Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung na butyrate vào khẩu phần ăn để cải thiện trạng thái chức năng của đường tiêu hoá và hiệu quả chăn nuôi lợn thịt ở hát lót mai sơn sơn la
Trang 1MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi lợn là một ngành có tầm quan trọng rất lớn trong đời sống xãhội nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng ở Việt Nam Đây là nguồn cungcấp một lượng lớn thực phẩm với chất lượng tốt, đảm bảo cho nhu cầu và đờisống của con người Nguyễn Thanh Sơn (2010) [ ] tính tới thời điểm tháng 4năm 2010 cả nước ta có 27,3 triệu đầu lợn Trong đó có 4,18 triệu lợn nái.Tổng sản lượng thịt ước tính trong 6 tháng đầu năm 2010 đạt 1,77 triệu tấn,tăng hơn cùng kỳ năm 2009 khoảng 3,5% Kết quả đạt được ở trên là có sựđóng góp lớn của những tiến bộ kỹ thuật về giống, thức ăn dinh dưỡng
Sơn La là một tỉnh có tiềm năng lớn về nguồn thức ăn nguyên liệu chochăn nuôi đặc biệt là ngô sản lượng ngô đạt 135,8 ngàn tấn /năm, Niên giámthống kê Việt Nam (2007)[2] và cũng là một thị trường có tiềm năng tiêu thụlớn các sản phẩm về chăn nuôi nói chung và thịt lợn nói riêng (nhu cầu thựcphẩm cho nhân dân trong tỉnh và cung cấp cho hàng vạn công nhân côngtrường thủy điện Sơn La) Giá thịt lợn tại thị trường Sơn La thường cao hơn
so với thị trường Hà Nội cùng thời điểm 10-15% Tuy nhiên chăn nuôi lợn tạiđây phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của thị trường, nguồn congiống và thịt lợn còn phụ thuộc vào thị trường ngoài… và đây là một trongnhững trở ngại lớn, nó không chỉ làm tăng giá sản phẩm mà còn là nguy cơlàm lây lan dịch bệnh Thời gian gần đây trên địa bàn tỉnh đã nhập về một sốlượng lớn lợn nái ngoại, lợn nái lai, lợn đực giống ngoại và lợn đực lai nhưlợn Landrace, Yorkshire, Duroc và lợn lai F1 (Landrace x Yorkshire), F1(Pietrain x Duroc)…
Để phát huy hết khả năng sản xuất và chất lượng thịt của các giống lợnnày, ngoài việc cung cấp đầy đủ nhu cầu về các chất dinh dưỡng như: Protein,
Trang 2axít amin, enzyme, vitamin… Ta thường phải sử dụng kháng sinh để phòng,chống các bệnh nhiễm khuẩn, nhất là nhiễm khuẩn đường tiêu hoá, đồng thời
để kích thích sinh trưởng ở lợn thịt Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh trongchăn nuôi lợn sẽ gây tích lũy kháng sinh trong thịt gây ra tình trạng nhờnthuốc, có hại cho sức khoẻ của con người Hiện nay thế giới cũng như trongnước đang có xu hướng hạn chế dần, tiến tới xoá bỏ việc sử dụng kháng sinhtrong chăn nuôi và người ta đi tìm các sản phẩm thay thế kháng sinh, gồmnhiều loại như: Probiotic, enzym, các axit hữu cơ, để vừa đạt được mục tiêucủa chăn nuôi lại vừa an toàn đối với vật nuôi và con người, cải thiện đượccác chức năng tiêu hóa, phục hồi được tế bào ruột bị tổn hại, ức chế được vikhuẩn gây bệnh, tăng chiều dài của lông tơ biểu mô đến 30% và tăng cườngkhả năng miễn dịch ở gia súc, không để lại tồn dư và đảm bảo vệ sinh, an toànthực phẩm cho con người
Chế phẩm axít hữu cơ: Na butyrate do Công ty Singao (Trung Quốc)
sản xuất đã được khuyến cáo là mang lại hiệu quả kinh tế cao và có ýnghĩa lớn trong việc thay thế kháng sinh Để khẳng định khả năng thay thếkháng sinh của chế phẩm này trong điều kiện chăn nuôi nông hộ, trang trại
ở Sơn La, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung Na butyrate vào khẩu phần ăn để cải thiện trạng thái chức năng của đường tiêu hoá và hiệu quả chăn nuôi lợn thịt ở Hát Lót - Mai Sơn - Sơn La”.
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định ảnh hưởng của việc bổ sung Na butyrate, tới trạng thái chứcnăng của đường tiêu hoá theo hướng có lợi làm tăng sức hấp thu dinh dưỡng
- Xác định được ảnh hưởng tốt của việc bổ sung Na butyrate, tới tốc độsinh trưởng nói riêng, hiệu quả chăn nuôi lợn thịt nói chung
Trang 31.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩa khoa học:
Đề tài nghiên cứu được ảnh hưởng của chế phẩm Na butyrate đến trạngthái, chức năng của đường tiêu hoá đến sinh trưởng, sức sản xuất thịt của đànlợn thịt nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và giảm thiểu ô nhiễm môitrường
Những kết quả nghiên cứu này sẽ đóng góp vào kết quả nghiên cứu vềứng dụng các chế phẩm Na butyrate, trong chăn nuôi lợn thịt hiện nay trênđịa bàn, đồng thời có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy,học tập của ngành chăn nuôi thú y Ngoài ra, đây còn là cơ sở khoa học chonhững nghiên cứu tiếp theo nhằm nâng cao khả năng ứng dụng các chếphẩm trong chăn nuôi lợn thịt
*Ý nghĩa thực tiễn trong chăn nuôi lợn của tỉnh Sơn La
- Cung cấp chế phẩm Na butyrate, để mở rộng phát triển chăn nuôilợn thịt hướng nạc trong điều kiện hiện nay trên địa bàn tỉnh, góp phần vàocông tác chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong lĩnh vực chăn nuôi lợnnhằm nâng cao năng suất và chất lượng thịt theo hướng tạo ra sản phẩm chănnuôi an toàn
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hoá và sinh lý tiêu hoá của lợn
2.1.1.1 Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa của lợn
Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [3] cho biết dạ dày lợn là dạ dàytrung gian giữa dạ dày đơn và dạ dày kép, bao gồm 5 phần như: dạ dày đơnvùng thực quản (nhỏ), vùng manh nang, vùng thượng vị, vùng thân vị vàvùng hạ vị Vùng thực quản không có tuyến, vùng manh nangvà thượng vị cótuyến tiết ra dịch nhầy không có pepsin và HCl
Theo Nguyễn Thiện và cs, (1998) [4], ruột non của lợn dài gấp 14 lầnchiều dài cơ thể gồm 3 phần: Phần tá tràng, khổng tràng và hồi tràng Ruộtgià dài khoảng 4 - 5 m gồm 3 đoạn: manh tràng, kết tràng và trực tràng
Hệ tiêu hoá của lợn thay đổi khối lượng, kích thước và thể tích tuỳtheo giống, thức ăn, phương thức chăn nuôi Lợn nuôi theo hướng mỡ, chănthả, quảng canh ăn nhiều thức ăn thô thì bộ máy tiêu hoá to hơn, dài hơn sovới lợn hướng nạc Do đặc điểm cấu tạo tiêu hoá mà lợn có các đặc điểm tạp
ăn, chịu đựng kham khổ và có khả năng lợi dụng thức ăn thô xanh cao, nhất
là nơi các giống lợn ít được chon lọc Do ăn nhiều thức ăn thô xanh nên ruộtgià của lợn tồn tại hệ vi kháng sinh vật có khả năng tiêu hoá một phầncelluloza
Đặc điểm của hoạt động thần kinh và thể dịch mà lợn có khả năngtiêu hoá thức ăn cao Để sản xuất ra một khối lượng cơ thể, lợn chỉ sử dụnghết 4 - 6 kg thức ăn, trong khi đó bò phải ăn hết 8 - 12 kg và dê cừu phải ănhết 6 - 10 kg
Dựa vào các đặc điểm sinh học của hệ tiêu hoá nói trên chúng ta cóthể nghiên cứu phối hợp khẩu phần ăn cho phù hợp với hệ tiêu hoá của lợn,
Trang 5để nâng cao năng suất trong chăn nuôi lợn.
