Xuất phát từ những yêu cầu mang tính cấp bách trên, tác giả quyết định tiến hành nghiên cứu với người sử dụng điện thoại di động tại khu vực nội thành Hà Nội – một trong những nơi hoạt đ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kì công trình khoa học nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Hải Ninh
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH ix
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 3
1.2 Mục đích, nhiệm vụ của nghiên cứu 5
1.2.1 Mục đích nghiên cứu 5
1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
1.3.1 Đối tượng 6
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 6
1.4 Tình hình nghiên cứu 7
1.5 Phương pháp và câu hỏi nghiên cứu 10
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu 10
1.5.2 Câu hỏi nghiên cứu 11
1.6 Những đóng góp mới của luận án 11
1.7 Kết cấu của luận án 12
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 13
I LÝ THUYẾT VỀ MOBILE MARKETING 13
2.1 Một số khác biệt trong quan điểm sử dụng thuật ngữ Mobile Marketing 13 2.2 Khái niệm Mobile Marketing 15
2.3 Đặc trưng của Mobile Marketing 18
2.3.1 Mọi lúc, mọi nơi 19
Trang 32.3.2 Hướng đối tượng 19
2.3.3 Hỗ trợ khả năng tương tác hai chiều 20
2.3.4 Kênh Marketing được cá nhân hóa cao 21
2.3.5 Không phải là thư rác 23
2.4 Quy trình triển khai hoạt động Mobile Marketing 25
2.4.1 Bước 1: Chuẩn bị chiến dịch 26
2.4.2 Bước 2: Triển khai chiến dịch 33
2.4.3 Bước 3: Báo cáo, thống kê, điều chỉnh chương trình Mobile Marketing 36
2.5 Công nghệ của Mobile Marketing 37
2.5.1 Công nghệ SMS 37
2.5.2 Công nghệ MMS 39
2.5.3 Công nghệ Mobiweb 41
2.6 Chuỗi cung cấp dịch vụ Mobile Marketing 42
2.6.1 Doanh nghiệp – Nhãn hàng 43
2.6.2 Công ty cung cấp dịch vụ Mobile Marketing 43
2.6.3 Công ty tích hợp công nghệ di động 45
2.6.4 Nhà mạng viễn thông di động 45
2.6.5 Người tiêu dùng 45
2.7 Hệ thống luật pháp và qui định đối với Mobile Marketing 46
2.7.1 Tự do chọn lựa 48
2.7.2 Kiểm soát 48
2.7.3 Giới hạn 49
2.7.4 Tôn trọng 49
2.7.5 Bảo mật 50
II LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG MOBILE MARKETING 50
Trang 42.8 Đặc trưng hành vi người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile Marketing 50 2.9 Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng đối với hoạt động
Mobile Marketing 53
2.9.1 Các mô hình lý thuyết nền tảng 53
2.9.2 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 59
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 73
3.1 Thiết kế nghiên cứu 73
3.2 Quy trình thực hiện nghiên cứu 74
3.3 Thiết kế bảng hỏi 75
3.4 Chọn mẫu 80
3.4.1 Tổng thể đối tượng nghiên cứu 80
3.4.2 Kích cỡ mẫu 80
3.4.3 Phương pháp chọn mẫu 82
3.5 Phương pháp thu thập dữ liệu 84
3.6 Xử lý dữ liệu 86
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 89
4.1 Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu 89
4.2 Tình hình sử dụng điện thoại di động tại khu vực nội thành Hà Nội 91
4.3 Thực trạng hoạt động nhắn tin quảng cáo và Mobile Marketing 95
4.4 Xu hướng hành vi của người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile Marketing 98
4.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới thái độ và hành vi đối với hoạt động Mobile Marketing của người tiêu dùng khu vực nội thành Hà Nội 100
4.5.1 Kiểm định hệ số tin cậy của thang đo (chỉ số Cronbach Anpha) 100
4.5.2 Phân tích nhân tố (EFA) 112
4.5.3 Phân tích hồi qui 117
Trang 54.5.4 Sự khác biệt về hành vi đối với họat động Mobile Marketing giữa các nhóm nhân khẩu học 124
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN - ĐỀ XUẤT 132
5.1 Tổng kết 132 5.1.1 Hành vi của người tiêu dùng khu vực nội thành Hà Nội đối với hoạt động Mobile Marketing 132 5.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng khu vực nội thành Hà Nội đối với hoạt động Mobile Marketing 135 5.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ của người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile Marketing 136 5.2 Đề xuất – Kiến nghị 138 5.2.1 Đề xuất đối với các đơn vị thực hiện hoạt động Mobile Marketing 139 5.2.2 Nhóm đề xuất đối với các đơn vị quản lý 149 5.3 Hạn chế và kiến nghị hướng nghiên cứu tiếp theo 151
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 153 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 154 PHỤ LỤC 164
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ADSL Asymmetric digital subscriber line Công nghệ truyền dữ
liệu tốc độ cao trên
SMS Short Messaging Service Dịch vụ tin nhắn ngắn
MMS Multimedia Messaging Service Dịch vụ tin nhắn đa
EFA Exploratory Factor Analysis Phân tích nhân tố
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Thang đo tính thông tin của tin nhắn quảng cáo 77
Bảng 3.2: Thang đo tính giải trí của tin nhắn quảng cáo 77
Bảng 3.3: Thang đo tính tin cậy của tin nhắn quảng cáo 77
Bảng 3.4: Thang đo sự phiền nhiễu của tin nhắn quảng cáo 78
Bảng 3.5: Thang đo sự cá nhân hóa của tin nhắn quảng cáo 78
Bảng 3.6: Thang đo sự cá nhân hóa của tin nhắn quảng cáo 78
Bảng 3.7: Thang đo sự cho phép đối với các chương trình nhắn tin quảng cáo 78
Bảng 3.8: Thang đo của người tiêu dùng đối với tin nhắn quảng cáo 79
Bảng 3.9: Thang đo kinh nghiệm đối với các chương trình nhắn tin quảng cáo 79
Bảng 3.10: Thang đo thái độ đối với các chương trình nhắn tin quảng cáo 80
Bảng 3.11: Xác định kích cỡ mẫu căn cứ vào tổng thể và sai số 81
Bảng 3.12: Phân bổ số lượng phần tử mẫu điều tra theo các nhóm nghề nghiệp 83
Bảng 4.1: Thời gian sử dụng điện thoại di động 91
Bảng 4.2: Loại thuê bao điện thoại di động 93
Bảng 4.3: Mức chi tiêu cho cước phí điện thoại di động 93
Bảng 4.4: Số lượng tin nhắn SMS gửi đi trong ngày 94
Bảng 4.5: Số lượng tin nhắn SMS nhận được trong ngày 94
Bảng 4.6: Tỉ lệ người nhận được tin nhắn quảng cáo trong 3 tháng gần đây 95 Bảng 4.7: Tỉ lệ người đăng ký nhận tin nhắn quảng cáo 96
Bảng 4.8: Tỉ lệ người tiếp tục muốn nhận tin nhắn quảng cáo 96
Bảng 4.9: Hệ số tin cậy của thang đo “Tính thông tin” 102
Bảng 4.10: Hệ số tin cậy của thang đo “Tính giải trí” 103
Bảng 4.11: Hệ số tin cậy của thang đo “Sự tin cậy” 104
Bảng 4.12: Hệ số tin cậy của thang đo “Sự phiền nhiễu” 105
Trang 8Bảng 4.13: Hệ số tin cậy của thang đo “Sự cá nhân hóa” 106
Bảng 4.14: Hệ số tin cậy của thang đo “Quà tặng khuyến mại” 107
Bảng 4.15: Hệ số tin cậy của thang đo “Sự cho phép” 108
Bảng 4.16: Hệ số tin cậy của thang đo “Thái độ” 109
Bảng 4.17: Hệ số tin cậy của thang đo “Kinh nghiệm” 111
Bảng 4.18: Tổng hợp hệ số Cronbach Anpha của các thang đo 112
Bảng 4.19: Ma trận các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ của người tiêu dùng sau khi xoay (Rotated Component Matrixa) 113
Bảng 4.20: Hệ số Cronbach Anpha của các thành phần mới trích được 115
Bảng 4.21: Ma trận các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng sau khi xoay (Rotated Component Matrixa) 115
Bảng 4.22: Hệ số Cronbach Anpha của các nhân tố mới trích được 116
Bảng 4.23: Kết quả giá trị thống kê các nhân tố tác động tới thái độ của người tiêu dùng đối với Mobile Marketing 119
Bảng 4.24: Kết quả phân tích hồi quy ảnh hưởng của các nhân tố tới thái độ của người tiêu dùng đối với Mobile Marketing 120
Bảng 4.25: Kết quả phân tích hồi qui mô hình các nhân tố ảnh hưởng tới thái độ của người tiêu dùng đối với Mobile Marketing 121
Bảng 4.26: Kết quả giá trị thống kê các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile Marketing 122
Bảng 4.28: Kết quả phân tích hồi qui mô hình ảnh hưởng của thái độ và kinh nghiệm tới hành vi của người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile Marketing 123
