Luận văn, thông qua việc phân tích, đánh giá làm rõ cơ sở khoa học, lý luận trong pháp luật hợp đồng quốc tế, cụ thể là Mỹ và Châu Âu, và pháp luật trong nước, cũng như tìm hiểu về tình
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
TRẦN NGUYÊN HẠNH
HỢP ĐỒNG MẪU ĐIỆN TỬ- TÌNH TRẠNG KHÔNG ĐỌC HỢP ĐỒNG CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG: TỪ GÓC ĐỘ BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƯỜI TIÊU DÙNG
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
TRẦN NGUYÊN HẠNH
HỢP ĐỒNG MẪU ĐIỆN TỬ- TÌNH TRẠNG KHÔNG ĐỌC HỢP ĐỒNG CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG: TỪ GÓC ĐỘ BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƯỜI TIÊU DÙNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM DUY NGHĨA
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Trần Nguyên Hạnh, mã số học viên: 7701241069A, là học viên lớp Cao học Luật LLM 01, Khóa chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế
TP Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “HỢP ĐỒNG MẪU ĐIỆN TỬ- TÌNH TRẠNG KHÔNG ĐỌC HỢP ĐỒNG CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG: TỪ GÓC ĐỘ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG ” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực
Học viên thực hiện
Trần Nguyên Hạnh
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TÓM TẮT LUẬN VĂN
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG – HỢP ĐỒNG MẪU VÀ HỢP ĐỒNG MẪU ĐIỆN TỬ 6
1.1 Những vấn đề về hợp đồng và hợp đồng với bên yếu thế 6
1.1.1 Hợp đồng và nguyên tắc giao kết hợp đồng 6
1.1.2 Hợp đồng với người tiêu dùng với tư cách là bên yếu thế 9
1.2 Hợp đồng mẫu và hợp đồng mẫu điện tử 14
1.2.1 Khái niệm hợp đồng mẫu 14
1.2.2 Bản chất hợp đồng mẫu trong quan hệ hợp đồng với người tiêu dùng 16
1.2.3 Các loại hợp đồng mẫu trong giao dịch thương mại điện tử 17
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC ĐỌC HỢP ĐỒNG CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 22
2.1 Thực trạng đọc hợp đồng của người tiêu dùng 22
2.2 Các yếu tố tác động đến việc đọc hợp đồng của người tiêu dùng 28
2.2.1 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng không đọc hợp đồng của người tiêu dùng 28
2.2.2 Mong đợi của người tiêu dùng từ hợp đồng mẫu 36
2.2.3 Nghĩa vụ công khai hợp đồng của thương nhân 39
2.3 Quy định về nghĩa vụ đọc hợp đồng và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng mẫu 41
2.3.1 Nghĩa vụ đọc hợp đồng 41
2.3.2 Quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không đọc hợp đồng 43
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT GIẢI QUYẾT TÌNH TRẠNG KHÔNG ĐỌC HỢP ĐỒNG CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 49
3.1 Quy định về công khai thông tin hợp đồng 49
3.2 Quyền rút lui khỏi hợp đồng 55 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6TÓM TẮT LUẬN VĂN
Vấn đề đọc hợp đồng, đặc biệt là hợp đồng mẫu, ít được đặt ra trong hoạt động tiêu dùng, mà mặc nhiên được hiểu rằng khi giao kết hợp đồng, người tiêu dùng đã đọc hợp đồng, hay chí ít có cơ hội đọc hợp đồng Tuy vậy, trong bối cảnh hợp đồng được giao kết hàng ngày, hàng giờ, dưới nhiều hình thức khác nhau, cùng với sự phát triển bùng nổ của về công nghệ thông tin thế kỷ 21, dù có thêm nhiều lựa chọn về kênh tiêu dùng, tiếp cận thêm nhiều loại hình dịch vụ, hàng hóa, các giao dịch tiêu dùng cũng từ đó trở nên phức tạp hơn, đặc biệt là giao dịch thương mại điện tử Luận văn, thông qua việc phân tích, đánh giá làm rõ cơ
sở khoa học, lý luận trong pháp luật hợp đồng quốc tế, cụ thể là Mỹ và Châu Âu, và pháp luật trong nước, cũng như tìm hiểu về tình hình thực tiễn trong giao kết hợp đồng mẫu, góp phần đưa đến một cái nhìn tổng quát hơn về tình trạng không đọc hợp đồng của người tiêu dùng từ đó đóng góp những suy nghĩ đầu tiên trong việc hình thành những lý luận làm nền tảng cho quan hệ hợp đồng hết sức tiềm năng này
Từ khóa: Đọc hợp đồng; Người tiêu dùng; Thương mại điện tử; Hợp đồng tiêu dùng;
Hợp đồng mẫu; Hợp đồng mẫu điện tử
Trang 721st century, the consumers, though having more options in choosing purchase channels, or types of services and goods, facing a reality that consumer contracts have become more and more complex, especially in e-commerce transactions This Thesis, by analysing and evaluating, aims to clarify the scientific and theoretical background, namely in international contract law, i.e the US and Europe’s; and internal laws of Vietnam, as well as study on the composing and performance of standard form contracts in practice Consequently, the Thesis
is expected to provide a more general overview over the non-reading problem in the consumer contracts which accordingly contributes a very first thought in the basical theoretical formation for this potential contractual relationship
Keywords: The reading problem; The consumers; E-Commerce; Consumer
contracs; Standard-form contracts; Electronic standard-form contracts
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hợp đồng tiêu dùng có lẽ là loại hợp đồng đầu tiên xuất hiện trên trái đất Từ nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, những trao đổi hàng hoá diễn ra Với mô hình đơn sơ ấy, khi tiền tệ ra đời, các giao dịch vì mục đích tiêu dùng cho đến nay gần như không thay đổi về hình thức: người mua trả tiền để nhận được hàng hoá mà họ sử dụng cho cuộc sống hàng ngày của mình mà không cần ký tên lên bất kỳ văn bản nào
Thế kỷ 20 với máy tính, thế kỉ 21 với Internet, Google, Facebook, hay tương lai là thực tế ảo, xa hơn nữa là trí tuệ nhân tạo đang đưa mô hình tồn tại tưởng như vĩnh cửu này đứng trước một thách thức về thay đổi Chỉ với thao tác tối giản của click chuột, người có nhu cầu được dẫn dắt vào những giao dịch mà ngoài tiền, họ sẽ phải cam kết với người bán,
để nhận được thứ mình cần – nhanh chóng hơn nhưng cũng phức tạp hơn
Ai cũng từng ít nhất một lần nhìn thấy dòng chữ “Bằng cách nhấp vào ô này, bạn đã
đồng ý với những điều khoản/cam kết trên đây”, nhưng có những ai biết về dòng chữ này sẽ
mang đến những gì cho người mua?
Hiện nay chưa có một nghiên cứu xã hội cũng như pháp lý tại Việt Nam, có thể chỉ
ra những vấn đề cần giải quyết cho loại hình “tất yếu” của thời đại này
Hãy xem xét một khảo sát ở Anh được tiến hành năm 2011 bởi Skandia, một tổ chức
tư vấn đầu tư và nghiên cứu thị trường của Anh, đã chỉ ra rằng, chỉ 7% người Anh đọc những điều khoản trên mạng khi ký vào hợp đồng mua bán hàng hóa hay sử dụng dịch vụ, và có khoảng 43% số còn lại cho rằng chữ nhỏ và nội dung quá nhàm chán, khó hiểu Tuy nhiên,
tỷ lệ người tiêu dùng chịu hậu quả những hợp đồng đó lại gấp ba lần con số những hợp đồng được đọc Từ đây có thể thấy rắc rối từ việc không đọc kỹ hợp đồng trước khi giao kết, đặc biệt trong trường hợp hợp đồng có thể chứa những điều khoản bất lợi cho chính người tiêu dùng, trong khi họ lại không thể biện luận rằng không biết nó chứa đựng những điều khoản
đó
Mặc dù hiện nay, pháp luật Việt Nam và các nước đã có những quy định như buộc người bán hàng phải thực hiện công bố thông tin công khai, không được loại bỏ trách nhiệm của mình trong hợp đồng hay thậm chí đăng ký hợp đồng mẫu trong một số loại giao dịch… Tuy vậy, điều này cũng không thúc đẩy người tiêu dùng đọc hợp đồng trước khi ký hay cải thiện tình trạng người tiêu dùng bị tổn hại từ các hợp đồng tiêu dùng Từ đây dẫn đến một vấn đề: Làm sao có thể nói rằng một người thật sự đồng ý với các điều khoản mà họ không
hề biết?
Câu hỏi đã được đưa ra ở trên, là một vấn đề lớn, một thách thức pháp lý đối với cả các quốc gia phát triển như Anh, Mỹ, Pháp, Đức và thật sự là một vấn đề dù chưa được
Trang 9quan tâm đúng mức, song mang tính cấp thiết trong một xã hội chưa thực sự phát triển nhưng ngày càng “hội nhập” trong một “thế giới phẳng” như Việt Nam
2 Giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu
Những giả thuyết nghiên cứu được kiểm chứng, làm rõ xuyên suốt đề tài bao gồm:
- Việc người tiêu dùng không đọc hợp đồng không bị xem là người tiêu dùng từ
bỏ quyền đó, nhưng họ bị ràng buộc bởi những điều khoản mà họ không có hiểu biết và không nhận thức được
- Việc áp dụng hợp đồng mẫu có thể là nguyên nhân chính dẫn đến tâm lý, nhận thức của người tiêu dùng về việc đọc hợp đồng mẫu là không cần thiết và dần hình thành tình trạng không đọc hợp đồng
- Pháp luật đóng vai trò quan trọng trọng việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, nhưng sự bảo vệ này sẽ mang ý nghĩa tích cực hơn, nếu như những quy định hướng tới việc tạo điều kiện để người mua có thể đọc và nắm bắt đầy đủ nội dung của các “thoả thuận” một bên đưa ra này
1 Hợp đồng tiêu dùng là gì và có ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng không đọc hợp đồng của người tiêu dùng?
2 Việc một người click chuột để hoàn tất thủ tục mua bán hàng hoá tiêu dùng trên môi trường thương mại điện tử có đồng nghĩa với việc họ đồng ý với toàn bộ nội dung hợp đồng không?
