1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình khủng hoảng, sụp đổ của vương triều tây sơn

14 870 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá trình khủng hoảng, sụp đổ của vương triều tây sơn
Tác giả Nguyễn Trọng Văn, Nguyễn Hằng Nga
Trường học Trường Đại Học Vinh
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 196,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển đó, Tây Sơn cũng xuất hiện những dấu vết rạn nứt: Đối với hoàng đế Thái Đức, làm chủ được đất của chúa Nguyễn, nghĩa là đã hoàn thành được sự nghiệp của

Trang 1

N.T Văn, N.H Nga Quá trình khủng hoảng, sụp đổ của , tr 80-93

QUá TRìNH KHủNG HOảNG, SụP Đổ CủA VƯƠNG TRIềU TÂY SƠN

Nguyễn Trọng Văn (a), Nguyễn Hằng Nga (b)

Tóm tắt Bài viết trình bày khái quát quá trình khủng hoảng và sụp đổ của vương

triều Tây Sơn, lí giải nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của vương triều Tây Sơn

Thế kỉ XVIII, quốc gia Đại Việt vẫn

đang chìm đắm trong sự phân tranh

của các thế lực phong kiến: Đàng Ngoài,

thế sự xoay vần trong cơ cấu chính

quyền kép “vua Lê - chúa Trịnh”, triều

vua, nghiệp chúa suy tàn; Đàng Trong,

sau 3 thế kỉ dựng nghiệp, chính quyền

chúa Nguyễn cũng lâm vào khủng

hoảng trầm trọng Tình trạng đó đòi hỏi

một cuộc biến cách lớn để thống nhất bờ

cõi Đại Việt, ổn định lại trật tự xã hội

Trong bối cảnh đó, anh em Tây Sơn dấy

nghiệp Từ một phong trào nông dân,

Tây Sơn đã phát triển thành một phong

trào dân tộc, hoàn thành được nhiều

nhiệm vụ mà lịch sử đặt ra:

Thứ nhất, phong trào nông dân Tây

Sơn đã lật đổ chúa Nguyễn ở Đàng

Trong và triều “vua Lê - chúa Trịnh” ở

Đàng Ngoài

Thứ hai, phong trào Tây Sơn đã xoá

bỏ sự chia cắt đất nước gần 3 thế kỉ, đặt

nền tảng cho sự thống nhất Đại Việt

Thứ ba, từ một phong trào nông

dân, phong trào Tây Sơn đã phát triển

thành một phong trào dân tộc, đánh bại

quân Xiêm, quân Thanh, giữ trọn vẹn

nền độc lập dân tộc

Thứ tư, triều Quang Trung đã đạt

được một số thành tựu về nội trị và gây

dựng được uy thế lớn trong quan hệ

bang giao, mở ra một tiền đồ xán lạn

trong công cuộc thống nhất đất nước,

mở rộng cương vực

Tuy nhiên, cùng với quá trình phát

triển của phong trào Tây Sơn, nội bộ Tây Sơn cũng xuất hiện những dấu vết rạn nứt Tây Sơn dần lâm vào khủng hoảng, suy yếu và sụp đổ Vậy, quá trình khủng hoảng và sụp đổ của vương triều Tây Sơn diễn ra như thế nào? Nguyên nhân nào dẫn đến sự sụp đổ của vương triều Tây Sơn?

1 Sự khủng hoảng trong vương triều Tây Sơn trước năm 1792

1.1 Sự chia rẽ nội bộ nhà Tây Sơn trước năm 1792

- Mâu thuẫn nảy sinh

Sự nảy sinh mâu thuẫn trong nội bộ anh em Tây Sơn xuất hiện từ sau sự kiện Tây Sơn chiếm Phú Xuân (1786) Với sự kiện này Tây Sơn đã phát triển lên một bước mới: làm chủ toàn bộ lãnh thổ cũ của chúa Nguyễn Tuy nhiên, cùng với sự phát triển đó, Tây Sơn cũng xuất hiện những dấu vết rạn nứt:

Đối với hoàng đế Thái Đức, làm chủ

được đất của chúa Nguyễn, nghĩa là đã hoàn thành được sự nghiệp của phong trào Tây Sơn: “Ước vọng của Nhạc là chiếm cả giang sơn Nam Hà, và chừng

ấy là đủ rồi” [11; 168] Bởi vậy, Thái

Đức muốn dừng lại ở biên giới sông Gianh Bắc Hà quá lớn, Thái Đức sợ không kham nổi

Nếu như chiếm Gia Định, lấy Phú Xuân, làm chủ Thuận Hoá là đích cuối cùng của Thái Đức thì đối với Nguyễn Huệ, đó mới chỉ là sự khởi đầu Đến

Nhận bài ngày 22/6/2011 Sửa chữa xong 12/8/2011.

Trang 2

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập 40, số 3b-2011

đây, Tây Sơn đã có sự phân hoá: một

bên là Thái Đức muốn dừng lại, một

bên là Nguyễn Huệ muốn tiến tới Thực

tế, đây cũng là cuộc đấu tranh giữa 2 xu

hướng: một xu hướng muốn duy trì tình

trạng phân liệt, một xu hướng muốn

tiến tới sự thống nhất Song, Nguyễn

Huệ lúc này vừa là “bề tôi”, vừa mang

phận là em, mệnh lệnh của Đế huynh là

đánh Thuận Hóa, nếu nhân thế thắng

mà vượt sông Gianh, nghĩa là: “Kiểu

mệnh” Dù vậy, nhưng Nguyễn Huệ vẫn

nuôi chí Bắc tiến Vậy, yếu tố nào thúc

đẩy Nguyễn Huệ tiến ra Bắc?

