1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biến đổi khí hậu và các khu vực đô thị ở Đông Nam Á: Thực trạng và các vấn đề trong tiếp cận thích ứng

18 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gia tăng đô thị hóa và biến đổi khí hậu (BĐKH) là hai hiện tượng phổ biến trên toàn cầu trong thế kỷ XXI. Hai hiện tượng này liên quan chặt chẽ với nhau, đã và đang tạo ra nhiều tác động đến đời sống kinh tếxã hội trên thế giới nói chung, Đông Nam Á (ĐNA) và Việt Nam nói riêng. Vị trí địa lý đặc biệt của nhiều đô thị ĐNA khiến khu vực này đã và sẽ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các hiện tượng liên quan đến BĐKH như: nước biển dâng, bão và áp thấp nhiệt đới, ngập lụt, nguy cơ khan hiếm nước, các hiện tượng thời tiết cực đoan, vấn đề an ninh lương thực và tị nạn môi trường...

Trang 1

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ CÁC KHU VỰC ĐÔ THỊ Ở ĐÔNG NAM Á: THỰC TRẠNG VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRONG TIẾP CẬN THÍCH ỨNG

Trần Thọ Đạt và Lê Thu Hoa

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Tóm tắt

Các khu vực đô thị là nơi tập trung dân cư và các hoạt động kinh tế, là nguồn quan trọng phát sinh khí nhà kính gây biến đổi khí hậu (BĐKH), đồng thời cũng là nơi chịu tác động mạnh của BĐKH và là nơi khởi nguồn của nhiều hoạt động ứng phó với BĐKH Đông Nam Á (ĐNA) là khu vực đang trong quá trình đô thị hóa nhanh, cũng là khu vực cực kỳ dễ

bị tổn thương bởi BĐKH Bài viết này nhằm làm rõ một số dạng tác động chủ yếu của BĐKH đến các đô thị ĐNA như nước biển dâng, bão và áp thấp nhiệt đới, ngập lụt, nguy

cơ khan hiếm nước, các hiện tượng thời tiết cực đoan, vấn đề an ninh lương thực và hiện tượng tị nạn môi trường Bài viết cũng bàn về một số vấn đề và thách thức liên quan đến thích ứng về công nghệ, về hành vi của xã hội, của các cơ chế quản lý, các chính sách thích ứng, năng lực và quan điểm của các quốc gia ĐNA trong thích ứng với BĐKH Trên

cơ sở so sánh với bối cảnh của ĐNA, bài viết cũng chỉ ra một số hạn chế/khó khăn và hàm

ý đối với chính sách thích ứng BĐKH ở đô thị Việt Nam

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Gia tăng đô thị hóa và biến đổi khí hậu (BĐKH) là hai hiện tượng phổ biến trên toàn cầu trong thế kỷ XXI Hai hiện tượng này liên quan chặt chẽ với nhau, đã và đang tạo ra nhiều tác động đến đời sống kinh tế-xã hội trên thế giới nói chung, Đông Nam Á (ĐNA) và Việt Nam nói riêng

Vị trí địa lý đặc biệt của nhiều đô thị ĐNA khiến khu vực này đã và sẽ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các hiện tượng liên quan đến BĐKH như: nước biển dâng, bão và áp thấp nhiệt đới, ngập lụt, nguy cơ khan hiếm nước, các hiện tượng thời tiết cực đoan, vấn đề an ninh lương thực và tị nạn môi trường

Trong thời gian gần đây, chiến lược thích ứng với BĐKH tại các đô thị ĐNA, trong đó có Việt Nam, đang thay đổi theo chiều hướng tăng cường áp dụng các kịch bản khí hậu ở quy mô vùng

và các phương pháp dự báo bằng mô hình có phạm vi không gian lớn hơn, phạm vi thời gian dài hơn; từ đó, nhiều biện pháp thích ứng về công nghệ, kinh tế, hành vi xã hội, cơ chế quản lý và chính sách đã và đang được áp dụng

Đánh giá các tác động của BĐKH, phân tích những cách tiếp cận thích ứng với BĐKH để làm rõ những vấn đề hạn chế/khó khăn của các đô thị ĐNA, trên cơ sở đó đề xuất những gợi ý liên quan đến việc xây dựng và thực thi chính sách thích ứng với BĐKH của các đô thị Việt Nam sẽ góp phần cung cấp thông tin hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách và quản lý đô thị trong quá trình ra quyết định nhằm chống chịu tốt hơn với những nguy cơ của BĐKH tại Việt Nam

