1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giá trị nghệ thuật của từ láy trong ký hoàng phủ ngọc tường

8 1,1K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giá trị nghệ thuật của từ láy trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường
Tác giả Lê Thị Hải Vân
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học và Văn học Việt Nam
Thể loại Bài báo khoa học
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 121,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giá trị nghệ thuật của từ láy trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường Tìm hiểu ký Hoàng Phủ Ngọc Tường, chúng tôi nhận thấy, một trong những thành công lớn của ông về mặt ngôn ngữ ký đó là việc sử

Trang 1

L.T.H Vân GIá TRị NGHệ THUậT CủA Từ LáY TRONG Ký , tr 92-100

GIá TRị NGHệ THUậT CủA Từ LáY TRONG Ký HOàNG PHủ NGọC TƯờNG

Lê Thị Hải Vân (a)

Tóm tắt Khảo sát các tác phẩm ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường, bài viết chỉ ra sự phong phú của từ láy và dưới cách dùng đầy sáng tạo nghệ thuật của tác giả, đã tạo nên hiệu quả nghệ thuật đặc sắc cho tác phẩm Từ láy trong ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường góp phần làm cho tác phẩm của ông sinh động, giàu sức biểu cảm, tác động sâu sắc sắc đến người đọc

1 Đặt vấn đề

Từ láy được tạo ra theo phương

thức hòa phối âm thanh có giá trị biểu

trưng hóa Ngoài giá trị hòa âm, từ láy

còn tạo nên những ấn tượng, những cảm

xúc về nội dung ngữ nghĩa Trong hoạt

động, từ láy không chỉ được sử dụng

trong đời sống giao tiếp hàng ngày nhằm

tạo ra một cách nói giàu hình ảnh, giàu

nhạc điệu mà còn được sử dụng trong

sáng tác văn học như một công cụ tạo

hình đắc lực, hữu hiệu Song hiệu quả về

âm thanh cũng như ngữ nghĩa mà từ láy

tạo nên trong tác phẩm nghệ thuật chỉ

có thể có được là do sự tổ chức từ ngữ

mang tính sáng tạo của người nghệ sĩ

Các tác phẩm ký của Hoàng Phủ Ngọc

Tường cũng không phải là một ngoại lệ

Từ láy trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường

không chỉ phong phú về số lượng, tiểu

loại mà còn đa dạng về cấu tạo, đã được

vận dụng một cách tài tình và độc đáo,

tạo nên một nét dấu ấn về phong cách

ngôn ngữ tác giả Vấn đề sử dụng từ láy

và hiệu quả của nó trong ký của Hoàng

Phủ Ngọc Tường, cho tới nay chưa có tác

giả nào bàn tới Bài viết của chúng tôi

nêu lên kết quả khảo sát lớp từ láy trong

66 tác phẩm ký của Hoàng Phủ Ngọc

Tường, phân tích, chỉ ra đặc điểm và

hiệu quả của lớp từ này trong ký của

ông

2 Đặc điểm và giá trị từ láy trong ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường

2.1 Đặc điểm về số lượng Khảo sát 66 tác phẩm ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong “Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường”, tập 2 và

“Miền cỏ thơm”, với 1012 trang, chúng tôi thấy xuất hiện 3660 lượt từ láy, trung bình mỗi trang ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường có 3,6 lượt từ láy xuất hiện Dựa theo mức độ láy lại âm thanh, thống kê các loại từ láy có mặt trong các tác phẩm ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường, chúng tôi thấy có 746 lượt từ láy hoàn toàn (chiếm tỉ lệ 20,44%); 2912 lượt từ láy bộ phận (chiếm 79,56%) Trong lớp từ láy bộ phận, có 2132 lượt

từ láy phụ âm đầu (chiếm 58,25%), có

2132 lượt từ láy vần (chiếm 21,3%) Như vậy, chiếm số lượng lớn nhất (gần một nửa số lượng từ láy) là từ láy phụ

âm đầu, tiếp đó là từ láy vần và sau cùng là từ láy hoàn toàn Trong 66 tác phẩm ký, luôn có mặt từ láy bộ phận, trong khi đó một số tác phẩm của ông lại vắng bóng từ láy hoàn toàn, tuy nhiên số lượng tác phẩm này không

đáng kể Tác phẩm có tần số từ láy xuất hiện dày đặc nhất là “Miền có thơm” với hơn 6 từ láy có mặt trên mỗi trang ký

Có nhiều từ láy xuất hiện với tần số cao

Nhận bài ngày 24/10/2011 Sửa chữa xong 03/01/2012.

