1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quản trị rủi ro tín dụng theo basel II tại ngân hàng thương mại cổ phần đại á – phòng giao dịch tân hiệp

91 526 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng theo Basel II tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Á – Phòng Giao Dịch Tân Hiệp
Trường học Trường Đại Học Lạc Hồng
Chuyên ngành Quản trị rủi ro tín dụng
Thể loại Đề tài tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài “Nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng theo Basel II tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Á – Phòng giao dịch Tân Hiệp” được tiến hành trên cơ sở thu thập mới số liệu tron

Trang 1

1 Lý do chọn đề tài

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, trong hoạt động của các NHTM thì tín dụng đóng một vai trò vô cùng quan trọng trên cả hai phương diện: Quy mô sử dụng vốn và khả năng tạo ra lợi nhuận Ở phương diện sử dụng vốn thì đa phần các NHTM đều có tín dụng chiếm khoảng 70% trên tổng tài sản có Do đó lợi nhuận và rủi ro từ hoạt động này là cao nhất mà một NHTM phải đối mặt [33]

Trong nền kinh tế thị trường, khi nhắc đến tín dụng thì tất cả mọi người kể

cả các nhà kinh tế đều đề cập đến vai trò to lớn của tín dụng đó là: Tín dụng là một kênh dẫn vốn từ người thừa vốn chưa có nhu cầu sử dụng đến người đang có nhu cầu sử dụng vốn Theo đó, người cho vay sẽ thu được lãi, người sử dụng cuối cùng số vốn đó sẽ tạo ra lợi nhuận, nền kinh tế sẽ tạo ra được thêm việc làm Từ các hệ quả trên, ta thấy tín dụng đã góp phần ổn định và phát triển nền kinh tế và

có thể coi đây như là mạch máu trong một cơ thể sống Nhưng chính hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro mà hệ quả của nó gây ra cho nền kinh tế là vô cùng

to lớn [33]

Ngày nay, hòa mình vào xu thế hội nhập kinh tế thế giới, các doanh nghiệp,

tổ chức nước ngoài sẽ xâm nhập thị trường Việt Nam mở ra nhiều cơ hội cùng với nhiều thách thức Quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt từ đó làm cho nợ xấu có thể gia tăng gây ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của hệ thống ngân hàng thương mại nói riêng Từ đó đặt ra yêu cầu cấp thiết cho các nhà quản l ý về tài chính – ngân hàng phải ứng dụng một biện pháp quản trị rủi ro sao cho hiệu quả nhất Và nội dung của hiệp ước Basel II (06/2004) về “Tiêu chuẩn vốn quốc tế” giúp đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro, qua đó giảm thiểu được rủi ro

mà nhất là rủi ro tín dụng, khai thác tối đa tiềm năng lợi nhuận đã được xem như

là giải pháp nâng cao tiêu chuẩn ngân hàng tại hội nghị lần thứ 21 của Hiệp Hội Ngân Hàng Châu Á

Trang 2

Nhận thấy được tầm quan trọng của việc quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của NHTM, trong sự vận động của nền kinh tế, đồng thời thấy được tính ưu việt trong nội dung của Hiệp ước Basel II đối với quản trị rủi ro trong đó có rủi ro

về tín dụng Vì thế em quyết định thực hiện đề tài: “Nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng theo Basel II tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Á – Phòng giao dịch Tân Hiệp” với mong muốn đem đến cái nhìn tổng quát về hoạt

động quản trị rủi ro tín dụng hiện tại Qua đó đề xuất một số giải pháp nâng cao khả năng ứng dụng Basel II trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng Từ đó hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng trong các NHTM nói chung và Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Á – Phòng giao dịch Tân Hiệp nói riêng

2 Tổng quan lịch sử nghiên cứu đề tài

Trên các diễn đàn kinh tế cũng như trong thực tế hoạt động của các NHTM, rủi ro tín dụng luôn là vấn đề được đề cập đến nhiều nhất Nó được ví như là mắc xích quan trọng trong quản trị rủi ro của một ngân hàng NHTM

Tại hội nghị thường niên của Hiệp Hội Ngân Hàng Châu Á (ABA) tổ chức vào hai ngày 4 và 5/11/2004 với chủ đề: “Các Ngân Hàng Châu Á Vươn Lên Ngang Tầm Với Những Thách Thức” đã bàn đến việc ứng dụng nội dung Hiệp ước Basel II trong hệ thống NHTM để có thể hạn chế được các rủi ro Chủ tịch ABA - Dong Soo Choi cho rằng: “Tất cả các ngân hàng trong khu vực cần nâng cấp hơn nữa để đáp ứng được những quy định của Basel II” [31]

Trong ngành Tài chính - Ngân hàng, quản trị rủi ro tín dụng luôn là đề tài nóng được các sinh viên, giảng viên, nghiên cứu sinh và các chuyên gia tham gia bàn luận sôi nổi bằng các bài báo khoa học, các công trình nghiên cứu nhằm tạo

sự gắn kết giữa lý luận và thực tiễn để tìm được cách giải quyết hợp lý và khoa học nhất trong lĩnh vực này

Đối với hoạt động nghiên cứu khoa học của trường đại học Lạc Hồng thì đề tài về nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng đã có một số sinh viên thực hiện Các đề tài đều đã đề ra được một số biện pháp tháo gỡ những khó khăn tồn

Trang 3

tại trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng, mở rộng và nâng cao chất lượng hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng Tuy nhiên, mỗi tác giả thực hiện đề tài của mình trong thời gian, không gian, và tình hình kinh tế xã hội khác nhau nên sẽ có những đề xuất, kiến nghị khác nhau mà trong đó sẽ có những

đề xuất không còn phù hợp trong tình hình kinh tế phát triển theo xu thế hội nhập toàn cầu, cạnh tranh mạnh mẽ như hiện nay Do đó, em quyết định tiếp tục thực hiện đề tài này nhưng sẽ đi sâu nghiên cứu về khả năng ứng dụng Basel II – một giải pháp được nhiều nước phát triển áp dụng trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng Từ đó nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng ở các NHTM nói chung

và Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Á – Phòng giao dịch Tân Hiệp nói riêng

3 Mục tiêu nghiên cứu

¾ Tiếp cận và nắm bắt được tình hình QTRRTD tại Ngân Hàng Thương Mại

Cổ Phần Đại Á – Phòng giao dịch Tân Hiệp

¾ Phân tích được ưu và nhược điểm của công tác QTRRTD hiện tại, đánh giá mức độ ứng dụng Basel II trong QTRRTD tại ngân hàng

¾ Đề ra giải pháp và kiến nghị góp phần hoàn thiện và nâng cao khả năng ứng dụng Basel II trong QTRRTD từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Á cũng như PGD Tân Hiệp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

• Đối tượng nghiên cứu:

Hoạt động QTRRTD và ứng dụng Basel II tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Á – Phòng giao dịch Tân Hiệp

• Phạm vi nghiên cứu:

- Thời gian nghiên cứu: Năm 2008, 2009, 2010

- Không gian nghiên cứu: Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Á – Phòng giao dịch Tân Hiệp

Trang 4

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tại bàn sách: Thống kê, tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu

- Phương pháp thực tế hiện trường: Thu thập số liệu qua khảo sát thực tế, phỏng vấn trao đổi với cán bộ phụ trách đơn vị

6 Đóng góp mới của đề tài

Đất nước ngày càng đi lên với sự phát triển kinh tế ngày càng mạnh mẽ Theo đó thì tất cả các lĩnh vực, các thành phần trong nền kinh tế đều có sự chuyển mình theo từng ngày, từng giờ cho phù hợp với tình hình mới trước những biến động trong nước và trên thế giới Và ở lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng thì yêu cầu đổi mới là cấp thiết hơn bao giờ hết

Đề tài “Nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng theo Basel II tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Á – Phòng giao dịch Tân Hiệp” được

tiến hành trên cơ sở thu thập mới số liệu trong hoạt động tín dụng, và việc ứng dụng Basel II trong QTRRTD của hệ thống NHTM nói chung và Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Á nói riêng trong năm 2010 sẽ đem đến cái nhìn tổng quát về hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong tình hình hội nhập kinh tế thế giới theo tinh thần Hiệp ước Basel II Qua đó đề xuất một số giải pháp nâng cao khả năng ứng dụng Basel II trong QTRRTD, từ đó nâng cao hiệu quả QTRRTD của các NHTM trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay

7 Kết cấu nội dung nghiên cứu

Chương 1: Tổng quan lý luận về QTRRTD theo Basel II trong NHTM Chương 2: Thực trạng ứng dụng Basel II trong QTRRTD tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Á – Phòng giao dịch Tân Hiệp

Chương 3: Giải pháp nâng cao khả năng ứng dụng Basel II trong

QTRRTD tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Á – Phòng giao dịch Tân Hiệp

Trang 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO BASEL II TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Lý luận về RRTD trong hoạt động của NHTM

1.1.1 Khái niệm tín dụng

Tín dụng là một thuật ngữ có gốc từ tiếng La Tinh là: Creditum, mang ý nghĩa “tin tưởng, tín nhiệm” Trong Tiếng Anh đó là “Credit” và theo Tiếng Việt diễn giải đó là sự vay mượn [13]

Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định dựa trên nguyên tắc có sự hoàn trả cả vốn và lãi theo thời hạn đã thỏa thuận [13]

Cho vay vốn

Chủ thể cho vay Chủ thể đi vay

(Lender) Hoàn trả vốn và lãi (Borrower)

Sơ đồ 1.1 Định nghĩa tín dụng [13]

(Nguồn: Đoàn Thị Hồng Nga, Nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng Ngân

hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh 7 TPHCM) [13]

Bài nghiên cứu này chúng ta chỉ xem xét tín dụng của NHTM và tín dụng trong hoạt động của một ngân hàng được định nghĩa như sau:

Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ NH cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định [11]

Cũng như quan hệ TD khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung: [11]

¾ Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng; [11]

¾ Sự chuyển nhượng này có thời hạn hay mang tính tạm thời; [11]

¾ Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí [11]

1.1.2 Rủi ro tín dụng

1.1.2.1 Khái niệm RRTD

Theo điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để

xử lý RRTD trong hoạt động NH của TCTD (ban hành theo Quyết định

Trang 6

493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN) thì “RRTD trong hoạt động NH của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động NH

do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” [15]

Nói cách khác, RRTD là rủi ro phát sinh khi khách hàng không thực hiện đúng các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng TD sau khi được NH cấp TD

1.1.2.2 Phân loại RRTD

Theo nguyên nhân dẫn đến RRTD thì RRTD được phân loại theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.2 Phân loại RRTD [4]

(Nguồn: Trần Tiến Chương, Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân

hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam) [4]