Thứ nhất, Bắc Hà cuối đời Trịnh

Sâm rơi vào tình trạng rối loạn: Kinh

thành vua Lê, phủ chúa chỉ còn là: “Một

lâu đài bề ngoài tuy còn đồ sộ mà thực

sự bên trong mối mọt đã rúc đục gần

hết cột kèo” [6; 138] Bắc Hà đã suy yếu,

lòng người chán ghét cảnh loạn li, chờ

đợi sự thay đổi Đây là cơ hội để Nguyễn

Huệ thực hiện ý định của mình

Thứ hai, sau trận đại bại năm 1786,

cơ hội để Nguyễn ánh trở lại Gia Định,

tái tạo nghiệp cũ chưa có hy vọng Phía

Nam đã tạm yên, cho nên Nguyễn Huệ

có thể yên tâm Bắc tiến

Thứ ba, chiếm Phú Xuân là ước vọng

lớn nhất của vua Thái Đức, cho nên Thái

Đức dồn hết binh tài tướng mạnh đi

đánh Phú Xuân Và lẽ đương nhiên, tất

cả đều dưới quyền thống lĩnh của

Nguyễn Huệ Trong khi đó, từ sau năm

1672, Bắc Hà chỉ có phe phái dèm pha

lẫn nhau nên binh lính cũng trễ nại,

mất khí thế chiến đấu

Thứ tư, quyết chí đánh Bắc Hà

nhưng Nguyễn Huệ còn băn khoăn vì

chưa có lệnh của vua anh Trong hoàn

cảnh đó, Nguyễn Hữu Chỉnh với tài mưu

lược của mình, đã vạch đường cho

Nguyễn Huệ “Ngài vâng mệnh ra lấy

Thuận Hoá, đánh một trận mà xong, oai

danh lừng lẫy khắp thiên hạ Trong phép

dụng binh có 3 điều cốt yếu: một là “thời”,

hai là ‘‘thế”, ba là “cơ”, 3 điều ấy nếu có cả

thì đánh đâu cũng thắng Nay ở Bắc Hà: tướng lười, binh kiêu, triều đình không còn kỷ cương gì cả, ta thừa kế mà ra đánh lấy, như trong sách đã nói: “Chiếm nước yếu, đánh nước ngu, lấy nước loạn, lấn nước suy vong” Cơ và thời ấy không nên

bỏ lỡ” [3; 106], vả lại, “trong kinh Xuân Thu có nói: Thay đổi nhỏ mà công lao lớn, ấy là có công huống hồ “tướng ở ngoài, mệnh vua có khi không cần phải theo”” [3; 108] Mưu lược của Chỉnh làm Nguyễn Huệ quyết tâm Bắc tiến Nguyễn Huệ là người Nam Hà, sợ kéo quân ra Bắc Hà không tránh khỏi dị nghị, Chỉnh

đã vạch kế: “Nước tôi có vua lại có chúa,

đó là một việc hết sức trái ngược xưa nay nếu ngài lấy cớ “diệt Trịnh phò Lê”

mà kéo quân ra, thiên hạ không ai là không hưởng ứng” [3; 107] Như vậy, với ngọn cờ “phù Lê, diệt Trịnh”, việc đem quân ra Bắc của Nguyễn Huệ chẳng những xoá đi được những dị nghị mà còn trở thành một nghĩa lớn Tác giả Nguyễn Phương nói rất đúng: “Nguyễn Huệ chẳng khác gì một con ngựa khoẻ, hí một tiếng rung động một ngầm trời mà không ngang dọc được thêm là chỉ vì một sợi dây ràng buộc (phận vua - tôi, huynh - đệ) Nguyễn Hữu Chỉnh đã mở cho Huệ thấy vừa cánh đồng mông mênh ở Bắc Hà, vừa tính cách yếu ớt của sợi dây đang ràng buộc ông” [6; 157] Kết cục, ngày 26.6.1786, Nguyễn Huệ đại thắng Song, khi sự nghiệp thống nhất bờ cõi sắp được thiết lập thì mầm rạn nứt trong anh em Tây Sơn cũng bùng phát:

Trước khi cất quân ra Bắc Hà, Nguyễn Huệ sợ mang tiếng là kiểu mệnh nên đã gửi thư về Quy Nhơn xin:

“Đại cử Bắc phạt” Vua Thái Đức không bằng lòng, vội cho người ra Phú Xuân

đình chỉ việc Bắc tiến, nhưng người ra

đến nơi thì “việc đã rồi” Thái Đức vội thân chinh ra Thăng Long Việc vua Thái Đức đem quân ra Thăng Long sẽ

Trang 3

N.T Văn, N.H Nga Quá trình khủng hoảng, sụp đổ của , tr 80-93 gây nhiều dị nghị với triều đình và dân

chúng Bắc Hà, song vua vẫn quyết định

thân chinh, bởi vì:

Thứ nhất, đối với Thái Đức, việc

Nguyễn Huệ tự tiện đem quân ra Bắc là

tướng đã bất trung với vua, đệ đã bất đễ

với huynh Vì vậy, Thái Đức sợ rằng,

nếu không hỏi tội bất trung và bất đễ

thì sau này, sẽ khó mà kiềm chế

Nguyễn Huệ

Thứ hai, qua các lần giao binh cho

Nguyễn Huệ, Thái Đức đã nhận rõ tài

cầm quân thao lược của Nguyễn Huệ

Một người có tài điều binh khiển tướng

mà có thế lực mạnh trong tay thì việc

xoay chuyển thời thế có khó gì Nay, thế

lực của Nguyễn Huệ lớn thêm nhiều, đó

là một nỗi lo của Thái Đức Điều đó lí

giải vì sao ra Thăng Long, khi chúa

Trịnh đã bị lật đổ, kiêu binh đã bị đánh

tan, vua Lê từ lâu rũ áo mà đích thân

vua Thái Đức phải thân chinh

Thứ ba, Thái Đức từ khi lấy được

Thuận Hoá, làm chủ được lãnh thổ của

chúa Nguyễn đã lấy làm thoả chí,

không muốn mở rộng thêm nữa Vì vậy,

Thái Đức sợ Nguyễn Huệ sẽ chiếm Bắc

Hà, lập một triều đình riêng Nếu điều

này xảy ra thì Nguyễn Huệ có được uy

danh của vua Lê, chẳng hoá ra Nam Hà

của Thái Đức lại trở thành lệ thuộc?

Như vậy, Thái Đức kéo quân ra

Thăng Long đưa Nguyễn Huệ về Quy

Nhơn để đặt Nguyễn Huệ trong sự kiểm

soát của mình Đến đây, nội bộ anh em

Tây Sơn đã canh chừng lẫn nhau,

nguyên nhân căn bản của sự rạn nứt ấy

là mâu thuẫn giữa một bên là vua Thái

Đức đã già, đã thoả mãn với thành quả

đạt được, muốn đóng cửa cầu an và một

bên là Nguyễn Huệ, đang đà trưởng

thành, nuôi chí lớn Nghĩa là mâu

thuẫn giữa một bên là xu thế muốn duy

trì sự chia cắt phân lập và một bên là

xu thế thống nhất sơn hà về một mối

Mặc dù rạn nứt đã xuất hiện nhưng lúc

này, hoàng đế Thái Đức còn mạnh,

Nguyễn Huệ chưa đủ lực, Bắc Hà còn

dè chừng Tây Sơn cho nên cuối cùng, Thái Đức và Nguyễn Huệ lấy lễ vua - tôi, anh - em mà đối đãi nhau rồi cùng rút về Nam Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa anh em Tây Sơn chưa giải quyết xong, việc vua Thái Đức kéo quân ra Bắc và kết cục vua tôi Tây Sơn kéo về Nam đã để lại nhiều hệ lụy:

Thứ nhất, với Bắc Hà, Nguyễn Huệ

đã “diệt Trịnh” nhưng còn nghĩa “phù Lê”? Nguyễn Huệ đã mang lại cho vua Lê ngai vàng, nhưng vua Lê hơn 200 năm nay chỉ “rủ áo” Cái nếp cũ đó đã làm cho vua Lê quen với lối ỷ lại: “Chúa lãnh cái

lo, trẫm hưởng cái vui” [6; 187], cho nên

“mất chúa tức là cái lo về trẫm, trẫm còn vui gì” [6; 187] Vì vậy, việc Tây Sơn rút

về Nam đã để lại một khoảng trống ở Bắc

Hà, nhân đó, tàn dư của họ Trịnh tập hợp lại Tình trạng vua Lê - chúa Trịnh lại tái lập ở Thăng Long

Thứ hai, vua tôi Tây Sơn kéo về, nhưng mâu thuẫn chưa được giải quyết Bởi vậy, càng đi vào Nam, bất hoà đó lại càng lộ rõ, dẫn đến những rạn nứt mới trong vương triều Tây Sơn

Thứ ba, Nguyễn Huệ ra Bắc Hà, ngọn cờ “phù Lê - diệt Trịnh” là danh nghĩa nhưng xét về công trạng, lật đổ chúa Trịnh, đưa vua Lê trở lại ngôi vị là công của Nguyễn Huệ “Phù Lê” chỉ là danh nghĩa để chiêu dụ lòng người Chính vì ngọn cờ “phù Lê” mà khi vua

Lê ngỏ ý muốn cắt đất khao quân, vua Thái Đức đã trả lời: “Nếu đất Bắc Hà của Trịnh thì một tấc chúng tôi cũng lấy mà của nhà Lê thì một tấc chúng tôi cũng không màng” [8; 378] Lời tuyên

bố đó đẹp nghĩa “phù Lê” nhưng lại không xứng với việc Nguyễn Huệ nhọc công đánh Trịnh Cho nên, mặc dù khách khí từ chối vua Lê, nhưng khi rút khỏi Nghệ An, Nguyễn Huệ đã cắt Nguyễn Văn Duệ, Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại coi sóc

Như vậy, anh em Tây Sơn rút về Nam, bề ngoài thì đó là một nghĩa cử tốt đẹp sau khi đã hoàn thành sự

Trang 4

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập 40, số 3b-2011 nghiệp “phù Lê”, nhưng bên trong việc

Tây Sơn rút về Nam trong bối cảnh vua

Lê chưa đứng vững được ở Bắc Hà, mâu

thuẫn nội bộ chưa được giải quyết đã

dẫn tới nhiều hệ lụy đối với Tây Sơn, với

Bắc Hà và cả với đại cục

- Chiến tranh huynh đệ năm 1787

Như trên đã nói, “diệt Trịnh, phù

Lê” là danh nghĩa, xét về công trạng,

vượt sông Gianh là quyết định của

Nguyễn Huệ, bày mưu lược để thắng

Trịnh là của Nguyễn Huệ, thực hiện

nghĩa tôn phù cũng là công lao khó

nhọc của Nguyễn Huệ Nhưng Nguyễn

Huệ ra Bắc lại với danh nghĩa là bề tôi

của vua Thái Đức Còn Thái Đức, là

Hoàng đế, vả lại chính Hoàng đế cũng

đã cất công ra tận Thăng Long Công

thì của bề tôi mà danh thì của vua Sự

phân định không rõ ràng ấy mà dẫn

đến bất hoà trong nội bộ anh em:

Trước hết, sau khi diệt được chúa

Trịnh, Tây Sơn thu giữ hết của cải trong

phủ Chúa Giáo sĩ Le Roy có nói: “Người

Nam Hà đã áp đoạt tất cả, nào vàng,

nào bạc, nào đại bác, súng, đồ đạc, nào

voi, ngựa, họ chỉ để lại có cái khung phủ

mà thôi” [6; 196] Ngay cả vua Lê, mặc

dù chịu ơn Tây Sơn nhưng cũng thừa

nhận: họ “để cái nước không lại cho ta”

[6; 198] Của cải phủ Chúa được cất giữ

mấy trăm năm nay, tất cả đều thuộc về

Tây Sơn Nhưng vấn đề là Tây Sơn Thái

Đức hay Tây Sơn Nguyễn Huệ? Vì như

đã nói, xét về thứ bậc thì Thái Đức là

vua, còn Nguyễn Huệ chỉ là bề tôi,

nhưng xét về công sức thì công là của

Nguyễn Huệ nhưng danh lại là của Thái

Đức Kết cục, số của cải thu về Nguyễn

Huệ giữ, còn Thái Đức lấy địa vị vua

anh để đòi phân chia thì Nguyễn Huệ

không chịu, chia rẽ vì thế mà phát sinh

Thứ hai, anh em Tây Sơn cùng rút

về Nam là một hình ảnh hào hùng sau

mỗi lần ca khúc khải hoàn Song lần

này, mặc dù anh em cùng rút khỏi Bắc

Hà nhưng mỗi người đã định một con

đường riêng: Thái Đức muốn đem

Nguyễn Huệ về Quy Nhơn như những lần trước nhưng Nguyễn Huệ lấy cớ Thuận Hoá mới lấy được cần phải củng

cố nhân tâm và sửa sang chính sự mà

đóng lại Phú Xuân Việc đó chứng tỏ: mầm mống của một triều đình mới đã hình thành ở Thuận Hoá, sự phân liệt

đã xuất hiện trong nội bộ Tây Sơn Thứ ba, uy thế Nguyễn Huệ đã vượt trội so với hai anh Vua Thái Đức không phải không biết đến công lớn của Nguyễn Huệ, cho nên sau khi rút về Quy Nhơn, đã chia nước ra làm ba: Từ Hải Vân trở ra giao cho Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương, Gia Định giao cho Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương, còn Nguyễn Nhạc chiếm giữ phần đất ở giữa, xưng là Trung ương hoàng đế Nước đã chia nhưng mầm chia rẽ cũng lại nảy sinh từ đó Nguyễn Huệ không bằng lòng với phần đất đã chia, bèn sai

sứ vào Quy Nhơn xin cắt thêm đất Quảng Nam Tuy nhiên, vua Thái Đức

từ chối Như vậy, từ khi rút về Nam, của báu của chúa Trịnh thì Nguyễn Huệ nắm, vua Thái Đức đòi thì Nguyễn Huệ không cho, cho nên đến khi muốn lấy thêm đất Quảng Nam, Nguyễn Huệ xin thì Thái Đức lại không cắt cho Bất hoà vì thế mà sâu sắc, anh em chia rẽ, thù hằn nhau dẫn đến cảnh “nồi da xáo thịt" Thư của Labarteter cho biết: “Vào tuần lễ Tro (21/2/1787), Nguyễn Huệ kéo khoảng hơn 60.000 quân vào đánh thành Quy Nhơn” [11; 170] Nguyễn Huệ vây thành 3 tháng Vua Thái Đức