3 Cần có quy định về việc điều chỉnh hành vi của người bán để đảm bảo quyền lợi cho người mua hay không?
Có nhiều công trình nghiên cứu về pháp luật hợp đồng nói chung, trong đó có đề cập đến các nguyên tắc giao kết hợp đồng, hợp đồng mẫu, các học thuyết áp dụng trong hợp
đồng thông thường và hợp đồng với bên yếu thế như: The Law of Contract, 5th ed của Janet
O’Sullivan và Johnathan Hilliard; Analyzing Unconscionability Problems của Joh A Spanogle; Bargaining Power in Contract Theory của Daniel D Barnhizer; Chế định hợp
đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam của Nguyễn Ngọc Khánh; Protection of the Weaker Party in European Contract Law: Standardized and Individual Inferiority in Multi-Level Private Law của Hannes Rosler…
Trang 103.2 Về vấn đề không đọc hợp đồng của người tiêu dùng
Việc nghiên cứu vấn đề không đọc hợp đồng của người tiêu dùng được quan tâm và
khai thác bởi các nhà khoa học nước ngoài Cụ thể, trong công trình nghiên cứu The
No-Reading Problem in Consumer Contract Law của hai tác giả Ian Ayres và Alan Schwartz,
vấn đề này được đề cập dưới góc độ tìm hiểu nhu cầu, mong đợi của người tiêu dùng, phân tích các học thuyết pháp lý để từ đó đưa ra các đề xuất để bảo vệ người tiêu dùng trước tình trạng các hợp đồng mẫu không đạt được mong đợi của người tiêu dùng Bài viết chưa đề cập đến các khía cạnh khác tác động đến tình trạng không đọc hợp đồng như vấn đề công khai thông tin của người bán hay tác động của hợp đồng mẫu Tuy vậy, bài viết này là tiền đề và
là một trong những nguồn tài liệu tham khảo bổ trợ tích cực trong suốt quá trình thực hiện Luận văn
Bên cạnh đó còn một số bài báo khoa học có liên quan đến khía cạnh pháp lý của
vấn đề không đọc hợp đồng như One-Sided Contracts in Competitive Consumer Markets của Lucian A Bebchuk and Richard A Posner; Your Terms or Mine? The Duty to Read the
Fine Print in Contracts của Avery Katz; Does Anyone Read the Fine Print? Consumer Attention to Standard Form Contracts của Yannis Bakos hay các bài viết của giáo sư Robert
A Hillman: Form Contracting in the Electronic Age; Online Consumer
Standard-Form Contracting Practices: A Survey and Discussion of Legal Implications …
Tại Việt Nam, trong khi đó, vấn đề không đọc hợp đồng chưa được đánh giá đúng mức và chưa từng xuất hiện trong bất cứ bài viết học thuật hay các công trình nghiên cứu khoa học nào Có chăng, vấn đề này chỉ được nhắc đến như một hậu quả của việc áp dụng hợp đồng mẫu trong tiêu dùng hay khi phân tích về hợp đồng với bên yếu thế, như trong bài
viết của Đỗ Giang Nam, “Bình luận về các quy định liên quan đến hợp đồng theo mẫu và
điều kiện giao dịch chung trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)” hay bài viết đăng trên
Tạp chí Dân chủ và Pháp luât: “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao kết và thực hiện
hợp đồng gia nhập”
Vấn đề bảo vệ người tiêu dùng, đặc biệt trong giao dịch điện tử chưa được đề cập nhiều trong các nghiên cứu, công trình mà phàn lớn chỉ được công bố dưới các bài viết được đăng tải trên các tạp chí khoa học chuyên ngành Đơn cử như một số học giả nước ngoài như
Florencia Marotta-Wurgler (Does Contract Disclosure Matter?), Omri Ben-Shahar (The
Right to Withdraw in Contract Law) hay Macaulay (Freedom From Contract: Solution in
Trang 11Search of a Problem?) có cách tiếp cận vấn đề bảo vệ người tiêu dùng khác, đó là thông qua
các quy định, pháp luật gián tiếp trao cho người tiêu quyền để tự bảo vệ mình
Nhìn chung các công trình khoa học, bài viết học thuật trên là tài liệu vô cùng quan trọng giúp tác giả có thêm thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu Luận văn Tuy vậy, có thể khẳng định rằng, chưa có công trình nào nghiên cứu, đánh giá một cách có hệ thống, toàn diện về vấn đề không đọc hợp đồng mẫu của người tiêu dùng để từ đó đề xuất một số giải pháp giúp cải thiện tình trạng này tại nước ta hiện nay
4 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Từ góc nhìn pháp luật hợp đồng, thông qua những nghiên cứu sơ khởi về một loại hình giao kết mới nhưng cũng không còn lạ lẫm trong xã hội hiện nay, đề tài mong muốn đóng góp những suy nghĩ đầu tiên trong việc hình thành những lý luận làm nền tảng cho quan hệ hợp đồng hết sức tiềm năng này
Trong tương lai không xa, khi con người ngày càng chìm vào thế giới của công nghệ, người tiêu dùng sẽ cần đến pháp luật – như bản chất cơ bản nhất của nó – để bảo vệ quyền lợi của mình, trong xu hướng không thể cưỡng lại được của thời đại, những giao kết sẽ được bảo vệ đúng với bản chất của nó – một quan hệ nghĩa vụ giữa người bán và người mua
Bằng những lý luận cơ bản, việc tạo ra một môi trường phát triển trong tương lai cho loại hình này, dựa trên luật định là điều hết sức cần thiết Và chỉ khi có pháp luật, người mua với những thiệt thòi về thông tin và nhu cầu dựa trên chi phí cơ hội, mới được tham gia vào một quan hệ giao dịch “trong sáng” như vốn dĩ bản chất hợp đồng về tiêu dùng vẫn có
Luận văn nghiên cứu về các vấn đề lý luận liên quan đến hợp đồng mẫu và hợp đồng mẫu điện tử được sử dụng trong lĩnh tiêu dùng, cũng như tác động của hợp đồng mẫu đến nhận thức, hành vi của người tiêu dùng; các học thuyết và quy định pháp luật về hợp đồng nói chung và về người tiêu dùng nói riêng
Trang 12- EULA) mà không phân tích sâu về các hợp đồng mẫu được điều chỉnh riêng như hợp đồng điện, nước, bảo hiểm
Về mặt thời gian, cùng với việc nghiên cứu các học thuyết và các quy định của pháp luật, đề tài cũng dành thời gian để nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về hiệu lực hợp đồng mẫu và biện pháp bảo vệ người tiêu dùng, đặc biệt trong khoảng thời gian năm năm trở lại đây, khi mà công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống và việc sử dụng các phần mềm, ứng dụng trên mạng trở thành một nhu cầu thiết yếu, nhất là đối với tầng lớp trí thức, sinh viên, nhân viên văn phòng ở Việt Nam
5 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu, khung lý thuyết
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn: thu thập các thông tin, bài viết, tài liệu, số liệu về hoạt động thương mại điện tử liên quan đến tình trạng không đọc hợp đồng tiêu dùng
- Phương pháp phân tích tổng hợp, đánh giá
- Phương pháp so sánh pháp luật chủ yếu là pháp luật Mỹ, Châu Âu để làm rõ quan điểm lập pháp về tình trạng không đọc hợp đồng và về việc bảo vệ người tiêu dùng trước ảnh hưởng của tình trạng không đọc hợp đồng
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Nghiên cứu đưa ra những suy nghĩ sơ khởi nhất qua quá trình đánh giá tác động của vấn đề cũng như các nghiên cứu của các học giả trên thế giới và quy định pháp luật của các nước phát triển về vấn đề này Từ đó làm nền tảng cho việc phát triển lý luận pháp lý cho các nghiên cứu chuyên sâu hơn về vấn đề đã nêu
Góp phần tạo lập góc nhìn pháp lý về thực tiễn hợp đồng tiêu dùng trong môi trường thương mại điện tử, từ đó giúp đưa ra những quy định mang tính giải pháp cho các vấn đề gặp phải
Trang 13CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG – HỢP ĐỒNG MẪU VÀ HỢP
ĐỒNG MẪU ĐIỆN TỬ
Chế định về hợp đồng không là một vấn đề xa lạ hiện nay, khi hợp đồng được giao kết hàng ngày, hàng giờ, dưới nhiều hình thức khác nhau và trong nhiều lĩnh vực khác nhau Không những vậy, hợp đồng còn là công cụ chính yếu trong việc xác lập quan hệ giữa các
cá nhân, tổ chức với nhau, chẳng hạn như giữa người tiêu dùng với nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
Tuy vậy, hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, vốn là một chủ thể đặc biệt, không chỉ mang bản chất của một hợp đồng thông thường, mà còn chứa đựng những đặc trưng của một hợp đồng với bên yếu thế Từ đó khiến cho việc điều chỉnh loại hợp đồng này cần có những khác biệt nhất định so với các hợp đồng thông thường
Trước khi đi đến phân tích nội dung chính về “tình trạng không đọc hợp đồng của người tiêu dùng”, chúng ta cần có cái nhìn tổng quan về hợp đồng và hợp đồng với bên yếu thế, cũng như tìm hiểu về hợp đồng mẫu, loại hợp đồng chủ yếu áp dụng trong giao dịch với người tiêu dùng Từ đó có thể rút ra những đặc trưng riêng biệt trong giao kết hợp đồng với bên yếu thế nói chung và người tiêu dùng nói riêng so với nguyên tắc giao kết hợp đồng thông thường, đồng thời hiểu rõ hơn một số loại hợp đồng mẫu điện tử
1.1 Những vấn đề về hợp đồng và hợp đồng với bên yếu thế
1.1.1 Hợp đồng và nguyên tắc giao kết hợp đồng
Ngày nay, hợp đồng là công cụ pháp lý quan trọng và phổ biến để con người thực hiện các giao dịch, trao đổi để phục vụ nhu cầu chính đáng của mình1 Trong quá trình phát triển của mình, hợp đồng xuất hiện dưới nhiều tên gọi, và nhiều loại hình khác nhau: từ hợp đồng mua bán, hợp đồng vay mượn, hợp đồng ủy thác Từ đây đưa đến câu hỏi, vậy hợp đồng là gì?