Trang 2

2 ĐÔ THỊ HÓA TRONG MỐI LIÊN QUAN TỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU: TÁC ĐỘNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ

Đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành và phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị, đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu, trên cơ sở hiện đại hóa hệ thống hạ tầng và tăng quy mô dân số Trong những năm cuối của thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, đô thị hóa nhanh đã khiến các thành phố trở thành nơi sinh sống “chuẩn mực” của nhiều người trên toàn cầu Phần lớn dân cư

đô thị của thế giới hiện sống tại 408 thành phố có số dân trên 1 triệu người và 20 siêu đô thị với

số dân trên 10 triệu người Trong số 408 “thành phố trên 1 triệu dân”, có tới 377 thành phố thuộc các nước đang phát triển Châu Á chiếm 67% trong số 377 thành phố đó Thực tế là, tuy chỉ chiếm chưa đầy 1% diện tích bề mặt Trái đất, các thành phố là nơi sinh sống của trên 50% dân số thế giới, tiêu thụ 75% nguồn năng lượng, phát thải 78% lượng cacbon và tạo ra 75% lượng khí gây hiệu ứng nhà kính (WWF, 2009)

Liên quan đến BĐKH, một trong những hiểm họa nghiêm trọng nhất đe dọa con người trong thế

kỷ XXI, các khu vực đô thị: (i) là nơi tập trung dân cư, các hoạt động công nghiệp, giao thông và các nguồn thải khí gây hiệu ứng nhà kính, là nguyên nhân gây ra BĐKH; (ii) là nơi bị tác động mạnh bởi BĐKH, đặc biệt là các tác động đến môi trường và hệ thống hạ tầng kinh tế-xã hội; và (iii) là khởi nguồn quan trọng của các hoạt động ứng phó với BĐKH thông qua các sáng kiến, chính sách và hành động nhằm giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu

Theo Savage (2010), tác động của BĐKH tới các khu vực đô thị cần được xem xét từ hai khía cạnh: (i) tác động trực tiếp tới môi trường đô thị do các hiện tượng như bão và áp thấp nhiệt đới, nước biển dâng, mưa lớn và kéo dài; và (ii) tác động gián tiếp làm thay đổi các quá trình và hoạt động kinh tế-xã hội trong lòng các đô thị

Mức độ tác động của BĐKH và khả năng thích ứng với tác động của BĐKH đến môi trường đô thị phụ thuộc vào các biến số như: (i) đặc điểm dân số và mức độ đô thị hóa của quốc gia; (ii) quy mô dân số của đô thị - có thể thay đổi từ 10.000 đến một triệu người, năm đến mười triệu hoặc hơn; (iii) tốc độ tăng dân số tại các đô thị và loại hình tăng trưởng dân số (tăng tự nhiên, di dân cơ học hay cả hai); (iv) chất lượng cuộc sống trong đô thị (thu nhập bình quân đầu người) và các mức nghèo đô thị; và (v) thực trạng của hệ thống hạ tầng đô thị và tỷ lệ dân số được hưởng lợi từ hệ thống này

Khi đánh giá tác động của BĐKH đến đô thị, một số tiêu chí thường được sử dụng như:

+ Khả năng bị tác động bởi BĐKH của đô thị (Climate Exposure - CE): là khả năng một đô thị

bị tác động bởi BĐKH và các hiện tượng như nước biển dâng, bão, áp thấp nhiệt đới, hạn hán hay ngập lụt Các thành phố có vị trí và điều kiện địa lý tự nhiên dễ bị tác động bởi thiên tai có

hệ số CE cao hơn các thành phố khác

+ Mức độ nhạy cảm với BĐKH của đô thị (Climate Sensitivity - CS): là biến số phụ thuộc vào các yếu tố dân số, GDP, tầm quan trọng của kinh tế đô thị đối với nền kinh tế quốc gia Các thành phố có đông dân số, GDP cao và có tầm quan trọng đối với kinh tế quốc gia sẽ có chỉ số mức độ nhạy cảm cao hơn

Trang 3

+ Tính dễ bị tổn thương do BĐKH của đô thị (Climate Vulnerability - CV): là mức độ mà một