Bảng 4.29: Giới tính * Hành vi Crosstabulation 126
Bảng 4.30: Độ tuổi * Hành vi Crosstabulation 128
Bảng 4.31:Chi-Square Tests: Trình độ học vấn * Hành vi 130
Bảng 4.32:Chi-Square Tests: Nghề nghiệp * Hành vi 131
Bảng 4.33:Chi-Square Tests: Thu nhập * Hành vi 131
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Khác biệt về quan điểm sử dụng thuật ngữ Mobile Marketing 14
Hình 2.2: Quy trình triển khai một chiến dịch Mobile Marketing 25
Hình 2.3: Tin nhắn đăng ký 34
Hình 2.4: Tin nhắn xác nhận đăng ký 35
Hình 2.5: Minh họa website báo cáo, thống kê chiến dịch Mobile Marketing 37
Hình 2.6: Chuỗi cung cấp dịch vụ Mobile Marketing 42
Hình 2.7: Thuyết hành động hợp lý TRA 54
Hình 2.8: Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) 55
Hình 2.9: Mô hình TAM2 56
Hình 2.10: Mô hình của Brackett và Carr 57
Hình 2.11: Mô hình của Tsang và cộng sự (2004) 58
Hình 2.12: Mô hình các nhân tố tác động tới hành vi người tiêu dùng khu vực nội thành Hà Nội đối với hoạt động Mobile Marketing 60
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 74
Hình 3.2: Thống kê thị trường sử dụng điện thoại di động Hà Nội 2009 82
Hình 4.1: Mạng điện thoại di động đang sử dụng 92
Hình 4.2: Đơn vị gửi tin nhắn quảng cáo 97
Hình 4.3: Nội dung của tin nhắn quảng cáo 98
Hình 4.4: Hành vi của người tiêu dùng ngay khi nhận được tin nhắn quảng cáo 99
Hình 4.5: Hành vi của người tiêu dùng sau khi mở tin nhắn quảng cáo 100
Hình 4.6: Mô hình nghiên cứu điều chỉnh 116
Hình 5.1: Mức độ ảnh hưởng của Thái độ và Kinh nghiệm tới Hành vi của người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile Marketing 135
Hình 5.2: Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới thái độ của người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile Marketing 137
Trang 10CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
Gần một trăm năm qua, cùng với sự hỗ trợ rất hiệu quả của các chương trình Marketing, hoạt động kinh doanh toàn cầu đã có nhiều bước tiến vượt bậc Các thương hiệu, sản phẩm, dịch vụ đã tiếp cận được tới người tiêu dùng
ở mọi nơi trên thế giới Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, các kênh Marketing truyền thống đã bắt đầu bộc lộ hạn chế, sức hấp dẫn suy giảm Phương pháp và hình thức thể hiện đã thành lối mòn là hai trong số những điểm yếu lớn nhất mà các kênh Marketing truyền thống đang gặp phải Do đó, việc tìm kiếm các kênh Marketing mới đang là một trong những yêu cầu mang tính cấp bách và sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của toàn ngành Marketing
Một trong những giải pháp hữu hiệu nhất để giải quyết vấn đề trên là việc kết hợp những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ với các hoạt
động Marketing truyền thống Mobile Marketing (hay còn gọi là Markting
qua điện thoại di động) là một trong những thành quả ấn tượng nhất của quá
trình sáng tạo đó Mobile Marketing là sản phẩm của sự kết hợp giữa công nghệ viễn thông di động với các chiến lược Marketing truyền thống Mobile Marketing có thể được hiểu một cách đơn giản là việc sử dụng điện thoại di động và các ứng dụng, dịch vụ của chúng làm công cụ để chuyển tải và thực hiện các chương trình Marketing
Năm 2011, công ty chuyên nghiên cứu lĩnh vực viễn thông di động – Mobile Thinking đã tổng kết: tổng chi phí hàng năm của các doanh nghiệp trên toàn cầu dành cho hoạt động quảng cáo, Marketing qua điện thoại di
Trang 11động có xu hướng ngày càng tăng Năm 2009, tổng chi phí toàn cầu đạt 7,9 tỉ
đô la Mỹ, năm 2010 con số này tăng lên 11,5 tỉ đô la Mỹ và dự kiến đạt 16,3
tỉ đô la Mỹ vào năm 2011 và 21,2 tỉ đô la Mỹ vào năm 2012 [56]
Bên cạnh đó, Mobile Marketing Watch (2011) xác định đối tượng chủ yếu của hoạt động Mobile Marketing có độ tuổi từ 20 đến 39 Ngoài ra, 45 % những người được hỏi trong cuộc điều tra đối với người sử dụng điện thoại ở thị trường Anh, Pháp và Mỹ bày tỏ sự quan tâm đến những thông tin quảng cáo được gửi tới di động của họ và 29% trong số đó sẽ phản hồi lại hoặc có hành vi tích cực đối với nội dung của chương trình quảng cáo, 22% số người còn lại cho biết sẽ sử dụng thông tin quảng cáo để làm cơ sở để lựa chọn sản phẩm và đưa ra quyết định mua hàng Tuy nhiên, phần lớn những người tham gia khảo sát đều có chung quan điểm về sự phiền nhiễu và khó chịu khi phải nhận những thông tin quảng cáo không liên quan được gửi tới điện thoại di động của họ [55]
Vừa có những điểm chung với những hình thức quảng cáo truyền thống lại vừa có sự khác biệt do các tính năng đặc thù của điện thoại di động, Mobile Marketing đang là một trong lĩnh vực nghiên cứu mới và hấp dẫn đối với các chuyên gia Marketing Tuy nhiên, do thời gian phát triển chưa dài nên
hệ thống lý thuyết của Mobile Marketing không những ít mà còn sơ sài, thiếu đồng bộ, chủ yếu là những nghiên cứu ngắn, những bài viết và nhận định phần nhiều mang tính chủ quan Trong thực tế, hoạt động Mobile Marketing trên thế giới lại đang diễn ra rất sôi động và thay đổi không ngừng, vì vậy cần thiết phải thực hiện các nghiên cứu khoa học nghiêm túc và có hệ thống làm tiền đề cũng như định hướng cho sự phát triển của hoạt động Mobile Marketing
Trang 121.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ra đời ở Mỹ vào năm 2004 và lần đầu tiên được triển khai ở Việt Nam vào năm 2006, Mobile Marketing hay còn gọi là Marketing qua điện thoại di động đang từng bước tạo dấu ấn đối với thị trường Marketing Việt Nam
Sau một số chương trình đầu tiên được triển khai như chương trình nhắn tin dự thưởng của nhãn hàng Close-up hay chương trình nhắn tin trả lời câu hỏi để nhận quà của Pepsi Việt Nam…, thị trường Việt Nam đã chính thức mở cửa cho kênh Mobile Marketing Vào giai đoạn đó, các công ty truyền thông, quảng cáo, Marketing háo hức với một kênh Marketing mới – một kênh Marketing được kì vọng sẽ tiếp bước Marketing trực tuyến, tạo ra sức đẩy cho ngành Marketing Việt Nam vốn đang đi vào lối mòn, thiếu tính sáng tạo và đột phá
Các doanh nghiệp, nhãn hàng lại có tâm lý hồ nghi và do dự khi phải lựa chọn giữa những kênh Marketing truyền thống được cho là tốn kém và nhàm chán nhưng lại rất an toàn với một kênh Marketing mới tiết kiệm hơn và nghe có vẻ hiệu quả hơn nhưng lại chứa đầy những rủi ro chưa xác định được
Ở góc độ quản lý dịch vụ, các nhà mạng viễn thông di động cũng rất quan tâm đến lĩnh vực kinh doanh mới này Tuy nhiên, do chưa có những quy định hướng dẫn nên hoạt động quản lý gặp rất nhiều khó khăn Thậm chí, có những thời điểm hoạt động Mobile Marketing bị cấm do những phiền toái và thiệt hại mà nó mang lại cho người dùng điện thoại Trong khi đó, quy định
và hướng dẫn của các cơ quan quản lý nhà nước cũng chưa thực sự bắt kịp sự phát triển quá nhanh của kênh Marketing này
Ngoài ra, trong những năm gần đây, người sử dụng điện thoại di động - đối tượng của hoạt động Mobile Marketing, quảng cáo qua tin nhắn điện thoại
Trang 13di động hoàn toàn bị động, thiếu thông tin và hoang mang trước những tin nhắn “rác” hay những tin nhắn lừa đảo Do đó, hiệu quả mang lại chưa tương xứng với tiềm năng và kì vọng, mặt khác quá nhiều khó khăn nảy sinh đã kéo lĩnh vực này phát triển chậm lại Bài viết về Mobile Marketing trên website
Mạng Quảng Bá (2011) nhận định: Mobile Marketing và quảng cáo qua tin
nhắn không có tương lai ở thị trường Việt Nam [5] hay quảng cáo qua điện thoại di động – vẫn chỉ là tiềm năng (Intermark, 2010) [3] Tuy nhiên, nếu chỉ
