
có thể sử dụng để kiểm tra những gì họ đã học được Những được cung cấp để thực hành và Coursera bao gồm phương án cho phép giảng viên để sáng tạo sử dụng các câu trả lời ngắn, đúng / sai và nhiều định dạng sự lựa chọn với các biến thể vì lợi ích sinh viên nhất Ví dụ, một giảng viên có thể đưa ra một câu hỏi đúng / sai với một số biến thể của báo cáo đúng và sai trên một khái niệm cụ thể cho học sinh một cách ngẫu nhiên mỗi khi họ có các bài kiểm tra