1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu bào chế thuốc dán thấm qua da scopolamin 1,5 mg

208 952 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu bào chế thuốc dán thấm qua da scopolamin 1,5 mg
Tác giả Vũ Thị Huỳnh Hân
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Hậu, GS.TS. Lê Quan Nghiệm
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Bào chế
Thể loại Luận án tiến sĩ dược học
Năm xuất bản 2013
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 3,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ trị liệu qua da với dạng bào chế là thuốc dán, còn gọi là thuốc dán thấm qua da transdermal therapeutic system, TTS, được thiết kế sao cho dược chất có thể giải phóng, hấp thu qua da

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS LÊ HẬU

2 GS.TS LÊ QUAN NGHIỆM

TP HỒ CHÍ MINH - 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Vũ Thị Huỳnh Hân

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Mục lục iii

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt iv

Danh mục các bảng vi

Danh mục các hình ix

Đặt vấn đề 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Hệ trị liệu hấp thu qua da 3

1.2 Scopolamin 18

1.3 Một số chỉ tiêu chất lượng thuốc dán TTS 21

1.4 Sinh khả dụng và tương đương sinh học 24

CHƯƠNG 2 NGUYÊN LIỆU, THIẾT BỊ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 Nguyên liệu và thiết bị 36

2.2 Phương pháp nghiên cứu 38

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 60

3.1 Nghiên cứu bào chế thuốc dán TTS 60

3.2 Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở thuốc dán TTS 92

3.3 Nghiên cứu độ ổn định thuốc dán TTS 94

3.4 Nghiên cứu sinh khả dụng thuốc dán TTS 102

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 133

4.1 Về nghiên cứu bào chế thuốc dán TTS 133

4.2 Về xây dựng tiêu chuẩn cơ sở thuốc dán TTS 137

4.3 Về độ ổn định thuốc dán TTS 138

4.4 Về đánh giá sinh khả dụng thuốc dán TTS 139

KẾT LUẬN 143

KIẾN NGHỊ 145 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

concentration-time curve from zero hour to infinity

Diện tích dưới đường cong từ thời điểm 0 đến vô cùng

concentration - time curve from zero hour to time

Diện tích dưới đường cong từ thời điểm 0 đến t

thực phẩm Mỹ

spectrometry

Sắc ký khí khối phổ

Trang 5

HBsAg Hepatitis B surface Antigen Kháng nguyên bề mặt của

siêu vi B

chromatography - mass spectrometry

Sắc ký lỏng hiệu năng cao ghép đầu dò khối phổ

LC-MS/MS Liquid Chromatography

Tandem Mass Spectrometry

Sắc ký lỏng ghép 2 lần khối phổ

concentration

Thời điểm đạt nồng độ tối đa trong máu

UPLC-MS/MS

Ultra-Performance Liquid Chromatography tandem Mass Spectrometry

Sắc ký lỏng siêu hiệu năng đầu dò khối khổ

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Các thông số thấm qua da chuột của dung dịch scopolamin 5%

trong các chất tăng thấm 15

Bảng 1.2 Tóm tắt một số điều kiện nghiên cứu sinh khả dụng và tương đương sinh học của scopolamin hấp thu qua da 34

Bảng 2.1 Tốc độ phóng thích của dược chất theo thời gian 47

Bảng 3.1 Kết quả khảo sát tính phù hợp hệ thống 60

Bảng 3.2 Tương quan giữa nồng độ và diện tích đỉnh của SH 63

Bảng 3.3 Kết quả kiểm tra độ chính xác của phương pháp định lượng SH 64

Bảng 3.4 Kết quả kiểm tra độ đúng của phương pháp định lượng SH 65

Bảng 3.5 Lượng SH thấm qua da chuột theo thời gian với nhóm alcol 67

Bảng 3.6 Lượng SH thấm qua da chuột theo thời gian với DMSO 68

Bảng 3.7 Lượng SH thấm qua da chuột theo thời gian với acid oleic 69

Bảng 3.8 Lượng SH thấm qua da chuột theo thời gian với nhóm ester 70

Bảng 3.9 Lượng SH thấm qua da chuột theo thời gian với transcutol P 71

Bảng 3.10 Tổng kết các thông số thấm của SH bão hòa trong các chất tăng thấm (sắp xếp theo thứ tự giảm dần của tốc độ thấm) 73

Bảng 3.11 Khối lượng SH trong các nền dính khảo sát 74

Bảng 3.12 Lượng SH thấm qua da chuột với các Duro-Tak® (-OH) 75

Bảng 3.13 Lượng SH thấm qua da chuột với các Duro-Tak® (-COOH) 77

Bảng 3.14 Lượng SH thấm qua da chuột với các Duro-Tak® có 2 nhóm chức

và không có nhóm chức 78

Bảng 3.15 Tổng kết các thông số thấm của SH trong các Duro-Tak® 79

Bảng 3.16 Lượng SH thấm qua da chuột với các nồng độ khác nhau trong

DT 87-2510 81

Bảng 3.17 Các thông số thấm của SH 2% trong DMSO 83

Bảng 3.18 Các thông số thấm của SH với những nồng độ khác nhau có

DMSO 10% trong DT 87-2510 84

Trang 7

Bảng 3.19 So sánh các thông số thấm của thuốc dán chứa SH 8% có sử dụng

DMSO và không sử dụng DMSO 85

Bảng 3.20 Kết quả định lượng thuốc dán chứa SH nồng độ 8% 85

Bảng 3.21 Thành phần công thức 86

Bảng 3.22 Kết quả kiểm tra chất lượng thuốc dán TTS từ 3 lô 89

Bảng 3.23 Kết quả thử tính kích ứng của thuốc dán TTS scopolamin (lô 1) 90

Bảng 3.24 Kết quả thử độ hòa tan từ 3 lô 91

Bảng 3.25 So sánh các số liệu phóng thích SH từ thuốc dán TTS của 3 lô 92

Bảng 3.26 Đánh giá hình thức cảm quan của thuốc dán TTS scopolamin

ở điều kiện lão hóa cấp tốc 94

Bảng 3.27 Hàm lượng SH trong thuốc so với ban đầu trong điều kiện bảo quản

ở nhiệt độ 40 ± 2 oC và độ ẩm tương đối 75 ± 5% 96

Bảng 3.28 Kết quả thử độ hòa tan của thuốc dán TTS bảo quản ở nhiệt độ

40 ± 2 oC và độ ẩm tương đối 75 ± 5% 97

Bảng 3.29 Hàm lượng thuốc theo thời gian trong điều kiện bảo quản ở nhiệt độ

30 ± 2 oC và độ ẩm tương đối 75 ± 5% 99

Bảng 3.30 Độ hòa tan của SH theo thời gian được bảo quản trong điều kiện

nhiệt độ 30 ± 2 oC và độ ẩm tương đối 75 ± 5% 100

Bảng 3.31 Kết quả tính tuổi thọ thuốc dán TTS 101

Bảng 3.32 So sánh độ phóng thích hoạt chất in vitro của thuốc đối chiếu và

thuốc thử nghiệm (n = 12) 103

Bảng 3.33 Các thông số sắc ký trong mẫu chuẩn ở nồng độ 0,4 ng/ml 106

Bảng 3.34 Sự tương quan giữa nồng độ SH trong huyết tương và diện tích đỉnh 108

Bảng 3.35 Kết quả khảo sát độ đúng, độ chính xác giữa các lần đo trong ngày 109

Bảng 3.36 Kết quả khảo sát độ đúng, độ chính xác giữa các lần đo khác ngày 110

Bảng 3.37 Tỷ lệ hồi phục của SH trong huyết tương 111

Bảng 3.38 Độ ổn định của mẫu huyết tương sau 3 chu kỳ đông - rã đông 113

Bảng 3.39 Dữ liệu về người tình nguyện 115

Bảng 3.40 Thời gian người tình nguyện dán thuốc 116

Trang 8

Bảng 3.41.Nồng độ đo SH của từng cá thể sau khi dán thuốc thử nghiệm 118

Bảng 3.42 Nồng độ đo SH của từng cá thể sau khi dán thuốc đối chiếu 119

Bảng 3.43 Nồng độ thực SH trong huyết tương của từng cá thể sau khi

dán thuốc thử nghiệm 120

Bảng 3.44 Nồng độ thực SH trong huyết tương của từng cá thể sau khi

dán thuốc đối chiếu 121

Bảng 3.45 Nồng độ scopolamin trong huyết tương của từng cá thể sau khi

dán thuốc thử nghiệm 122

Bảng 3.46 Nồng độ scopolamin trong huyết tương của từng cá thể sau khi

dán thuốc đối chiếu 123

Bảng 3.47 Nồng độ scopolamin trung bình của các cá thể sau khi dán thuốc

đối chiếu và thuốc thử nghiệm ở những thời điểm khác nhau 124

Bảng 3.48 Nồng độ scopolamin tối đa trong huyết tương 125

Bảng 3.49 Diện tích dưới đường cong AUC0-72 126

Bảng 3.50 Diện tích dưới đường cong AUC0-∞ 127

Bảng 3.51 Các thông số dược động học trung bình của thuốc thử nghiệm

và thuốc đối chiếu 127

Bảng 3.52 Các thông số dược động học khác 128

Bảng 3.53 Phân tích phương sai hai yếu tố các thông số AUC, Cmax 129

Bảng 3.54 Kết quả xác định khoảng tin cậy 130

Bảng 3.55 So sánh giá trị Tmax theo phương pháp thống kê phi tham số 131

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Cấu trúc điển hình của thuốc dán TTS 4

Hình 1.2 Sơ đồ các giai đoạn bào chế thuốc dán TTS có cấu trúc bể chứa 6

Hình 1.3 Sơ đồ các giai đoạn bào chế thuốc dán TTS có cấu trúc một lớp 38

Hình 1.4 Tác động của chất tăng thấm trong vùng lipid nội bào 11

Hình 2.1 Đồ thị tương quan lượng thuốc thấm qua da trên một đơn vị

diện tích theo thời gian 41

Hình 3.1 Sắc ký đồ của mẫu SH chuẩn 61

Hình 3.2 Sắc ký đồ của mẫu trắng (dung dịch đệm - da) 62

Hình 3.3 Sắc ký đồ mẫu thử (SH trong dung dịch đệm - da) 62

Hình 3.4 Đường biểu diễn sự tương quan giữa nồng độ và diện tích đỉnh

của SH 63

Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn sự thấm của SH bão hòa trong nhóm alcol 66

Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn sự thấm của SH bão hòa trong DMSO 68