vì những nhận định mang tính chủ quan và thiếu những phân tích khoa học trên mà loại bỏ Mobile Marketing khỏi danh sách các kênh Marketing ở Việt Nam, chắc chắn sẽ là đáng tiếc lớn bởi Mobile Marketing đang là một trong những kênh Marketing mới, hấp dẫn nhất với ngành công nghiệp Marketing toàn cầu
Cũng giống như các kênh Marketing truyền thống khác, Mobile Marketing chỉ có thể phát triển được khi hội tụ đủ các điều kiện mang tính hỗ
trợ như: (1) người tiêu dùng có thái độ và hành vi tích cực (2) doanh nghiệp,
nhãn hàng và các công ty cung cấp dịch vụ Marketing có kế hoạch và chiến lược triển khai phù hợp, (3) các cơ quan quản lý nhà nước tạo hành lang pháp lý thuận lợi Tuy nhiên, để có những giải pháp và định hướng phát triển
phù hợp cho Mobile Marketing tại thị trường Việt Nam, việc nghiên cứu những nội dung lý thuyết căn bản của Mobile Marketing kết hợp với điều tra, khảo sát thực tế tại các địa phương mà hoạt động Mobile Marketing đang được triển khai là vô cùng cần thiết
Xuất phát từ những yêu cầu mang tính cấp bách trên, tác giả quyết định tiến hành nghiên cứu với người sử dụng điện thoại di động tại khu vực nội thành
Hà Nội – một trong những nơi hoạt động Mobile Marketing diễn ra nhiều nhất,
với đề tài nghiên cứu là: “Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile Marketing tại khu vực nội thành Hà Nội”
Trang 141.2 Mục đích, nhiệm vụ của nghiên cứu
1.2.1 Mục đích nghiên cứu
Nội dung của luận án sẽ tập trung vào các mục đích chính như sau:
- Hệ thống hóa lý thuyết cơ bản về Mobile Marketing;
- Tổng kết, so sánh, đánh giá, phân tích các mô hình lý thuyết có trước về hành vi người tiêu dùng và các nhân tố ảnh hưởng tới chúng, từ đó lựa chọn mô hình lý thuyết nền tảng phù hợp nhất cho nghiên cứu;
- Xây dựng mô hình nghiên cứu hành vi và các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng khu vực nội thành Hà Nội đối với hoạt động Mobile Marketing;
- Đưa ra các đề xuất, kiến nghị để thúc đẩy sự phát triển của Mobile Marketing tại thị trường Việt Nam
1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được các mục tiêu trên, nghiên cứu có các nhiệm vụ sau:
- Tổng hợp và hệ thống hóa các khái niệm, quan điểm, nội dung lý luận về Mobile Marketing
- Giới thiệu, đánh giá các mô hình lý thuyết nền tảng về hành vi người tiêu dùng và hành vi người tiêu dùng đối với hoạt động Marketing điện tử
- Xác định những hành vi chủ yếu của người tiêu dùng khu vực nội thành Hà Nội đối với hoạt động Mobile Marketing
- Xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi và thái độ của người tiêu dùng khu vực nội thành Hà Nội đối với hoạt động Mobile Marketing
Trang 15- Tiến hành điều tra, khảo sát và nghiên cứu thực tế hành vi của người tiêu dùng tại khu vực nội thành Hà Nội để kiểm chứng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, nhóm nhân tố tới thái độ và hành vi của họ đối với hoạt động Mobile Marketing
- Gợi ý một số giải pháp cho các doanh nghiệp, công ty cung cấp dịch vụ Mobile Marketing, công ty tích hợp công nghệ để khai thác, sử dụng hiệu quả kênh Marketing này Chú trọng những kiến nghị thúc đẩy các hành vi tích cực và hạn chế hành vi tiêu cực của người tiêu dùng đối với Mobile Marketing
- Đóng góp ý kiến cho các cơ quan quản lý nhà nước, nhà mạng viễn thông để một mặt tăng cường công tác quản lý, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người tiêu dùng, mặt khác tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của hoạt động Mobile Marketing
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng
Căn cứ trên mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận án xác định đối
tượng nghiên cứu của luận án bao gồm ba đối tượng cụ thể là:(1) Hoạt động
Mobile Marketing tại khu vực nội thành Hà Nội, (2) Hành vi của người tiêu dùng khu vực nội thành Hà Nội đối với hoạt động Mobile Marketing và (3) Các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của người tiêu dùng khu vực nội thành Hà Nội đối với hoạt động Mobile Marketing
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt nội dung: Luận án xác định phạm vi nghiên cứu tập
trung vào các vấn đề liên quan đến hành vi của người tiêu dùng
cá nhân đối với hoạt động Mobile Marketing như: thái độ, hành
vi và các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ, hành vi của họ
Trang 16Bên cạnh đó, cho dù Mobile Marketing đã phát triển rất đa dạng trên thế giới, nhưng tại Việt Nam hoạt động Mobile Marketing còn tương đối mới và nghèo nàn, ứng dụng phổ biến nhất của Mobile Marketing đang được triển khaitại Việt Nam mới chỉ là các chương trình quảng cáo qua tin nhắn ngắn (SMS Advertising) Vì vậy, để tránh những lỗi phát sinh trong quá trình thực hiện điều tra đối với người tiêu dùng, nội dung điều tra thực tế sẽ chỉ tập trung vào những câu hỏi đối với hoạt động quảng cáo qua tin nhắn và coi đây là đại diện cho quan điểm của
họ đối với Mobile Marketing nói chung
- Về mặt thời gian: Toàn bộ nghiên cứu bao gồm cả nghiên cứu lý
thuyết và khảo sát thực tế được thực hiện trong 4 năm từ tháng
10 năm từ 2007 đến tháng 10 năm 2011 Tuy nhiên, hoạt động điều tra xã hội học đối với người tiêu dùng được thực hiện trong vòng 2 tháng từ tháng 4/2011 đến tháng 5/2011 Điều này nhằm đảm bảo tính thời sự cho kết quả nghiên cứu
1.4 Tình hình nghiên cứu
Cho dù Mobile Marketing đã có lịch sử hình thành và phát triển gần 10 năm, tuy nhiên hoạt động nghiên cứu đối với kênh Marketing vẫn còn ở giai đoạn sơ khai Vì vậy, việc tìm kiếm nguồn tài liệu tham khảo gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là với các nội dung nghiên cứu về hành vi người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile Marketing Hơn thế nữa, đây cũng là hoạt động mới
ở Việt Nam nên tài liệu, công trình nghiên cứu và số liệu khảo sát thực tế chưa được thực hiện nhiều
Đến thời điểm tác giả hoàn thành luận án này, ở Việt Nam vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chính thống nào có nội dung tương tự hoặc trùng
Trang 17lặp với nghiên cứu này Do đó, khi thực hiện nghiên cứu, tác giả chủ yếu tiếp cận với các tài liệu nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài, tiêu biểu là:
- Nghiên cứu của Tsang và đồng nghiệp (2004) - “Consumer
Attitude toward Mobile Advertising” [73]: Nghiên cứu này được
thực hiện vào năm 2004 tại Đài Loan với mục tiêu tìm hiểu thái
độ và các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ của người tiêu dùng đối với hoạt động quảng cáo qua điện thoại di động Tuy không phải
là một công trình nghiên cứu đồ sộ nhưng lại có giá trị rất lớn Kết quả và mô hình lý thuyết của nghiên cứu này thường được
sử dụng làm cơ sở lý thuyết nền tảng cho các nghiên cứu đối với hoạt động Mobile Marketing Hạn chế lớn nhất của nghiên cứu này là ở quy mô của nghiên cứu khi số mẫu điều tra nhỏ và phạm
vi chỉ giới hạn ở những người đi tàu điện ngầm ở Đài Loan
- Nghiên cứu của Dickinger và Haghirian (2004) - “An
Investigation and Conceptual Model of SMS Marketing” [31] là
nghiên cứu về những vấn đề lý thuyết chung, cơ bản của hoạt động Marketing qua tin nhắn SMS Kết quả đáng ghi nhận nhất của nghiên cứu này là khái niệm về Mobile Marketing Đây là một trong những khái niệm về Mobile Marketing được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay
- Nghiên cứu của Iddris (2006) – “Mobile advertising in B2C
Marketing” [40] là nghiên cứu dựa trên kết quả khảo sát và điều
tra thực tế về việc sử dụng kênh Mobile Marketing trong các hoạt động Marketing B2C của doanh nghiệp Nghiên cứu cũng xác định được một số nhân tố chính tác động tới quyết định sử dụng kênh Mobile Marketing của doanh nghiệp Tuy nhiên,