đô thị dễ bị tác động bởi/hoặc không có khả năng đối phó với các tác động bất lợi của BĐKH, bao gồm cả những thay đổi của điều kiện khí hậu và những hiện tượng cực đoan CV phụ thuộc vào các biến số về đặc điểm, cường độ và tốc độ của BĐKH mà đô thị bị tác động, mức độ nhạy cảm (CV) và năng lực thích ứng (Adaptative Capacity - AC) của đô thị

Thích ứng với BĐKH bao gồm các cách ứng phó, điều chỉnh và hành động của con người và thiên nhiên, nhằm chống chịu và/hoặc giảm thiệt hại có thể xảy ra, giảm khả năng bị tổn thương trước những tác động của BĐKH Nói cách khác, đó là “kiểm soát những điều không thể tránh khỏi” Năng lực thích ứng với BĐKH của đô thị liên quan đến: (i) sự nhận thức về tầm quan trọng, quy mô, phạm vi và tốc độ của BĐKH; (ii) sự thay đổi phong cách sống, chất lượng sống

và cách tạo lập sinh kế; (iii) thay đổi về kinh tế và tiến bộ công nghệ; và (iv) điều chỉnh hệ thống

hạ tầng trong thiết kế các đô thị sinh thái và các vấn đề quan hệ giữa đô thị với vùng ảnh hưởng

và “dấu chân sinh thái” (Eco-footprint) của đô thị Năng lực thích ứng với BĐKH của đô thị khác nhau từ cách ứng xử của các chủ thể đơn lẻ tới các cơ chế và hoạt động điều tiết vĩ mô của chính phủ, là kết quả của cả những ứng phó tức thì cũng như những biện pháp ứng phó mang tính dài hạn và phòng ngừa

3 ĐÔ THỊ HÓA VÀ MỘT SỐ TÁC ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỚI CÁC

ĐÔ THỊ ĐÔNG NAM Á

Đông Nam Á là khu vực đang trong quá trình đô thị hóa nhanh Nếu năm 1950, chỉ có 15% dân

số Đông Nam Á sinh sống tại các vùng đô thị, thì năm 2010, con số này là 41,8% (246,7 triệu người) Ước tính đến năm 2025, con số này sẽ là 49,7%, năm 2050 là 65,4%

Bảng 3.1 Tỷ lệ đô thị hóa ở các quốc gia Đông Nam Á qua các thời kỳ

Nguồn: UNDP, 2010

Trang 4

Tỷ lệ đô thị hóa có sự khác biệt khá lớn giữa các quốc gia trong khu vực, thể hiện sự liên quan giữa đô thị hóa và phát triển kinh tế Các quốc gia trong khu vực có thể được chia thành 3 nhóm: Nhóm thứ nhất gồm các quốc gia có tỷ lệ đô thị hóa cao (trên 65%) và mức độ phát triển kinh tế cao (thể hiện qua GDP bình quân đầu người): Xingapo, Brunây và Malaixia; Nhóm thứ hai gồm các nước có kinh tế ít phát triển hơn và tỷ lệ đô thị hóa thấp (dưới 34%): Campuchia, Timo Leste, Việt Nam, Lào và Myanma; Nhóm ở giữa gồm các quốc gia: Thái Lan, Inđônêxia và Philipin

Đông Nam Á tạo ra 12% (5.187 triệu tấn CO2-eq) khí thải gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu (GHGs), chủ yếu do suy giảm trữ lượng sinh khối gây ra bởi việc chặt phá rừng Trong số 5.187 triệu tấn GHGs đó, 59% là từ Inđônêxia, 6% từ Thái Lan, 4% từ Philipin, 2% từ Việt Nam và 1%

từ Xingapo Lượng thải GHGs bình quân đầu người cao hơn so với mức trung bình toàn cầu, nhưng vẫn thấp hơn so với các nước phát triển (ADB, 2009)

Biến đổi khí hậu là một thách thức rất lớn đối với các quốc gia Đông Nam Á trong thế kỷ XXI

do đây là khu vực cực kỳ dễ bị tổn thương Có thể thấy, BĐKH đã và đang tác động đến hầu như toàn bộ ĐNA, đặc biệt là các khu vực ven biển