Hiện nay không có một khái niệm thống nhất về hợp đồng mà tùy thuộc vào quan điểm, góc nhìn, hệ thống luật mà cách hiểu về hợp đồng có thể khác nhau2 Theo các quốc gia thuộc hệ thống Civil Law, hợp đồng là tổng hòa của ba yếu tố (i) kết quả của sự gặp gỡ
ý chí; (ii) sự ràng buộc về nghĩa vụ giữa các bên trong hợp đồng; và (iii) sự tự do ý chí giữa
1Lê Minh Hùng, 2010 Hiệu lực của hợp đồng, Luận văn tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh
2 Xem Chú thích số 1, tr 10
Trang 14các bên giao kết. 3 Các quốc gia theo hệ thống Common Law lại có cách hiểu về hợp đồng đơn giản là một sự thống nhất ý chí của các bên trong hợp đồng4
Trong khi đó, pháp luật Việt Nam đưa ra khái niệm hợp đồng theo Điều 385 Bộ luật
Dân sự năm 2015 (BLDS 2015) như sau: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc
xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”
Có thể thấy rằng, khái niệm hợp đồng theo BLDS 2015 mang tính khái quát, hợp lý
và thuyết phục bởi trong đó đã bao gồm đầy đủ các đặc trưng của hợp đồng, thể hiện được vai trò, bản chất của hợp đồng Đặc biệt, khái niệm này đã khắc phục được bất cập trong khái niệm cũ về “hợp đồng dân sự” theo Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) Thật vậy, Điều
388 BLDS 2005 quy định khái niệm hợp đồng như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận
giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Trong đó
cụm từ “dân sự” đã gây nên nhiều tranh cãi về phạm vi điều chỉnh của BLDS đối với các loại hợp đồng khác và gây những hiểu nhầm không cần thiết về đối tượng hợp đồng
Nhìn chung, hợp đồng có bản chất là sự thỏa thuận giữa các cá nhân, tổ chức nhằm tạo lập hiệu lực pháp lý, tức là tạo ra sự ràng buộc pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. 5
Có thể thấy rằng tất cả các hợp đồng đều xuất phát từ sự thỏa thuận Tuy nhiên, không phải mọi sự thỏa thuận của các bên đều là hợp đồng6 Để một thỏa thuận được xem
là hợp đồng khi thỏa thuận đó phù hợp với ý chí các bên và để hợp đồng đó có hiệu lực thi hành, thỏa thuận giữa các bên phải tuân theo theo những nguyên tắc sau:
(i) Nguyên tắc tự do ý chí Hợp đồng theo cách hiểu thông thường là một loại thỏa thuận mà đặc điểm chung của chúng là sự thống nhất ý chí Do vậy, ý chí có vai trò vô cùng quan trọng và là yếu tố cơ bản của hợp đồng Ở bất kỳ hệ thống luật nào hay pháp luật hợp đồng của quốc gia nào, thì
3 Nguyễn Ngọc Khánh, 2007 Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam Hà Nội: Nhà xuất bản Tư pháp,
tr 29
4 Giuditta Cordero Moss, 2007 International Contracts between Common Law and Civil Law: Is Non-state Law
to Be Preferred? The Difficulty of Interpreting Legal Standards Such as Good Faith Global Jurist, Vol 7
5 Hoàng Thế Liên (Cb), 1997 Bình luận khoa học Một số vấn đề cơ bản của BLDS (1995), Hà Nội: Nhà xuất
bản CTQG, tr 162
6 Phạm Hữu Nghị, 2005 Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) với vấn đề cải cách pháp luật hợp đồng Nhà nước và Pháp luật, số 4 (204), tr 22-27
Trang 15nguyên tắc tự do ý chí luôn được thừa nhận như nền tảng của pháp luật hợp đồng7 Tự do ý chí được thể hiện ở nhiều khía cạnh như: tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng nhưng không trái pháp luật, tự do giao kết hợp đồng, tự do lựa chọn chủ thể giao kết
Nguyên tắc tự do ý chí có nguồn gốc từ học thuyết tự do bắt nguồn từ tại Pháp, và được phát triển tại các quốc gia theo hệ thống Common Law vào cuối thế kỷ XIX và trở thành học thuyết trung tâm của luật hợp đồng cổ điển8
Tuy vậy, học thuyết tự do cũng có những giới hạn nhất định Khi các mối quan hệ xã hội ngày càng trở nên phức tạp, vị thế của các bên trong hợp đồng cũng không còn hoàn toàn ngang bằng chẳng hạn như hợp đồng lao động, hợp đồng bảo hiểm hay hợp đồng thế chấp thì nguyên tắc tự do ý chí, tự do giao kết hợp đồng không thể điều chỉnh một cách hợp lý được nữa Từ đó, buộc Nhà nước phải can thiệp và hạn chế tự do ý chí của hợp đồng trong một số trường hợp để bảo vệ những lợi ích lớn hơn
(ii) Nguyên tắc thiện chí, trung thực Cũng như nguyên tắc tự do ý chí, nguyên tắc thiện chí, trung thực là nguyên tắc cơ bản và xuyên suốt quá trình giao kết hợp đồng, thậm chí tồn tại trước khi hợp đồng được xác lập9 Thiện chí, trung thực là những thuật ngữ trừu tượng và được xác định tùy theo từng trường hợp Nguyên tắc này được ghi nhận trong BLDS 2005 và mới đây được thể hiện lại trong BLDS 2015 của Việt Nam cho thấy vai trò và vị trí của nguyên tắc trong pháp luật về hợp đồng quốc tế nói chung và của Việt Nam nói riêng.10
“Thiện chí” là ý định tốt, hoặc động cơ không bao gồm vụ lợi hay mong muốn lừa dối11 Còn “trung thực” được hiểu là tôn trọng sự thật, ngay thẳng, thật thà Tuy vậy, trong
hệ thống pháp luật Common Law, từ được dùng để chỉ chung cho nguyên tắc thiện chí, trung thực là “good faith” Trên thực tế, một trường hợp có thể vừa thuộc phạm trù thiện chí và
7 Ngô Huy Cương, 2008 Tự do ý chí và sự tiếp nhận tự do ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện nay Nghiên cứu Lập pháp, số 02, tr 11-20
8 Edwards, C., 2009 Freedom of Contract and Fundamental Fairness for Individual Parties: The Tug of War
Continues UMKC Law Review, Volume 77:3
9 Chẳng hạn theo Nguyên tắc Luật Hợp đồng Châu Âu (Principles of European Contract Law - PECL), nguyên tắc thiện chí được xem là một yếu tố ràng buộc trách nhiệm của các bên kể cả trong giai đoạn tiền hợp đồng Điều 6.1
PECL quy định: “Mỗi bên được tự do thỏa thuận về việc giao kết hợp đồng mà không bị ràng buộc bất kỳ trách nhiệm nào nếu hợp đồng không được giao kết, trừ khi hành vi của bên đó là không thiện chí”
10 Điều 6 BLDS 2005 và Điều 3 BLDS 2015
11 http://legal-dictionary.thefreedictionary.com/good+faith
Trang 16vừa thuộc phạm trù của trung thực như vấn đề thông tin của hợp đồng12 Nguyên tắc thiện chí, trung thực cũng chỉ đúng nhất khi đặt trong môi trường hợp đồng thông thường, khi các bên có vị thế tương đương nhau và có sự cân bằng về lợi ích
Định nghĩa về hợp đồng theo lý thuyết cổ điển, mặc dù có thể áp dụng để giải thích hợp lý trong hầu hết mọi trường hợp, và theo một cách chung nhất, vẫn được xem là một trong những cách hiểu “khung” trong pháp luật về hợp đồng Nhưng với sự phát triển nhanh chóng và phức tạp của các mối quan hệ xã hội, những nguyên tắc trên không thể bao quát được hết các lĩnh vực mà thực tiễn đang xảy ra
Và thực tế loại hợp đồng không có sự tự do thỏa thuận và sự trung thực vẫn còn là dấu hỏi đã, đang và sẽ luôn tồn tại, đó là hợp đồng với người tiêu dùng mà được làm rõ trong Mục 1.1.2 dưới đây
Khái niệm hợp đồng và những nguyên tắc cơ bản giao kết hợp đồng là chế định trung tâm, làm cơ sở cho việc hình thành cũng như xác định hiệu lực hợp đồng Tuy vậy, trong những giao dịch dân sự đặc biệt như hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, cần thiết phải
có những chế định cụ thể hơn, điều chỉnh bao quát hơn bởi tính chất khác biệt của chủ thể hợp đồng Phần tiếp theo chúng ta sẽ tìm hiểu về hợp đồng với bên yếu thế để có cái nhìn rõ nét hơn về vị trí của người tiêu dùng trong hợp đồng
1.1.2 Hợp đồng với người tiêu dùng với tư cách là bên yếu thế
Người tiêu dùng, theo một nghĩa chung nhất là “người mua, sử dụng hàng hoá, dịch
vụ nhằm mục đích phục vụ cho các nhu cầu của chính bản thân, gia đình hoặc tổ chức của mình, không nhằm mục đích lợi nhuận Hàng hoá, dịch vụ được mua cho sử dụng cuối cùng
Trong mối quan hệ với thương nhân, người tiêu dùng rõ ràng ở vị trí bất lợi hơn rất nhiều, bất lợi về khả năng thương lượng, về thông tin hợp đồng Hàng ngày, người tiêu dùng tham gia giao kết vô số hợp đồng, từ những giao dịch phục vụ sinh hoạt thiết yếu như điện, nước, internet hay phục vụ nhu cầu làm việc, học tập hay vui chơi của mỗi người như
12 Lê Trường Sơn, 2015 Giai đoạn tiền hợp đồng trong pháp luật Việt Nam Tóm tắt luận án tiến sĩ luật học,
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr.7
13 Lò Thùy Linh, 2010 Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập Tóm
tắt Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 3
Trang 17mua sắm các thiết bị, các ứng dụng điện tử Các giao dịch trên đều được gọi chung là giao dịch tiêu dùng Nhưng liệu người tiêu dùng có nhận thức được vị trí thế yếu của mình?
Để có thể phân tích và làm rõ về hợp đồng với người tiêu dùng, trước tiên cần tìm hiểu về bản chất hợp đồng có một bên yếu thế
Khái niệm về hợp đồng có một bên yếu thế chưa được ghi nhận trong pháp luật hợp đồng quốc tế hay quốc gia, pháp luật về hợp đồng chỉ ghi nhận về việc những điều khoản bất lợi áp dụng cho một bên của hợp đồng mà khiến quan hệ hợp đồng của các bên trở nên không cân bằng, và xảy ra tình trạng một bên khai thác bên còn lại để đạt được lợi ích lớn hơn nhờ việc lợi dụng những điểm yếu của bên còn lại Bên bị áp dụng những điều khoản bất lợi hơn đó được gọi là “bên yếu thế”14
Tuy vậy, từ tên gọi, có thể thấy rằng bản chất của loại hợp đồng này là có sự bất cân xứng ở một khía cạnh nào đó trong hợp đồng Sự bất cân xứng này có thể khác nhau tùy từng trường hợp, không chỉ là về quyền, nghĩa vụ hay về năng lực hành vi, mà còn về thông tin, chẳng hạn về các mặt hàng trên thị trường, hay về thông tin cổ phiếu; và cũng có thể là bất cân xứng về năng lực đàm phán15 như trong các hợp đồng soạn theo mẫu.v.v
Vậy hợp đồng với bên yếu thế khác biệt như thế nào với hợp đồng thông thường và tại sao hợp đồng tiêu dùng lại là hợp đồng với bên yếu thế?