Trang 18nghiên cứu này mới chỉ được thực hiện với một số ít doanh nghiệp thông qua phương pháp phỏng vấn chuyên gia Vì vậy, kết quả nghiên cứu chưa đánh giá được hết thực tế của toàn bộ thị trường
- Nghiên cứu của Wang (2007) – “Factors influencing high
school learners’ acceptance of marketing messages via short message service (sms)” [79] Đây là một trong những nghiên cứu
công phu và trực tiếp nhất về hành vi của người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile Marketing Nghiên cứu tập trung vào xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận tin nhắn Marketing của học sinh phổ thông trung học Nghiên cứu đã xây dựng và kiểm định mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chấp nhận tin nhắn Marketing của người tiêu dùng Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng giúp chỉ ra rằng người tiêu dùng chỉ thực hiện những hành vi tích cực đối với hoạt động Mobile Marketing khi
họ chấp nhận chúng Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của nghiên cứu
là chỉ giới hạn quy mô của khảo sát trong nhóm học sinh phổ thông trung học
- Nghiên cứu của Leppäniemi và Karjaluoto (2008b) - “Mobile
Marketing: From Marketing Strategy to Mobile Marketing Campaign Implementation” [50] Nghiên cứu tập trung vào xây
dựng và triển khai kịch bản dịch vụ cho các chiến dịch Mobile Marketing Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, tất cả các chiến lược Marketing truyền thống đều có thể được chuyển tải và thực hiện thông qua điện thoại di động Nghiên cứu cũng xác định các bước cơ bản thực hiện một chiến dịch Mobile Marketing
Trang 19- Nghiên cứu của Friman (2010) – “Consumer Attitudes Toward
Mobile Advertising” [34], Nghiên cứu đi sâu vào kiểm định mức
độ tác động của hai nhân tố: sự cho phép của người tiêu dùng và loại chiến dịch Mobile Marketing tới thái độ của người tiêu dùng Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng tìm hiểu sự mối quan
hệ giữa thái độ với dự định hành động và hành động thực sự của người tiêu dùng đối với hoạt động quảng cáo qua tin nhắn
- Nghiên cứu của AlEnezi (2010) - “Consumer Resposiveness
toward Mobile Advertising in Kuwait” [15] có nội dung tập
trung vào xác định các phản ứng, hành vi của người tiêu dùng Kuwait đối với hoạt động quảng cáo qua điện thoại di động Trong đó, nghiên cứu cũng tiến hành phân tích và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi, phản ứng của người tiêu dùng
Bên cạnh các nghiên cứu được đề cập ở trên, luận án cũng tìm hiểu và
sử dụng các tài liệu nghiên cứu về tình hình hoạt động Mobile Marketing ở các quốc gia khác như: Trung quốc, Ấn độ, Bangladesh, Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ, Phần Lan, Nam Phi làm nguồn tài liệu tham khảo
1.5 Phương pháp và câu hỏi nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu
Khi tiến hành hoạt động nghiên cứu của luận án, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp phổ biến trong nghiên cứu kinh tế như phương pháp phân tích, tổng hợp, các phương pháp kỹ thuật như thống kê, mô tả, so sánh, đánh giá, và phỏng vấn chuyên gia, điều tra xã hội học
Dữ liệu sử dụng trong các phân tích bao gồm cả dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp Dữ liệu thứ cấp được đúc rút, trích dẫn từ các báo cáo, công trình
Trang 20nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước và các tổ chức, đơn vị nghiên cứu trong lĩnh vực Marketing, quảng cáo, viễn thông Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua các điều tra, khảo sát thực tế thông qua bảng câu hỏi điều tra
và các cuộc phỏng vấn
Việc thu thập kết quả điều tra qua bảng hỏi được thực hiện thông qua
ba hình thức chính là: điều tra thông qua phỏng vấn trực tiếp, điều tra qua bảng hỏi trên Internet, email Phương pháp chọn mẫu khoa học, đảm bảo tính đại diện cho đối tượng nghiên cứu Dữ liệu điều tra sẽ được xử lý bằng
chương trình phân tích, thống kê SPSS 19.0 (Nội dung chi tiết của phần này
sẽ được cụ thể hóa trong chương 3: Phương pháp nghiên cứu)
1.5.2 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án có 5 câu hỏi nghiên cứu chính là:
- Bản chất, nội dung và điều kiện phát triển của Mobile Marketing?
- Thực trạng hoạt động Mobile Marketing tại khu vực nội thành
Hà Nội như thế nào?
- Người tiêu dùng ở khu vực nội thành Hà Nội có những hành vinhư thế nào đối với Mobile Marketing?
- Có những nhân tố nào ảnh hưởng tới thái độ và hành vi của người tiêu dùng tại khu vực nội thành Hà Nội đối với hoạt động Mobile Marketing và mức độ tác động của từng nhân tố?
- Có sự khác biệt nào về hành vi đối với hoạt động Mobile Marketing giữa các nhóm người tiêu dùng khác nhau?
1.6 Những đóng góp mới của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án có một số đóng góp mới sau:
Trang 21- Xác định những hành vi chủ yếu của người tiêu dùng khu vực nội thành Hà Nội đối với hoạt động Mobile Marketing gồm hai nhóm: Nhóm hành vi thực hiện ngay khi nhận được tin nhắn và nhóm hành vi thực hiện sau khi người tiêu dùng mở tin nhắn quảng cáo
- Bổ sung nhân tố kinh nghiệm vào nhóm các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi của người tiêu dùng đối với Mobile Marketing
- Xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của người tiêu dùng đối với Mobile Marketing
- Sử dụng kết quả điều tra thực tế tạo khu vực nội thành Hà Nội để phân tích, đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến hành
vi của người tiêu dùng đối với hoạt động Mobile Marketing
- Đưa ra một số đề xuất, kiến nghị cho các đơn vị tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ Mobile Marketing
1.7 Kết cấu của luận án
Ngoài danh mục bảng, biểu, hình và phụ lục, phần nội dung chính của luận án bao gồm 5 chương:
- Chương 1: Mở đầu
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu
- Chương 5: Đề xuất, kiến nghị
Trang 22CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
I LÝ THUYẾT VỀ MOBILE MARKETING
2.1 Một số khác biệt trong quan điểm sử dụng thuật ngữ Mobile Marketing
Mặc dù đã ra đời và phát triển được gần 10 năm nhưng Mobile Marketing vẫn còn là một lĩnh vực nghiên cứu mới với nhiều điểm chưa đạt được sự thống nhất đặc biệt là trong cách nhìn nhận và sử dụng thuật ngữ Mobile Marketing Do đó, trước khi đi sâu vào nội dung nghiên cứu chính, luận án sẽ tập trung giải thích, phân tích và đi đến thống nhất một số quan điểm chính nhằm tạo ra sự nhất quán về quan điểm và lý luận cho các nội dung nghiên cứu về sau
Điểm không đồng nhất đầu tiên và cũng là cơ bản nhất xuất phát từ ý nghĩa của những từ ngữ cấu thành lên thuật ngữ Mobile Marketing Mobile Marketing là một danh từ tiếng Anh được cấu thành bởi việc ghép hai danh từ
riêng lẻ là: Mobile và Marketing Theo giải thích của từ điển tiếng Anh
(Oxford dictionary), từ Mobile có 2 ý nghĩa chính: một là công nghệ của viễn thông di động, điện thoại di động, hai là sự di động, các vật di chuyển được [61] Vì vậy, cho đến nay thuật ngữ Mobile Marketingvẫn đang được sử dụng
để chỉ hai hoạt động có nội dung hoàn toàn khác nhau: (1) hoạt động
Marketing thông qua các thiết bị viễn thông di động và (2) hoạt động Marketing được thực hiện trên các phương tiện giao thông Trước khi điện
thoại di động và Internet được sử dụng phổ biến trong 10 năm gần đây, thuật ngữ Mobile Marketing thường được dùng theo hướng ý nghĩa thứ 2, đó là chỉ