Theo như sơ đồ thì RRTD được phân thành hai loại chính: Rủi ro giao dịch

và rủi ro danh mục

Rủi ro giao dịch: Là rủi ro phát sinh trong quá trình ngân hàng cấp TD cho

khách hàng Nó bao gồm các rủi ro sau:

• Rủi ro lựa chọn: Xuất phát từ những sai sót trong các khâu về thẩm

định, xét duyệt hồ sơ cấp TD cho khách hàng

• Rủi ro bảo đảm: Là loại rủi ro liên quan đến những điều khoản đảm

bảo và cam kết trong hợp đồng TD có chỗ chưa rõ ràng hoặc sơ hở làm cho ngân hàng không thu hồi được khoản TD đã cấp đúng như mong đợi

Rủi ro tín dụng

Rủi ro giao dịch

Rủi ro danh mục

Rủi ro lựa

chọn

Rủi ro bảo đảm

Rủi ro nghiệp vụ

Rủi ro nội tại

Rủi ro tập trung

Trang 7

• Rủi ro nghiệp vụ: Phát sinh từ việc thiếu quản lý, giám sát khoản TD đã

cấp, để cho người đi vay sử dụng khoản TD đã cấp không đúng như cam kết dẫn đến làm ăn thua lỗ và mất khả năng hoàn trả

Tiếp đến là rủi ro danh mục, đây là rủi ro xuất phát từ những hạn chế trong

việc quản lý nhiều khoản TD kết hợp với nhau trong danh mục TD của ngân hàng

Nó bao gồm hai loại rủi ro là: Rủi ro nội tại và rủi ro tập trung

• Rủi ro nội tại là rủi ro liên quan đến những đặc điểm riêng có của từng

loại TD như là: Cho vay tín chấp hay thế chấp, thời hạn vay dài hay ngắn, lĩnh vực hoạt động của khoản TD được cấp

• Rủi ro tập trung xuất hiện khi ngân hàng thiếu sự đa dạng trong hoạt

động cấp TD như chỉ tập trung cấp TD có các khách hàng hoạt động trong cùng lĩnh vực, cấp TD với lãi suất cao, … tất cả những điều này một khi có sự biến động không tốt xảy ra thì danh mục TD của ngân hàng sẽ bị tác động toàn bộ do mang tính tập trung nên hiệu ứng sẽ xảy ra cùng lúc

1.1.3 Nguồn gốc phát sinh RRTD trong NHTM

và lãi cho ngân hàng

1.1.3.2 Từ phía ngân hàng

Trang 8

Ngân hàng dù luôn mong muốn hạn chế đến mức thấp nhất mọi RRTD nhưng cũng chính trong bản thân chủ thể này vẫn tồn tại một số yếu tố tiềm ẩn có thể gây ra RRTD như sau:

Quy trình TD của ngân hàng còn bộc lộ nhiều sai sót đặc biệt là ở khâu thẩm định Các quyết định sai lầm ở khâu này sẽ dẫn đến việc cấp TD cho những dự án không khả thi, rủi ro cao hay cấp TD cho những khách hàng có lịch sử trả nợ không tốt, có tài sản đảm bảo không đáng giá, không hợp pháp, nằm trong diện tranh chấp,

… từ đó làm cho RRTD cao, việc thu hồi nợ trở nên khó khăn

Hiện nay việc lập hồ sơ, đánh giá để xét duyệt cấp TD là ở cán bộ TD nên RRTD xuất phát từ đối tượng này là cao hơn bao giờ hết khi mà các cán bộ TD có

tư cách đạo đức không tốt, trục lợi cá nhân hoặc chuyên môn nghiệp vụ còn yếu kém thì tất yếu việc cấp những khoản TD xấu sẽ không tránh khỏi

Sau khi đã cấp TD, nếu ngân hàng không giám sát để cho khách hàng sử dụng vốn vay không đúng như mục đích đã cam kết thì sẽ dẫn đến thất thoát vốn thậm chí mất khả năng hoàn trả

RRTD còn phát sinh do chính sách TD không hợp lý của ngân hàng Khi áp dụng chính sách thắt chặt, NH chỉ tập trung cấp TD cho một số lĩnh vực hoạt động hay những dự án có tỷ suất sinh lợi cao như: Bất động sản, chứng khoán, … mà lợi nhuận càng nhiều thì rủi ro sẽ càng cao Do đó RRTD của ngân hàng cũng tăng lên Ngược lại, với chính sách TD mở rộng thực hiện trong tình hình cạnh tranh gay gắt

sẽ dẫn đến việc cấp TD quá dễ dàng có khi là liều lĩnh Vì thế nếu có nhiều khoản

nợ không thể thu hồi khi thực hiện chính sách này thì đó là điều tất yếu

1.1.3.3 Một số nguyên nhân mang tính khách quan khác

Tác động của môi trường vĩ mô: Giá cả, cung cầu hàng hóa, … làm cho kế

hoạch kinh doanh của doanh nghiệp không được như mong đợi, từ đó lợi nhuận của doanh nghiệp có nguy cơ giảm xuống và thậm chí là thua lỗ

Về phía khách hàng cá nhân, khi giá cả tăng lên dẫn đến chi phí sinh hoạt ngày càng cao hơn so với các khoản thu nhập nên việc trả nợ trở nên khó khăn hơn

Trang 9

Chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh: Khi chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh xảy

ra thì không một cá nhân hay tổ chức nào có thể tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh Điển hình gần đây nhất đó là khi đại dịch H1N1 bùng nổ trên toàn cầu vào năm 2010 thì Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) yêu cầu phong tỏa, tạm ngưng hoạt động bất cứ đơn vị nào phát hiện có dịch để kiểm tra phòng ngừa dịch bệnh lan rộng Trong tình hình như vậy thì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

sẽ bị đình trệ nên khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng cũng bị ảnh hưởng

An ninh, chính trị quốc gia: Hoạt động trong một quốc gia mất an ninh xã

hội, bất ổn về chính trị thì RRTD của ngân hàng là vô cùng lớn Vì sau khi được cấp

TD thì khách hàng khó có thể làm ăn, kinh doanh thuận lợi trong tình hình thiếu an ninh và bất ổn về chính trị, như vậy thu nhập và lợi nhuận sẽ không ổn định dẫn đến việc thanh toán lãi và nợ gốc cho ngân hàng cũng khó đảm bảo đúng như cam kết

trong hợp đồng TD

Môi trường pháp lý: Đây là một nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng tới khả

năng phát sinh nợ quá hạn Hệ thống pháp luật quốc gia với các bộ luật và văn bản dưới luật chưa được đầy đủ và đồng bộ, không đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các hợp đồng kinh tế, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến rủi ro trong sản

xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, gây nên các khoản nợ quá hạn cho NH [30]

Nói chung các nguyên nhân khách quan gây ra RRTD là những nguyên nhân nằm ngoài tầm kiểm soát của cả khách hàng lẫn ngân hàng, nên cho dù ngân hàng

có các biện pháp phòng chống RRTD tuyệt vời, khách hàng có thiện chí trả nợ thì ngân hàng cũng khó có thể thu hồi được khoản TD đã cấp như mong muốn

1.1.4 Tác động của RRTD

RRTD luôn tồn tại trong mọi nghiệp vụ cấp TD của NHTM mà tác động của

nó không chỉ trong nội bộ của mỗi NHTM mà nó còn có tính lan truyền trong cả hệ thống NH và thậm chí là ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của một quốc gia

1.1.4.1 Đối với hoạt động của NHTM

Như ta đã biết, NHTM hoạt động theo nguyên tắc “đi vay để cho vay”, vốn cho vay chủ yếu dựa trên nguồn vốn ngân hàng huy động được và lãi suất cho vay

Trang 10

phải lớn hơn lãi suất huy động thì hoạt động kinh doanh của ngân hàng mới đảm bảo an toàn và có hiệu quả Các khoản nợ quá hạn một mặt làm kéo dài thời hạn các khoản TD, mặt khác có khả năng dẫn đến làm mất vốn của các NHTM làm cho các NHTM rơi vào tình thế không đảm bảo khả năng hoàn trả vốn cho người gửi tiền Tình trạng mất khả năng thanh toán tạm thời có thể làm giảm uy tín của ngân hàng một cách nghiêm trọng, đánh mất lòng tin của người gửi tiền đối với ngân hàng Những người gửi tiền đồng loạt đòi rút tiền đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản Các khoản nợ quá hạn luôn chứa đựng khả năng không thu hồi được vốn (một phần hoặc toàn bộ) và đặt NHTM trước tình trạng mất vốn [13]

1.1.4.2 Đối với hệ thống NHTM

Hoạt động của một ngân hàng trong một quốc gia có liên quan đến hệ thống ngân hàng và các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân trong nền kinh tế Do vậy nếu một ngân hàng có kết quả hoạt động xấu, thậm chí dẫn đến mất khả năng thanh toán

và phá sản thì sẽ có những tác động dây chuyền ảnh hưởng xấu các ngân hàng và các bộ phận kinh tế khác Nếu không có sự can thiệp kịp thời của NHNN và Chính phủ thì tâm lý sợ mất tiền sẽ lây lan đến toàn bộ người gửi tiền và họ sẽ đồng loạt rút tiền tại các NHTM làm cho các ngân hàng khác vô hình chung cũng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.[4]

1.1.4.3 Đối với nền kinh tế

Ở mức độ trầm trọng, nợ quá hạn không chỉ làm cho một NHTM bị mất vốn, mất khả năng thanh toán, đi đến phá sản ngân hàng mà còn kéo theo sự chao đảo của một loạt các NHTM khác trong hệ thống các ngân hàng Sự việc đó sẽ gây rối loạn quá trình lưu thông tiền tệ trong nước, giảm giá đồng nội tệ, dẫn đến đình trệ sản xuất kinh doanh, gây khủng hoảng kinh tế trầm trọng [13]

1.1.4.4 Trong quan hệ kinh tế quốc tế

Khi hệ thống ngân hàng của một quốc gia xảy ra sự cố về RRTD dẫn đến tính thanh khoản giảm Điều này sẽ làm xấu đi hình ảnh và uy tín trong các quan hệ hợp tác quốc tế của các NHTM trong nước và cũng như chính quốc gia đó

Trang 11

Tóm lại, RRTD của một ngân hàng xảy ra sẽ gây ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau: Nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi phải trích lập dự phòng, không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn gốc

và lãi vay, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay.[4]

1.1.5 Một số chỉ tiêu đánh giá RRTD

RRTD là rủi ro không thu hồi được lãi và gốc của các khoản TD đã cấp cho khách hàng Vì thế các chỉ tiêu đánh giá RRTD chủ yếu ghi nhận từ các khoản nợ quá hạn, nợ xấu Do đó, chúng ta cần nắm rõ cách phân loại nợ của một NHTM theo quy định của Ngân hàng Nhà Nước (phụ lục 1) để hiểu được một số chỉ tiêu đánh giá RRTD như sau:

1.1.5.1 Tỷ lệ nợ quá hạn

Nợ quá hạn là thước đo quan trọng nhất đánh giá sự lành mạnh thể chế Nó tác động tới tất cả các lĩnh vực hoạt động chính của ngân hàng Cách xác định chỉ tiêu này với kết quả thấp sẽ chứng tỏ các khoản TD của ngân hàng đảm bảo chất lượng, mức rủi ro trong việc cấp TD của ngân hàng là thấp Ngược lại, nếu tỷ lệ này cao thể hiện khả năng sử dụng đồng vốn của ngân hàng thấp [8]

Trang 12

Dự phòng RRTD được trích lập

Tỷ lệ dự phòng

Mất vốn đã xóa cho kỳ báo cáo

Tỷ lệ mất vốn =

Dư nợ trung bình cho kỳ báo cáo x100% [8]

1.1.5.4 Tỷ lệ nợ xấu

Nợ xấu là những khoản nợ có số ngày quá hạn hơn 90 ngày như các khoản

nợ ở nhóm 3, 4, 5 và có một số đặc điểm cơ bản sau:

• Các cam kết về hoàn trả khoản TD đã cấp của ngân hàng cho khách hàng đã quá hạn nhưng vẫn chưa được thực hiện

• Ngân hàng có nguy cơ không thu hồi được vốn gốc và lãi do tình hình tài chính của khách hàng đang có chiều hướng xấu đi

• Giá trị của các tài sản đảm bảo khi phát mãi không đủ bù đắp cho vốn gốc

Trang 13

1.2.1.1 Khái niệm

Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có

hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro.[5]

1.2.1.2 Vai trò quản trị rủi ro trong ngân hàng thương mại

Quản trị rủi ro tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh của ngân hàng: Trong quản trị ngân hàng, quản trị rủi ro là một nội dung quan trọng mà các cấp lãnh đạo, quản lý, điều hành phải đặc biệt quan tâm Vì vậy, những nhà quản trị ngân hàng cần được trang bị các kiến thức về quản trị rủi ro, cung cấp những thông tin kinh tế cập nhật, có đội ngũ tham mưu chuyên nghiệp và

bộ máy kiểm tra, kiểm soát và kiểm toán nội bộ hiệu quả là điều kiện cần thiết để phòng ngừa, hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh doanh Theo đó, nhiều ý kiến khẳng định: “Quản trị rủi ro là nghiệp vụ chủ đạo và là thước đo năng lực “sống” hay là “chết” của một ngân hàng” Việc báo cáo kịp thời, theo đúng yêu cầu về rủi

ro là công cụ hồ trợ đắc lực cho công tác kiểm tra, kiểm soát đồng thời thông qua báo cáo lãnh đạo ngân hàng sẽ phát hiện được những dấu hiệu của các loại rủi ro có nguy cơ xảy ra trong hoạt động nhằm ngăn chặn và kiểm soát kịp thời.[10]

1.2.2 Quản trị RRTD trong ngân hàng thương mại

1.2.2.1 Khái niệm quản trị RRTD

Quản trị RRTD trong NHTM là quá trình ngân hàng tác động đến hoạt động

TD thông qua bộ máy và công cụ quản lý để phòng ngừa, cảnh báo, đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế đến mức tối đa việc không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay hoặc thu gốc và lãi không đúng hạn.[13]

1.2.2.2 Chức năng quản trị RRTD

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, trong hoạt động của các NHTM thì tín dụng đóng một vai trò vô cùng quan trọng trên cả hai phương diện: Quy mô sử dụng vốn và khả năng tạo ra lợi nhuận Ở phương diện sử dụng vốn thì đa phần các NHTM đều có tín dụng chiếm khoảng 70% trên tổng tài sản có Do đó lợi nhuận và rủi ro từ hoạt động này là cao nhất mà một NHTM phải đối mặt [33]

Trang 14

Trong nền kinh tế thị trường, khi nhắc đến TD thì tất cả mọi người kể cả các nhà kinh tế đều đề cập đến vai trò to lớn của TD đó là: Tín dụng là một kênh dẫn vốn từ người thừa vốn chưa có nhu cầu sử dụng đến người đang có nhu cầu sử dụng vốn Theo đó, người cho vay sẽ thu được lãi, người sử dụng cuối cùng số vốn

đó sẽ tạo ra lợi nhuận, nền kinh tế sẽ tạo ra được thêm việc làm Từ các hệ quả trên,

ta thấy TD đã góp phần ổn định và phát triển nền kinh tế và có thể coi đây như là mạch máu của một cơ thể sống Nhưng chính hoạt động TD luôn tiềm ẩn nhiều rủi

ro mà hệ quả của nó gây ra cho nền kinh tế là vô cùng to lớn [33]

Như vậy, quản trị RRTD tốt đồng nghĩa với quản trị tốt hoạt động của chính ngân hàng đó, cũng như duy trì sự vận hành của hệ thống NHTM trong nước, góp phần ổn định và phát triển kinh tế quốc gia

™ Tài sản thế chấp: Tài sản thế chấp là lựa chọn hàng đầu của ngân hàng khi RRTD xảy ra

™ Đa dạng hóa danh mục đầu tư: Muốn giảm thiểu được các rủi ro nói chung và RRTD nói riêng thì việc đa dạng hóa đầu tư là cần thiết Vì khi có biến động nào đó xảy ra thì sẽ chỉ tác động đến những khoản TD có liên quan và số còn lại có thể vẫn an toàn và hỗ trợ cho phần thiệt hại

1.2.2.4 Đo lường RRTD [4]

Trang 15

Trên thực tế có thể sử dụng nhiều mô hình khác nhau để đo lường RRTD Các mô hình này rất đa dạng bao gồm mô hình định tính và mô hình định lượng (phụ lục 2)

Sơ đồ 1.3 Các mô hình đo lường RRTD [4]

(Nguồn: Trần Tiến Chương, Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân

hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam) [4]

1.3 Basel II với việc quản trị RRTD trong hoạt động của NHTM

1.3.1 Giới thiệu chung về Hiệp ước Basel [29]

Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision – BCBS) được thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập

kỷ 80 Hiện nay, các thành viên của Ủy ban gồm đại diện Ngân hàng Trung ương hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của các nước: Anh, Bỉ, Canada, Đức, Hà Lan, Hoa Kỳ, Luxembourg, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ và Ý

Ủy ban được nhóm họp 4 lần trong một năm

Vào năm 1988, Ủy ban đã quyết định giới thiệu hệ thống đo lường vốn mà

nó được đề cập như là Hiệp ước vốn Basel (the Basel Capital Accord) hay Basel I

Hệ thống này cung cấp khung đo lường RRTD với tiêu chuẩn vốn tối thiểu 8% Basel I không chỉ được phổ biến trong các quốc gia thành viên mà còn được phổ

Trang 16

biến ở hầu hết các nước khác có các ngân hàng hoạt động quốc tế Đến năm 1996, Basel I được sửa đổi với rất nhiều điểm mới Tuy vậy, Hiệp ước vẫn có khá nhiều điểm hạn chế

Để khắc phục những hạn chế của Basel I, tháng 6/1999, Uỷ ban Basel đã đề

xuất khung đo lường mới với 3 trụ cột chính: (i) yêu cầu vốn tối thiểu trên cơ sở kế thừa Basel I; (ii) sự xem xét giám sát của quá trình đánh giá nội bộ và sự đủ vốn của các tổ chức tài chính; (iii) sử dụng hiệu quả của việc công bố thông tin nhằm làm

lành mạnh kỷ luật thị trường như là một sự bổ sung cho các nỗ lực giám sát Đến ngày 26/6/2004, bản Hiệp ước quốc tế về vốn Basel mới (Basel II) đã chính thức được ban hành

1.3.2 Nội dung cơ bản của Basel I trong quản trị rủi ro của NHTM [6]

Theo quy định của Basel I, các ngân hàng cần xác định được tỷ lệ vốn tối thiểu (Capital Adequacy Ratio – CAR) đạt tối thiểu 8% để bù đắp cho rủi ro, đây là biện pháp dự phòng bắt buộc nhằm đảm bảo rằng các ngân hàng có khả năng khắc phục tổn thất mà không ảnh hưởng đến lợi ích của người gửi tiền

Hệ số CAR được tính như sau:

Tổng vốn

Tỷ lệ vốn tối thiểu (CAR) = Tài sản có rủi ro (RWA) [6]

Tổng vốn của ngân hàng được chia làm hai loại:

♦ Vốn cấp 1 – vốn tự có cơ bản: Bao gồm cổ phần thường, cổ phần ưu đãi dài hạn, thặng dư vốn, lợi nhuận không chia, dự phòng chung các khoản dự trữ vốn khác, các phương tiện ủy thác có thể chuyển đổi và dự phòng lỗ TD Đó chính

là phần vốn điều lệ và các quỹ dự trữ được công bố

♦ Vốn cấp 2 – vốn tự có bổ sung: Vốn này được xem là vốn có chất lượng thấp hơn, bao gồm: Dự trữ không được công bố, dự trữ tài sản đánh giá lại,

dự phòng chung/dự phòng tổn thất cho vay chung, các công cụ vốn (nợ/vốn chủ sở hữu), nợ thứ cấp Tuy nhiên, các khoản nợ ngắn hạn không có bảo đảm không bao gồm trong định nghĩa về vốn này

Các giới hạn: Tổng vốn cấp 2 không được quá 100% vốn cấp 1; nợ thứ cấp tối đa bằng 50% vốn cấp 1; dự phòng chung tối đa bằng 1.25% tài sản có rủi ro; dự

Trang 17

trữ tài sản đánh giá lại được chiết khấu 55%; thời gian đáo hạn còn lại của nợ thứ cấp tối thiểu là 5 năm; vốn ngân hàng không bao gồm vốn vô hình (goodwill)

Tài sản có rủi ro (RWA): Basel I mới chỉ đề cập đến RRTD, và tùy theo mỗi loại tài sản sẽ được gắn cho một hệ số rủi ro

Phương trình tính tài sản có rủi ro trong Basel I:

RWA Basel I = tài sản * hệ số rủi ro [6]

Theo Basel I, hệ số rủi ro của tài sản có rủi ro được chia thành 4 mức là: 0%, 20%, 50%, và 100% theo mức độ rủi ro của từng loại tài sản (phụ lục 3)

Theo biến đổi của thị trường, năm 1996, Hiệp ước Basel I được sửa đổi có tính đến rủi ro thị trường và rủi ro thị trường có thể được tính theo hai phương pháp: Bằng mô hình Basel hoặc bằng các mô hình nội bộ của các ngân hàng