Hình 3.7 Đồ thị biểu diễn sự thấm của SH bão hòa trong acid oleic 69

Hình 3.8 Đồ thị biểu diễn sự thấm của SH bão hòa trong nhóm ester 71

Hình 3.9 Đồ thị biểu diễn sự thấm của SH bão hòa trong transcutol P 72

Hình 3.10 Đồ thị biểu diễn sự thấm của SH bão hòa trong các chất tăng thấm 73

Hình 3.11 Đồ thị biểu diễn sự thấm của SH trong các DT nhóm chức -OH 76

Hình 3.12 Đồ thị biểu diễn sự thấm của SH trong DT nhóm chức -COOH 76

Hình 3.13 Đồ thị biểu diễn sự thấm của SH trong DT nhóm chức -COOH-OH

và không nhóm chức 79

Hình 3.14 Đồ thị biểu diễn sự thấm của SH trong các Duro-Tak® 80

Hình 3.15 Đồ thị biểu diễn sự thấm của SH trong DT 87-2510 81

Hình 3.16 Tương quan giữa nồng độ và tốc độ thấm qua da chuột của SH 82

Hình 3.17 Sơ đồ quy trình bào chế thuốc dán TTS scopolamin 88

Hình 3.18 Đường biểu diễn phóng thích SH từ sản phẩm của 3 lô 91

Hình 3.19 Sự thay đổi hàm lượng SH trong miếng dán trong điều kiện

bảo quản ở nhiệt độ 40 ± 2 oC và độ ẩm tương đối 75 ± 5% 95

Trang 10

Hình 3.20 Sự thay đổi hàm lượng SH trong miếng dán bảo quản

trong điều kiện thực 98

Hình 3.21 Đồ thị so sánh lượng SH phóng thích in vitro của thuốc thử nghiệm

và thuốc đối chiếu (f2 = 69,79) 103

Hình 3.22 Sắc ký đồ của huyết tương chứa SH 0,8 ng/ml sau 4 lần tủa 105

Hình 3.23 Sắc ký đồ của mẫu huyết tương trắng 107

Hình 3.24 Sắc ký đồ của mẫu huyết tương có SH 107

Hình 3.25 Đồ thị biểu diễn sự tuyến tính giữa nồng độ SH trong huyết tương

và diện tích đỉnh của SH 108

Hình 3.26 Sắc ký đồ của mẫu SH trong huyết tương nồng độ 0,1 ng/m 112

Hình 3.27 Sắc ký đồ của mẫu huyết tương trắng 112

Hình 3.28 Đồ thị biểu diễn nồng độ scopolamin trong huyết tương theo thời gian của thuốc thử nghiệm và thuốc đối chiếu 124

Trang 11

Hệ trị liệu qua da với dạng bào chế là thuốc dán, còn gọi là thuốc dán thấm qua da (transdermal therapeutic system, TTS), được thiết kế sao cho dược chất có thể giải phóng, hấp thu qua da theo mức độ và tốc độ xác định để có tác động toàn thân và kéo dài với những ưu điểm được ghi nhận như sau: sự hấp thu thuốc qua da loại bỏ những bất lợi do ảnh hưởng của các yếu tố sinh lý trong ống tràng vị như pH, thực phẩm, nước uống, nhu động ruột Thuốc được đưa trực tiếp vào tuần hoàn chung, không bị chuyển hóa qua gan lần đầu, tiện lợi và hữu hiệu hơn so với đường uống và đường tiêm, linh động trong sử dụng vì có thể làm giảm ngay nồng độ thuốc trong máu bằng cách gỡ bỏ lớp thuốc dán

Năm 1980, Transderm - Scop do công ty dược phẩm ALZA, Mỹ sản xuất, được xem như là thuốc dán TTS đầu tiên chứa hoạt chất scopolamin có tác dụng chống nôn do

di chuyển Ưu điểm của dạng thuốc là kiểm soát được tốc độ phóng thích theo thời gian nên duy trì sự ổn định của nồng độ thuốc trong máu, giảm tác dụng phụ, và tác dụng kéo dài trong 72 giờ

Do những ưu điểm và triển vọng phát triển dạng thuốc này, việc nghiên cứu bào chế một dạng thuốc dán hấp thu qua da với hoạt chất có nhu cầu trị liệu cao, có trong danh mục thuốc thiết yếu của Việt Nam, thay thế dược phẩm ngoại nhập, là một yêu cầu bức thiết cũng như góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp dược Việt Nam phát triển những dạng bào chế mới

Tại Việt Nam, chưa có chế phẩm nào dưới dạng thuốc dán thấm qua da có chứa hoạt chất scopolamin được sản xuất trong nước

Trang 12

Đề tài “NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ THUỐC DÁN THẤM QUA DA SCOPOLAMIN 1,5 mg” được thực hiện với mục tiêu nghiên cứu là bào chế thuốc

dán thấm qua da (thuốc dán TTS) scopolamin 1,5 mg đạt tiêu chuẩn cơ sở

Để đạt được mục tiêu trên, các nội dung nghiên cứu gồm:

1 Bào chế thuốc dán TTS scopolamin 1,5 mg phóng thích kéo dài trong 72 giờ

2 Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở thuốc dán TTS

3 Nghiên cứu độ ổn định và ước tính tuổi thọ của sản phẩm

4 Sơ bộ đánh giá sinh khả dụng của thuốc dán TTS scopolamin 1,5 mg so sánh với thuốc dán Ariel TDDS (Caleb pharmaceutical Inc Đài Loan) đang lưu hành tại thị trường Việt Nam

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 HỆ TRỊ LIỆU HẤP THU QUA DA

Hệ trị liệu hấp thu qua da (TTS) hay còn gọi là hệ chuyển giao thuốc qua da (TDDS) là một hệ thống trị liệu có tác động kéo dài, đưa dược chất vào hệ tuần hoàn qua đường da Sự hấp thu thuốc qua da liên quan đến các quá trình: sự hòa tan của thuốc trong các chất mang của nó, sự khuếch tán của thuốc hòa tan từ chất mang đến bề mặt của da, sự thấm của thuốc qua những lớp da (chủ yếu là lớp sừng) sau đó thuốc đi vào mao mạch hoặc hệ bạch huyết vào tuần hoàn chung Trong hầu hết trường hợp, tốc độ đi qua lớp sừng quyết định tốc độ của toàn bộ quá trình hấp thu thuốc TTS là một hệ thống phóng thích thuốc đến da với một tốc độ kiểm soát chặt chẽ, thấp hơn trị số tối đa của thuốc có thể đi qua da trong điều kiện bình thường để cho tác động toàn thân Như vậy, chính hệ thống kiểm soát tốc độ thuốc thấm qua da chứ không phải lớp sừng [12]

1.1.1 MỘT SỐ LOẠI THUỐC DÁN HẤP THU QUA DA THEO CẤU TRÚC

Thuốc dán là dạng thuốc dùng dán ngoài da (da nguyên lành) nhờ chất kết dính ở thể rắn hay bán rắn dễ bám vào da ở nhiệt độ cơ thể Thuốc dán tác dụng toàn thân thuộc

hệ trị liệu hấp thu qua da (TTS) chứa dược chất và các tá dược như chất tăng thấm dung môi hòa tan và các chất dính có nguồn gốc từ các dẫn xuất của acrylic, isopren hay silicon cho phép dược chất thấm qua da gây tác dụng toàn thân [7], [29], do vậy thuật ngữ thuốc dán TTS sẽ được sử dụng khi đề cập đến dạng bào chế này Tác động của thuốc dán TTS được xác định bởi tốc độ phóng thích dược chất khỏi thuốc dán với thời gian đã được xác định Cấu tạo cơ bản của thuốc dán TTS bao gồm: lớp lưng, lớp chứa hoạt chất và tá dược, lớp này có thể có nhiều lớp với những thiết kế khác nhau, cuối cùng là lớp bảo vệ Tùy theo cấu trúc và cơ chế kiểm soát sự phóng thích dược chất, các thuốc dán TTS có thể phân biệt thành 4 loại (Hình 1.1)

Trang 14

Hình 1.1 Cấu trúc điển hình của thuốc dán TTS [81]

1.1.1.1 Thiết kế thuốc dán kiểu bể chứa chất lỏng (Liquid Reservoir-Type

Patch Design)

Thuốc dán kiểu bể chứa chất lỏng là dạng triển khai sớm nhất, trong hệ thống này bể

chứa thuốc được thiết kế nằm giữa lớp nền mang khối thuốc, lớp lưng bảo vệ không thấm nước và lớp màng polyme kiểm soát tốc độ phóng thích hoạt chất [33] Bể chứa thuốc được thực hiện bằng cách phân tán đồng nhất những phân tử thuốc dạng rắn vào chất kết dính (ví dụ polyisobutylen), hỗn hợp này lại được phân tán vào dịch lỏng nhớt, không thấm nước (ví dụ như silicon) tạo thành nhũ tương đặc, hoặc là hỗn hợp

sẽ được hòa tan trong dung môi (ví dụ như alcol mạch thẳng) để tạo thành dung dịch thuốc Quy trình bào chế bao gồm 3 giai đoạn chính, đầu tiên các lớp màng kiểm soát, chất kết dính được cán thành từng lớp trên lớp bảo vệ qua máy cán chuyên dụng, sau đó bể chứa thuốc được hình thành trên các lớp này và cuối cùng là lớp lưng hàn kín bể chứa thuốc (Hình 1.2) Cơ chế vận chuyển thuốc đến bề mặt của da là sự khuếch tán qua các lớp màng, trong đó màng xốp giữ vai trò kiểm soát tốc độ phóng thích Tốc độ phóng thích hoạt chất có thể được kiểm soát bằng cách thay đổi thành phần polyme, hệ số thấm và/hoặc bề dày lớp màng polyme [12]

Trang 15

Mặt ngoài của lớp polyme là một màng dính để giữ cho hệ thống tiếp xúc chặt chẽ với da [81] Các ethylen vinyl acetat (EVA), ethyl cellulose, chất dẻo silicon và polyurethan thường được sử dụng để bào chế màng kiểm soát tốc độ phóng thích hoạt chất trong thuốc dán TTS [51], [54], [56], [57] Trong đó EVA được sử dụng thường xuyên nhất vì có thể thay đổi tính thấm của màng bằng cách điều chỉnh hàm lượng vinyl acetat trong polyme Polyurethan và các polyme không phân cực như chất dẻo silicon là những màng đặc biệt phù hợp với những hợp chất sơ nước có độ thẩm thấu thấp [22]

Năm 1990, Liang và các cộng sự đã nghiên cứu tốc độ phóng thích scopolamin của

thuốc dán TTS qua màng EVA so với thuốc dán cùng loại không có màng kiểm soát Kết quả, thuốc dán TTS có màng EVA đã phóng thích scopolamin với một tỷ lệ ổn định trong suốt 72 giờ [57] Ưu điểm chính của thuốc dán TTS loại bể chứa là khả năng bám dính cao, thuốc đạt được nồng độ ổn định trong máu, thích hợp để thiết kế với những dược chất có yêu cầu liều tương đối cao, ví dụ như testosteron Tuy nhiên,

sự phóng thích dược chất của thuốc dán khó kiểm soát do phải khuếch tán qua màng

và lớp kết dính, việc điều chế đòi hỏi nhiều thiết bị phức tạp Ngoài ra, với cấu trúc này thuốc dán bao gồm nhiều lớp và một màng bao cho bể chứa chất lỏng đã làm cho kích thước thuốc dán tăng lên, không tiện lợi trong sử dụng

Hiện nay, việc sử dụng các chất tăng thấm và chất kết dính cho phép nhiều loại thuốc (như estradiol, nicotin, nitroglycerin) ban đầu thiết kế kiểu bể chứa được sử dụng như các hệ thống kiểu khung polyme [36]