Trang 23các chương trình Marketing, quảng cáo được thực hiện trên các phương tiện giao thông công cộng như xe buýt, tàu hỏa…Tuy nhiên,những hoạt động này không có nhiều sự phát triển trong những năm qua, ngược lại sự bùng nổ của công nghệ viễn thông và đặc biệt là điện thoại di động đã hướng thuật ngữ Mobile Marketing theo tầng ý nghĩa thứ nhất: các hoạt động Marketing thông qua các thiết bị viễn thông di động
Hình 2.1: Khác biệt về quan điểm sử dụng thuật ngữ Mobile Marketing
Bên cạnh đó, thuật ngữ Mobile Marketing còn cần phải được phân biệt với thuật ngữ Wireless Marketing Theo khái niệm của hiệp hội Mobile Marketing toàn cầu (Mobile Marketing Association Global), Wireless Marketing được hiểu là hoạt động Marketing sử dụng các thiết bị điện tử có kết nối không dây như radio, bluetooth, hồng ngoại, sóng điện thoại di động
và cácchuẩn kết nối không dây của Internet như wifi, wimax… (MMA 2009) [55] Do đó, về mặt phạm vi hoạt động, có thể xác định Mobile Marketing chỉ
là một phần của Wireless Marketing
Điểm cần thống nhất thứ ba và cũng là nội dung gây nhiều tranh cãi nhất, đó là việc lựa chọn sử dụng thuật ngữ nào trong hai thuật ngữ Mobile Marketing (Marketing qua điện thoại di động) và Mobile Advertising (quảng
Minh họa Marketing qua điện thoại di động
Minh họa Marketing trên các phương tiện giao thông
Trang 24cáo qua điện thoại di động) Xét ở góc độ nội hàm của thuật ngữ Marketing, hai thuật ngữ này có nội dung, ý nghĩa và phạm vi hoàn toàn khác nhau Hoạt động quảng cáo thường chỉ được thực hiện một chiều theo hướng đẩy thông tin từ phía doanh nghiệp về phía người tiêu dùng nhưng trong thực tế triển khai hoạt động Mobile Marketing, người tiêu dùng có khả năng tương tác ngược lại với doanh nghiệp Nghiên cứu của Tähtinen (2005) về sự khác biệt giữa hai thuật ngữ này đã xác định thuật ngữ Mobile Marketing có độ phổ quát rộng hơn và cũng phù hợp, chính xác hơn với các hoạt động diễn ra trong thực tế Kết quả nghiên cứu đưa ra hai tầng ý nghĩa chính của thuật ngữ
Mobile Marketing bao gồm: (1) việc sử dụng điện thoại di động để truyền tải
thông điệp Marketing và (2) hỗ trợ khả năng tương tác hai chiều giữa người nhận và người gửi thông điệp Marketing [70]
Tuy nhiên, cho đến nay, trong cả thực tế lẫn nghiên cứu lý thuyết, hai thuật ngữ này vẫn thường được sử dụng để thay thế lẫn cho nhau Điển hình như trong nghiên cứu của Tsang (2004), Haghirian (2005), Ahslund (2006), Klaas Kox (2008), Warldt (2009)…, các nhà khoa học sử dụng thuật ngữ Mobile Advertising còn Ziden (2007), Grant (2007), Barutcu (2010)… lại lựa chọn sử dụng thuật ngữ Mobile Marketing
Tổng kết lại, dù vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất hoàn toàn, nhưng trong phạm vi của luận án này, tác giả lựa chọn Mobile Marketing làm thuật ngữ đồng nhất để nghiên cứu Ngoài ra, tác giả cũng quyết định không Việt hóa thuật ngữ Mobile Marketing để đảm bảo nội hàm ý nghĩa và tránh trường hợp thuật ngữ sau khi được Việt hóa không chính xác và đảm bảo đầy đủ ý nghĩa
2.2 Khái niệm Mobile Marketing
Mobile Marketing là một “sản phẩm” được được lai ghép giữa công nghệ điện thoại di động và Marketing, vì vậy ở mỗi góc tiếp cận khác nhau,
Trang 25các nhà nghiên cứu lại đưa ra khái niệm khác nhau Do đó, để cung cấp một cái nhìn tổng quát nhất về lĩnh vực này, luận án sẽ tổng hợp hai khái niệm đang được sử dụng phổ biến nhất trong các nghiên cứu về Mobile Marketing,
từ đó đúc rút ra những nét cơ bản mang tính đặc trưng của hoạt động Mobile Marketing Đó là khái niệm mới được cập nhật, điều chỉnh, bổ sung năm 2009 của hiệp hội Mobile Marketing toàn cầu (MMA Global) và khái niệm của hai nhà nghiên cứu Dickinger - Haghirian năm 2004
MMA (2009) định nghĩa:
“Mobile Marketing là việc sử dụng điện thoại di động như một kênh
thông tin, truyền thông, giải trí kết nối giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng Mobile Marketing là một kênh Marketing có tính chất tự động, trực tiếp, tương tác, hướng đối tượng và bất kỳ lúc nào, bất kỳ đâu” 1
(Nguồn: MMA 2009)[55]
Đây là khái niệm tiếp cận từ góc độ nghiên cứu Marketing và cũng là khái niệm được sử dụng phổ biến nhất trong các nghiên cứu đối với Mobile Marketing Khi đưa ra khái niệm này MMA Global đã xem xét và tiếp cận Mobile Marketing như một kênh Marketing độc lập Kế thừa khái niệm của chính tổ chức này năm 2004, khái niệm năm 2009 của MMA Global tiếp tục xác định Mobile Marketing là việc sử dụng điện thoại di động làm công cụ để thực hiện các chương trình Marketing Điều này khẳng định và giới hạn chỉ những hoạt động Marketing nào được thực hiện qua điện thoại di động mới được coi là Mobile Marketing Trong đó hoạt động Martketing thực hiện qua điện thoại di động được cụ thể hóa bằng việc cung cấp thông tin, truyền thông, các chương trình giải trí để từ đó tạo ra cầu nối giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ của họ Bên cạnh đó, khái niệm cũng nhấn mạnh những
1
the use of the mobile medium as a communications and entertainment channel between a brand and an end-user Mobile Marketing is
Trang 26tính năng vượt trội mang tính đặc trưng của kênh Marketing này như tính tự động, trực tiếp, tương tác, hướng đối tượng và bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào Nội dung này giúp người đọc có thể nắm bắt được phạm trù cơ bản nhất của Mobile Marketing và phân biệt được nó với các kênh Marketing khác
Từ góc tiếp cận mang nhiều tính công nghệ hơn, Dickinger và Haghirian (2004) [31] lại mở rộng phạm vi của Mobile Marketing sang các thiết bị có kết nối không dây khác Với xu thế hội tụ và tích hợp công nghệ ngày càng cao, những thiết bị hỗ trợ kết nối Internet không dây như máy tính bảng, hay PDA sẽ là tương lai của ngành viễn thông di động Đây là sự mở rộng mang tính đón đầu cho tương lai phát triển của Mobile Marketing Vì thế, cho dù khái niệm này được đưa ra cách đây khá lâu (2004) nhưng cho đến nay nó vẫn là khái niệm rất có giá trị và được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng Dickinger - Haghirian (2004) quan niệm:
“Mobile Marketing là việc sử dụng phương tiện truyền thông tương tác không dây để cung cấp cho khách hàng những thông tin đã được cá nhân hóa với mục tiêu xúc tiến hoạt động bán hàng hóa, dịch vụ và mang lại giá trị cho các cổ đông.”
(Nguồn: Dickinger và Haghirian 2004)2[31] Trong khái niệm trên, khác với quan niệm coi Mobile Marketing là một kênh Marketing hai chiều như MMA Global, Dickinger - Haghirian lại cho rằng Mobile Marketing chỉ đơn thuần là hoạt động cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ cho người tiêu dùng nhằm mục tiêu xúc tiến bán hàng Theo Tsotsis (2010), khái niệm này dường như đã thu hẹp hoạt động của Mobile Marketing và ngầm coi Mobile Marketing chỉ là hoạt động quảng cáo qua các thiết bị không dây (Wireless Advertising) Tsotsis (2010) cũng đưa ra giả
2
Mobile Marketing is defined as using interactive wireless media to provide customers with time and location sensitive, personalized
Trang 27thuyết rằng có lẽ do tại thời điểm đó (năm 2004) mới chỉ có các ứng dụng quảng cáo qua điện thoại di động được phát triển nên Dickinger - Haghirian chưa xác định được chính xác qui mô của hoạt động Mobile Marketing [74] Tuy nhiên, khái niệm của Dickinger- Haghirian (2004) cũng đạt được một thành công lớn khi nêu bật một đặc điểm nổi bật của thông điệp Mobile Marketing, đó là tính cá nhân hóa Đây là điểm mới và khác biệt so với khái niệm của MMA Global Theo đó, nội dung, kịch bản và thời điểm của các chương trình Mobile Marketing có thể dễ dàng được thay đổi, điều chỉnh phù hợp với nhu cầu và đặc điểm mang tính cá nhân của đối tượng Marketing