Nhìn chung, Basel I đã thể hiện một bước đột phá cơ bản liên quan đến tỷ lệ

an toàn vốn trong hoạt động ngân hàng Basel I phân loại tài sản có rủi ro và xác định hệ số rủi ro cho từng loại tài sản, quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% tính trên tổng tài sản điều chỉnh theo rủi ro

1.3.3 Nội dung cơ bản của Basel II trong quản trị rủi ro của NHTM [6]

Mặc dù Basel I đã giúp quản trị ngân hàng hiệu quả hơn, đảm bảo khả năng chống đỡ của ngân hàng với rủi ro tốt hơn Tuy nhiên, qua quá trình dài áp dụng với

xu thế phát triển như vũ bão của hệ thống ngân hàng trên thế giới thì Basel I với bản sửa đổi năm 1996 vẫn có khá nhiều điểm hạn chế như: Phân loại rủi ro chưa chi tiết cho các khoản vay, chưa tính đến lợi ích của đa dạng hóa hoạt động, chỉ mới đề cập đến RRTD và chưa đầy đủ về rủi ro thị trường, một số các quy tắc do Basel I đưa ra không thể vận dụng trong trường hợp ngân hàng sáp nhập hay tập đoàn ngân hàng, ngân hàng mẹ, ngân hàng – chi nhánh

Nhằm khắc phục các hạn chế của Basel I và khuyến khích các ngân hàng thực hiện các phương án quản lý rủi ro tiên tiến hơn, cho đến 2004 bản Hiệp ước quốc tế về vốn Basel II đã chính thức được ban hành Ngày hiệu lực của Hiệp ước Basel II là tháng 12 năm 2006

Trang 18

Basel II tạo một bước hoàn thiện hơn trong xác định tỷ lệ an toàn vốn nhằm khắc phục các hạn chế của Basel I và khuyến khích các ngân hàng thực hiện các phương pháp quản lý rủi ro tiên tiến hơn Basel II đưa ra một loạt các phương án lựa chọn, cho phép quyền tự quyết rất lớn trong giám sát hoạt động ngân hàng Basel II bao gồm một loạt các chuẩn mực giám sát nhằm hoàn thiện các kỹ thuật quản lý rủi

ro và được cấu trúc theo 3 trụ cột sau:

1.3.3.1 Trụ cột 1 của Basel II – yêu cầu vốn tối thiểu [6]

Tương tự như Basel I, Basel II vẫn quy định mức vốn an toàn (CAR) ≥ 8%, được xác định bằng cách lấy tổng vốn chia cho tài sản có rủi ro

Phương trình tính vốn yêu cầu tối thiểu theo Basel II

Tổng vốn: Xác định tương tự như Basel I

Tài sản có rủi ro (RWA): Ngoài RRTD và rủi ro thị trường đã được quy định tại Basel I, Basel II bổ sung thêm một loại rủi ro nữa là rủi ro hoạt động Ngoài ra, cách tính RWA trong Basel II cũng phức tạp hơn so với Basel I, và có khả năng đánh giá chính xác hơn mức độ an toàn vốn:

™ RWA Basel I = tài sản * hệ số rủi ro (không đề cập đến xếp hạng tín dụng)

™ RWA RRTD phương pháp chuẩn Basel II = tài sản * hệ số rủi ro (đề cập đến xếp hạng TD)

™ RWA Basel II = vốn yêu cầu tối thiểu đối với từng rủi ro (K) * 12.5

1.3.3.2 Trụ cột 2 của Basel II – thanh tra, giám sát ngân hàng [6]

Đưa ra các nguyên tắc chủ chốt của việc kiểm tra, giám sát

Đề cập đến các vấn đề cụ thể phải được quan tâm trong quá trình kiểm tra giám sát: Rủi ro lãi suất trong sổ ngân hàng, RRTD, rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường

Các hướng khác của quá trình kiểm tra giám sát: Tính minh bạch giám sát, thông tin liên lạc và sự hợp tác tăng cường qua biên giới

Tỷ lệ vốn tối thiểu = Tổng vốn (giống Basel I)

RWA rủi ro tín dụng + (K rủi ro hoạt động * 12.5) + (K rủi ro thị trường* 12.5) ≥ 8% [6]

Trang 19

Với trụ cột này, Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc chủ chốt của công tác kiểm tra, giám sát:

• Nguyên tắc 1: Các ngân hàng cần có một quy trình đánh giá mức độ vốn nội bộ theo danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược duy trì mức vốn của họ Trong nội dung này, quản lý ngân hàng phải gánh trách nhiệm cơ bản đối với việc khẳng định rằng ngân hàng có vốn đủ để hỗ trợ các rủi ro xảy ra Quá trình quản lý rủi ro ngân hàng bao gồm các nội dung sau: Giám sát quản lý của ban giám đốc và cấp cao; đánh giá vốn chắc chắn; đánh giá về rủi ro toàn diện, thanh tra và báo cáo; kiểm tra kiểm soát nội bộ

• Nguyên tắc 2: Các tổ chức giám sát cần rà soát, kiểm tra và đánh giá lại quy trình đánh giá về yêu cầu vốn nội bộ và chiến lược của ngân hàng, cũng như khả năng của họ để thanh tra và khẳng định sự tuân thủ tỷ lệ vốn tối thiểu Các tổ chức giám sát cần thực hiện hành động giám sát phù hợp nếu các ngân hàng không hài lòng với kết quả của quy trình này Các tổ chức giám sát cần kiểm tra các nội dung sau: Kiểm tra tính đầy đủ vốn của các đánh giá rủi ro, đánh giá về tính đầy đủ vốn, đánh giá về môi trường kiểm soát, kiểm tra giám sát về sự tuân thủ các tiêu chuẩn tối thiểu, đáp ứng giám sát

• Nguyên tắc 3: Các tổ chức giám sát cần kỳ vọng các ngân hàng hoạt động trên các tỷ lệ vốn yêu cầu tối thiểu và khuyến nghị ngân hàng cần duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định

• Nguyên tắc 4: Các tổ chức giám sát sẽ tìm cách thâm nhập vào những giai đoạn đầu tiên để ngăn cản mức vốn giảm xuống dưới mức tối thiểu, và có thể yêu cầu sửa đổi ngay lập tức nếu mức vốn không được duy trì trên mức tối thiểu

1.3.3.3 Trụ cột 3 của Basel II – nguyên tắc thị trường và minh bạch thông tin [6]

Trong trụ cột 3, ủy ban Basel II đưa ra nguyên tắc minh bạch chung: Các ngân hàng cần có chính sách về tính minh bạch được hội đồng quản trị thông qua Chính sách này phải thể hiện rõ cách tiếp cận của ngân hàng đối với việc xác định

sự minh bạch nào và kiểm soát nội bộ nào sẽ thực hiện theo quá trình minh bạch;

Trang 20

thể hiện rõ các mục tiêu và chiến lược dành cho việc công khai hóa các thông tin về thực trạng tài chính và hoạt động ngân hàng

Ngoài ra, các ngân hàng cũng phải xây dựng kế hoạch thực hiện công khai tài chính bao gồm cả chu kỳ công bố Đó là công khai cơ cấu vốn, công khai cơ cấu rủi ro và các đánh giá rủi ro, công khai hiện trạng phù hợp vốn

Điều này cho phép các bên tham gia thị trường có thể thẩm định mức vốn an toàn và có sự so sánh Các ngân hàng phải có chính sách công khai rõ ràng và một quy trình để đánh giá sự chính xác trong các báo cáo của họ Đối với từng loại rủi ro riêng biệt, các ngân hàng phải mô tả các mục tiêu và các chính sách quản trị rủi ro

Như vậy, từ một văn bản 30 trang (Basel I) đã được phát triển thành một văn bản gần 250 trang là một sự xây dựng chi tiết Với quá trình phát triển của Basel và những Hiệp ước mà tổ chức này đưa ra, nếu áp dụng đúng các tiêu chuẩn này thì việc đánh giá sức khỏe của các ngân hàng nói riêng, các tổ chức tài chính nói chung

sẽ trở nên dễ dàng và minh bạch hơn, đảm bảo phòng ngừa nhiều loại rủi ro hơn

1.3.4 Phương pháp xác định RRTD Basel II

Theo Basel II, để đo lường và tính toán hệ số rủi ro đối với các khoản mục tài sản trong QTRRTD có 2 phương pháp cơ bản đó là: Phương pháp chuẩn (Standardized) và phương pháp xếp hạng nội bộ (IRB)

1.3.4.1 Phương pháp chuẩn đánh giá RRTD [6]

Theo phương pháp chuẩn, tài sản có rủi ro được xác định như sau:

RWA Phương pháp chuẩn của Basel II = Tài sản * Hệ số rủi ro

Phương pháp này gần giống như ở Basel I, nhưng có một số điểm khác biệt:

¾ Basel I không đề cập đến xếp hạng TD, các khoản cho vay tương ứng với từng hệ số rủi ro

¾ Basel II đề cập đến xếp hạng TD, không áp đặt hệ số rủi ro rõ ràng cho từng khoản mục mà còn tùy thuộc vào việc khoản mục đó được thực hiện với chủ thể nào, uy tín và xếp hạng TD của chủ thể Việc xếp trọng số bao nhiêu tùy thuộc mức độ tín nhiệm (xếp hạng TD) của chủ nợ (từ AAA đến dưới B- và không xếp hạng) do các cơ quan xếp hạng tín nhiệm quy định như S&P

[6]

Trang 21

¾ Điểm khác biệt nữa trong Basel II là nợ được chia thành 5 nhóm có thêm hệ số 150% Trọng số lần lượt là: 0%, 20%, 50%, 100% và 150% (phụ lục 4)

1.3.4.2 Phương pháp xếp hạng nội bộ (IRB) [6]

Sơ đồ 1.4 Cấu trúc cơ bản của phương pháp IRB [6]

(Nguồn: Chu Thị Hương Giang, Ứng dụng Hiệp Ước Basel II vào hệ thống quản trị

rủi ro tại các NHTM Việt Nam) [6]

Xác suất vỡ nợ (PD – probability of default): Đo lường khả năng xảy ra rủi ro TD tương ứng trong một khoảng thời gian, thường là một năm Cơ sở để tính

PD là các số liệu về các khoản nợ trong quá khứ của khách hàng, gồm các khoản nợ

đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được

Theo yêu cầu của Basel II, để tính toán được nợ trong vòng một năm của khách hàng, ngân hàng phải căn cứ vào số liệu dư nợ của khách hàng trong vòng ít nhất là 5 năm trước đó Những dữ liệu được phân theo 3 nhóm sau:

Nhóm dữ liệu tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của khách hàng cũng như các đánh giá của các tổ chức xếp hạng

