Để thuận tiện cho việc tìm hiểu, chúng tôi chia bế cục đoạn trích thành ba đoạn nhỏ: - Đoạn 1 từ câu thơ “Khi tình rượu, lúc tàn canh” đến câu thỏ “Chẳng uò mà rối, chẳng dân mà dau”:
Trang 1NGON NGU
SỐ 6
TÌM HIỂU NGÔN NGỮ VĂN CHƯƠNG
2005
TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT HÀNH VĂN VÀ SỬ DUNG TU NGU CUA NGUYEN DU TRONG MOT DOAN TRICH TRUYEN KIEU DUOC GIANG DAY
O TRUONG PHO THONG TRUNG HOC
Đó là đoạn trích Những nổi lòng
tê tdi 6 trong sách giáo khoa Văn 10,
tap 1, Nxb GD, H., 2000, tr 171 Tên
đoạn trích là do người biên soạn
sách giáo khoa đặt Để thuận tiện
cho việc tìm hiểu, chúng tôi chia bế
cục đoạn trích thành ba đoạn nhỏ:
- Đoạn 1 (từ câu thơ “Khi tình
rượu, lúc tàn canh” đến câu thỏ
“Chẳng uò mà rối, chẳng dân mà
dau”): Néi khổ đau về thân phận
của Thuý Kiều khi nàng phải làm
kĩ nữ lầu xanh
- Đoạn 3 (từ câu thơ “Nhớ ơn
chín chữ cao sâu” đến câu thơ “Giấc
hương quan luống lần mơ canh dai”):
Nỗi nhớ cha mẹ, nhớ người yêu của
Thuý Kiểu khi nàng phải làm kĩ
nữ lầu xanh
- Đoạn 3 (từ câu thơ “Song sơ
vd Uõ phương trời” đến câu tho “Sao
cho sử nhục một lan moi thôi): Bi
kịch số phận của Thuý Kiểu khi
nàng phải làm kĩ nữ lầu xanh
1 Nỗi khổ đau về thân phận
của Thuý Kiều khi nàng phải
làm kĩ nữ lầu xanh
Khi tính rượu, lúc tàn canh
TS TRUONG XUAN TIEU"
Giật mình mình lại thương mình xót xa
Hai câu thơ này được Nguyễn
Du viết theo thể tự sự, nhưng không
nhằm kể chuyện, mà là để thể hiện
diễn biến tâm trạng nhân vật Thuý Kiểu sau những cuộc truy hoan chốn lầu xanh Ở những thời điểm ấy Thuý Kiểu rơi vào tâm lí hết sức bi đát và lòng nàng đầy những cảm giác hãng hụt, mất mát, chua chát đẳng cay Bằng cách ngắt câu lục
theo nhịp 3 - 3 và câu bát theo nhịp 2- 4-9, kết hợp nghệ thuật điệp
từ (đại từ zmnh được lặp lại 3 lần)
với động từ xó/ xø Nguyễn Du đã
thể hiện sinh động những diễn biến
nội tâm đầy đau khổ của Thuý Kiều khi nàng bị Tú Bà khuất phục và ép buộc phải làm kĩ nữ lầu xanh
Tiếp theo là bốn câu thơ được Nguyễn Du thể hiện bằng nghệ
thuật đối lập - so sánh: đối lập giữa hiện tại với quá khứ, nhằm làm bật
nổi hiện tại và qua đó mà phản ánh
` Giảng tiên Khoa ngữ uăn, Trường
dat hoc Vinh.
Trang 2nỗi niềm tê tái, khổ đau của Thuý
Kiều trước cuộc sống lầu xanh:
Khi sao phong gấm rủ là
Giờ sưo tan tác như hoa giữa
đường?
Mặt sao đày gió dạn sương?