Tóm lại, dù hai khái niệm trên có sự khác biệt về câu chữ cũng như góc
độ và thời điểm tiếp cận, nhưng tựu chung lại Mobile Marketing bao gồm ba nội dung chính:
- Mobile Marketing là việc sử dụng điện thoại di động làm công cụ thực hiện các chương trình Marketing với khách hàng hiện tại và thu hút khách hàng mới
- Mobile Marketing là cầu nối giữa đơn vị thực hiện chương trình Mobile Marketing (doanh nghiệp, công ty cung cấp dịch vụ Mobile Marketing) và đối tượng Marketing (người tiêu dùng) Thông qua
đó doanh nghiệp và người tiêu dùng có thể tương tác với nhau một cách trực tiếp
- Mobile Marketing là công cụ được cá nhân hóa giúp doanh nghiệp tiếp cận người tiêu dùng bất ở kỳ đâu và vào bất kỳ thời gian nào
2.3 Đặc trưng của Mobile Marketing
Xuất phát từ 2 khái niệm của MMA Global và của Dickinger Haghirian, Iddris (2006) xác định Mobile Marketing có bốn đặc điểm cơ bản
-là: (1) mọi lúc mọi nơi, (2) hướng đối tượng, (3) hỗ trợ khả năng tương tác
Trang 28hai chiều và kết nối thời gian thực và (4) kênh Marketing được cá nhân hóa cao [40] Năm 2008, trong nghiên cứu về hoạt động Mobile Marketing đối
với thị trường hàng tiêu dùng, Leppäniemi bổ sung thêm một đặc điểm nữa:
(5) Mobile Marketing không phải là thư rác [50] Vì vậy, cho đến nay,
Mobile Marketing được xác định có 5 đặc trưng căn bản, cụ thể như sau:
2.3.1 Mọi lúc, mọi nơi
McMillan & Hwang (2002) cho rằng một tờ báo một ngày tối đa chỉ có được 40 nghìn độc giả, điều này đồng nghĩa với việc có khoảng 40 nghìn người có thể đọc được các thông tin Marketing được đăng trên báo Truyền hình và radio thì có số lượng người xem, người nghe lớn hơn nhưng không phải lúc nào người ta cũng ngồi trước màn hình tivi và radio để xem và nghe các chương trình Marketing được phát trên tivi và radio [52]
Trong khi đó, thực tế đã chứng minh người sử dụng điện thoại di động
có thói quen luôn mang theo mình chiếc điện thoại di động của mình và sử dụng chúng ở bất kỳ nơi nào và vào bất kỳ thời gian nào Kết quả nghiên cứu của Wang (2007) cho thấy những người ở nhóm tuổi trẻ có thói quen liên lạc một cách thường xuyên với bạn bè của mình qua tin nhắn SMS [79]
Vì vậy, việc sử dụng điện thoại di động làm công cụ Marketing giúp cho chương trình Mobile Marketing có thể tiếp cận đối tượng của chương trình Marketing mọi lúc, mọi nơi Hay nói một cách khác Mobile Marketing
là kênh Marketing “không khoảng cách”
2.3.2 Hướng đối tượng
Một trong những điểm đặc biệt của Mobile Marketing so với các kênh Marketing truyền thống là: đối tượng Marketing (người tiêu dùng) nếu muốn tham gia các chương trình Mobile Marketing, phải thực hiện thủ tục đăng ký (opt-in) (MMA 2008a) Thủ tục đăng ký được thực hiện qua tin nhắn, email,
Trang 29hoặc trực tiếp qua bảng đăng ký giấy.Những người đăng ký thường có nhu cầu thực sự đối với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp [53]
Các kênh truyền thông đại chúng như truyền hình hay radio, báo giấy cũng có việc phân nhóm đối tượng Marketing thông qua các đặc điểm về nội dung, tuy nhiên việc phân chia này thường thiếu chính xác và hạn chế giá trị của các chương trình Marketing Ví dụ: khi một chương trình Marketing cho nhãn hàng dầu gội đầu được phát trên truyền hình, tất cả mọi người phải xem
nó bất kể họ có quan tâm và có nhu cầu hay không Trong khi đó, những người thực sự có nhu cầu với dầu gội đầu lại chưa chắc đã xem đoạn quảng cáo đó Vì thế việc sử dụng cơ sở dữ liệu những người đã đăng ký để thực hiện các chương trình sẽ giúp cho Mobile Marketing có khả năng hướng đối tượng tốt hơn rất nhiều so với các kênh truyền thông đại chúng khác
2.3.3 Hỗ trợ khả năng tương tác hai chiều
Theo Iddris (2006), đây là một tính năng quan trọng và cũng là một lợi thế so sánh của Mobile Marketing với các kênh Marketing truyền thống khác
Hệ thống Mobile Marketing cho phép doanh nghiệp có thể tương tác với khách hàng của mình và ngược lại [40] Doanh nghiệp sẽ gửi thông điệp Marketing của mình tới khách hàng và nhận được phản hồi trở lại qua tin nhắn Những chương trình điều tra thị trường qua tin nhắn là một trong những minh chứng rõ nét nhất cho tính năng này Với truyền hình và radio hay báo giấy, tính năng này hầu như là không thể thực hiện được
Hơn thế nữa, trong trường hợp muốn phản hồi hoặc gửi thông tin cho doanh nghiệp, người tiêu dùng phải gửi thư, gọi điện thoại hoặc email Điều này thường không thể thực hiện ngay lập tức Trong khi đó Mobile Marketing
lại hỗ trợ khả năng kết nối thời gian thực (cho phép người nhận được thông
tin Marketing có thể nhắn tin phản hồi ngay lập tức và doanh nghiệp cũng
Trang 30ngay lập tức nhận được thông tin) Khi doanh nghiệp tìm hiểu quan điểm
khách hàng của mình, họ chỉ cần gửi tin nhắn tới điện thoại di động của khách hàng và có thể nhận ngay được câu trả lời cũng thông qua tin nhắn mà không cần mất thời gian chờ đợi
2.3.4 Kênh Marketing được cá nhân hóa cao
Tripathi và Mittal (2007) đánh giá kênh Mobile Marketing mang tính
cá nhân cao nhất trong tất cả các kênh Marketing đã được phát triển vì Mobile Marketingcho phép cá nhân hóa gần như tất cả các nội dung và hoạt động chính của một chiến dịch Marketing như thông điệp, kịch bản và cả thời điểm thực hiện chương trình [71]
- Cá nhân hóa nội dung thông điệp Marketing
Thông điệp của các chương trình Mobile Marketing được xây dựng dựa trên những đặc điểm mang tính đặc thù của khách hàng như độ tuổi, giới tính hay thói quen tiêu dùng Những thông tin này được khách hàng cung cấp qua tin nhắn đăng ký và được cập nhập thường xuyên
Nội dung của tin nhắn Mobile Marketing được xây dựng và điều chỉnh phù hợp với từng nhóm đối tượng Marketing Trong các chương trình Mobile Marketing, người tiêu dùng còn nhận được tin nhắn được biên tập phù hợp với đặc điểm mang tính cá nhân của họ như tên, độ tuổi, giới tính hay sở thích cá nhân của họ
- Cá nhân hóa kịch bản Marketing
Kịch bản của Mobile Marketing thường được “may đo” theo cá tính của từng nhóm khách hàng Theo Xu (2006), đặc điểm cá tính được tổng hợp dựa trên các thông tin về độ tuổi, giới tính, nhu cầu… do người tiêu
Trang 31dùng cung cấp khi đăng ký tham gia hoạt động Mobile Marketing của doanh nghiệp [80]
Mỗi nhóm khách hàng với những đặc điểm khác nhau sẽ được áp dụng một cách linh hoạt những kịch bản khác nhau để tạo ra sự phù hợp và nâng cao hiệu quả Marketing Ví dụ: với những nhóm khách hàng có tính cách sôi động, trẻ trung doanh nghiệp nên sử dụng những kịch bản có tính giải trí và độ phức tạp cao như các chương trình trò chơi, dự đoán Ngược lại, với đối tượng khách hàng lớn tuổi hơn, kịch bản đơn giản, dễ hiểu, dễ tham gia lại là sự lựa chọn phù hợp nhất
- Cá nhân hóa thời điểm thực hiện chương trình Mobile Marketing
Với hoạt động quảng cáo trên truyền hình, những người làm Marketing thường có xu hướng chọn những “khung giờ vàng” để phát các chương trình quảng cáo của mình Điều này một mặt giúp cho thông điệp quảng cáo tiếp cận được với một số lượng lớn người xem Tuy nhiên, không phải người nào xem chương trình quảng cáo trên truyền hình đó cũng có nhu cầu với sản phẩm, dịch vụ được quảng cáo, ngược lại những người có nhu cầu thì thời điểm đó lại không xem truyền hình Điều này đã gây ra nhiều phàn nàn và khó chịu cho người xem truyền hình, thậm chí, đã có người cho rằng họ sẵn sàng trả thêm tiền để được xem các chương trình truyền hình không có quảng cáo Vì vậy, cho dù có độ phủ lớn nhưng hiệu quả tiếp cận khách hàng mục tiêu của các chương trình quảng cáo truyền hình được đánh giá không cao