2.1.1.2 Sinh lý tiêu hóa của lợn
Để nâng cao khả năng sinh trưởng, năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợnthịt, bên cạnh các biện pháp chọn giống, lai tạo giống thì việc tìm hiểu nắmbắt các đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn để tác động các biện pháp kỹ thuậtchăm sóc nuôi dưỡng, chế biến thức ăn… là một vấn đề quan trọng Ta biếtrằng lợn là loài gia súc ăn tạp, dạ dày của chúng có cấu tạo trung gian giữa dạdày đơn và dạ dày kép
Trong quá trình phát triển các đặc điểm cấu tạo và chức năng của dạdày lợn hoàn thiện dần ngay từ trong bào thai và tiếp tục phát triển cho đến rangoài môi trường
Theo A.V.Kvasnhiski (1951), cơ quan tiêu hóa của lợn phát triển hơncác cơ quan khác, khi còn ở trong bào thai bộ máy tiêu hóa đã hình thành đầy
là tẩm ướt thức ăn rồi đẩy xuống dạ dày, ruột để tiêu hóa
Dạ dày tiết ra dịch vị, các men tiêu hóa, khi thức ăn xuống dạ dày cơtrơn nhào trộn thức ăn, cùng với đó là các men tiêu hóa thấm vào thức ăn.Men trypsinogen nhờ tác dụng của axit HCL trở thành trypsin hoạt động,men này thủy phân protid thành axit amin và peptid để dạ dày và ruột nonhấp thu Ở dạ dày lợn nhu động yếu nên thức ăn có hiện tượng xếp lớp dovậy những thức ăn bên ngoài được tiêu hóa trước Hàm lượng HCL trongdịch vị tăng dần để đạt tới sự ổn đinh gắn liền với sự hoàn chỉnh về cấu tạo
và chức năng của dạ dày lợn.Ở lợn con hàm lượng HCl là 0,05-0,15%, lợn 90
Trang 6ngày tuổi 0,2-0,25 % còn ở lợn trưởng thành hàm lượng HCl là 0,35-0,40 %(Nguyễn Thiện và cs (1998)[5]
Ruột non của lợn dài 14-18 m, tiêu hóa ở ruột non là nhờ tác dụng củacác dich tiêu hóa như: Dịch tụy, dịch ruột, dịch mật và các dịch tiết từ các cơquan tiêu hóa phía trên đưa xuống Lợn có khối lượng 100 kg tiết 8 lít dịchtụy trong một ngày đêm và sự phân tiết này còn phụ thuộc vào các loại thức
ăn, cách chế biến và cách cho ăn…
Theo A.V.Kvasnhiski (1951) lợn con 20- 30 ngày tuổi, dich tụy phântiết trong một ngày đêm 150-300 ml và sự phân tiết này tăng dần theo lứatuổi: 3 tháng tuổi là 3,5 lít và từ 7 tháng tuổi trở lên là 10 lít/ ngày đêm Sựbiến đổi khả năng phân tiết dịch tụy theo tuổi trái với sự biến đổi của dịch vị.Trong thời kỳ thiếu HCl trong dịch vị, hoạt tính của dịch tụy rất cao để bù lạikhả năng tiêu hóa kém của dạ dày Ở lợn trưởng thành dịch vị dạ dày phântiết có tính liên tục nhưng không đều, khi ăn tiết nhiều, không ăn tiết ít hơn,buổi sáng tiết ít hơn buổi chiều
Các nghiên cứu kỹ lưỡng về đặc điểm phân tiết các loại dịch tiêu hóa,các nhân tố ảnh hưởng… đã được tiến hành bởi các tác giả: Trần Cừ và cs(1975) [6] và đi tới các nhận xét có ý nghĩa ứng dụng là: Số lượng và chấtlượng các loại dịch tiêu hóa ở đường tiêu hóa của lợn thay đổi phụ thuộc vàoloại thức ăn, phương pháp cho ăn và nhất là phương pháp chế biến thức ăn.Nếu thức ăn được chế biến tốt sẽ nâng cao được hiệu suất tiêu hóa, tỷ lệ lợidụng thức ăn từ đó nâng cao khả năng sinh trưởng của lợn
Phần cuối cùng của bộ máy tiêu hóa là ruột già, ruột già dài khoảng 4
-5 m bao gồm manh tràng, kết tràng và trực tràng Ở ruột già chủ yếu xảy raquá trình tiêu hóa chất xơ do vi sinh vật ở manh tràng phân giải tạo ra sảnphẩm chính là axit lactic có tác dụng ức chế vi khuẩn gây thối và các vi sinhvật có hại khác Ruột già chủ yếu hấp thu nước và chất khoáng Với protein
Trang 7còn lại trong thức ăn chưa được tiêu hóa hết, đến ruột già được vi khuẩn vậtgây thối ở ruột già phân giải thành các chất Crerol, Indon có tính độc, chúngđược hấp thu vào máu và được giải độc ở gan Phần cặn bã đi vào kết tràng,trực tràng và tạo thành phân đưa ra ngoài.
2.1.1.3 Hệ vi sinh vật đường ruột ở lợn
Hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa của lợn con có vai trò nâng caosức sử dụng thức ăn đồng thời nâng cao sức đề kháng của cơ thể lợn Sự pháttriển mạnh của vi khuẩn sinh axit và vi khuẩn tổng hợp các chất có hoạt tínhsinh học, đồng thời ức chế vi khuẩn gây thối là một quá trình có lợi cho cơ thể(Đào Trọng Đạt và cs, 1995) []
Ở dạ dày và ruột của động vật mới sinh ra chưa có vi khuẩn, sau vàigiờ thấy một vài loại vi khuẩn và từ đó chúng bắt đầu sinh sản dần Hàngngày, một số loại vi khuẩn khác theo thức ăn vào ruột, sống và sinh sôi nảy nở
ở đó, chúng có thể bị biến đổi ít nhiều nhưng căn bản vẫn sống cho đến khicon vật chết Thành phần và số lượng của hệ vi sinh vật thay đổi tùy theo loạithức ăn, nếu thức ăn nhiều gluxit thì vi khuẩn tạo axit trong ruột rất phát triển
Có thể chia vi sinh vật thành 2 loại “ vi sinh vật tùy tiện” thay đổi tùytheo loại thức ăn và loại “vi sinh vật bắt buộc” là loại vi sinh vật thích nghingay được với môi trường đường ruột và dạ dày trở thành loại định cư vĩnh
viễn Hệ vi sinh vật bắt buộc gồm: Steptococcus, lactic, lactobacterium, acid
ophilum, trực khuẩn lactic, E.coli (trực khuẩn ruột già), trực khuẩn đường
ruột Trong đường ruột và dạ dày là một môi trường có độ ẩm, dinh dưỡngthuận tiện cho vi sinh vật phát triển, tuy nhiên sự phát triển của chúng có giớihạn vì trong đường ruột và trong dạ dày có những chất kìm hãm sự phát triểncủa vi khuẩn đường ruột và vi khuẩn gây thối như mật, dịch vị và tác độngđối kháng của các vi khuẩn khác nhau
* Hệ vi sinh vật ở khoang miệng
Trang 8Khoang miệng là bộ phận đầu tiên của đường tiêu hóa, tiếp xúc vớithức ăn, nước uống và môi trường sống bên ngoài, do đó có sự cảm nhiễm visinh vật từ các nguồn trên Trong nước bọt và dịch bài tiết của niêm mạc cómen kháng khuẩn lisozyme có tác dụng tiêu diệt một số vi sinh vật.
* Hệ vi sinh vật ở dạ dày
Trong dạ dày có một lượng axit HCL rất lớn (0,2%) Axit trong dịch vị
dạ dày có tác dụng ức chế với nhiều loại vi sinh vật, do vậy phần lớn vi sinhvật từ thức ăn, nước uống đưa vào đều bị tiêu diệt Số lượng vi khuẩn ở dạdày rất ít do tác dụng diệt khuẩn của axit dạ dày gồm các vi khuẩn lên men
(Saccharomyces minor, vidiumlactic) trực khuẩn lactic (Lacto bacillus
beljerincke…) Ngoài ra còn có trực khuẩn phó thương hàn đi qua dạ dày
xuống ruột
* Hệ vi sinh vật của ruột non
Ruột non chiếm 2/3 đến 3/5 chiều dài ruột nhưng lượng vi khuẩn lạirất ít Khi dịch vị dạ dày vào ruột non vẫn còn tác dụng sát khuẩn, ngoài radịch do niêm mạc bài tiết ra cũng có tác dụng sát khuẩn…, ở ruột non chứa
một số ít vi khuẩn có trong dạ dày xuống Trong ruột non chủ yếu là E.coli, cầu khuẩn, trực khuẩn hiếu khí, yếm khí có nha bào, Aerobacter aerogenes Ở gia súc non có thêm Steptococcus lactic, trực khuẩn lactic Lactobacterium
bulgaricum, từ hồi tràng số lượng vi khuẩn bắt đầu tăng lên.
* Hệ vi sinh vật của ruột già
Số lượng vi sinh vật ở ruột già tăng hơn nhiều so với ruột non do tácdụng khử trùng của ruột đã không còn, mà các điều kiện về dinh dưỡng, độ
ẩm, nhiệt độ lại thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh vật
Hệ vi sinh vật chủ yếu là E.coli, cầu khuẩn, trực khuẩn có nha bào
entrococcus Gia súc trưởng thành E.coli chiếm 75% trở lên Trong ruột già
của động vật ngoài hệ vi sinh vật hoại sinh còn có hệ vi sinh vật gây bệnh
Trang 9nhưng chưa thể hiện bằng triệu chứng lâm sàng: Vi khuẩn phó thương hàn, vi
khuẩn brucella, uốn ván (Nguyễn Vĩnh Phước, 1980) [].
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1995) [] trong hệ tiêu hóa của động vật, hệ
vi sinh vật luôn luôn ổn định đảm bảo cân bằng cho hệ tiêu hóa, khi đó phầnlớn các vi khuẩn có lợi là vi khuẩn lactic, vi khuẩn này chiếm 90% và hoạtđộng hữu ích cho đường ruột Nếu sự cân bằng này bị phá vỡ thì những vikhuẩn có hại cạnh tranh phát triển gây rối loạn đường tiêu hóa, gây tiêu chảy
(nhất là lợn con theo mẹ), loại vi khuẩn thường gặp là E.coli và samonella…
2.1.2 Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng ở lợn thịt
2.1.2.1 Cơ sở di truyền học của sự sinh trưởng
Một số tính trạng năng suất của lợn đều có chung bản chất di truyềnnhư với các giống gia súc khác, nhưng những biểu hiện cụ thể về giá trị kiểuhình của các tính trạng ấy lại mang các đặc thù riêng do các gen quy định về
di truyền của từng loài Theo Nguyễn Ân và cs, 1983 [7], 1994 [2]; Trần ĐìnhMiên và cs, (1995)[8]; Nguyễn Văn Thiện và cs 1995 [9] , 1998 [10]: hầu hếtcác tính trạng về năng suất hay tính trạng có giá trị kinh tế của gia súc như:khả năng cho thịt, khả năng sinh sản, sinh trưởng, cho sữa, cho lông, cho da…đều là các tính trạng số lượng Ở các tính trạng số lượng, giá trị kiểu hình(Phenotype Value – P) của tính trạng do giá trị kiểu gen (Genotyp value – G)
và sai lệch môi trường (Environmental deviation – E) quy định Quan hệ nàyđược biểu thị bằng công thức P = G + E
Khác với tính trạng chất lượng, giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng
do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor gene) cấu tạo thành Đó là gen mà hiệuứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ cóảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu Hiện tượng này gọi là hiệntượng đa gen (Polygene) Các minor gen này tác động lên tính trạng theo 3
Trang 10phương thức: cộng gộp, trội và át gen Vì vậy giá trị kiểu gen hoạt động thểhiện qua công thức: G = A + D + I Trong đó:
A: là giá trị cộng gộp hay giá trị giống (Additive value or Breedingvalue)
D: là sai lệch trội (Dominance deviation)
I: là sai lệch tương tác (Interaction deviation)
A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xácđịnh được và di truyền cho đời sau Hai thành phần D và I cũng có vai tròquan trọng vì đó là giá trị giống đặc biệt và chỉ xác định được thấp nhất conđường thực nghiệm