Nhóm dữ liệu định tính phi tài chính liên quan đến trình độ quản lý, khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, các dữ liệu về khả năng tăng trưởng của ngành

Trang 22

Những dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến các hiện tượng báo hiệu khả năng không trả được nợ cho ngân hàng như số dư tiền gửi, hạn mức thấu

chi, … rồi từ những dữ liệu trên, ngân hàng nhập vào một mô hình định sẵn, từ đó

tính được xác suất không trả được nợ của khách hàng Đó có thể là mô hình tuyến

tính, mô hình propit, … và thường được xây dựng bởi các tổ chức tư vấn chuyên

nghiệp

Thiệt hại do vỡ nợ (LGD – loss given default): Đây là tỷ trọng phần vốn

bị tổn thất trên tổng dư nợ tại thời điểm khách hàng không trả được nợ LGD không

chỉ bao gồm tổn thất về khoản vay mà còn bao gồm các tổn thất khác phát sinh khi

khách hàng không trả được nợ, đó là lãi suất đến hạn nhưng không được thanh toán

và các chi phí hành chính có thể phát sinh như: Chi phí xử lý tài sản thế chấp, các

chi phí cho dịch vụ pháp lý và một số chi phí liên quan

Trong phương pháp IRB cơ bản thì đối với các khoản phải đòi chính đối với

các công ty, cơ quan Chính phủ và các ngân hàng không có tài sản đảm bảo sẽ được

chỉ định giá trị LGD là 45%, nếu là các khoản phải đòi phụ đối với các tổ chức trên

sẽ được chỉ định là 75% Đối với các khoản phải đòi có tài sản đảm bảo là khoản

phải thu, bất động sản thương mại (CRE) và bất động sản cư trú (RRE) và các tài

sản đảm bảo khác được vận dụng phương pháp chuẩn với giá trị LGD tối thiểu sau:

Bảng 1.1 Giá trị LGD tối thiểu đối với tỷ trọng đảm bảo các hoạt động chính

Loại tài sản đảm bảo

LGD tối thiểu

Mức độ đảm bảo tối thiểu yêu cầu đối với hoạt động (C)

Mức độ đảm bảo yêu cầu vượt quá đối với LGD đầy đủ (C) Tài sản tài chính đủ tiêu chuẩn 0% 0% Chưa quy định

(Nguồn:International Convergence of Capital Measurement & Capital Standards) [34]

Còn trong phương pháp IRB nâng cao thì việc ước tính LGDs có thể phản

ánh hiệu quả tác động giảm thiểu rủi ro của hoạt động bảo lãnh và các sản phẩm tín

Trang 23

dụng phái sinh thông qua điều chỉnh PD hoặc LGD LGD phải được tính theo tỷ lệ phần trăm phần thiệt hại do vỡ nợ so với EAD

Giá trị hoạt động khi vỡ nợ (EAD – exposure at default): Tổng dư nợ của

khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ

Kỳ đáo hạn hiệu dụng (M – effective maturity): Khi các ngân hàng sử

dụng phương pháp IRB cơ bản thì M sẽ là 2.5 năm trừ các giao dịch repo với M chỉ

là 6 tháng Cơ quan giám sát quốc gia có thể lựa chọn mức yêu cầu trong phạm vi quyền hạn của mình (đối với những ngân hàng sử dụng cả IRB cơ bản và nâng cao)

để đo lường M theo công thức dưới đây Tuy nhiên, M không được lớn hơn 5 năm Nếu các ngân hàng sử dụng IRB nâng cao, thì M cần được tính toán cho từng công

cụ theo công thức Nếu muốn áp dụng cho các trường hợp ngoại lệ đặc biệt thì phải đảm bảo rằng các khoản phải đòi đối với hoạt động của các doanh nghiệp trong nước quy mô nhỏ có kỳ đáo hạn hiệu dụng trung bình là 2.5 năm giống như trong phương pháp IRB cơ bản

với CFt là ngân lưu hàng năm (gốc, lãi và phí) theo hợp đồng phải trả trong

kỳ hạn t Nếu ngân hàng không tính được M theo công thức thì sẽ sử dụng cách cổ điển khi tính M, đó là M bằng với thời gian đáo hạn tối đa còn lại (theo năm) mà người vay chấp nhận thanh toán toàn bộ theo nghĩa vụ hợp đồng vay (gốc, lãi và phí) Thông thường, đó chính là thời gian đáo hạn danh nghĩa của khoản vay hoặc các công cụ

Phương pháp IRB sẽ dựa trên việc đo lường những thiệt hại không mong đợi

(UL – unexpected losses) và các thiệt hại biết trước (EL – expected losses) Hàm

số hệ số rủi ro được sử dụng làm cơ sở tính toán nhu cầu vốn cần thiết cho tỷ trọng

các thiệt hại không mong đợi (UL):

Trang 24

f(M) =

b

b M

*5.11

*)5.2(1

−+

[6]

Trong đó b = (0.11852-0.05478*ln(PD))2

Mỗi ngân hàng cần tính tổng các phần thiệt hại có thể nhận biết trước cùng với giá trị hoạt động của mình Đối với khách hàng là doanh nghiệp, ngân hàng

khác, hoạt động bán lẻ và cơ quan Chính phủ, EL = PD x LGD Đối với các hoạt

động SL, EL được tính bằng cách lấy 8% x tài sản có rủi ro từ các hệ số rủi ro tương ứng

Ngoài ra, với phương pháp IRB này thì các ngân hàng cũng phải phân hạng tài sản trên sổ sách của mình theo nhiều loại khác nhau, với những tính chất đặc thù tùy theo từng nhóm khoản phải đòi đối với các chủ thể như như (a) doanh nghiệp, (b) chính quyền Nhà nước, (c) ngân hàng, (d) cá nhân, các khoản mục lẻ và (e) vốn Mỗi hạng tài sản này theo phân loại của IRB sẽ bao gồm ba nhân tố cơ bản:

Yếu tố rủi ro – ước tính biến số rủi ro của các ngân hàng hoặc cơ

quan giám sát

Hàm số về hệ số rủi ro – các phương tiện giúp thành tố rủi ro được

chuyển đổi thành tài sản có rủi ro và từ đó tính toán nhu cầu vốn

Yêu cầu tối thiểu – các chuẩn mực tối thiểu phải đạt đến đối với một

ngân hàng muốn áp dụng phương pháp IRB

Ủy ban đã cho phép các ngân hàng có hai sự lựa chọn khi áp dụng IRB, một

là phương pháp IRB cơ bản và hai là phương pháp IRB nâng cao Nếu sử dụng IRB

cơ bản, theo quy định chung, các ngân hàng tự ước tính PD và dựa trên ước tính của

cơ quan giám sát về các thành tố rủi ro khác Nếu sử dụng IRB nâng cao, ngân hàng

sẽ phải tự đưa ra ước tính cho tất cả thành tố rủi ro bao gồm PD, LGD và EAD, đồng thời tự tính toán biến số M, nhưng phải tuân theo các chuẩn mực tối thiểu Đối với cả hai phương pháp cơ bản và nâng cao, các ngân hàng phải luôn luôn sử dụng hàm số hệ số rủi ro theo quy định cụ thể của Hiệp ước

PD và LGD được đo bằng số thập phân hoặc tỷ lệ phần trăm, EAD được đo lường bằng đơn vị tiền tệ (ví dụ như EUR, USD)

Trang 25

Cách tính RWA đối với từng trường hợp cụ thể xem chi tiết tại phụ lục 5

1.4 Đánh giá tình hình QTRRTD theo Basel II của NHTM trên thế giới

1.4.1 Tình hình ứng dụng Basel II trên thế giới [6]

Trong cuộc khảo sát QIS 5, ủy ban Basel đã phân chia các ngân hàng được khảo sát thành 2 nhóm Trong đó, nhóm 1 là những ngân hàng có vốn cấp 1 từ 3 tỷ USD trở lên và hoạt động đa ngành, đa quốc gia và nhóm 2 là những ngân hàng có

vốn cấp 1 nhỏ hơn 3 tỷ USD

Biểu đồ 1.1 Ứng dụng các phương pháp đánh giá RRTD của Basel II ở nhóm 1

(Nguồn: Results of the fifth quanlitative impact study) [35]

Biểu đồ 1.2 Ứng dụng các phương pháp đánh giá RRTD của Basel II ở nhóm 2

(Nguồn: Results of the fifth quanlitative impact study) [35]

Theo kết quả khảo sát về việc ứng dụng các phương pháp của Hiệp ước Basel II trong đánh giá RRTD, nhận thấy các ngân hàng thuộc các quốc gia G10 chủ yếu ứng dụng các phương pháp xếp hạng nội bộ (trong đó các ngân hàng thuộc nhóm 1 chủ yếu ứng dụng phương pháp xếp hạng nội bộ nâng cao) Trong khi các ngân hàng có quy mô vốn nhỏ hơn 3 tỷ USD thuộc các quốc gia không nằm trong

Trang 26

nhóm các nước G10 lại chủ yếu ứng dụng phương pháp đơn giản (phương pháp chuẩn)

Như vậy, các quốc gia hiện nay đều có xu hướng ứng dụng Basel II trong quản trị rủi ro ngân hàng, nhưng chủ yếu ứng dụng các phương pháp đơn giản; còn những phương pháp phức tạp như phương pháp nâng cao chỉ được ứng dụng ở các ngân hàng có quy mô hoạt động lớn, đa ngành nghề, đa quốc gia

1.4.2 Thực tiễn ứng dụng Basel II tại châu Á [29]

Hầu hết các nhà quản lý ở Châu Á đều ủng hộ các mục tiêu chung của Basel

II và tin tưởng rằng khuôn khổ này sẽ đưa ra những khích lệ hơn nữa để cải thiện công tác quản lý rủi ro, cũng như các thay đổi khác nhằm bổ sung cho các mục tiêu giám sát của họ Việc thực thi Basel II ở một số nước Châu Á cụ thể như sau:

Bảng 1.2 Lộ trình ứng dụng Basel II trong đánh giá RRTD tại châu Á

Cách tiếp cận rủi ro tín dụng Quốc gia

SA IRBF IRBA Trung Quốc Không áp dụng Dự kiến Không áp dụng

Nhật Bản 01/04/2007 01/04/2008 Hàn Quốc 01/01/2008

Trang 27

là yêu cầu cấp thiết nhằm tăng cường năng lực hoạt động và giảm thiểu rủi ro đối với các NHTM

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương 1 đã cung cấp cho chúng ta những lý luận tổng quát về quản trị RRTD trong hoạt động của NHTM Đồng thời giới thiệu những nội dung cơ bản của Hiệp ước vốn Basel đặc biệt là Hiệp ước Basel II về các phương pháp quản trị rủi ro ở NHTM Trong đó những nội dung về quản trị RRTD của Basel II đã và đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng, mà theo như một số chuyên gia nhận định: “Basel II sắp tới sẽ không chỉ có nước phát triển áp dụng mà là cả các thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam sẽ phải thực hiện những quy định chung này