Trang 2

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập 40, số 4b-2011 nhưng lại không hề gây cảm giác lặp,

nhàm chán Ngược lại có những từ láy

chỉ xuất hiện một hai lần nhưng lại

được sử dụng hết sức sáng tạo, tạo nên

hiệu quả thẩm mỹ lớn Khảo sát ký

Hoàng Phủ Ngọc Tường, chúng tôi dễ

dàng bắt gặp những câu văn với hàng

loạt từ láy Các từ láy nối tiếp nhau,

thậm chí liền kề nhau, bổ sung ý nghĩa

cho nhau, và làm cho câu văn nhịp

nhàng, bóng bẩy, giàu hình ảnh, giàu

âm thanh, giàu sức gợi

2.2 Giá trị nghệ thuật của từ láy

trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường

Tìm hiểu ký Hoàng Phủ Ngọc

Tường, chúng tôi nhận thấy, một trong

những thành công lớn của ông về mặt

ngôn ngữ ký đó là việc sử dụng từ láy

Ông đã sử dụng một loại công cụ nghệ

thuật linh hoạt để làm mềm mại đi một

thể loại vốn dĩ khá khô khan trong vô

vàn sự kiện và hình ảnh đầy ắp câu

chữ So với các nhà văn khác, sự thành

công lớn nhất của ông trong việc vận

dụng từ láy chính là khai thác phát huy

được giá trị biểu cảm của từ láy trong

mọi đối tượng, nội dung miêu tả khác

nhau

2.2.1 Từ láy gợi tả vẻ đẹp thiên

nhiên

Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là

những trang ký dành cho thiên nhiên

một sự ưu ái đặc biệt Nếu Nguyễn

Tuân đam mê miền Tây Bắc với con

sông Đà hùng vĩ bằng những trang viết

tài hoa, độc đáo thì Hoàng Phủ Ngọc

Tường lại dành trọn cả cuộc đời mình để

viết về dòng sông Hương đầy thơ mộng

và những vùng quê yên tĩnh, thanh

bình của mảnh đất miền trung thân

thiết, nhiều duyên nợ: “Trước khi về

đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là

một bản trường ca của rừng già, rầm

rộ giữa bóng cây đại ngàn và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng” [Ai đã đặt tên cho dòng sông, tr 316]

Chỉ với 4 từ láy được sử dụng một cách khéo léo, tác giả đã gợi tả được tất cả vẻ đẹp của dòng sông Hương trong một câu văn duy nhất Không cần phải dùng nhiều câu chữ, hai mặt của vẻ đẹp sông Hương: thơ mộng và mạnh mẽ, lãng mạn và hùng dũng, nên thơ và bí

ẩn đã được lột tả một cách sâu sắc chỉ bằng những từ láy: “êm đềm”, “rầm rộ”,

“dịu dàng” Qua đó, hình ảnh của dòng sông không chỉ được hiện lên thật cụ thể, sinh động, chứa đựng trong mình cả chiều sâu văn hoá lẫn bề dày lịch sử

mà còn để lại trong lòng người bao cảm xúc, bao hoài niệm Để tạo ấn tượng cụ thể về vẻ đẹp của dòng sông, tác giả đã tiếp tục sử dụng hàng loạt từ láy gợi thanh, gợi hình, gợi cảm, vẽ nên một dòng sông đầy màu sắc, đầy sức gợi: mơ màng, lặng lờ, bồng bềnh, đột ngột, vương vấn, lẳng lơ, nhở nhắn, tha thiết, thuỳ mị, rong ruổi, triền miên

Thiên nhiên trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tường còn là ngôn ngữ về các loại hoa, và trong sự miêu tả ấy, từ láy đã tạo nên một sự khái quát về “một thế giới lộng lẫy, rạo rực” mà ở đó “giữa tạo vật và con người luôn luôn gắn bó một tình bạn thân thiết và tươi xanh