Các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng của sai lệch môi trường (E)gồm có 2 loại:
- Sai lệch môi trường chung (Eg): (General Environmental deviation) làsai lệch do các nhân tố môi trường tác động thường xuyên lên tính trạng mộtcách lâu dài Các yếu tố đó là: thức ăn, khí hậu, chế độ chăm sóc… tác độnglên một nhóm cá thể hay một quần thể gia súc (Nguyễn Văn Thiện và cs
1995, 1996 [11], [50, 3 – 798])
- Sai lệch môi trường riêng (Es): (Special Environmental deviation) là
sai lệch do các nhân tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng cá thể riêng biệttrong nhóm vật nuôi, hoặc một vài bộ phận riêng biệt của một cá thể nào đótrong quần thể trong một thời gian ngắn và không thường xuyên, [12]
Như vậy khi giá trị kiểu hình của một tính trạng nào đó chi phối bởi từ
2 locus trở lên thì giá trị ấy được biểu thị như sau: P = G + E = A + D + I +
Eg + Es
Từ những phân tích ở trên cho thấy, các tính trạng năng suất ở lợn cũngnhư ở các vật nuôi khác là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền và cácyếu tố môi trường Các vật nuôi khác nhau đều nhận được từ bố mẹ chúng
Trang 11một vốn di truyền nhất định Nhưng tiềm năng di truyền ấy thể hiện cao haythấp phụ thuộc rất lớn vào môi trường sống của chúng, đặc biệt là các yếu tố:khí hậu, thức ăn, nuôi dưỡng, chăm sóc quản lý Vì thế trong công tác giốnglợn, chúng ta muốn cải tiến các đặc điểm di truyền của giống lợn địa phươngnhằm nâng cao năng suất, cần thiết phải thay đổi kiểu gen (G) qua việc tiếnhành chọn lọc chặt chẽ giá trị gây giống (A), lai tạo để có những tổ hợp genmới (D và I), kết hợp với việc cải tiến và tăng cường các biện pháp tác động:thức ăn, nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý, bảo vệ… để khai thác tốt tiềm năng
di truyền và khả năng sản xuất của mỗi phẩm giống
2.1.2.2.Sự sinh trưởng và các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng ở lợn
-Khái niệm về sự sinh trưởng
Trong quá trình sinh trưởng sự tăng số lượng tế bào và tăng thể tích tếbào do kết quả của quá trình đồng hóa là quan trọng nhất (Trần Đình Miên và
cs, 1975, 1992 [13], 48 – 79
Quá trình phát triển của cơ thể là quá trình đồng hóa các vật chất dinhdưỡng, các chất dinh dưỡng lấy vào cơ thể vừa là điều kiện để tế bào sinh sôi,nảy nở, vừa là cơ sở để hình thành chất trong tế bào và giữa các tế bào, đó làprotein, lipit, gluxit và các chất khoáng…Đàm Văn Tiện và cs (1992) [14].Chambers, 1990 [15], cũng cho rằng: quá trình sinh trưởng là sự tổng hợp sựsinh trưởng của các phần cơ thể như thịt, xương, da, mỡ…
Về mặt sinh học, sinh trưởng ở lợn được xem là sự tăng cường tổnghợp protein trong các mô bào, vì thế thường lấy việc tăng khối lượng và kíchthước các chiều làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng Quá trình này thểhiện ở ba mặt:
Phân chia tế bào để làm tăng số lượng tế bào
Tăng thể tích của mỗi tế bào
Tăng thể tích giữa các tế bào
Trang 12Người ta biết rằng sinh trưởng của gia súc là một quá trình mang 3 đặctính: tốc độ, thời gian và tính chất diễn biến Tốc độ sinh trưởng biểu thị sựtăng khối lượng, thể tích, kích thước các chiều cơ thể trong một khoảng thờigian nhất định Thời gian sinh trưởng là khoảng thời gian xác định để cân đo
và tính tốc độ sinh trưởng nói trên (Trần Đình Miên và cs, 1975 [16]) Một sốtác giả như G.A.Clayton, T.C.Powell, (1979) [17] và A.S.Marco, 1982 chobiết: tốc độ sinh trưởng là tính trạng có hệ số di truyền cao (h2 = 0,4 – 0,5) vàliên quan chặt chẽ tới các đặc điểm trao đổi chất đặc trưng cho từng dòng,giống, cá thể Từ tất cả các quan điểm trên, có thể rút ra bản chất sinh học về
sự sinh trưởng ở lợn cũng như các gia súc như sau: sinh trưởng là một quátrình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều dài,chiều cao, bề ngang, thể tích, khối lượng các cơ quan bộ phận và toàn bộ cơthể con vật trên cơ sở các tính chất di truyền từ đời trước truyền lại (TrầnĐình Miên và cs, 1975 [20])
- Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng
Trong chăn nuôi lợn và các gia súc, gia cầm người ta thường dùng 3 chỉtiêu đánh giá tốc độ sinh trưởng là sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối
và sinh trưởng tương đối
Sinh trưởng tích lũy: Là sự tăng lên về khối lượng cơ thể, kích thước
theo thời gian khảo sát
Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng, thể tích và kích
thước các chiều cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát (TCVN,1977) [18], đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của lợn có dạng Parabol
Tốc độ sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối
lượng, thể tích và kích thước các chiều cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúcđầu khảo sát (TCVN, 1977) [19] Đồ thị sinh trưởng tương đối của lợn códạng Hyperbol, tốc độ sinh trưởng tương đối giảm dần theo tuổi của gia súc
Trang 13- Các chỉ tiêu đánh giá năng suất thịt
Khối lượng sống: là khối lượng giết mổ của lợn sau khi cho nhịn ăn 24
Tỷ lệ mỡ, tỷ lệ da và tỷ lệ xương (%)
Mỡ lợn ít được dùng làm thực phẩm ở những nước phát triển, tuynhiên ở các nước đang phát triển, mỡ lợn rất cần thiết cho nhu cầu conngười vì đó là nguồn cung cấp năng lượng cao Xu hướng hiện nay người
ta đang cố gắng giảm dần tỷ lệ mỡ của lợn xuống do nhu cầu về thịt nạccủa người tiêu dùng ngày càng cao
Tỷ lệ xương và da phụ thuộc vào giống lợn Các giống lợn nội có tỷ lệxương thấp hơn các giống lợn đã được cải tiến, tỷ lệ xương biến động trongkhoảng 9 - 12%
Tỷ lệ lệ hao hụt (%)
Trang 14Tỷ lệ hao hụt của thịt xẻ thể hiện tỷ lệ nước chứa trong thịt cao haythấp, nói lên chất lượng thân thịt, chế độ nuôi dưỡng và thời tiết khí hậu làmthí nghiệm Nhìn chung tỷ lệ hao hụt càng nhỏ càng tốt.
2.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng
2.1.3.1 Yếu tố bên trong
* Ảnh hưởng di truyền của dòng, giống cá thể
Trong chăn nuôi gia súc, dòng, giống có thể có ảnh hưởng rất lớn tới sựsinh trưởng Con sinh ra tiếp thu từ bố mẹ và truyền lại cho đời sau khả năngsinh trưởng mang tính đặc thù của dòng, giống Tính di truyền về khả năngsinh trưởng ảnh hưởng tới năng suất vật nuôi Ảnh hưởng của dòng, giốngđến sự sinh trưởng được nhiều tác giả nghiên cứu và khẳng định trên các loạigia súc gia cầm
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [26] cho biết: Yếu tố di truyền làmột trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinhtrưởng phát dục của lợn Quá trình sinh trưởng phát dục của lợn tuân theo cácquy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau Doảnh hưởng của các tuyến nội tiết và hệ thống thần kinh mà hình thành nên sựkhác nhau giữa các giống lợn nguyên thuỷ và các giống lợn đã được cải tiếncũng như các giống lợn thành thục sớm và giống lợn thành thục muộn Sựkhác nhau này không những chỉ khác nhau về cấu trúc tổng thể của cơ thể màcòn khác nhau ở sự hình thành nên các tế bào, các bộ phận của cơ thể và đãhình thành nên các giống lợn có hướng sản xuất khác nhau như: giống lợnhướng nạc, hướng mỡ
Nguyễn Thiện và cs (2005) [27] cho rằng: Giống cũng là một yếu tốquan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục, năng suất và phẩm chấtthịt Thông thường các giống lợn nội cho năng suất thấp hơn so với nhữnggiống lợn ngoại nhập nội Lợn Ỉ, Móng Cái nuôi 10 tháng tuổi trung bình
Trang 15đạt khoảng 60 kg Trong khi đó các giống lợn ngoại (Landrace,Yorkshire…) nuôi tại Việt Nam có thể đạt 90 - 100 kg lúc 6 tháng tuổi.
*Điều khiển quá trình trao đổi chất của các hormone
Hormone tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào vàgiữ cân bằng các chất trong máu Trong thời kỳ đầu tiên của quá trình sống,
kể cả khi chưa có sự hoạt động của tuyến giáp đã có sự tham gia củatuyến ức trong điều khiển quá trình sinh trưởng Về sau điều khiển quátrình sinh trưởng có sự tham gia của tuyến yên Hormon của thuỳ trước
tuyến yên STH (somatotropin hormone) là loại hormon rất cần thiết cho
sinh trưởng của cơ thể Theo tác giả Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [28]:STH có tác dụng sinh lý chủ yếu kích thích sự sinh trưởng của cơ thểbằng cách làm tăng sự tổng hợp protein và kích thích sụn liên hợp phát
triển, tăng tạo xương (nhất là các xương dài) Khi thiếu hoặc thừa loạihormon này sẽ dẫn đến cơ thể quá nhỏ bé (nanismus) hoặc quá to(gigantismus) Vào thời kỳ thành thục về tính, các hormon sinh dục như hormoncủa dịch hoàn và buồng trứng (androgen và oestrogen) tham gia vào quá trìnhđiều khiển hoạt động sinh dục của cơ thể và hình thành nên các đặc tính sinh dụcthứ cấp Hormon sinh dục của con cái tạo ra từ buồng trứng cũng có tác độngđáng kể đến sinh trưởng của lợn Ngoài ra các loại hormon của các tuyến nhưtuyến tụy và tuyến thượng thận cũng tham gia điều tiết sự phát triển của bộxương và cơ
2.1.3.2 Yếu tố bên ngoài
Trong chăn nuôi lợn ngoài việc cải tiến giống thì thức ăn dinh dưỡng làmột yếu tố quyết định đến khả năng sinh trưởng và phát triển
*Vai trò và nhu cầu về protein, axit amin đối với lợn nuôi thịt.
Theo Trần Cừ, Nguyễn Khắc Khôi (1985) [29]: Protein là nhóm chấthữu cơ có phân tử lượng cao và có chứa nitơ Protein đảm nhiệm nhiều chức
Trang 16năng quan trọng và là nguồn nguyên liệu cấu tạo nên tế bào Quá trình sinhtrưởng của lợn là quá trình tăng lên của khối lượng protein, hàm lượng proteintrong cơ thể rất cao Các cơ quan bộ phận khác nhau có hàm lượng proteinkhông giống nhau Protein có nhiều nhất trong cơ từ 30 – 35% so với tổnglượng protein trong cơ thể.