Vị trí địa lý đặc biệt của ĐNA nói chung, các đô thị ven biển nói riêng, khiến khu vực này đã và

sẽ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các hiện tượng liên quan đến BĐKH như: nước biển dâng, bão

và áp thấp nhiệt đới, ngập lụt, nguy cơ khan hiếm nước, các hiện tượng thời tiết cực đoan, vấn đề

an ninh lương thực và tị nạn môi trường Các dạng tác động chủ yếu của BĐKH đến một số thành phố lớn của các quốc gia ĐNA được thể hiện trong Bảng 3.2

Khoảng 173.251 km đường bờ biển và sự tập trung đông dân số cũng như các hoạt động kinh tế tại khu vực ven biển sẽ chịu ảnh hưởng bởi mực nước biển dâng 0,6-2,0 mm hàng năm theo dự báo của ADB (ADB, 2009) Kịch bản “khiêm tốn” nhất cũng dự báo mực nước biển trong khu vực đến cuối thế kỷ XXI có thể tăng 40 cm so với hiện tại Nhiều thành phố thủ đô của các quốc gia ĐNA nằm ở vị trí ven biển và phải đối mặt với tất cả các vấn đề của nước biển dâng

Các đô thị thuộc vùng đất thấp ven biển (LECZ) - những vùng đất trong phạm vi cách đường bờ biển 100 km, có độ cao nhỏ hơn hoặc bằng 10 m, chiếm 29,4% tổng diện tích các đô thị, là nơi sinh sống của 36% dân số toàn khu vực, tương đương 12,3% tổng dân số đô thị của vùng Người nghèo (theo tiêu chí nghèo đa chiều - bao gồm sự thiếu thốn về thu nhập, giáo dục, nhà ở…) tại các đô thị này dường như chịu tỷ lệ ảnh hưởng cao hơn các nhóm người khác bởi họ thường sống ở các vùng đất rất thấp

Tại Xingapo, mực nước biển dâng 59 cm, có thể gây ra sự suy giảm đáng kể của rừng ngập mặn, xói mòn bờ biển, mất đất Trong vài thập kỷ trở lại đây, Chính phủ Xingapo đã tiến hành mở diện tích quốc gia thông qua các biện pháp lấn biển khá tốn kém Kết quả là trên 20% diện tích của đảo quốc này hiện nay là đất lấn biển Với dự báo mực nước biển dâng từ 0,5 đến 1,5 m, các vùng đất lấn biển lại đang trong nguy cơ bị đe dọa Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, chi phí

để bảo vệ vùng ven bờ của Xingapo sẽ trong khoảng từ 0,3-5,7 tỷ USD vào năm 2050, từ 0,9 đến 16,8 tỷ USD vào năm 2010

Trang 5

Nguồn: Marwan Owaygen, 2010

Hình 3.1 Tính dễ bị tổn thương do các tác động của BĐKH ở khu vực Đông Nam Á Bảng 3.2 Các dạng tác động chủ yếu của biến đổi khí hậu tới một số thành phố Đông Nam Á

Thành phố

Diện tích đất bị ảnh hưởng

Nước biển dâng

Ngập lụt

Khan hiếm nước

Bão và

áp thấp nhiệt đới

An ninh lương thực

Nguồn: WWF, 2009

Nước biển dâng cùng với hiện tượng sạt lở đất do khai thác nước ngầm quá mức… sẽ làm đường

bờ biển của Inđônêxia dịch chuyển vào trong và gia tăng nguy cơ ngập lụt Đến năm 2050, nếu

Trang 6

mực nước biển dâng theo các kịch bản 0,25; 0,57 hoặc 1,0 cm/năm, diện tích ngập lụt ở Bắc Jakarta tương ứng sẽ là 40, 45 hoặc 90 km2 Nếu mực nước biển dâng trung bình năm 2050 là 0,5m và hiện tượng sạt lở vẫn tiếp tục, nhiều diện tích của Bắc Jakarta và Bekasi sẽ bị ngập lụt vĩnh viễn (ADB, 2009)

Tại Philipin, mực nước biển dâng 30 cm vào năm 2045, sẽ ảnh hưởng đến 2.000 ha đất và khoảng 500.000 dân Mức dâng 100 cm vào năm 2080, sẽ gây ngập lụt cho hơn 5.000 ha đất vùng ven vịnh Manila và làm ảnh hưởng đến 2,5 triệu người Rủi ro còn gia tăng nếu nước biển dâng đi cùng gia tăng cường độ bão