đến như vậy” [Hoa trái quanh tôi, tr 372]

“Một chút hương đăng đắng của rừng mùa thu, một mảnh nhỏ xa xôi của biển Hoa hải đường rạng rỡ, nồng nàn cánh hoa khum khum như muốn phong lại cái nụ cười má lúm

đồng tiền Trên những cành thẳng có những chấm mắt nhỏ gồ ghề dáng đốt

Trang 3

L.T.H Vân GIá TRị NGHệ THUậT CủA Từ LáY TRONG Ký , tr 92-100 trúc, mấy chùm hoa trắng điểm lên ít lá

non xanh mơn mởn Vườn măng cụt

đang nẩy lộc chi chít Vào Hạ, sự

chuyển dịch của trời đất như chùng lại

trên cây cối, vẻ bay bướm xuân thì đã

qua đi, thiên nhiên ổn định hẳn trong

màu lục trầm trầm của lá già” [Hoa

trái quanh tôi] Đoạn văn chỉ có mấy

dòng mà có đến 9 từ láy xuất hiện Có

thể lấy thêm một ví dụ để thấy rõ hơn

chủ ý của nhà văn trong việc dùng từ

láy:

“Con đê sông Hồng xanh ngun

ngút những cỏ kéo dài suốt những cánh

đồng vùng Yên Phụ mịt mùng trong

màu mưa bụi xám Cỏ mọc ven những

con đường trong thành phố, trên đó lưa

thưa những chòm cây dại như cây ngũ

sắc cười sặc sỡ dọc đường thơ ấu của

tôi Những cánh chuồn nghe ngày

nắng lên bay lượn thảnh thơi trong

không gian Những đàn đom đóm

mịt mù như đám bụi sao bay trôi qua

những khu vườn Cỏ ven sông hương

lấp lánh như những hạt ngọc Khói

đốt cỏ tỏ ra mịt mùng xanh mờ một

vùng ven sông Mùa thu trời trở gió

heo may lành lạnh người ta tự nhiên

thấy nhớ nhung một quê hương nào

không biết” [Miền cỏ thơm]

Cảnh vật qua hàng loạt từ láy xuất

hiện với mật độ dày đặc, đứng bên cạnh

nhau đã làm cho bức tranh thiên nhiên

hiện lên với những đường nét, hình

ảnh, màu sắc, hương vị thật sinh động

và cụ thể, vừa thân thương, gần gũi,

vừa mơ màng, xa xăm như trong truyện

cổ tích Thiên nhiên ấy đã mang hơi ấm,

mang cảm xúc của con người

Đọc ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường,

ta cảm thấy, dường như mỗi từ láy

trong ký của ông đều đã qua sự lựa

chọn của tác nhằm diễn tả nội dung ý

nghĩa mà tác giả muốn gửi gắm tới bạn

đọc Ví dụ, từ tê tái trong cách dùng của tác giả: “Nhìn từ xa màu hoa trông như

tê tái” [Khói và mây, tr 70]

Giá trị gợi tả của từ láy là khả năng làm cho người đọc, người nghe cảm thụ

và hình dung một cách chân thực, cụ thể, sinh động, sâu sắc và tinh tế nhất những màu sắc, âm thanh, hình ảnh,

đường nét của sự vật hiện tượng mà chúng biểu thị Giá trị tạo thanh và giá trị tạo hình của từ láy không chỉ giúp người sáng tác có thể tái hiện được bức tranh thiên nhiên với tất cả đường nét, hình khối, màu sắc, mà còn vẽ lên được chân dung con người, bộ mặt của cuộc sống đời thường một cách chân thực nhất

2.2.2 Từ láy trong vai trò gợi tả chân dung con người và cuộc sống đời thường

Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường là những dòng hoài niệm về qua khứ đã qua, ở đó lịch sử của dân tộc với dấu vết của những cuộc chiến tranh khốc liệt vẫn hằn in trên khuôn mặt của con người Những trang viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường vì thế không nồng nặc mùi súng đạn, nhưng ở, đó ta lại thấy cuộc chiến dường như mới chỉ kết thúc ngày hôm qua