Lợn con bú sữa có tốc độ phát triển nhanh về hệ cơ và khả năng tích lũyprotein lớn, do đó đòi hỏi về số lượng và chất lượng protein cao Nếu trong khẩuphần thiếu protein thì sinh trưởng của lợn con sẽ giảm hoặc ngừng, khả năngsống kém Nhu cầu protein trong thức ăn bổ sung cho lợn là 16- 18% Trong quátrình chăn nuôi thâm canh người ta đề nghị hàm lượng protein trong khẩu phần
là 22- 24%
Axit amin là thành phần cấu tạo cơ bản của protein Theo Từ QuangHiển và cs (1995) [30] vai trò của các axit amin trong cơ thể rất đa dạng, nó làthành phần chủ yếu của protein, nhu cầu protein của cơ thể chính là nhu cầu
về axit amin Cơ thể con vật chỉ có thể tổng hợp nên protein của nó theo mứccân đối các axit amin trong thức ăn, nhưng axit amin nào nằm ngoài cân đối
sẽ bị oxy hóa cho năng lượng Do vậy, nếu cung cấp axit amin theo tỷ lệ cânđối sẽ nâng cao hiệu quả lợi dụng protein, tiết kiệm được protein thức ăn
Một thí nghiệm của Metz nghiên cứu trên lợn sinh trưởng cho biết, vớiyêu cầu tăng trọng 585g/con/ngày, nếu khẩu phần cân bằng các axit amin thìprotein thô cần 11- 12%, nhưng nếu khẩu phần mất cân đối axit amin thì cần20- 22% protein thô
Trong các loại thức ăn hàm lượng các loại protein rất khác nhau Một
số loại giàu protein động vật như cá, bột cá, bột thịt, bột máu, tôm, cua,trứng sữa Một số loại protein thực vật như các loại đậu, đỗ và sản phẩmphụ của nó
Trang 17Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [ ] cho biết: nói chung lợn con tiêuhóa protein một cách dễ dàng, nhưng do nguồn gốc của thức ăn (động vật haythực vật) và bản chất protein khác nhau nên sự tiêu hóa có những đặc điểmkhác nhau quan trọng.
Nhu cầu protein và axit amin cho lợn thịt qua các giai đoạn tuổi
Khối lượng(kg)
Chỉ tiêu
Giai đoạn10- 35 (kg)
Giai đoạn10- 35 (kg)
Giai đoạn10- 35 (kg)Protein thô (%) 16 14 13
*Vai trò và nhu cầu về năng lượng đối với lợn nuôi thịt
Song song với việc cung cấp đầy đủ nhu cầu về protein và axit amin thìchúng ta cần cung cấp đầy đủ và cân bằng về năng lượng
Năng lượng có ảnh hưởng quyết định đến việc sử dụng vật chất dinhdưỡng trong thức ăn phù hợp với từng loài, giống, tuổi, chức năng sản xuất.Năng lượng trong thức ăn được sử dụng cho các hoạt động sống của cơthể và hình thành nên các hợp chất hữu cơ của tế bào Chất cung cấp nănglượng chu yếu là gluxit như: Tinh bột, đường, xơ Hàng ngày gluxit đảm bảo
từ 70-80% nhu cầu dinh cầu vềdưỡng của lợn Nếu thiếu lợn sẽ gầy yếu, còicọc, chậm lớn
Nhu cầu về năng lượng của lơn thịt
Trang 18(10-20) kg (20-25) kg (50-90) kgNội Lai Ngoại Nội Lai Ngoại Nội Lai NgoạiNLTĐ
(Kcalo/kg) 3000 3200 3200 2800 2900 3000 2800 2900 3000Protein
thô (%)
*Vai trò và nhu cầu về khoáng chất đối với lợn nuôi thịt.
Theo Từ Quang Hiển và cs (2003) [32] gia súc non cần được cung cấpđầy đủ khoáng chất để phát triển bộ xương và đảm bảo cho các quá trình xảy ratrong cơ thể Nếu tính theo mức tăng trọng thì khoáng chất chiếm 3 - 4% khốilượng cơ thể tăng Nếu so với bộ xương thì khoáng chất chiếm 26% khối lượngxương tăng
Khả năng sử dụng khoáng chất trong thức ăn của gia súc non tốt hơngia súc trưởng thành Quá trình trao đổi khoáng mà chủ yếu là trao đổi canxi
và phot pho xảy ra mạnh mẽ ở gia súc non Khi gia súc còn non khả năng tíchluỹ canxi, phot pho cao Tuổi càng tăng, khả năng tích luỹ giảm Nhìn chung,gia súc non yêu cầu can xi lớn hơn phot pho, càng lớn và trưởng thành nhucầu can xi giảm, nhu cầu phot pho tăng lên Để đảm bảo cho quá trình tiêuhoá hấp thu và sử dụng canxi, photpho được tốt, tránh được hiện tượng còixương Ở gia súc non cần chú ý cung cấp đầy đủ, cân đối canxi, photpho (đốivới gia súc non tỷ lệ Ca/P thích hợp là 1,5-2/1)
* Vai trò và nhu cầu về vitamin đối với lợn nuôi thịt
Vitamin là loại vi chất dinh dưỡng, nó rất cần thiết để xúc tác cho mọiquá trình trao đổi chất cho sinh trưởng của động vật
Trong các loại Vitamin thì, Vitamin A và Vitamin D là hai loạiVitamin quan trọng nhất cho sinh trưởng.Trong đó Vitamin A xúc tiến quátrình sinh trưởng, nếu thiếu vitamin A có thể dẫn đến mù lòa, tốc độ sinh
Trang 19trưởng giảm, lông xù, gầy còm, năng suất sinh sản thấp, gây bệnh bần huyết
ở lợn con, xù lông, da khô ở lợn sinh trưởng Vitamin D cần thiết cho sự traođổi can xi, phốt pho để phát triển bộ xương Nhu cầu của lợn thịt về Vitamin
A và D theo Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm 1995 là: tiêu chuẩn của TâyĐức (DLG) cho kết quả tốt hơn cả gồm vitamin A = 2000 UI/kg thức ăn,vitamin D = 2500 UI, vitamin E = 10- 15mg
Nhu cầu Vitamin của lợn được thỏa mãn từ nguồn rau xanh, ngũ cốc
và Vitamin được tổng hợp bổ sung vào thức ăn ở dạng Premix
- Nhiệt độ và ẩm độ môi trường: Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh
hưởng đến tình trạng sức khoẻ mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và pháttriển của cơ thể Nếu nhiệt độ môi trường không thích hợp thì sẽ không thểđảm bảo quá trình trao đổi chất diễn ra bình thường cũng như cân bằng nhiệtcủa cơ thể lợn Việc đảm bảo nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp cho các loại lợnkhác nhau phải căn cứ vào khả năng điều tiết thân nhiệt của chúng Một số côngtrình nghiên cứu chứng minh rằng khi nhiệt độ nuôi trường xuống thấp (dưới5,5oC) thì lợn con bú sữa có nhu cầu về vitamin B2 cao hơn rất nhiều khi nhiệt
độ môi trường là 29oC.
Khi nhiệt độ chuồng nuôi thấp, lợn sẽ thất thoát nhiệt rất nhiều, vì lẽ đó
ở lợn con và lợn nuôi thịt sẽ giảm khả năng tăng khối lượng và tăng lượngtiêu tốn thức ăn cho một kg tăng khối lượng Nhiệt độ thích hợp cho lợn nuôibéo từ 15 - 18oC, cho lợn sinh sản không thấp hơn 10 - 11oC Nhìn chung, khilợn càng lớn, càng trưởng thành thì cơ quan điều tiết thân nhiệt càng hoànthiện, lớp mỡ dưới da càng dày và nhu cầu về nhiệt càng giảm xuống
Nhiệt độ chuồng nuôi có liên quan mật thiết với ẩm độ không khí, ẩm
độ không khí thích hợp cho lợn ở vào khoảng 70%
- Ánh sáng: Ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của
lợn Khi nghiên về ảnh hưởng của ánh sáng đối với lợn người ta thấy rằng ánh
Trang 20sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển của lợn con, lợn hậu bị
và lợn sinh sản hơn là đối với lợn vỗ béo Khi không đủ ánh sáng sẽ làm ảnh
hưởng đến quá trình trao đổi chất của lợn, đặc biệt quá trình trao đổi khoáng.Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày nếu không đủ ánh sáng thì tốc độ tăngkhối lượng sẽ giảm từ 9,5 - 12%, tiêu tốn thức ăn giảm 8 - 9% so với lợn conđược vận động dưới ánh sáng mặt trời
Đối với lợn vỗ béo nhu cầu về ánh sáng thấp hơn, đặc biệt sau khi lợn ănxong Trong thực tế ở một số trang trại, người ta đã giảm cường độ chiếu sángxuống mức tối thiểu cho lợn vỗ béo, đặc biệt cho các giống lợn cao sản (do cácgiống lợn sinh sản sinh trưởng nhanh, thời gian nuôi ngắn) và cũng không cómột phát hiện nào về ảnh hưởng của thiếu ánh sáng đối với lợn vỗ béo
Việc đảm bảo đủ ánh sáng đối với lợn sinh sản gồm cả lợn đực và lợnnái đều có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ đối với quá trình trao đổi cácchất khoáng trong cơ thể mà còn đối với các chức năng sinh sản như biểu hiệnđộng dục, sự phát triển của phôi ở lợn nái, việc sinh tinh và các phản xạ nhảygiá của lợn đực Trong chăn nuôi công nghiệp khi thiết kế chuồng trại cần chú
ý đảm bảo đủ ánh sáng theo nhu cầu của các loại lợn, đặc biệt đối với lợn con
và lợn sinh sản
- Các yếu tố khác: Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát
triển lợn đã nêu trên còn có các yếu tố khác như vấn đề chuồng trại, chăm sóc,nuôi dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi như không khí, tốc độ gió lùa, nồng độcác khí thải Nếu chúng ta cung cấp cho lợn các yếu tố đủ theo yêu cầu củatừng loại lợn sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng phát triển đạt mức tối đa
Trang 212.2 Một số nét chính về tiêu chảy, nguyên nhân gây tiêu chảy
2.2.1 Hội chứng tiêu chảy ở lợn
Tiêu chảy là một hội chứng lâm sàng của hội chứng bệnh lý đặc thù của đường tiêu hoá Hiện tượng lâm sàng xuất phát từ nguyên nhân, triệu chứng, đặc điểm và tính chất của bệnh và được gọi với nhiều tên khác nhau
- Tên chung nhất: Hội chứng tiêu chảy (Dyspepsia)
- Bệnh tiêu chảy không nhiễm trùng
- Bệnh phân sữa (Milk- Scours)
Tiêu chảy là triệu chứng của bệnh truyền nhiễm như: Phó thương hàn,E.coli, viêm dạ dày ruột truyền nhiễm, dịch tả, Rotavirus
Tiêu chảy gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi, xuất hiện ở 3 giaiđoạn chính (chia theo lứa tuổi)
Giai đoạn 1: sơ sinh tới vài ngày tuổi
Giai đoạn 2: lợn con theo mẹ
Giai đoạn 3: lợn con sau cai sữa
Ở nước ta bệnh tiêu chảy xảy ra quanh năm, đặc biệt vào vụ đông xuânkhi thời tiết thay đổi đột ngột và vào những giai đoạn chuyển mùa trong năm
2.2.2 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn
Trong lịch sử nghiên cứu về bệnh tiêu chảy, nhiều tác giả đã có nhiềucông trình nghiên cứu về nguyên nhân gây bệnh được đánh giá cao, làm cơ sởcho việc chữa trị Tuy nhiên, tiêu chảy là một hội chứng có liên quan đến rấtnhiều các yếu tố, có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyênnhân thứ phát Vì vậy, việc phát hiện nguyên nhân gây tiêu chảy ở từng nơi vàtừng giai đoạn khác nhau cũng thu được những kết quả khác nhau
Theo Nguyễn Hữu Vũ và cs (1999) [35] có rất nhiều nguyên nhân gâybệnh tiêu chảy như: vi khuẩn, vi rút, kí sinh trùng, độc tố thức ăn gây nên cácbệnh khác nhau đều dẫn đến tiêu chảy
Trang 22vius gây tiêu chảy: Adenovirus typ IV, Enterovirus…Các virus này tác động
làm tổn thương đường tiêu hoá gây viêm ruột ỉa chảy (Khootenghuat, 1995)[36] (Bohl E.H và cs, 1979) [.37] nghiên cứu bệnh viêm ruột, ỉa chảy ở lợncon cũng tim thấy rotavirus
Cũng vào thời gian này, người ta còn tìm thấy nguyên nhân gây tiêu
chảy truyền nhiễm ở lợn là một loại virus giống như coronavirus Dùng virus
phân lập được gây bệnh thực nghiệm thấy virus không chỉ gây bệnh cho lợncon mà cả lợn nuôi thịt và cũng từ đó virus này được gọi là virus gây tiêu chảytruyền nhiễm của lợn là (PEDV), (Đào Trọng Đạt và cs, 1995) [38.]