Trang 16

Hình 1.2 Sơ đồ các giai đoạn bào chế thuốc dán TTS có cấu trúc bể chứa

1.1.1.2 Thiết kế thuốc dán kiểu khung polyme (Polyme Matrix Patch Design) Thuốc dán kiểu khung polyme là loại thiết kế bổ sung của thuốc dán kiểu bể chứa,

nhưng thành phần lỏng của bể chứa thuốc được thay thế bằng một khung polyme, ví

dụ như polyisobutylen, khung polyme này được kẹp giữa lớp nền mang khối thuốc

và lớp dính [41] Khung polyme được bào chế bằng cách phân tán đồng nhất dược chất rắn vào chất kết dính polyme thân dầu hay thân nước Khối polyme chứa thuốc sau đó được đúc thành khung có diện tích bề mặt xác định và bề dày được kiểm soát

Trang 17

Khung polyme chứa thuốc được gắn trên đĩa nền nằm ngay dưới lớp lưng bảo vệ Trong hệ thống này chất kết dính được thiết kế thành lớp bao xung quanh phần chứa thuốc và sự phóng thích thuốc được kiểm soát bởi quá trình khuếch tán qua khối xốp Thuốc dán Scopoderm® TTS (Novartis) được thiết kế với cấu trúc này

Ưu điểm của thuốc dán TTS kiểu khung polyme là dược chất không bị thất thoát, khả năng phóng thích dược chất được kiểm soát tốt, tuy nhiên chất kết dính đòi hỏi khả năng bám dính rất cao [35], [62]

1.1.1.3 Thiết kế thuốc dán kiểu dược chất tan trong nền dính có cấu trúc một

lớp (Drug In Adhesive Patch Design)

Thuốc dán TTS kiểu dược chất tan trong nền dính có cấu trúc một lớp là dạng có

cấu trúc đơn giản nhất, dễ điều chế và thiết bị không phức tạp Dược chất được phân tán trực tiếp vào chất kết dính polyme hình thành khối thuốc trong nền dính Khối thuốc này một mặt được nâng đỡ bởi lớp nền và mặt kia có lớp bảo vệ không thấm nước, khi sử dụng, lớp bảo vệ được bóc đi và thuốc dán được dán vào da Tốc độ của

sự phóng thích thuốc phụ thuộc vào hệ số phân bố, nồng độ của thuốc trong chất kết dính, vào hệ số khuếch tán và bề dày của lớp dính [12] Vì vậy, chất kết dính trong thiết kế này phải có khả năng tương thích với dược chất và các tá dược trong công thức Đặc trưng của loại thiết kế này là miếng dán rất mỏng, nên cần lựa chọn lớp nền, tá dược phù hợp để bào chế thuốc dán đạt yêu cầu cao về độ mỏng và tiện lợi trong sử dụng Điểm bất lợi chủ yếu của loại thiết kế này liên quan đến tốc độ phân phối thuốc, cụ thể tốc độ thuốc phóng thích sẽ giảm dần và thuốc được phóng thích từ

hệ thống tỷ lệ thuận với nồng độ của thuốc trong chất kết dính

Các giai đoạn chính bào chế thuốc dán TTS bao gồm: trộn nền dính và các tá dược (theo công thức xác định) trong máy khuấy trộn với vận tốc thích hợp, phối hợp hoạt chất vào hỗn hợp thu được, cán hỗn hợp có hoạt chất trên lớp lưng và kiểm soát bề dày lớp này, sấy khô để bốc hơi dung môi tạo thành một lớp mỏng, dược chất trong lớp lưng được phủ một lớp bảo vệ, cuối cùng là đóng gói sản phẩm

Trang 18

Thiết kế này tuy đơn giản nhưng cần chú ý dược chất và tá dược tiếp xúc với nhiệt

độ cao để làm bốc hơi dung môi, điều này có thể làm cho dược chất bị phân hủy hoặc thay đổi tính chất cơ bản của các tá dược trong công thức [83]

1.1.1.4 Thiết kế thuốc dán kiểu dược chất tan trong nền dính có cấu trúc

nhiều lớp (Multi-lamilate DIA Patch Design)

Thiết kế này có cấu trúc tương tự như dạng thuốc dán kiểu dược chất tan trong nền

dính có cấu trúc một lớp, nhưng có thêm một lớp màng kiểm soát tốc độ phóng thích được kẹp giữa lớp khung nhạy dính chứa thuốc và lớp nền dính tiếp xúc với

da Do đó, sự phóng thích dược chất của thuốc dán theo thiết kế này được ổn định

và khả năng bám dính cao hơn so với thuốc dán có cấu trúc một lớp [81] Công ty Alza/Novartis đã sản xuất thuốc dán Transdermal-Scop® với thiết kế dược chất tan trong nền dính có cấu trúc nhiều lớp và sử dụng polyisobutylen làm chất kết dính

Qua các cấu trúc thuốc dán TTS đã trình bày, thiết kế thuốc dán kiểu dược chất tan trong nền dính có cấu trúc một lớp là dạng được nghiên cứu phổ biến hiện nay do thành phần đơn giản, điều chế theo thiết kế này không đòi hỏi trang thiết bị phức tạp và phù hợp với nhu cầu nghiên cứu hiện nay tại Việt Nam Vì thế, dạng này được đề tài chọn lựa để nghiên cứu điều chế thuốc dán TTS scopolamin 1,5 mg

1.1.2 THÀNH PHẦN THUỐC DÁN TTS KIỂU DƯỢC CHẤT TAN TRONG

NỀN DÍNH CÓ CẤU TRÚC MỘT LỚP

1.1.2.1 Dược chất

Da là hàng rào cản trở sự thấm và hấp thu dược chất trong hệ trị liệu hấp thu qua da,

vì vậy dược chất sử dụng trong thuốc dán TTS phải có một số tính chất phù hợp để

có thể vượt qua được rào cản này Cụ thể là dược chất cần có hoạt lực mạnh với liều điều trị không quá 2 mg/ngày, hệ số phân bố log Poctanol/nước trong khoảng 1-3, kích thước phân tử nhỏ hơn 500 Da, nhiệt độ nóng chảy thấp hơn 200 oC Ngoài ra, dược chất không gây kích ứng và mẫn cảm với da [26] Dược chất scopolamin hydrobromid hầu như đáp ứng được các yêu cầu này

Trang 19

1.1.2.2 Chất nhạy dính (Pressure Sensitive Adhesive - PSA)

Chất nhạy dính là vật liệu giúp để duy trì sự kết dính giữa thuốc dán và bề mặt da,

phải bám dính nhanh lên da ngay (thể hiện tính dính nhanh khi đang ở trạng thái khô với áp lực nhẹ của ngón tay) và kéo dài suốt thời gian dùng thuốc (nhiều ngày)

mà không gây kích ứng Chất nhạy dính phải đủ mềm để dễ dính ban đầu và lực liên

kết nội phải hữu hiệu để khi gỡ ra không để lại vết dơ trên da Ngoài ra lực liên kết nội và tính dính phải cân bằng để duy trì thuốc dán trên da trong thời gian sử dụng,

vì tróc thuốc dán trước thời gian làm ảnh hưởng đến sự hấp thu thuốc [47] Việc lựa chọn chất nhạy dính cần dựa trên thiết kế thuốc dán và thành phần công thức Thuốc dán kiểu khung polyme với chất kết dính ngoại vi, sự liên kết giữa các chất nhạy

dính và dược chất không làm ảnh hưởng đến sự hấp thu của thuốc cũng như tính kết dính của sản phẩm Thuốc dán kiểu bể chứa là chất kết dính bề mặt, sự khuếch tán của thuốc không làm ảnh hưởng đến độ dính Thuốc dán kiểu dược chất tan trong nền dính, việc lựa chọn chất nhạy dính sẽ dựa trên tỷ lệ hấp thu, và khuếch tán của dược chất thông qua các nền dính Ngoài ra, chất nhạy dính phải có tính chất hóa lý

và sinh học tương thích với các thành phần trong công thức và không làm thay đổi

sự phóng thích dược chất Polyacrylat, polyisobutylen và silicon là những nền dính được sử dụng rộng rãi trong điều chế thuốc dán TTS

- Polyisobutylen (PIB) là polyme trùng hợp của isobutylen với mạch carbon dài và thẳng, có tính mềm dẻo và độ dính cao Tuy nhiên, do tính phân cực thấp nên độ bám dính của PIB trên bề mặt yếu PIB bền với nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng, nhưng

để tăng cường khả năng chịu được các điều kiện khắc nghiệt có thể thêm vào chất chống oxy hóa hay chất ổn định Ngày nay PIB đã được tiêu chuẩn hóa rất thích hợp cho thuốc dán TTS, như Vistanex® của công ty Hoá Chất Exon (Houston, Texas, USA), Oppanol® của tập đoàn BASF (Mount Olive, NJ, USA)

- Chất dính loại silicon được điều chế từ polydimethyl siloxan lỏng và silicat resin phân tử lượng thấp Silicon chịu được nhiệt độ cao và chất oxy hóa nhưng khả năng

Trang 20

bám dính và liên kết nội không cao Các silicon được thương mại hóa với tên BIOSPA® do tập đoàn DOW Corning (Midland, MI, USA) sản xuất

- Polyacrylat là các copolyme của ester acrylic với acid acrylic và các monome khác như n-butyl acrylat, hay 2-ethyl hexyl acrylat Thành phần có thể chứa các nhóm chức như -OH, -COOH, hoặc cả hai nhóm chức này, hay không có nhóm chức

Polyacrylat có tính chống oxy hóa cao, nên không cần thêm chất ổn định (chất ổn định thường gây kích ứng da), không độc hại với cơ thể, có độ bóc tách và tính bám dính trên da tốt và tương thích sinh học cao, nên thích hợp với nhiều loại dược chất

và tá dược Trong thiết kế các thuốc dán TTS, việc kết hợp các hoạt chất, chất tăng thấm, và các tá dược khác vào chất kết dính thường làm giảm độ kết dính và các đặc tính khác Tuy nhiên sự liên kết chéo của chất nhạy dính là một trong những kỹ thuật được sử dụng để giảm thiểu những hiệu ứng này và gia tăng mức độ giải phóng hoạt chất Polyacrylat ngày nay được tiêu chuẩn và thương mại hóa, thuận lợi trong nghiên cứu thuốc dán TTS như Duro-Tak® (National Starch and Chemical Co., U.S.A), Gelva, Bio-PSA® (Silicon Adhesive, Dow Corning, U.S.A.) Với ưu điểm đã được tiêu chuẩn hóa và có sẵn trên thị trường, đề tài đã chọn các Duro-Tak®

là chất nhạy dính trong nghiên cứu bào chế thuốc dán TTS scopolamin 1,5 mg

Yêu cầu chất tăng thấm phải không có tác dụng dược lý riêng, không độc, không gây kích ứng da và niêm mạc, không gây tương kỵ hoặc tương tác với dược chất và

Trang 21

các tá dược, là dung môi tốt cho dược chất, không có mùi, vị, màu sắc riêng, trơ về các mặt lý, hóa Có thể làm tăng hấp thu dược chất với nồng độ thấp, tác động tức thời, có hiệu quả phù hợp Khi gỡ bỏ thuốc dán, da phải được phục hồi ngay và hoàn toàn bản chất kháng thấm, không làm mất dịch cơ thể, dễ chấp nhận về mặt thẩm mỹ

Hoạt động tại lớp Lipid nội bào

Hình 1.3 Tác động của chất tăng thấm trong vùng lipid nội bào [86]