đóng thành cố thủ Cuối cùng, thành bị vây, viện binh bị chặn, nghĩa vua - tôi không còn nữa, Thái Đức chỉ còn vin vào tình huynh - đệ, bắt Quang Toản rồi cùng cháu lên tường cao vừa khóc vừa nói: “Nồi da xáo thịt, em sao nỡ lòng” [5; 11] Trần Văn Kỷ vào thành hoà giải Thái Đức thả Quang Toản ra ngoài, Nguyễn Huệ thu quân Kết cục, vua Thái Đức đành cắt Quảng Nam cho Nguyễn Huệ Bến Ván trở thành ranh giới ngăn cách ở Nam Hà Đến đây, khi

Trang 5

N.T Văn, N.H Nga Quá trình khủng hoảng, sụp đổ của , tr 80-93 diệt được chúa Nguyễn, chúa Trịnh, đất

nước có tiền đồ thống nhất thì sự chia

rẽ trong nhà Tây Sơn đã xuất hiện Sự

chia rẽ trong anh em Tây Sơn đã dẫn

tới một hậu quả khác: đó là sự chia rẽ

nội bộ quần thần Tây Sơn và cũng là cơ

hội để Nguyễn ánh chiếm Gia Định

1.2 Sự chia rẽ trong quần thần nhà

Tây Sơn

- Sự biến Nguyễn Hữu Chỉnh

Tây Sơn chiếm Thuận Hoá, diệt

được chúa Trịnh là công của Nguyễn

Huệ nhưng Chỉnh là người vạch mưu

kế Tiếp đó, Chỉnh lại sắp đặt mọi việc ở

Bắc Hà để Tây Sơn trọn tiếng tôn phù và

vua Lê vực lại triều chính Vậy, với Tây

Sơn, Chỉnh đã trọn trung, với vua Lê,

Chỉnh cũng trọn nghĩa Nhưng khi mọi

việc ở Bắc Hà đang tốt đẹp thì anh em

Tây Sơn lập mưu bỏ Chỉnh rút về Nam

Có thể nói: Theo về với Tây Sơn, cái

may của Chỉnh là tài năng được trọng

dụng, nhưng bi kịch của Chỉnh cũng từ

đó mà ra Ngay từ trước khi ra Bắc,

Nguyễn Huệ đã tỏ ra dè chừng Chỉnh

Đến khi ra Bắc Hà, tài cán của Chỉnh

bộc lộ ngày càng rõ, vì thế mà bi kịch

càng đến gần hơn với ông: “Chỉnh là

người bản quốc cho nên, người nước

chỉ biết có Chỉnh”, bởi vậy, theo Vũ Văn

Nhậm: ““Nhân tài Bắc Hà chỉ có mình

hắn”, hắn chết, mình lấy Bắc Hà lại

càng yên ổn” [3; 152]

Thứ nữa, Chỉnh là người nắm rõ

từng bước phát triển của Tây Sơn, cũng

là người nắm rõ nhất sự rạn nứt trong

vua, tôi Tây Sơn Công của Chỉnh là

nhờ sự đa mưu và tội của Chỉnh cũng

chính vì sự đa mưu đó, cho nên, Tây

Sơn không dám dùng Chỉnh đến cùng

Nguyễn Huệ trước khi rút về Phú Xuân

đã căn dặn Nhậm: “Nghệ An là quê của

hắn, phải xem kỹ động tĩnh mà đề

phòng, hễ có biến phải đem thư báo

gấp” [4; 23] Vậy, bất đắc dĩ, Tây Sơn

phải để Chỉnh lại Nghệ An với danh

nghĩa đề phòng tàn dư họ Trịnh nhưng

thực tế Nguyễn Huệ giao cho Nguyễn Văn Duệ, Vũ Văn Dũng, Vũ Văn Nhậm

ở lại để tạo thế kiềm chế Chỉnh

Tuy nhiên, Chỉnh lại là người có tầm nhìn thế cuộc sắc sảo nên, Chỉnh

đã xoay chuyển thế cuộc, biến sự thất thế đó thành cơ hội để gây dựng thế lực Mầm cát cứ đã xuất hiện ngay trong bề tôi nhà Tây Sơn Việc Tây Sơn lo giải quyết sự phân tranh nội bộ là cơ hội để Chỉnh thực hiện được kế hoạch của mình Địa vị của Chỉnh lúc này đang ở thế trung gian, xét về danh thì Chỉnh là

bề tôi của Tây Sơn, được giao trấn giữ Nghệ An, xét về thế thì Chỉnh là cựu thần nhà Lê, có thế lớn ở Bắc Hà Với vị trí đó, Chỉnh dễ dàng gây dựng thế lực Nếu Nguyễn Huệ dùng cớ tàn dư họ Trịnh ở Bắc Hà để giữ chân Chỉnh thì Chỉnh cũng dùng chính việc dẹp phản

ấy để gây thanh thế Chỉnh gửi thư về Phú Xuân báo cho Nguyễn Huệ việc tái lập họ Trịnh, Nguyễn Huệ giao cho Chỉnh đem quân đi đánh Mặt khác, Chỉnh lại gửi thư cho Đinh Tích Nhưỡng cam đoan đã ly khai với Tây Sơn, vì vậy, họ Trịnh cũng không chú tâm đến những việc Chỉnh làm ở Nghệ

An Còn với vua Lê, nhân khi vua Lê cô thế, Chỉnh cho Nguyễn Ban ra yết kiến, vua Lê tỏ ý ủng hộ Chỉnh Như vậy, tranh thủ khi Tây Sơn còn bận giải quyết mâu thuẫn nội bộ, chúa Trịnh còn lo chuyện phế lập, vua Lê cô thế ở Thăng Long, Chỉnh đã khôn khéo dùng danh nghĩa vua Lê để mộ binh và dùng

uy thế của Tây Sơn để gây dựng lực lượng Chỉ mười ngày Chỉnh đã mộ được hơn 10 vạn binh Chỉnh đã tạo lập được thế lực riêng giữa sự xoay vần thế cuộc

đó Đến khi Trịnh Bồng tiếm quyền, vua Lê khẩn thiết mời Chỉnh ra Bắc yên dân, trừ loạn Lần này, kéo quân ra Thăng Long, cũng với ngọn cờ “phù Lê, diệt Trịnh” nhưng Chỉnh tự mình thống lĩnh quân đội, quyền uy lẫy lừng Chúa Trịnh một phen nữa bị lật đổ Từ đó mọi việc Bắc Hà đều một tay Chỉnh cắt đặt