- Do vi khuẩn
Đa số các tác giả đều cho rằng một trong những nguyên nhân gây tiêu
chảy ở lợn là vi khuẩn, đặc biệt là vi khuẩn E.coli và Salmonella.
Vi khuẩn E.coli là nguyên nhân gây nên các bệnh tiêu chảy thường gặp,
người ta đã chứng minh vai trò của E.coli trong bệnh lợn con phân trắng Vai trò gây bệnh của E.coli gồm các Serotype: 08; 0139; 0141; 0145; 0147; 0149
(Glawisching E và cs, 1992) [39].Vi khuẩn Salmonella choleraresuis và
Saltyphymurium là 2 tác nhân gây tiêu chảy ở lợn con sau cai sữa bắt đầu vỗ
béo (LavaA, 1997) [40] (Hồ Văn Nam và cs, 1996) [41] khi nghiên cứu về vikhuẩn đường ruột nhận thấy: Vi khuẩn E.coli không chỉ là vi khuẩn có mặt
Trang 23thường xuyên trong ruột lợn đang bú sữa và bội nhiễm khi ỉa phân trắng, mà
nó còn được tìm thấy trong 100% mẫu phân lợn ở những lứa tuổi lớn hơn
Ngay ở lợn khoẻ mạnh vi khuẩn E.coli cũng bội nhiễm theo lứa tuổi: Trong 1g phân lợn ở 1- 21 ngày tuổi, số lượng E.coli là 55,4 triệu con Con
số đó tăng dần theo lứa tuổi, ở lợn 22- 60 ngày tuổi là 90,9 triệu con và 150triệu vi khuẩn trong 1g phân lợn nái Khi lợn viêm ruột ỉa chảy, kết quảnghiên cứu cho thấy, E.coli không chỉ bội nhiễm ở 2 tháng tuổi, mà ở lợnlớn hơn và cả ở lợn nái cũng có tình trạng tương tự Kết quả này phù hợp vớikết quả nghiên cứu tương tự của (Cù Hữu Phú và cs (1999) [42] Các tác giảnày cho thấy 70 mẫu bệnh phẩm của lợn mắc bệnh tiêu chảy ở các lứa tuổi
khác nhau, đã phân lập được 60 chủng E.coli, chiếm 85,75% và Salmonella chiếm 80% Từ kết quả này đã khẳng định, hai loại vi khuẩn E.coli và
Salmonella đóng vai trò chính gây chứng tiêu chảy.
- Do ký sinh trùng
Khi nghiên cứu về vai trò của ký sinh trùng, (Đào Trọng Đạt và cs,1995) [.43] cho thấy giun tròn, sán lá ruột… cũng là nguyên nhân gây tiêuchảy ở lợn các lứa tuổi
- Do thức ăn kém chất lượng hoặc thức ăn quá nhiều đạm, quá nhiều chấtbéo, do sữa mẹ…
- Do độc tố
- Do dinh dưỡng: Thiếu vitamin, thiếu sắt…
Hầu hết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã khẳng địnhrằng: Trong chăn nuôi bệnh tiêu chảy là bệnh nan giải và là bệnh gây thiệt hạikinh tế lớn nhất
* Một số phương pháp hạn chế tiêu chảy ở lợn
Trong đường ruột của động vật, hệ vi sinh vật luôn luôn ổn định, đảmbảo trạng thái thăng bằng cho hoạt động của đường ruột Khi hệ vi sinh vật
Trang 24cân bằng thì những vi sinh vật có lợi, phần lớn là vi khuẩn lactic, chiếm 90%
sẽ hoạt động hữu ích cho đường ruột Nếu sự cân bằng này bị phá vỡ thì vikhuẩn có hại cạnh tranh phát triển, gây rối loạn đường tiêu hóa gây tiêu chảy
Xuất phát từ cơ sở trên, nhiều nhà nghiên cứu đã chế chế phẩm thuộccác dạng khác nhau từ vi khuẩn hữu ích để đưa vào đường ruột tạo sự cânbằng cho hệ vi sinh vật đường ruột Ở nước ta, các công trình nghiên cứu vềvấn đề này cũng đã được công bố
Nguyễn Như Viên (1976) đã sản xuất thành công chế phẩm Bacillus
subtilis bằng cách cấy vi khuẩn Baccillus subtilis vào môi trường đậu tương,
nước cám gạo, thậm chí trong cả nước râu ngô Theo tác giả, trong đó hàm
lượng subtilis có thể hạn chế được vi khuẩn gram âm và gram dương Có thể
dùng chế phẩm để điều trị viêm ruột, ỉa chảy ở lợn các lứa tuổi khác nhau.(Chu Đức Thắng, 1997) [44]
Năm 1981, Vũ Văn Ngữ, Lê kim Thao đã áp dụng chế phẩm vi sinh vật
subcolac đưa vào đường ruột là một hỗn hợp của loại vi khuẩn sống Baccilus
subtilis, Coli bacterium và Lacto baccilus, chế phẩm này một mặt cung cấp
một số men cần thiết, một mặt lập lại sự cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột đểgóp phần khắc phục rối loạn tiêu hóa ở đường ruột (Chu Đức Thắng, 1997)[45]
Đào Trọng Đạt và cs, 1995 [46] đã khẳng định kết quả phòng trị bệnhđường ruột và tác dụng điều tiết kích thích sinh trưởng của chế phẩmBiolactyl rất tốt
Nguyễn Thị Thạnh, (1995) [47] dùng Biolactyl để chống bệnh tiêu chảy
ở lợn con
Theo Vũ Văn Quang (1999) [48] dùng chế phẩm vi sinh vật
Lactobaccilus acidophilus bổ sung cho lợn con thì tỷ lệ nhiễm bệnh tiêu chảy
giảm từ 58,33% xuống còn 25% Đồng thời chế phẩm vi sinh vật này có tác
Trang 25dụng làm cho vi khuẩn Salmonella và E.coli giảm đi như sau: Lô ĐC E.coli 68,24 triệu vi khuẩn/1gam phân, salmonella 27,75 triệu vi khuẩn/1gam phân Còn lô TN E.coli 61,18 triệu vi khuẩn/1gam phân, Salmonella 26,17
triệu vi khuẩn/1gam phân
Đến năm 1977, Phan Thanh Phượng và cs [49] khống chế bệnh lợn con
ỉa phân trắng trong chế phẩm kháng sinh do vi sinh vật tiết ra có tác dụng tốtđối với gia súc, gia cầm như những sinh vật sản sinh ra penicillin thuộc giống
nấm mốc penicillin và aspergillus.
Theo Phan Thanh Phượng (1998) [50] tại chi cục Thú y Hà Nội đã dùngchế phẩm sữa chua lên men lactic để điều trị bệnh tiêu chảy của lợn con đạtkết quả tốt
2.3.Vai trò của thuốc kháng sinh trong chăn nuôi lợn thịt
Kháng sinh (antibiotics) là những chất được tạo ra bởi các sinh vật sống
(nấm men, nấm mốc, vi khuẩn và một số loài thực vật) có đặc tính diệt vi
khuẩn hoặc làm kìm hãm sự phát triển của chúng (Ensmurger, 1990) [].