Thân sao bướm chún ong chường
bấy thân)
Với việc chuyển những câu thơ
nghi vấn thành những câu thơ cảm
thán (qua việc sử dụng từ sao),
Nguyễn Du miêu tả tập trung nỗi
xót xa, khắc khoải của Thuý Kiều
trong kiếp sống lầu xanh Các thành
ngữ tiếng Việt (dày gió dạn sương,
bướm chán ong chường) được Nguyễn
Du sử dụng đã góp phần khắc sâu
nỗi khắc khoải, xót xa của nhân vật
Thuý Kiểu về thân phận, về số kiếp
Đặc biệt hai câu thơ:
Mặc người mưa Sở mây Tần,
Những mình nòo biết có xuân
la gi
được Nguyễn Du viết trong thế đối
lập quan hệ giữa bản thân Thuý Kiều
(mình) với những khách làng chơi
(người Những cuộc ái ân diễn ra
giữa Thuý Kiều với khách làng chơi,
trong nhận thức của nàng thì trước
sau vẫn chỉ là một sự day vo, cha
đạp thô bỉ của người đời lên thân xác
của nàng và đã làm cho sự mặc cảm
về thân phận ở nàng càng thêm
nặng nể, tui hé
Tâm trạng xót đau của Thuý
Kiều ở chốn lầu xanh còn được
Nguyễn Du chú ý miêu tả qua mối
quan hệ giữa con người và ngoại
cảnh, đó là mối quan hệ giữa tình
với cảnh Bằng bút pháp nghệ
thuật “tả cảnh ngụ tình”, Nguyễn
Du đã diễn tả cụ thể và ấn tượng nỗi buồn về thân phận, về sự cô độc của nhân vật Thuý Kiều ở chốn
lầu xanh:
Doi phen gid twa hoa ké
Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề
trăng thâu
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn, cảnh có uui đâu
bao giời
Giữa con người và cảnh vật thiên nhiên có một mối quan hệ
tương ứng, có một sự cộng thông,
thống nhất, hài hoà Nỗi buồn của con người như lan toả, thấm đượm vào trong từng cảnh vật, và ngược lại mỗi cảnh vật “đeo sầu” càng phản ánh nổi bật tâm trạng của
“người buồn” Đó là nỗi buôn của
Thuý Kiều; của một người con gái
trong thân phận kĩ nữ
Nguyễn Du còn thể hiện tâm
trạng Thuý Kiểu qua mối quan hệ
giữa con người với những sự việc
liên quan đến con người Sự việc
được Nguyễn Du đề cập, thể hiện
ở đây là những thú chơi tao nhã:
“cam - kì - thì - hoạ”:
Doi phen nét vé cau tho, Cung cầm trong nguyệt, nước
cờ dưới hoa
Vui la vui gượng kéo la,
Ai trị âm đó mặn mù uới g1?
Những trò tiêu khiển, giải trí
có tính chất tao nhã ấy chỉ để mua vui, chiều lòng khách làng chơi
nhiều hơn là để thưởng thức nghệ
thuật; và do vậy càng làm cho nỗi lòng Thuý Kiểu thêm u sầu tan nát
Trang 3Tim hiéu 31
bởi những sự ê chề nhục nhã, bởi
thiếu vắng ban tri ki, tri Am
Kết thúc đoạn thơ, Nguyễn Du
đã viết bốn câu thơ trực tiếp miêu
tả nội tâm nhân vật Thuý Kiểu
Nhờ sử dụng thích hợp một số từ
chỉ trạng thái tâm lí Œhờ ở, ngẩn
nøo), một số thành ngữ (gió trúc mưa
mới, rối như tơ uò, đau như dần)
và thay đổi nhịp thơ biến hoá (câu
lục theo nhịp 2 - 4, câu bát theo
nhịp 4 - 4), Nguyễn Du đã miêu tả
thật lâm li, thống thiết nỗi đau
đớn, tái tê diễn ra triển miên,
thầm lặng trong tâm trạng Thuý
Kiểu:
Thờ ở gió trúc mưa mai,
Ngẩn ngơ trăm nỗi dùi mài một
thân
Ôm lòng đòi đoạn xa gần
Chẳng uò mè rối, chẳng dân
ma dau
Ngoài những thủ pháp nghệ
thuật đã vận dụng, khi viết đoạn
thơ này, Nguyễn Du còn rất có ý
thức sử dụng danh từ ¿hân để tô
đậm tâm trạng nhân vật Thuý Kiểu:
giữa chốn lầu xanh, với thân phận
kĩ nữ, Thuý Kiều luôn luôn cảm
thấy bị nhấn chìm, bị bao vây bởi
những nỗi khổ đau, bất hạnh, tủi
nhục, xót xa
2 Nối nhớ cha mẹ, nhớ người
yêu của Thuý Kiều khi nàng
phải làm kĩ nữ lầu xanh
2.1 Nỗi nhớ cha mẹ của Thuý
Kiều
Lúc này, cuộc đời của Thuý Kiều
đã trải qua nhiều biến cố, bước ngoặt:
nàng đã phải bán mình, đã phải xa
gia đình đến sống nơi đất khách quê
người, nàng là một cô gái lương thiện, trong trắng đã bị bọn “buôn thịt bán
người” lừa đảo biến thành một kĩ
nữ Mặc dầu thân phận bị trôi nổi, chìm đắm giữa biển đời ô trọc, Thuý
Kiểu vẫn không lúc nào nguôi nỗi
nhớ cha mẹ, nhớ người yêu
Nỗi nhớ cha mẹ của Thuý Kiểu
tại thời điểm này không còn chỉ là
niềm thương nhớ, nỗi khổ tâm của một người con trước tình cảnh cha - con, mẹ - con bị chia lìa, bị ngăn trổ như khi nàng mới đến ở lầu Ngưng Bích, mà là cả một quá trình nhận thức, suy nghĩ thành kính, sâu sắc,
thường xuyên về công ơn sinh thành,
dưỡng dục của cha mẹ đối với bản thân mình Chính việc Nguyễn Du
sử dụng điển cố “chín chữ” trong câu lục mở đầu đoạn thơ này đã nói lên rất rõ những điều thiêng liêng đó:
Nhớ ơn chín chữ cao sâu,
Một ngày một ngủ bóng dâu tà
tò
Dam nghừn nước thẳm non xa,
Nghĩ đâu thân phận con ra thế
này
Sân hoè đôi chút thơ ngây, Trân cam ai ké do thay uiệc
mình ?
