1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn quyền thừa kế giữa con nuôi và các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi

43 1,2K 15
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyền thừa kế giữa con nuôi và các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 243,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn quyền thừa kế giữa con nuôi và các thành viên khác trong gia đình cha mẹ nuôi

Trang 1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Đề tài: QUYỀN THỪA KẾ GIỮA CON NUÔI VÀ CÁC THÀNH VIÊN

KHÁC TRONG GIA ĐÌNH CHA MẸ NUÔI

Lời nói đầu:

1/ Lý do chọ đề tài (Tính cấp thiết của đề tài)

2/ Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Trang 2

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN THỪA KẾ CỦA CHÁU

NUÔI VỚI ÔNG BÀ NUÔI 1.1 Một số khái niệm chung

1.1.1 Con nuôi

Theo từ điển tiếng Việt con nuôi là con do người khác đẻ ra, xin về nuôi

và được sự xác nhận của pháp luật Như vậy theo định nghĩa trên con nuôi làngười được người khác nhận nuôi và việc nhận nuôi này phải được cơ quan nhànước có thẩm quyền chứng nhận Nói cách khác việc nhận nuôi phải được đăng

ký, có sự xác nhận của pháp luật theo một trình tự thủ tục được quy định sẵn

Khoản 1 Điều 3 Luật nuôi con nuôi giải thích: “Nuôi con nuôi là việc xác

lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làmcon nuôi” Khoản 3 điều 3 Luật nuôi con nuôi giải thích con nuôi là người đượcnhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩmquyền đăng ký

Một số dạng nuôi con nuôi trong thực tế xã hội Việt Nam

Trong đời sống xã hội Việt Nam, việc nhận nuôi con nuôi đã tồn tại từlâu, với nhiều lý do và mục đích khác nhau, nhưng lý do cơ bản, phổ biến nhất

là vì lòng từ tâm, lòng thương người, muốn cưu mang, giúp đỡ những người rơivào hoàn cảnh khó khăn Với quan niệm như vậy, việc nhận con nuôi, nhận cha

mẹ nuôi đã được thực hiện khá rộng rãi trong đời sống nhân dân

Với ý nghĩa là một quyền tự do dân sự của cá nhân, việc xác lập quan hệnuôi con nuôi có thể được thực hiện theo những cách thức khác nhau, tuỳ theo

sự lựa chọn của cá nhân trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định Tuy nhiên

có thể thấy, có hai cách thức xác lập quan hệ nuôi con nuôi trong thực tế Đó làxác lập quan hệ nuôi con nuôi về mặt xã hội và xác lập về mặt pháp lý

Việc nhận nuôi con nuôi có thể được xác lập về mặt pháp lý, thông qua sựkiện đăng ký việc nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đối vớinhững trường hợp có đăng ký, giữa người nhận nuôi và con nuôi phát sinh quan

hệ cha mẹ và con trước pháp luật Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con giữangười nhận nuôi và con nuôi được nhà nước công nhận và bảo vệ Vấn đề nàykhông nằm trong khuôn khổ phân tích của bài viết này Trong phạm vi của bàiviết này, chỉ xin bàn đến những dạng xác lập quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi

Trang 3

Trong thực tế đời sống tồn tại khá nhiều các trường hợp nhận con nuôinhưng không đăng ký việc nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Đây là những trường hợp xác lập quan hệ nuôi con nuôi về mặt xã hội Tuynhiên không phải tất cả các trường hợp nhận nuôi con nuôi không có sự côngnhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đều là nuôi con nuôi thực tế Quanghiên cứu cho thấy, trong thực tế đời sống xã hội Việt Nam, quan hệ nuôi connuôi đã từng tồn tại một số dạng cơ bản sau:

- Nuôi con nuôi theo phong tục tập quán

- Nuôi con nuôi để khuếch trương quyền thế của gia đình

- Nuôi con nuôi để lấy phúc

- Nuôi con nuôi trên danh nghĩa

- Nuôi con nuôi thực tế

Quan hệ nuôi con nuôi thực tế:

- Con nuôi thực tế: Nuôi con nuôi thực tế là hình thức nuôi con nuôi làm

hình thành quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhậnlàm con nuôi Việc nhận nuôi thoả mãn đầy đủ các điều kiện của việc nuôi connuôi, không trái với mục đích của việc nuôi con nuôi và đạo đức xã hội Ngườicon nuôi cùng sống trong gia đình cha mẹ nuôi Giữa người nhận nuôi và ngườiđược nhận nuôi có mong muốn thiết lập quan hệ cha mẹ và con, đối xử với nhautrong tình cảm cha mẹ và con, đồng thời thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụcủa cha mẹ và con đối với nhau để xây dựng một gia đình thật sự Quan hệ cha

mẹ và con giữa hai bên đã được xác lập trong thực tế, được họ hàng và mọingười xung quanh công nhận Việc nhận nuôi con nuôi có thể được thực hiệnbằng lời nói hoặc văn bản thoả thuận giữa hai bên gia đình, nhưng không đăng

ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Quan hệ nuôi con nuôi thực tế phải có đầy đủ các dấu hiệu sau:

- Về ý chí của các bên: Giữa người nhận nuôi và con nuôi có mong muốnthiết lập quan hệ cha mẹ và con, đã thật sự coi nhau như cha mẹ và con, đối xửvới nhau trong tình cảm cha mẹ và con

- Về chủ thể: người nhận nuôi và con nuôi đáp ứng đầy đủ các điều kiệntheo quy định của pháp luật, như điều kiện về tuổi, tư cách đạo đức, điều kiệnchăm sóc, nuôi dưỡng…

Trang 4

- Về khách quan: các bên đã cùng chung sống với nhau, gắn bó, cư xử vớinhau trong tình cảm cha mẹ và con, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ củacha mẹ và con đối với nhau Quan hệ giữa cha mẹ và con giữa hai bên được họhàng và mọi người xung quanh thừa nhận Việc nuôi con nuôi là đúng mục đích,không trái pháp luật và đạo đức xã hội.

Như vậy, chỉ khi một quan hệ nuôi con nuôi có đầy đủ các dấu hiệu trênthì mới được coi là nuôi con nuôi thực tế Trước đây, trong thực tế giải quyết cáctranh chấp về nuôi con nuôi, đặc biệt là những tranh chấp liên quan đến quyềnthừa kế, tòa án cũng dựa vào những dấu hiệu trên để xem xét có hay không cóquan hệ nuôi con nuôi thực tế Khi được công nhận là quan hệ nuôi con nuôithực tế thì giữa người nhận nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền và nghĩa vụpháp lý của quan hệ cha mẹ và con

Trong các dạng quan hệ nuôi con nuôi đã tồn tại trong thực tiễn đời sống

có quan hệ được coi là nuôi con nuôi thực tế, còn những quan hệ không có đủcác dấu hiệu trên thì không được công nhận là nuôi con nuôi thực tế Để có cơ

sở nhận biết quan hệ nuôi con nuôi thực tế cần xem xét bản chất của quan hệnày

Bản chất của quan hệ nuôi con nuôi thực tế:

Có thể nói, bản chất của quan hệ nuôi con nuôi thực tế là đã hình thành vàtồn tại quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôitrong thực tế cuộc sống Quan hệ cha mẹ và con được xác lập phù hợp với mongmuốn, tình cảm của các bên và được thể hiện rõ ràng, công khai trong cuộcsống, nhưng chưa được công nhận của cơ quan có thẩm quyền Để làm rõ bảnchất của quan hệ nuôi con nuôi thực tế có thể phân biệt giữa quan hệ nuôi connuôi thực tế với nuôi con nuôi danh nghĩa

Có quan điểm cho rằng: “con nuôi thực tế cũng giống như con nuôi trêndanh nghĩa, là sự thoả thuận miệng giữa hai gia đình về việc nuôi con nuôi màkhông đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, (có một số ít trường hợp cóvăn bản viết tay giữa hai gia đình) Tuy nhiên loại con nuôi này khác với connuôi trên danh nghĩa là người con nuôi ở hẳn với cha mẹ nuôi và gắn bó với cha

mẹ nuôi”

Có thể nhận thấy quan hệ con nuôi thực tế và con nuôi danh nghĩa có dấuhiệu giống nhau là đều không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền,

Trang 5

là người được nhận làm con trên cơ sở đáp ứng đầy đủ các điều kiện của việcnuôi con nuôi, giữa người nuôi và người được nhận nuôi đã thực hiện đầy đủ cácquyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con đối với nhau, nhưng không đăng ký việcnuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Quan hệ nuôi con nuôi thực tế khác quan hệ con nuôi trên danh nghĩa ởnhững điểm sau:

Thứ nhất, quan hệ con nuôi trên danh nghĩa là một quan hệ xã hội, không

phải là một quan hệ pháp luật, không được pháp luật điều chỉnh Ngược lại, connuôi thực tế là một hiện tượng xã hội có thể được pháp luật điều chỉnh khi cónhững điều kiện nhất định, trong giai đoạn nhất định

Thứ hai, quan hệ con nuôi trên danh nghĩa không đòi hỏi phải tuân theo

các quy định của pháp luật về điều kiện nuôi con nuôi (như điều kiện về chủ thểgiữa các bên…), nhưng quan hệ con nuôi thực tế chỉ có thể được công nhận cógiá trị pháp lý khi tuân thủ đầy đủ các điều kiện của việc nuôi con nuôi nhưngkhông đăng ký nuôi con nuôi

Thứ ba, quan hệ con nuôi trên danh nghĩa không tồn tại quan hệ chăm

sóc, nuôi dưỡng nhau giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, nhưng trong quan hệ connuôi thực tế hai bên đã thực sự chung sống với nhau, thực hiện đầy đủ các quyền

và nghĩa vụ của cha mẹ và con đối với nhau

Thứ tư, con nuôi trên danh nghĩa không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ

pháp lý giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, nhưng đối với con nuôi thực tế thì giữacha mẹ nuôi và con nuôi vẫn có quyền và nghĩa vụ pháp lý của cha mẹ và contheo luật định (khi được công nhận)

Trong thực tế đời sống có thể tồn tại nhiều dạng nuôi con nuôi mà khôngđăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền như đã phân tích ở mục trên Dựatrên những dấu hiệu bản chất của quan hệ nuôi con nuôi thực tế có thể phân biệt,xác định khi nào một quan hệ nuôi con nuôi không có đăng ký được công nhận

là nuôi con nuôi thực tế Chỉ khi được công nhận là quan hệ nuôi con nuôi thực

tế thì giữa các bên chủ thể mới có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theoquy định của pháp luật

Tuy nhiên, về nguyên tắc, những quan hệ kiểu này không được công nhận

về mặt pháp lý Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của các bên và cóphần không phù hợp với thực tế khách quan của quan hệ nuôi con nuôi Do đó,

để bảo đảm quyền lợi của các bên chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi thực tế,

Trang 6

nhà nước cần có những biện pháp mềm dẻo, linh hoạt để giải quyết một cáchthiết thực, có hiệu quả vấn đề này trong thời gian gần nhất.1

1.1.2 Các thành viên khác:

- Ông bà nội nuôi: là người cha, người mẹ ruột của người cha nuôi, người

mà có nhận nuôi con nuôi Theo quy định của Bộ luật dân sự và Hôn nhân giađình, quan hệ con nuôi không làm phát sinh các quan hệ khác tức là cũng không

là phát sinh quan hệ cháu nuôi hay ông bà nội nuôi

- Ông bà ngoại nuôi: là người cha, người mẹ ruột của người mẹ nuôi,người mà có nhận nuôi con nuôi Cũng như giải thích ở trên, quan hệ con nuôicũng không được phát sinh quan hệ cháu nuôi, ông bà nuôi

- Cô, dì, chú, bác nuôi: là những người có quan hệ huyết thống và cùngthế hệ với cha, mẹ nuôi, họ là anh, em của người nhận con nuôi Mối quan hệ

cô, dì, chú, bác nuôi cũng không được pháp luật quy định

- Anh chị em (của người cháu nuôi): Theo quy định anh, chị, em là nhữngngười cùng một thế hệ có quan hệ ruột thịt với nhau Tuy nhiên ở đây ngườiđược nhận làm con nuôi không hề có quan hệ huyết thống với những anh, chị,

em của mình mà chỉ cùng một thế hệ, có chung cha, mẹ

1.1.3 Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế

- Khái quát về pháp luật thừa kế: Thừa kế theo nghĩa chung nhất, là việc

chuyển dịch tài sản của người chết cho người cuộc sống Thừa kế với ý nghĩa làmột phạm trù kinh tế có mầm móng và xuất hiện ngay trong thời kỳ sơ khai của

xã hội loài người Ở thời kỳ này việc thừa kế nhằm di chuyển tài sản của ngườichết cho những người trong sống được tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống và

do những phong tục, tập quán riêng của từng bộ lạc, thị tộc quyết định.Ph.Ăngghen viết:

Theo chế độ mẫu quyền nghĩa là chừng nào mà huyết thống chỉ kể về bên

mẹ theo tập tục thừa kế nguyên thuỷ trong thị tộc mới được thừa kế những ngườitrong thị tộc chết Tài sản phải để lại trong thị tộc và tài sản để lại không có giá trịlớn, nên lâu nay trong thực tiễn có lẽ người ta vẫn trao tài sản đó cho những bàcon thân thích nhất, nghĩa là trao cho những người cùng huyết tộc với người mẹ Như vậy, ngay dưới chế độ mẫu quyền trong thời kỳ nguyên thuỷ của xãhội loài người, khi mà xã hội chưa có sự phân chia giai cấp, chế độ sở hữu dưới

Trang 7

dạng cộng đồng nguyên thuỷ, chỉ là những công cụ lao động thô sơ và nhữngvật phẩm tự nhiên thì vấn đề thừa kế đã được đặt ra Lúc đó thừa kế được phátsinh dựa trên quan hệ huyết thống theo dòng máu của người mẹ Bởi vì xã hộinày con người sống quần hôn cho nên không thể xác định được cha của đứa trẻ

là ai và con sinh ra hoàn toàn phụ thuộc vào người mẹ

Theo tiến trình phát triển của xã hội cùng với sự phát triển của lực lượngsản xuất, năng suất lao động ngày càng được nâng cao, từ đó xuất hiện sự dưthừa sản phẩm Những người có quyền hành trong thị tộc, bộ lạc tìm mọi thủđoạn để chiếm hữu số của cải dư thừa đó làm của riêng Chế độ tư hữu xuất hiện,chế độ thị tộc, chế độ cộng sản nguyên thuỷ dần dần bị phá vỡ và nhường chổcho một chế độ xã hội mà trong đó đã có sự phân hoá giai cấp

Khi giai cấp đã xuất hiện các giai cấp có quyền lợi đối lập nhau (giai cấpthống trị và giai cấp bị trị), luôn luôn mâu thuẫn và đấu tranh gay gắt để bảo vệlợi ích của giai cấp mình Trước bối cảnh đó, dĩ nhiên tổ chức thị tộc trở thànhbất lực trước xã hội, không thể phù hợp nữa Lúc này "xã hội đó đòi hỏi phải cómột tổ chức mới đủ sức để dập tắt cuộc xung đột công khai giữa các giai cấp ấyhoặc cùng lắm là để cho cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trong lĩnh vực kinh tế,dưới một hình thức gọi là hợp pháp Tổ chức đó là nhà nước và nhà nước đãxuất hiện"

Nếu trước đây, thừa kế trong xã hội thị tộc được dịch chuyển theo phongtục tập quán thì khi nhà nước xuất hiện, quá trình dịch chuyển di sản từ mộtngười đã chết cho một người còn sống đã có sự tác động bằng ý chí của nhànước, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị Giai cấp thống trị thông qua bộmáy nhà nước, ban hành các quy định để điều chỉnh các quan hệ trong việc xácđịnh phạm vi chủ thể, nội dung, hình thức, điều kiện chuyển dịch tài sản và nhữngvấn đề khác có liên quan đến việc thừa kế tài sản

Như vậy, thừa kế được hình thành từ khi xã hội chưa phân chia giai cấp,nhưng khái niệm pháp luật thừa kế thì chỉ ra đời và tồn tại trong những xã hội

đã phân chia giai cấp và có nhà nước Tuy nhiên, mỗi một xã hội khác nhau sẽ

có sự khác nhau trong quy định về thừa kế Thậm chí, trong cùng một chế độ xãhội của một nhà nước, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, thì pháp luật thừa kếcũng được quy định khác nhau cho phù hợp với sự phát triển

Ở Việt Nam, trong các triều đại phong kiến trước đây, pháp luật thừa kế đãđược hình thành và dựa trên cơ sở lễ giáo phong kiến Các quy định về thừa kế

Trang 8

trong Bộ luật Hồng Đức của thời Lê và Bộ luật của thời Nguyễn đều nhằm mụcđích duy trì, bảo vệ những truyền thống có sự tác động mạnh lên quan hệ thừa

kế Vì vậy, thừa kế ở thời kỳ này thể hiện rõ nét sự bất bình đẳng giữa vợ vàchồng, giữa nam và nữ Đối với tài sản của cha mẹ, con trai con gái đều cóquyền được chia, nhưng đất hương hoả thì nhất quyết phải dành cho con trưởngnam và cháu đích tôn

Cha mẹ với tư cách là người chủ sở hữu cũng không có quyền làm khác,không thể để cho một người con gái hưởng hoa lợi, hương hỏa dù người con gái

ấy sống độc thân đến khi chết Đối với tài sản vợ chồng, nếu vợ chết trước,chồng tiếp tục làm chủ tài sản ấy với tư cách là chủ sở hữu Nhưng trong trườnghợp chồng chết trước người vợ không được quyền thừa kế, chỉ tiếp tục hưởnghoa lợi trên tài sản của chồng Nếu người vợ tái giá thì người góa phụ mất hếtquyền hưởng hoa lợi, bị bên chồng trưng bằng cớ để lấy lại ruộng đất.2

Khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, chế độ phong kiến ở ViệtNam hoàn toàn sụp đổ, cùng với chế độ thực dân pháp, những quan niệm lạchậu về chế độ hôn nhân gia đình cũng dần dần bị xóa bỏ Quyền bình đẳng vềthừa kế và sở hữu dưới chế độ mới đã được pháp luật bảo vệ theo nguyên tắc

"Đàn bà ngang quyền với đàn ông" và đã được cụ thể hoá bằng quy định củapháp luật "Trong lúc sinh thời người chồng goá hay người vợ goá, các con đãthành niên có quyền xin chia tài sản quyền sở hữu người chết sau khi đã thanhtoán tài sản chung con trai, con gái đều có quyền thừa kế di sản của cha mẹ Kể

từ đó đến nay pháp luật thừa kế ở nước ta ngày càng được mở rộng, phát triển

và được thực hiện, trên thực tế tại thông tư 81 Toà án nhân dân tối cao, phápluật thừa kế năm 1990 Đặc biệt là BLDS 1995, 2005 ghi nhận một cách tươngđối đầy đủ chế định thừa kế công dân

- Khái niệm thừa kế: Có rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về thừa kế

theo đó, thừa kế là:

Theo từ điển tiếng Việt, thừa kế là việc người đang còn sống thừa hưởngtài sản của người đã qua đời Việc thừa kế chỉ được thực hiện khi người có tàisản chết

Một cách chung chung, thừa kế là việc được hưởng tài sản, của cải dongười chết để lại cho

Trang 9

Ngoài ra nó còn là một chế định dân sự, là tổng hợp các quy phạm phápluật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo dichúc hoặc theo một trình tự nhất định, đồng thời quy định phạm vi, quyền nghĩa

vụ và phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế

Tóm lại: Thừa kế với nghĩa là một quan hệ pháp luật dân sự, trong đó cácchủ thể của quan hệ thừa kế bao gồm người để lại di sản và người thừa kế.Người có tài sản để lại khi chết gọi là người để lại di sản Người được hưởng tàisản của người chết để lại gọi là người thừa kế Người để lại di sản chỉ có thể là

cá nhân, mà không bao giờ là pháp nhân, cơ quan nhà nước hoặc tổ chức; nhưngngười thừa kế có thể là cá nhân, hoặc cơ quan nhà nước, hoặc bất kỳ một chủ thểnào khác

Trong pháp luật dân sự Việt Nam, quyền để lại di sản của người có tàisản cho người thừa kế và quyền thừa kế di sản là hai nội dung cơ bản của quyềnthừa kế được pháp luật công nhận và bảo vệ

- Khái niệm về quyền thừa kế:

Người có quyền thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam là công dân,

tổ chức Quyền thừa kế thuộc về cá nhân được thể hiện theo hai chủ thể nhấtđịnh, đó là chủ thể để lại tài sản (quyền của người để lại di sản) và chủ thểhưởng thừa kế di sản (quyền của người nhận di sản) Quyền thừa kế thuộc về tổchức được thể hiện theo một chủ thể nhất định, đó là chủ thể hưởng thừa kế disản (chỉ trong trường hợp thừa kế theo di chúc)

Khi xem xét về vấn đề thừa kế thì di sản là một trong những vấn đề đượcquan tâm trước tiên Di sản là cơ sở để thiết lập di chúc bên cạnh các căn cứkhác Chỉ khi di sản còn tồn tại trên thực tế thì người lập di chúc mới có “cái” đểđịnh đoạt

Những người được thừa kế theo quy định của pháp luật không phụ thuộcvào mức độ năng lực hành vi Người có hay không có năng lực hành vi hoặcngười có năng lực hành vi không đầy đủ đều có quyền thừa kế Trong trườnghợp này, người giám hộ sẽ thực hiện giúp những người này các quyền và nghĩa

vụ trong phạm vi tài sản của họ

Theo quy định của Bộ luật dân sự thì cá nhân có quyền lập di chúc đểđịnh đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo phápluật

Trang 10

Quyền thừa kế là quyền của người để lại di sản và quyền của người nhận

di sản Đối tượng của quyền thừa kế là tài sản thuộc sở hữu của người chết hoặcquyền tài sản mà người chết người sử dụng hợp pháp

luật các nước ghi nhận Pháp luật Việt Nam bảo vệ quyền thừa kế của con ngườixuất phát từ quan điểm coi gia đình là tế bào của xã hội, phải đảm bảo quyền lợichính đáng của mọi thành viên và sự ổn định của từng gia đình Mặt khác, thôngqua quyền thừa kế, giáo dục tinh thần của mỗi thành viên đối với gia đình

Theo quy định của Bộ luật dân sự thì cá nhân có quyền lập di chúc đểđịnh đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo phápluật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật Ngoài ra, Bộ luật dân sự

cũng đưa ra một số nguyên tắc cơ bản về quyền thừa kế như sau:

Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của cá nhân Theo nguyên tắc này,mọi cá nhân đều được bảo hộ quyền định đoạt đối với tài sản sau khi cá nhân đóchết thông qua việc lập di chúc, nếu không lập di chúc thì việc thừa kế được giảiquyết theo pháp luật

Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền thừa kế, không phân biệt nam, nữ,tuổi tác, thành phần, tôn giáo, địa vị chính trị xã hội… đều có quyền để lại tàisản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theopháp luật

Tôn trọng quyền định đoạt của người có tài sản, người hưởng di sản Theoquy định của pháp luật về thừa kế, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tàisản của mình cho người thừa kế theo pháp luật, hưởng di sản theo di chúc hoặctheo pháp luật

Củng cố, giữ vững tình thương yêu và đoàn kết trong gia đình Nguyêntắc này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định diện và hàng thừa kế theopháp luật dựa trên cơ sở huyết thống gần gũi, quan hệ hôn nhân, trong việc bảo

vệ quyền lợi của người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động

1.2 Đặc điểm của quan hệ thừa kế giữa cháu nuôi và ông bà nuôi

1.2.1 Đặc điểm pháp luật của quan hệ thừa kế:

Đặc điểm của Pháp luật là những dấu hiệu đặc trưng để phân biệt giữa cáckiểu pháp luật khác nhau Đặc điểm của Pháp luật về thừa kế cũng là những dấu

Trang 11

hiệu nhờ đó có thể phân biệt được pháp luật thừa kế với các lĩnh vực pháp luậtkhác… ở góc độ này, pháp luật thừa kế ở Việt Nam có các đặc điểm sau:

Thứ nhất: Pháp luật thừa kế ra đời rất sớm

Ngay từ thời kỳ La Mã Cổ Đại đã có pháp luật thừa kế “thừa kế là sự dichuyển tài sản của người chết cho một hoặc một số người sống khác Quyềnthừa kế với tư cách là một chế định pháp luật của Nhà nước, xuất hiện trên cơ sởchấm dứt quyền sở hữu của một người đă chết và sự chuyển giao mang tính tổngthể tài sản của người đó cho những người còn sống

Ở nước ta, trong gần 10 thế kỷ đô hộ, nhà nước phong kiến Trung Hoaluôn tìm cách xoá những truyền thống của dân tộc ta để thể hiện mưu đồ đồnghoá rất thâm hiểm của họ Theo sử gia lỗi lạc Phan Huy Chú “thì trong thời kỳgiặc Minh đô hộ nước ta vào đầu thế kỷ XV, họ đã tịch thu sách vở của ta đem

về làm với mục tiêu triệt xoá nền văn hoá dân tộc Việt để dễ bề cai trị Tiếp đóđầu nhà Lê gặp “giặc loạn”, mấy lần nữa sách luật của ta thời kỳ này trở vềtrước cùng chung số phận” Vì thế, khi nghiên cứu cổ pháp về thừa kế, chúng tathiếu hẳn những cứ liệu trực tiếp, nên phải lấy bộ luật cổ xưa nhất còn lưu giữ là

bộ Quốc triều hình luật làm mốc

Tuy nhiên, dựa vào những ghi chép của các sử gia trong các tài liệu vềlịch sử cũng như sự suy đoán pháp luật có thể thấy được pháp luật thừa kế hìnhthành và phát triển cùng với sự hình thành Nhà nước Việt Nam cổ đại, ở thờiHùng Vương nước ta đã có pháp luật thừa kế “về luật dân sự chủ yếu và tranhchấp dân sự dưới thời Hùng Vương đã có quy định bắt buộc…thời Hùng Vương

đã có quy định việc chia tài sản” Ngày nay, các sử gia và các nhà luật học khinghiên cứu về cổ pháp, đa số đều nhất trí rằng: “Pháp luật nước ta đã có từ trướcthời Lê và đã được điển chế đến thời Lý, Trần” “Với bộ luật Lê Triều HìnhLuật dù được xem là một thành tựu có giá trị đặc biệt trong lịch sử pháp luậtViệt Nam, nhưng chắc chắn khi biên soạn các luật gia Lê Triều cũng đã thừa kếcác thành tựu của các bộ luật của các triều đại trước”

Với sự phân tích trên, chúng ta thấy rằng pháp luật thừa kế Việt Nam đãxuất hiện từ lâu, nó trở thành một chế định quan trọng của pháp luật thời bấygiờ Điều đó được thể hiện qua các tài liệu về lịch sử của các sử gia, Bộ luậtQuốc triều hình luật Tuy nhiên, pháp luật thừa kế thời kỳ này chỉ bảo vệ giaicấp thống trị, củng cố, duy trì quyền sở hữu của những người có của

Trang 12

Thứ hai: Pháp luật thừa kế có mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật về quyền

sở hữu

Thừa kế và sở hữu là hai phạm trù kinh tế có mầm mống và xuất hiệnngay trong thời kỳ sơ khai của xã hội loài người, tồn tại song song trong mọihình thức kinh tế - xã hội Trong phạm vi một chế độ xã hội, hai phạm trù nàygắn bó chặt chẽ với nhau mỗi phạm trù là tiền đề và cũng chính là hệ quả đối vớinhau Nếu sở hữu là yếu tố đầu tiên để từ đó làm xuất hiện thừa kế thì đến lượt mìnhthừa kế lại là phương tiện để duy trì, củng cố và xác định quan hệ sở hữu

Nếu sở hữu và thừa kế là hai vấn đề liên quan mật thiết với nhau songsong tồn tại bên nhau thì pháp luật về thừa kế với pháp luật về quyền sở hữucũng có mối quan hệ hết sức mật thiết với nhau Thông qua việc quy định hìnhthức sở hữu về tài sản của cá nhân và theo đó pháp luật quy định cho họ cácquyền năng trong lĩnh vực thừa kế Hay nói cách khác, pháp luật về sở hữu là cơ

sở cho việc ban hành các văn bản pháp luật về thừa kế Vì vậy, pháp luật về thừa

kế luôn mang một bản chất giai cấp sâu sắc, nó luôn là phương tiện để duy trì,củng cố quyền sở hữu ở những xã hội mà chính bản thân nó đang tồn tại

Trong xã hội phong kiến hoặc trong xã hội chủ nô, những xã hội dựa trênchế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, thì pháp luật về thừa kế là một trongnhững công cụ pháp lý quan trọng để duy trì sự bóc lột sức lao động người khác

và củng cố địa vị xã hội của những người thừa kế Trong chế độ xã hội chủnghĩa, một chế độ dựa trên nền tảng công hữu hoá tư liệu sản xuất Thừa kế là sự

kế thừa thành quả lao động của cá nhân gia đình và các giá trị văn hoá của thế hệnày đối với thế hệ khác, nên pháp luật thừa kế, trước hết nhằm bảo vệ quyền lợicho người lao động, thành quả lao động của họ được chuyển sang cho nhữngngười thừa kế của họ Mặt khác, pháp luật về thừa kế còn là một trong nhữngphương tiện để củng cố và phát triển các quan hệ hôn nhân gia đình, bảo vệquyền lợi chính đáng của các chủ thể trong lĩnh vực thừa kế, qua đó góp phầnbảo đảm quyền sở hữu chính đáng mọi cá nhân trong xã hội

Như vậy, cùng với sự hình thành và phát triển Nhà nước và pháp luật củachế độ tư hữu thì sở hữu và thừa kế đều là những phạm trù pháp luật và giữachúng có mối quan hệ mật thiết với nhau Chế độ tư hữu tài sản là tiền đề củachế định thừa kế, ngược lại chế định thừa kế là cơ sở để củng cố chế độ tư hữutài sản Như vậy, giữa chúng có mối liên hệ ràng buộc theo những chuẩn mựcpháp luật nhất định và mang bản chất giai cấp sâu sắc

Trang 13

Thứ ba: Pháp luật thừa kế tập trung chủ yếu trong BLDS, ngoài ra còn được quy định một số văn bản liên quan.

Thừa kế là một chế dịnh của pháp luật dân sự, do đó nó cũng mang nhữngđặc điểm chung của Bộ luật dân sự, như đều là xuất phát từ quan hệ tài sản, đềuphản ánh một cách sinh động phong tục, tập quán, đạo đức của người Việt Nam,

là công cụ pháp lý quan trọng bảo đảm sự b́nh đẳng tự nguyện và an toàn pháp

lý của các chủ thể, đáp ứng nhu cầu vật chất, và tinh thần của các thành viêntrong xã hội… Do đó, đa số các quy phạm pháp luật về thừa kế được quy địnhchủ yếu trong bộ luật dân sự Tuy nhiên, do quan hệ thừa kế cũng có mối quan

hệ chặt chẽ với quan hệ về sở hữu, quan hệ hôn nhân huyết thống và quan hệnuôi dưỡng, quan hệ đất đai cho nên các quy định pháp luật thừa kế còn đượcquy định rải rác trong một số văn bản liên quan như luật đất đai, luật đầu tư, luậtdoanh nghiệp, luật hôn nhân gia đình

Thứ tư: Pháp luật thừa kế thường xuyên có sửa đổi bổ sung và ngày càng hoàn thiện phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng giai đoạn.

Kể từ khi hình thành cho đến nay, pháp luật thừa kế ở nước ta đã trải quanhiều lần sửa đổi bổ sung vào các năm 1815, 1931, 1936, 1950, 1981, 1990

1995, và 2005 Nếu so sánh với các lĩnh vực pháp luật khác nhau pháp luật vềhình sự, pháp luật hôn nhân và gia đình, pháp luật về lao động… thì các lĩnhvực pháp luật này được sửa đổi bổ sung Trong khi đó pháp luật thừa kế đượcsửa đổi bổ sung thường xuyên hơn Sở dĩ pháp luật thừa kế có đặc điểm này, bởi

lẽ bên cạnh những nhân tố ảnh hưởng tới việc sửa đổi bổ sung mà lĩnh vực phápluật nào cũng có như do sự thay đổi các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh, nhucầu hội nhập kinh tế quốc tế và xu thế toàn cầu hoá… thì việc sửa đổi, bổ sungpháp luật thừa kế, còn phụ thuộc vào thành quả phát triển kinh tế xã hội qua cácthời kỳ Nhìn lại tiến trình hình thành và phát triển pháp luật thừa kế Việt Namchúng ta thấy rằng, pháp luật thừa kế được xây dựng và hoàn thiện phù hợp vớitình hình phát triển kinh tế - xã hội qua từng giai đọan lịch sử theo đó quyềnthừa kế của công dân được chú ý bảo vệ triệt để Điều này được thể hiện trongviệc ghi nhận và bảo vệ quyền thừa kế công dân trong bốn hiến pháp Việt Nam,BLDS 1995, 2005 …

Thứ năm: Pháp luật thừa kế được quy định tương đối toàn diện và có kết cấu chặt chẽ.

Trang 14

Khi xđy dựng phâp luật thừa kế chóng ta đê học tập nhiều kinh nghiệmcủa cha ông vă câc nước tiín tiến trín thế giới như Phâp, Đức, Nga vì vậy,phâp luật thừa kế tương đối toăn diện có cấu trúc chặt chẽ Phâp luật thừa kếđược chia thănh 5 nhóm Trong mỗi nhóm đều có câc quy định chung quy địnhcâc vấn đề cơ bản có tính nguyín tắc của phần đó, lăm cơ sở để dẫn chiếu câcquy định cụ thể, câc cấu trúc năy thuận tiện cho việc tra cứu vă âp dụng phâpluật thừa kế.

Thừa kế theo phâp luật có hai đặc điểm cơ bản lă việc thừa kế theo hăng

vă những người trong hăng bình đẳng với nhau Việc năy nhằm tôn trọng ýmuốn của người đê khuất vă đảm bảo quyền tự do đối với tăi sản của mình

- Thừa kế theo hăng tức lă những người cùng có quan hệ thđn thiết, gần

gủi với người đê chết vă được sắp xếp theo một trật tự từ gần ra xa Theo quyđịnh của phâp luật Việt Nam, hăng thừa kế gồm có 3 hăng đó lă: “Hăng thừa kếthứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi củangười chết; Hăng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bă nội, ông ngoại, bă ngoại, anhruột, chị ruột, em ruột của người chết; châu ruột của người chết mă người chết lẵng nội, bă nội, ông ngoại, bă ngoại; Hăng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoạicủa người chết; bâc ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; châuruột của người chết mă người chết lă bâc ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dìruột, chắt ruột của người chết mă người chết lă cụ nội, cụ ngoại.”

- Được hưởng phần di sản bằng nhau: Nghĩa lă những người ở hăng thừa

kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ…sẽ được chia phần di sản như nhaunếu tất cả những người năy còn sống văo thời điểm mở thừa kế Những người ởhăng thừa kế thứ nhất, lă những người gần gủi nhất với người chết, có thể cùngchung sống với nhau trong một gia đình Những người ở hăng thừa kế thứ hai văthứ ba thì mối quan hệ thđn thiết với người chết giảm dần theo cấp độ vì vậyphâp luật quy định: “Những người hăng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế,nếu không còn ai ở hăng thừa kế trước do đê chết, không có quyền hưởng di sản,

bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”

1.2.2 Đặc điểm phâp luật của quan hệ thừa kế giữa ông bă nuôi vă châu nuôi.

Quan hệ phâp luật về thừa kế giữa ông bă nuôi vă châu nuôi cũng lă mộtquan hệ phâp luật, nín nó có đầy đủ những đặc điểm đặc trưng của một quan hệthừa kế Tuy vậy nó cũng có những đặc điểm đặc biệt riíng:

Trang 15

- Đây là một quan hệ thừa kế đặc biệt Cháu nuôi chỉ là con nuôi của con,theo Bộ luật dân sự và Hôn nhân gia đình thì con nuôi của con không đươngnhiên trở thành cháu nuôi điều này đồng nghĩa với việc không phát sinh quan hệthừa kế.

- Không phát mối quan hệ về hôn nhân, huyết thống hay nuôi dưỡng.Cháu nuôi, là người được con của mình nhận về làm con nuôi, đối với ông bànuôi không phát sinh ba mối quan hệ mà pháp luật quy định để phát sinh quan

hệ thừa kế

- Chỉ xảy ra mối quan hệ thừa kế trong trường hợp cháu nuôi thừa kế tài

sản của cha mẹ nuôi do cha mẹ nuôi thừa kế từ ông bà nuôi, điều này có nghĩa làkhi ông bà nuôi mất để lại di sản cho cha mẹ nuôi thì cha mẹ nuôi đó phải cònsống vào thời điểm mở thừa kế và người con nuôi sẽ được nhận phần di sản củaông bà nuôi qua việc thừa kế từ cha mẹ nuôi của mình

- Theo Bộ luật dân sự và Hôn nhân gia đình thì cháu nuôi không nằmtrong hàng thừa kế thứ hai nhưng có thể được thừa kế thế vị “Trong trường hợpcon của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại

di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởngnếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người đểlại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởngnếu còn sống” Điều luật không phân biệt con nuôi hay con ruột nên con nuôicũng nằm trong diện được thừa kế thế vị

Rõ ràng ở đây có sự mâu thuẫn hay còn gọi là xung đột pháp luật giữaluật riêng (luật chuyên ngành) và luật chung Theo quy định tại khoản 2 điều 83

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn” Vậy khi vận dụng và áp dụng pháp luật phải

áp dụng quy định của Bộ Luật dân sự năm 2005 Tuy nhiên, luật ban hành sau,phải rà soát kiểm tra nhưng quy định trước để không tạo sự chồng chéo, mâuthuân như hiện tại, điều này đòi hỏi sự quan tâm xem xét của các nhà làm luật,

có như vậy việc vận dụng và áp dụng pháp luật mới đi vào đời sống của ngườidân một cách thật sự hiệu quả cũng như không gây khó khăn cho các nhà ápdụng pháp luật

1.3 Sự cần thiết của những quy định pháp luật về thừa kế giữa ông bà nuôi

và cháu nuôi

Trang 16

Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng nhànước pháp quyền, hội nhập quốc tế, ở nước ta hiện nay hệ thống pháp luật nóichung và pháp luật thừa kế nói riêng, ngày càng thể hiện rõ vai trò to lớn đốivới đới sống kinh tế, văn hoá, chính trị của đất nước Cụ thể là:

Một là, pháp luật thừa kế đã thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về một số quyền cơ bản của con người trong lĩnh vực dân sự.

Lịch sử phát triển của xã hội đã chứng minh rằng, bất kỳ giai cấp thốngtrị nào cũng đều dựa vào pháp luật để thể hiện ý chí và thực hiện đường lốichính trị của giai cấp mình Pháp luật là hình thức ghi nhận thể hiện tập trungnhất, là biện pháp sắc bén nhất, hiệu quả nhất để thực hiện những quan điểm,đường lối của giai cấp cầm quyền

Ở Việt Nam, Đảng cộng sản là lực lượng lãnh đạo nhà nước lãnh đạotoàn xã hội, sự lãnh đạo của Đảng thể hiện các phương diện khác nhau trong đó

có hoạt động xây dựng đường lối, chính sách Để cho đường lối của Đảng thực

sự đi vào cuộc sống, phải có sức mạnh của Nhà nước mà pháp luật là công cụhàng đầu để thực hiện sức mạnh đó Sở dĩ như vậy, bởi vì pháp luật là phươngtiện thể chế hoá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật có thuộctính phổ biến và tính tổ chức nên nó có hiệu lực thực thi và bắt buộc chung trênquy mô toàn xã hội

Ở nước ta, từ cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến sự nghiệpđổi mới, ngày nay đường lối nhất quán của Đảng trong các Văn kiện VI, VII,VIII, IX, X đều khẳng định việc thực thi quyền con người và quyền công dânđược xem như nhân tố thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đặc biệt trong Nghị quyết 48 của Bộ chínhtrị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm

2010, Đảng ta đã bổ sung nhấn mạnh quan điểm chỉ đạo "xây dựng và hoànthiện pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ công dân"

Theo tinh thần đó, pháp luật thừa kế ở nước ta trong những năm qua đã

và đang là chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng trong việc bảo đảm quyềncon người, quyền công dân trong lĩnh vực dân sự

Điều 50 Hiến pháp 1992 đã quy định "Ở nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và

Trang 17

pháp và pháp luật", điều 58 Hiến pháp 1992 cũng quy định "Nhà nước bảo hộquyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế công dân".

Xuất phát từ nguyên tắc Hiến định trên Bộ Luật Dân sự năm 1995, 2005đảm bảo cho "Chủ sở hữu có quyền bán, tặng, cho để thừa kế tài sản, công dân

có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt,

tư liệu sản xuất" Đặc biệt Bộ Luật Dân sự còn đảm bảo cho mọi công dân đều

có quyền "lập di chúc để định đoạt tài sản của mình", đều có quyền "để lại tàisản của mình cho người thừa kế theo pháp luật" Đồng thời mỗi công dân đều

có quyền "hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật", thậm chí là quyền từchối nhận di sản thừa kế

Hai là, pháp luật thừa kế là phương thức quan trọng trong việc xác lập, củng cố, bảo vệ quyền sở hữu.

Thừa kế là một quan hệ xã hội có mầm móng và xuất hiện từ thời sơ khaicủa xã hội loài người Cũng chính từ thời sơ khai đó, sở hữu và thừa kế đã xuấthiện như một tất yếu khách quan và mang tính chất là một phạm trù kinh tế,giữa chúng có mối liên quan qua lại ràng buộc với nhau

Khi xã hội phân chia thành giai cấp, nhà nước xuất hiện thì pháp luật thừa

kế đã có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì, cũng cố quyền sở hữu, từ chỗpháp luật quy định chế độ sở hữu về tài sản của cá nhân và cá nhân có cácquyền năng đối với tài sản của mình thì dựa theo đó, pháp luật quy định cho họ

có những quyền năng trong lĩnh vực thừa kế, công nhận quyền sở hữu được đểlại thừa kế sẽ có tác dụng kích thích cổ súy sự quản lý năng động của mỗingười, bởi họ tin rằng sự nghiệp của mình sẽ được kế tục bởi những người mìnhyêu thương Quyền sở hữu chỉ hoàn thành được vai trò động lực phát triển kinh

tế nếu nó chuyển giao bằng con đường thừa kế Về mặt tâm lý cá nhân chỉ cảmthấy được thoả mãn nếu quyền sở hữu vẫn tiếp tục tồn tại sau khi chủ sở hữuchết Giả sử chủ sở hữu phải đối mặt với viễn cảnh giao trả lại tài sản của mìnhcho nhà nước khi họ chết, thì họ sẽ không quan tâm chăm sóc tài sản hiện có màlại tiêu dùng một cách hoang phí vô độ và họ trở nên lười biếng, thờ ơ với laođộng, với hoạt động sáng tạo

Vì vậy, Pháp luật thừa kế ở nước ta, trước hết nhằm đảm bảo quyền lợicho người lao động, thành quả lao động của bản thân họ được tôn trọng, khi họchết thành quả đó được chuyển sang cho những người thừa kế của họ Mặt khácvới tư cách là hệ lụy của quyền sở hữu, Pháp luật thừa kế còn là phương tiện để

Trang 18

bảo đảm cho chủ sở hữu thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản của mình.Thông qua thừa kế của cải của một người được chuyển dịch từ đời này qua đờikhác Đặc biệt, ghi nhận và tôn trọng quyền định đoạt tài sản của người lập dichúc chính là việc pháp luật tôn trọng quyền định đoạt của chủ sở hữu đối vớitài sản của họ, bảo đảm cho người lập di chúc có quyền sử dụng tài sản ngay cảkhi chết, qua đó góp phần củng cố quyền sở hữu chính đáng của mọi cá nhân,bảo toàn và gia tăng tích luỹ của cải cho xã hội.

Ba là, pháp luật thừa kế góp phần quan trọng trong việc củng cố mối quan hệ đoàn kết giữa các thành viên trong gia đình, góp phần đảm bảo ổn định cuộc sống cộng đồng và xã hội.

Thừa kế di sản chính là sự chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sảncủa cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa kế Ngườithừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản được hưởng theo di chúc hoặc theopháp luật Với ý nghĩa có tầm quan trọng như vậy, nên trong bất kỳ xã hội cógiai cấp nào, thừa kế hiện là vấn đề "nóng bỏng" trong các quan hệ xã hội Sựvận động của nó nếu tách khỏi sự điều chỉnh của pháp luật sẽ không tránh khỏinhững xung đột, thậm chí là những cuộc "chiến tranh tài sản" kéo dài và có khi

là những cuộc đổ máu ngay trong bản thân gia đình, dòng họ của người đã chết

Trong giai đoạn hiện nay, do tác động mặt trái của cơ chế thị trường, cùngvới số lượng và giá trị tài sản của cá nhân ngày càng đa dạng, phong phú và trị giángày càng lớn thì vấn đề thừa kế di sản cũng nảy sinh nhiều dạng tranh chấp Hàngnăm có hàng ngàn vụ án kiện về thừa kế mà Tòa án nhân dân các cấp phải giảiquyết nhiều vụ tranh chấp về thừa kế phải xét xử nhiều lần mà tính thuyết phụckhông cao Nhiều bản án quyết định của toà án vẫn được coi là "chưa thấu tình đạtlý" Điều đó đã phá vỡ cả hệ thống tiêu chí đạo đức, mỹ tục, truyền thống tốtđẹp của dân tộc, gây bất ổn cho mỗi gia đình, cộng đồng, xã hội Chính vì lẽ đónhà nước cần phải tăng cường sự điều chỉnh của pháp luật, đối với quan hệ thừa

kế là một yêu cầu tất yếu khách quan Thông qua các quy phạm pháp luật thừa

kế, các bên tham gia quan hệ thừa kế thấy rõ được các quyền và nghĩa vụ củamình cũng như trình tự thủ tục cách thức để thực hiện quyền đó Trên cơ sở đó,các chủ thể để lại di sản cũng như nhận di sản thừa kế tự điều chỉnh hành vi củamình cho phù hợp với các chuẩn mực pháp lý, tạo lập được một hệ thống cácquan hệ tốt đẹp giữa người với người, sau khi người để lại di sản chết, góp phầnvào việc củng cố sự đoàn kết và thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển

Trang 19

Bốn là, pháp luật thừa kế có vai trò to lớn trong việc giữ gìn, phát huy các phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc

Đạo đức, các phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp là nét văn hoámang bản sắc của mỗi dân tộc, được hình thành từ lâu đời và luôn được mọingười tôn trọng Đó chính là tính tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau vớiphong tục, tập quán tốt đẹp "lá lành đùm lá rách" Một nền pháp luật chỉ tồn tại

và bền vững khi phù hợp với đạo đức và truyền thống tốt đẹp của dân tộc.Phong tục tập quán có vai trò rất quan trọng cùng với pháp luật nhà nước thamgia quản lý xã hội Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước tađặc biệt chú trọng đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, nhất làtrong bối cảnh hiện nay, khi chúng ta thực hiện chính sách mở cửa giao lưu vàhội nhập "trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế phảiđặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc dân tộc, kế thừa phát huy truyềnthống đạo đức tập quán tốt đẹp Tư tưởng chỉ đạo này đã đi vào thực tiễn hoạtđộng lập pháp của nhà nước ta, nhiều phong tục tập quán tốt đẹp đã được "luậthoá " thành các quy phạm pháp luật Chúng ta có thể tìm thấy các quy phạmtrong luật dân sự hoặc hôn nhân gia đình, đặc biệt trong lĩnh vực thừa kế, mộtlĩnh vực điều chỉnh pháp luật liên quan nhiều đến phong tục, tập quán đạo đức:

Trước hết, khi nói về thừa kế theo di chúc, pháp luật quy định về thừa kếnhư: cho người lập di chúc có quyền truất quyền hưởng di sản của những ngườithuộc diện thừa kế theo pháp luật Nhưng để bảo vệ lợi ích cho một số ngườitrong diện những người thừa kế theo pháp luật, phù hợp với phong tục, tập quántruyền thống tốt đẹp nhân dân ta, pháp luật đã hạn chế quyền lập di chúc, thểhiện tại điều 699 Bộ luật dân sự "những người sau đây vẫn được hưởng phần disản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chiatheo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chóc cho hưởng disản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn 2/3 suất đó, trừ khi họ là nhữngngười từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là người không cóquyền hưởng di sản theo quy định luật này Bao gồm: 1 Con chưa thành niên,cha, mẹ, vợ, chồng; 2 Con đã thành niên mà không có khả năng lao động"

Như vậy, mặc dù người lập di chúc không cho những người này hưởng disản, nhưng pháp luật quy định ưu tiên cho họ phải được hưởng một kỷ phầnnhất định từ di sản của người đă chết Bởi vì theo truyền thống tốt đẹp của nhândân ta, trong gia đình các con phải kính trọng, nuôi dưỡng cha mẹ Ngược lạicha mẹ phải nuôi dưỡng các con chưa thành niên hoặc con bị tàn phế không tự

Trang 20

nuôi sống được bản thân, vợ chồng phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau trongcuộc sống; giữa những người này ngoài nghĩa vụ pháp lý họ còn có nghĩa vụđạo đức đối với nhau

Hoặc tại khoản 3 điều 648 và điều 670 BLDS 2005 có quy định "ngườilập di chúc có quyền dành một khối di sản để thờ cúng" Đây là phong tục, tậpquán có từ lâu đời và hiện nay vẫn được coi trọng Việc thờ cúng tổ tiên đượcthực hiện trên cơ sở của quan niệm mang tính chất đạo đức và văn hoá, tôntrọng và biết ơn công sinh thành, dưỡng dục, con người có nguồn cội, tổ tôngcho nên con cháu phải tôn trọng và biết ơn những thế hệ trước mình Trong thờcóng tổ tiên, di sản thờ cúng có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó không chỉ có ýnghĩa về mặt vật chất mà còn có giá trị về mặt tinh thần Vì vậy, từ các Bộ cổluật xa xưa đến Bộ dân luật Bắc kỳ 1931, Bộ dân luật Trung kỳ 1936 cũng nhưBLDS 1995, 2005 đều quy định hết sức tỷ mỉ và chặt chẽ về di sản dùng vàothờ cúng Phải nói rằng, đây là nét đặc thù trong pháp luật Việt Nam, điều màkhó tìm thấy trong các nền luật pháp phương Tây Như vậy có thể nói một sốquy phạm Pháp luật thừa kế là các quy phạm đạo đức được nâng lên thành luật.Quy phạm đạo đức này gắn chặt với phong tục tập quán của người Việt Namtrong mối quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong gia đình với nhau Vì lẽ đógiữ gìn và phát huy những phong tục tập quán tốt trong đời sống xã hội là mộtđảm bảo quan trọng để các quy định pháp luật đi vào thực tế cuộc sống

1.4 Một số quy định pháp luật về quan hệ thừa kế giữa ông bà nuôi và cháu nuôi (theo BLDS 1995, 2005)

1.4.1 Pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi thực tế

Nuôi con nuôi thực tế là một hiện tượng khách quan luôn tồn tại trong đờisống xã hội ở nước ta Tuy nhiên không phải lúc nào nhà nước cũng ban hànhcác quy phạm pháp luật để điều chỉnh vấn đề này Thông thường quan hệ nuôicon nuôi thực tế được điều chỉnh, giải quyết bằng các quy phạm đạo đức vàphong tục tập quán Nhà nước đã có sự điều chỉnh bằng pháp luật đối với quan

hệ nuôi con nuôi thực tế qua một số văn bản pháp luật trong mỗi giai đoạn nhấtđịnh

Luật HN&GĐ năm 1959 là đạo luật đầu tiên của nhà nước ta điều chỉnhvấn đề nuôi con nuôi Trong Luật này, vấn đề nuôi con nuôi mới chỉ được quyđịnh rất sơ sài bởi một điều luật (Điều 24) Theo quy định của điều luật này thì

“việc nhận nuôi con nuôi phải được Ủy ban hành chính cơ sở mơi trú quán của

Trang 21

người nuôi hoặc của đứa trẻ công nhận và ghi vào sổ hộ tịch” Tuy nhiên, Luật

HN&GĐ năm 1959 không có quy định gì về các điều kiện của việc nuôi connuôi

Luật HN&GĐ năm 1986 quy định về nuôi con nuôi trong một chươngriêng, với quy định về tuổi của người được nhận làm con nuôi, ý chí của các bên

và “việc nhận nuôi con nuôi phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và ghi vào sổ hộ tịch” Như vậy, Luật HN&GĐ năm 1959 và Luật

HN&GĐ năm 1986 đều quy định việc nhận nuôi con nuôi phải được cơ quannhà nước có thẩm quyền công nhận và ghi vào sổ hộ tịch thì mới có giá trị pháp

Với các quy định tại Luật HN&GĐ năm 1959, Luật HN&GĐ năm 1986như trên đã dẫn đến cách hiểu là việc nuôi con nuôi chỉ cần cơ quan nhà nước cóthẩm quyền công nhận và ghi vào sổ hộ tịch mà không bắt buộc phải đăng kýviệc nuôi con nuôi như quy định tại Điều 72 Luật HN&GĐ năm 2000 Tuynhiên theo quan điểm của chúng tôi thì cách hiểu như vậy là chưa đúng với bảnchất của việc đăng ký hộ tịch Theo các văn bản pháp luật về đăng ký hộ tịch thì

có thể hiểu đăng ký hộ tịch bao gồm hai việc gắn liền với nhau: đó là công nhậncác sự kiện hộ tịch (hoặc còn gọi là xác nhận các sự kiện hộ tịch theo Điều 1Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộtịch, Điều 1 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005) và ghi các sự kiện

đã được công nhận đó vào sổ hộ tịch Điều này cũng được thể hiện rõ ràng trongĐiều lệ đăng ký hộ tịch ban hành kèm theo Nghị định số 04/CP ngày 16/1/1961

và Thông tư số 05 –NV ngày 21/1/1961 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành Điều

lệ đăng ký hộ tịch mới (mục D: Đăng ký và ghi chú việc nuôi con nuôi) Sựcông nhận việc nuôi con nuôi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được thểhiện bằng Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi Quyết định đó được traocho các bên đương sự, là một loại giấy tờ hộ tịch và là chứng cứ pháp lý xácnhận sự kiện hộ tịch của cá nhân Đồng thời với việc ra quyết định công nhậnviệc nuôi con nuôi, việc nhận nuôi con nuôi phải được ghi vào sổ hộ tịch Ghivào sổ hộ tịch là việc xác nhận một sự kiện hộ tịch và lưu trữ những thông tingắn liền với nhân thân của cá nhân vào sổ gốc, là cơ sở pháp lý làm phát sinh,thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của cá nhân Những thông tin vềviệc nuôi con nuôi được ghi trong sổ hộ tịch (cụ thể là Sổ đăng ký việc nuôi connuôi) là cơ sở để cấp lại bản sao Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi khi

Ngày đăng: 27/12/2013, 23:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w