Trang 6

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập 40, số 3b-2011 Củng cố được thế lực, Chỉnh bắt

đầu chú ý đến Nghệ An Trước khi ra

Thăng Long, Chỉnh đã để Lê Duật

người thân cận của Chỉnh cùng với

Nguyễn Văn Duệ và Nguyễn Văn Đức

trấn giữ Nghệ An Duệ vốn là tướng cũ

của Nguyễn Nhạc nên có ý ngầm phản

Nguyễn Huệ Thấy anh em Tây Sơn

đánh nhau, Chỉnh cùng Duệ, Đức liên

kết nhau mưu phản Việc bị lộ, Nguyễn

Huệ sai Nhậm ra bắt Duệ và xem xét

tội trạng của Chỉnh Kết cục, Duệ trốn

vào Quy Nhơn, Đức chạy về Gia Định

còn Chỉnh gửi thư rũ bỏ trách nhiệm

Nguyễn Huệ triệu Chỉnh về, Chỉnh lấy

cớ 4 trấn chưa yên nên không đến

Tiếp đó, Chỉnh lại bày kế cử Trần

Công Xán vào Phú Xuân đòi đất Nghệ

An, lấy cớ khi trước vua Lê muốn cắt

đất khao quân thì Thái Đức từ chối, vậy

mà Tây Sơn cắt đặt người coi giữ Nghệ

An Xét về lí thì đúng, nhưng xét về

tình thì Chỉnh bị quy vào tội phản chủ

Nghệ An là nơi Chỉnh lật lại tình thế và

gây nghiệp, nhưng cuối cùng chính việc

Chỉnh cử người đi đòi lại Nghệ An là

giọt nước làm tràn li, tháng 6.1787,

Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra Bắc

đánh dẹp Chỉnh Vậy, thượng bất chính,

hạ tác loạn, anh em Tây Sơn chia rẽ thì

bề tôi nhân đó mà xưng hùng, xưng bá

Bắc Hà lại một phen loạn lạc

- Sự biến Vũ Văn Nhậm

Chỉnh bị giết, nhưng nội bộ Tây Sơn

chưa yên Ngay từ khi sai Nhậm ra Bắc

diệt Chỉnh, Nguyễn Huệ đã dè chừng

Vì Nhậm là con rể của Thái Đức, cho

nên khi Nhậm ra Bắc, Nguyễn Huệ cử 2

người thân tín là Ngô Văn Sở và Phan

Văn Lân làm tham tán quân vụ để chia

bớt binh quyền của Nhậm Trước khi đi,

Nguyễn Huệ mật bảo với Sở và Lân:

“Nhậm đi chuyến này cầm trọng binh,

nắm quốc chính, sự biến không thể liệu

trước được Cái điều ta lo không phải ở

Bắc Hà mà chỉ ở Nhậm thôi” [7; 25]

Quả vậy, Nhậm vào Thăng Long, giết

Chỉnh, thao túng quyền bính Thấy

quyền lực của Nhậm ở Bắc Hà ngày càng khuynh loát, Nguyễn Huệ thân chinh ra Bắc diệt Nhậm

Như thế, sau khi rút về Nam, nội bộ Tây Sơn có nhiều chuyển biến: Anh em hiềm khích đến nỗi gây cảnh binh đao, nội bộ Tây Sơn từ đó mà chia rẽ Tác giả

Sở Cuồng nhận xét về kết cục đó rằng:

“Chỉ tiếc rằng khi ta đánh ngoài Bắc thì

bỏ ngay Nguyễn Hữu Chỉnh để cắt đứt vây cánh mình Khi đánh lấy được Bắc thành thì giết ngay Võ Văn Nhậm để tự yếu chân tay mình đi” [1; 28] Hậu quả lớn nhất đối với nhà Tây Sơn đó là: Chính việc anh, em, vua, tôi đánh nhau, nội bộ chia rẽ, thanh trừ lẫn nhau đã tạo cơ hội để Nguyễn ánh trở lại tấn công Gia Định

1.3 Tây Sơn chia rẽ, Nguyễn ánh chiếm Gia Định

Năm 1787 là mốc quan trọng trong

sự thịnh, suy của sự nghiệp nhà Tây Sơn và chúa Nguyễn Năm 1787, Tây Sơn đã chia ba, phần nước của Thái Đức

ở giữa, mang danh nghĩa là: “Trung

ương hoàng đế” nhưng không kiểm soát

được sự phát triển của Bắc Bình Vương ở bên kia Bến Ván, càng không thể hỗ trợ

được cho Đông Định Vương Nguyễn Lữ, vốn ít tài kinh bang tế thế giữa một vùng Gia Định đất rộng, dân thưa, tàn quân của chúa Nguyễn khắp nơi, chờ cơ hội phục hưng Tây Sơn làm chủ Gia

Định nhưng chưa nắm được thế chủ

động trong việc đối phó với các thế lực chống đối ở đây Rõ ràng, khi vua Thái

Đức chia nước làm ba, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ có quyền lớn hơn nhưng nhà Tây Sơn dần yếu thế hơn Cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn năm 1787 đã khắc sâu sự chia rẽ đó Sử quan nhà Nguyễn ghi rằng: “Từ đấy giặc lo gườm nhau, thế giặc tan rã, không rảnh để dòm ngó phương Nam nữa” [11; 214] Quả vậy, tình trạng chia rẽ của Tây Sơn

và đặc biệt là thế yếu của Tây Sơn ở Gia

Định đã chín muồi cho sự trở về để dấy

Trang 7

N.T Văn, N.H Nga Quá trình khủng hoảng, sụp đổ của , tr 80-93 nghiệp trung hưng của Nguyễn ánh