Do đó, cần thiết phải nghiên cứu các tư tưởng cơ bản của Basel II để có thể vận dụng đơn giản hơn nhưng vẫn hiệu quả cho hệ thống ngân hàng Việt Nam” [28]

Từ những cơ sở lý luận của chương 1, chúng ta sẽ đi vào thực tiễn quản trị RRTD của một NHTM (Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Á – Phòng giao dịch Tân Hiệp) để tìm hiểu về thực trạng quản trị RRTD và việc ứng dụng các nội dung của Basel II trong công tác này

Trang 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG BASEL II TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CỔ PHẦN ĐẠI Á – PHÒNG GIAO DỊCH TÂN HIỆP

2.1 Đặc điểm kinh tế – xã hội tỉnh Đồng Nai năm 2010

2.1.1 Khái quát chung [27]

Đồng Nai là tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, có diện tích 5.903.940 km2, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Thành phố Biên Hòa - là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của tỉnh; thị xã Long Khánh và 9 huyện: Long Thành; Nhơn Trạch; Trảng Bom; Thống Nhất; Cẩm Mỹ; Vĩnh Cửu; Xuân Lộc; Định Quán; Tân Phú

Là một tỉnh nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam, Đồng Nai tiếp giáp với các vùng sau: Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, Phía Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, Phía Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh, Phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước, Phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Đồng Nai là tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến giao thông huyết mạch chạy qua như: quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc - Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên

Dân số toàn tỉnh tính đến năm 2010 là 2.559.673 người Trong đó:

+ Phân theo khu vực thành thị - nông thôn là: Thành thị là: 855.703 người; nông thôn là 1.703.970 người

+ Phân theo giới tính: Nam: 1.270.120 người, chiếm 49,62%; nữ:1.289.554 người, chiếm 50,38%

Trang 29

2.1.2 Tình hình kinh tế – xã hội [26]

Dựa theo các phương hướng, nhiệm vụ đề ra trong năm 2010 của Ủy Ban

Nhân Dân tỉnh Đồng Nai về phát triển kinh tế - xã hội thúc đẩy sản xuất kinh doanh,

nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Kết thúc năm 2010 toàn tỉnh

đạt được kết quả như sau:

Bảng 2.1 Kết quả thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2010 tỉnh Đồng Nai

3 Tăng trưởng giá trị tăng thêm ngành dịch vụ - % 14.5 14.7

9 Tổng vốn đầu tư phát triển xã hội (Tỷ đồng) 31001 31884.7

10 Số người được giải quyết việc làm - người 85000 89240

Bên cạnh đó, trong 5 năm 2006 - 2010, đã phát triển thêm 11 khu công

nghiệp, nâng tổng số khu công nghiệp được thành lập trên địa bàn tỉnh lên 30 khu

với diện tích 9.573 ha Về phát triển các cụm công nghiệp, đến cuối năm 2010 toàn

tỉnh có 43 cụm công nghiệp được quy hoạch với tổng diện tích là 2143 ha trong đó

có 2 cụm công nghiệp đã đầu tư hoàn thiện hạ tầng, 6 cụm công nghiệp đang đầu tư

hạ tầng số còn lại đang trong quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng và lập thủ

tục đầu tư

Cơ cấu lao động năm 2010 là: Khu vực công nghiệp - xây dựng 39,1%, khu

vực dịch vụ 30,9%, khu vực nông nghiệp 30%

Trang 30

Tỷ lệ thất nghiệp thành thị năm 2010 giảm xuống còn 2,6%

Cuối năm 2010, toàn tỉnh có 86% ấp, khu phố và 94% hộ gia đình đạt danh hiệu ấp, khu phố, gia đình văn hóa; 98% cơ quan, đơn vị có đời sống văn hóa

2.2 Tổng quan về Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Á – Phòng giao dịch Tân Hiệp

2.2.1 Thông tin chung về Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Á [25]

Ngân hàng TMCP Đại Á (DaiA bank) được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 30/07/1993, là ngân hàng cổ phần đầu tiên hoạt động tại địa bàn tỉnh Đồng Nai

Khởi đầu chỉ là Ngân hàng TMCP nông thôn hoạt động tại tỉnh Đồng Nai với

1 tỷ đồng vốn điều lệ, đến nay Đại Á Ngân hàng đã trải qua 17 năm phát triển vượt bậc

Vốn điều lệ: 1.000 tỷ đồng

Mạng lưới hoạt động: 48 chi nhánh và Phòng giao dịch trên cả nước

Hội sở: 56-58 đường CMT8, phường Quyết Thắng, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

2003 - tăng vốn điều lệ 25 tỷ VNĐ, thuộc sở hữu của 70 cổ đông trong đó có

02 cổ đông pháp nhân là Ngân hàng Đầu tư phát triển Chi nhánh Tỉnh Đồng Nai và Công ty Tín Nghĩa

Trang 31

Tháng 3 năm 2003 khai trương PGD Tam Phước tại huyện Long Thành, Đồng Nai

Đại Á đạt được thành công trong lĩnh vực tài trợ vốn cho các hộ dân kinh doanh (sản xuất, thương mại, dịch vụ, nông nghiệp), doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt cho vay tiêu dùng, xây dựng nhà ở và sửa chữa nhà ở

2004 - ngân hàng Đầu tư Phát triển Chi nhánh Đồng Nai hợp đồng liên kết

hỗ trợ Đại Á trong lĩnh vực: Phát triển dịch vụ, công nghệ thông tin, nâng cao nghiệp vụ, cấp TD

Tháng 05 năm 2004, tham gia dự án Tài chính Nông thôn II do Hiệp Hội Phát Triển Quốc tế (IDA) tài trợ

Năm 2004, tăng vốn điều lệ lên 42 tỷ đồng với số cổ đông sở hữu vốn là 73 Tháng 10 năm 2005 – khai trương chi nhánh Trảng Bom tại huyện Trảng Bom

31/12/2006 - tăng vốn điều lệ lên 500 tỷ đồng với mạng lưới hoạt động gồm Hội sở chính, 05 chi nhánh và 01 phòng giao dịch

2007 - Đại Á thực hiện thành công công tác chuyển đổi mô hình hoạt động

và chính thức được Ngân hàng Nhà Nước cho phép chuyển đổi sang mô hình Ngân hàng TMCP đô thị tại Quyết định số 2402/QĐ-NHNN ngày10/11/2007

Hệ thống mạng lưới hoạt động phát triển mạnh mẽ, phát triển thêm 4 PGD tại Đồng Nai

2008 - ngày 26/2/2008 Sở Giao dịch I TP Hồ Chí Minh, đơn vị ngoại tỉnh đầu tiên sau khi thực hiện chuyển đổi mô hình chính thức đi vào hoạt động

Ngày 19/4/2008, thẻ ATM “Chìa khóa đa năng” chính thức được phát hành Ngày 2/10/2008, khai trương chi nhánh Hà Nội

Cuối năm 2008 Đại Á đạt 21 điểm giao dịch

2009 - quý I năm 2009, Đại Á tăng vốn điều lệ lên 1.000 tỷ đồng

Ngày 13/4/2009 phát triển tiện ích “Gửi tiền bằng phong bì qua máy ATM” trên toàn hệ thống

07/08/2009 Chi nhánh Bình Dương khai trương hoạt động tại 553 Đại Lộ Bình Dương - P.Hiệp Thành - TX Thủ Dầu Một - Bình Dương

Trang 32

Đến cuối năm 2009 mạng lưới hoạt động đã lên 35 điểm giao dịch trên cả nước

2010 - 16/1/2010: Khai trương Sở Giao dịch Đồng Nai tại 56 - 58 CMT8 Biên Hòa, Đồng Nai

29/04/2010: Khai trương Chi nhánh Bà Rịa - Vũng Tàu tại địa chỉ 63 Lê Hồng Phong, thành phố Vũng Tàu

Kết thúc quý 2 năm 2010, Đại Á Ngân hàng có 48 điểm giao dịch cung cấp dịch vụ Ngân hàng chất lượng tốt nhất cho các khách hàng trên cả nước

2.2.3 Những thành tựu đạt được trong năm 2010 [24]

DaiABank tăng vốn điều lệ lên 3.100 tỷ đồng vào cuối năm 2010 được xem

là một thành công trong bối cảnh thị trường có nhiều khó khăn chung, nhiều ngân hàng tăng vốn cùng một lúc Vì vậy, việc DaiABank là một trong những ngân hàng tăng vốn đúng kỳ hạn trong năm 2010 đã chứng tỏ quyết tâm của HĐQT, các cổ đông

Đầu tư Core Banking (hệ thống ngân hàng lõi) – TCBS : Với tổng số tiền gần 1,9 triệu USD Với nền tảng công nghệ mới này đã và đang giúp ngân hàng có thể phát triển nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử, tạo điều kiện phục vụ khách hàng thuận lợi hơn

Tổng tài sản tăng mạnh Đến ngày 31/12/2010: 11.186 tỷ đồng, tăng 4.109

tỷ (bằng 158%) so với cuối năm 2009, và tăng gần 3,6 lần so với cuối năm 2008 Việc tăng vốn điều lệ và phát hành trái phiếu thành công là các nguyên nhân chính làm tăng tổng tài sản năm 2010

Thanh toán quốc tế khởi sắc: Được Ngân hàng Nhà Nước cấp mã Swift, với việc được cấp mã Swift thành công, dịch vụ thanh toán quốc tế thực hiện trực tiếp, bên cạnh đó mở thêm tài khoản Nostro một số ngoại tệ mạnh như USD, EUR, JPY, AUD; thiết lập Quan hệ đại lý (RMA) với hơn 60 NH hàng uy tín và lớn trên thế giới … đã đáp ứng được nhu cầu thanh toán hiện tại của khách hàng và từng bước đưa thương hiệu Daiabank ra thị trường thanh toán thế giới

Trang 33

Thẻ ATM DaiABank liên kết với 36 ngân hàng: Với việc kết nối này đồng chủ thẻ DaiABank và các khách hàng đối tác có thêm sự thuận lợi khi sử dụng được thẻ ATM hầu như mọi lúc mọi nơi, mọi máy ATM trên cả nước