Năm 1909 nhà vật lý người Đức (Paul Ehrich) đã tạo ra một chất đặt tên
là Salvarsan dùng điều trị bệnh giang mai rất hiệu quả Năm 1928 Alexander Fleming một nhà vi trùng học người đã phát hiện ra penicillin Bốn năm sau
(1932) Gerhard Domagk (nhà vật lý học người Đức) đã phát hiện ra
sulfanilamide Năm 1944 Wakenman tìm ra Streptomycine…Việc phát hiện
ra kháng sinh và các đặc tính của nó đã tạo ra một cuộc cách mạng trong yhọc và cứu loài người thoát khỏi những thảm dịch do vi trùng gây ra
Trần Quốc Việt, (2007) [] Kháng sinh có tác dụng làm cho thành ruộtmỏng hơn, dinh dưỡng được hấp thu tốt hơn; Tiêu diệt được vi khuẩn gram (-)các vi khuẩn này tranh giành các chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa vì vậythuốc kháng sinh đáp ứng tốt hơn nhu cầu dinh dưỡng cho gia súc, gia cầm;Giảm vi khuẩn là tác nhân gây bệnh; giảm các độc tố của vi khuẩn gây bệnh;
Trang 26Tăng plasmid, IgA Dưới sự phát triển nhanh chóng của khoa học kết hợp vớicông nghệ tế bào làm cho thị trường thuốc phong phú về cả số lượng và chấtlượng Ngày nay, trong chăn nuôi, thuốc kháng sinh được sử dụng rộng rãivới các mục đích:
- Điều trị bệnh và phòng bệnh: thuốc kháng sinh trước hết được sử dụng đểphòng và trị bệnh, rộng hơn nữa khi dịch bệnh truyền nhiễm xảy ra thì thuốckháng sinh được điều trị dự phòng Ngoài ra, còn sử dụng thuốc kháng sinhphòng bệnh khi con vật bị stress…
- Dùng như chất kích thích sinh trưởng
Tuỳ theo mục đích sử dụng mà liều lượng và phương thức sử dụngkháng sinh khác nhau Việc sử dụng kháng sinh bổ sung trong thức ăn nhưchất kích thích sinh trưởng mang lại nhiều lợi ích như:
+ Tăng năng suất sinh trưởng và sinh sản ở gia súc, gia cầm
+ Tăng hiệu quả sử dụng TA, làm cho vật nuôi thích ứng nhanh chóngvới sự thay đổi bất thường về cơ cấu và chủng loại nguyên liệu trong khẩuphần thức ăn
+ Nâng cao chất lượng sản phẩm (giảm tỷ lệ mỡ, tăng tỷ lệ nạc, làmcho thịt trở nên mềm hơn và không nhiễm mầm bệnh)
+ Phòng các bệnh mãn tính và ngăn chặn xảy ra những dịch bệnh do vi trùng+ Tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
Theo Vũ Duy Giảng, khi bổ sung kháng sinh vào thức ăn chăn nuôi cótác dụng ức chế và loại bỏ sự hoạt động của vi khuẩn bệnh, đặc biệt vi khuẩnđường tiêu hóa và hô hấp trên động vật non nhờ vậy làm cho chúng khỏemạnh, sinh trưởng tốt (cải thiện 4- 16% tốc độ sinh trưởng và 2- 7% hiệu suấtlợi dụng thức ăn)
Trang 272.4 Hiện tượng kháng kháng sinh và tác hại của nó
2.4.1 Hiện tượng kháng kháng sinh
Hiện tượng kháng kháng sinh xảy ra khi mầm bệnh hay vi khuẩn không bịtiêu diệt bởi thuốc kháng sinh, chúng vẫn tồn tại, sinh sản ra thế hệ con cháukhông có tính cảm ứng với một hay một số loại kháng sinh nào đó
Theo thông báo của WHO năm 1999 về mức độ kháng kháng sinh của
Salmonella ở các nước trong khu vực Tây Thái Bình Dương cho thấy, nhìn
chung các chủng S typhi đã xuất hiện tăng mức độ kháng các kháng sinh thông
dụng như ampicillin, chloramphenicol Tỷ lệ kháng fluorquiolon đã có trong
khu vực là đáng báo động vì nếu sử dụng thuốc này quá rộng rãi dẫn đến tìnhtrạng kháng thuốc mắc phải, do các vi khuẩn kháng thuốc truyền cho nhau
Cũng theo thông báo của WHO về độ kháng kháng sinh ở các chủng
Acinetobacter và Shigella flexneri tại các nước trong khu vực Tây Thái Bình
Dương cho thấy, đối với Acinetobacter tại Hàn Quốc và Singapo các kháng
sinh hầu hết có tỷ lệ kháng cao Một số thuốc được kiểm tra như gentamycin kháng 10% ở Brunei tăng lên 78% ở Hàn Quốc, fluoroquinolon kháng 4,5% ở Nhật Bản tăng 64% ở Hàn Quốc Đối với Shigella flexneri mức độ kháng kháng sinh cũng rất cao, với Ampicillin tỷ lệ kháng từ 59- 96% trong đó tỷ lệ kháng ở Việt Nam là 87,3%, Cloramphenicol kháng 54- 90,1% và ở Việt
Nam là 85,7%
Ở Việt Nam, tình trạng vi khuẩn kháng kháng sinh rất phổ biến phùhợp với nhận định rằng, tình trạng kháng kháng sinh ở các nước đang pháttriển thường nghiêm trọng và có chiều hướng gia tăng trong khi các nước pháttriển mức độ kháng thuốc của các vi khuẩn tại bệnh viện và cộng đồng lại có
xu thế giảm dần Mối nguy hiểm là tình trạng kháng thuốc của vi khuẩnkhông chỉ có ở những người đang điều trị bệnh mà còn có mặt trong cơ thểngười khoẻ mạnh trong cộng đồng Lê Đăng Hà và cs cho biết tỷ lệ mang vi
Trang 28khuẩn có khả năng gây bệnh ở người khoẻ mạnh là 40,15% tại Hà Nội, 16,7%
tại Huế, 30,9% tại thành phố Hồ chí Minh với Streptococcus pneumononiae;
40,1% tại Hà Nội, 21,7% tại Huế, 30,9% tại thành phố Hồ Chí Minh, với
Heamophilus influenzae ở đường hô hấp; 16,8% tại Hà Nội, 27,3% tại Huế,
43,1% tại thành phố Hồ Chí Minh với Staphylococus aureus ở họng người
khoẻ mạnh Phạm Văn Tất, 1999) [51]
Trong đó tỷ lệ A.pneumoniae kháng erythromycin là 45,1%, kháng chloramphenicol là 24,8%, kháng norfloxacin là 2,6% Tỷ lệ H influenzae kháng ampicillin 47,3%, chloramphenicol là 34%, gentamycin là 1,3%,
norfloxacin là 0,7% Tỷ lệ kháng của E coli phân lập từ phân người khoẻ
mạnh là kháng ampicillin 41,3%, choramphenicol 23,3%, gentamycin và
norfloxacin là 2% Các chủng S aureus kháng rất cao với penicillin G (80%), erythromycin (56,8%)
Phạm Văn Tất, (1999) [52], kháng sinh dùng trong chăn nuôi mặc dùliều thấp nhưng thời gian dài, do đó, kháng sinh tích luỹ trong ống tiêu hoá.Kháng sinh đào thải ra ngoài theo chất bài tiết, vào đất còn tiếp tục gây ảnhhưởng đến hệ vi sinh vật trong đất
Một số kết quả nghiên cứu ở Mỹ năm 1992 (Robyn, 2002) cho thấy,một số loại kháng sinh dùng trong chăn nuôi hiện có rất ít tác dụng điều trịmột số bệnh nhiễm trùng ở vật nuôi
Trước năm 1995, ở Đan Mạch và một số nước châu Âu, avoparcin
được sử dụng rất rộng rãi đã dẫn đến hiện tượng kháng vancomycin ở vi
khuẩn Khi phát hiện ra hiện tượng này, năm 1995 Đan Mạch, 1996 Đức và
năm 1997 tất cả các nước EU đã cấm sử dụng Avoparcin như chất kích thích
sinh trưởng trong thức ăn chăn nuôi
Trang 29Tính nguy hiểm của tình trạng kháng thuốc càng được ý thức hơn khingười ta tìm thấy rằng những vi khuẩn kháng thuốc gây ra các bệnh chếtngười còn lớn hơn cả AID.
2.4.2 Nguyên nhân gây ra hiện tượng kháng thuốc
Có nhiều nguyên nhân gây nên hiện tượng kháng kháng sinh như sửdụng kháng sinh một cách bừa bãi, không đứng cách, không tôn trọng liềulượng và thời gian điều trị Ngoài ra là vấn đề lạm dụng thuốc trong chăn nuôi
- thú y
Một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên hiện tượng kháng khángsinh đó là do sử dụng kháng sinh liều thấp trong chăn nuôi (sử dụng khôngđúng cách trong điều trị bệnh, phòng bệnh và dùng trong chăn nuôi như mộtchất kích thích sinh trưởng) dẫn đến hậu quả nghiêm trọng đó là làm tăng hiệntượng kháng kháng sinh của các loài gây bệnh trên người và vật nuôi
2.4.3.Cơ chế của sự kháng thuốc
Mỗi vật nuôi và mỗi con người trong chúng ta đều là vật chủ của hàngtriệu vi khuẩn với rất nhiều loài khác nhau Một số loài có ích, thậm chí sựcộng sinh của chúng là rất cần thiết, ngược lại một số loài là tác nhân gâybệnh Nếu kháng sinh luôn được sử dụng với liều không đủ để giết chết vikhuẩn thì chính những vi khuẩn ấy sẽ trở nên kháng thuốc Sự kháng khángsinh ở vi khuẩn diễn ra theo nhiều cách khác nhau như vô hoạt kháng sinh (vi
khuẩn kháng Pennicillin và Chloramphenicol), loại bỏ kháng sinh và vận chuyển chúng ra khỏi tế bào (vi khuẩn kháng Tetracyclin), thay đổi điểm tác
động của kháng sinh theo chiều hướng không có hại đối với vi khuẩn
Sự phát triển khả năng đề kháng được thực hiện thông qua hai quá trình
di truyền: Do đột biến tự phát và chủ yếu là do thu nhận các gene từ nguồn gốc bên ngoài thông qua hiện tượng chuyển gene theo chiều ngang Hiện
Trang 30tượng chuyển gene theo chiều ngang xuất hiện khi các yếu tố di truyền được chuyển từ một cá thể này đến cá thể khác cùng loài hoặc khác loài.
Một số kháng sinh nhất định như: Penicilline chỉ tác dụng lên lớp vỏ tế
bào nên không có hiệu quả đối với những vi sinh vật không có vỏ tế bào
(Mycoplasma không có lớp vỏ tế bào đặc trưng).
Những vi sinh vật không cho một số kháng sinh nhất định ngấm vàobên trong do vậy làm mất tác dụng của kháng sinh đó, một số vi khuẩn Gram
(-) không cho phép Penicilline ngấm vào bên trong trong Vì vậy chúng có khả năng kháng Penicilline.
Một số vi khuẩn có khả năng làm biến đổi chất kháng sinh làm cho nó
mất hoạt tính, vi khuẩn Staphylococcus sinh Lactam, làm gẫy vòng Lactam của hầu hết Penicilline và làm cho chúng mất hoạt tính.