Có lẽ không lớp ngôn từ nào có giá trị gợi hình hơn từ láy Điều đó lý giải vì sao khi miêu tả con người, các nhà văn lại khai thác triệt để thế mạnh này của ngôn ngữ như một công cụ tạo hình đắc lực Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng không phải là ngoại lệ, thậm chí dường như

ông chỉ sử dụng từ láy cho việc miêu tả này:

“Trông Bê khoẻ khoắn, thoái mái như một o du kích nhỏ Cô bé hí hửng

ra mặt Cười ríu rít, chạy lúp xúp về

Trang 4

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập 40, số 4b-2011 phía tôi Tôi nhớ lại hình ảnh con “ Bê

Dại” đội tay lên đầu, mở mắt thao

láo Bây giờ trước mắt tôi, Bê đã trở

thành một cô gái rắn rỏi vững vàng

với khẩu súng trong tay và cái miệng

cười khoẻ khoắn tủm tỉm Trong

đôi mắt trong sáng và linh động bắt

gặp một thoáng mơ màng, xa xa” [Như

con sông từ nguồn ra biển]

Mỗi một từ láy như một nét vẽ làm

nổi rõ một nét tính cách, một đặc điểm

ngoại hình, nào đó của nhân vật, với

sự xuất hiện hàng loạt từ láy trong một

đoạn văn như thế đã hợp lại khắc hoạ

nên một bức chân dung sinh động Từ

láy giúp người đọc thấy hiện lên hình

dáng, khuôn mặt cũng như sức trẻ, nghị

lực của một cô gái lớn lên trong thời

khắc lịch sử của dân tộc, vượt ra ngoài

sức biểu hiện của một bức họa chân

dung Nhân vật hiện lên một cách vừa

chân thực vừa sinh động

Từ láy trong ký của ông cũng góp

phần khắc hoạ nên chân dung của

những người mẹ, người cha, người chị

vừa bước ra khỏi cuộc chiến lại sống

bình dị, nhọc nhằn, thậm chí là khốn

khổ ngay trên mảnh đất mà mình đã đổ

biết bao hy sinh và xương máu Chúng

ta có thể lấy thêm ví dụ về cách tác giả

dùng từ láy để khắc họa chân dung về

hai người mẹ Đó là hình ảnh của mẹ

Ngành: “Một số phận cô đơn, cút cui

một mình một bóng” [Ca dao và mẹ, tr

60] Sau những năm tháng sống quên

mình vì đất nước, mẹ trở về sống lặng lẽ

như chiếc bóng trong sự lãng quên của

cuộc đời Chỉ một từ láy “cút cui” đã đủ

gợi lên bao điều ám ảnh Tác giả vừa gợi

lên được nỗi xót xa, thương cảm, ngậm

ngùi vừa dựng lên được bức tượng đài

về người mẹ quê hương Đó là hình ảnh

của mẹ Thoả với cái quán nhỏ “vắng

vẻ”, “đứng chơ vơ bên quốc lộ”, “chỉ mấy cặp bánh chưng treo lủng lẳng, một cái tủ mắt lưới cũ kỹ”, với “khuôn mặt tê tái”, “Bóng mẹ lờ mờ trong cái quán nhỏ dưới chân Thành Cổ, ngọn

đèn hột vịt hiu hắt một đốm sáng nhạt nhoà trong sương” [Đêm chong đèn nhớ lại] Bên cạnh chức năng miêu tả ngoại hình, từ láy còn có khả năng thể hiện tính cách, phẩm chất con người và xa hơn nữa là gợi lên những số phận Cái

“vắng vẻ”, “chơ vơ”, “lủng lẳng”, “cũ kỹ”,

“hiu hắt”, “nhạt nhoà” không chỉ để miêu tả cái nghèo, cái lẻ loi của một quán nước nhỏ ven đường mà ẩn dấu sau đó là khuôn mặt, là cuộc đời nghèo khổ, đơn chiếc của một người mẹ nghèo