Với Mobile Marketing, dựa trên đặc tính nghề nghiệp, giới tính, độ tuổi
do khách hàng đăng ký, đơn vị thực hiện chương trình Mobile Marketing
sẽ gửi tin nhắn tới điện thoại của khách hàng Việc cá nhân hóa thời điểm gửi thông điệp giúp chương trình Mobile Marketing vừa tăng hiệu quả
Trang 32trong việc tiếp cận khách hàng mục tiêu lại vừa không gây ra phiền nhiễu cho người nhận
2.3.5 Không phải là thư rác
Spam (Stupid Pointless Annoying Messages) hay còn được gọi là thư rác là một trong những vấn đề gây nhiều tranh cãi trong thời gian gần đây Theo Ho và Kwok (2003), hành vi Spam chỉ việc gửi đi nhiều thông điệp có cùng một nội dung tới các địa chỉ khác nhau nhằm các mục tiêu quảng bá, thương mại [39]
Trào lưu Spam bùng nổ khi Email được dùng như một công cụ liên lạc phổ biến vào những năm đầu thế kỉ này Mỗi ngày có hàng tỉ Email được gửi
đi khắp toàn cầu và rất nhiều trong số đó là Email phục vụ mục đích Marketing Spam Email Marketing hoạt động dựa trên nguyên lý doanh nghiệp thực hiện chương trình Marketing sẽ dùng hòm thư điện tử của mình gửi thư điện tử tới một cơ sở dữ liệu địa chỉ Email mà họ thu thập được Cơ
sở dữ liệu email có thể do khách hàng tự nguyện cung cấp khi muốn nhận thông tin của doanh nghiệp hoặc do doanh nghiệp tự động thu thập qua các nguồn không hợp pháp Vì thế, địa chỉ email và thông tin về người sở hữu email trong cơ sở dữ liệu thu thập được thường không có tính cập nhật thậm chí thiếu tính chính xác Tuy nhiên, chi phí bỏ ra để có được cơ sở dữ liệu thường rất thấp và việc gửi Email lại ít tốn kém nên các doanh nghiệp vẫn sử dụng phổ biến kênh Marketing này Do đó, hiện nay Email Marketing còn bị ngầm mặc định là Spam Marketing
Mobile Marketing cũng có một phương thức gửi thông tin tương tự như Email Marketing, thể hiện ở việc doanh nghiệp thực hiện chương trình Mobile Marketing cũng tiến hành gửi tin từ một số điện thoại tổng đài trực tiếp tới điện thoại di động của khách hàng Nhưng trong bản hướng dẫn của
Trang 33MMA (2008a), chương trình Mobile Marketing chỉ được phép diễn ra khi đã nhận được sự cho phép của người tiêu dùng thông qua hành động đăng ký nhận thông tin Marketing [53] Việc đăng ký này có thể được thực hiện thông qua bản đăng ký trên giấy, bản đăng ký điện tử trên web, email và đăng ký trên điện thoại di động bằng tin nhắn SMS Bên cạnh đó, hệ thống kỹ thuật của Mobile Marketing phải có tính năng cho phép người tiêu dùng nhắn tin từ chối tiếp tục nhận thông tin Marketing Cơ sở dữ liệu người nhận tin của các hoạt động Mobile Marketing không được phép sử dụng cho chương trình Marketing khác hay việc làm lộ thông tin của khách hàng hoàn toàn bị cấm Dựa trên bản hướng dẫn này, các chính phủ cũng đã đưa ra quy định và chế tài phạt đối với các hành vi gửi tin nhắn quảng cáo, tin nhắn Marketing gây phiền hà cho người tiêu dùng Thậm chí những đơn vị cung cấp đầu số và doanh nghiệp thực hiện chương trình Mobile Marketing trái phép còn bị cắt đầu số và phạt tiền
Hơn thế nữa, nghiên cứu của Leppäniemi (2008a) xác định phần lớn người sử dụng điện thoại di động chỉ cung cấp số điện thoại và thông tin cá nhân của mình cho những đơn vị họ quan tâm [49] Tuy nhiên, họ cũng sẽ nhắn tin từ chối nhận tin nhắn quảng cáo nếu họ không quan tâm hoặc cảm thấy khó chịu
Từ góc độ quản lý, các nhà mạng chỉ đồng ý cho doanh nghiệp thực hiện chương trình Mobile Marketing với những khách hàng đã đăng ký Điều này một phần nào đó cũng là bảo vệ chính nhà mạng di động vì bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng cũng là bảo vệ khách hàng và cũng chính là bảo vệ cho hoạt động kinh doanh của mình Bên cạnh đó, các chương trình Mobile Marketing thường phải được thực hiện qua các đầu số đã được đăng ký, nếu đầu số của nhà cung cấp nào thực hiện việc gửi tin nhắn rác sẽ bị phạt Do đó,
Trang 34các nhà cung cấp bao gồm nhà mạng, đơn vị quản lý đầu số nhắn tin và doanh nghiệp Marketing sẽ không dám nhắn tin rác
2.4 Quy trình triển khai hoạt động Mobile Marketing
Mobile Marketing có rất nhiều kịch bản dịch vụ khác nhau như nhắn tin quảng cáo, nhắn tin trúng thưởng, điều tra thị trường qua điện thoại di động, thông báo thông tin doanh nghiệp qua tin nhắn… nên rất khó có thể xây dựng được một quy trìnhtriển khai đồng nhất cho tất cả các kịch bản Tuy nhiên, dựa vào những nội dung cơ bản của Mobile Marketing, Leppäniemi & Karjaluoto (2008b) đưa ra quy trình triển khai cơ bản cho
một chến dịch Mobile Marketing qua 3 bước chính bao gồm: (1) Chuẩn bị
chiến dịch, (2) Triển khai chiến dịch, (3) Thống kê, báo cáo, điều chỉnh chiến dịch Mobile Marketing [50]
Hình 2.2: Quy trình triển khai một chiến dịch Mobile Marketing
(Nguồn: Leppäniemi & Karjaluoto 2008b)
1
Phương tiện truyền thông Người tiêu dùng
Đơn vị thực hiện chương
Trang 352.4.1 Bước 1: Chuẩn bị chiến dịch
Trong ba bước của quá trình triển khai một chiến dịch Mobile Marketing, bước đầu tiên hay còn gọi là bước chuẩn bị đóng vai trò rất quan trọng Trong bước này doanh nghiệp sẽ phải thiết lập và chuẩn bị những nền tảng cần thiết cho các bước về sau bao gồm các công việc rất phức tạp và có
độ khó cao như xây dựng kịch bản, sáng tạo nội dung, lựa chọn kênh truyền thông quảng bá hay đơn giản như lựa chọn từ khóa và đầu số nhắn tin cho chương trình Để thực hiện bước này, các đơn vị cần phải thực hiện bốn nội dung chính, cụ thể như sau:
2.4.1.1 Xác định ý tưởng chủ đạo
Đây là giai đoạn mang tính tiền đề đặt nền móng cho toàn bộ quá trình triển khai một chiến dịch Mobile Marketing Theo các nghiên cứu về Mobile Marketing, bước này cần phải được thực hiện ít nhất 2 tháng trước khi doanh nghiệp dự định triển khai chương trình Ở bước này, doanh nghiệp xây dựng
định hướng chung cho toàn bộ chiến dịch bao gồm những công việc như: (1)
xác định nhóm khách hàng mục tiêu, (2) nội dung thông điệp cần chuyển tải , (3) kế hoạch tích hợp chiến dịch Mobile Marketing này vào tổng hòa chiến lược Marketing Mix của doanh nghiệp Tuy nhiên, do Mobile Marketing là
kênh Marketing không thể triển khai độc lập nên việc kết hợp Mobile Marketing với các kênh truyền thông đa phương tiện một mặt mang lại sự mới mẻ cho các kênh Marketing truyền thống, mặt khác tận dụng các kênh truyền thông này để quảng bá và thu hút người đăng ký cho chương trình Mobile Marketing
2.4.1.2 Lựa chọn từ khóa nhắn tin
Việc chọn từ khóa nhắn tin (keyword) giúp người tiêu dùng không những nhận biết, ghi nhớ về chương trình Mobile Marketing mà còn tăng khả
Trang 36năng nhận dạng thương hiệu đối với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Từ khóa nhắn tin của chương trình Mobile Marketing phải ngắn gọn, đơn giản,
dễ nhớ và đặc biệt là phải mang được đặc trưng của thương hiệu mà chương trình đang thực hiện Ví dụ: công ty Unilever Việt Nam sử dụng từ khóa CLU cho nhãn hàng kem đánh răng Close- up
Tuy nhiên có một lưu ý nữa đó là: với các quốc gia sử dụng ký tự có dấu như Việt Nam, việc lựa chọn từ khóa nhắn tin còn phải đảm bảo không gây phản cảm và nhầm lẫn khi viết bằng ký tự không dấu
2.4.1.3 Lựa chọn và thuê đầu số tổng đài nhắn tin
Đầu số được lựa chọn sẽ là đầu số nhận tin nhắn đăng ký tham gia của khách hàng và cũng là đầu số thực hiện Mobile Marketing của chương trình
Ở các quốc gia châu Á, việc lựa chọn đầu số đẹp có ý nghĩa rất quan trọng đối với cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng Doanh nghiệp thường ưu tiên lựa chọn những đầu số mang ý nghĩa thành công như 6, 8, 9 và tránh những đầu