Tháng 9/1787, Nguyễn ánh đưa binh

vào cửa Cần Giờ, Nguyễn Lữ buộc phải

bỏ đồn chạy về Quy Nhơn Song, chỉ có

điều, Lữ cùng đường chạy về Quy Nhơn,

Thái Đức không thể không nhận thấy

thế nguy của Gia Định, nhưng cho đến

khi Gia Định rơi hẳn vào tay Nguyễn

ánh, Thái Đức trước, sau vẫn không

thấy có hành động gì để cứu vãn tình

thế Hậu quả là Phạm Văn Sâm đơn độc

chống cự ở Sài Gòn Cuối cùng, Sâm thế

cùng lực kiệt phải ra hàng

Như vậy, sau một năm, Nguyễn

ánh quét sạch Tây Sơn, làm chủ Gia

Định Trong một năm đó, có nhiều cơ

hội để Tây Sơn lật lại thế cờ nhưng lần

lượt các cơ hội bị bỏ lỡ Tác giả Phạm

Văn Sơn nhấn mạnh tác động của sự

kiện năm 1787 đến kết cục của Tây Sơn

ở Gia Định: “Một sự kiện tốt đẹp cho họ

Nguyễn, thêm nữa là Huệ, Nhạc lủng

củng với nhau nên ai riêng phận nấy,

vấn đề chúa Nguyễn ở miền Nam đáng

phải coi là một vấn đề có ảnh hưởng

sinh tử cho toàn cục để anh em nhà Tây

Sơn đồng tâm nhất trí giải quyết đã bị

bỏ quên hẳn” [9; 192] Tác giả Tạ Chí

Đại Trường đã lí giải rõ nguyên nhân

dẫn đến kết cục đó: “Thì ra khi xô đổ cái

thế phân tranh cũ, anh em Tây Sơn

cũng phải chịu luỵ vào những điều kiện

chia xé từng có trước Cho nên Nguyễn

ánh thừa hưởng được mọi sự thất lợi cho

sự rạn nứt đó của Tây Sơn” [11; 408]

Như vậy, ở đây diễn ra một sự đối ngược,

Tây Sơn ngày càng “tản quyền”, còn họ

Nguyễn ngày càng “tập quyền”, cuối cùng

Nguyễn ánh đã chiếm được Gia Định

Từ năm 1787 đến năm 1792, không

phải Tây Sơn không có cơ hội chiếm lại

Gia Định nhưng việc đó vẫn không xảy

ra Mãi đến năm 1792, khi hay tin

Nguyễn ánh kéo quân ra đánh Quy

Nhơn, Quang Trung vạch kế hoạch tấn

công Nguyễn ánh Đến đây, sự chia rẽ

của nhà Tây Sơn có cơ được giải quyết,

Nguyễn ánh nguy cơ bị tiêu diệt Tuy nhiên, vua Quang Trung đột ngột băng

hà, cuộc Nam chinh đành bỏ dở Vậy, quá trình xác lập lại cơ đồ họ Nguyễn ở Gia Định diễn ra song song với quá trình chia rẽ của nhà Tây Sơn Cuối cùng, sự chia rẽ của Tây Sơn đã tạo

điều kiện chín muồi để Nguyễn ánh làm chủ Gia Định

Như vậy, cuộc xung đột giữa hoàng

đế Thái Đức và Nguyễn Huệ năm 1787

đã chứng tỏ, Tây Sơn từ một phong trào nông dân nổi lên chống lại chế độ phong kiến mục nát đã chuyển sang quỹ đạo của một vương triều phong kiến và cuộc xung đột cũng đã để lộ phần nào tính chất cát cứ tranh giành của các tập đoàn phong kiến Đại Việt thế kỉ XVIII Đây chính là cơ hội cho Nguyễn ánh trở về chiếm Gia Định, cũng là yếu tố kích thích Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm theo đuổi xu thế cát cứ, phân quyền Những hệ lụy đó không chỉ tác

động đến vương triều Thái Đức, vương triều Quang Trung mà di căn lâu dài,

đến cả thời vua Cảnh Thịnh nữa

2 Sự khủng hoảng và sụp đổ của vương triều Tây Sơn từ năm

1792 đến năm 1802 2.1 Những khó khăn khi Cảnh Thịnh lên kế vị

Khi sự nghiệp của Quang Trung

đang có tiền đồ xán lạn thì vua Quang Trung đột ngột băng hà Trước khi mất, Quang Trung còn trăng trối lại rằng:

“Ta mở mang đất nước gồm có miền Nam, nay bệnh nặng chắc không khỏi Thái tử tư chất cũng tốt nhưng tuổi còn thơ ấu, mà bên ngoài thì có người thù ở Gia Định, ông Thái Đức chỉ ham vui chơi, cẩu thả cầu yên, không lo việc tai hoạ về ngày sau, sau khi ta chết, trong một tháng phải chôn táng cho xong các anh nên hết lòng giúp đỡ Thái tử, phải dời gấp kinh đô ra tỉnh Nghệ An

để khống chế trong nước, nếu không thì

Trang 8

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập 40, số 3b-2011 quân thù ở Gia Định lại, các anh sẽ

không có đất mà chôn thân” [5; 31]

Điều mà Quang Trung lo lắng trước khi

băng hà chính là mối nguy lớn đối với

vận mệnh nhà Tây Sơn Quang Toản kế

vị, điều may mắn của vua Cảnh Thịnh

là được kế thừa một nền móng vững

chắc, một tiền đồ đầy hứa hẹn của vua

Quang Trung, nhưng Cảnh Thịnh cũng

phải đối mặt với không ít khó khăn:

Thứ nhất, Cảnh Thịnh kế thừa cả sự

chói lọi của vương triều Quang Trung

nhưng đồng thời, cũng mang nặng cả sự

rạn nứt ngay trong vương triều Tây Sơn

Cuộc chiến tranh huynh đệ năm 1787 đã

được giải quyết, nhưng hệ luỵ của cuộc

phân tranh đó đã in dấu những rạn nứt

trong nội bộ Tây Sơn Đến khi vua Quang

Trung định đem quân đánh Gia Định thì

mất đột ngột, bỏ lại sự nghiệp thống nhất

còn dang dở

Thứ hai, năm 1788, nhân khi anh

em Tây Sơn chia rẽ thì Nguyễn ánh

chiếm Gia Định Như vậy, đến thời

Cảnh Thịnh, Nguyễn ánh đã có một chỗ

dựa vững chắc ở Gia Định để chuẩn bị

Bắc tiến

Thứ ba, dưới triều Quang Trung,

quần thần văn võ thống nhất, một yếu

tố quan trọng nối kết triều chính là uy

thế của vua Quang Trung Văn thần, võ

tướng đều hướng về Quang Trung mà

hết lòng phò tá Đến thời Cảnh Thịnh,

hoàng đế còn nhỏ tuổi, chưa lập công

danh trận mạc, sức mạnh quy tụ giảm

dần, xu thế li tâm đe doạ triều chính

Thứ tư, triều Quang Trung đã gây

dựng được thanh thế trong quan hệ

bang giao với nhà Thanh Bị đánh bại

năm Kỷ Dậu, vả lại, trước khi mất,

Quang Trung có ý định đòi lại Lưỡng

Quảng, cho nên, nhà Thanh nuôi ý định

trả thù Nay, vua Quang Trung mất,

Quảng Toản còn nhỏ tuổi, triều đình

còn ngổn ngang việc đổi thay triều

chính, vua Càn Long không giấu giếm ý

định “mượn gió bẻ măng”, do thám tình

hình nước ta

Như vậy, Cảnh Thịnh kế vị, được kế thừa cả sự nghiệp lẫy lừng của vua Quang Trung, đồng thời cũng phải mang gánh nặng của những rạn nứt trong nội bộ Tây Sơn, những hệ lụy của

sự rạn nứt đó với đại cục và Cảnh Thịnh lại phải đối mặt với những rạn nứt mới của vương triều Tây Sơn Tất cả đặt lên vai một vị “ấu Đế” 13 tuổi 2.2 Sự chuyên quyền của Bùi Đắc Tuyên Sau năm 1792, những rạn nứt trong nội bộ Tây Sơn ngày một khắc sâu hơn Khi được tin Quang Trung tạ thế, vua Thái Đức cùng em gái ra phúng viếng, không ngờ bị đồn tướng Phú Xuân ngăn lại “Nghĩa tử là nghĩa tận”, nhưng hành động này của Phú Xuân đã khắc sâu mâu thuẫn nội bộ nhà Tây Sơn