Quay lại lý thuyết cổ điển về hợp đồng, có ba vấn đề liên quan:16 Một là, hợp đồng
là một thương lượng, tức một thỏa thuận “có đi có lại”, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng là đối ứng với nhau mà không phải là trao đổi một lời hứa hẹn Thứ hai, hợp đồng, theo một cách cơ bản, là kết quả thỏa thuận giữa các bên trong giao dịch và qua đó các bên công nhận các quyền và nghĩa vụ của mình theo hợp đồng và thể hiện ý định của mình về việc chịu sự ràng buộc về pháp lý17 Thứ ba, tự do giao kết hợp đồng, đây là một vấn đề rất quan trọng khi giao kết hợp đồng Với mục đích và ý nghĩa tôn trọng sự thỏa thuận của các
14 Hannes, R., 2010 Protection of the Weaker Party in European Contract Law: Standardized and Individual
Inferiority in Multi-Level Private Law European Review of Private Law, Volume 18, p 729
15 Barnhizer, D.D., 2005 Inequality in Bargaining Power, University of Colombia Law Review, Volume 76, p
199-223
16 O’Sullivan, Janet; Hilliard, Jonathan, 2012 The Law of Contract fifth edition Oxford: Oxford University
Press, p 2
17 http://legal-dictionary.thefreedictionary.com/contract
Trang 18bên, mọi người đều có quyền tự do quyết định có giao kết hợp đồng không, giao kết với ai, quyền và nghĩa vụ như thế nào18
Đối chiếu với hợp đồng tiêu dùng, có thể thấy rằng, (i) yếu tố đầu tiên không tồn tại trong hợp đồng tiêu dùng, đặc biệt là những hợp đồng theo mẫu như hợp đồng bảo hiểm, hay đặt vé máy bay, người tiêu dùng không có khả năng thương lượng với thương nhân; (ii) tương tự, yếu tố thứ hai cũng không thỏa bởi các quyền và nghĩa vụ hợp đồng tiêu dùng không được tạo nên bởi sự thỏa thuận ý chí, mà dựa trên các điều khoản soạn sẵn do thương nhân đưa ra; và (iii) yếu tố tự do ý chí trong quan hệ hợp đồng bị hạn chế trong hợp đồng với người tiêu dùng Cụ thể, do thương nhân cung cấp một hoặc một số hàng hóa, dịch vụ
cụ thể nên thương nhân không thể lựa chọn chủ thể giao kết nào khác ngoài người tiêu dùng Ngược lại, người tiêu dùng lại bị giới hạn quyền tự do thỏa thuận về nội dung hợp đồng, dù trong đó có thể chứa đựng những điều khoản bất lợi hơn cho mình
Từ đây có thể thấy đối với hợp đồng với bên yếu thế như hợp đồng tiêu dùng, việc giải thích và áp dụng các nguyên tắc truyền thống như khi áp dụng với hợp đồng thông thường sẽ làm cho người tiêu dùng, vốn là bên yếu thế của hợp đồng bị bất lợi Chính vì vậy cần phải có vận dụng các nguyên tắc riêng biệt hơn để có sự điều chỉnh phù hợp hơn
Khác với quan niệm truyền thống, hợp đồng không còn là một ràng buộc bất biến,
mà hiệu lực, nội dung của hợp đồng cũng có thể thay đổi để bảo vệ sự công bằng về lợi ích của các bên19
Từ đây đặt ra vấn đề khi đề cập đến hợp đồng với bên yếu thế là làm sao để bảo vệ bên yếu thế trong hợp đồng trước những điều khoản bất lợi đưa ra bởi bên còn lại
Theo pháp luật hệ thống Common Law, một trong những học thuyết được áp dụng
để bảo vệ bên yếu thế trong hợp đồng, đó là học thuyết về giao dịch không cân bằng (unconscionability doctrine) Đây là tiền đề và cơ sở quan trọng nhất để điều chỉnh hợp đồng chứa đựng những điều khoản bất lợi cho một bên, hay còn gọi là hợp đồng có một bên yếu thế mà trong đó, các nguyên tắc của một hợp đồng thông thường không thể được áp dụng
Theo đó, một giao dịch nếu hội đủ bốn yếu tố của một giao dịch không công bằng (unconscionable bargains) sẽ có thể bị tuyên hủy bao gồm: (i) bên yếu thế đang ở trong một
18 Xem Chú thích số 7, tr.13
19 Phạm Duy Nghĩa, 2003 Điều chỉnh thông tin bất cân xứng và quản lý rủi ro trong pháp luật hợp đồng Việt
Nam Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 05, tr.39
Trang 19tình trạng bất lợi nghiêm trọng vì một hay một số điểm yếu hoặc hạn chế; (ii) bên còn lại có hành vi trục lợi do biết được điểm yếu này của bên yếu thế, (iii) các điều khoản trong hợp đồng rõ ràng là không công bằng hoặc mang tính áp bức; và (iv) bên yếu thế không nhận được sự tư vấn pháp lý độc lập20
Trong đó, yếu tố (i) và (ii) là điều kiện cần để giúp xác định tính bất cân xứng trong giao dịch, còn yếu tố (iii) và (iv) đóng vai trò như điều kiện đủ để chế tài hủy hợp đồng có thể được áp dụng
Học thuyết về giao dịch không công bằng đã được pháp điển hóa trong Bộ luật Thương mại Thống nhất - Uniform Commercial Code (UCC) tại Điều 2-302, theo đó tòa án được quyền từ chối cho thi hành những điều khoản hay những hợp đồng bất công cho một bên Từ đây, học thuyết này được biết đến rộng rãi hơn và được áp dụng như một công cụ
để giải quyết các vấn đề mà nguyên tắc hợp đồng truyền thống còn bỏ sót21
Theo pháp luật Việt Nam, một quốc gia theo hệ thống Civil Law, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 (Luật BVQLNTD 2010) Việt Nam có quy định tương tự học thuyết
về giao dịch không cân bằng Cụ thể, theo Điều 16 Luật BVQLNTD 2010 thì những điều khoản gây bất lợi nghiêm trọng cho người tiêu dùng như loại trừ trách nhiệm của thương nhân, giới hạn quyền của người tiêu dùng… sẽ không có hiệu lực Quy định này cũng xuất hiện trong Luật Bảo vệ quyền và lợi ích người tiêu dùng Trung Quốc22
Bên cạnh việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu, bên yếu thế trong hợp đồng còn có thể được bảo vệ thông qua việc diễn giải hợp đồng theo hướng có lợi cho bên yếu thế (contra proferentem) Đây là một nguyên tắc thường gặp, không chỉ trong hợp đồng với bên yếu thế,
mà còn trong các hợp đồng thông thường Theo đó, khi hợp đồng có chứa điều khoản với nội dung không rõ ràng, thì điều khoản sẽ được ưu tiên giải thích theo hướng ngược lại với lợi ích của bên soạn thảo điều khoản23
23 Xem Chú thích số 1, tr 194
Trang 20Nguyên tắc này cũng được đề cập theo pháp luật hợp đồng Việt Nam, cụ thể việc giải thích hợp đồng theo hướng có lợi cho bên yếu thế trong trường hợp bên mạnh thế đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi24
Có thế thấy rằng, pháp luật Việt Nam cũng rất tiệm cận với pháp luật thế giới về việc bảo vệ bên yếu thế trong hợp đồng, đặc biệt là người tiêu dùng Tuy vậy, việc áp dụng trên thực tế vẫn gặp phải rất nhiều bất cập
Và một vấn đề khi áp dụng các điều khoản này đó là khái niệm quá mơ hồ Không Tòa án hay luật sư, kể cả người soạn hợp đồng có thể chắc chắn về việc học thuyết trên được
áp dụng như thế nào25 Chính vì vậy, Tòa án, tùy từng trường hợp và dựa trên những án lệ trước đây, sẽ quyết định các tiêu chuẩn phù hợp
Một học thuyết khác cũng được sử dụng để bảo vệ bên yếu thế theo thông luật đó là học thuyết về khó khăn trở ngại (hardship) Hardship được hiểu là trong những trường hợp khi xảy ra làm thay đổi một cách căn bản tính cân bằng của hợp đồng thì bên bị thiệt hại, tức bên yếu thế, có quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng hoặc yêu cầu tòa án chấm dứt hợp đồng nếu hai bên không tìm được tiếng nói chung26
Nhìn chung, pháp luật về hợp đồng có sự bảo vệ nhất định đối với người tiêu dùng với tư cách là một bên yếu thế trong hợp đồng với nhà sản xuất, người cung cấp hàng hóa/ dịch vụ Mặc dù các học thuyết trên là nhằm bảo vệ bên yếu thế trước những điều khoản bất lợi trong hợp đồng, nhưng việc bảo vệ này chỉ theo hướng thụ động, tức không bên yếu thế vẫn không thể tự bảo vệ mình mà khi có tranh chấp, Tòa án sẽ quyết định như thế nào là công bằng cho bên yếu thế nhất
Theo giả thuyết đề tài rằng việc không đọc hợp đồng sẽ có thể khiến người tiêu dùng gánh chịu những hậu quả pháp lý không mong muốn, nhưng không phải trường hợp nào người tiêu dùng cũng có thể đem vụ việc đến Tòa án, cũng có thể áp dụng unconscionability doctrine hay giải thích theo hướng có lợi để được bảo vệ Tuy vậy, đây vẫn là tiền đề quan trọng để giúp người tiêu dùng thoát khỏi những hợp đồng không mong muốn hay những bất lợi không lường trước được, vốn là hậu quả của việc không đọc hợp đồng
24 Khoản 8 Điều 409 BLDS 2005 và được giữ nguyên tại Khoản 6 Điều 404 BLDS 2015
25 Marrow, P B., 2000 Contractual Unconscionability: Identifying and Understanding Its Potential Elements
Journal of the New York State Bar Association, Volume 72, p 18
26 Lê Minh Hùng, 2009 Điều khoản điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi (Hardship) trong pháp luật nước
ngoài và kinh nghiệm cho Việt Nam Nghiên cứu Lập pháp, số 6, tháng 3, tr 41 - 51
Trang 21Một trong những yếu tố chính khiến người tiêu dùng rơi vào thế yếu khi giao kết với thương nhân, đó là việc không thể thương lượng Yếu tố này xuất phát từ việc hợp đồng áp dụng cho người tiêu dùng là hợp đồng mẫu Từ đây đưa đến vấn đề cần thiết phải tìm hiểu
về hợp đồng mẫu và vai trò của chúng trong quan hệ tiêu dùng
1.2 Hợp đồng mẫu và hợp đồng mẫu điện tử
Với sự phát triển của công nghệ thông tin, ngày càng nhiều giao dịch tiêu dùng được thực hiện thông qua mạng Internet Theo Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam 2015 do Bộ Công thương phát hành định kỳ, Việt Nam là một trong những thị trường tiềm năng phát tiển thương mại hàng đầu Đông Nam Á
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cũng từng nhận định về sự phát triển của công nghệ thông tin: “Phi tin bất phú” 27 Quả thật, thương mại điện tử (TMĐT) đang dần chiếm lĩnh
và cho thấy sức ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày của người tiêu dùng, các hoạt động tiêu dùng trên Internet cũng đa dạng, biến hóa không ngừng, việc bảo vệ người tiêu dùng cũng