số có ý nghĩa đen đủi như 1, 4 hay 7 Trong khi đó người tiêu dùng cũng quan tâm hơn nếu nhãn hàng mà mình đang có dự định đăng ký tham gia chương trình có đầu số đẹp và dễ nhớ Bên cạnh đó, các đơn vị nên lựa chọn đầu số đơn giản, dễ nhớ và có chi phí thấp (500VND/tin nhắn), đảm bảo cho người tiêu dùng dễ dàng nhắn tin đăng ký tham gia chương trình.Ví dụ: tổng đài 8xxx, 6xxx, 4xxx hoặc 1900xxxx…
2.4.1.4 Xây dựng kịch bản Mobile Marketing
Kịch bản đóng vai trò rất quan trọng và có nhiều ảnh hưởng tới sự thành bại của các chiến dịch Mobile Marketing, nhưng để xây dựng được một kịch bản sáng tạo, hấp dẫn với nội dung tinh tế và phương thức thể hiện mới lạ lại là thách thức lớn đối với người làm Mobile Marketing bởi: màn hình điện thoại di động thường có kích cỡ nhỏ, tin nhắn SMS bị giới
Trang 37hạn độ dài trong 160 ký tự Vì vậy, trừ một số doanh nghiệp có khả năng tự xây dựng kịch bản và nội dung cho các chiến dịch Mobile Marketing, hầu hết các doanh nghiệp còn lại đều phải thuê các công ty Marketing chuyên nghiệp giúp mình
Dựa trên thông tin đăng ký của người tiêu dùng như nhóm tuổi, giới tính và các thông tin cá nhân khác, các đơn vị có thể xây dựng những kịch bản phù hợp với từng nhóm đối tượng khách hàng Yaniv (2008) cũng cho rằng những chương trình Mobile Marketing có kịch bản được xây dựng như một trò chơi sẽ thu hút người tiêu dùng hơn nhiều lần so với những kịch bản thông thường [81] Ví dụ: kịch bản Mobile Marketing cho một thương hiệu được xây dựng dưới hình thức nhắn tin trả lời câu hỏi về lịch sử hình thành và phát triển của thương hiệu đó để nhận quà tặng khuyến mại Ngoài ra, số lượng quà tặng khuyến mại có giới hạn nên chỉ những người may mắn mới nhận được Nên bên cạnh việc thể hiện sự hiểu biết của bản thân, người tham gia còn bị cuốn hút bởi sự may rủi của trò chơi
Vì vậy, có thể khẳng định sự sáng tạo là vô cùng cần thiết khi xây dựng nội dung và kịch bản cho một chiến dịch Mobile Marketing Tuy nhiên,sáng tạo cũng cần phải phù hợp với văn hóa, giá trị của xã hội cũng như phải tuân thủ các quy định của pháp luật
Trên thế giới hiện nay đã có hàng trăm kịch bản cho các chương trình Mobile Marketing, tuy nhiên theo tổng kết của Dickinger và Haghirian
(2004), Mobile Marketing có năm nhóm kịch bản chính, đó là: (1) quảng cáo
trên điện thoại di động, (2) phiếu khuyến mại trên điện thoại di động, (3) quản lý quan hệ khách hàng qua điện thoại di động, (4) điều tra thị trường qua điện thoại di động và (5) nhắn tin trúng thưởng [31]
Trang 38- Quảng cáo trên điện thoại di động
Quảng cáo trên điện thoại di động (Mobile Advertising - MAds) (Hình 1, Phụ lục 1) là kịch bản được sử dụng phổ biến nhất trong các chiến dịch Mobile Marketing Vì thế, đối với rất nhiều người, thậm chí các chuyên gia cũng cho rằng Mobile Marketing là quảng cáo qua điện thoại di động Hiện nay, có rất nhiều hình thức để thực hiện quảng cáo trên điện thoại di động như sử dụng tin nhắn SMS, tin nhắn đa phương tiện MMS, banner quảng cáo trên website dành cho điện thoại di động… Tuy nhiên, hình thức đang được sử dụng nhiều nhất là sử dụng tin nhắn SMS để nhắn tin quảng cáo tới những số điện thoại di động mà doanh nghiệp có sẵn trong cơ sở dữ liệu
Theo Iddris (2006), khi so sánh với các kênh quảng cáo truyền thống thì việc sử dụng điện thoại di động làm công cụ quảng cáo giúp cho thông điệp quảng cáo tiếp cận nhanh hơn và trực tiếp hơntới đối tượng quảng cáo [40] Ngoài ra, với cùng một nội dung quảng cáo, việc soạn các tin nhắn quảng cáo trên điện thoại di động cũng sẽ đơn giản hơn, tốn ít thời gian và dễ dàng hơn Ví dụ như để thực hiện một chương trình quảng cáo trên truyền hình, doanh nghiệp sẽ mất rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc để xây dựng đoạn phim quảng cáo, nhưngchưa chắc nội dung và phong cách của clip quảng cáo đó phù hợp với tất cả mọi người Đó là chưa kể đến những chi phí lớn khác mà doanh nghiệp phải bỏ ra như tiền thuê phát quảng cáo vào “giờ vàng” trên các kênh truyền hình Tuy nhiên, không phải tất cả những người xem truyền hình vào giờ vàng đều là khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp Vì thế, thông điệp quảng cáo mới chỉ đạt được mục tiêu phát tán theo chiều rộng chứ chưa thể tiếp cận chính xác tới đối tượng mục tiêu của chương trình quảng cáo
Trang 39Ngược lại tin nhắn quảng cáo có thể dễ dàng thay đổi, điều chỉnh nội dung, câu chữ, kịch bản và thời gian sao cho phù hợp nhất với từng đối tượng quảng cáo Nhưng doanh nghiệp cần đảm bảo cơ sở dữ liệu số điện thoại di động mà họ sử dụng là do người tiêu dùng đồng ý cung cấp và việc gửi tin nhắn quảng cáo không gây phiền hà cho người nhận
- Phiếu khuyến mại trên điện thoại di động
Phiếu khuyến mại trên điện thoại di động (Mobile Coupon - Mcoupon) (hình 2, Phụ lục 1) là hình thức được sử dụng phổ biến thứ hai trong số năm kịch bản của Mobile Marketing
Phiếu khuyến mại cũng có thể được gửi tới điện thoại di động của người tiêu dùng qua nhiều hình thức như tin nhắn SMS, tin nhắn đa phương tiện MMS, nhưng hiện nay mã QR code là hình thức được sử dụng nhiều nhất do bộ mã này đang được sử dụng rộng rãi trong các máy đọc mã code của siêu thị, nhà hàng và các cơ sở kinh doanh Với hình thức này, người nhận được phiếu khuyến mại chỉ cần đưa ra tin nhắn SMS có chứa mã số khuyến mại hoặc đưa tin nhắn MMS có chứa mã QR,
họ sẽ nhận được một phần quà khuyến mại hoặc một mức giảm giá
Phiếu khuyến mại trên điện thoại di động mang lại ít nhất ba lợi ích
cho doanh nghiệp khi tiếp cận khách hàng mục tiêu: (1) tiết kiệm thời
gian và chi phí, (2) đúng đối tượng, (3) luôn được đem theo người
Khác với những hình thức phát phiếu khuyến mại thông thường, việc dùng phiếu khuyến mại trên điện thoại di động giúp doanh nghiệp tiết kiệm được cả thời gian lẫn kinh phí Chỉ cần một tích tắc, tin nhắn chứa phiếu khuyến mại đã đến được tới tay người tiêu dùng Ngoài ra, doanh nghiệp không cần bỏ thêm chi phí cho nhân sự phát phiếu khuyến mại cũng như chi phí in ấn phiếu khuyến mại
Trang 40Bên cạnh đó, phiếu khuyến mại trên điện thoại di động cũng giúp doanh nghiệp xác định chắc chắn những người nhận được phiếu khuyến mại đúng là khách hàng của mình bởi chỉ những số điện thoại của khách hàng mà doanh nghiệp có trong cơ sở dữ liệu mới nhận được tin nhắn có chứa phiếu khuyến mại
Hơn thế nữa, phiếu khuyến mại trên điện thoại di động được gửi vào điện thoại di động của khách hàng trong khi điện thoại di động hầu hết
là vật bất ly thân của mọi người nên phiếu khuyến mại trên điện thoại
di động cũng luôn người tiêu dùng được mang theo Điều này tạo ra sự tiện lợi cho người được nhận phiếu khuyến mại khi không phải sợ bị mất, rách hay quên ở nhà
Do những tiện lợi mang lại như đã đề cập ở trên, Raskino (2001) dự đoán phiếu khuyến mại trên điện thoại di động sẽ được sử dụng nhiều gấp 300 lần so với phiếu giảm giá truyền thống được in trên giấy [64]
- Thiết lập và duy trì nhóm khách hàng mục tiêu
Trong hoạt động kinh doanh, việc xây dựng, duy trì, cập nhật và nâng cấp mối quan hệ với khách hàng là một trong những yêu cầu sống còn với doanh nghiệp Hoạt động này cần được tiến hành thường xuyên
để cập nhật những thông tin mới nhất của doanh nghiệp mình cho khách hàng như các thông tin về sản phẩm, dịch vụ mới hay các chương trình khuyến mại, chương trình Marketing mà doanh nghiệp sắp triển khai
Để thực hiện được mục tiêu trên, các doanh nghiệp có thể sử dụng kịch bản thiết lập – duy trì nhóm khách hàng mục tiêu qua điện thoại di động (Mobile Customer Relationship Management – MCRM) (Hình 3, Phụ lục 1)