Các nhóm chất tăng thấm khảo sát bao gồm: sulfoxyd, alcol, alcol béo và glycol, acid béo, ester của acid béo và ether

Đuôi thân lipid

Nhóm phân cực

Sự linh động

Chất tăng thấm

Nhóm phân cực

Sự tách pha

Vùng thân nước

Sự phân tách lipid

Chất tăng thấm lipid

Trang 22

Tiêu biểu cho nhóm sulfoxyd là dimethyl sulfoxyd (DMSO), cơ chế tăng thấm của nhóm này khá phức tạp, làm gây biến tính protein, đối với da người nó làm thay đổi kết cấu vững chắc của keratin nội bào, DMSO còn có thể tương tác với lipid nội bào của lớp sừng DMSO thường được sử dụng rộng rãi, là một chất lỏng không màu, hòa tan được trong nước, alcol và ether và phần lớn các dung môi hữu cơ, có tính hút ẩm Các nghiên cứu đã cho thấy DMSO có ảnh hưởng đến sự gia tăng tính thấm đối với cả dược chất thân dầu và thân nước như chất kháng khuẩn, kháng virus, steroid; và sự tăng thấm này phụ thuộc vào nồng độ của DMSO, phải lớn hơn 50% Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây cho thấy, với nồng độ DMSO tương đối cao

có thể gây ra ban đỏ và làm biến tính protein [86]

Trong nhóm alcol, alcol béo và glycol, những chất khảo sát là polyethylen glycol

(PEG), dodecanol, propanediol, butanol, decanol, hexanol, octanol Cơ chế tăng

thấm của nhóm này là gây trương nở và tác động trên lớp lipid nội bào Đối với các alcol béo có sự liên quan giữa cấu trúc và tác dụng tăng thấm của các alcol, với những alcol mạch ngắn có từ 1 đến 8 carbon hệ số thấm của các alcol tăng tuyến tính với sự tăng chiều dài của nhánh alkyl, nguyên nhân có thể do sự tăng hấp thu của các alcol này qua da [53]

Tác dụng tăng thấm của các acid béo (acid oleic) phụ thuộc vào khả năng thấm qua lớp sừng của các chất này [52] Acid oleic được sử dụng nhiều để làm tăng tính thấm của nhiều hợp chất, ngoài cơ chế làm tăng sự hấp thu các chất, do tạo thành pha chia cắt thành phần lipid của lớp sừng làm giảm chức năng kháng thấm, acid oleic còn có thể làm tăng sự hydrat hóa của lớp này Acid oleic làm tăng tính thấm ở nồng độ tương đối thấp (thường thấp hơn 10%) và có thể tăng tác dụng khi phối hợp với các chất tăng thấm khác như polyethylen glycol

Đại diện cho nhóm ester của acid béo là isopropyl myristat (IPM), và nhóm ether là

diethylen glycol monoethyl ether (transcutol P), có cùng cơ chế gia tăng tính thấm

là tác động trên lớp lipid nội bào

Trang 23

IMP là chất lỏng không màu, không mùi, độ nhớt thấp, là ester của propan-2-ol và acid myristic, tan trong aceton, cloroform, ethanol 95%, ethyl acetat, chất béo, alcol béo, toluen, không tan trong glycerin, glycol và nước

1.1.2.4 Lớp lưng

Vật liệu lớp lưng phải có tính tương thích với các tá dược và dược chất, tăng cường

sự khuếch tán cũng như hấp thu của dược chất qua lớp sừng của da, có tính mềm dẻo, thoáng và không gây kích ứng da, ví dụ như vinyl, polyethylen và polyester [44]

1.1.2.5 Lớp bảo vệ

Lớp này được xem như vật liệu đóng gói sơ cấp của thuốc dán, tiếp xúc với dược chất và các tá dược nên phải có tính trơ về mặt hóa học và không ảnh hưởng đến sự phóng thích cũng như sự hấp thu của thuốc dán.Thông thường, lớp này thường làm

từ những vật liệu cơ bản như vải giấy, polyethylen, polyvinylclorid được phủ bên ngoài bởi một lớp silicon hay teflon, hoặc kim loạiđược dát mỏng [44]

1.1.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU CẢI THIỆN TÍNH THẤM QUA DA CỦA

SCOPOLAMIN

Hiện nay, nhiều nghiên cứu được thực hiện với mục đích cải thiện tính thấm của scopolamin qua da bao gồm phương pháp hóa học (sử dụng chất tăng thấm) hay phương pháp vật lý (hệ thống vi kim)

lý da trước khi dán thuốc [24]

Năm 2012, Shaoul và cộng sự [77] đã nghiên cứu để đánh giá tiềm năng sử dụng của

hệ thống bào quan (cnidocyst) như một hệ thống vi kim tự nhiên lên sự thấm của scopolamin hydrobromid qua da lợn Các loại thủy sản, bao gồm hải quỳ, san hô, sứa,

Trang 24

đã sử dụng bào quan như một công cụ để bắt những con mồi và tiêm nọc độc vào chúng Shaoul nghiên cứu các bào quan này dựa trên nguyên tắc hoạt động của chúng như sau: khi các bào quan khô được kích hoạt bởi dung dịch thuốc nước, các phân tử nước và phân tử thuốc sẽ thấm qua thành xốp của bào quan, làm cho chúng phóng ra các vi kim trong đó có chứa thuốc và xuyên qua da

Nghiên cứu sinh khả dụng in vivo của gel chứa 5% scopolamin có chứa các vi kim tự

nhiên được thực hiện trên lợn Nồng độ đỉnh của scopolamin trong huyết tương (Cmax) đã tăng cao hơn năm lần với thời gian ngắn hơn đáng kể trong nhóm thử nghiệm so với nhóm kiểm soát Thành công của nghiên cứu đã chứng minh hệ thống

vi kim tự nhiên có thể phóng thích dược chất qua da khởi đầu trong thời gian ngắn và thuốc được nhanh chóng tích lũy trong huyết tương

Thuốc dán TTS là phương pháp trị liệu có nhiều ưu điểm đã được chứng minh so với đường tiêm nên việc phát triển công nghệ mới này có những lợi ích đáng kể để

mở rộng thị trường cho sản phẩm thuốc dán TTS, nhờ chiến lược sử dụng các phương pháp tăng tính thấm qua da đã được phát triển từ năm 1977 bao gồm phương pháp hóa học, sinh học và vật lý Trong đó sử dụng các chất tăng thấm hóa học là lựa chọn ưu tiên

Kết quả nghiên cứu được trình bày ở bảng 1.1

Trang 25

Bảng 1.1 Các thông số thấm qua da chuột của dung dịch scopolamin 5% trong các

chất tăng thấm [50]

Tốc độ thấm qua da (µg/cm2/giờ)

Tiềm thời (giờ)

Thực tế cho thấy, các biện pháp cải thiện tính thấm qua da như sử dụng chất tăng thấm, sử dụng hệ thống vi kim đều được các nhà khoa học vận dụng trong nghiên cứu về scopolamin Kết quả thu được của các nghiên cứu đã chứng tỏ khả năng cải thiện được sinh khả dụng đường hấp thu qua da của scopolamin, đáp ứng nhu cầu điều trị Trong đó, hướng nghiên cứu sử dụng chất tăng thấm được các nhà khoa học thực hiện nhiều nhất để cải thiện tính thấm qua da của scopolamin, vì phương pháp này không đòi hỏi những thiết bị tinh vi, nên giá thành không cao Do vậy, trong đề tài nghiên cứu sẽ tập trung theo hướng sử dụng chất tăng thấm để cải thiện tính thấm qua da của scopolamin hydrobromid

1.1.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN THUỐC DÁN TTS

1.1.4.1 Nghiên cứu phát triển thuốc dán TTS trên thế giới

Từ năm 1980, Transderm - Scop được xem là thuốc dán TTS đầu tiên chứa hoạt chất scopolamin có tác dụng chống nôn do di chuyển, trong nhiều năm qua đã có thêm những sản phẩm thuốc dán TTS đưa ra thị trường dùng để điều trị các bệnh tim mạch

Trang 26

(nitroglycerin, isosorbid dinitrat, clonidin) [91], ngừa thai (estrogen), giảm đau do ung thư (fentanyl), cai nghiện thuốc lá (nicotin) Hiện nay, rất nhiều công trình nghiên cứu về thuốc dán TTS, chủ yếu tập trung vào các bệnh như tim mạch, huyết

áp (captopril, propranolol) [17], [87], chống nôn (ondansetron) [45], thuốc chống Parkinson (benztropin) [65], thuốc trị tiểu đường, hen suyễn (tolobuterol) Một số thuốc đã đưa ra thị trường như Neupro chứa rotigotin do Schwarz pharma AG sản xuất là loại thuốc dán TTS đầu tiên cho người bệnh Parkinson [23], Ensam chứa selegilin do công ty Somerset pharmaceuticals Inc sản xuất và công ty Bristol-Myers Squib Co tiếp thị là loại thuốc dán TTS đầu tiên để điều trị chứng trầm cảm, đây là cách dùng mới của loại thuốc đã được sử dụng từ lâu cho những bệnh nhân Parkinson Một nhóm nhà nghiên cứu Hungary và Mỹ đang tìm cách sử dụng thuốc dán TTS để phổ biến vắc-xin chống HIV/AIDS Biệt dược Derma Vir chứa vắc-xin này do công ty Genetic Immunity bào chế đã chứng minh sản phẩm này có hiệu quả

và an toàn trên người [58]

1.1.4.2 Nghiên cứu phát triển thuốc dán TTS tại Việt Nam

Chỉ mới bước đầu có những nghiên cứu về thuốc dán TTS

Năm 2002, các tác giả Nguyễn Tài Chí, Hoàng Minh Châu, Lê Quan Nghiệm,

“Bước đầu nghiên cứu nền dính cho dạng thuốc dán (Patch)”, đã đánh giá được mức

độ dính của một số công thức sẽ phù hợp cho từng loại thuốc dán có hoạt chất và cơ chế phóng thích hoạt chất khác nhau [4]

Năm 2003, với “Bước đầu nghiên cứu công nghệ sản xuất thuốc dán nitroglycerin” các tác giả Hoàng Minh Châu, Nguyễn Tài Chí, Lê Quan Nghiệm đã thiết kế được dạng thuốc dán (dạng khung matrix), xây dựng được công thức sản xuất phù hợp với điều kiện trong nước, tuy nhiên cần khảo sát thêm các thông số kỹ thuật sản xuất tốt nhất đáp ứng tiêu chuẩn của thuốc dán [3]

Huỳnh Minh Cường, Nguyễn Công Phi, Nguyễn Nhật Thành đã ứng dụng Eudragit E

100 với sự sàng lọc, tối ưu về điều kiện chế tạo bằng phương pháp Box-Willson, về tỷ lệ

Trang 27

tá dược trong công thức theo mô hình Taguchi OA, xác định được công thức bào chế thuốc dán nitroglycerin tốt nhất, trong “nghiên cứu ứng dụng Eudragit E 100 vào sản xuất thuốc dán TTS” [6]

Koóng, Phạm Thị Thùy Loan đã kết luận có thể sử dụng hệ phân phối qua da để đưa dehydroepiandrosteron vào cơ thể qua đường da, trong “Nghiên cứu chế thử hệ phân phối qua da của DHEA bằng kỹ thuật tạo cốt dính với Eudragit E100” [9]