Tại Thái Lan, các khu vực dân cư dọc theo sông và bờ biển sẽ có nguy cơ bị đe dọa bởi nước biển dâng và bão Xói mòn bờ biển được dự báo sẽ gia tăng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành

du lịch

Các thành phố cảng của khu vực Đông Nam Á cũng dễ bị tổn thương do vị trí nằm ở vùng đồng bằng thấp ven biển Nghiên cứu của Nicholls và nnk (2008) đối với 12 thành phố cảng cho thấy,

đã có trên 5 triệu người bị ảnh hưởng bởi ngập lụt vùng ven bờ gây ra do bão và 114 tỷ USD bị thiệt hại do gió mạnh Đến năm 2070, khoảng 28 triệu người và tài sản trị giá 2.900 tỷ USD có thể bị tác động bởi BĐKH

Bảng 3.3 Diện tích, dân số đô thị vùng đất thấp ven biển các quốc gia Đông Nam Á

Quốc gia

Diện tích đất

đô thị (1995),

km 2

DT đô thị vùng đất thấp ven biển (1995), km 2

Dân số đô thị (2000), 1.000 người

Dân số đô thị vùng đất thấp ven biển (2000), 1.000 người

Nguồn: CIESIN, 2006

BĐKH đối với Đông Nam Á còn có thể gây ra tác động gián tiếp tới hiện tượng tị nạn môi trường Nhiều người dân không thể thích ứng với những thay đổi do hạn hán, lũ lụt hoặc xói mòn

Trang 7

đất tại nơi họ đã từng sinh sống, đã rời bỏ làng quê để ra thành phố Nghiên cứu của ADB (2009) chỉ ra rằng, chuyển đổi nơi sinh sống của con người đã diễn ra trên quy mô toàn cầu, bất chấp những cách biệt trong nhận thức về BĐKH, di dân và các mối quan hệ khác Điều nghịch lý là, làn sóng tỵ nạn môi trường đó lại đổ xô về các thành phố Khả năng đáp ứng nhu cầu di chuyển

đó dường như khó đạt được khi số người di cư được dự báo sẽ tiếp tục gia tăng Những người di

cư thường sống trong các khu vực nhà ở chật chội, hạ tầng nghèo nàn và gặp nhiều hạn chế về tiếp cận nước sạch, các điều kiện giáo dục và chăm sóc sức khỏe Các điều kiện bất lợi của nhóm người di cư này khiến họ càng dễ bị tổn thương hơn do các tác động đa dạng của BĐKH

Bảng 3.4 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới một số thành phố cảng Đông Nam Á

Thành phố

Dân số năm 2005, 1.000 người

Dân số bị ảnh hưởng, 1.000 người

Tài sản bị ảnh hưởng,

tỷ USD

Dân số bị ảnh hưởng, 1.000 người

Tài sản bị ảnh hưởng,

tỷ USD

Nguồn: Nicholls và nnk., 2008

Đánh giá khả năng bị tác động, mức độ nhạy cảm và tính dễ bị tổn thương do BĐKH:

Bảng 3.5 Khả năng bị tác động, mức độ nhạy cảm và tính dễ bị tổn thương

của một số thành phố Đông Nam Á

động (CE)

Mức độ nhạy cảm

(CS)

Tính dễ bị tổn thương (CV)

Nguồn: WWF, 2009

Trang 8

Khi xem xét các tác động trong mối liên quan tới dân cư đô thị, các hoạt động kinh tế đô thị và vai trò của đô thị đối với nền kinh tế quốc gia, Jakarta được đánh giá là thành phố nhạy cảm nhất trong khu vực với BĐKH Manila và Băng Cốc (đều là các megacity) cũng có mức độ nhạy cảm cao

Dựa trên khả năng bị tác động (CE), mức độ nhạy cảm của đô thị (CS) và các tiêu chí liên quan, nghiên cứu của WWF (2009) đã chỉ ra một số thành phố của ĐNA dễ bị tổn thương bởi BĐKH hơn so với các thành phố khác (xem Bảng 3.5) Manila (Philipin) và Jakarta (Inđônêxia) được đánh giá là hai thành phố dễ bị tổn thương nhất (mức 8), trong khi Kuala Lumpur (Malaixia) và Xingapo là hai thành phố ít bị tổn thương nhất (mức 4)