vì thế mà trở nên khó khăn hơn Từ đây đặt ra vấn đề làm sao để bảo vệ người tiêu dùng trước những giao dịch TMĐT như hiện nay Nhưng trước tiên, chúng ta cần tìm hiểu hợp đồng trong giao dịch TMĐT được hiểu như thế nào, phát triển ra sao
1.2.1 Khái niệm hợp đồng mẫu
Nếu như hợp đồng thông thường được tạo lập trên cơ sở thương lượng, thống nhất thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, thì hợp đồng mẫu lại đưa đến một cách hiểu hoàn toàn khác Trong lĩnh vực tiêu dùng, hợp đồng không được giao kết bằng phương thức thỏa thuận thông thường, mà để giảm bớt thời gian giao dịch, người bán, các công ty lớn chuyên cung cấp hàng hóa, dịch vụ thường giao kết với người tiêu dùng bằng các loại hợp đồng được soạn sẵn và được áp dụng hàng loạt Hợp đồng theo mẫu có nhiều tên gọi khác nhau cũng như tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau
Hợp đồng theo mẫu là “hợp đồng được soạn thảo bởi một bên trong hợp đồng
(thường là người bán với năng lực đàm phán cao hơn) và được ký bởi bên yếu thế hơn (thường là người tiêu dùng có nhu cầu về hàng hóa hay dịch vụ) mà chịu ràng buộc bởi hợp
Trang 22đồng và do đó không có hoặc có rất ít khả năng để thỏa thuận về các điều khoản trong hợp đồng”28
Một số quốc gia gọi tên loại hợp đồng này là hợp đồng mẫu (standard form contract) được hiểu là hợp đồng soạn sẵn và được áp dụng cho nhiều đối tượng và không thể thương lượng Theo đó, yếu tố hình thức được chú trọng, tức hợp đồng được soạn sẵn theo khuôn mẫu, quy định những điều khoản và điều kiện nhất định và hướng đến một nhóm đối tượng
áp dụng cụ thể mà không phân biệt nhân thân, giới tính hay địa vị xã hội 29, chẳng hạn như người mua hàng điện tử, người sử dụng dịch vụ chuyển nhà, hợp đồng tín chấp…
Trong khi đó ở một số quốc gia khác như Mỹ, Canada lại dựa trên yếu tố phương thức giao kết, loại hợp đồng này được gọi dưới các tên như hợp đồng gia nhập (adhesion contract), tức hợp đồng do một bên soạn thảo và bên còn lại chỉ có thể lựa chọn đồng ý hoặc không đồng ý, ký hoặc không ký mà không được thương lượng về bất kỳ điều khoản nào của hợp đồng; hay hợp đồng hàng loạt (boilerplate contract) được gọi theo tính ứng dụng của hợp đồng trong đời sống
Dựa trên định nghĩa về hợp đồng mẫu cũng như phân tích của các một số học giả, có thể khái quát những đặc điểm của hợp đồng mẫu như sau:
- Hợp đồng không được tạo lập trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận, thống nhất
mà các điều kiện, điều khoản của hợp đồng mẫu được đưa ra bởi một bên trong hợp đồng,
cụ thể là trong lĩnh vực tiêu dùng là người bán, nhà sản xuất với tư cách là bên mạnh thế hơn
- Nội dung của hợp đồng mẫu thường chi tiết, đôi lúc dài dòng để có thể bao quát được các trường hợp mà người soạn thảo muốn điều chỉnh, và mang tính học thuật cao
- Vị thế giữa các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng là bất cân xứng Hầu như trong mọi trường hợp, bên đưa ra các điều khoản, soạn thảo hợp đồng tức doanh nghiệp là bên có địa vị cao hơn, có khả năng tài chính, pháp lý và thông tin về giao dịch Ngược lại, bên không soạn thảo, trường hợp này là người tiêu dùng, phải chấp nhận vô điều kiện các điều khoản có trong hợp đồng và hầu như luôn ở vị thế thấp hơn rất nhiều
28 Legal Information Institute, Cornell University Law School,
https://www.law.cornell.edu/wex/adhesion_contract_contract_of_adhesion [Truy cập ngày 11/10/2016]
29 Nguyễn Thị Ngọc Anh, 2011 Pháp luật về Hợp đồng dân sự theo mẫu trên thế giới – Những kinh nghiệm đối với Việt Nam Luận văn Thạc sĩ trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 23- Hợp đồng được áp dụng hàng loạt trong một lĩnh vực nhất định, cho một nhóm khách hàng nhất định giao dịch một hàng hóa, hay dịch vụ nhất định mà không thể đàm phán riêng lẻ nội dung hợp đồng30
Việc sử dụng cùng một điều khoản mẫu cho nhiều giao dịch khác nhau đóng vai trò quan trọng trong việc giảm chi phí và thời gian đàm phán, qua đó tăng hiệu quả kinh tế của việc giao kết hợp đồng31 Chính vì lý do thiết thực này, điều khoản mẫu đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống hiện đại, đặc biệt là trong kỷ nguyên số với sự phát triển của TMĐT hiện nay
1.2.2 Bản chất hợp đồng mẫu trong quan hệ hợp đồng với người tiêu dùng
Sự tồn tại của hợp đồng mẫu trong các giao dịch tiêu dùng thường ngày là cần thiết, bởi tính chất của hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng là tính nhỏ lẻ và tương đồng Dù đối tượng giao kết là đa dạng về địa vị, độ tuổi, giới tính… nhưng tựu trung lại họ cũng đều là người tiêu dùng, với mục đích giao kết rất rõ ràng là tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó Việc sử dụng hợp đồng mẫu trong tiêu dùng giúp doanh nghiệp cắt giảm rất nhiều chi phí về thương lượng, soạn thảo, ký kết hợp đồng
Tuy nhiên, cũng chính vì yếu tố áp đặt, không thể đàm phán nên trong quan hệ với người tiêu dùng, hợp đồng mẫu không mang tính chất của một hợp đồng, mà có bản chất như một sự ràng buộc về mặt pháp lý32 Thương nhân, trong khi đó, vì có lợi thế về mặt soạn thảo, thông tin nên đã lạm dụng vị trí của mình để đưa vào những điều khoản không công bằng cho người tiêu dùng để tự bảo vệ mình
Trong khi đó, thương nhân, tòa án, kể cả người tiêu dùng (một cách không tự nguyện) đều mặc định rằng việc người tiêu dùng ký tên mình trên hợp đồng, hoặc nhấn vào nút “Tôi đồng ý” trên hợp đồng thương mại điện tử tức đã thể hiện sự tự nguyện giao kết và đồng thuận về tất cả các nội dung quy định trong hợp đồng, bất kể người tiêu dùng có đọc hợp đồng đó không
Từ thập niên 90, nhiều quốc gia trên thế giới, đã ban hành các chính sách, văn bản pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chống lại sự lạm du ̣ng của những nhà sản
30 Bebchuk, A L & Posner, A R., 2006 One-Sided Contracts in Competitive Consumer Markets Michigan Law Review, Volum 104, No.5, p 827; Omri, B., 2006 Foreword to Boilerplate: Foundation of Market Contract Symposium Michigan Law Review, Volum 104, No 5, 821-826
31 Gillette, C P., 2009 Standard Form Contracts N.Y.U Law and Economics Research, p 09-18
32 Katz, A., 1990 Your Terms or Mine? The Duty to Read the Fine Print in Contracts The RAND Journal of Economics, Vol 21, No 4, p 518-537, Available at: http://www.jstor.org/stable/2555466 [Accessed 25/11/2016]
Trang 24xuất kinh doanh và những bất công trong xã hội33 Tại Việt Nam, vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng được đặt ra từ rất sớm, nhưng cho đến nay, quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng trong hợp đồng mẫu với một bên là nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa vẫn chưa được bảo đảm
1.2.3 Các loại hợp đồng mẫu trong giao dịch thương mại điện tử
Hiện trong lĩnh vực TMĐT, có đến 99% các hợp đồng được cung cấp đều là hợp đồng mẫu34, và được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như hợp đồng kích hoạt (Clickwrap agreement), hợp đồng trình duyệt (Browsewrap agreemnent) hay hợp đồng gói bọc (Shrinkwrap agreement)35 Các tên gọi của hợp đồng mẫu hiện vẫn chưa được làm rõ theo pháp luật Việt Nam, tuy nhiên việc phân loại và điều chỉnh các hợp đồng mẫu điện tử
đã được đề cập trong pháp luật Anh, Mỹ
Mặc dù đều được gọi chung là hợp đồng mẫu, nhưng các loại hợp đồng đều có sự khác biệt nhất định, và sự khác biệt này cũng ảnh hưởng nhất định đến cơ hội đọc hợp đồng của người tiêu dùng nói riêng và việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung
Thứ nhất, Clickwrap là một dạng hợp đồng mà trong đó, các nội dung được thể hiện sẵn và người dùng được yêu cầu thế hiện sự đồng ý với các điều khoản và điều kiện của nhà cung cấp trước khi sử dụng sản phẩm hay dịch vụ36 Định dạng và nội dung của hợp đồng clickwrap thường khá đa dạng tùy thuộc vào sản phẩm hay dịch vụ cung cấp, nhưng đều có điểm chung là các điều khỏan và điều kiện của hợp đồng sẽ hiển thị trên cùng một trang với
ô “OK”, “Tôi đồng ý”, hoặc “Bằng việc nhấp vào nút này, bạn đồng ý với…” hiện trên màn
hình hay trình duyệt
Nhìn chung, để có thể đồng ý với các điều khoản và điều kiện đó, người tiêu dùng cần phải cuộn thanh công cụ qua các điều khoản trước khi thể hiện việc chấp nhận bằng cách nhấn vào ô đồng ý
Tính pháp lý của hợp đồng Clickwrap được thừa nhận rộng rãi tại Mỹ Cụ thể, Viện Lập pháp Hoa Kỳ đã ban hành Nguyên tắc của Luật Hợp đồng Phần mềm (PLSC - Principle
of the Law of Software Contracts) vào tháng 5 năm 2009 trong đó chấp nhận hợp đồng
Trang 25https://www.techopedia.com/definition/4243/clickwrap-Clickwrap có hiệu lực ràng buộc các bên37, do người tiêu dùng đã được trao cơ hội đọc hợp đồng, và giả định rằng người tiêu dùng đã đọc hợp đồng
Chẳng hạn như trong vụ Barnett v Network Solutions 356 F 3d 393 (2nd Cir 2004),
vụ án này liên quan đến tính hợp lệ của điều khoản đăng ký tên miền trong hợp đồng giữa nguyên đơn, Randall Barnett and Network Solutions, Inc (NSI) dưới dạng clickwrap Trong hợp đồng có điều khoản liên quan đến nơi giải quyết tranh chấp Khi nguyên đơn yêu cầu cung cấp tên miền và đòi bồi thường, NSI từ chối và viện dẫn điều luật về giải quyết tranh chấp Tòa án cũng cho rằng điều khoản quy định trong hợp đồng là có hiệu lực vì nội dung điều khoản được thể hiện công khai và nguyên đơn đã có cơ hội đọc hợp đồng38
