1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệp định về khía cạnh liên quan đến thương mại và quyền sở hữu trí tuệ của WTO và những vấn đề đặt ra đối với việt nam

22 702 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiệp định về khía cạnh liên quan đến thương mại và quyền sở hữu trí tuệ của WTO và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 108,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HIệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT TRIPS - WTO buộc VN phải đạt được hai chuẩn mực lớn về nội dung bảo hộ tính đầy đủ và hiệu quả thực thi pháp Luật tính

Trang 1

Những năm đầu gia nhập WTO, quyền SHTT của Việt Nam sẽ là vấn đề

có ảnh hưởng rõ nét nhất đến hoạt động kinh doanh, thương mại do những tácđộng trực tiếp từ các nguyên tắc, yêu cầu thực thi "Luật" của WTO HIệp định

về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (TRIPS) - WTO buộc VN phải đạt được hai chuẩn mực lớn về nội dung bảo hộ (tính đầy đủ)

và hiệu quả thực thi pháp Luật (tính hiệu quả) của hệ thống SHTT Chính vì

vậy em xin chọn đề tài "Hiệp định về khía cạnh liên quan đến thương mại và quyền sở hữu trí tuệ của WTO và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam" làm

đề tài nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu đề tài này, không tánh khỏi thiếu sót, rất mongđược sự nhận xét của thầy, cô giáo

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

áp dụng và cũng sẽ áp dụng cho các thành viên tương lai Khi được áp dụng đầy đủ, hiệp định này sẽ tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ gần như trên toàn thế giới - tạo ra sực mạnh chưa có hiệp ước quốc tế nào đạt tới.

Quyền sở hữu trí tuệ (IPRS) được chia thành quyền sở hữu công nghiệp(đối với các phát và nhãn hiệu được sử dụng trong sản xuất công nghiệp vàthương mại) và quyền sở hữu về văn học, nghệ thuật hay nói cách khác làquyền sở hữu các tác phẩm văn hoá Sự tách biệt này xuất phát minh sángchế có tính chất thương mại Quyền sở hữu trí tuệ được chia thành 4 dạngchính sau đây

1 Bằng sáng chế (patent) cấp cho tác giả phát minh quyền ngăn chặn

những người sử dụng, mua bán hoặc sản xuất theo phát minh đã đăng ký bảo

hộ của mình trong một thời hạn nhất định (trong một quốc gia cụ thể) Thờihạn bảo hộ tối thiểu mà hiệp định TRPS yêu cầu là 20 năm kể từ ngày xinđăng ký Một số nước thừa nhận mô hình thoả dụng hoặc patent nhỏ cấpquyền sử dụng một thời gian ngắn hơn cho những phát triển, cải tiến nhỏ cóđầu tư thêm vào thiết kế, chế tạo

Trang 3

2 Bằng sáng chế (patent) về sở hữu kiểu dáng công nghiệp bảo hộ

quyền về mẫu mã và mỹ thuật của sản phẩm Hiệp định TRIPS yêu cầu sở hữu lĩnh vực này tối thiểu 10 năm

3 Bằng sáng chế (patent) về sở hữu thương hiệu và nhãn hiệu dịch

vụ, bảo hộ quyền của một thương hiệu hoặc nhãn hiệu của một sản phẩm, một

dịch vụ hay một mặt hàng Mục tiêu chính là để giảm chi phí tìm kiếm củangười tiêu dùng và tránh cho người tiêu dùng khỏi nhầm lẫn về chất lượng vàxuất xứ của sản phẩm Ví dụ, qua mẫu mã và kiểu dáng, có thể nhận biết ngayđặc điểm địa lý chất lượng của một loại rượu vang, rượu mạnh hau hoa quả,thực phẩm của một vùng hay hãng sản xuất danh tiếng nào đó

4 Bằng (Giấy) chứng nhận bản quyền tác giả của tác phẩm nghệ thuật, âm nhạc và văn học bảo hộ quyền thể hiện tác phẩm đó trong một

thời gian, thường là khi tác giả còn sống cộng với 50 năm sau khi qua đời (ở

Mỹ và các nước EU là 70 năm sau khi tác giả qua đời) Bản quyền chỉ baohàm ý nghĩa là cấm bắt chước thể hiện chứ không hạn chế được khía cạnh

ý tưởng Vì vậy, phạm vi bảo hộ của bản quyền hạn hẹp hơn sáng chế(patent) Bản quyền cũng được "mở " khi đồng ý cho phép tái bản, dịch trìnhchiếu, biểu diễn, chuyển thể đối với các tác phẩm là sách, phim, nhạc và cácphần mềm máy tính