đã cống hiến cả đời mình, cả gia đình mình cho quê hương, cho tổ quốc Giá trị gợi tả của từ láy là do mối quan hệ âm - nghĩa trong chính bản thân từ tạo thành Nhưng giá trị của từ láy có được phát huy hay không là tùy thuộc vào tài năng của người dùng Sự vật hiện tượng hay bộ mặt của cuộc sống đời thường vẫn có thể được tái hiện qua những từ ngữ thông thường, nhưng có lẽ sẽ không có sự tái hiện nào

có thể vừa chân thực, cụ thể mà lại sinh

động, sâu sắc bằng sự tái hiện của từ láy Mang trong mình những đặc trưng riêng biệt, độc đáo, cùng với giá trị tự thân ấy, dưới sự tổ chức ngôn từ của nhà văn, từ láy trở thành đơn vị tổng hợp của hội hoạ, âm thanh, điêu khắc Hãy xem khả năng biểu hiện của từ láy qua ngòi bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường viết về quê hương mình:

“Mặt đất Quảng Trị gần như trơ trụi không có gì, chỉ có những dáng người di lang thang ở đường chân trời Dưới tác dụng của một cuộc chiến quá dữ dằn, mảnh đất quê tôi đã chết như

Trang 5

L.T.H Vân GIá TRị NGHệ THUậT CủA Từ LáY TRONG Ký , tr 92-100 một kẻ bị ám sát tôi trở lại tìm làng

tôi trong một đám cỏ dại mịt mù Tôi

cứ ngơ ngác nhìn bốn phía xem làng

tôi ở đâu” [Thế giới tìm thấy trong tập

thơ “Huyền thoại Cửa Tùng” của Ngô

Minh, tr 201]

Lặp đi lặp lại trong những trang ký

của mình, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã

viết về mảnh đất quê hương bằng một

nỗi xót xa đầy ám ảnh Chiến tranh đã

qua đi nhưng mảnh đất Quảng Trị vẫn

còn là “một bãi lau ngút ngàn”, “từng

đám um tùm, ngổn ngang”, “len lỏi giữa

lau lách”, “một thị trấn nhỏ nhoi bị

chôn vùi trong cỏ dại” [Đêm chong đèn

nhớ lại] “Ngút ngàn” lau, “mịt mù” cỏ

dại không thấy bóng dáng của con

người và cuộc sống Sức biểu cảm mà từ

ngữ mang lại thật lớn Nơi đây dường

như không khác gì một đảo hoang Thế

mà, trước đó nơi đây có một cuộc sống

thanh bình, yên ả: “Hàng dương liễu reo

vi vút suốt ngày Những đồi sim miên

man vô tận Mùi hương nồng nàn

của các loại hoa ban đêm Cả bầu trời

lóng lánh muôn vàn hạt ngọc như

nghiêng xuống trên trán và len lén đi

vào giấc ngủ Vầng trăng tròn vành

vạch vàng lừ” [Thời thơ ấu xanh biếc]

Cũng là hình ảnh của cuộc sống đời

thường, nhưng ở mảnh đất Hà Tĩnh, tác

giả đã biết chọn cái đặc sắc nhất của

vùng quê này để không chỉ gợi lên bức

tranh thanh bình về cuộc sống nơi đây

mà qua đó, người đọc còn tìm thấy bản

chất thân thiện, thật thà, chất phác của

con người:

“Người Hà Tĩnh uống nước chè xeng

trong những vùa đậm đặc đến độ, theo

lời họ “cắm đũa vào không chúc”

Người Hồng Lĩnh còn có tập quán mời

láng giềng uống nước chè xeng mới nấu,

đến nỗi ở phòng bên cạnh thuộc khách

sạn Bến Nghé, chợt nghe tiếng gọi nhau

ơi ới, tiếng chạy rầm rập tôi mới biết rằng trong các đoàn khách đi tham quan các vị ở phòng này chạy sang phòng khác để mời uống nước chè xeng” [Hồng Lĩnh, tr 67-68]

Khác với những vùng miền khác, người Hà Tĩnh uống nước chè xanh như

ăn cơm mỗi ngày, thậm chí buổi sáng chưa cần ăn nhưng phải có ấm nước chè xanh đã Nhưng nước chè ngon phải là nước nhìn trong nhưng uống vào rất