Loại hợp đồng mẫu thứ hai được nhắc đến là hợp đồng trình duyệt – Browsewrap Đây là loại được sử dụng khá phổ biến trên có trang web, ứng dụng điện thoại và cho cả phần mềm Chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy các hợp đồng Browsewrap trên Internet như Facebook, Kaspersky, Blackberry hay như Zalora…
Vậy Browsewrap là gì? Không giống với Clickwrap, Hợp đồng Browsewrap có các điều khoản và điều kiện ở một trang riêng biệt, và thể hiện dưới dạng một liên kết nhỏ ở
dưới cùng của trang web, chẳng hạn “Điều khoản và Điều kiện” hay “Điều khoản Dịch vụ”
và sẽ chuyển hướng người dùng đến trang hợp đồng, và chỉ khi nhấn vào liên kết, người dùng mới có thể đọc được nội dung hợp đồng, nếu người dùng bỏ qua không nhấp vào, người dùng vẫn bị xem là đã đồng ý với toàn bộ nội dung39 Có thể thấy rằng, hợp đồng Browsewrap chỉ đơn giản là một liên kết đến một thỏa thuận pháp lý và không hề tập trung
sự chú ý vào hợp đồng thực sự40
Về mặt thực tiễn, hiệu lực hợp đồng Browsewrap ít có khả năng được công nhận41, bởi các điều khoản không được thể hiện một cách rõ ràng và người tiêu dùng không được biết về các điều khoản mà mình sẽ bị ràng buộc
41 Kunz C L et al., 2003 Browse-Wrap Agreements: Validity of Implied Assent in Electronic Form Agreements
Business Lawyer, Vol 59, No.1, 279-280
Trang 26Dựa trên một nghiên cứu của nhóm tác giả John E Ottaviani, Elaine D Ziff, Juliet
M Moringiello, Kathleen M Porter và Jennifer C Debrow, để một hợp đồng Browsewrap
có hiệu lực ràng buộc người tiêu dùng cần phải thỏa mãn bốn yếu tố:
(i) Người dùng được thông báo về sự tồn tại của các điều khoản;
(ii) Người dùng có cơ hội đọc và xem xét các điều khoản đó;
(iii) Người dùng được thông báo về việc cách thức thể hiện sự đồng ý của mình
đối với các điều khoản; và (iv) Người dùng thể hiện sự đồng ý của mình sau khi được thông báo42
Do đó, đa phần trong các tranh chấp về Browsewrap, Tòa án thường căn cứ vào việc thương nhân đã thực hiện các thông báo cần thiết đến người tiêu dùng về nội dung các điều khoản đó hay không43
Một loại hợp đồng mẫu khác gây nhiều tranh cãi về tính pháp lý của hợp đồng, đó là hợp đồng gói bọc – Shrinkwrap Hợp đồng Shrinkwrap là một hợp đồng với thương nhân
mà người tiêu dùng chỉ có thể được đọc một khi họ đã mua, nhận được hàng hóa và mở bao
bì hàng hóa đó Đúng như tên gọi, đây là một hợp đồng được gói kèm một gói hàng trong bao bì dán kín Một khi người dùng cuối mở bao bì, hợp đồng sẽ được xem là có hiệu lực, tức hợp đồng Shrinkwrap chỉ được đến tay người dùng cuối đọc khi và chỉ khi hàng hóa đó được mua
Ví dụ như khi mua một chiếc điện thoại, người tiêu dùng sẽ không được biết về nội dung hợp đồng giữa nhà điều hành quy định ra sao, chế độ bảo hành cụ thể như thế nào mà chỉ đơn giản là mua một hộp kín, có dán tem niêm phong Và cho đến khi người mua trả tiền, tháo niêm phong và “khui hộp” thì mới có thể thật sự biết được nội dung hợp đồng chính xác là gì
Đây là một trong số nhiều ví dụ về hợp đồng Shrinkwrap trong thực tiễn đời sống hàng ngày chúng ta đều giao kết và nhìn thấy rất nhiều hợp đồng Shrinkwrap, nhưng lại chưa nhận thức một cách đầy đủ về chúng Và cũng như Browsewrap, loại hợp đồng này gây nên
42 Xem Chú thích số 42
43 Trong các vụ án Hubbert v Dell Corp., 835 N.E 2d 113 (Ill App Ct 2005); Hotels.com, L.P v Canales,
2006 Tex App LEXIS 803 (2006), Tòa án đều kết luận rằng các điều khoản được thể hiện không rõ ràng, do vậy hợp đồng không được xem là có hiệu lực pháp lý trừ khi người bán đã thực hiện các thông báo cần thiết đến người tiêu dùng về thông báo đó
Trang 27tranh cãi về tính pháp lý của hợp đồng khi mà người tiêu dùng không thể kiểm tra được nội dung gì trước khi mua
Tuy vậy, vẫn có quan điểm cho rằng hợp đồng Shrinkwrap vẫn có hiệu lực Một án
lệ phổ biến khi đề cập đến loại hợp đồng này là vụ án Hill v Gateway 44, theo đó nguyên đơn đặt mua một máy tính từ Gateway, trong bưu kiện chứa máy tính có danh sách các điều khoản, trong đó có điều khoản về giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài nhưng nguyên đơn đã không đọc thấy Khi có tranh chấp, Tòa án cho rằng hợp đồng vẫn có thể có hiệu lực, và những người giao kết nhưng không đọc hợp đồng sẽ phải chấp nhận rủi ro về những điều khoản bất lợi45
Trong số các loại hợp đồng mẫu trên đây, Clickwrap là hợp đồng “thân thiện” với người tiêu dùng hơn khi các điều khoản hợp đồng được thể hiện công khai hơn so với Browsewrap hay Shrinkwrap Tuy vậy, có một điều cần nhìn nhận rằng, trong việc xử lý các tranh chấp về hợp đồng mẫu, kể cả hợp đồng Clickwrap, Tòa án thường không căn cứ vào việc người tiêu dùng có nhận biết về hợp đồng không hay họ có thực sự đọc không, mà chỉ viện dẫn vào yếu tố những nội dung hợp đồng được công khai đến đâu, hay người tiêu dùng
có cơ hội đọc hợp đồng không46
Tiểu kết Chương 1
Khác với một hợp đồng thông thường, về bản chất, hợp đồng tiêu dùng là hợp đồng giao kết với một bên yếu thế, trong đó người tiêu dùng gặp bất lợi về vị thế, năng lực đàm phán, cũng như bất cân xứng về thông tin hợp đồng dẫn đến dần dần người tiêu dùng nảy sinh tâm lý “take it or leave it”, vì thế nội dung hợp đồng không còn được người tiêu dùng quan tâm
Trong thực tiễn, yếu tố “đọc hợp đồng” được đặt chung với yếu tố chủ thể chứ không phải bằng các quy định của hợp đồng đó47 Do đó mặc định rằng, ngoại trừ những chủ thể không có năng lực hành vi dân sự, hay năng lực hành vi dân sự bị hạn chế: như người chưa thành niên, người bị tâm thần.v.v , thì một người trưởng thành có lý trí minh mẫn, độ tuổi
44 Hill v Gateway 2000, Inc, 22 Ill.105 F.3d 1147, 2 ILRD 695 (7th Cir 1997)
45 Casebriefs, Hill v Gateway 2000, Available at to-knapp/reaching-agreement-the-process-of-contract-formation/hill-v-gateway-2000-inc-2/ [Accessed on 15/1-/2016]
http://www.casebriefs.com/blog/law/contracts/contracts-keyed-46 Mazzotta, F G., 2001 A Guide to E-Commerce: Some Legal Issues Posed by E-Commerce for American Businesses Engaged in Domestic and International Transactions s.l.:24 Suffolk Transational Law Review, p 249-51
47 Duns, J & Davidson M.J., 1994 Trade Practice and Consumer Protection: cases and materials Sydney :
Butterworths, xxxv, p.931
Trang 28và năng lực hành vi đương nhiên được hiểu là có khả năng hiểu bất kỳ hợp đồng nào được viết bằng ngôn ngữ mà người tiêu dùng có thể hiểu được
Loại hợp đồng được sử dụng phổ biến trong giao kết giữa thương nhân với người tiêu dùng là hợp đồng mẫu Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, hợp đồng mẫu ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp, kéo theo đó là quyền lợi của người tiêu dùng cũng
bị thu hẹp lại hơn
Trước tình trạng việc đọc hợp đồng đang dần trở thành một điều quá xa xỉ đối vối người tiêu dùng, cũng như họ “bất lực” trong việc tự bảo vệ mình trước các hợp đồng mẫu trong tiêu dùng, do đó việc tìm hiểu và phân tích về tình trạng trên là cần thiết để có thể có những đề xuất giải quyết phù hợp
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC
ĐỌC HỢP ĐỒNG CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG
Cùng với sự phát triển bùng nổ của về công nghệ thông tin thế kỷ 21, người tiêu dùng
có thêm nhiều kênh tiêu dùng hơn để lựa chọn, tiếp cận nhiều loại hình dịch vụ, hàng hóa hơn, vì thế mà hoạt động tiêu dùng không chỉ trở nên sôi động hơn mà còn phong phú, đa dạng hơn Các giao dịch tiêu dùng cũng trở nên phức tạp hơn, đặc biệt là giao dịch điện tử bởi tính “từ xa” của giao dịch, thông tin về đối tượng giao dịch cũng khó nắm bắt hơn
Cũng như một số giao dịch tiêu dùng khác như bảo hiểm, mua bất động sản hay điện sinh hoạt, hợp đồng mẫu được sử dụng trong giao dịch điện tử với người tiêu dùng, chẳng hạn các thỏa thuận người dùng cuối, loại hợp đồng thường thấy khi cài đặt, mua bán các chương trình, ứng dụng trên máy tính
Sử dụng hợp đồng mẫu trong tiêu dùng mang lại những lợi ích nhất định, nhưng cũng kéo theo việc người tiêu dùng trở nên ỷ lại và không đọc hợp đồng Tình trạng này đã và đang diễn ra và là một vấn đề đáng báo động bởi có không ít trường hợp người tiêu dùng bị thiệt hại do họ không nhận thức được những điều được quy định trong hợp đồng
Do đó, để có thể đưa ra được giải pháp tối ưu giải quyết tình trạng không đọc hợp đồng của người tiêu dùng, việc tìm hiểu về các nguyên nhân dẫn đến tình trạng không đọc hợp đồng là vô cùng cần thiết
2.1 Thực trạng đọc hợp đồng của người tiêu dùng
Trong suốt thập kỷ qua, chúng ta đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin, từ việc Internet kết nối thế giới, Google trở thành “bá chủ” trong lĩnh vực tìm kiếm thông tin cho đến sự “lên ngôi” mạng xã hội ảo Facebook Điều đó cho thấy những bước tiến không ngừng nghỉ của thế giới trong lĩnh vực công nghệ thông tin, hợp đồng, cũng từ
đó mà có thêm những giao diện mới, hình thức mới để phù hợp hơn
Ngày nay, người tiêu dùng bắt gặp rất nhiều các dạng hợp đồng mẫu dưới dạng điện
tử (như Clickwrap hay Browsewrap), thậm chí việc người tiêu dùng tham gia bất kỳ hội, nhóm hay chương trình nào trên Internet cũng cần một “click” cho các cam kết được đưa ra Nhưng liệu có bao nhiêu người tiêu dùng đọc những nội dung trong các cam kết ấy trước khi nhấn vào nút đồng ý?