Với điển cố “bóng dâu” trong câu thơ có ý nghĩa miêu tả thời gian sinh mệnh đời người, Nguyễn Du
đã nhấn mạnh nỗi lo về cảnh cha già mẹ yếu vẫn luôn luôn thường trực, ám ảnh trong tâm trạng Thuý Kiểu Trong xa cách vời vợi, trong
biển biệt chia li, cha mẹ không thể
thấy được những nỗi khổ đau, nhục nhã, ê chề của đời nàng để có thể
an ủi Nỗi niém tê tai, dang cay
trong lòng Thuý Kiểu do đó lại càng
Trang 4tăng lên gấp bội Song, Thuý Kiều
vẫn như muốn quên đi mọi nỗi đắng
cay, khổ nhục của bản thân để hướng
về cha mẹ mà băn khoăn, day đứt
về bổn phận làm con mà không được
trực tiếp phụng dưỡng cha mẹ và
lúc này chỉ biết phó thác, gửi gắm vào
hai em tất cả
Có thể nói, trong thân phận
kĩ nữ lầu xanh, lòng Thuý Kiều vẫn
không nguôi hướng về cha mẹ Nàng
đã nhớ về cha mẹ với tất cả tình cảm
và nhận thức của một người con
hiếu thảo nhưng bất hạnh xa nhà
2.2 Nỗi nhớ người yêu của Thuý
Kiều
Nguyễn Du đã tập trung trực
tả nỗi nhớ người yêu của Thuý Kiều
Nếu như nhớ về song thân là một
nỗi nhớ đi vào chiều sâu mà biểu
hiện là sự trân trọng, ghi nhớ ơn
cha, nghĩa mẹ, thì khi nhớ tối Kim
Trọng, hơn lúc nào hết, Thuý Kiều
càng đỉnh nĩnh lời thể thuỷ chung
gắn bó sắt son của mình đối với
người yêu bằng một tình yêu đã đến
độ chín muôồi của nó:
Nhớ lời nguyện ước ba sinh
Xe xôi di có thấu tình chăng ai?
Khi uê hỏi liễu Chương - Đài,
Cành xuân đã bẻ cho người
chuyên tay!
Tình sâu mong trả nghĩa dày,
Hoa kia da chap cành này cho
chua?