4 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VÀ THÁCH THỨC LIÊN QUAN ĐẾN THÍCH ỨNG VỚI ĐIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở ĐÔNG NAM Á

4.1 Thích ứng về công nghệ

Theo UNFCCC (2006), các thành phố có thể có nhiều cách thức ứng phó về mặt công nghệ, nhằm chống chịu với những tác động của nước biển dâng (xem Bảng 4.1)

Trong một thời gian dài, do các thành phố hầu hết đều có không gian hạn chế, chúng dường như chưa thu hút sự chú ý của các nhà công nghệ về các kịch bản khí hậu mới, bởi lẽ BĐKH toàn cầu dường như chỉ liên quan đến những khu vực địa lý rộng lớn với những tác động lớn Tuy nhiên gần đây, chính quyền nhiều thành phố đã quan tâm nhiều hơn đến việc sử dụng các công nghệ mới cho người dân đô thị, giới thiệu các kỹ thuật mới để thực hiện các biện pháp thích ứng đối với môi trường đô thị Các nghiên cứu về công nghệ đang thay đổi theo chiều hướng tăng cường

áp dụng các kịch bản khí hậu ở quy mô vùng và các phương pháp dự báo bằng mô hình có phạm

vi không gian lớn hơn, phạm vi thời gian dài hơn

Bảng 4.1 Các giải pháp công nghệ thích ứng với biến đổi khí hậu ở khu vực ven biển

Các kết cấu cứng: đê biển,

dải chắn thủy triều, hệ

thống phân tán nước

+ Thiết lập các vùng an toàn phía sau

+ Di chuyển các tòa nhà có nguy cơ bị đe dọa

Các hệ thống di dân và cảnh báo sớm

Các kết cấu mềm: đụn cát,

phục hồi đất ngập nước,

rừng ven biển

Hạn chế/không phát triển tại các khu vực có nguy cơ bị tác động

+ Các phương thức canh tác nông nghiệp mới

+ Các tiêu chuẩn xây dựng mới Các giải pháp bản địa: bức

chắn bằng gỗ, đá, trồng

rừng

+ Xây dựng rào chắn tại các vùng đất cao

+ Quyền sử dụng các vùng đất khác

+ Cải thiện hệ thống thoát nước + Các hệ thống lọc nước biển

Nguồn: UNFCCC, 2006

Trang 9

Tại nhiều đô thị ĐNA, có sự chênh lệch khá lớn về của cải giữa những người nghèo sống ở khu ổ chuột với những quý tộc giàu có sống trong những biệt thự kín cổng cao tường Người nghèo đô thị cần những hỗ trợ về hạ tầng để thích ứng với BĐKH Tại Thái Lan, Viện Nghiên cứu Phát triển các Tổ chức Cộng đồng (CODI) đã thực hiện từ năm 2003 đến năm 2008 chiến dịch phát triển nhà, hạ tầng và an ninh về quyền sử dụng đất cho 300.000 hộ dân của 2.000 khu dân cư tại

200 đô thị của quốc gia này Đến năm 2006, đã có 450 dự án nâng cấp khu nghèo đô thị như vậy được thực hiện tại 170 thành phố và thị trấn, thu hút 45.500 hộ gia đình Năm 2006, UN-HABITAT đã công nhận Thái Lan đang trên đà đạt được các mục tiêu Thiên niên kỷ MDG trong việc cải thiện đời sống người dân khu ổ chuột, số người sống trong các khu ổ chuột giảm 18,8%/năm (Savage, 2010) Xingapo cũng là một ví dụ tốt khi thay thế các khu ổ chuột bằng các nhà ở công cộng, tạo ra một thành phố sạch và xanh

Với những dự báo cho rằng, BĐKH sẽ làm gia tăng lượng mưa tại các khu vực vùng xích đạo, trong khi hạn hán có thể gia tăng tại các khu vực vùng nhiệt đới, chính quyền nhiều nước ĐNA