đậm, đã khát Từ “đậm đặc” kết hợp với

từ láy “ơi ới”, “rầm rập” đã diễn tả được

đầy đủ ý nghĩa đó, đồng thời nó còn thể hiện được cái nét chân chất trong đời sống sinh hoạt cũng như trong đời sống tình cảm của người Hà Tĩnh: sống giản

đơn, mộc mạc nhưng thân thiện, gần gũi đến không ngờ

Khuôn mặt của cuộc sống đời thường với những ám ảnh lịch sử, những không gian văn hoá đặc sắc hay

đơn giản chỉ là những nét sinh hoạt bình dị vẫn luôn đi về trong tác phẩm Hoàng Phủ Ngọc Tường

2.2.3 Từ láy diễn tả tâm lý, trạng thái, cảm xúc của con người

Có thể nói, từ láy không miêu tả sự vật hiện tượng hay con người một cách chung chung, vô cảm mà lồng vào trong

đó là những nhận xét, đánh giá, thái độ, tình cảm, cảm xúc của con người Tuy nhiên có những từ láy thiên về mặt gợi tả nhiều hơn là biểu cảm và ngược lại,

có những từ láy dường như xuất hiện chỉ để thể hiện những cung bậc khác nhau của tâm trạng, của cảm xúc:

“Lòng tôi tơi bời một nỗi ăn năn không biết từ đâu Tôi xấu hổ đến đau đớn” [Rất nhiều ánh lửa, tr 103]

Ba từ láy xuất hiện trong hai câu văn ngắn gọn dường như muốn gọi ra

Trang 6

trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập 40, số 4b-2011 cho bằng hết tất cả những cảm xúc

đang dồn dập, đang đau đáu trong tâm

hồn nhân vật tôi Đó lại là tâm trạng

của một người thầy khi đối diện với

những người học trò của mình - một thế

hệ thanh niên đã biết sống và chết cho

quê hương đất nước “Ăn năn” là hối

hận, là day dứt khôn nguôi về một lỗi

lầm đã qua, thế nhưng những cắn rứt,

dày vò ấy đang “tơi bời”, đang rã rời,

đang không ngừng hành hạ tâm hồn bởi

lỗi lầm ấy đã không còn cơ hội để sửa

chữa, thậm chí là để nói một lời xin lỗi

Tâm trạng ấy dành cho người đã mất,

nhưng với người còn sống - với Dân cảm

giác ấy lại là sự xấu hổ - xấu hổ đến

“đau đớn” Đó là cảm giác vừa hổ thẹn,

vừa tủi hổ, vừa ân hận luôn thường

trực, luôn dày vò trái tim người thầy

không chỉ với Dân mà lớn hơn là với quê

hương, với đất nước Có thể nói những

từ láy được sử dụng rất “đắt” đã lột tả

được một cách chân thực, sâu sắc tâm

trạng của một người trí thức đang đứng

trước những ngả rẽ của cuộc đời mình

trước vận mệnh của tổ quốc

ở những chỗ khác, vẫn để diễn tả

cảm xúc tác giả lại sử dụng từ láy như

một phương tiện nghệ thuật đắc lực,

không thể thay thế: “Tôi vẫn thường

bối rối”, “Một cảm giác gần như sửng

sốt”, “Cảm giác mang máng”, “Vẻ mặt

chị sững sờ”, “Mẹ E bồn chồn trong

dạ”, “vẻ ngần ngại”, “nghĩ ngợi thâm

trầm”, “Tôi cứ thấp thỏm”, “tôi lại

khao khát” [Miếng trầu đỏ] Mỗi từ láy

gợi lên những cung bậc khác nhau của

cảm xúc, của tâm trạng Và điều đáng

nói là sự gợi tả ấy đưa người đọc đến với

những cảm nhận sâu sắc nhất về thế

giới nội tâm của con người

Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường luôn là những dòng cảm xúc lắng đọng vào trong của một cái tôi đầy đa cảm:

“Phần tôi, lưu lạc quá xa giữa thế giới phù hư, có lúc chợt nghe thinh không một tiếng hú dài của con chim trĩ thời Trường Sơn, chợt ngẩn ngơ, quay quắt muốn tìm về núi cũ” [Côn Sơn, tr 783] Những ai đã từng được gặp Hoàng Phủ Ngọc Tường sẽ luôn nhớ về một con người có khuôn mặt và đôi mắt dường như lúc nào cũng đang nhìn về một cõi

xa xăm nào đó của những trăn trở và suy ngẫm không bao giờ dứt Một cánh hoa ven đường cũng đủ để gợi nhớ về tuổi thơ, một tiếng chim hú dài trong vô thức cũng đủ thức dậy cả miền ký ức của một thời để rồi “ngẩn ngơ” và “quay quắt” Hai từ láy diễn tả hai trạng thái cảm xúc xuất hiện liên tiếp nhau, bổ sung cho nhau biểu hiện “rất đắt” tâm trạng của nhà văn - một người lính Trường Sơn

Cùng với phép nhân hoá, từ láy còn góp phần làm cho sự vật hiện tượng trở nên có hồn, mang tâm trạng và cảm xúc của con người Dòng sông Hương dưới ngòi bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trở thành một cô gái, một nàng Kiều

“tha thiết”, “mơ màng”, “lưu luyến”,

“lẳng lơ”, “dịu dàng”, “vương vấn” , những bông hoa dại bên đường cũng

“chúm chím” môi cười như trẻ nhỏ, những cây cối trong vườn cũng “ngổn ngang”, “da diết” bao buồn vui, hạnh phúc ở đời

Có thể nói không có phương tiện ngôn từ nào có thể thay thế từ láy trong việc thể hiện bức tranh tâm trạng con người

Trang 7

L.T.H Vân GIá TRị NGHệ THUậT CủA Từ LáY TRONG Ký , tr 92-100

3 Qua việc phân tích miêu tả một

số đoạn văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

viết về thiên nhiên, khắc họa nhân vật

thể hiện tâm trạng con người ở trên,

chúng ta đã thấy từ láy đã được tác giả

lựa chọn sử dụng với số lượng lớn tần

suất cao và lớp từ này không chỉ có giá

trị gợi tả, giá trị biểu cảm mà nó còn có

giá trị phong cách Thông qua việc vận dụng từ láy vào trong tác phẩm của mình, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã cho chúng ta thấy một phong cách ký độc

đáo, đặc sắc, già dặn trong ngòi bút, tài hoa trong câu chữ, uyên bác trong vốn

từ và một trái tim đằm thắm, thiết tha với quê hương, đất nước, con người

TàI LIệU THAM KHảO

[1] Hoàng Văn Hành, Từ điển từ láy tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1994

[2] Hoàng Văn Hành, Từ láy trong tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2008 [3] Đặng Lưu, Ngôn ngữ tác giả trong truyện ngắn Nguyễn Tuân, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Vinh, 2006

[4] Đặng Nhật Minh, Hoàng Phủ Ngọc Tường một tâm hồn Huế, Tia sáng, 2006; in lại trong Miền cỏ thơm, NXB Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2007

[5] Phạm Phú Phong, Hoàng Phủ Ngọc Tường - người kể chuyện cổ tích chiến tranh, Sông Hương, Số 161, 2002

[6] Nguyễn Thị Quỳnh Phương, Nghệ thuật so sánh trong ký “Sông Đà” và “Miền cỏ thơm”, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Vinh, 2009

[7] Trần Đình Sử, Ai đã đặt tên cho dòng sông - bút ký sử thi của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Văn nghệ, số 7, 1987; in lại trong Lý luận và phê bình văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000

[8] Nguyễn Trọng Tạo, Từ A đến Z với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Sông Hương, 2002;

In lại trong Miền cỏ thơm, NXB Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2007

[9] Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường (gồm các tập: 1, 2, 3, 4), NXB Trẻ và Công ty văn hoá Phương Nam, 2002

SUMMARY THE ART VALUE OF REDUPLICATIVE WORDs

IN THE ACCOUNTS written BY HOANG PHU NGOC TUONG

One of the highlights of the accounts written by Hoang Phu Ngoc Tuong is the diversity of reduplicative words In his works, they are not only richin quantity but also diverse in number of sub-types They has contributed to soften a type which was inherently dry with full facts and data, and to express deeply content values and thoughts of his works

Trang 8

tr−êng §¹i häc Vinh T¹p chÝ khoa häc, tËp 40, sè 4b-2011

Ngày đăng: 28/12/2013, 20:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w