“Nghiên cứu ứng dụng tế bào khuyếch tán để khảo sát khả năng thấm qua da của dược chất TTS – nitroglycerin” năm 2004 của các tác giả Nguyễn Tài Chí, Hoàng Minh Châu, Lê Quan Nghiệm, Dương Thị Như Ngọc đã xây dựng được chỉ tiêu và cách xử lý da, đánh giá ước lượng nitroglycerin thấm qua da thỏ là cao nhất [5]

Năm 2004, tác giả Nguyễn Tài Chí với đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật bào chế và sinh khả dụng của hệ thống trị liệu hấp thu qua da” đã nghiên cứu thành công một số quy trình chế tạo thuốc dán TTS Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu độ ổn định của quy trình chế tạo thuốc dán ở quy mô lớn hơn và theo dõi độ ổn định của thuốc dán trong điều kiện nóng ẩm của Việt Nam [7]

Năm 2004, tác giả Từ Minh Koóng với đề tài “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao

để sản xuất các dạng bào chế mới ở Việt Nam”, trong đó đã bào chế thành công lá thuốc TTS chứa nitroglycerin và lá thuốc TTS chứa dehydroepiandosteron Đề tài

cần nghiên cứu tiếp độ ổn định để ước tính tuổi thọ cũng như đánh giá in vivo cho

sản phẩm và nâng cấp quy mô thử nghiệm [10]

Năm 2005, các tác giả Nguyễn Thanh Hải, Từ Minh Koóng đã công bố kết quả

“Nghiên cứu khả năng thấm dehydroepiandrosteron từ hệ trị liệu qua da” có sự tương quan giữa khả năng thấm Dehydroepiandrosteron qua da người và da lợn trong phạm vi khảo sát Kết luận có thể sử dụng da tai lợn để thực hiện các nghiên cứu thăm dò trong xây dựng công thức cho dạng thuốc hấp thu qua da [8]

Trang 28

Khối lượng phân tử: 303,35

Tên khoa học: (1α,2β,4β,5α,7β)-9-Methyl-3-oxa-9-azatricyclo[3.3.1.02,4(α-S)-α- (hydroxymethyl) benzene acetate [18]

]non-7-yl-1.2.1.2 Tính chất lý hóa

Scopolamin thường tồn tại 2 dạng, scopolamin và scopolamin hydrobromid

Scopolamin là chất lỏng sệt, tan trong 9,5 phần nước, dễ tan trong nước nóng, cồn, ether, cloroform, aceton, ít tan trong benzen, ether dầu hỏa Scopolamin dễ bị thủy phân bởi acid, kiềm Nhiệt độ nóng chảy là 59 oC, hằng số phân ly pKa = 7,75, hệ

số phân bố octanol/nước = 0,98

Scopolamin hydrobromid trihydrat (C17H22BrNO4.3H2O) là tinh thể hình trụ, không màu, không mùi, hơi bị thăng hoa khi để ngoài không khí khô, dễ tan trong nước (1 g tan trong 1,5 ml nước), hơi tan trong cồn, ít tan trong cloroform, không tan trong ether, nhiệt độ nóng chảy là 195 oC, hệ số phân bố octanol/nước = 0,76 Scopolamin hydrobromid cần được bảo quản trong hộp kín, tránh ánh sáng [67]

Trang 29

1.2.1.3 Định tính, định lượng

Định tính scopolamin trong các chế phẩm (thuốc tiêm, thuốc mỡ tra mắt, dung dịch thuốc nhỏ mắt, viên nén) sử dụng các phương pháp quang phổ hấp thu hồng ngoại, sắc ký lớp mỏng, sắc ký lỏng hiệu năng cao [18]

Phương pháp điện di mao quản được sử dụng để xác định các alkaloid tropan và các dẫn xuất scopolamin ở thực vật [89]

Định tính Bromid sử dụng phương pháp hóa học với thuốc thử bạc nitrat xuất hiện tủa vàng nhạt không tan trong acid nitric và hơi tan trong amoni hydroxyd

Định lượng scopolamin trong huyết tương, nước tiểu bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao, sắc ký khí khối phổ, sắc ký lỏng khối phổ [18]

1.2.1.4 Dược động học

Scopolamin được hấp thu tốt từ đường tiêu hóa, chủ yếu từ ruột non và cũng được hấp thu tốt qua da Sinh khả dụng của thuốc theo đường uống khoảng 50% Thuốc qua hàng rào máu não, qua nhau thai và có vết trong sữa mẹ Một phần scopolamin chuyển hóa ở gan và bài tiết qua nước tiểu, thuốc đào thải qua thận nguyên dạng 50% và cả dạng chuyển hóa Thời gian bán thải của thuốc vào khoảng từ 2 đến 5 giờ Trong một nghiên cứu ở những người khỏe mạnh, khi dán sau tai thuốc dán TTS chứa scopolamin 1 mg/72giờ, scopolamin trong huyết tương được phát hiện trong vòng 4 giờ, tỷ lệ thuốc bài tiết trong nước tiểu dạng tự do và kết hợp lần lượt khoảng 0,7 µg và 3,8 µg Sau khi loại bỏ thuốc dán, scopolamin vẫn còn bài tiết qua nước tiểu với nồng độ nhỏ hơn 10% của tổng liều dưới dạng thuốc không thay đổi Trong một nghiên cứu chéo so sánh tỷ lệ bài tiết nước tiểu của scopolamin trong khoảng thời gian 12 giờ ở những người khỏe mạnh, không có sự khác biệt giữa tỷ lệ bài tiết của thuốc ở trạng thái ổn định (24-72 giờ) đối với tiêm truyền tĩnh mạch liên tục (3,7-6 µg/giờ) và thuốc dánTTS Tuy nhiên trong thời gian 12-24 giờ và sau 72 giờ,

tỷ lệ bài tiết scopolamin của thuốc dán TTS cao hơn so với thuốc tiêm truyền [13]

Trang 30

1.2.1.5 Tác dụng dược lý

Scopolamin là thuốc kháng acetyl cholin, có tác dụng lên trung ương và cả ngoại biên Scopolamin được dùng để ức chế thụ thể muscarin ở hệ tiền đình phân nhánh đến trung tâm nôn, nên scopolamin là thuốc trị nôn do di chuyển tốt nhất, nhưng khi dùng đường uống sẽ gây buồn ngủ và tác dụng kháng muscarin cao (giãn đồng tử, khô miệng ) Vì vậy, dùng dạng thuốc dán TTS sẽ giảm tác dụng phụ trên, chế phẩm này phóng thích thuốc từ từ nên nồng độ thuốc trong máu thấp và kéo dài Ngoài ra, các triệu chứng chóng mặt, mất thăng bằng của hội chứng tiền đình cũng giảm, tăng cường tác dụng thuốc mê, thuốc ngủ và thuốc giảm đau [82]

1.2.1.6 Chỉ định

Scopolamin được chỉ định để phòng ngừa buồn nôn và nôn mửa liên quan đến say tàu xe và hồi phục sau gây mê và phẫu thuật Sau khi tiêm bắp một liều 0,2 mg scopolamin, hiệu lực chống nôn xảy ra trong vòng 15-30 phút và kéo dài trong khoảng 4 giờ Viên nén 0,4 mg hiệu quả chống nôn là 1 giờ sau khi uống, kéo dài trong 6 giờ Thuốc dán TTS có tác dụng chống nôn trong khoảng 4 giờ sau khi dán

và kéo dài đến 72 giờ Dạng bào chế này cũng được sử dụng để giảm chảy nước dãi

ở trẻ em bị động kinh hoặc bại não [13]

1.2.1.7 Chống chỉ định

Scopolamin chống chỉ định ở những bệnh nhân tăng nhãn áp (glaucom góc đóng), liệt ruột, hẹp môn vị, phì đại tuyến tiền liệt, nhịp tim nhanh, suy tim, nhạy cảm quá mức với scopolamin, suy giảm chức năng gan, thận [14]

1.2.1.8 Một số chế phẩm thuốc dán TTS chứa scopolamin trên thị trường

Ngoài biệt dược đầu tiên Transderm-Scop® được giới thiệu bởi công ty dược phẩm

Transderm scop, Transderm-V do công ty dược phẩm Novartis sản xuất Các thuốc dán TTS chứa scopolamin đang được sử dụng phổ biến trên thị trường Việt Nam là Ariel (Caleb pharma Taiwan) và Kimite (Myung Moon Korea) (phụ lục 1)

Trang 31

Tuy được sản xuất bởi nhiều công ty dược phẩm khác nhau, các thuốc dán TTS trên đều chứa 1,5 mg scopolamin và tác dụng kéo dài trong 72 giờ Các chế phẩm với hoạt chất scopolamin đã thể hiện được nhiều tác dụng, tuy nhiên scopolamin rất kém bền với nhiệt, acid, kiềm [18] Do đó, việc nghiên cứu một dạng khác của scopolamin như scopolamin hydrobromid là cần thiết để giảm những bất lợi trên

1.3 MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG THUỐC DÁN TTS

Ngoài các yêu cầu về chất lượng chung của sản phẩm như tính chất, độ đồng đều hàm lượng, định tính và định lượng thì đánh giá tính kích ứng và tính kết dính của thuốc dán TTS là những chỉ tiêu cần khảo sát trong nghiên cứu

1.3.1 THỬ TÍNH KÍCH ỨNG CỦA THUỐC DÁN TTS

Theo mô hình của Bộ Y Tế (Quyết định 3113/1999/QĐ-BYT) Nguyên tắc của phép thử là dựa vào mức độ phản ứng của da thỏ với chất thử so với phần da kế bên không đắp chất thử [2] Dùng thỏ trắng trưởng thành khỏe mạnh, không có bệnh ngoài da, cân nặng không dưới 2 kg Mỗi mẫu thử trên 3 thỏ Trước ngày thử nghiệm 1 ngày, cho thỏ lên bàn kẹp ở vị trí ổn định Dùng tông đơ điện làm sạch lông thỏ vùng giữa lưng đều hai 2 bên cột sống một khoảng đủ rộng để đặt các mẫu

thử và đối chứng (khoảng 10 cm x 15cm)

Đánh giá kết quả, quan sát và ghi nhận sự khác biệt giữa vùng da chứng và vùng da thử ở các thời điểm 1 giờ, 24 giờ, 48 giờ và 72 giờ sau khi làm sạch mẫu thử Đánh giá phản ứng trên da ở các mức độ gây ban đỏ từ không ban đỏ, rất nhẹ, nhận thấy

rõ, nặng đến tổn thương sâu với mức thang điểm từ 0 đến 4 tương ứng với tình trạng ban đỏ Đánh giá tương tự với mức độ gây phù nề Trên mỗi thỏ, điểm phản ứng được tính bằng tổng số điểm ở 2 mức ban đỏ và phù nề chia cho số lần quan sát Chế phẩm không được gây kích ứng da tương ứng với điểm kích ứng không quá 0,5 Ngoài ra mô hình thử nghiệm phát hiện tác động kích ứng da nhờ phẩm xanh lam Evans [48] cũng thường được sử dụng trong nghiên cứu Dựa vào nguyên tắc khi mô

bị kích ứng trong một thời gian dài, dịch và protein trong huyết tương sẽ thoát vào

mô liên kết tạo ra chứng phù thủng và sưng viêm Phẩm màu thuộc loại keo,

Trang 32

xanh lam Evans có thể dùng để phát hiện sớm và dễ dàng sự hư hại của mao quản Bình thường sau khi tiêm vào tĩnh mạch, những phân tử màu sẽ giữ được trong huyết mạch, nhưng khi mao quản bị hư hại một số phân tử màu sẽ thoát vào khoảng trống của mô, làm mô sẽ đổi màu xanh lam của phẩm Đánh giá mức độ kích ứng da được sắp xếp theo bậc thang điểm như sau:

bởi một vòng xanh lam sậm

Trong thực tế những trường hợp màu giống như bậc thang điểm rất hiếm, thường gặp những màu trung gian Vì vậy, có thể đánh giá tác động kích ứng của thuốc dựa vào trị số trung bình thu nhận được qua nhiều lần thử nghiệm và dựa trên thang điểm đánh giá:

1.3.2 ĐÁNH GIÁ THUỘC TÍNH KẾT DÍNH CỦA THUỐC DÁN TTS

Để duy trì được bề mặt tiếp xúc giữa thuốc dán và da ở mức hằng định trong suốt thời gian dán thuốc, đa số đều phải sử dụng chất kết dính Việc đánh giá tính kết dính thường dựa trên các đặc tính cơ bản sau đây: độ bóc tách (tack), độ bền dính (shear strength)

Trang 33

1.3.2.1 Độ bóc tách

Độ bóc tách là khả năng bám dính của polyme trên bề mặt với một áp lực nhẹ, được đánh giá bởi lực kéo cụ thể để tách thuốc dán ra khỏi một bề mặt chuẩn Tính kết dính phụ thuộc vào trọng lượng phân tử và thành phần của polyme cũng như các chất nhựa trong polyme Có nhiều phương pháp khác nhau để đo độ bóc tách:

- Phương pháp hòn bi lăn (Rolling Ball) là đo khoảng cách dừng lại của các hòn bi lăn trên bề mặt dính của thuốc dán ở một góc 30o Phương pháp này đơn giản, nhanh, thiết bị rẻ tiền, nhưng độ tin cậy kém do kết quả phụ thuộc vào bề dày khác nhau của chất kết dính trong các thuốc dán TTS khác nhau [15]

- Phương pháp vòng lặp (Loop Tack) là lực cần thiết (đơn vị là kg) để kéo mặt dính của dãi thuốc dán ra khỏi bề mặt chuẩn ở một góc 90o với vận tốc quy định Ưu điểm của phương pháp là sử dụng thiết bị chuẩn, độ tin cậy cao Đề tài đã áp dụng phương pháp này để đo độ bóc tách của thuốc dán TTS nghiên cứu trên máy đo vòng lặp [15]

1.3.2.2 Độ bền dính

Đo độ bền dính là đo lực gắn kết của polyme nhạy dính Nếu thuốc dán TTS có đầy

đủ lực liên kết, nó sẽ không tróc ra sau khi dán và không để lại dư lượng khi gỡ bỏ

Độ bền dính bị ảnh hưởng bởi mức độ liên kết cũng như các chất nhựa trong polyme Phương pháp dịch chuyển nhanh (Hot Shear) thường được sử dụng phổ biến để đo độ bền dính, thuốc dán được cắt thành dải một đầu dán vào miếng thép không rỉ, đầu còn lại sẽ được dán vào một trọng lượng quy định, đánh giá dựa trên thời gian cần thiết để kéo băng dính rơi ra khỏi miếng thép, so sánh thời gian kéo càng lâu thì độ bền dính càng cao [15]

Trang 34

1.4 SINH KHẢ DỤNG VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG SINH HỌC

1.4.1 ĐÁNH GIÁ SINH KHẢ DỤNG (SKD) VÀ/HOẶC TƯƠNG ĐƯƠNG

SINH HỌC (TĐSH) CỦA THUỐC DÁN TTS

Đánh giá SKD của thuốc thường được thực hiện qua 2 giai đoạn là đánh giá in vitro

và in vivo

1.4.1.1 Độ phóng thích in vitro thuốc dán TTS

Độ phóng thích in vitro của dạng thuốc dán TTS bị giới hạn trước hết bởi tốc độ và

mức độ hòa tan của dược chất từ dạng thuốc Vì vậy, để đảm bảo độ phóng thích của dạng thuốc này, dược điển của nhiều nước có quy định về thử nghiệm độ hòa tan, sử dụng các loại thiết bị đã được chuẩn hóa

Để xác định tỷ lệ phóng thích của thuốc dán TTS, có nhiều phương pháp khác nhau

Thiết bị kiểu cánh khuấy trên đĩa: thiết bị số 5 (USP Apparatus 5) thuốc dán được cố

định trên đĩa bằng thép đặt dưới đáy bình Bề mặt chứa thuốc song song với cánh khuấy ở nhiệt độ 32 ± 0,5 °C [49]

Thiết bị kiểu giỏ quay: thiết bị số 6 (USP Apparatus 6) phương pháp này tương tự

như máy thử độ hòa tan loại giỏ, chỉ khác là thuốc dán được gắn vào bề mặt của một hình trụ rỗng đặt trong môi trường ở nhiệt độ 32 ± 0,5 °C [49]

Thiết bị kiểu pit-tông (The reciprocating disc): thiết bị số 7 (USP Apparatus 7),

trong phương pháp này các thuốc dán được gắn vào một vòng kẹp dao động trong khối lượng nhỏ dung môi Thiết bị này tiện lợi hữu ích đối với các thuốc dán phóng thích dược chất với nồng độ thấp[49]

Các tế bào khuếch tán (Franz và Keshary - Chien): tế bào khuếch tán gồm 2

khoang, khoang cho và khoang nhận Trong phương pháp này thuốc dán được đặt vào giữa 2 khoang sao cho mặt chứa thuốc hướng vào khoang nhận Khoang nhận chứa dung môi hòa tan dược chất ở pH 5-6, phản ảnh điều kiện sinh lý của da Việc khuấy trộn được thực hiện bằng những thanh khuấy từ đặt bên trong thiết bị, tốc độ khuấy ổn định Một thể tích nhất định dung dịch thuốc trong khoang nhận được lấy

Trang 35

ra tại các thời điểm xác định cùng với sự thay thế lượng dung môi tương đương Nồng độ thuốc được xác định bằng các phương pháp quang phổ hay sắc ký

Mặc dù điều kiện thử còn rất khác so với hòa tan in vivo xảy ra trong cơ thể sống, tuy nhiên thử nghiệm độ hòa tan in vitro vẫn được dùng như một chỉ tiêu để theo

dõi chất lượng sản phẩm và đánh giá tương đương bào chế đối với cùng một loại

thuốc được sản xuất bởi nhiều nhà sản xuất khác nhau trước khi thử in vivo [11]

1.4.1.2 Nghiên cứu sự thấm qua da in vitro thuốc dán TTS

Phương pháp khuếch tán qua màng được áp dụng rộng rãi với nhiều dược chất và có thể sử dụng để đánh giá một cách khá định lượng mức độ và tốc độ giải phóng dược chất Trên cơ sở đó có thể nghiên cứu thiết kế công thức đạt yêu cầu mong muốn

Tế bào khuếch tán Franz kiểu đứng là dạng được sử dụng rộng rãi nhất trong số các loại tế bào khuếch tán, do phù hợp với nhiều dược chất và dễ dàng sử dụng Tế bào khuếch tán kiểu nằm ngang có thể dùng để đánh giá khả năng phóng thích hoạt chất

từ các dung dịch bão hòa hay khi có sự tích tụ chất rắn trên bề mặt màng, cũng như khảo sát tính thấm của các chất bay hơi

Màng dùng cho phương pháp này có thể là màng nhân tạo như cellophan, dẫn chất cellulose,…hay màng tự nhiên như da lợn, da chuột hay da người Trong đó, cấu tạo màng da chuột và da người giống nhau do có màng chất béo bảo vệ bên ngoài lớp sừng, nhưng độ dày lớp sừng của da chuột (khoảng 40 μm) mỏng hơn da người (khoảng 90 μm)

Môi trường khuếch tán thường là nước cất, dung dịch đệm, dung môi hoặc hỗn hợp dung môi Để định lượng dược chất giải phóng được trong từng khoảng thời gian, người ta thường dùng phương pháp quang phổ hoặc sắc ký lỏng hiệu năng cao [84],

từ đó xác định được tốc độ dược chất thấm qua da trên một đơn vị diện tích theo thời gian (Flux) [56] Khi bắt đầu nghiên cứu một công thức mới để chế tạo thuốc dán TTS cần phải xác định cấu tạo của thuốc dán cần sản xuất để chọn lựa nền dính phù hợp Trong thực tế, phần lớn các thuốc dán TTS là sự kết hợp giữa các loại cấu trúc, nền dính được phối hợp với nhiều loại, nhiều tỷ lệ với kỹ thuật khuấy trộn

Trang 36

khác nhau để đạt độ phóng thích và độ thấm mong muốn phù hợp Ngoài ra, tính toán bề dày nền dính để tạo độ phóng thích phù hợp cũng là điều cần thiết, nếu lớp nền dính quá dày thì tốc độ phóng thích và thấm sẽ chậm, nếu lớp này quá mỏng thì không đủ để hòa tan hay phân tán dược chất và độ bám dính lên da kém Những lô đầu tiên được bào chế để thăm dò khả năng phóng thích dược chất khỏi nền dính Nếu độ phóng thích kém thì cho thêm chất tăng thấm hay tăng hàm lượng dược chất, nếu độ phóng thích cao thì tăng độ dày lên, giảm lượng chất tăng thấm Từ đó, định hướng được sử dụng khối lượng nền dính và các chất phụ phù hợp để hình thành công thức của thuốc dán Khi công thức và độ dày khung đã ổn định, sự thay đổi diện tích thuốc dán TTS sẽ cung cấp lượng dược chất thấm qua da phù hợp, diện tích của miếng dán phụ thuộc vào tốc độ thấm và hệ số thấm Tùy vào cấu tạo khác nhau mỗi loại thuốc dán mà độ phóng thích, độ thấm qua da cô lập và độ thấm qua

da người sẽ khác nhau Muốn tăng hay giảm liều điều trị, tốt nhất là thay đổi diện

tích thuốc dán [7] Vì thế, nghiên cứu sự thấm qua da in vitro cũng được xem là tiêu

chuẩn ban đầu để chọn lựa chất tăng thấm, nền dính phù hợp với thiết kế của thuốc dán TTS

1.4.1.3 Sinh khả dụng in vivo thuốc dán TTS

Sinh khả dụng in vivo được biểu thị dưới hai khái niệm: SKD tuyệt đối và SKD

tương đối Trong đó, SKD tương đối thường được dùng nhiều hơn trong nghiên cứu phát triển các sản phẩm thuốc generic Sinh khả dụng tương đối được xác định bằng cách tính tỷ lệ sinh khả dụng của dạng thuốc cần thử với sinh khả dụng của dạng chuẩn hoặc của một dung dịch uống hoặc của một chế phẩm thương mại có hiệu quả lâm sàng tốt đã được chứng minh [12]

Cơ chế vận chuyển thuốc qua da là sự khuếch tán thụ động, tuân theo định luật Fick Vận tốc khuếch tán được tính theo phương trình [12]:

(1)