β-Các vi sinh vật có thể đào thải một loại kháng sinh ra khỏi tế bào, dovậy nó có khả năng kháng loại kháng sinh đó
Hình thức kháng thuốc do đột biến các gene nhiễm sắc thể Tần số xuấthiện loại đột biến này là rất thấp và xuất hiện khi vi khuẩn chịu một hàmlượng kháng sinh nhỏ hơn mức kháng sinh tiêu diệt được chúng Hình khángthuốc tương tự có thể xảy ra trong môi trường thủy sinh khi vi khuẩn chịu mộtlượng kháng sinh nhỏ hơn mức có thể tiêu diệt chúng do điều kiện sử dụngkháng sinh không đúng cách và những kháng sinh bị tan ra từ những thức ăn
có trộn thuốc Từ những điều kiện trên sự kháng thuốc được hình thành là do
sự thay đổi hoạt tính ban đầu của thuốc hoặc làm giảm sự hình thành các
enzym chủ chốt, do vậy đã làm giảm tác dụng của thuốc Sự kháng kháng sinh
được hình thành gián tiếp qua các gen nhiễm sắc thể của vi sinh vật không dễdàng được di truyền lại
Khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn có được nhờ sự hình thành mộtnhân tố di truyền độc lập gọi là Plasmid trong chuỗi ADN khi chúng tồn tại
Trang 31trong môi trường có kháng sinh ở liều không đủ để tổn hại đến chúng và các
vi khuẩn kháng kháng sinh có khả năng truyền bá tính kháng thuốc giữa cácloài khác, thậm chí giữa các loài khác nhau rất xa về di truyền thông qua sựluân chuyển các Plasmid Hình thức kháng thuốc thông qua plasmid có khảnăng di truyền cho đời sau (Hoàng Thanh Phúc, 2006)[53]
Ngoài ra, thay đổi vật chất di truyền đưa đến hiện tượng đề kháng cũngđược gây nên bởi đột biến tự phát Ví dụ một đột biến làm thay đổi vị trí gắngkháng sinh có thể làm giảm độ nhạy cảm kháng sinh đó và làm gia tăng đề
kháng thuốc Đặc biệt, M tuberculosis, tác nhân gây bệnh lao, vẫn là mối đe
dọa cho sức khỏe loài người vì vi khuẩn này có khả năng đa đề kháng, bao
gồm đề kháng với isoniazid và streptomycin Đề kháng với streptomycin là do
vi khuẩn có các đột biến làm thay đổi các đích của kháng sinh này
2.4.4 Hậu quả của sự kháng kháng sinh ở vi sinh vật
Việc phát minh ra kháng sinh đã làm thay đổi mang tính cách mạngtrong điều trị các bệnh lý nhiễm trùng Tuy nhiên việc sử dụng kháng sinhtràn lan trong những thập kỷ vừa qua đã dẫn đến sự xuất hiện rất nhiều chủng
vi khuẩn đề kháng kháng sinh và tạo nên một mối nguy cơ toàn cầu trầmtrọng đe dọa nền y học hiện đại cũng như ngành chăn nuôi Cả vi khuẩn Gramdương và Gram âm đều có khả năng đề kháng lại các thuốc điều trị vi sinhvật Các chủng vi khuẩn đề kháng kháng sinh (một số lớn trong đó có khảnăng đa đề kháng) xuất hiện gần đây và là nguyên nhân của những mối lo
ngại gồm: Các tác nhân gây bệnh tiêu chảy như Shigella, Salmonella, E coli
và Enterococcus faecium; các tác nhân gây bệnh đường hô hấp như Klebsiella
pneumoniae và P aeruginosa; gây bệnh đường tiết niệu như E coli, M tuberculosis
Theo hội Y học Mỹ, (2007)[54], cho biết hơn 100 ngàn ca bệnh gây ra
bởi Staphylococcus aureus kháng lại Methicillin (MRSA: Methicillin resisnt
Trang 32staphylococcus aureus) đã làm 18.600 người bị chết Trong đó, cũng năm đó
những người bị chết do HIV/AID chỉ là 17.000 người
Hậu quả của sự kháng kháng sinh ở vi khuẩn về kinh tế là rất lớn Theodẫn liệu của Robyn (2002), chi phí điều trị một bệnh nhân mắc bệnh lao ở Mỹtăng từ 12000 USD (thông thường trước đây) lên 180000 USD cho nhữngbệnh nhân nhiễm vi khuẩn lao kháng thuốc Tuy nhiên, những thệt hại về kinh
tế không phải là chính yếu mà vấn đề đáng lo ngại là không chỉ vật nuôi mà
cả con người đang đứng trước những nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe
Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia (NRC) (Mỹ) đã thống kê thiệt hại do lệnhcấm sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi có thể lên tới 2,5 tỷ USD mỗi năm.Một trong những lợi ích khác của việc cho phép sử dụng kháng sinh liều thấp
là thúc đẩy sự phát triển của ngành sản xuất dược phẩm và khuyến khíchnghiên cứu, sản xuất các dược phẩm mới phục vụ cho việc bảo vệ và nângcao sức khoẻ vật nuôi Tuy nhiên, như đã nói ở trên, tác hại của việc sử dụngkháng sinh liều thấp cũng rất lớn
Khả năng lan tràn của các vi khuẩn đề kháng kháng sinh là mối đe dọathực sự đối với sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới Sự lây lan này có thểxảy ra giữa động vật với động vật do thức ăn bị nhiễm chất thải hoặc từ độngvật lây cho người do ăn phải các thức ăn nhiễm bẩn, do xuất nhập khẩu độngvật sống hoặc các sản phẩm của chúng và lây từ người sang người, đặc biệt làtrong các cơ sở chăm sóc y tế
Nguy cơ tạo thành dịch hoặc đại dịch là nguy cơ có thể xảy ra và nó đặt
ra một thách thức lớn cho việc điều trị các bệnh nhiễm trùng trên bình diệntoàn cầu
Do vậy cần phải có các nghiên cứu phát triển các thuốc mới hiệu quảtrong việc kiểm soát và ngừa sự lan tràn này Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
đã cảnh báo hiểm hoạ mà loài người có thể phải đối mặt do sự kháng kháng
Trang 33sinh của vi khuẩn gây ra và WHO đang thúc đẩy một chương trình khuyếncáo tất cả các nước tiến tới cấm hoàn toàn việc sử dụng kháng sinh như mộtchất kích thích sinh trưởng mà phải nghiên cứu sử dụng các sản phẩm thaythế kháng sinh để bổ sung vào thức ăn chăn nuôi an toàn với vật nuôi và conngười ức chế được vi khuẩn gây bệnh và tăng cường khả năng miễn dịch chogia súc cải thiện được chức năng tiêu hoá của vật nuôi không tồn dư và đảmbảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
2.4.5 Giải pháp thay thế kháng sinh
Khi kháng sinh đang dần dần bị cấm sử dụng hoàn toàn thì đòi hỏichúng ta cần có các giải pháp thay thế kháng sinh Chính vì vậy, đã có nhiềucác công trình nghiên cứu thành công các chế phẩm sinh học để bổ sung vàotrong khẩu phần cho thức ăn gia súc, nhằm hạn chế việc sử dụng kháng sinh.Nguyễn Hồng Dung và cs (2006) [5] Một số giải pháp thay thế kháng sinhhiện đang được sử dụng phổ biến là:
2.4.5.1 Chế phẩm trợ sinh gồm 2 dạng chính
- Chế phẩm probiotic là dạng sản phẩm được sản xuất bằng cách lấy vi
khuẩn khoẻ trong đường ruột của gia súc khoẻ mạnh, nhận dạng, phân lập vànhân lên
- Chế phẩm prebiotic các chất được vi khuẩn trong đường tiêu hóa sử
dụng tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn có ích phát triển Đây là thức ănkhông tiêu hóa ở ruột non mà phân giải ở ruột già để tăng cường sức khỏe chovật nuôi, tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn có lợi
2.4.5.2.Enzym
Enzym là chất hữu cơ có hoạt tính sinh học cao, có ý nghĩa đặc biệtquan trọng đối với sự trao đổi chất trong cơ thể động vật Mặc dù chúng thamgia vào sự phân chia và tổng hợp của nhiều chất hữu cơ nhưng chúng không
có sự thay đổi
Trang 34Enzym được bổ sung trong khẩu phần thức ăn với tác dụng:
- Phân giải cơ chất, tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển(tác động gián tiếp)
- Gia súc non sẽ rất tốt khi bổ sung enzym vì hệ tiêu hóa chưa phát triển tốt.
- Thủy phân một số cơ chất có hại cho cơ thể
- Thủy phân xơ
Khi bổ sung enzym vào khẩu phần thức ăn cần chú ý đến hoạt tính của
enzym, tính ổn định, chịu nhiệt Vì khi ép viên thức ăn phải mất 20- 25 phút ởgiai đoạn nóng 60- 900 do đó sau gai đoạn này mới phun enzym bổ sung vào.Ngoài ra bản thân enzym là một protein nên có thể gây hiện tượng dị ứng vàenzym được sản xuất từ vi khuẩn mà vi khuẩn có khả năng kháng thuốc
2.4.5.3 Các chế phẩm cung cấp kháng thể
Như bột huyết tương, bột trứng gà… chứa các kháng thể có thể loại bỏ
vi khuẩn bệnh đường ruột, ngăn ngừa rối loạn tiêu hóa Lợn con mới đẻ từ 1đến 4 tuần tuổi không thể tự sản sinh kháng thể để chống bệnh mà phải chôngcậy vào nguồn kháng thể từ sữa mẹ Tuy nhiên, nguồn kháng thể này khôngđáp ứng được nhu cầu và như vậy việc bổ sung các chế phẩm giàu kháng thể
là cần thiết, nhất là khi kháng sinh không được đưa vào thức ăn (Vũ DuyGiảng, 2009) [7]
2.4.5.4 Kháng sinh thảo dược
Theo Vũ Duy Giảng (2009) [7] Một biện pháp thay thế kháng sinh hiệu quả và không tốn kém là sử dụng kháng sinh thảo dược Chế phẩm kháng sinh thảo dược thường gồm các hợp chất được chiết rút từ những loại thảo dược Các hoạt chất trong các cây thảo dược này hoạt động như các chất khángthể và chất chống oxy hóa Nó có khả năng ức chế nhiều loại vi khuẩn gram (-)
và gram (+) kể cả những vi khuẩn đã kháng với nhiều loại kháng sinh Nó có
thể thay thế nhiều loại kháng sinh như Tylosin, chlotetracycline, Sulfametazine,
Trang 35penicillin… bổ sung vào thức ăn Chế phẩm còn có đặc điểm là không ức chế
vi khuẩn có ích trong đường ruột và còn có tác dụng kích thích thèm ăn, tăng
sự tiết dịch tiêu hóa, cải thiện tỷ lệ tiêu hóa, hấp thụ thức ăn
2.4.5.5 Acid hữu cơ
Việc bổ sung các acid hữu cơ vào khẩu phần thức ăn đã được sử dụngcách đây 10 năm, nó có tác dụng ngăn cản sự phát triển của vi sinh vật có hạitrong đường ruột, làm tăng tỷ lệ vi khuẩn có ích Tác động chủ yếu của acid
hữu cơ là trên hai loại vi khuẩn Salmonella và E.coli, làm biến đổi tế bào vi
khuẩn vì vậy không gây hại cho vật nuôi
Khi bổ sung 1- 2% acid hữu cơ vào trong thức ăn dưới dạng muối cótác dụng làm tăng tiêu hóa protein, cung cấp năng lượng tốt hơn, giảm pH,bản thân acid hữu cơ cũng là nguồn cung cấp năng lượng Khi sử dụng acidhữu cơ, không làm tăng thu nhận thức ăn, kích thích tăng trưởng, giảm đáng
kể bệnh ỉa chảy (Nguyễn Thị Nga và cs) [20]
* Vai trò của Acid hữu cơ
Đã có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề sử dụng cácacid hữu cơ như một giải pháp thay thế kháng sinh đạt những kết quả hết sứckhả quan Vai trò của các acid hữu cơ trong giai đoạn hiện nay, nhất là đối vớingành chăn nuôi là không thể phủ nhận
Nguyễn Hưng Quang (2007) [28], acid hữu cơ gồm nhiều loại acidformic, acid lactic, acid propionic, acid fumaric, acid malic, acid citric, acidsuccinic Sử dụng acid hữu cơ có tác dụng cải thiện hệ vi sinh vật đườngruột, cải thiện tiêu hoá, bảo vệ nhung mao, acid hoá đường ruột (Acidifer)
* Tác dụng của acid hữu cơ
Giảm độ pH, có ảnh hưởng kháng khuẩn Những acid có khả năng đixuyên qua màng tế bào vi khuẩn mà không bị phân giải (Ostling Y Lindgre,1993)
Trang 36Do acid hữu cơ hạ pH đường ruột nên ảnh hưởng tốt đến tiêu hoá vàtrao đổi chất, có thể như là yếu tố cải thiện hấp thu các chất dinh dưỡng.