Tuy nhiên, thực tế phũ phàng
của số phận và cuộc sống ô nhục ở
lầu xanh đã làm cho nỗi đau về
tình yêu tan vỡ vốn tiểm ẩn bấy
lâu trong lòng Thuý Kiều đến lúc
này lại càng thêm nhức nhối, xót
xa Việc dùng điển cố “ba sinh” và
dai tu ai bang cach nhac di nhac
lại hai lần trong hai câu thơ lục bát
được Nguyễn Du viết theo hình thức
câu hỏi tu từ đã thể hiện rõ sự đan xen, chồng chéo những niềm đau
và nỗi nhớ trong tâm trạng Thuý Kiều đang hướng tới Kim Trọng
Từ đó, Thuý Kiều đã dự cảm về những nỗi đau của Kim Trọng khi chàng từ Liêu Dương trở về vườn Thuý Điển cố “liểu Chương - Dai” xuất hiện trong câu thơ Nguyễn Du
đã thể hiện hàm súc và xúc động
sự hình dung day xót xa của Thuý
Kiểu về tâm trạng bi kịch của chàng Kim trước cảnh vườn Thuý quạnh
hiu Cam hiểu sâu sắc nỗi đau khổ của Kim Trọng trước sự tan võ của tình yêu và mong muốn chàng im
không phải chịu chung nỗi bất hạnh,
mac du trong than phan ki nt, Thuy
Kiều vẫn ấp ủ một nguyện vọng thiết tha “tình sâu mong trú nghĩa
dày”; vẫn không quên lo nghĩ về
việc cậy nhờ Thuý Vân thay mình
trả nghĩa Kim Trọng mà nàng đã đặt ra một cách nghiêm túc từ trước
Quả là, cho đến lúc này, nỗi đau vì tình yêu tan vỡ vẫn như còn
nguyên vẹn những cung bậc xót xa,
tê tái trong lòng Thuý Kiểu; và nó không chỉ hoà nhập vào nỗi sầu nhớ
khôn nguôi, mà còn chuyển hoá thành giấc mộng nhớ quê nhà luôn luôn ẩn hiện, chập chồn của nàng:
Méi tinh ddi doan vo to, Giấc hương quan luống lần mở
canh dài
3 Bi kịch số phận của Thuý
Kiều khi nàng phải làm kĩ nữ
lầu xanh
Trang 5Tim hiéu 33
Nếu như ở đoạn | chủ yếu dùng
biện pháp đối lập - so sánh, đoạn 2
dùng biện pháp trực tả để thể hiện
nội tâm nhân vật, thì ở đoạn 3,
Nguyễn Du đã dùng biện pháp nghệ
thuật tự sự thuần tuý để thể hiện bi
kịch số phận nhân vật Thuý Kiều
khi nàng bị ép buộc phải làm kĩ nữ
lầu xanh:
SONg $đ VÒ võ phương trời,
Nay hoàng hôn, đã lại mai hôn
hoàng
Lần lần thỏ bạc ác uàng,
Xót người trong hội đoạn tròng
đòi cơn
Đã cho lấy chữ hồng nhan,
Lam cho, cho hai, cho tan, cho
can
Da day vdo hiếp phong trần,
Sao cho sỉ nhục một lần mới
thôi
Bằng việc kết hợp một số từ
láy với một số từ Hán - Việt và điển
cố có ý nghĩa biểu thị thời gian,
Nguyễn Du đã nêu bật cảm giác u
uất, nặng nề về sự cô độc, không
lối thoát của nhân vật Thuý Kiều
Điểm nổi bật trong đoạn thơ này
là nhờ cách viết tất cả câu lục đều
theo nhịp 2- 4, làm cho tiết tấu câu
thơ thêm mạnh mẽ; là nhờ cách
dùng từ cho, từ đã đúng lúc đúng
chỗ theo phóp lặp: là nhờ cách sử
dụng thích hợp một số điển cố có ý
nghĩa chỉ người phụ nữ bạc mệnh,
xấu số (“hồng nhan”, “phong trần”)
Nguyễn Du đã diễn đạt khá chỉ tiết
và xúc động lời tự dày vò, oán trách
số phận của nhân vật Qua đó,
Nguyễn Du muốn nhấn mạnh sự bế tắc ở nhân vật Thuý Kiểu trong thân
phan ki nit -
Đoạn trích Những nội lòng tê tdi là bức tranh tâm trạng đầy những
khổ đau về thân phận của nhân vật Thuý Kiều trong kiếp sống lầu xanh Nhờ có sự cảm hiểu sâu sắc
về những nỗi niểm tê tái của nhân vật, Nguyễn Du đã viết được nhiều câu thơ xúc động không chỉ thể hiện
được diễn biến nội tâm đau khổ của
Thuý Kiều, mà còn nói lên được khát vọng sống lương thiện, khát vọng sống tự do luôn luôn cháy bỏng
trong lòng nàng
Đoạn trích đã thể hiện sự tài
tình, điêu luyện của Nguyễn Du trong nghệ thuật hành văn và sử dụng từ ngữ để miêu tả tâm lí nhân vật Thuý Kiểu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Van hoc 10, Tép I, Nxb GD,
H., 2000
2 Van hoc 10, Tap I, Sdch giao vién, Nxb GD, H., 2001
3 Trén Dinh Sw (tuyén chon), Giang văn chọn lọc văn học Việt Nam, Nxb ĐHQG, H., 2001
4 Trần Đình Sử, Đọc văn, học
var Nxb GD, H., 2001
5 Va Duong Quy, Lé Bao, Tac
phẩm văn chương trong trường phổ
thông, những con đường khám phá, Tập I, Nxb GD, H, 2003.