Trang 37

Trong đó:

V: vận tốc khuếch tán của phân tử dược chất; D: hệ số khuếch tán của phân tử dược chất; K: hệ số phân bố của phân tử dược chất; S: diện tích màng da (cm2); ΔC: sự chênh lệch nồng độ giữa hai bên màng da; Δx: bề dày màng da (cm)

Phương trình tính vận tốc khuếch tán cho thấy yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự hấp thu thuốc là hệ số khuếch tán và phân bố của dược chất

Độ tan của dược chất càng cao thì dược chất ở dạng hòa tan càng nhiều tạo nồng độ thuốc trên bề mặt da càng lớn, do đó làm tăng lưu lượng khuếch tán của dược chất qua da Trong quá trình khuếch tán, dược chất sẽ liên tục phân bố giữa tá dược với lớp sừng, giữa lớp sừng với các lớp khác của da Vì da có cấu tạo bởi nhiều lớp thân dầu và thân nước xen kẽ nhau nên nếu dược chất chỉ thân dầu hoặc thân nước thì sẽ khó thấm qua da [84]

Theo định luật Fick, tốc độ khuếch tán tỷ lệ thuận với hiệu số nồng độ dược chất giữa hai bên màng da Điều đó chứng tỏ để tăng tốc độ và lưu lượng thuốc thấm qua da, trong bào chế cần tìm nồng độ dược chất phù hợp và thường khá cao để tạo chênh lệch nồng độ lớn [12]

Một loại thuốc muốn có tác dụng toàn thân thì sau khi vào cơ thể phải được hấp thu vào hệ tuần hoàn rồi đến vị trí tác dụng Số phận của thuốc trong cơ thể phụ thuộc

vào các đặc tính dược động học của dạng thuốc SKD in vivo được biểu thị là tốc độ

và mức độ hấp thu thuốc từ dạng bào chế vào hệ tuần hoàn Trong đó, mức độ hấp thu được đánh giá qua diện tích dưới đường cong nồng độ - thời gian (AUC) và tốc

độ hấp thu phản ánh qua nồng độ thuốc tối đa đạt được trong huyết tương (Cmax) và thời gian đạt được nồng độ đó (Tmax)

Nói chung, SKD in vivo được đánh giá tốt nhất là thử trên người Tuy nhiên, trong

một số trường hợp phải thực hiện trên động vật (thuốc có độc với tế bào, vấn đề liên quan đến luật pháp) Nếu mô hình nghiên cứu trên động vật đạt được tiêu chuẩn quy định, và lý do hạn chế thí nghiệm trên người, mô hình động vật có thể được dùng nhiều hơn và đóng vai trò quan trọng trong thử sinh khả dụng và tương đương sinh học [37]

Trang 38

Đánh giá độ phóng thích in vitro chỉ thực sự có ý nghĩa khi có sự tương quan chặt chẽ giữa hòa tan in vitro và hấp thu in vivo [11]

1.4.1.4 Tương quan in vitro – in vivo thuốc dán TTS

Yếu tố quyết định chất lượng của thuốc dán TTS là lượng dược chất thấm qua da

người dùng thuốc vừa đủ để có tác dụng trị liệu Các nghiên cứu in vitro và in vivo

của thuốc dán TTS cho thấy có sự tương quan giữa độ phóng thích và độ thấm qua

da cô lập, nghĩa là độ thấm của dược chất qua da cô lập không khác biệt với độ

thấm qua da người dùng thuốc Do vậy, khi kết quả thử in vitro chưa phù hợp thì

phải thay đổi thành phần chất nhạy dính, lượng dược chất cũng như bề dày của lớp

nhạy dính Các thay đổi thăm dò thành phần công thức có kết quả thử in vitro dao

động trong phạm vi đã nêu, từ đó có thể sơ bộ dự đoán lượng dược chất thấm qua

da người sử dụng

Năm 2002, Nguyen T Viet và các cộng sự [66] đã đánh giá sự tương quan in vitro

và in vivo của thuốc dán TTS chứa 1,5 mg scopolamin tác động kéo dài trong 72 giờ Nghiên cứu in vitro được thực hiện trên tế bào Franz, các mẫu được định lượng bằng phương pháp HPLC để xác định tốc độ phóng thích của scopolamin in vitro

theo thời gian, với các thông số Tmax = 12 giờ nồng độ đỉnh là 4,7 µg/cm2/giờ và cuối thời gian sử dụng là 2,8 µg/cm2/giờ, tốc độ phóng thích scopolamin in vitro giảm 40% Đánh giá in vivo được thực hiện trên 12 người tình nguyện khỏe mạnh và đã

xác định được các thông số sinh khả dụng như sau: Tmax = 12 giờ, scopolamin trong huyết tương đạt nồng độ đỉnh là 0,11 ng/ml và giảm xuống còn 0,04 ng/ml tại thời

điểm cuối Sự chênh lệch giữa tốc độ phóng thích scopolamin trong nghiên cứu in vitro và in vivo là 24% Kết quả định lượng nghiên cứu in vitro trong 72 giờ là 0,7 mg

và in vivo là 1,0 mg, cao hơn trong nghiên cứu in vitro là 30% Với những kết quả nhận được từ nghiên cứu đã cho thấy có sự tương quan tốt giữa in vitro và in vivo

Từ đó có thể đánh giá, dự đoán sinh khả dụng in vivo khá chính xác từ các thông số

in vitro Điều này làm cho nghiên cứu đánh giá sinh khả dụng in vitro mới thực sự

có ý nghĩa để đánh giá sinh khả dụng in vivo

Trang 39

1.4.1.5 Quy định về đánh giá sinh khả dụng và/ hoặc tương đương sinh học

Thuốc đối chiếu

Các thuốc đối chiếu phải là một chế phẩm phát minh Nếu thuốc phát minh không

có sẵn trên thị trường nước nghiên cứu, có thể dùng một thuốc tương đương đã được phê duyệt thay thế Thuốc đối chiếu do người nghiên cứu lựa chọn và được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận [78]

Thuốc thử (thuốc nghiên cứu)

Thuốc nghiên cứu phải được sản xuất từ lô nghiên cứu quy mô pilot với cỡ lô bằng

khoảng 10% cỡ lô sẽ được thiết kế cho sản xuất [72]

Đối tượng thử thuốc

Nghiên cứu SKD và TĐSH in vivo tốt nhất là được đánh giá trên người tình nguyện

(NTN) khỏe mạnh Thuốc có độc tính cao và có nồng độ trong máu thấp hoặc khi

thăm dò trong quá trình nghiên cứu phát triển sản phẩm, đánh giá SKD in vivo có

thể được tiến hành trên động vật thí nghiệm Đối với các thuốc giải phóng kéo dài,

sử dụng động vật thí nghiệm còn có ý nghĩa thăm dò mức độ giải phóng hoạt chất,

đề phòng thuốc giải phóng ồ ạt gây nguy cơ ngộ độc

Các loài động vật phổ biến nhất được sử dụng để đánh giá thuốc dán TTS là chuột không có lông, chó không có lông, khỉ Rhesus không có lông, thỏ và lợn Các động vật này là một mô hình đặc biệt đáng tin cậy cho nghiên cứu hệ trị liệu hấp thu qua da

in vivo bởi vì da của chúng có lớp sừng dày, và thành phần hạ bì tương tự như da

người [79] Nhiều thí nghiệm đã cho thấy động vật không có lông được ưa thích hơn

động vật có lông ở cả nghiên cứu in vitro và nghiên cứu in vivo

Thiết kế nghiên cứu

Đánh giá SKD và TĐSH có thể thực hiện theo mô hình thiết kế đơn liều hoặc đa liều Thời gian nghỉ giữa các lần thử thuốc liên tiếp phải đủ để thuốc dùng lần trước thải trừ hết khỏi cơ thể, thường gấp 5-10 lần thời gian bán thải của thuốc [21]

Trang 40

Trong đánh giá TĐSH, để hạn chế ảnh hưởng của yếu tố cá thể, thường áp dụng thiết kế nghiên cứu chéo Thiết kế chéo 2 thuốc, 2 giai đoạn (ô vuông la tinh 2 x 2) áp dụng khi cần so sánh 1 thuốc thử với 1 thuốc chứng; hoặc chéo 3 thuốc, 3 giai đoạn (3 x 3) khi cần so sánh 2 thuốc thử với 1 thuốc đối chiếu Tuy nhiên, trong nghiên cứu thăm dò hoặc khảo sát SKD, có thể đánh giá trên một vài cá thể riêng biệt tùy điều kiện thực nghiệm [43]

Thời điểm lấy mẫu

Thiết kế thời điểm lấy mẫu có ý nghĩa quan trọng để có thể ước lượng được Cmax và bao phủ đường cong nồng độ thuốc trong huyết tương theo thời gian đủ để ước lượng chính xác mức độ hấp thu Đường cong SKD phải thể hiện rõ pha hấp thu và pha thải trừ Trong đó, thường có ít nhất 3 điểm trước khi đạt đỉnh Cmax (pha hấp thu), 4-5 điểm xung quanh đỉnh và 7-8 điểm trong pha thải trừ Tổng số điểm lấy mẫu nên từ 12-18 Thời gian lấy mẫu phải kéo dài gấp 3-5 lần thời gian bán thải của thuốc hoặc cho đến khi nồng độ trong máu thấp hơn 1/10-1/20 đỉnh Cmax Với thuốc tiêm tĩnh mạch, lấy mẫu sau khi tiêm 5 phút, khoảng 10-15 phút lấy mẫu một lần cho đến khi hoàn thiện nồng độ máu theo thời gian Mẫu sau khi lấy phải được bảo quản ở nhiệt độ nhỏ hơn -20 oC cho tới khi phân tích

Thẩm định phương pháp phân tích dược chất trong dịch sinh học

Phân tích hàm lượng dược chất trong dịch sinh học là phương pháp đánh giá SKD trực tiếp và chính xác nhất Mẫu sinh học có chứa nhiều tạp chất, lượng mẫu ít và nồng độ chất phân tích thường rất thấp Do vậy, phương pháp phân tích dịch sinh học phải được thẩm định trước khi áp dụng vào phân tích mẫu [19]

Nội dung thẩm định phương pháp được hướng dẫn trong các tài liệu về phân tích và được quy định trong các Dược Điển