đã thấy cần đầu tư đúng cho hệ thống hạ tầng tại các đô thị để bảo đảm rằng, người dân ở đó được bảo vệ an toàn chống lại các hiện tượng khí hậu cực đoan Tại Xingapo, thành phố nằm ở vùng xích đạo, hiện tượng không thoát nước kịp khi mưa xảy ra hai lần trong tháng 7 năm 2010, gây ra ngập lụt kéo dài tại các khu dân cư chủ yếu và hệ thống đường cao tốc biểu tượng của thành phố - đường Orchard, gây tổn thất kinh tế lớn cho người dân và các doanh nghiệp, gây lúng túng cho chính quyền thành phố Bài học cho Xingapo và các thành phố có khả năng mưa nhiều là hệ thống thoát nước đô thị cần đủ lớn để ứng phó trong các giai đoạn lượng mưa tăng cao, nếu không thành phố sẽ phải đối mặt với ngập lụt kéo dài trên diện rộng, gây thiệt hại cho kinh tế đô thị, tạo ra nhiều tổn thất kinh tế và tệ hại hơn, thương vong và tổn thất về người Không như các vùng nông thôn hay các khu cảnh quan thiên nhiên nơi nước mưa được hấp thụ bởi tầng đất và thảm thực vật, tại các đô thị với các công trình xây dựng, dòng chảy nước mưa sẽ được “phóng đại” và trở nên nguy hiểm hơn, bởi nước mưa được thu gom từ các khu xây dựng rộng lớn sau đó đổ vào hệ thống cống thoát của thành phố

Khi BĐKH gia tăng trong hai thập kỷ tới, các tác động môi trường cũng tăng lên do khoảng thời gian từ khi hình thành bão đến khi mưa sẽ rút ngắn hơn và nhiều thành phố sẽ không có khả năng chống chịu với lượng mưa lớn và kéo dài Chính phủ các quốc gia ĐNA cần nhận thức được lợi ích to lớn của việc đầu tư để kiểm soát ngập lụt Bài học của Kyoto (Nhật Bản) cho thấy, một USD đầu tư cho kiểm soát ngập lụt sẽ giúp giảm tác động 1.300 lần so với chi tiêu chung cho cả thành phố (Savage, 2010)

Thiếu nước là một trong 3 vấn đề BĐKH trong thế kỷ XXI Sự thay đổi lượng mưa do BĐKH sẽ tác động nhiều đến sản xuất nông nghiệp Trận hạn hán kéo dài trong năm 2009-2010 ở Philipin

đã làm hư hại và phá hủy 162.000 ha đất canh tác, gây ra chi phí cho nông dân ước tính khoảng

61 triệu USD Mặc dù đã nỗ lực trong quản lý nguồn nước, trận hạn này đã buộc Chính phủ Philipin phải nhập khẩu 2,2 triệu tấn lương thực Cũng do đợt hạn hán năm 2009-2010 tại vùng lục địa ĐNA và Philipin đã buộc các chính phủ phải thử nghiệm một loạt các hệ thống thích ứng, như xây dựng thêm nhiều giếng nước, lắp đặt thêm hàng ngàn máy bơm, ứng dụng kỹ thuật điện toán đám mây trong gieo hạt giống tại các tỉnh bị tác động mạnh nhất ở phía Bắc Hồ chứa Angat, nơi cung cấp nước cho cả nông nghiệp và 97% nhu cầu nước sinh hoạt cho vùng thủ đô Manila, đã được Chính phủ quy hoạch là nơi dự trữ nước cho nhu cầu của đô thị (Savage, 2010)

Trang 10

Lọc nước biển dường như đang trở thành một ngành công nghiệp nhằm giải quyết nạn thiếu nước tại nhiều thành phố và quốc gia Hiệp hội Lọc Nước biển Quốc tế (IDA) khẳng định là, đã

có 12.300 trạm lọc nước biển đang hoạt động tại 155 quốc gia trên thế giới, với tổng công suất là