Hiệp định TRIPS yêu cầu các chương trình phần mềm máy tính phải được bảo hộ bản quyền Các nước có thể áp dụng mức độ cho phép khác nhautrong việc ứng dụng phần mềm máy tính theo thuyết "sử dụng công bằng" hoặc những hạn chế khác Vì các chương trình phần mềm máy tính có thể sử dụng với mục đích thương mại, nên một số nước công nghiệp cho phép các hãng sản xuất đăng ký xin cấp bằng sáng chế sang một lĩnh vực mới bao hàm

cả mục đích kinh doanh Tiếp đó là xu hướng chấp nhận đăng ký bằng sáng chế (patent) cho một số khâu trong lĩnh vực nghiên cứu sinh học như bảo hộ quyền phát minh giống cây trồng mới Quyền này cho phép người phát minh

Trang 4

giống cây trồng mới Quyền này cho phép người phát minh giống cây mới đặcbiệt và có gien ổn định Một lĩnh vực tương tự là thiết kế các mạch tích hợp cũng được bảo hộ "riêng", hay còn gọi là bảo hộ "đặc biệt", bởi việc này tuy

có sáng tạo nhưng không nhiều nên mới được cấp cả bằng sáng chế (patent) lẫn bằng bản quyền với thời hạn khoảng 10 năm

Có một loại sở hữu đặc biệt tuy không hoàn toàn giống với sáng chế haybản quyền, chỉ quan hệ đến lĩnh vực kinh doanh nhưng lại chưa được bảo hộthích đáng, đó là sở hữu bí mật trong một hãng hoặc một cơ sở sản xuất kinhdoanh Nhưng nếu đối thủ cạnh tranh có được những thông về bí mật đóthông qua thiết kế, tham chiếu một cách hợp thức thì người sáng tạo ban đầukhông có quyền loại trừ sự ứng dụng này Sự cạnh tranh không lành mạnhdẫn đến những hoạt động như tình báo công nghiệp, mua chuộc lôi kéo nhânviên của đối thủ tiết lộ bí mật thương mại Thậm chí có trường hợp nhân viên

kỹ thuật tự ý bỏ hãng để ra ngoài sản xuất hoặc kinh doanh bằng chính côngthức đã thu nhận được

Hiệp định TRIPS bao trùm tất cả các quyền sở hữu trí tuệ chính, gồm cả các lĩnh vực và quyền chưa được Luật quốc tế hay trong một số trường hợp cảLuật quốc gia của các nước công nghiệp đề cập tới việc thực thi hiệp định này sẽ áp đặt các thay đổi về Luật sở hữu trí tuệ của một số nước thành viên WTO không có bất kỳ ngoại lệ nào Những thay đổi này cũng tác động mạnh đến Luật, quy định và các thủ tục hiện hành của các nước đang phát triển áp dụng trong lĩnh vực kinh tế xã hội như nông nghiệp, y tế, giáo dục và văn hoákhi trở thành thành viên WTO Các điều kiện khoản chính của hiệp định TRIPS có thể phân chia thành 5 nhóm: tiêu chuẩn, thực thi, giải quyết tranh chấp, các quy định và nguyên tắc chung Cuối cùng là những thoả thuận chuyển đổi

1 Tiêu chuẩn:

Trang 5

Hiệp định TRIPS đưa ra những tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu do các nước thành viên đề xuất trong mỗi linh vực chính của sở hữu trí tuệ Lĩnh vực sở hữu bao gồm cấp bằng sáng chế (patent); bảo hộ giống cây trồng; bản quyền

và các quyền liên quan (đó là các quyền của nghệ sĩ biểu diễn, nhà sản xuất băng ghi âm, các tổ chức phát thanh truyền hình); thông tin bí mật (bí mật thương mại, dữ liệu kiểm định); nhãn hiệu thương mại; dấu hiệu địa lý; thiết

kế công nghiệp và thiết kế các mạch tích hợp

2 Hiệu lực:

Nhóm điều khoản chính thứ hai là các thủ tục và chế tài trong nước đối với hiệu lực của IPRS Lần đầu tiên, trong các Luật quốc tế về IPRS, điều khoản chi tiết về thủ tục dân sự và hành chính, các chế tài, biện pháp đặc biệt liên quan đến phạm vi biên giới và vấn đề tội phạm được đặt ra Các điều khoản này xác định thủ tục pháp lý, hình phạt tối thiểu để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại các cơ quan pháp Luật, toà án hành chính

3 Giải quyết tranh chấp:

Hiệp định TRIPS quy định các tranh cãi giữa các thành viên WTO về sự tuân thủ nghĩa vụ theo hiệp định chịu sự điều chỉnh của thủ thục giải quyết tranh chấp của WTO Hội nhập Bộ trưởng WTO lần thứ tư tại Doha (11 - 2001) đã thống nhất rằng các đơn kiện tranh chấp tồn đọng chưa xử lý có thểđược xem xét kỹ hơn ở Hội đồng TRIPS và sẽ đưa ra báo cáo Hội nghị Bộ trưởng tiếp theo

4 Những quy định và nguyên tắc chung:

Hiệp định TRIPS đưa ra những nguyên tắc cơ sở như không phân biệt đối xử giữa những người nước ngoài khác nhau (tối huệ quốc), Hiệp định cho phép các nước tự do quyết định chính sách "nhập khẩu song song" đối với cáchàng hoá nhập khẩu mà người nắm giữ IPRS đưa ra ở thị trường khác một cách hợp pháp

Trang 6

5 Thoả thuận chuyển đổ:

Các nghĩa vụ ghi trong hiệp đinh áp dụng một cách công bằng cho tất cảcác thành viên Nhưng đối với các nước đang phát triển và các nền kinh tếchuyển đổi thì thời gian bắt đầu áp dụng muộn hơn (từ 1 - 1 - 2000) trong khithành viên là các nước công nghiệp phải áp dụng tất cả các điều khoản củahiệp định từ 1- 1 - 1996, còn với các nước kém phát triển (LDCs) thì từ

1 - 1 - 2006 Riêng sản phẩm dược được nói rộng cho các nước LDCsđến năm 2016

Thực hiện các cam kết của WTO cụ thể là thực thi Hiệp định bảo hộquyền sở hữu trí tuệ là nghĩa vụ không thể thoái thác nhưng đồng thời cũngđem lại lợi ích to lớn cho các nước thành viên của tổ chức kinh tế quốc tế này

II Nội dung chính của Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam:

Tại phiên họp cuối cùng ngày 18/11/2005 Quốc Hội đã thông qua Bộ Luật sở hữu trí tuệ, Bộ Luật này có hiệu lực thi hành vào ngày 01/07/2006 Đây được xem là một bước tiến mạnh trong ngành lập pháp nước ta hướng đến việc gia nhập wto trong tương lai

Từ năm 1995 đến năm 2005, toan bộ hệ thống các quy định hiện hành của nước ta về bảo hộ quyền SHTT chủ yếu được xây dựng trên cơ sở phần

VI của Bộ Luật Dân sự Ngoài ra còn có một số quy định liên quan đến SHTTđược ghi nhận tạo một số văn bản pháp Luật thuộc các chuyên ngành khác như: Bộ Luật hình sự, Luật Khoa học và công nghệ, Luật hải quan, Luật Thương mại, Bộ Luật tố tụng dân sự, pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, pháp lệnh giống cây trồng, Nghị định 63, Để thi hành các quy định của Bộ Luật Dân sự về SHTT và một số văn bản của Chính phủ

Tuy nhiên, hệ thống văn bản này vẫn còn những điểm bất cập như: hệ thống các quy định về bảo hộ quyền SHTT nằm rải rác, tản mạn trong rất nhiều văn bản, phần lớn trong các văn bản quy phạm dưới Luật, hiệu lực thi

Trang 7

hành thấp, gây khó khăn, phức tạp cho người vận dụng, vẫn có một số nội dung còn thiếu, chưa quy định cụ thể về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc tự bảo vệ quyến SHTT của mình nên chưa khắc phục được tình trạng nhầm lẫn giữa trách nhiệm của cơ quan nhà nước với trách nhiệm của bản thân tổ chức, cá nhân.

Nguyên tắc chung của Luật sở hữu trí tuệ nhằm khuyến khích, tạo điều kiện cho các hoạt động sáng tạo, cạnh tranh lành mạnh trong sản xuất, kinh doanh, chuyển giao các tài sản trí tuệ trong sản xuất, kinh doanh và phát triển khoa học, công nghệ phục vụ phát tin kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân

Theo Luật này, phần VI phần xử lý vi phạm sở hữu trí tuệ theo đó Bộ Luật lần đầu tiên đưa ra chi tiết vấn đề xử phạt đối với việc vi phạm sở hữu trítuệ như tại điều 213, 214, 2115 quy định về giả mạo về sở hữu trí tuệ Tại mục 02 phần VI của Bộ Luật nêu một vấn đề mới là việc kiểm soát hàng hoá xuất nhập liên quan đến sở hữu trí tuệ Về mức phạt cũng có sự thay đổi, mức phạt theo quy định mới nặng hơn, cần thiết hơn so với các văn bản ban hành trước đây, trong đó toà án có quyền căn cứ mức độ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ để ấn định mức bồi thường thiệt hại về vật chất từ 5 - 200 triệu đồng, bồi thường thiệt hại về tinh thần từ 5- 50 triệu đồng Cá nhân có hành vi vi phạm quy định của pháp Luật về SHTT có yếu tố cấu thành tội phạm có thể bịtruy cứu trách nhiệm hình sự

Về nội dung Luật này có một số điểm chính:

*Về phạm vi điều chỉnh:

Luật này quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó

* Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ:

Trang 8

1 Đối tượng của quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật,khoa học; đối tượng của quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộcbiểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, cuộc phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chươngtrình được mã hoá.

2 Đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểudáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh,nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý

3 Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là giống cây trồng và vật liệunhân giống

Luật bao gồm 6 phần 18 chương và 226 điều Luật

Phần 1: Những quy định chung

Phần 2: Quyền tác giả và các quyền liên quan

Phần 3: Quyền sở hữu công nghiệp

Phần 4: Quyền đối với cây trồng

Phần 5: Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Điều khoản chuyển tiếp

1 Các quyền tác giả, các quyền liên quan được bảo hộ theo quy định pháp Luật có hiệu lực trước ngày Luật này có hiệu lực, nếu còn thời hạn bảo

hộ vào ngày Luật này có hiệu lực thì được tiếp tục bảo hộ theo quy định tại Luật này

2 Các đơn đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu (trước đây là nhãn hiệu hàng hoá), tên gọi xuất xứ từ hàng hoá, thiết kế bố trí, giống cây trồng đã được nộp qua bưu điện có dấu bưu điện trước ngày Luật này có hiệu lực thì được tiếp tục xử

lý theo các quy định của các văn bản pháp Luật có hiệu lực tại thời điểm nộp

hồ đơn

Trang 9

3 Mọi quyền và nghĩa vụ theo văn bằng bảo hộ được cấp theo quy định pháp Luật có hiệu lực trước ngày Luật này có hiệu lực và thủ tục duy trì, gia hạn, sửa đổi, chuyển giao quyền sử dụng, chuyển nhượng quyền sở hữu, giải quyết tranh chấp liên quan đến văn bằng bảo hộ đó được áp dụng theo quy định tại Luật này Riêng quy định về căn cứ huỷ bỏ hiệu lực các văn bằng bảo

hộ chỉ ấp dụng quy định pháp Luật có hiệu lực tại thời điểm cấp văn bằng bảohộ

4 Các bí mật kinh doanh và tên thương mại đã tồn tại và được bảo hộ theo Nghị định số 54/2000/NĐ - CP ngày 03 - 10 - 2000 của Chính phủ về bảo hộ theo sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới

sở hữu công nghiệp tiếp tục được bảo hộ theo Luật này

5 Kể từ ngày Luật này có hiệu lực, chỉ dẫn địa lý, kể cả các chỉ dẫn địa

lý được bảo hộ theo Nghị định nêu tại khoản 4 Điều này, chỉ được bảo hộ sau khi đã được đăng ký theo quy định tại Luật này

Sự phù hợp giữa Hiệp định trips và Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam

Khi ra nhập WTO, Việt Nam sẽ phải tuân thủ các quy định về sở hữu trí tuệ theo hiệp định liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs).Việc thực hiện Hiệp định TRIPs có thể mang lại những tác động tích cực đối với tình hình đầu tư của Việt Nam Cụ thể, TRIPs sẽ mang lại cảm giác an toàn cho các nhà đầu tư từ đó giúp làm tăng vốn đầu tư đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ diễn ra mạn mẽ hơn Ngoài ra, quyền sở hữutrí tuệ được tôn trọng cũng sẽ giúp khuyến khích các sáng tạo, nghiên cứu cải tiến sản xuất trong nước, đặc biệt là trong các ngành phụ thuộc nhiều vào các sáng chế (trong phần sau của chuyên đề có phân tích cụ thể tác động của TRIPs tới ngành dược phẩm) Có thể hy vọng rằng trong khi hoạt động bảo hộ

sở hữu trí tuệ Việt Nam nhằm thực hiện cam kết TRÍP sẽ giúp hoạt động này nhan chóng trở nên quy củ và chuyên nghiệp hơn

Trang 10

1 Về bản quyền tác giả:

Từ năm 2005, Việt Nam đã ban hành Luật sở hữu trí tuệ Vấn đề bản quyền tác giả đã được quy định và áp dụng theo quy Luật SHTT 2005 và Bộ Luật Dân sự 2005 Theo đó, quyền tác giả đối với những tác phẩm gốc được bảo hộ không phân biệt hình thức, ngôn ngữ thể hiện và chất lượng của tác phẩm Trong quá trình đàm phán, trả lời câu hỏi liên quan đến việc áp dụng nguyên tắc đối xử quốc gia, đại diện của Việt Nam nói rằng, Luật SHTT năm

2005 bảo đảm thực hiện điều 3 của hiệp định TRPS công dân của nước thành viên Công ước Berne hoặc WTO sẽ được bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam

Trong quá trình đàm phán, một số Thành viên có ý kiến cho rằng họ thấymột số cơ quan của Chính phủ Việt Nam sử dụng phần mềm máy tính mà chưa được phép của chủ sở hữu Họ cũng lưu ý rằng một cơ quan của Chính phủ Việt Nam và một doanh nghiệp Nhà nước đang cung cấp truyền hình cáp không có bản quyền cho khách hàng Việt Nam Những Thành viên này đề nghị Việt Nam chấm dứt tình trạng này trong quá trình đàm phán gia nhập WTO và thực thi nghĩa vụ theo Hiệp định TRIPS Đại diện Việt Nam xác nhận rằng, trước ngày gia nhập, Việt Nam sẽ ban hành các văn bản quy phạm pháp Luật phù hợp với yêu cầu các cơ quan của Chính phủ sử dụng các phần mềm máy tính hợp pháp và không vi phạm quyền tác của các phần mềm này; quy định việc mua và quản lý tất cả phần mềm do các cơ quan Chính phủ sử dụng; ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định việc các nhà cung cấp truyền hình cáp chỉ được cung cấp các chương trình đã có phép đến khách hàng của họ

Về thù lao, nhuận bút, các tổ chức, cá nhân sử dụng các tác phẩm đã được công bố hoặc bản ghi âm/ghi hình để thực hiện chương trình phát sóng

có tài trợ, quảng cáo hoặc thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả,

Trang 11

quyền liên quan theo quy định của Chính phủ Việt Nam lưu ý rằng các tổ chức phát sóng ở Việt Nam do Nhà nước quản lý, hoạt động bằng ngân sách nhà nước quản lý, hoạt động bằng ngân sách nhà nước, vì vậy chỉ những trường hợp có tài trợ, quảng cáo hoặc tiền dưới bất kỳ hình thức nào mới phảitrả tiền nhuận bút, thù lao.

Tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm gốc khi bị xâm hại có quyền yêu cầu tổ chức cá nhân có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại; yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm hoặc khởi kiện ra toà án cóthẩm quyền hoặc thông qua trọng tài để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Người xâm phạm có thể bị phạt đến 200 triệu đồng hoặc bị phạt tù đến

3 năm

2 Về nhãn hiệu, bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ:

Nhãn hiệu được bảo hộ theo quy định tại các điều từ 750 - 753 của BộLuật Dân sự 2005 và phần III của Luật SHTT năm 2005 Không có yêu cầubắt buộc đăng ký nhãn hiệu đối với bất kỳ hàng hoá và dịch vụ nào Tất cảcác đăng ký nhãn hiệu đều được công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp.Việt nam đã xác nhận rằng trong quá trình soạn thảo Luật SHTT, Việt Nam

đã tham khảo các quy định của khuyến nghị chung liên quan đến các quy định

về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng do Hội đồng liên hiệp pari và Đại hội đồng của

tổ chức SHTT thế giới (WIPO) thông qua vào tháng 9/1999 Hệ thống bảo hộnhãn hiệu của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với hiệp định TRIPS và khoản 1Điều 6 Công ước pari

3 Về chỉ dẫn địa lý, bao gồm cả tên gọi xuất xứ hàng hoá:

Chỉ dẫn địa lý được bảo họ theo quy định tại các điều 750 - 753 của BộLuật Dân sự năm 2005 và phần III của Luật SHTT năm 2005 Việt Nam lưu ýmột chỉ dẫn địa lý sẽ không được bảo hộ nếu đã trở thành tên gọi chung ởViệt Nam Chỉ dẫn địa lý nước ngoài được bảo hộ ở nước xuất xứ mới có

Ngày đăng: 28/12/2013, 14:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w