Về triều chính, Cảnh Thịnh kế thừa một đội ngũ văn quan, võ quan, những bậc công thần thời khai quốc vẫn một lòng phò tá Tây Sơn Tuy nhiên, trong

tổ chức triều chính đã xuất hiện mầm hoạ, đó là Thái sư Bùi Đắc Tuyên Cảnh Thịnh mới 13 tuổi, mọi việc đều do Thái sư quyết đoán Thế lực của Tuyên ngày càng lấn át, quan nào theo Tuyên thì

được ưu đãi, quan nào chống đối thì bị hại Các văn thần, võ tướng cùng nhau dựng nghiệp nhà Tây Sơn, kẻ bị giáng chức, người bị đuổi về, kẻ chán cảnh triều chính đành tự rút khỏi chính sự,

kẻ bị đẩy đi trấn thủ nơi xa xôi Triều

đình sinh bè cánh, gốc nước lung lay Việc nước đang trăm mối, bờ cõi chưa yên, vậy mà văn thần, võ tướng không

được trọng dụng, đó là một mối nguy lớn đối với vận mệnh nhà Tây Sơn Đến

đây, cảnh Thăng Long thời vua Lê - chúa Trịnh lại tái diễn ở Phú Xuân

“Quyền thần - ấu chúa” làm cho Phú Xuân chia rẽ, có nguy cơ sụp đổ

Triều Cảnh Thịnh thì lâm vào cảnh

“ấu chúa - quyền thần” Ngược lại, triều Thái Đức thì “tuổi già, cầu an, không lo hậu hoạ” [10; 153] Đây chính là cơ hội

để Nguyễn ánh chuẩn bị “Bắc tiến”

Trang 9

N.T Văn, N.H Nga Quá trình khủng hoảng, sụp đổ của , tr 80-93 2.3 Chiến cuộc Tây Sơn - Nguyễn ánh

và qúa trình khủng hoảng, sụp đổ của triều

Tây Sơn

2.3.1 Chiến cuộc Tây Sơn - Nguyễn

ánh và quá trình khủng hoảng của

triều Tây Sơn (1793 -1796)

- Sự sụp đổ của triều Thái Đức:

Tháng 3.1793, Nguyễn ánh tiến công ra

Bắc: Diên Khánh, Phú Yên, Bình Thuận

đổi chủ nhanh chóng Quân Nguyễn ánh

tiến đánh Quy Nhơn, thành Đồ Bàn

lâm nguy Liệu thế không cự nổi, cùng

kế, vua Thái Đức phải cầu Phú Xuân

Vua Cảnh Thịnh sai quân vào cứu nguy

cho Quy Nhơn Thấy viện binh của Tây

Sơn đến, Nguyễn ánh không chống nổi,

rút quân về Gia Định Đây là cơ hội để

Tây Sơn lật lại thế cờ Tuy nhiên, cùng

với sự rút lui của quân Nguyễn thì sự

chia rẽ trong nội bộ Tây Sơn lại tái diễn:

Vốn là, khi quân Nguyễn ánh rút

lui, quân Phú Xuân tiến vào thì thành

Quy Nhơn đóng kín Vua Thái Đức thấy

khí thế quân Cảnh Thịnh mạnh thì lo

sợ Cuối cùng, cực chẳng đã, vua Thái

Đức buộc phải mở cửa thành, quân

Cảnh Thịnh tràn vào, giải giáp quân

đội, chiếm giữ kho tàng Tác giả Phạm

Văn Sơn nhận xét về ngày cuối của vua

Thái Đức rằng: “Con người già yếu ấy

uy thế chẳng còn, kho tàng bị vét sạch,

không dám một lời kháng cự, rồi chỉ còn

uất lên rồi chết” [9; 207] Vậy, quân

Nguyễn ánh rút lui, thành Quy Nhơn

được bảo vệ, nhưng vua Thái Đức băng

hà Bi kịch nhà Tây Sơn là ở đó, vua

Thái Đức không chết dưới tay kẻ thù

mà bị chính quân Phú Xuân bức vào

chỗ phải chết Vậy đến đây, triều đình

của Trung ương Hoàng đế chấm dứt

Kết cục của triều Thái Đức là kết cục

tất yếu của một chuỗi những mâu

thuẫn kéo dài trong nhà Tây Sơn Có

thể nói, Tây Sơn đã thống nhất sau hơn

6 năm chia nước, tuy nhiên, ngay trong

sự thống nhất này cũng đã ẩn chứa

nhiều yếu tố rạn nứt mới

- Sự biến triều chính năm 1794: Sau khi sắp đặt công việc ở Quy Nhơn, vua Cảnh Thịnh sai Trần Quang Diệu vào

đánh Diên Khánh Diên Khánh đứng trước nguy cơ mất thành Đây là cơ hội

để Tây Sơn đánh bật quân Nguyễn ánh khỏi Diên Khánh, song cơ hội đó không

được tận dụng để lật lại thế cờ, vì Phú Xuân có biến Vốn là, ở Phú Xuân, Tuyên nắm giữ quyền hành tác oai, tác quái nên Vũ Văn Dũng, Trần Văn Kỷ, Nguyễn Văn Huấn, Phạm Công Hưng lập mưu hạ ngục Tuyên, rồi bắt Bùi Đắc Trụ, lại giải Ngô Văn Sở về Phú Xuân quy tội mưu phản Vậy, Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền thì bắt Tuyên là một lẽ,

đằng này, nhân việc bắt Tuyên mà hạ chết Bùi Đắc Trụ và đại thần Ngô Văn

Sở thì quả là: lấy việc chung nhân thể giải quyết thù riêng vậy

Lúc này ở Diên Khánh, Trần Quang Diệu đang ở thế làm chủ Tuy nhiên, nghe tin có biến, Diệu rút quân về Phú Xuân, quân Nguyễn ánh nhân đó mà giải vây được Diên Khánh