47 triệu m3 nước/ngày Hai ngàn nhà máy ở Arab Saudi chiếm hơn ¼ sản lượng nước sản xuất từ nước biển của toàn thế giới Tuy nhiên, kỹ thuật lọc nước tốn kém, sử dụng nhiều năng lượng này dường như chỉ phù hợp với các nước nhiều dầu mỏ Mặc dù tiêu thụ nhiều năng lượng, ngành nước từ nước biển vẫn tăng trưởng tới 25%/năm Barlow (2008) đã nêu câu hỏi rất nghiêm túc về việc liệu ngành sản xuất nước từ nước biển có phải là biện pháp tốt để giải tỏa cơn khát của con người trên hành tinh khi chỉ ra 3 trở ngại đối với ngành này, gồm: (i) sử dụng nhiều năng lượng, tạo ra gánh nặng cho hệ thống truyền tải điện địa phương (không là vấn đề đối với các nước sản xuất dầu lửa như Arab Saudi); (ii) các trạm lọc nước tạo ra các hợp chất chứa hóa chất và kim loại nặng gây chết người và để tránh hiện tượng ăn mòn do muối, cứ mỗi lít nước được lọc lại có một lít chất độc được bơm trở lại biển (hiện tại các nhà máy lọc nước biển trên toàn thế giới tạo ra 20 tỷ lít chất thải mỗi ngày); và (iii) nước cấp cho các nhà máy lọc nước có thể chứa chất gây ô nhiễm (virus, vi khuẩn, tảo độc…) mà cách lọc nước theo công nghệ thẩm thấu ngược hiện tại không loại bỏ được Không khó để có thể hình dung được vấn đề về chất lượng nước sử dụng cho các trạm lọc nước biển khi mà các nước đang phát triển xả 90% lượng nước thải của họ xuống biển

Bên cạnh việc lọc nước biển, còn có những bài học mà các quốc gia ĐNA có thể học được từ kinh nghiệm của Xingapo trong việc quản lý nguồn nước Do sự phụ thuộc của Xingapo vào nguồn nước nhập khẩu từ Johor (Malaixia) và quan hệ chính trị không ổn định giữa hai quốc gia này, đặc biệt là trong nhiệm kỳ của Thủ tướng Mahathir Mohamad, chính phủ Xingapo đã thấy

sự cần thiết cả về kinh tế và chính trị trong việc bảo đảm an ninh về nước cho đảo quốc của mình Vì vậy, trong bốn thập kỷ gần đây, Bộ Môi trường và Nguồn nước (MEWR), Ủy ban Phúc lợi Công cộng (PUB) và các trường đại học (ĐH Quốc gia Xingapo, NUS và ĐH Công nghệ Nanyang) đã đầu tư lớn cả về tài chính và nhân lực cho các hệ thống chuyển đổi, bảo tồn và sản xuất nước (lọc nước biển, thu gom nước mưa trên đường phố, tái chế nước với công nghệ NEWater, tăng công suất hồ chứa, kiểm soát giá nước, mở rộng diện tích lưu vực tới 50% diện tích đảo, tăng cường hệ thống trữ nước ngầm…) Hệ thống tái chế nước hiện tại đáp ứng khoảng 30% nhu cầu sử dụng nước của Xingapo

Đảo quốc Xingapo đã trở thành “trung tâm đầu mối về nước toàn cầu” (Global Hydrohub), thu hút nhiều doanh nghiệp về công nghệ nước, đồng thời xuất khẩu công nghệ và chuyên gia đi khắp thế giới Chính phủ Xingapo đầu tư rất nhiều cho nghiên cứu và triển khai (R&D) các công nghệ nước Ví dụ, năm 2007, Ủy ban Phát triển Công nghiệp Nước và Môi trường đã tài trợ 330 triệu USD cho Quỹ Nghiên cứu Nước và đào tạo nghiên cứu viên cho các giải pháp về nước trong khu vực tư nhân Nhờ sự hỗ trợ từ Chính phủ và một môi trường thân thiện đối với R&D, nhiều công ty đang sử dụng đảo quốc như một nơi thử nghiệm của các công nghệ nước Các công ty lớn như Black & Veatch (Mỹ), Siemen (Đức) đều chuyển cơ sở của họ sang Xingapo Các công ty xử lý nước của Xingapo cũng “nở rộ”, trong đó phải kể đến Hyflux, công ty đã phát triển sáng kiến tái chế nước NEWater và đang xuất khẩu công nghệ này sang Ôxtrâylia, Ấn Độ, Thái Lan, Trung Đông và Trung Quốc Xingapo tin tưởng rằng đến năm 2061, khi thỏa thuận về cung cấp nước sạch từ Malaixia hết hiệu lực, thì họ cũng có khả năng tự chủ về nước Đóng góp quan trọng cho khả năng tự chủ này là của công nghệ tái chế nước NEWater Đến năm 2020, sẽ

Ngày đăng: 09/10/2021, 10:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w