Vào năm 2005, một khảo sát quy mô nhỏ tại Mỹ được thực hiện bởi Robert A Hillman, một giáo sư luật học người Mỹ về tình hình giao kết hợp đồng mẫu điện tử của
Trang 30người tiêu dùng trên 92 sinh viên năm nhất của ông48 Trong đó mỗi câu hỏi khảo sát sẽ được thể hiện trong một bảng49 Kết quả khảo sát như sau:
Khi khảo sát về việc đọc hợp đồng điện tử, kết quả (thể hiện trong Bảng 2.1 dưới đây) cho thấy, khi bỏ qua những yếu tố về giá cả và mô tả về sản phẩm (mà người khảo sát giả định rằng người được khảo sát có đọc), chỉ có 4% người tiêu dùng điện tử được khảo sát (4/92) đọc hợp đồng mẫu điện tử, nhưng có đến 40 trên 92 số người được khảo sát, chiếm tỷ
lệ 44% không đọc hết hợp đồng Và thông qua việc chạy chéo các kết quả khảo sát, Hillman nhận thấy rằng chỉ có 4 trong số 40 người không đọc hợp đồng đó có thể cân nhắc việc đọc hợp đồng dựa trên các điều khoản, thông tin về thương nhân hay giá trị của đối tượng hợp đồng, điều đó đồng nghĩa với việc có đến 36 người không và sẽ không đọc hợp đồng, bất kể nội dung điều khoản là gì
Bảng 2.1 Bạn có đọc hợp đồng tiêu dùng điện tử không? (Người được khảo sát
có thể chọn hơn 1 câu trả lời)
trên 92 người được khảo sát
Tỷ lệ (%)
48 Theo lý giải của giáo sư Hillman, đối tượng khảo sát là sinh viên bởi phần lớn người sử dụng Internet là thế hệ
“trẻ hơn, khá giả hơn, và có trình độ văn hóa cao hơn so với người tiêu dùng thông thường”
49 Hillman, R A, 2005 Online Consumer Standard-Form Contracting Practices: A Survey and Discussion of
Legal Implications Cornell Law Faculty Publications No 05-012 [SSRN Electronic Journal] Available at
https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=686817 [Accessed on 31/10/2016]
Trang 31sát gặp phải là bối cảnh thời gian và địa điểm mà những người được khảo sát mua hàng trên mạng, cụ thể phần lớn trong số đó thường tiêu dùng trên mạng vào buổi tối tại nhà của họ.50
Những lý do quan trọng khác mà nhiều người được khảo sát lựa chọn, đó là sự lạc quan về việc sẽ không xảy ra những trường hợp bất lợi (42%); niềm tin những điều khoản
đó là công bằng (32%); và niềm tin rằng pháp luật sẽ loại bỏ những điều khoản bất lợi nghiêm trọng (26%) Nhưng chỉ có 13% số người được khảo sát lý giải việc không đọc hợp đồng của mình là vì không hiểu các “thuật ngữ”
Bảng 2.2 Lý do không đọc “Hợp đồng mẫu” điện tử là gì? (Người được khảo sát có thể
chọn hơn 1 câu trả lời)
Lý do không đọc hợp đồng
Số người trả lời khảo sát trên 92 người được khảo sát
Tỷ lệ (%) trên tổng
số các câu trả lời
Không xảy ra những trường hợp bất lợi
Mặc dù vậy, nhận thấy số liệu khảo sát này chưa mang tính tiêu biểu cho đại bộ phận người tiêu dùng bởi số người được khảo sát là một nhóm sinh viên luật, do đó họ hầu như
50 Trong khảo sát của mình, Hillman tiến hành khảo sát về giới tính người được khảo sát, và thời gian và địa điểm
họ thường mua hàng trên mạng Trong đó 62% người được khảo sát thường mua hàng vào buổi tối, và 83% số người được khảo sát đặt mua hàng khi họ ở nhà
Trang 32không gặp khó khăn về việc đọc và hiểu những điều khoản, điều đó lý giải cho việc tỷ lệ người khảo sát không hiểu về “thuật ngữ” chỉ chiếm 13% Trong khi đó, con số này có thể cao hơn nếu được khảo sát với những người tiêu dùng khác đa dạng hơn (chẳng hạn nhân viên văn phòng, học sinh, nội trợ…), bởi mặc dù có thể có kiến thức và trình độ văn hóa tương đương, nhưng nếu như không quen thuộc với các thuật ngữ hợp đồng, họ vẫn sẽ có thể gặp khó khăn khi đọc và hiểu hợp đồng mẫu điện tử
Mặt khác, khảo sát chưa làm rõ được nguyên nhân chủ quan xuất phát từ người tiêu dùng, như những yếu tố về tâm lý người tiêu dùng, khả năng thương lượng, hay do có các nguồn thông tin khác.v.v Nhưng nhìn chung, những con số trên có thể cho thấy một thực
tế rằng đa số người tiêu dùng đều không đọc hợp đồng, và nhận thức của người tiêu dùng về nội dung hợp đồng là rất chủ quan
Dẫn chứng tiếp theo để góp phần làm rõ thực trạng đọc của người tiêu dùng điện tử, tác giả mạn phép được đề cập đến cuộc điều tra năm 2014 của một nhóm giáo sư, trong đó
có Yannis Bakos, một giáo sư Trường Đại học New York, một người chuyên giảng dạy và nghiên cứu về kinh tế ứng dụng trong công nghệ thông tin, Internet và mạng trực tuyến Điều tra này về hành vi của người tiêu dùng và thời gian họ bỏ ra từ lúc truy cập trang web đến lúc mua một phần mềm để kiểm tra về tình trạng đọc các Thỏa thuận người dùng cuối (EULA – End User License Agreement) áp dụng cho các sản phẩm phần mềm51
Nhóm nghiên cứu tiến hành theo dõi 90 trang web mua bán phần mềm trong hơn một tháng, với 48.154 người dùng truy cập vào các trang web Dữ liệu cũng ghi nhận được các thông tin về đặc điểm nhân thân như độ tuổi, giới tính, thu nhập, nơi ở Và họ phát hiện ra
rằng: “chỉ một, hai người trong số cả ngàn người mua sắm phần mềm trên mạng lựa chọn
truy cập vào các thỏa thuận cấp phép, và những người đó dành quá ít thời gian so với thời
2011, Bakos cũng tiến hành một cuộc khảo sát và kết quả cũng tương tự, chỉ khoảng 0,01% những người sử dụng Internet đọc các hợp đồng mẫu53
51 Bakos, Y., et al., 2014 Does Anyone Read the Fine Print? Consumer Attention to Standard Form Contracts Journal of Legal Studies, Vol 43, No 1, N.Y.U Law and Economics Research Paper No 09-40 [SSR Electronic Journal]
Available at https://ssrn.com/abstract=1443256 [Accessed on 1/11/2016]
52 Nguyên văn tiếng Anh: “only one or two out of every thousand retail software shoppers chooses to access the license agreement, and those few that do spend too little time, on average to have read more than a small portion of the license text”
53 Xem Chú thích số 51
Trang 33Mục tiêu của cuộc điều tra trên quy mô rộng trên là để tìm hiểu liệu người tiêu dùng
có thực sự muốn biết về các quyền và nghĩa vụ của mình trước khi giao kết hợp đồng mẫu hay không54 Kết quả điều tra cũng đặt ra câu hỏi về hiệu quả thực sự của các chính sách nhằm cải thiện tình trạng thị trường thông qua việc yêu cầu công khai thông tin theo cách thức hiện nay55
Quả thật, rất ít người đọc hợp đồng, từ hợp đồng vay tiền, gửi hàng cho đến sử dụng phần mềm, mua điện thoại, từ hợp đồng giấy cho đến hợp đồng điện tử Đây là một thực trạng tuy không hề bất ngờ nhưng rất đáng quan ngại, tuy vậy, để có thể đánh giá hướng giải quyết của luật đã thật sự phù hợp hay chưa, và có những đề xuất phù hợp, cần thiết phải xác định nguyên nhân thực sự dẫn đến tình trạng này
Trở lại với tình hình trong nước, hiện tại Việt Nam chưa có những khảo sát tương tự
về việc đọc hợp đồng điện tử của người tiêu dùng Nhưng ở một thống kê khác trong Báo cáo định kỳ hàng năm về thương mại điện tử Việt Nam do Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin, Bộ Công thương phát hành, vấn đề sử dụng và mức độ quan tâm đến các thông tin mua hàng trực tuyến được đề cập
Theo báo cáo, trong năm năm trở lại đây, Việt Nam là một trong những thị trường tiềm năng về TMĐT khu vực Đông Nam Á Riêng trong năm 2015, có gần 100 doanh nghiệp
tổ chức triển khai ứng dụng TMĐT ở nhiều quy mô và mức độ khác nhau và đang trở thành một hiệu ứng rộng khắp
Bảng 2.3 cho thấy từ năm 2012 cho đến nay, số người dân Việt Nam sử dụng Internet
đã có sự tăng trưởng nhanh chóng (từ 35,58% năm 2012 lên 52% vào năm 2015), và trong
số những người dân sử dụng Internet (độ tuổi khảo sát trung bình từ 20 – 35 tuổi), tỷ lệ người dùng mua sắm trực tuyến cũng tăng lên
Bảng 2.4 tiếp theo thể hiện tỷ lệ người dân sử dụng Internet mua sắm trực tuyến Trong đó có thể thấy sự phát triển ổn định của tiêu dùng điện tử, khi số người mua sắm trực tuyến luôn trên 50%, thấp nhất là 57% năm 2013 và cao nhất là 71% năm 2012 Tuy vậy, so
54 Trong nghiên cứu của mình, Bakos đưa ra giả thuyết về sự nhận biết tối thiểu (informed minority hypothesis), trong đó tập trung chứng minh rằng hợp đồng mẫu do người bán, nhà sản xuất soạn thảo và xuất phát từ quan điểm cho rằng vì có nhiều người tiêu dùng không đọc hay hiểu các điều khoản trong hợp đồng dẫn đến người bán sẽ áp đặt các điều khoản không công bằng cho người tiêu dùng Mục tiêu của cuộc điều tra, cũng là mục tiêu của bài nghiên cứu, là nhằm chỉ
ra tình trạng không đọc EULA của người dùng và đưa đến giải pháp phù hợp cho tình trạng trên
55 Marotta-Wurgler, F., 2012 Does Contract Disclosure Matter Journal of Institutional and Theoretical Economics, Volume 120, p 168
Trang 34về tương quan giữa số người dùng Internet và số người mua sắm trực tuyến trong số những người dùng, có thể thấy sự tăng trưởng ổn định và có chiều hướng gia tăng
Và sự phát triển về tiêu dùng điện tử được thể hiện rõ nét trong Bảng 2.5 Nếu như năm 2012, người Việt Nam chỉ bỏ ra 30USD, tức xấp xỉ 700.000VNĐ, thì con số này năm
2013 đã tăng lên đến 120USD, tương đương 2.670.000VNĐ, tức tăng gấp 3 lần so với cùng
kỳ năm trước Con số tiếp tục tăng lên 145USD (tương đương 3.230.000VNĐ) vào năm