Vận hành dự án tái cấu trúc theo mô hình quản lý hiện đại và từng bước khắc phục, cải tiến cho phù hợp với định hướng phát triển của ngân hàng Bên cạnh đó, việc phiên lương cho CBNV trên cơ cở lượng hóa công việc giữa chức danh, vị trí

và từng công việc Việc tổ chức bộ máy, cơ cấu sắp xếp lại nhân sự cho phù hợp với

mô hình cũng đã được triển khai và từng bước đi vào ổn định

Thành lập hai công ty AMC DaiABank và Công ty TNHH Đầu tư DaiABank vào hoạt động Trong đó Công ty TNHH Một thành viên Quản lý nợ (AMC DaiABank) đã khai trương và đi vào hoạt động vào ngày 13/01/2011 với vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷ đồng Việc thành lập hai công ty này có ý nghĩa nhằm chuyên nghiệp hóa các hoạt động của DaiABank, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của DaiABank nhằm tiến đến đưa DaiABank trở thành top 20 ngân hàng bán lẻ hiện đại hàng đầu

Lợi nhuận đạt chỉ tiêu với 128 tỷ đồng lợi nhuận (kế hoạch 106 tỷ) trên vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng năm 2010 trong bối cảnh thị trường chung có nhiều khó khăn

và tại DaiABank phải cùng lúc thực hiện nhiều kế hoạch như phát triển mạng lưới, đầu tư công nghệ, phát triển và đào tạo nhân sự, … nhưng HĐQT, Ban điều hành và toàn thể CBNV đã đồng lòng đồng sức thực hiện vượt kế hoạch chỉ tiêu lợi nhuận

DaiABank đứng vị trí thứ 256 của 1.000 đơn vị đóng thuế cao nhất Việt Nam Từ khi thành lập đến nay, DaiABank luôn là đơn vị thực hiện tốt các chủ trương chính sách của các cơ quan Ban ngành và của Nhà nước, điều này càng tăng

Trang 34

uy tín DaiABank trong mắt khách hàng, đối tác Việc DaiABank nằm trong top 1.000 đơn vị đóng thuế cao nhất Việt Nam năm qua đã phản ảnh điều này

2.2.4 Giới thiệu về phòng giao dịch Tân Hiệp [23]

Nằm trong kế hoạch phát triển mạng lưới năm 2007 đã được đại hội đồng cổ đông thông qua, sáng ngày 11/12/2007 Đại Á Ngân hàng long trọng tổ chức lễ khai trương Phòng Giao dịch Tân Hiệp tại số 11 lô C - đường Đồng Khởi – khu phố 6 – phường Tân Tiến – TP Biên Hòa – Đồng Nai

Tham dự lễ khai trương gồm có: Ông Trần Quốc Tuấn – Phó Giám đốc, ông Lương Hoàn Nhất – Chánh Thanh tra và ông Nguyễn Hùng Mạnh – Trưởng Phòng tổng hợp Ngân hàng Nhà Nước Chi nhánh tỉnh Đồng Nai; ông Nguyễn Văn Hùng - Chủ tịch UBND phường Tân Tiến và một số phóng viên báo đài của tỉnh `

Ngay trong ngày đầu đi vào hoạt động PGD Tân Hiệp đã huy động được hơn

471 triệu đồng và cho vay hơn 432 triệu đồng

Trong năm 2010 phòng giao dịch Tân Hiệp được nhận được danh hiệu:

“Chúng tôi là đơn vị bán hàng xuất sắc nhất Đại Á năm 2010”

2.3 Hoạt động tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng thực tế tại phòng giao dịch Tân Hiệp – Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Á

2.3.1 Hoạt động tín dụng

2.3.1.1 Tình hình huy động vốn

Hoạt động huy động vốn là nghiệp vụ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của các NHTM nói chung và tại Chi nhánh nói riêng Trong nghiệp vụ này, NHTM sử dụng những biện pháp và công cụ cần thiết mà pháp luật cho phép để huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn TD để cho vay đối với nền kinh tế [13]

Trang 35

Bảng 2.2 Tình hình huy động vốn tại PGD Tân Hiệp

Đơn vị tính: Triệu đồngChênh lệch

2009 so với 2008 2010 so với 2009 Chênh lệch

Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Tổng số huy động 21260 37297 52346 16037 75.43% 15049 40.35%

Tiền gửi doanh nghiệp 18 854 1956 836 4644.44% 1102 129.04%

Tiền gửi dân cư 21242 36443 50390 15201 71.56% 13947 38.27%

Trung và dài hạn 2758 4042 21254 1284 46.56% 17212 425.83%

(Nguồn: Tài liệu nội bộ phòng QHKH - PGD Tân Hiệp) [22]

Tổng nguồn vốn huy động của phòng giao dịch năm 2009 tăng 16037 triệu

đồng tương đương với tỷ lệ tăng 75.43% so với năm 2008 Trong đó:

¾ Theo nguồn huy động thì tiền gửi huy động của cá nhân chiếm đa

số có giá trị tăng thêm 15201 triệu đồng với mức tăng 71.56% Trong khi đó, số

vốn huy động từ các doanh nghiệp tuy không nhiều nhưng trong năm 2009 có sự

tăng vọt đáng kể 4644.44% so với năm 2008 tương ứng với giá trị tăng thêm là 836

triệu đồng

¾ Theo thời hạn gửi tiền thì việc huy động ngắn hạn thu được nhiều hơn do tính linh hoạt của loại hình này Và trong năm 2009 số vốn ngắn hạn huy

động được đã tăng 15203 triệu đồng với tỷ lệ tăng 84.22% Bên cạnh đó, nguồn

vốn huy động trung và dài hạn cũng tăng 1284 triệu đồng với mức tăng 46.56% so

với năm 2008

Vào năm 2010 số vốn huy động của phòng giao dịch tăng 15049 triệu đồng

tương đương 40.35% so với năm 2009 Trong đó:

¾ Theo nguồn huy động thì tiền gửi huy động của cá nhân vẫn chiếm

đa số và có giá trị tăng thêm là 13947 triệu đồng với mức tăng 38.27% Còn hoạt

động gửi tiền của các doanh nghiệp tiếp tục tăng lên 1102 triệu đồng tương đương

129.04% so với năm 2009

Trang 36

¾ Theo thời hạn gửi tiền thì có sự đổi chiều khi mà số vốn huy động ngắn hạn năm 2010 có sự sụt giảm so với năm 2009 là 2163 triệu đồng với mức giảm 6.50% Trong khi ở mảng trung và dài hạn lại có sự gia tăng mạnh mẽ 17212 triệu đồng tương đương 425.83%

Nhìn chung, hoạt động huy động vốn tại phòng giao dịch Tân Hiệp ngày một tiến triển là do việc thực hiện linh hoạt và kịp thời các chương trình khuyến mãi thu hút tiền gửi từ khách hàng như: “Chìa khóa Đại Á – Khám phá 5 châu” (2009),

“Gửi tiền nhận ngay vàng SJC và tiền thưởng” cho khách hàng gửi tiết kiệm VND

từ ngày 08/3 -31/5/2010, “Vui hè World Cup – Khám phá quà tặng” từ ngày 01/06/2010 đến 31/07/2010, “Gửi tiền, nhận liền quyền chọn quà tặng” dành cho khách hàng gửi tiết kiệm “Lãi suất siêu linh hoạt” từ 15/11/2010 – 31/1/2011

2.3.1.2 Tình hình dư nợ

Phân loại dư nợ theo thời hạn

Dư nợ là các khoản TD mà ngân hàng đã và đang cấp cho khách hàng mà đây cũng chính là khoản cần phải thu trong tương lai của ngân hàng Tình hình dư

nợ của PGD Tân Hiệp được thể hiện qua bảng thống kê và biểu đồ sau:

Bảng 2.3 Tình hình dư nợ theo thời hạn tại PGD Tân Hiệp

Đơn vị tính: Triệu đồngChênh lệch

Trang 37

Biểu đồ 2.1 Tình hình dư nợ theo thời hạn tại PGD Tân Hiệp

(Nguồn: Tài liệu nội bộ phòng QHKH - PGD Tân Hiệp) [22]

Qua bảng thống kê và biểu đồ ta thấy hoạt động cấp TD ngắn hạn của ngân hàng chiếm đa số và không ngừng tăng lên là do những đặc điểm ưu việt của loại thời hạn này như là: Việc thu hồi vốn nhanh, khả năng luân chuyển vốn cao

Tại phòng giao dịch trong năm 2009 tổng dư nợ cho vay tăng 24050 triệu đồng tương ứng 166.30% so với năm 2008 Theo đó, dư nợ ngắn hạn tăng 17766 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 157.47% Bên cạnh đó, dư nợ trung và dài hạn dù có tổng giá trị (3180 triệu đồng) thấp hơn dư nợ ngắn hạn (11282 triệu đồng) nhưng cũng có sự gia tăng đáng kể so với năm 2008 là 6284 triệu đồng tương đương 197.61% Như vậy các chính sách bình ổn và phát triển kinh tế trong năm 2009 sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu bằng việc duy trì lãi suất cơ bản ở mức thấp trong 11 tháng đầu năm là 7%/năm và nhích lên 8%/năm vào cuối năm của Ngân hàng Nhà Nước đã phát huy tác dụng giúp cho tất cả các đối tượng khách hàng có điều kiện tiếp cận vốn để nâng cao đời sống, phát triển sản xuất góp phần phục hồi nền kinh tế sau khủng hoảng

Tiếp theo vào năm 2010 tổng dư nợ tiếp tục tăng 6561 triệu đồng với tỷ lệ 17.04% so với năm 2009 Trong đó, dư nợ ngắn hạn tăng 6356 triệu đồng, tăng 21.88%; dư nợ trung và dài hạn tăng chậm lại với giá trị tăng là 205 triệu đồng tương đương 2.17% Ta thấy dư nợ năm 2010 của PGD Tân Hiệp mặc dù có tăng nhưng với tốc độ chậm hơn so với năm 2009 là do một số nguyên nhân sau:

9 Do định hướng của Ngân hàng Nhà Nước khuyến khích tín dụng cho sản xuất kinh doanh, hạn chế tín dụng ở các mảng nhạy cảm như đầu tư chứng

0 5000

Trang 38

khoán, đầu tư kinh doanh bất động sản Và điểm nổi bật trong năm 2010 là sự lên ngôi của tín dụng phục vụ khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) [32]

9 Tuy nhiên sự gia tăng này lại không bằng như 2009 là do có sự chuyển hướng sang tín dụng ngoại tệ diễn ra mạnh mẽ trong giai đoạn này do các gói hỗ trợ lãi suất từ phía Ngân hàng Nhà Nước trong năm 2009 đã kết thúc làm cho lãi suất VND tăng trở lại tạo ra một chênh lệch khá lớn về lợi ích của việc vay vốn bằng VND và vay bằng ngoại tệ, cộng thêm việc mở rộng thêm đối tượng cho vay ngoại tệ của Ngân hàng Nhà Nước đã làm cho hoạt động tín dụng có sự đột biến trong năm 2010

Phân loại dư nợ theo ngành kinh tế

(Nguồn: Tài liệu nội bộ phòng QHKH - PGD Tân Hiệp) [22]

Biểu đồ 2.2 Tình hình dư nợ theo ngành kinh tế tại PGD Tân Hiệp

(Nguồn: Tài liệu nội bộ phòng QHKH - PGD Tân Hiệp) [22]

Bảng 2.4 Tình hình dư nợ theo ngành kinh tế tại PGD Tân Hiệp

Đơn vị tính: Triệu đồngChênh lệch

2009 so với 2008 2010 so với 2009Chênh lệch

Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng

Tổng dư nợ 14462 38512 45073 24050 166.30% 6561 17.04% Nông - lâm - ngư nghiệp 2118 2581 5651 463 21.86% 3070 118.95%Công nghiệp – xây dựng 1320 6200 2430 4880 369.70% -3770 -60.81% Thương mại - dịch vụ 2460 5410 7956 2950 119.92% 2546 47.06%

Cá nhân cộng cộng 8564 24321 29036 15757 183.99% 4715 19.39%

0 5000 10000 15000 20000 25000 30000

Nông - lâm - ngư nghiệp

Công  nghiệp ‐  xây dựng 

Thương mại dịch

vụ

Cá nhân  cộng cộng   Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

Trang 39

Nông - lâm - ngư nghiệp Công nghiệp - xây dựng

Thương mại dịch vụ Cá nhân cộng cộng

Biều đồ 2.3 Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế

(Nguồn: Tài liệu nội bộ phòng QHKH - PGD Tân Hiệp) [22]

Quan sát bảng số liệu và biểu đồ ta thấy trong các ngành kinh tế thì cá nhân công cộng có tỷ trọng dư nợ cao nhất (trên 51%) và có giá trị ngày một tăng thêm

cụ thể là: Năm 2009 tăng 15757 triệu đồng tương đương 183.99%, năm 2010 tăng

so với năm 2009 là 4715 triệu đồng tương đương 19.39% Và ta cũng thấy rằng tốc

độ tăng dư nợ của nhóm đối tượng khách hàng này trong năm 2009 cao hơn năm

2010 là do trong năm 2009 Ngân hàng Nhà Nước thực hiện biện pháp kích cầu khuyến khích cho vay tiêu dùng, thúc đẩy sản xuất trong nước phục hồi kinh tế sau cuộc khủng hoảng toàn cầu vào năm 2008 Còn sang năm 2010 khi chính sách hỗ trợ lãi suất từ Ngân hàng Nhà Nước không còn, lại có thêm hiện tượng chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng thương mại vào những tháng cuối năm nên Ngân hàng Nhà Nước đã ra chỉ đạo thắt chắt lại hình thức cho vay này

Dư nợ của nông – lâm – ngư nghiệp cũng tăng dần do chính sách khuyến khích cho vay ưu đãi của Ngân hàng Nhà Nước nói chung và Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Á nói riêng ở các ngành nghề truyền thống này Cụ thể là:

9 Giá trị tăng thêm của năm 2009 so với năm 2008 đạt 463 triệu đồng tương ứng 21.86% là do mục tiêu phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Ngân hàng Nhà Nước và trong năm này các biện pháp đã được thực hiện như: Mạng lưới cho vay nông nghiệp, nông thôn ngày càng gia tăng;

Năm 2010

13%

5%

18% 64%

Nông - lâm - ngư nghiệp Công nghiệp - xây dựng Thương mại dịch vụ Cá nhân cộng cộng

9%

17%

59%

Trang 40

doanh số cho vay và dư nợ tín dụng ngày càng tăng; đối tượng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngày càng mở rộng

9 Trong năm 2010 Nghị định 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn vừa được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Theo đó, Chính phủ có chính sách khuyến khích, hỗ trợ việc cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thông qua các công cụ điều hành chính sách tiền tệ: Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, các hộ kinh doanh, sản xuất ngành nghề hoặc làm dịch vụ phục vụ nông nghiệp, nông thôn được xem xét cho vay tối đa đến

200 triệu đồng; hợp tác xã, chủ trang trại được xem xét cho vay tối đa đến 500 triệu đồng đã làm cho dư nợ của phòng giao dịch Tân Hiệp ở khu vực này tiếp tục tăng thêm 3070 triệu đồng tương đương 118.95% [3]

Công nghiệp – xây dựng có tỷ trọng dự nợ không ổn định do sự tác động của tình hình kinh tế xã hội khác nhau, như là vào năm 2009 tỷ trọng tăng lên do chính sách ngăn chặn suy giảm kinh tế của Chính phủ nhưng vào năm 2010 thì tỷ trọng này lại giảm xuống do chính sách phòng chống lạm phát, hạn chế cho vay bất động sản của Ngân hàng Nhà Nước Vì thế, dư nợ của thành phần này cũng bị tác động

Cụ thể: giá trị dư nợ năm 2009 tăng so với năm 2008 4880 triệu đồng tương ứng 369.70% nhưng vào năm 2010 lại giảm xuống khá nhiều 3770 triệu đồng tương đương 60.81% khi mà gói kích cầu của Ngân hàng Nhà Nước không còn được thực hiện

Thương mại – dịch vụ có dư nợ tăng đều qua các năm: Năm 2009 so với năm

2008 tăng 2950 triệu đồng ứng với 119.92% là hệ quả của chính sách cho vay có hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp để thúc đẩy sản xuất, vực dậy nền kinh tế sau khủng hoàng từ phía Ngân hàng Nhà Nước Tiếp theo vào năm 2010 được đánh giá

là năm lên ngôi của tín dụng phục vụ khối doanh nghiệp nhỏ và vừa do có sự bùng

nổ của loại hình doanh nghiệp này đã làm cho dư nợ nhóm ngành này tại phòng giao dịch tiếp tục tăng thêm 2546 triệu đồng so với năm 2009 với tỷ lệ tăng 47.06%

2.3.1.3 Tình hình nợ quá hạn

Ngày đăng: 28/12/2013, 20:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.2 Phân loại RRTD [4] - quản trị rủi ro tín dụng theo basel II tại ngân hàng thương mại cổ phần đại á – phòng giao dịch tân hiệp
Sơ đồ 1.2 Phân loại RRTD [4] (Trang 6)
Sơ đồ 1.3 Các mô hình đo lường RRTD [4] - quản trị rủi ro tín dụng theo basel II tại ngân hàng thương mại cổ phần đại á – phòng giao dịch tân hiệp
Sơ đồ 1.3 Các mô hình đo lường RRTD [4] (Trang 15)
Sơ đồ 1.4 Cấu trúc cơ bản của phương pháp IRB [6] - quản trị rủi ro tín dụng theo basel II tại ngân hàng thương mại cổ phần đại á – phòng giao dịch tân hiệp
Sơ đồ 1.4 Cấu trúc cơ bản của phương pháp IRB [6] (Trang 21)
Bảng 1.2 Lộ trình ứng dụng Basel II trong đánh giá RRTD tại châu Á - quản trị rủi ro tín dụng theo basel II tại ngân hàng thương mại cổ phần đại á – phòng giao dịch tân hiệp
Bảng 1.2 Lộ trình ứng dụng Basel II trong đánh giá RRTD tại châu Á (Trang 26)
Bảng 2.1 Kết quả thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2010 tỉnh Đồng Nai - quản trị rủi ro tín dụng theo basel II tại ngân hàng thương mại cổ phần đại á – phòng giao dịch tân hiệp
Bảng 2.1 Kết quả thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2010 tỉnh Đồng Nai (Trang 29)
Bảng 2.2 Tình hình huy động vốn tại PGD Tân Hiệp - quản trị rủi ro tín dụng theo basel II tại ngân hàng thương mại cổ phần đại á – phòng giao dịch tân hiệp
Bảng 2.2 Tình hình huy động vốn tại PGD Tân Hiệp (Trang 35)
Bảng 2.4 Tình hình dư nợ theo ngành kinh tế tại PGD Tân Hiệp - quản trị rủi ro tín dụng theo basel II tại ngân hàng thương mại cổ phần đại á – phòng giao dịch tân hiệp
Bảng 2.4 Tình hình dư nợ theo ngành kinh tế tại PGD Tân Hiệp (Trang 38)
Bảng 2.5 Tình hình nợ quá hạn tại PGD Tân Hiệp - quản trị rủi ro tín dụng theo basel II tại ngân hàng thương mại cổ phần đại á – phòng giao dịch tân hiệp
Bảng 2.5 Tình hình nợ quá hạn tại PGD Tân Hiệp (Trang 41)
Bảng 2.6 Hiệu quả hoạt động TD của PGD Tân Hiệp - quản trị rủi ro tín dụng theo basel II tại ngân hàng thương mại cổ phần đại á – phòng giao dịch tân hiệp
Bảng 2.6 Hiệu quả hoạt động TD của PGD Tân Hiệp (Trang 42)
Bảng 2.7 Tình hình phân loại dư nợ tại PGD Tân Hiệp - quản trị rủi ro tín dụng theo basel II tại ngân hàng thương mại cổ phần đại á – phòng giao dịch tân hiệp
Bảng 2.7 Tình hình phân loại dư nợ tại PGD Tân Hiệp (Trang 43)
Bảng 2.8 Tình hình nợ xấu tại PGD Tân Hiệp - quản trị rủi ro tín dụng theo basel II tại ngân hàng thương mại cổ phần đại á – phòng giao dịch tân hiệp
Bảng 2.8 Tình hình nợ xấu tại PGD Tân Hiệp (Trang 45)
Sơ đồ 2.1 Mô hình QTRRTD 6C - quản trị rủi ro tín dụng theo basel II tại ngân hàng thương mại cổ phần đại á – phòng giao dịch tân hiệp
Sơ đồ 2.1 Mô hình QTRRTD 6C (Trang 46)
Bảng 2.9 Phân nhóm cấp tín dụng - quản trị rủi ro tín dụng theo basel II tại ngân hàng thương mại cổ phần đại á – phòng giao dịch tân hiệp
Bảng 2.9 Phân nhóm cấp tín dụng (Trang 50)
Bảng 2.10 Quy trình thúc nợ tại NHTMCP Đại Á – PGD Tân Hiệp - quản trị rủi ro tín dụng theo basel II tại ngân hàng thương mại cổ phần đại á – phòng giao dịch tân hiệp
Bảng 2.10 Quy trình thúc nợ tại NHTMCP Đại Á – PGD Tân Hiệp (Trang 51)
Sơ đồ 2.2 Quy trình xếp hạng tín dụng khách hàng tại NHTMCP Đại Á - quản trị rủi ro tín dụng theo basel II tại ngân hàng thương mại cổ phần đại á – phòng giao dịch tân hiệp
Sơ đồ 2.2 Quy trình xếp hạng tín dụng khách hàng tại NHTMCP Đại Á (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w