Diệu về đến Phú Xuân, đóng quân ở

bờ Nam sông Hương Dũng ỷ mệnh vua

đem quân đóng ở bờ Bắc đối phó với Diệu Cuối cùng, vua Cảnh Thịnh phải

mở cuộc giảng hoà, sắp đặt lại các địa vị trọng yếu, lập ra Tứ trụ đại thần: Trần Quang Diệu làm Thái phó, Nguyễn Văn Huấn làm Thái bảo, Võ Văn Dũng làm

Đại tư đồ, Nguyễn Văn Danh làm Đại tư mã Tứ trụ đại thần thực ra là một biện pháp tình thế để giải quyết tình trạng vua mới cầm quyền, không điều khiển nổi việc nước mà quần thần thì tranh giành ảnh hưởng với nhau Loạn trong triều đình vừa dẹp yên,

tứ trụ đại thần đã chấm dứt sự phân tranh trong nội bộ quần thần, song tình hình phân quyền đó lại báo hiệu một

đợt biến loạn mới Vốn Diệu là người có

uy quyền lớn, nắm đại binh, quyền thần lại dèm cùng vua Cảnh Thịnh rằng: Diệu nắm uy quyền lớn, sợ có ý khác

Trang 10

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập 40, số 3b-2011 Cảnh Thịnh bèn thu hết binh quyền, để

Diệu giữ hư vị trong triều Diệu sinh

nghi kỵ, cáo bệnh không vào chầu, ngày

đêm cắt 200 thủ hạ mang vũ khí bên

mình phòng vệ Cảnh Thịnh lại sợ Võ

Đình Tú, Trần Quang Diệu, Võ Văn

Dũng là bạn cố giao, gần nhau sẽ sinh

biến, cho nên cử Võ Đình Tú vào Quy

Nhơn Phạm Công Hưng bị bệnh mất,

Nguyễn Thế Tứ bị thất sủng, đi khỏi

Phú Xuân Nguyễn Văn Huấn bị vu tội

mưu thông cùng giặc, rồi bị giết Bàn về

những biến cố ở Phú Xuân, tác giả

Quách Tấn viết rằng: “Dưới triều Thái

Đức, Quang Trung, vua tôi tin cậy

nhau, bạn bằng yêu kính nhau Từ trên

xuống dưới, từ trong đến ngoài, đều lấy

nghĩa mà đối đãi nhau Quan văn cũng

như tướng võ, ai nấy đều làm trong

nghĩa vụ, quyền không ham, lợi không

tham Nhờ vậy mà nước được mạnh,

dân được yên Sang triều Cảnh Thịnh,

vua tôi nghi kỵ nhau, đình thần hãm

hại nhau Ai nấy đều lo quyền lợi riêng

của mình, không nghĩ đến quyền lợi

chung của dân của nước, khiến thế nước

càng ngày càng đảo khuynh, lòng người

càng ngày càng ly tán” [10; 168] Quả

vậy, tính từ lúc vua Quang Trung băng

hà đến năm 1797 là 4 năm Trong 4 năm

đó, Tây Sơn chìm trong chia rẽ Sự biến

Quy Nhơn vừa yên thì sự biến Phú Xuân

lại nổi lên Bùi Đắc Tuyên bị giết, triều

chính toan trở lại yên ổn thì đến nạn

đình thần khuynh đảo Vua Cảnh Thịnh

nhỏ tuổi, chưa đủ nắm cán cân triều

chính, bè phái thì nhiều, hậu quả là:

công thần kẻ thì bất mãn bỏ đi, kẻ bị

giết hại, kẻ vào hàng Nguyễn ánh Tác

giả Nguyễn Phương nhận xét thế cục

này rằng: “Thời suy tàn của Tây Sơn

phải kể từ khi Nguyễn Nhạc chết, vì cái

chết của Nguyễn Nhạc thay vì làm cho

lực lượng Tây Sơn trở nên mạnh hơn nhờ

đoàn kết và thống nhất thì lại đánh dấu

một sự chia rẽ trầm trọng trong hàng

ngũ của cấp lãnh đạo và đồng thời tiết lộ

một sức lớn mạnh to tát của lực lượng

đối phương” [6; 331]

2.3.2 Chiến cuộc Tây Sơn - Nguyễn

ánh và sự khủng hoảng của triều Tây Sơn (1797-1799)

Khi Nguyễn ánh rút về Gia Định thì ở Quy Nhơn xảy ra sự biến: Tiểu triều Nguyễn Bảo đánh úp Quy Nhơn Nguyên do của biến loạn này là: Sau khi Thái Đức băng hà, vua Cảnh Thịnh phong cho Nguyễn Bảo làm Hiến công coi giữ một huyện Nguyễn Bảo bị tước quyền kế vị nên bất bình, nuôi chí phục thù Năm 1798, nghe tin Trần Quang Diệu và các tướng bất hoà, Bảo nhân đó

đánh úp Quy Nhơn, đầu hàng Nguyễn

ánh Vua Cảnh Thịnh sai quân bắt Bảo,

đồng thời bắt giết Lê Trung Con của Lê Trung là Lê Chất nổi giận, quy hàng Nguyễn ánh Biến loạn Nguyễn Bảo bị dẹp, song Nguyễn ánh đã lợi dụng được

sự rối loạn trong nội bộ Tây Sơn Tháng

3 năm 1799, Nguyễn ánh cho quân đổ bộ vây thành Quy Nhơn Quy Nhơn lâm vào thế nguy ngập Viện binh bị chặn Trong thành lương thực đã cạn, Lê Văn Thanh đành mở cửa ra hàng

Mất Gia Định đánh dấu một bước sụp đổ của Tây Sơn, mất Quy Nhơn, Tây Sơn đứng trước nguy cơ mất toàn

bộ cơ đồ Quy Nhơn là nền tảng của khởi nghĩa Tây Sơn, Quy Nhơn mất, Tây Sơn lâm vào tình trạng rối loạn:

Đình thần đổ lỗi cho nhau, Trần Viết Kết, Trần Văn Kỷ, Hồ Công Diệu giả thư vua Cảnh Thịnh quy kết việc mất Quy Nhơn là tại Trần Quang Diệu, rồi

đưa thư bảo Vũ Văn Dũng giết Diệu Dũng lại là người mang ơn Diệu nên

đưa thư cho Diệu xem Diệu kéo binh về

bờ Nam sông Hương vây thành Vua

đành sai bắt Hồ Công Diệu và Trần Văn Kỷ giao cho Trần Quang Diệu, vì thế, sự việc mới yên ổn Quần thần khuynh đảo, vua Cảnh Thịnh không phải không thấy rõ mối nguy đó, nhưng

Ngày đăng: 28/12/2013, 20:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w