2014 và 160USD (tương đương 3.560.000VNĐ) vào năm 2015
Bảng 2.3 Tỷ lệ dân số sử dụng Internet tại Việt Nam từ năm 2012 – 2015
((Nguồn: Tổng hợp Báo cáo Thương mại điện tử của Cục TMĐT và CNTT, Bộ Công thương các năm 2012-2015)
Bảng 2.4 Tỷ lệ người sử dụng Internet mua sắm trực tuyến tại Việt Nam giai đoạn
Tỷ lệ dân số sử dụng Internet tại Việt Nam
Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
Tỷ lệ người dùng Internet mua sắm trực tuyến tại Việt Nam
Trang 35Cũng tính đến năm 2015, có đến 9.429 trang web TMĐT về bán hàng tiến hành thông báo, đăng ký lên Bộ Công thương, nhưng số lượng thông tin phản ánh của người dân về vi phạm pháp luật trên Cổng thông tin Quản lý hoạt động TMĐT chỉ có 46 người56 Và tình hình xử lý vi phạm thương mại điện tử 2015 cũng gói gọn trong các con số như sau:
Bảng 2.4 Tình hình xử lý vi phạm thương mại điện tử năm 2015
bị xử lý Sự sai khác này phải chăng là do hầu hết các trang web này tuân thủ các quy định
về TMĐT, hay bởi người tiêu dùng không biết, không quan tâm và cơ quan xử lý chưa thực hiện tốt việc kiểm tra, giám sát
Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam 2015, dù không đề cập trực tiếp đến vấn đề không đọc hợp đồng, nhưng cũng cho thấy rằng người tiêu dùng không mấy quan tâm đến các nội dung hợp đồng TMĐT, và việc xử lý vi phạm về TMĐT cũng chỉ giới hạn trong biện pháp hành chính là phạt tiền mà không có biện pháp dân sự, hay hình sự
2.2 Các yếu tố tác động đến việc đọc hợp đồng của người tiêu dùng
2.2.1 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng không đọc hợp đồng của người tiêu dùng
2.2.1.1.Vị thế của người tiêu dùng Câu hỏi đặt ra xuyên suốt đề tài đó là tại sao người tiêu dùng chấp nhận ký hợp đồng mẫu khi không hề đọc hợp đồng đó, và điều đó dẫn đến tình trạng không đọc hợp đồng như được phân tích trong bài
Nhiều lý giải được đưa ra đó là người bán là bên soạn lập hợp đồng sẽ nắm rõ và hiểu nội dung và ý nghĩa hợp đồng trong khi người tiêu dùng không có khả năng, hay nói cách khác là không được trao khả năng để làm như vậy
Trang 36Quả thật, như đã đề cập ở Chương 1 của đề tài, trong mối quan hệ với thương nhân,
vị thế của người tiêu dùng là bên yếu thế Bởi họ không được trao một quyền tương xứng với bên bán, họ không thể thương lượng về nội dung hợp đồng, họ không có đủ thông tin và năng lực để tạo áp lực lên người bán
Người tiêu dùng khi giao kết hợp đồng được mặc định đã hiểu hợp đồng, và biết được điều khoản nào tốt, điều khoản nào không tốt Nhưng trên thực tế, một lần nữa khẳng định rằng, những điều khoản được quy định trong hợp đồng lại là điều làm khó người tiêu dùng nhất Người tiêu dùng không có đủ kinh nghiệm và thông tin cần thiết để đưa ra quyết định về việc nên lựa chọn hay không lựa chọn giao kết hợp đồng nào Chẳng hạn, liệu người tiêu dùng không thể biết được rằng khả năng hàng hóa bị lỗi, trục trặc là bao nhiêu, chi phí sửa chữa có tốn kém không, hay việc từ bỏ bảo hành có ảnh hưởng đến giá hàng hóa không hay họ nên chi trả thêm tiền bảo hành như được đề nghị? Có một điều chắc chắn rằng, ngoại trừ thương nhân và người soạn thảo, không ai biết được hết về giá trị của những điều khoản này57
Nếu không có những thông tin chính xác, người tiêu dùng sẽ có nhận thức chủ quan
và đôi lúc sai lệch từ đó tạo điều kiện để các thương nhân khai thác và trục lợi Chẳng hạn như một chiếc máy tính xách tay sau khi được sản xuất thì bị phát hiện một số sản phẩm có phần cứng bị lỗi khiến máy đôi lúc có thể bị đứng hoặc chạy không được mượt Tuy vậy, thương nhân vẫn quyết định bán ra thị trường, nhưng với mức giá rẻ hơn và trong dịp đặc biệt, chẳng hạn như ngày quốc khánh Người tiêu dùng, khi không biết về lỗi phần cứng đó, nghĩ rằng sản phẩm có giá rẻ vì trong dịp khuyến mãi và quyết định đặt mua Điều đáng nói
là thông thường những sản phẩm được bán vào các dịp này ít khi áp dụng chính sách đổi trả hàng Trong trường hợp này, người tiêu dùng, không những đã phải mua một hàng hóa bị lỗi với mức giá không rẻ hơn bao nhiêu, nhưng lại bị thiệt thòi về những chính sách họ đáng
lẽ được hưởng Và bằng cách này, thương nhân, lợi dụng sự thiếu thông tin của người mua
để trục lợi từ người tiêu dùng
Nhưng điều đáng nói là người tiêu dùng bị khai thác, không phải lúc nào cũng bởi
do những điều khoản bất lợi trong hợp dồng, mà còn thông qua việc bán các điều khoản tốt
57 Xem Chú thích số 51, tr 29
Trang 37nhưng không cần thiết ở một mức giá cao58 Điều đó làm người tiêu dùng không thể và không
có khả năng phòng bị
Mặt khác, người tiêu dùng bị hạn chế nguồn cung cấp thông tin về sản phẩm, về hợp đồng, về người bán Bởi họ không thể tiếp cận được nguồn thông tin chính thống đáng tin cậy, những nguồn cung cấp thông tin hiện nay đều chịu sự chi phối của người bán Chẳng hạn như những lời tiếp thị, những quảng cáo thường thấy trên truyền hình… đều không phải
là một nguồn tin khách quan Vì thế, người tiêu dùng bị giới hạn về mặt nhận thức bởi họ chỉ nhận được thông tin mà thương nhân muốn họ nhận được, và đa phần là những thông tin tích cực về sản phẩm hay về người bán
Tuy vậy ở thời đại mà công nghệ thông tin chiếm lĩnh, người tiêu dùng cũng vì thế
mà có nhiều kênh thông tin hơn trước, họ cũng thông minh hơn và dần nhận ra sự thao túng của các thương nhân Người tiêu dùng thường tìm đến những phương pháp bổ sung thông tin khác, như tìm hiểu nhận xét của những người tiêu dùng đã sử dụng sản phẩm đó trước đây, hay được những chuyên gia giới thiệu, từ đó họ có so sánh giữa những sản phẩm, giữa các thương nhân để từ đó có lựa chọn phù hợp hơn Nhưng liệu điều đó có cải thiện vị thế của người tiêu dùng? Liệu có thể làm họ muốn đọc hợp đồng hơn không?
2.2.1.2.Hạn chế khả năng hiểu hợp đồng Các nhà kinh tế học hành vi cũng đưa ra một số giải thích cho trường hợp một bên
ký vào hợp đồng nhưng không hề đọc chúng
Về mặt khách quan, các quy định về hợp đồng mẫu khiến việc đọc hợp đồng trở nên
vô ích và nhàm chán Bởi hợp đồng mẫu quá dài, khó hiểu, và có vẻ như không quan trọng
để phải mất thời gian đọc
Một điều không thể phủ nhận rằng trong thực tế hiện nay, việc sử dụng hợp đồng mẫu khiến giao dịch tiêu dùng thuận tiện và tiết kiệm hơn rất nhiều Nhưng liệu tính cần thiết trong việc sử dụng hợp đồng mẫu nói chung và hợp đồng mẫu điện tử nói riêng có liên quan đến việc hợp đồng mẫu luôn dài dòng, khó hiểu, sử dụng nhiều thuật ngữ chuyên ngành không?
58 Ben-Shahar, O., 2009 The Myth of the ‘Opportunity to Read’ in Contract Law University of Chicago Law & Economics, Olin Working Paper No 415, p 1–28 [SSRN Electronic Journal] Available at
https://ssrn.com/abstract=1162922 [Accessed on 2/11/2016]
Trang 38Hợp đồng mẫu luôn dài dòng là bởi (i) pháp luật yêu cầu thương nhân công khai nhiều thông tin hơn nữa, nhưng những thông tin được thể hiện trong hợp đồng đôi khi lại không nhằm công khai thêm thông tin cho người tiêu dùng mà là; (ii) để giới hạn trách nhiệm của thương nhân và ràng buộc trách nhiệm của người tiêu dùng; hoặc (iii) để “che mắt” người tiêu dùng khi đưa vào những điều khoản bất lợi hơn cho họ bằng cách khiến họ cảm thấy chán nản và không muốn đọc hợp đồng
Về mặt chủ quan, nguyên nhân đưa ra là vì người tiêu dùng bị giới hạn bởi nhận thức59 Người tiêu dùng không có khả năng hiểu hợp đồng, và cũng không thể dự đoán được những hậu quả gì sẽ xảy ra nếu họ đồng ý với những điều khoản đó bởi họ không có đủ thông tin và không đủ khả năng để xử lý tất cả thông tin đó trong một thời gian quá ngắn
Vậy giả thuyết về việc một người trưởng thành có thể hiểu tất cả những gì viết trong hợp đồng nếu như hợp đồng đó bằng tiếng Việt liệu có phù hợp? Liệu một người không ở chuyên ngành luật có thể hiểu hết những bài viết trong một tạp chí học thuật như Tạp chí Luật học, hay Nhà nước và pháp luật, hay thậm chí, những điều luật?
Sự thật là có 3 yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hiểu hợp đồng: (i) thuật ngữ chuyên ngành được sử dụng; (ii) cách diễn đạt, và (iii) cấu trúc của văn bản đó60
Thứ nhất, đối với việc đọc hiểu các thuật ngữ, chẳng hạn thuật ngữ y khoa hay một công nghệ nào đó, nếu không phải chuyên ngành và không được giải thích cặn kẽ bởi chuyên gia, hầu hết chúng ta khó có thể hiểu được nội dung được đề cập Cho dù chúng ta không gặp khó khăn trong việc đọc tất cả các câu chữ trong đó, nhưng rõ ràng chúng ta lại không thể hiểu được ý nghĩa, mục đích ẩn chứa trong các câu chữ đó Vậy việc đọc hợp đồng có được xem là hiểu hợp đồng không?
Thứ hai, về cách diễn đạt ngôn ngữ và cấu trúc văn bản, trong đoạn dưới đây được trích từ một hợp đồng vay tín dụng bằng đô la Mỹ của một ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, trong đó có đề cập đến loại lãi suất LIBOR:
“Lãi Suất Màn Hình áp dụng (được làm tròn lên hoặc làm tròn xuống (tùy từng trường hợp) được Bên Cho Vay áp dụng, nếu cần thiết, được làm tròn đến bốn số thập phân,