Cơ chế hoạt động của nó trên cơ sở làm cho tiêu hoá, hấp thu tốt hơnđối với khoáng, protein, năng lượng Bản thân acid hữu cơ cung cấp nguồnnăng lượng dễ tiêu cho cơ thể (Nguyễn Hưng Quang, 2007) [28]
* Hiệu quả sử dụng của acid hữu cơ
Ảnh hưởng trên dạ dày
HCL tiết ra trong dạ dày động vật lúc cai sữa không đủ để hoạt độngtiêu hoá thức ăn
Phản ứng pepsinogen biến thành pepsin xảy ra dưới ảnh hưởng của chấttiết dạ dày, nó có chứa acid HCL để hạ pH xuống còn 3
Nếu protein không được tiêu hoá tốt ở dạ dày thì nó sẽ tạo ra chất nềntốt cho vi khuẩn gây bệnh phát triển tốt ở ruột non và cả ruột già
pH thấp giúp cho hoà tan chất khoáng đa, vi lượng tốt hơn, từ đó giúpcho việc hấp thu khoáng tốt hơn
Sự acid hoá đường ruột tạo ra hàng rào cản chống lại sự xâm nhập của
vi khuẩn gây bệnh vào ống tiêu hoá
Sự acid hoá đường ruột làm hạ pH, còn có tác dụng giải phóng rahormone “secretin”, thúc đẩy tuyến tụy giải phóng ra chất bicarbonate và gantiết ra nhiều dịch mật (biliary) tăng cường tiêu hoá chất béo của TA
Sự acid hoá đường ruột (acidification) không có ảnh hưởng gì đến sựsản xuất acid clohidric của những tế bào sinh acid của dạ dày, trái lại nó còntiết kiệm được lượng HCL, trung hoà chất kiềm trong thức ăn Trích theoNguyễn Hưng Quang, (2007) [28]
* Cơ chế kháng khuẩn của acid hữu cơ
Kháng vi khuẩn ở dạ dày: kiểm soát và khống chế sự phát triển vikhuẩn ở dạ dày, ruột Sự kiểm soát thực hiện theo 2 cơ chế hoạt động sau:
Trang 371 Làm giảm độ pH một cách vừa phải.
2 Có khả năng đi xuyên qua màng tế bào vào trong citoplasma của vi
khuẩn Những acid hữu cơ có phân tử trọng nhỏ thì có khả năng đi xuyên quamàng tốt hơn loại có phân tử trọng lớn
3 Khi vào bên trong tế bào vi khuẩn thì acid hữu cơ hoạt động theo 2 cơ chế:
- Proton (H+) làm giảm độ pH nguyên sinh chất, bắt buộc vi khuẩn sửdụng năng lượng bản thân nó để trung hoà H+ (Salmond et al., 1984)
- Anion (A-) ảnh hưởng lên sự tổng hợp DNA làm cản trở sự phân chia của
tế bào vi sinh vật (Garland, 1994) (Nguyễn Hưng Quang, 2007) [28]
2.5 Axit hữu cơ Na - butyrate một giải pháp thay thế kháng sinh
2.5.1 Công thức hoá học và cơ chế tác động
Sản phẩm Na- butyrate của công ty Hồng Triển là loại bột mịn từ màutrắng cho đến màu trắng nhạt, có tính chất hút ẩm và mùi đặc trưng, không bịphân huỷ dưới ánh sáng và sức nóng
Na- butyrate có công thức phân tử: C4H7O2Na
Nguyên chất: Tối thiểu 98%
- Phục hồi tế bào biểu bì ruột bị tổn hại
- Diệt khuẩn, ức chế vi khuẩn có hại
- Nguồn cung cấp năng lượng trực tiếp của tế bào biểu bì ruột
- Tăng lượng ăn đến 10%
- Tăng trưởng chiều dài của lông tơ biểu mô đến 30%
Trang 382.5.2 Tác dụng của Na - butyrate đối với vật nuôi
Trích theo Nguyễn Hưng Quang (2007) [28] Na- butyrate nâng cao sự
phục hồi lớp tế bào niêm mạc ruột (Galfi & Bokori, 1990)
Na- butyrate kích thích tiết ra men tiêu hoá tuyến tụy như là amylase(Katoh & Studo, 1984)
Na- butyrate đưa qua đường miệng làm tăng nồng độ acid trong ruộtnon (Galfi et al, 1993)
- Butyric acid làm tăng số lượng nhung mao và độ dài
- Lactic acid làm tăng vi khuẩn, lên men lactic
Na- butyrate có ảnh hưởng tới sự tái tạo lớp tế bào niêm mạc ruột nonnhư sau:
- Sự đổi mới lớp tế bào nhung mao: lớp tế bào nhung mao được đổimới khoảng 5- 7 ngày một lần
- Na- butyrate có khả năng thúc đẩy sự tái tạo lớp tế bào niêm mạc ruộtnon, làm tăng lên bề mặt hấp thu dưỡng chất
- Là chất dinh dưỡng cung cấp năng lượng cho các tổ chức khác nhau
- Là yếu tố dinh dưỡng trung gian trong quá trình chuyển hoá thứcăn
Na-Butyrate và những acid béo bay hơi khác có vai trò rất quan trọng
trong việc hấp thu các chất điện giải trong ruột già và nó có tầm quan trọngtrong phòng chống bệnh tiêu chảy Trong ruột kết của người, butyrate còn cóvai trò là yếu tố ngăn ngừa ung thư đại tràng
Trang 392.5.3 Hiệu quả kinh tế mà Na- butyate mang lại
Chế phẩm Na- butyate khi bổ sung vào khẩu phần ăn làm tăng tính
ngon miệng, tăng lượng thức ăn ăn vào, giúp cho lợn sinh trưởng phát triển tốt mang lại hiệu quả kinh tế cao
Vì vậy nên sử dụng Na- butyrate như một chất kích thích sinh trưởngthay thế kháng sinh an toàn cho vật nuôi và sức khỏe con người
Trang 40dịch bệnh còn nhiều bất cập nên sự hội nhập kinh tế toàn cầu trong lĩnh vực chănnuôi của ta còn rất nhiều hạn chế Sản phẩm chăn nuôi của ta còn hạn chế vềnăng lực cạnh tranh trên thị trường do giá thành còn cao và chưa đảm bảo vệsinh an toàn thực phẩm
Để khắc phục những bất cập trên, những năm đây chúng ta đã tiếp cận,nghiên cứu và đưa vào ứng dụng các sản phẩm để thay thế kháng sinh trong thức
ăn chăn nuôi và bước đầu có những kết quả đáng khích lệ
Cao Thị Hoa (1999) [62] dùng EM bổ sung vào thức ăn cho lợn conthấy: EM có tác dụng làm giảm tiêu chảy ở lợn con, hạn chế việc sử dụngkháng sinh Lô thí nghiệm tăng 0,2- 0,3 kg so với lô đối chứng, với mức saikhác rõ rệt là p < 0,001
Đỗ Trung Cứ, Nguyễn Quang Tuyên, (2002) [61] dùng EM với tỷ lệ
0,2% bổ sung cho lợn con trước và sau cai sữa thì vi khuẩn như E coli và
Salmonella giảm đi rõ rệt, từ 20,92 triệu vi khuẩn/gam phân trước thí nghiệm
và 16,99 triệu vi khuẩn/gam phân sau khi kết thúc thí nghiệm
Trần Quốc Việt và cs (2006)[56] đã nghiên cứu sản xuất chế phẩmprobiotic từ các loài vi khuẩn phân lập dược từ đường tiêu hoá, đã xây dựngquy trình công nghệ sản xuất và đề nghị đưa vào sản xuất thử một số sảnphẩm probiotic Trong 2 năm 2005 và 2006, (Trần Quốc Việt và cs) [30] đãthử nghiệm chế phẩm probiotic trên các đối tượng lợn và gà kết quả cho thấychế phẩm làm tăng tỷ lệ tiêu hoá thức ăn cao hơn 3,4-6% ở lợn con so với đốichứng, tốc độ sinh trưởng cao hơn 11,9%, tiêu tốn thức ăn giảm 5,3%, tỷ lệmắc bệnh tiêu chảy giảm 35,6% Trên lợn thịt giai đoạn 20-50 kg bổ sung sảnphẩm probiotic vào khẩu phần làm tiêu tốn thức ăn giảm 6,4%, tỷ lệ mắc bệnhtiêu chảy giảm 30% nhưng hiệu quả với tăng trọng chưa rõ
Cao Đình Tuấn, (2006) [60] đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của
việc bổ sung enzym Avizyme 1502 trong khẩu phần có tỷ lệ cám gạo khác