Ngày đăng: 27/12/2013, 23:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y Tế (2009), Dược điển Việt Nam, lần xuất bản thứ 4, Nxb Y Học, tr. PL 14, PL 222-225, PL 311, PL 315 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược điển Việt Nam
Tác giả: Bộ Y Tế
Nhà XB: Nxb Y Học
Năm: 2009
2. BỘ Y TẾ (1999), Quyết định của bộ trưởng Bộ Y TẾ số 311/1999/qđ-byt ban hành tiêu chuẩn giới hạn vi khuẩn, nấm mốc trong mỹ phẩm và phương pháp thử kích ứng trên da, tr. 360-363 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của bộ trưởng Bộ Y TẾ số 311/1999/qđ-byt ban hành tiêu chuẩn giới hạn vi khuẩn, nấm mốc trong mỹ phẩm và phương pháp thử kích ứng trên da
Tác giả: BỘ Y TẾ
Năm: 1999
3. Hoàng Minh Châu, Nguy ễn Tài Chí, Lê Quan Nghiệm (2003), "Bước đầu nghiên cứu công nghệ sản xuất thuốc dán nitroglycerin", Tạp chí Dược học, 1, tr. 15-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu công nghệ sản xuất thuốc dán nitroglycerin
Tác giả: Hoàng Minh Châu, Nguy ễn Tài Chí, Lê Quan Nghiệm
Năm: 2003
4. Nguy ễn Tài Chí, Hoàng Minh Châu, Lê Quan Nghiệm (2002), "Bước đầu nghiên cứu nền dính cho dạng thuốc dán (Patch)", Tạp chí Y học TP.Hồ Chí Minh, 6 (3), tr. 155-158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu nền dính cho dạng thuốc dán (Patch)
Tác giả: Nguy ễn Tài Chí, Hoàng Minh Châu, Lê Quan Nghiệm
Nhà XB: Tạp chí Y học TP.Hồ Chí Minh
Năm: 2002
5. Nguy ễn Tài Chí, Hoàng Minh Châu, Lê Quan Nghiệm, Dương Thị Như Ngọc (2004), "Nghiên cứu ứng dụng tế bào khuyếch tán để khảo sát khả năng thấm qua da của dược chất TTS - nitroglycerin", Tạp chí Dược học, 337, tr. 23-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng tế bào khuyếch tán để khảo sát khả năng thấm qua da của dược chất TTS - nitroglycerin
Tác giả: Nguy ễn Tài Chí, Hoàng Minh Châu, Lê Quan Nghiệm, Dương Thị Như Ngọc
Năm: 2004
6. Nguy ễn Tài Chí, Hoàng Minh Châu, Lê Quan Nghiệm, Huỳnh Minh Cường, Nguyễn Công Phi, Nguyễn Nhật Thành (2003), "Nghiên cứu ứng dụng Eudragit E 100 vào sản xuất thuốc dán TTS", Tạp chí Dược học, 12, tr. 22-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng Eudragit E 100 vào sản xuất thuốc dán TTS
Tác giả: Nguy ễn Tài Chí, Hoàng Minh Châu, Lê Quan Nghiệm, Huỳnh Minh Cường, Nguyễn Công Phi, Nguyễn Nhật Thành
Năm: 2003
7. Nguy ễn Tài Chí (2004), Nghiên cứu kỹ thuật bào chế và sinh khả dụng của hệ thống trị liệu hấp thu qua da, Luận án tiến sĩ dược học, Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, tr. 3-5, 18, 126-127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kỹ thuật bào chế và sinh khả dụng của hệ thống trị liệu hấp thu qua da
Tác giả: Nguy ễn Tài Chí
Năm: 2004
8. Nguy ễn Thanh Hải, Từ Minh Koóng (2005), "Nghiên cứu khả năng thấm dehydroepiandrosteron từ hệ trị liệu qua da ", Tạp chí Dược học, 355, tr. 14-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng thấm dehydroepiandrosteron từ hệ trị liệu qua da
Tác giả: Nguy ễn Thanh Hải, Từ Minh Koóng
Năm: 2005
9. Nguy ễn Thanh Hải, Từ Minh Koóng, Phạm Thị Thùy Loan (2003), "Nghiên cứu chế thử hệ phân phối qua da của DHEA bằng kỹ thuật tạo cốt dính với Eudragit E100", Tạp chí Dược học, 8, tr. 15-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chế thử hệ phân phối qua da của DHEA bằng kỹ thuật tạo cốt dính với Eudragit E100
Tác giả: Nguy ễn Thanh Hải, Từ Minh Koóng, Phạm Thị Thùy Loan
Năm: 2003
10. Từ Minh Koóng (2004), "Nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao để sản xuất các dạng bào chế mới ở Việt Nam", Đề tài cấp nhà nước mã số KC-10, tr. 88-89, 101-103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao để sản xuất các dạng bào chế mới ở Việt Nam
Tác giả: Từ Minh Koóng
Năm: 2004
11. Võ Xuân Minh, Nguy ễn Văn Long, Phạm Ngọc Bùng, Phạm Thị Minh Huệ, Vũ Văn Thảo (2008), Kỹ thuật bào chế và sinh dược học các dạng thuốc, Nxb Y Học, tr. 11-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật bào chế và sinh dược học các dạng thuốc
Tác giả: Võ Xuân Minh, Nguy ễn Văn Long, Phạm Ngọc Bùng, Phạm Thị Minh Huệ, Vũ Văn Thảo
Nhà XB: Nxb Y Học
Năm: 2008
12. Lê Quan Nghiệm (2007), Sinh dược học và các hệ thống trị liệu mới, Nxb Y Học, tr. 13-15, 148-149, 221.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh dược học và các hệ thống trị liệu mới
Tác giả: Lê Quan Nghiệm
Nhà XB: Nxb Y Học
Năm: 2007
13. AHFS Drug Information (2008), Scopolamine. Bethesda, MD: American Society of Health-System Pharmacists, pp. 1297; 1321-1324; 2913 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scopolamine
Tác giả: AHFS Drug Information
Năm: 2008
14. AHFS Drug Information (2005), Scopolamine. Bethesda, MD: American Society of Health-System Pharmacists, pp. 1229-1236; 1254-1257 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scopolamine
Tác giả: AHFS Drug Information
Năm: 2005
15. Ahmed A., Karki N., Charde R., Charde M., Gandhare B. (2011), "Transdermal drug delivery systems: an overview", Int. J. Bio. and adv.Res, 02 (01), pp. 44-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Transdermal drug delivery systems: an overview
Tác giả: Ahmed A., Karki N., Charde R., Charde M., Gandhare B
Năm: 2011
16. Al-Ghananeem Abeer M., Malkawi Ahmad H., Crooks Peter A. (2007), "Scopolamine Sublingual Spray: An Alternative Route of Delivery for the treatment of motion sickness", Drug Dev. and Ind. Pharm., 33, pp. 577-582 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scopolamine Sublingual Spray: An Alternative Route of Delivery for the treatment of motion sickness
Tác giả: Al-Ghananeem Abeer M., Malkawi Ahmad H., Crooks Peter A
Năm: 2007
17. Amnuaikit Chomchan, Ikeuchi Itsue, Ogawara Ken-ichi, Higaki Kazutaka, Kimura Toshikiro (2005), "Skin permeation of propranolol from polymeric film containing terpene enhancers for transdermal use", Int. J.Pharm., 289 (1-2), pp. 167-178 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Skin permeation of propranolol from polymeric film containing terpene enhancers for transdermal use
Tác giả: Amnuaikit Chomchan, Ikeuchi Itsue, Ogawara Ken-ichi, Higaki Kazutaka, Kimura Toshikiro
Năm: 2005
18. Anthony C. Moffat, Osselton M. David, Widdop Brian (2004), Clarke's Analysis of Drugs and Poisons, fourth Edition, pp. 1505-1506 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clarke's Analysis of Drugs and Poisons
Tác giả: Anthony C. Moffat, Osselton M. David, Widdop Brian
Năm: 2004
21. Aulton M.E. (1998), Pharmaceutics-the science of dosage form design, Churchill Livingston, pp. 262-270 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pharmaceutics-the science of dosage form design
Tác giả: Aulton M.E
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Cấu trúc điển hình của thuốc dán TTS [81] - Nghiên cứu bào chế thuốc dán thấm qua da scopolamin 1,5 mg
Hình 1.1. Cấu trúc điển hình của thuốc dán TTS [81] (Trang 14)
Hình 1.3. Tác động của chất tăng thấm trong vùng lipid nội bào [86] - Nghiên cứu bào chế thuốc dán thấm qua da scopolamin 1,5 mg
Hình 1.3. Tác động của chất tăng thấm trong vùng lipid nội bào [86] (Trang 21)
Hình 2.2. Đồ thị tương quan lượng thuốc thấm qua da trên một đơn vị diện tích - Nghiên cứu bào chế thuốc dán thấm qua da scopolamin 1,5 mg
Hình 2.2. Đồ thị tương quan lượng thuốc thấm qua da trên một đơn vị diện tích (Trang 51)
Hình 3.1. Sắc ký đồ của mẫu SH chuẩn - Nghiên cứu bào chế thuốc dán thấm qua da scopolamin 1,5 mg
Hình 3.1. Sắc ký đồ của mẫu SH chuẩn (Trang 71)
Hình 3.2. Sắc ký đồ của mẫu trắng (dung dịch đệm – da) - Nghiên cứu bào chế thuốc dán thấm qua da scopolamin 1,5 mg
Hình 3.2. Sắc ký đồ của mẫu trắng (dung dịch đệm – da) (Trang 72)
Bảng 3.8. Lượng SH thấm qua da chuột theo thời gian với nhóm ester (n = 3) - Nghiên cứu bào chế thuốc dán thấm qua da scopolamin 1,5 mg
Bảng 3.8. Lượng SH thấm qua da chuột theo thời gian với nhóm ester (n = 3) (Trang 80)
Hình 3.9. Đồ thị biểu diễn sự thấm của SH bão hòa trong transcutol P - Nghiên cứu bào chế thuốc dán thấm qua da scopolamin 1,5 mg
Hình 3.9. Đồ thị biểu diễn sự thấm của SH bão hòa trong transcutol P (Trang 82)
Bảng 3.12. Lượng SH thấm qua da chuột với các Duro-Tak ®  có nhóm chức -OH - Nghiên cứu bào chế thuốc dán thấm qua da scopolamin 1,5 mg
Bảng 3.12. Lượng SH thấm qua da chuột với các Duro-Tak ® có nhóm chức -OH (Trang 85)
Bảng 3.15. Tổng kết các thông số thấm của SH  trong các Duro-Tak ® - Nghiên cứu bào chế thuốc dán thấm qua da scopolamin 1,5 mg
Bảng 3.15. Tổng kết các thông số thấm của SH trong các Duro-Tak ® (Trang 89)
Bảng 3.35. Kết quả khảo sát độ đúng và độ chính xác giữa các lần đo trong ngày - Nghiên cứu bào chế thuốc dán thấm qua da scopolamin 1,5 mg
Bảng 3.35. Kết quả khảo sát độ đúng và độ chính xác giữa các lần đo trong ngày (Trang 119)
Bảng 3.49. Diện tích dưới đường cong AUC 0-72 - Nghiên cứu bào chế thuốc dán thấm qua da scopolamin 1,5 mg
Bảng 3.49. Diện tích dưới đường cong AUC 0-72 (Trang 136)
Bảng 3.52. Các thông số dược động học khác - Nghiên cứu bào chế thuốc dán thấm qua da scopolamin 1,5 mg
Bảng 3.52. Các thông số dược động học khác (Trang 138)
Phụ lục 14.5. Đồ thị nồng độ thuốc thử nghiệm và thuốc đối chiếu trong huyết - Nghiên cứu bào chế thuốc dán thấm qua da scopolamin 1,5 mg
h ụ lục 14.5. Đồ thị nồng độ thuốc thử nghiệm và thuốc đối chiếu trong huyết (Trang 205)
Phụ lục 14.9. Đồ thị nồng độ thuốc thử nghiệm và thuốc đối chiếu trong huyết - Nghiên cứu bào chế thuốc dán thấm qua da scopolamin 1,5 mg
h ụ lục 14.9. Đồ thị nồng độ thuốc thử nghiệm và thuốc đối chiếu trong huyết (Trang 207)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm