1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Yếu tố phồn thực trong ca dao người việt

71 1,3K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Yếu Tố Phồn Thực Trong Ca Dao Người Việt
Tác giả Hà Thị Nga
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn Học Trung Đại
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 485 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nh vậy, qua số liệu đã thống kê, số lợng những câu ca dao đề cập đến hành vi giao phối chiếm tỷ lệ lớn nhất sau đó là đến những câu ca dao chỉ sinh thực khí nữ và sinh thực khí nam.Bắt n

Trang 1

Trờng đại học vinh KHOA ngữ văn

hà thị nga khoá luận tốt nghiệp

yếu tố phồn thực trong ca dao ngời việt

chuyên ngành: văn học trung đại

Vinh, năm 2010

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bộ phận văn học dân gian vô cùng phong phú về đề tài và sâu sắc về nội dung của người Việt, ca dao là thể loại chiếm một vị trí hết sức quan trọng Nó là bầu sữa ngọt ngào, là những bông hoa đồng nội đầy hương sắc nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người dân Việt Nam Dường như, tất

cả mọi thanh âm của đời sống con người, ca dao đều có thể thể hiện hết sức chân thật, giản dị với những triết lý nhân sinh sâu sắc Và bộ phận ca dao

về phồn thực là một minh chứng tiêu biểu sinh động

Trong văn hoá Việt Nam, phồn thực là một tín ngưỡng tån t¹i lâu dài trong đời sống dân tộc Tín ngưỡng này dễ dàng nhận thấy khi xuất hiện bằng những hình ảnh vật chất, những biểu tượng văn hoá Linga – Yoni Đặc biệt, những yếu tố mang đậm tính chất phồn thực của tín ngưỡng này còn được thể hiện rất sinh động, độc đáo trong kho tàng ca dao của cộng đồng dân tộc

Chúng tôi chọn đề tài “ Yếu tố phồn thực trong ca dao người Việt”,

trước hết bởi niềm say mê yêu thích ca dao – nơi gửi gắm tâm hồn dân tộc, một mạch suối mát lành của cội nguồn văn học Việt Nam Mặt khác, đây còn là một chỗ trống khơi gợi nhiều tiềm năng sáng tạo khi nghiên cứu vấn

đề phồn thực trong bộ phận ca dao cũng như toàn bộ nền văn học Việt Nam Và trong xã hội văn minh công nghiệp như hiện nay, ảnh hưởng của văn hoá phương Tây tới văn hoá nước ta là vô cùng lớn, cái nhìn của mỗi người, đặc biệt là giới trẻ về văn hoá tình dục là vấn đề vô cùng nóng bỏng, đầy tính thời sự Những khám phá, trình bày của đề tài sẽ giúp ta có một cái nhìn mới, có một phương thức tiếp cận mới về ca dao, văn hoá dân tộc và đời sống xã hội

Trang 3

2 Lịch sử nghiờn cứu

Trong tầm hiểu biết của chỳng tụi, việc nghiờn cứu về tớn ngưỡng phồn thực và những biểu hiện cụ thể của nú ở Việt Nam từ trước tới nay cú thể chia thành những mảng sau:

1 Với tư cỏch là một dạng thức của tớn ngưỡng người Việt, tớn ngưỡng phồn thực đó nhận được rất nhiều sự quan tõm của cỏc nhà nghiờn cứu Cỏc giỏo sư đầu ngành như: Trần Quốc Vượng, Chu Xuõn Diờn, Trần Ngọc Thờm trong cỏc giỏo trỡnh về văn hoỏ Việt Nam đều dành cho tớn ngưỡng độc đỏo này sự quan tõm Trong đú, cú thể xem những tỡm tũi của giỏo sư Trần Ngọc Thờm là tiờu biểu hơn cả ễng đó đưa ra những hiểu biết chung về

tớn ngưỡng phồn thực: "Những trớ tuệ bỡnh dõn nhỡn thấy ở thực tiễn đú một sức

mạnh siờu nhiờn, bởi vậy mà sựng bỏi nú như thần thỏnh, kết quả là xuất hiện tớn ngưỡng phồn thực - tớn ngưỡng cầu mong sự sinh sụi nảy nở của tự nhiờn và của con người và cú hai dạng biểu hiện: Thờ cơ quan sinh dục và thờ bản thõn hành vi giao phối" [16, 243] Cú thể núi, những nhận định này của giỏo sư Trần

Ngọc Thờm là kim chỉ nam cho chỳng tụi trong quỏ trỡnh xỏc định yếu tố phồn thực của ca dao người Việt

Bờn cạnh những nghiờn cứu chớnh thống, quy phạm này, từ mạng Internet,

ta cú thể tỡm được rất nhiều bài tỡm hiểu về sự cú mặt của yếu tố phồn thực trong lễ hội dõn gian Cú thể kể đến bài viết của Việt Hưng (trang web dantri.com.vn) về lễ hội linh tinh tỡnh phộc ở Lõm Thao – Phỳ Thọ – lễ hội tiờu biểu cho niềm mong ước vạn vật và con người sinh sụi nảy nở thụng qua hỡnh thức thờ phụng, sựng bỏi sinh thực khớ Hay bài viết về tục rước ông Đùng, bà

Đà nh một niềm tin tôn giáo của c dân nông nghiệp lúa nớc ở một số địa phơng của Phan Hà (Sở văn hoỏ, thể thao và du lịch Thỏi Bỡnh) trờn trang web www thaibinh.gov.vn Những bài viết này tuy khụng xõy dựng những định nghĩa khoa học về tớn ngưỡng phồn thực nhưng lại là những cứ liệu hết sức sinh động

về sức sống của tớn ngưỡng này trong đời sống hiện nay

Trang 4

2 Trong vai trũ là một yếu tố cấu thành cỏ tớnh sỏng tạo của nghệ sĩ, sắc thỏi phồn thực trong cỏc sỏng tỏc của một số tỏc giả văn học như Hồ Xuõn Hương, Nguyễn Cụng Trứ, Nguyễn Bớnh, Hoàng Cầm cũng được cỏc nhà khoa học quan tõm nghiờn cứu Tiờu biểu, nhà nghiờn cứu Đỗ Lai

Thuý khi tỡm hiểu về thơ Hồ Xuõn Hương đó cú nhận xột: "Cỏc biểu tượng

phồn thực trong thơ Hồ Xuõn Hương rất đa dạng và phong phỳ bao gồm biểu tượng gốc và biểu tượng phỏi sinh Những biểu tượng gốc trong thơ

Hồ Xuõn Hương đều cú cội nguồn xa xưa, duyờn em dớnh dỏng tự ngàn xưa"

[18, 254] Cũn tác giả Tạ Lũng Minh lại có những phát hiện mới mẻ về vấn

đề tình dục trong thơ Nguyễn Bính: “Một trong những đóng góp quan trọng

và đặc sắc của Tì Bà Truyện là ở chỗ tác giả đã có nhiều đoạn tả về sex“ ”

có một không hai trong lịch sử thi ca Việt Nam” [11, 12] Nhà giáo Lơng

Minh Chung tìm hiểu thơ Hoàng Cầm và thấy đợc một sắc thái phồn thực rất riêng trong thơ ông: “Sắc thái phồn thực trong thơ Hoàng Cầm mang những nét độc đáo riêng nhà thơ đã tìm thấy bóng dáng của nó trong lao động, trong hội hè đình đám, trong tình yêu lứa đôi, tình mẫu tử” [1, 75] Như

vậy, tuy khụng trực tiếp nghiờn cứu về yếu tố phồn thực trong ca dao người Việt nhưng những tỡm tũi của cỏc nhà khoa học về sắc thỏi phồn thực trong tỏc phẩm của những tỏc gia văn học viết trong cỏc giai đoạn khỏc nhau của lịch sử văn học vẫn là những gợi ý quý bỏu cho chỳng tụi, giỳp chỳng tụi

cú được cỏi nhỡn đối sỏnh về biểu hiện của yếu tố phồn thực trong từng thể loại văn học

3 Riờng trong ca dao, yếu tố phồn thực chưa được sự quan tõm thoả đỏng của giới nghiờn cứu Gần gũi nhất với vấn đề này là sự đề cập đến yếu

tố tục: "Và cũng như trong truyện cười dõn gian, yếu tố tục trong ca dao

trào phỳng khụng những chỉ là một phương tiện nghệ thuật, mà thường cũn mang ý nghĩa xó hội" [7, 471] Ngoài ra, Nguyễn Kỳ Nam trong bài viết

“Tỡnh dục trong ca dao” đó đưa ra nhận xột: “Khảo sỏt về mặt tỡnh dục

Trang 5

trong ca dao Việt Nam mới thấy được những nhận xét thật uyên bác rất tinh

tế của người nông dân, mới thấy được sự mô tả tâm tư, tình cảm, sự rung động về tình yêu, sự khao khát và nỗi đam mê về thân xác là rất thật, rất đời thường Bộ mặt tình dục trong loại văn chương bình dân thể hiện theo đúng nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của mỗi chữ, mỗi câu nói điều đó có thể làm cho một số nhà "đạo đức” lên án là dâm ô, tục tĩu, những chuyện không nên nói nơi chỗ đông người Sự thật là: dù có chỉ trích thế nào đi nữa thì nó vẫn đã tồn tại và sẽ tồn tại vì nó là ý thức châm biếm, óc hài hước của dân tộc, của một lớp người bình dân trong suốt lịch sử tồn tại” [27].

Như vậy, các học giả nghiên cứu văn hoá, văn học dân gian đã ít nhiều

đề cập tới yếu tố phồn thực nhưng chưa nhiều và chưa sâu sắc bởi người nghiên cứu đi trước không đặt ra mục đích tìm hiểu yếu tố phồn thực trong

ca dao Trên cơ sở học hỏi những kinh nghiệm và kết quả mà các nhà nghiên cứu đã đạt được có liên quan đến đề tài, chúng tôi đã tìm hiểu yếu tố phồn thực trong ca dao người Việt nhằm đưa ra những nhận xét tổng quát

về vấn đề này Hy vọng, với luận sẽ góp phần làm rõ thêm vị trí, vai trò quan trọng của yếu tố phồn thực trong ca dao để người đọc hiểu đúng hơn vai trò, vị trí của tín ngưỡng này trong văn học, văn hoá dân gian

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu “Yếu tố phồn thực trong ca dao người Việt” chúng tôi

muốn làm rõ sự tồn tại của yếu tố này ca dao và ý nghĩa của nó đối văn học

và cuộc sống Qua đó, góp phần vào việc tìm hiểu một khía cạnh còn khá mới mẻ và thú vị trong nghiên cứu văn hóa, văn học dân gian

4 Phương pháp nghiên cứu

Để tìm hiểu “Yếu tố phồn thực trong ca dao người Việt”, chúng tôi

bắt đầu từ việc khảo sát, phân loại các câu ca dao có đề cập đến sinh thực khí và hành vi giao phối Từ đó tiếp tục sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp để khái quát đánh giá vấn đề một cách khoa học, chính xác Mặt

Trang 6

khỏc, đề tài cũn chỳ trọng phương phỏp so sỏnh, đối chiếu để làm sỏng tỏ nội dung vấn đề.

5 Phạm vi nghiờn cứu

Chỳng tụi tập trung nghiờn cứu những lời ca dao bao chứa yếu tố phồn

thực trong bộ Kho tàng ca dao người Việt (2 tập) do Giỏo sư Nguyễn Xuõn

Kớnh chủ biờn, Nhà xuất bản văn hoỏ thụng tin Hà Nội ấn hành năm 2001 Ngoài ra, những lời ca dao hiện đại mang sắc thỏi phồn thực cũng nằm trong mối quan tõm của chỳng tụi

6 Bố cục của khoỏ luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận

đợc bố cục trong 3 chơng:

Chơng 1: Những vấn đề chung

Chơng 2: Biểu hiện của yếu tố phồn thực trong ca dao người Việt

Chơng 3: ý nghĩa của yếu tố phồn thực trong ca dao người Việt

Chơng 1

Trang 7

những vấn đề chung

1.1.Tớn ngưỡng phồn thực trong văn hoỏ Việt Nam

Tớn ngưỡng phồn thực là một hiện tượng tụn giỏo phổ biến trong đời sống nhõn loại Nú ra đời từ rất sớm và cú mặt ở hầu hết mọi nơi trờn trỏi đất và thường phỏt triển mạnh mẽ hơn trong cỏc nền văn minh nụng nghiệp Thực chất của tớn ngưỡng phồn thực ( phồn = nhiều, thực = nảy nở)

là khỏt vọng cầu mong sự sinh sụi nảy nở, mựa màng bội thu, gia đỡnh đụng đỳc Hạt nhõn của tớn ngưỡng phồn thực là lấy cỏc biểu tưởng về sinh thực khớ và hành vi giao phối làm đối tượng biểu hiện

Ở khắp nơi trờn thế giới, tớn ngưỡng phồn thực đều cú mặt, từng tồn tại như một dạng thức văn hoỏ của cộng đồng Ở Chõu Âu, tớn ngưỡng phồn thực, nhất là tục thờ bộ phận sinh dục nam đó từng rất phỏt triển: Ở Hi Lạp,

La Mó, trong cỏc buổi lễ (tế) Tửu thần người ta cỳng Phllus (sinh thực khớ nam) Nhưng khi đạo Thiờn chỳa lờn ngụi, tớn ngưỡng phồn thực bị xoỏ dần

và văn hoỏ phương Tõy với tớnh chất “hướng thiờn” đó để cho tỡnh dục nỳp dưới hỡnh thức tỡnh yờu, tỡnh yờu Thiờn chỳa Với Chõu Á, trờn đất Ấn, tớn ngưỡng phồn thực từ sự đề cao nũi giống đó nõng lờn thành vũ trụ luận Tục thờ sinh thực khớ tập trung vào vị thần Shiva - một trong những vị thần sỏng thế của Ấn Độ: “Dõn Ấn sựng bỏi Shiva để cầu mong sự may mắn và hạnh phỳc, đồng thời cũng cầu sự bằng an trong cừi thiờn diễn, ảo hoỏ” [18, 62] Ở Trung Hoa, tớn ngưỡng phồn thực cũng phỏt triển lờn thành học thuyết triết học và văn hoỏ tỡnh dục mà cội nguồn của nú là hai thành tố õm ( ) dương (-) Nguyờn lý õm dương này là cơ sở tạo nờn những đổi thay chuyển vần của vũ trụ nhõn sinh và mỗi kiếp người Do vậy, văn hoỏ tỡnh dục ở Trung Hoa dựa trờn sự cõn bằng õm dương này để đạt được đời sống tinh thần khoẻ mạnh

Trang 8

Ở Việt Nam, tín ngưỡng phồn thực cũng nằm trong sinh quyển văn hoá phương Đông Tuy nhiên, nó được tồn tại và được lưu giữ đến ngày nay như một thực thể sống động có mặt ở các biểu tượng mang tính chất tượng trưng, ở tục thờ cúng, sinh hoạt lễ hội, kiến trúc, hội hoạ, ngôn ngữ văn chương Tín ngưỡng phồn thực đã ăn sâu vào đời sống tâm linh của người Việt và được bảo tồn trong cái nôi làng xã cổ truyền.

Trước hết, tín ngưỡng phồn thực thể hiện khá rõ trong các biểu tượng mang tính chất tượng trưng Biểu tượng của sinh thực khí là hình ảnh tượng Linga và Yoni trong một số tháp Chàm của người Chăm, hình ảnh cột đá hình sinh thực khí nam ở chùa Dạm (Bắc Ninh) hay giếng Tiên ở Lạng Sơn, giếng Ngọc ở đền Hùng là biểu tượng cho sinh thực khí nữ Ngoài ra, biểu tượng về hoạt động tính giao thấy rõ là hình tượng nam nữ giao hợp trên nắp thạp đồng Đào Thịnh (Yên Bái) hay tượng các cặp thú đang giao phối thời Đông Sơn Ngoài ra, tín ngưỡng phồn thực còn được biểu hiện khá rõ ở tục thờ cơ quan sinh dục, được gọi là thờ sinh thực khí (sinh = đẻ, thực = nảy nở, khí = công cụ), rộng hơn là tục thờ Mẫu dân gian với các vị thần như bộ ba tam tài các vị thần cai quản ba vùng Trời - Đất - Nước: Mẫu Thượng Thiên (Bà Trời), Mẫu Thượng Ngàn (Bà Đất), Mẫu Thoải (Bà Nước) Giáo sư Trần Quốc Vượng đã rất có lý khi nói về hiện tượng phổ

biến này: “Tôi nghĩ nền văn hoá truyền thống Việt Nam đã từng có Nguyên

lý Mẹ” [25, 472] Mẹ đối với người Việt không chỉ như một đấng tạo hoá

sinh ra muôn loài mà còn là chỗ dựa tin cậy của con người

Thứ hai, trong một số sinh hoạt trò diễn, trò chơi ở các lễ hội cổ truyền dân tộc, tín ngưỡng phồn thực còn hiện diện như một thực thể sinh động Có thể kể đến những trò diễn gợi bóng dáng phảng phất của tín ngưỡng này như trò múa mo ở Sơn Đồng (Hoài Đức, Hà Tây), điệu múa

“tùng dí” vào dịp lễ hội vùng đất Tổ, lễ hội Nõ Nường “linh tinh tình phộc” tại làng Trám (Lâm Thao, Phú Thọ) hay trò chơi ném còn của một số dân

Trang 9

tộc vùng cao Tây Bắc, trò đánh đu trong tết cổ truyền, trò bắt chạch trong chum ở làng Văn Trưng (Vĩnh Phúc) Nhân vật thờ phụng của các lễ hội

cổ truyền ở một số làng quê chính là biểu tượng tín ngưỡng phồn thực như ông thánh Bôn được thờ ở một số làng quê Thanh Hoá, như tượng Phật Quang Thạch theo truyền thuyết là con của nàng Man Nương và sư Khâu

đà la gửi vào cây dâu cũng là một Linga bằng đá Cụ thể: Ở làng Đông An (Châu Giang, Hưng Yên) có thờ tượng đá ông Đùng, bà Đà ở hậu cung đình làng Hàng năm vào đầu tháng ba âm, làng mở hội rước ông Đùng, bà

Đà và diễn tượng trưng hành vi giao phối của hai hình nhân làm bằng nan tre giấy phết rồi băm vụn ném xuống ao và ruộng với mong ước ruộng tốt lúa, ao nhiều cá Như vậy, hạt nhân kết cấu của các lễ hội mang tính phồn thực bao giờ cũng gồm hai thành tố biểu trưng trong đó là “đực” và “ cái”, nhằm mục đích cuối cùng của người trong hội là mong muốn đạt đến sự quân bình triết lý âm dương

Thứ ba, về mặt kiến trúc và hội hoạ, tín ngưỡng phồn thực thường ẩn hiện lấp lánh ở cả phần chìm và phần nổi trong cách xây dựng đền chùa, miếu mạo, nhà sàn Rõ ràng, ông cha ta đã rất chú ý tới sự cân bằng của hai thành tố ở trên như một sự cân bằng về mặt phong thuỷ Điều này được thấy rõ trong công trình kiến trúc chùa Một Cột với chiếc cột hình tròn, tính dương (Linga) như bông sen vươn lên từ mặt nước - hồ vuông, tính âm (Yoni) Trong dòng hội hoạ dân gian Đông Hồ có khá nhiều bức tranh

phảnh phất bóng dáng của tín ngưỡng này như bức Hứng dừa, Đánh ghen,

Đám cưới chuột Hình ảnh người phụ nữ nửa kín nửa hở trong chiếc yếm

đào đang hứng dừa nơi người con trai đóng khố đưa xuống (bức tranh

Hứng dừa) như biểu trưng sâu sắc cho sự giao hoà âm dương Đặc biệt vào

những năm đầu thế kỉ XX, với đường cong tuyệt mĩ của người phụ nữ áo

dài trong bức hoạ nổi tiếng “Thiếu nữ bên hoa huệ”, Tô Ngọc Vân đã thể

hiện được cái hồn của nền văn hoá Việt Nam

Trang 10

Cuối cùng, tín ngưỡng phồn thực còn được lưu truyền bền bỉ trên

“cửa miệng dân gian” (chữ dùng của Cao Huy Đỉnh) và trong một số sáng tác thơ văn của các nghệ sĩ Chẳng hạn, cách nói vô cùng hóm hỉnh và đưa

đẩy của người Việt như “băm sáu cái nõn nường” hay những câu ca về bà

Nữ Oa, ông Tứ Tượng, bà Triệu Ẩu trong những câu chuyện cổ tích Trong văn học thành văn cũng đã xuất hiện nhiều hình ảnh mô tả vẻ đẹp cơ thể

tràn đầy sức hấp dẫn “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà Dày dày sẵn đúc một

toà thiên nhiên” (Truyện Kiều - Nguyễn Du) hay hình ảnh “Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm Một lạch đào nguyên suối chửa thông” (Thiếu nữ ngủ ngày - Hồ Xuân Hương) Hay một vài câu thơ khơi gợi những ám ảnh về

chuyện lứa đôi ái ân trong Chinh phụ ngâm - Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm, Sơ kính tân trang - Phạm Thái, Cung oán ngâm khúc - Nguyễn Gia Thiều kiểu như: “Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm Nguyệt lồng hoa, hoa

thắm từng bông” (Chinh Phụ Ngâm) Sang thời hiện đại, Nguyễn Bính với

Tỳ Bà Truyện đã đẩy nghệ thuật miêu tả về tính dục lên một đỉnh cao so với

thời kỳ trung đại: "Đường cong ôi những đường cong Đến đong đưa đến

những não nùng đến hay", “Dâng lên như nước thủy triều Hoa nuông ý bướm, bướm chiều tình hoa”, hay cái đẹp mang đậm tính nhục cảm trong

thơ Hoàng Cầm "Tuột hàng khuy lơi yếm buông mành Đùi chảy búp dài

thon nhún vội"

Như vậy, dấu ấn tín ngưỡng phồn thực đã chi phối đáng kể tới đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Qua những biến thiên lịch sử, tín ngưỡng phồn thực đã trở thành một thứ trầm tích trong văn hoá Việt Nam Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, tín ngưỡng này ít nhiều đã bị tiết chế

do những quy phạm đạo đức của Nho giáo chi phối Do vậy, nó đã bị vùi sâu lấp kín vào tiềm thức của mỗi người nhưng khi gặp điều kiện thuận lợi,tất yếu căn gốc tín ngưỡng ấy sẽ đâm chồi, nảy lộc và mang một sức

Trang 11

sống mới Và một thực tế cho thấy ở nước ta, cỏc nghệ sĩ đó nhỡn nú bằng cặp mắt xanh non với vẻ đẹp lung linh của ngụn ngữ.

1.2 Tỷ lệ phồn thực trong ca dao ngời Việt

Từ một thể kỷ nay, các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam đã

dùng danh từ ca dao để chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca” [5, 31] hay “ca dao chính là thơ dân gian truyền thống”

[5, 31] Nội dung của ca dao đợc thể hiện trên nhiều mặt của đời sống con ngời Ca dao phản ánh lịch sử, nói lên thái độ, quan điểm của ngời lao động

Nó là một kho tài liệu phong phú vô tận về tập quán ở nông thôn xa Ngoài

ra, ca dao còn là tiếng hát trữ tình của con ngời, thể hiện ở đề tài đời sống riêng t, đời sống gia đình và đời sống xã hội Sự có mặt của yếu tố phồn thực

đã góp phần làm nên nét độc đáo của sự phong phú ấy

Ca dao phồn thực thường sử dụng yếu tố "dâm tục" làm phơng tiện biểu

đạt Nh vậy, những câu ca dao có đề cập tới bộ phận sinh dục và hành vi giao phối đợc xem là ca dao phồn thực Tuy nhiên, không phải không xuất hiện yếu tố chỉ sinh thực khí và hành vi giao phối thì ca dao không mang ý nghĩa phồn thực Trong ca dao, một số bài thể hiện tình cảm nam nữ trong sáng, gắn bó và quấn quýt cũng mang sắc thái phồn thực: "Đôi ta nh thể con ong Con quấn con quýt con trong con ngoài", "Đôi ta nh thể con tằm Cùng ăn một nén cùng nằm một nong" Do đó, yếu tố phồn thực đợc thể hiện trong

ca dao rất phong phú và đa dạng và đợc biểu hiện trên nhiều phơng diện trong đời sống con ngời Và những biểu hiện này cần đợc nhìn nhận trong sự tiếp nối của văn hoá truyền thống dân tộc - tín ngỡng phồn thực

Trong cuốn Kho tàng ca dao ngời Việt, chúng tôi đã khảo sát và thống

kê đợc 115 bài cao dao đề cập đến yếu tố phồn thực với tỉ lệ cụ thể nh sau:

- 83 câu đề cập đến hoạt động tính giao, chiếm 72,3%

- 22 câu chỉ sinh thực khí nữ chiếm 19,1%

- 10 câu chỉ sinh thực khí nam chiếm 8,6%

Trang 12

Nh vậy, qua số liệu đã thống kê, số lợng những câu ca dao đề cập đến hành vi giao phối chiếm tỷ lệ lớn nhất sau đó là đến những câu ca dao chỉ sinh thực khí nữ và sinh thực khí nam.

Bắt nguồn từ tín ngỡng văn hoá phồn thực truyền thống của dân tộc coi trọng hoạt động tính giao cùng các bộ phận kín trên cơ thể con người, những bài ca dao mang tính phồn thực cũng đợc thể hiện ở hai phơng diện tơng ứng

là những câu ca dao về hoạt động giao phối và ca dao về sinh thực khí Bởi vậy, bộ phận ca dao này thể hiện những điều kín đáo, những chuyện tế nhị, những "chuyện ấy", "cái ấy" rất ít khi đợc nói ra ở nơi đông ngời Thậm chí,

đối với văn học thành văn xa, đây là chuyện vô cùng cấm kị Ngời ta coi đó

là cái ''dâm tục" nhng chính nó đã phần nào thể hiện đợc nét văn hoá truyền thống rất riêng của ngời Việt Mặt khỏc, tính phồn thực đợc thể hiện trong ca dao không phải chỉ riêng ở những lời lẽ tục mà có khi đợc bộc lộ ở những lời thanh nhã và tế nhị

Sở dĩ những bài ca dao đề cập đến hành vi giao phối chiếm số lợng lớn

là bởi s sự chi phối của cuộc sống lao động, của phơng thức sản xuất do nguyên nhân từ chính cuộc sống con ngời Nớc ta là một nớc nông nghiệp, cuộc sống của ngời dân gắn chặt với những công việc ruộng đồng vất vả, do vậy, nhân công lao động là một nhu cầu lớn của xã hội và chính hoạt động tính giao của con ngời là yếu tố trực tiếp tạo nên nguồn nhân lực dồi dào này Phải chăng, đó chính là cơ sở sâu xa để những ngời bình dân xa hình thành nên những bài ca dao đề cập đến yếu tố phồn thực nói chung và hoạt động tính giao nói riêng

Mặt khác, xét trên phơng diện đối tợng phát ngôn, những câu ca dao chỉ hành vi giao phối đều có thể đợc phát ngôn từ cả hai phía nam và nữ Hoạt

động tính giao là một nhu cầu sinh lý hết sức tự nhiên của ngời trởng thành Cả nam và nữ đều có nhu cầu đợc thoả mãn về tâm lí và tình cảm Chính nhu cầu đợc giải toả tâm lí này đã nh là một sự gợi hứng để họ phát ngôn ra những lời ca dao về những chuyện thầm kín nơi chốn buồng the Những

Trang 13

chuyện tế nhị trong cuộc sống vợ chồng đợc ngời ta nói ra bằng những câu ca dao mợt mà trong những lúc lao động không chỉ giúp con ngời ta quên đi sự mệt nhọc để hăng say lao động mà nó còn giúp cho những cặp vợ chồng thêm hiểu biết, thêm kinh nghiệm, góp phần vào xây đắp hạnh phúc Nh vậy, hoạt động tính giao là hành vi rất bình thờng trong cuộc sống con ngời, những lời ca dao đề cập đến nó theo đó cũng trở thành một điều tất yếu trong những lời ca thể hiện tâm t đời sống của ngời bình dân xa.

Qua khảo sát, số lợng câu ca dao đề cập đến sinh thục khí nữ nhiều hơn sinh khí nam tới hai lần Trong mỗi thời đại, vai trò của ngời phụ nữ lại mỗi khác Xã hội cộng sản nguyên thuỷ với chế độ mẫu hệ, ngời phụ nữ giữ một vai trò rất lớn Điều này đã đợc khẳng định với bằng chứng là tục thời các Mẫu thần trong dân gian Chuyển sang chế độ phong kiến, với ảnh hởng của Nho giáo Trung Hoa, vai trò của ngời phụ nữ không còn ở tầm cao nh trớc nữa Với quan niệm "trọng nam khinh nữ" vai trò của ngời phụ nữ trong xã

hội đã bị phủ định: "Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô" Ngoài xã hội, họ

chịu sự phân biệt đối xử ngàn đời nh một định luật khắc nghiệt "nam tôn nữ ti" Trong gia đình, họ hoàn toàn lệ thuộc vào chồng con "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử", phải chịu sự tủi nhục của kiếp lấy chồng

chung, của phận làm lẽ khổ cực Xã hội phong kiến đề cao, trọng vọng ngời

đàn ông, cho họ rất nhiều quyền: quyền tự quyết tất cả mọi việc ''Phu xớng phụ tùy'', đợc quyền lấy nhiều vợ nữa: ''trai năm thê bảy thiếp'' Dờng nh,

mọi quyền hành từ trong gia đình đến ngoài xã hội đều tập trung trong tay ngời đàn ông: "Tề gia- trị quốc- bình thiên hạ" Ngay cả trong phát ngôn của

ngời nam giới - ngời chồng cũng thể hiện vai trò tuyệt đối của họ Đây chính

là cơ sở lý giải nguyên nhân của tỉ lệ lời ca dao đề cập đến sinh thực khí nữ nhiều hơn nam giới Nam giới đợc tự do trong phát ngôn, lời nói của họ ít bị ràng buộc, ít bị phê phán khi đề cập đến những chuyện thầm kín Bởi vậy, ngay cả những bộ phận kín trên cơ thể ngời phụ nữ đợc họ nói ra, đem ra bàn

Trang 14

luận Những "cái đó" của ngời phụ nữ đợc các nam nhân phát ngôn còn nh để chứng minh sự từng trải trong chuyện tế nhị nơi buồng the Ngời đàn ông với

đặc trng là sự mạnh bạo có nhu cầu tận hởng hạnh phúc ái ân lớn hơn so với nữ giới Những khát khao giới tính đợc họ bộc lộ một phần qua những lời ca dao đề cập đến sinh thực khí nữ Qua việc phát ngôn ra "cái đó" của ngời phụ nữ, dờng nh họ phần nào giải toả đợc tâm lý trong cuộc sống đầy vất vả của mình

Trong ca dao phồn thực, những bài ca dao viết về sinh thực khí nam không nhiều Từ cơ sở chủ thể phát ngôn của những lời ca dao đề cập tới yếu

tố phồn thực phần lớn là nam giới, ta sẽ dễ dàng hiểu đợc điều này Ngời nam khi bàn về những bộ phận tế nhị trên cơ thể rất ít khi tự nói về chỗ kớn của mình Họ tự coi đồ của mình là rất bình thờng và quá quen thuộc, không có gì phải cần tìm hiểu hay bàn cãi tranh luận Ngợc lại, ngời đàn ông sẽ rất thích thú khi đợc nghe, đợc nói về những bộ phận tế nhị trên cơ thể của ngời khác giới Với họ, đây là đề tài rất hấp dẫn khi đợc tham gia bàn luận trong những lúc lao động mệt nhọc hay d rỗi thời gian Bàn về vấn đề này, ngời đàn

ông không chỉ coi đây là thú nói cho vui miệng mà qua đó họ còn học hỏi để ngày càng khám phá ra những nét đẹp trên cơ thể ngời bạn đời của mình Bởi vậy, những lời ca dao đề cập đến sinh thực khí nói chung đã phần nào thể hiện cá tính của nam giới

Qua thực tế đời sống, không phải lúc nào phát ngôn ra những lời tế nhị này cũng là nam giới mà đôi khi cũng từ một bộ phận nhỏ nữ giới tạo nên Ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến phải tuân thủ theo các lễ nghĩa mà xã hội đã đặt ra từ lời ăn tiếng nói đến cử chỉ nhỏ nhặt thờng ngày Song một bộ phận phụ nữ với cá tính mạnh mẽ khát khao đợc thể hiện mình, khao khát đòi

sự bình đẳng giới đã dám vợt qua ranh giới đạo đức xã hội để lên tiếng công khai thể hiện cái tôi của mình Bởi vậy, đây là một yếu tố làm nên một bộ phận ca dao phồn thực vô cùng phong phú tồn tại tới ngày nay

Trang 15

Tỉ lệ giữa các yếu tố phồn thực trong ca dao có sự khác nhau Có sự chênh lệch về tỷ lệ này bắt nguồn từ cơ sở hiện thực đời sống xã hội Những lời ca dao đề cập đến hành vi giao phối hay sinh thực khí đều thể hiện nét đặc trng của ngời Việt: mộc mạc và chân thật Bắt nguồn từ tớn ngưỡng phồn thực, ngời bình dân đã có ý thức tiếp thu truyền thống văn hoá dân tộc để hình thành nên một bộ phận ca dao đề cập tới yếu tố n y Thông qua nhữngàlời ca dao bình dị, chúng ta hiểu thêm về ý thức lu giữ văn hoá truyền thống của cha ông và thấy đợc một đời sống tinh thần vô cùng phong phú của ngời bình dân xa.

chơng 2 biểu hiện của yếu tố phồn thực

Trang 16

trong ca dao ngời việt

2.1 Những lời ca dao đề cập đến sinh thực khí

Sinh thực khí - cơ quan sinh sản tạo hoá đã ban tặng cho loài ngời nhằm mục đích duy trì nòi giống, ổn định xã hội Từ xa xa, ông cha ta đã thấy đợc

ý nghĩa quan trọng của nó và coi đây là những vật thiêng để thờ cúng trong một số lễ hội Trong cuộc sống hàng ngày, những bộ phận sinh thực khí lại trở nên hết sức gần gũi với mỗi ngời Ngời bình dân với sự giản dị trong cuộc sống, đã khéo léo đa những bộ phận cơ thể tế nhị này vào ca dao để hình thành nên những câu ca dao đề cập đến sinh thực khí nam và sinh thực khí nữ

2.1.1 Những lời ca dao đề cập đến sinh thực khí nam

Trong xã hội, nam giới luôn có một vị trí xứng đáng và đợc đề cao, đặc biệt là trong nhiệm vụ duy trì và phát triển xã hội Tuy nhiên, trong ca dao,

sự phản ỏnh về nam giới còn khá hạn chế Ngay cả trong bộ phận ca dao phồn thực, số lợng các câu ca dao đề cập đến sinh thực khí nam cũng không nhiều, Tuy vậy, nội dung và ý nghĩa của nó khá phong phú

Trớc hết, ca dao về sinh thực khí nam đợc hiện lên qua những hình ảnh gián tiếp Thông qua một số hình ảnh quen thuộc với cuộc sống của nhân dân, các nghệ sĩ dân gian đã sáng tác nên những câu ca dao đề cập tới sinh thực khí nam khá tế nhị Tìm hiểu về ca dao, chúng ta dễ dàng nhận ra những câu ca dao đề cập tới sinh thực khí nam nhờ sự liên tởng độc đáo Một số loài vật rất gần gũi với cuộc sống con ngời nh: con lơn, con ong, con thằn lằn

đợc đa vào ca dao không còn mang ý nghĩa chỉ vật mà qua sự liên tởng, những loài vật quen thuộc đó trở thành bộ phận kín của nam giới:

- Em đừng khinh anh quân tử nhỏ nhoi,

Con lơn bao lớn nó xoi lủng bờ.

- Em ơi đứng thấy nhỏ mà rầu,

Con ong bao lớn đốt cái bầu cù queo.

Trang 17

- Em ơi đừng thấy nhỏ mà khinh,

Con thằn lằn bao lớn ôm cây cột đình tổ cha.

Những "cái ấy” của nam giới không hiện lên trực tiếp nhng ngời nghe vẫn hiểu đợc câu ca dao đề cập tới vấn đề tế nhị trong quan hệ nam nữ Những hình ảnh loài vật rất sinh động xuất hiện trong những lời ca dao giúp ngời nghe hình dung đợc đôi nét về vấn đề kín đáo này Dù ngoại hình bề ngoài, ngời đàn ông chỉ "nhỏ nhoi", không có đợc sự cờng trỏng nhng họ không hề tỏ ra sự tự ti về bản thân mà ngợc lại, họ rất tự hào về sức mạnh của mình trong "chuyện ấy": xoi lủng bờ, đốt cái bầu cù queo Do đó, thông qua

những lời ca dao trên, ngời bình dân không chỉ đơn thuần đề cập tới bộ phận sinh thực khí của nam giới mà cũng xem nó đó góp phần rất lớn trong việc duy trì nòi giống, giữ gìn hạnh phúc gia đình v đảm bảo sự ổn định xã hội.à

Ông cha ta không chỉ dùng hình ảnh loài vật để gián tiếp đề cập đến sinh thực khí nam mà ngay cả những vật dụng thông thờng trong đời sống cũng đ-

ợc họ ví von với bộ phận kín này của nam giới:

Cho dù có sống đến già Cho dù béo tốt cũng là phí toi Bây giờ pháo đã tịt ngòi Gia tài còn lại một vòi nớc trong.

Bộ phận sinh thực khí của nam giới đợc nói tới qua các hình ảnh: pháo, vòi nớc Những hình ảnh rất quen thuộc trong cuộc sống đã đi vào, ca dao gợi

lên trong trí tởng tợng ngời nghe về "cái ấy" của nam giới thật sinh động mà kín đáo Qua những hình ảnh ấy, tác giả dân gian giúp ta thấy đợc quy luật của thời gian, cuộc đời Thời gian trôi đi, kéo theo sự biến đổi ngay trong chính cơ thể con ngời Với quá trình lão hoá của cơ thể, con ngời dần mất đi

sự trẻ trung, mất đi sức xuân trong cuộc sống ái ân vợ chồng Bởi vậy, thông qua việc đề cập tới sinh thực khí nam, bài ca dao thể hiện đợc sự nuối tiếc của con ngời khi tuổi xuân qua đi, hạnh phúc ái ân không bao giờ trở lại Sâu

Trang 18

xa hơn nữa, tác giả bình dân đa đến cho chúng ta một quan niệm nhân sinh

về cuộc sống vợ chồng: hãy sống và tận hởng tuổi trẻ, tình yêu và hạnh phúc

ái ân cho trọn vẹn

Ngợc lại, có những câu ca dao cũng sử dụng hình ảnh biểu trng chỉ bộ phận sinh thực khí nam nhng biểu đạt rất giản dị:

Yếm thắm anh ngỡ là cò Anh quỳ gối xuống, anh thò hoả mai.

Trong lời ca dao, "cái ấy" của ngời đàn ông đợc hiện lên qua một vật dụng hết sức bình thờng - "hoả mai", nhưng con mắt tinh tế của ngời nghệ sĩ dân gian đã tạo nên cho nó ý nghĩa mới mẻ: "sinh thực khí nam" Cùng với điều đó, hình ảnh chỉ sinh thực khí nam trong câu ca dao còn giúp ta hình dung đợc phần nào "chuyện ấy" của con ngời chốn buồng the

Trong văn học nói chung và ca dao nói riêng, cùng một đối tợng nhng ở mỗi hoàn cảnh, mỗi chủ thể phát ngôn lại diễn đạt khác nhau Bên cạnh những lời ca dao sử dụng hình ảnh biểu trng chỉ bộ phận kín của nam giới một cách kín đáo tế nhị, cũng có những câu ca dao gọi thẳng ra "cái đó" của nam giới

Thơng em đút c qua rào Không thơng rút lại gai cào rách da.

Lời ca dao đã nói thẳng, chỉ thẳng ra cơ quan sinh dục của nam giới

Đọc thoáng qua, ta thấy cái tục trong bài ca dao hiện ra rất đậm Dờng nh, chính cái tục này nh ẩn chứa nỗi niềm đầy bất mãn của chàng trai thôn quê khi tình yêu không toại nguyện

Đôi khi trong ca dao, sinh thực khí nam đợc hiện lên qua sự miêu tả hình dạng của nó:

- Chẳng thà nó nhỏ mà cong, Còn hơn tổ bố nửa trong nửa ngoài.

- Chẳng thà nó nhỏ mà dài,

Trang 19

Còn hơn chụp bụp nửa ngoài nửa trong.

Qua việc miêu tả hình dạng bên ngoài của "cái ấy": nhỏ mà cong, nhỏ

mà dài, câu ca dao đã đa ra một kinh nghiệm trong hạnh phúc ái ân, với

chuyện gối chăn, để đạt đợc sự thăng hoa của cảm xúc thì sự hài hoà tinh tế của bộ phận sinh thực khí là vô cùng quan trọng Khi "chuyện ấy" diễn ra, nếu nam giới ở trong tình trạng "nửa trong, nửa ngoài”, “nửa ngoài nửa trong" thì niềm hạnh phỳc ái ân không thể trọn vẹn Chính bởi vậy, trong

cuộc sống gia đình, "cái ấy" có một tác dụng vô cùng lớn:

Mù u ba lá mù u

Vợ chồng cãi lộn con cu giải hoà

Cuộc sống của con ngời vô cùng phức tạp, không phải lúc nào cũng vui

vẻ, hoà thuận với nhau mà cũng đôi lúc xảy ra những xung đột Ngay trong mối quan hệ vợ chồng gắn bó keo sơn, đâu phải lỳc nào cũng ấm ờm để "tát

bể Đụng cũng cạn"! Họ cũng có lúc không hiểu nhau, có những lúc cãi lộn, tạo nên sự căng thẳng trong gia đình Nhng sự bất hoà đó có khi rất dễ giải quyết bởi có "cu con" giải hoà Chính lúc này đây, "cái ấy" của nam giới lại tạo nên một ý nghĩa lớn lao mà chỉ đôi vợ chồng kia mới hiểu hết đợc Câu ca dao là bài học kinh nghiệm trong cuộc sống gia đình: sự gần gũi vợ chồng tạo nên sự giao hoà cảm xúc, từ đó họ sẽ dễ dàng bỏ qua những điều không phải nơi ngời bạn đời của mình nhằm giữ gìn tổ ấm

Đặc biệt, trong bài ca dao dới hình thức câu đố, sinh thực khí nam có thể xuất hiện trực tiếp:

Ngời thì cao lớn trợng phu

Trang 20

hấp dẫn lôi cuốn với mỗi ngời muốn giải câu đố Đây chính là yếu tố quan trọng tạo nên sự gần gũi của ngời bình dân với các sáng tác dân gian.

Trong xã hội phong kiến, ngời đàn ông có một vai trò vô cùng lớn Ngời nam nhi thờng gắn với chí tang bồng lập công danh nghiệp lớn Trong văn học thành văn, họ luôn hiện lên ở sự ngợi ca "Chí làm trai nam bắc tõy

đông Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể" (Nguyễn Công Trứ) Chỉ trong

sáng tác bình dân, đặc biệt là ở ca dao thì hình tợng ngời nam nhi mới hiện lên trong cái bình dị đời thờng nhất của cuộc sống con ngời Những "cái ấy" của họ trong ca dao là sự minh chứng rõ ràng cho điều này

Những yếu tố chỉ sinh thực khí nam xuất hiện trong ca dao không nhiều nhng nó có vai trò quan trọng tạo nên bộ phận ca dao đề cập tới yếu tố phồn thực trong kho tàng ca dao ngời Việt

2.1.2 Những lời ca dao đề cập đến sinh thực khí nữ

Trong ca dao, hình ảnh ngời phụ nữ đợc nói đến tơng đối nhiều Nhắc tới ngời phụ nữ trong thể loại trữ tình dân gian, ngời ta hình dung ra hình ảnh của ngời mẹ tần tảo đợc ẩn hiện trong hình ảnh con cò "Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non" hay hình ảnh ngời phụ nữ bất

hạnh trong mô típ lời ca dao bắt đầu bằng từ "thân em": "Thân em nh tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai" Đôi khi họ hiện lên trong vẻ đẹp

thuần tuý: "Cổ tay em trắng nh ngà Con mắt em liếc nh là dao cau'' Có

thể nói, nhắc đến ngời phụ nữ, ca dao đã phản ánh đợc nhiều phơng diện, khía cạnh khác nhau với nội dung vô cùng phong phú Trong đó, có một nội dung khá độc đáo mà ca dao thể hiện rất sinh động: những lời ca dao đề cập sinh thực khí nữ

Phụ nữ phơng Đông nói chung và Việt Nam nói riêng có một nét tính cách nổi bật là sự e dè và tế nhị Với họ, để bộc lộ tâm t tình cảm thì ca dao

là ngời bạn tâm tình vô cùng thân thiết Trong cuộc sống, ngời phụ nữ gặp bao bất công, có lúc bất mãn khi cuộc sống không nh ý muốn, họ muốn chửi

Trang 21

rủa mà không dám thẳng thừng văng tục lộ liễu, chỉ dám thông qua những hình ảnh kín đáo chỉ sinh thực khí nữ:

Sáng trăng suông em tởng tối trời

Em ngồi em để cái sự đời em ra

Sự đời nh cái lá đa

Đen nh mõm chó, chém cha sự đời

Bài ca dao đã sử dụng hình ảnh "cái lá đa" để chỉ "cái ấy" của ngời phụ nữ Hình ảnh chiếc lá đa thật quen thuộc với ngời dân chúng ta bởi nú đó thành biểu tượng của làng quê Việt Nam: "cây đa, bến nớc, sân đình", song

hình ảnh chiếc lá đa quen thuộc ấy lại trở nên hết sức độc đáo khi đợc tác giả dân gian ví von, liên tởng bộ phận kín của ngời phụ nữ: "đen nh mõm chó"

Qua đó, ta thấy hiện lên hình ảnh một ngời phụ nữ bi quan, chán chờng trớc

số phận, trước cuộc đời Và dù có uất hận, có nghẹn ngào tới đâu họ cũng không dám vợt qua lễ giáo phong kiến hà khắc để khẳng định mình Bởi vậy,

dù có muốn gào thét cho số phận họ cũng khó lòng đa "cái ấy" ra bằng những

từ ngữ trực tiếp cho thoả nỗi lòng

Trong tín ngỡng phồn thực, Yoni là biểu trng cho sinh thực khí nữ Ảnh hởng của tín ngỡng này, trong ca dao xuất hiện một số hình ảnh biểu trng cho

"cái ấy" của phụ nữ nh: lỡi cày, cối, xôi, bừa Đó là những hình ảnh hết sức

quen thuộc với đời sống ngời dân

Trèo lên cây khế nửa ngày Váy thì trụt mất lỡi cày thò ra Lỡi cày ba góc chẻ ba Muốn đem đòn gánh mà tra lỡi cày.

Lời bài ca dao trên xuất hiện hình ảnh "lưỡi cày" Đây là thứ công cụ lao

động gắn chặt với cuộc sống nông nghiệp của ngời dân nhng qua sự liên tởng của tác giả dân gian, thứ vật dụng ấy đã trở thành một bộ phận kín trên cơ thể ngời phụ nữ Đặc biệt, bộ phận kín ấy đã đợc mô tả một cách tinh tế "ba góc

Trang 22

chẻ ba" Bởi vậy, lời bài ca dao chỉ bộ phận sinh thực nữ với những hình ảnh gián tiếp rất kín đáo tế nhị mà vẫn thể hiện đợc sự chân thật, rõ ràng "cái ấy" của phụ nữ.

Một số bài ca dao đã nói lên ớc muốn thầm kín chính đáng của con ngời khi gián tiếp đề cập đến "cái ấy":

- Ước chi em hoá ra xôi, Anh nh gà cộc lại ngồi lên trên.

- Ước chi em hóa ra bừa, Anh hoá ra chạc kéo tra sáng chiều.

- Ước chi anh hoá thành chày,

Em hoá thành cối giã ngày giã đêm.

Những hình ảnh: xôi, bừa, cối xuất hiện trong các bài ca dao vừa nêu

trên là những sự vật cụ thể thân quen trong đời sống nhằm chỉ sinh thực khí ngời phụ nữ Cùng với những hình ảnh chỉ nam giới, tác giả bình dân giúp chúng ta phần nào hiểu và thông cảm với những khát khao tình cảm ái ân của những cặp tình nhân đang yêu tha thiết

Trong ca dao đề cập tới sinh thực khí nữ, tác giả dân gian đã rất tinh tế khi ví "cái ấy" của ngời phụ nữ với chiếc trống:

- Một mai trống thủng còn vành, Lấy da trâu bịt lại cũng lành nh xa

- Chơi cho thủng trống long bồng, Rồi ra ta sẽ lấy chồng lập nghiêm.

Chơi cho thủng trống long chiêng, Rồi ra ta sẽ lập nghiêm lấy chồng.

Trong xã hội phong kiến, phẩm giá của ngời phụ nữ được đo bằng sự trinh tiết hay ớt nhất, người ta cũng lấy sự trinh tiết làm đầu Do đó, những ngời con gái cha chồng luôn gìn giữ cái ''nghìn vàng'' của mình sao cho trọn vẹn để dành tặng ngời chồng tơng lai của mình Tuy vậy, một bộ phận rất nhỏ

Trang 23

phụ nữ với cá tớnh mạnh mẽ đã phá cách, đã nổi loạn với đạo đức phong kiến khiến cho "cái ấy" của mình chỉ còn ''trống thủng còn vành, thủng trống long chiêng'' Nh vậy, chiếc trống đã trở thành hình ảnh ẩn dụ chỉ bộ phận

kín của ngời phụ nữ Sự liên tởng chính xác này thể hiện sự tinh tế của bài ca dao nói riêng và của các sáng tác tập thể nói chung

Nh đã biết, văn chơng bác học thờng chú tâm ca ngợi khí phách ngời quân tử hay vẻ đẹp của thiên nhiên với "phong - hoa - tuyết - nguyệt" mà rất hạn chế đề cập tới ngời phụ nữ Ngợc lại, trong sáng tác dân gian, đặc biệt là

ca dao, hình ảnh ngời phụ nữ hiện lên đầy đủ trên nhiều phơng diện; ngay cả những bộ phận kín trên cơ thể nữ giới cũng được thể loại trữ tỡnh dõn gian phô bày rất tự nhiên:

- Vú em nh quả mớp hơng Tay anh phật thủ đôi đờng gặp nhau.

- Vú em nh cái chũm cau Cho anh bóp với có đau anh đền.

- Con gái chơi với con trai Coi chừng cặp vú nh hai sọ dừa.

Cái "đôi gò bồng đảo" ẩn hiện trong dải yếm thắm của các thiếu nữ

đ-ơng thì đã khiến bao ngời phải ngẩn ngơ ''Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt

Đi thì cũng dở ở không xong'' (Hồ Xuân Hơng) Sức quyến rũ của nó đợc ca

dao ví với những hình ảnh thật bình dị nhng lại toát lên đợc vẻ đẹp trắng trong của ngời thiếu nữ: quả mớp hớng, cái chủm cau Đây chính là điểm

hấp dẫn tạo sự lôi cuốn ngời khác giới mà chủ nhân của nó luôn ý thức đợc nhằm tạo nên sự tình tứ trong tình yêu: "Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi" Và cái đẹp lôi cuốn đó của ngời phụ nữ

khi có chồng có sự thay đổi:

Chị em tắm mát ngọn sông đào, Của em thì trắng, của chị sao thâm thế này?

Trang 24

Chị thâm bởi tại anh mày

Xa kia chị cũng hạt chay đỏ lòm.

Bài ca dao là một bức tranh với cảnh tắm rất tự nhiên của hai chị em đợc tác giả dân gian chụp lại Qua việc chỉ ra sự khác nhau của các cặp nhũ hoa:

trắng, thâm, hạt chay đỏ lòm, bài ca dao giúp ta phân biệt đợc ngời phụ nữ

có chồng hay cha Bằng con mắt quan sát tinh tế đó, ngời bình dân đã đa đến cho chúng ta những kinh nghiệm những hiểu biết mới mẻ trong cuộc sống Viết về hiện tợng này, tục ngữ có sự lý giải: "Thâm đông thì ma, thâm da thì khú, thâm vú thì chửa" Nh vậy, trong bộ phận văn chơng bình dân, ngời phụ

Ngời mẹ mang nặng đẻ đau nuôi con khôn lớn, luôn cầu mong những

điều tốt đẹp nhất đến với đứa con thân yêu của mình Thấu hiểu điều đó, chúng ta mới thấy đợc ý nghĩa sâu sa của lời ca dao có phần trần tục này Những ngời nông dân lao động với sự học còn khá ít ỏi đó phát ngôn những lời lẽ thẳng thắn có phần thô mộc, nhưng những lời lẽ đó đó đi vào ca dao và tạo nên những nét riêng của thể loại văn học này Vậy nên những từ ngữ chỉ sinh thực khí nói chung và "cái ấy'' của ngời phụ nữ nói riêng xuất hiện trong

ca dao khá nhiều và rất tự nhiên:

- Đi sau ăn rau bà đẻ

ăn dẻ chùi chân, ăn l chấm muối

- Rau âm phủ nấu với mủ l tiên Ngựa cửa quyền nấu với ả l tranh

- Nằm đất anh hàng hơng còn hơn nằm giờng với anh hàng cá.

L cô hàng cá còn nhẵn hơn má anh hàng hơng

Trang 25

"Cái ấy" của ngời phụ nữ xuất hiện một cách trực tiếp nhằm nhấn mạnh gây ấn tợng của ngời nói về một sự việc nào đó tạo nên sự chú ý của ngời nghe Cách nói cờng điệu phóng đại "cái ấy" đôi khi rất hóm hỉnh, tạo sự hài hớc trong ca dao:

Hỡi nàng má đỏ hồng hồng

Cổ cao, miệng rộng, lông l vắt vai.

Dơng nh mọi chi tiết nhỏ bé của sinh thực khí nữ đều đợc mọi ngời quan tâm để ý và đa vào ca dao Ngay cả sự biến đổi tinh vi của bộ phận sinh dục

bé gái khi bắt đầu vào tuổi dậy thì cũng đợc tác giả dân gian nhắc tới:

- Mời ba, mời bốn lum săng Mời năm, mời sáu lông quăn mép l.

Lẽ thờng tình, một ngời con gái bớc vào tuổi trởng thành thì bộ phận kín phải đầy đủ các chi tiết và sẽ rất bất hạnh cho ai đó nếu nh ''cái ấy'' không đ-

ợc nh những ngời phụ nữ bình thờng Đây là điều vô cùng tế nhị nhng ngời bình dân với sự chất phác vẫn đa điều đó vào trong ca dao rất thẳng thắn:

Tiếc thay cây mía ngọt lại sâu, Tiếc thay con gái tốt mà cái bím bầu không lông.

"Cái ấy" nhiều khi đợc đa vào trong ca dao tạo nên những câu đố rất dí dỏm

Chấm chấm mút mút đút vào lỗ tròn Hai cái lông l cái dài cái ngắn.

Những từ ngữ chỉ sinh thực khí nữ trong bài ca dao đã kích thích sự tò

mò muốn tìm hiểu của ngời nghe Sau bao nhiêu sự liên tởng để tìm ra lời giải đố, chúng ta thật bất ngờ bởi đáp án của nó là một công việc rất giản

đơn: động tác xỏ kim Với việc dùng từ ngữ chỉ "cái ấy" của ngời phụ nữ, tác giả dân gian tạo nên câu đố rất hóm hỉnh và hợp logic Qua đó, ta thấy đợc sự tài tình trong sử dụng ngôn từ của tầng lớp bình dân xa

Trang 26

Chúng ta đều biết, trong xã hội phong kiến xa, bộ phận văn học viết rất

dè chừng khi đề cập đến ngời phụ nữ Chỉ đến giai đoạn văn học nửa sau thế

kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, với cảm hứng nhân văn trỗi dậy mạnh mẽ thì các sáng tác về ngời phụ nữ mới bắt đầu nở rộ, song hình ảnh của ngời phụ nữ hiện ra là những số phận bất hạnh với những tình cảnh éo le nh hình tợng ngời phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hơng, những ngời phụ nữ hồng nhan bạc mệnh nh nàng Kiều trong "Truyện Kiều" - Nguyễn Du Trong ca dao, hình

ảnh những ngời phụ nữ đáng thơng này đợc nói tới không ít nhng cao hơn thế, ngời bình dân đã khẳng định đợc vai trò lớn lao của ngời phụ nữ thông qua việc đề cập đến sinh thực khí nữ trong ca dao Và qua những từ ngữ, những hình ảnh chỉ sinh thực khí nữ, tác giả bình dân đã nói lên ớc muốn chính đáng của ngời phụ nữ, họ cần đợc nhìn nhận một cách bình đẳng, đợc che chở, bảo vệ, chăm sóc và sự quan tâm của nam giới nói riêng và toàn xã hội nói chung

2.2 Những lời ca dao đề cập đến hành vi giao phối

Giao phối là một nhu cầu bản năng của muôn loài trên trái đất Với con ngời, hoạt động tính giao còn là một hành vi nhằm duy trì nòi giống, đảm bảo

sự tồn tại ổn định của xã hội Xã hội phong kiến với quan niệm Nho giáo hà khắc "nam nữ thụ thụ bất thân" nờn hoạt động tính giao của con ngời dờng

nh đợc giấu kín, rất hiếm khi đợc đem ra bàn luận chốn đông ngời Trong nền văn học trung đại Việt Nam, "chuyện ấy" rất ít khi đợc xuất hiện trên câu chữ, nếu xuất hiện thì đó phải là những sáng tác của những tác giả có tính cách mạnh mẽ dám đi chệch đờng ray nghệ thuật phong kiến nh Hồ Xuân H-

ơng, Nguyễn Công Trứ Ngợc lại, trong văn chơng truyền miệng, những chuyện thầm kín chốn phòng the, quan hệ nam nữ đợc ngời bình dân đề cập khá nhiều, đặc biệt là ở thể loại ca dao

Hoạt động tính giao là một nhu cầu sinh lý hết sức bình thờng của ngời trởng thành: ''gái thở dài, trai nằm sấp'' Ngời bình dân xa đã hiểu rất sâu

Trang 27

sắc vấn đề này Điều đó đợc chứng minh bằng một số lợng lớn những bài cao dao đề cập đến nhu cầu ái ân của con ngời trên nhiều khía cạnh khác nhau

Có khi những cặp trai gái yêu nhau say đắm, những khát khao tình cảm trào dâng dẫn đến chuyện "ăn cơm trớc kẻng" cũng đợc phản ánh vào ca dao một

cách tế nhị:

Đói lòng ăn trái khổ qua Nuốt vô thì đắng nhả ra bạn cời Bạn cời thì mặc bạn cời Tháng năm đi cới tháng mời có con.

"Chuyện ấy" là một nhu cầu hết sức bình thờng của con ngời Những khát khao thèm muốn của nhu cầu này không phải chỉ có ở những đôi trai gái

"đói lòng'' mà ngay cả khi đã là vợ chồng thì nó vẫn là một sự đòi hỏi mãnh liệt:

Đang khi lửa tắt cơm sôi, Lợn kêu con khóc chồng đòi tòm tem.

Bây giờ lửa đã cháy lên, Lợn no, con nín, tòm tem thì tòm.

Trong cuộc sống vợ chồng, "chuyện ấy" là một nhu cầu không thể thiếu Chính nó cũng là một phần quan trọng trong thể hiện tình cảm gắn bó keo sơn của nghĩa vợ chồng Dù cuộc sống bao bận rộn vất vả, ngời phụ nữ dù phải gánh trên vai bao nhọc nhằn của cuộc sống gia đình nhng trong "chuyện ấy" họ vẫn luôn đảm bảo tốt vai trò của mình góp phần vào giữ gìn tổ ấm gia

đình

" Chuyện ấy" là điều cần thiết trong cuộc sống vợ chồng Song đôi khi

nó diễn ra không phải hoàn toàn là sự thể hiện tình cảm yêu thơng giữa hai ngời mà nó là sự thoả mãn có phần ích kỉ của đấng phu quân:

- Mất tiền mua mâm thì đâm cho thủng Mất tiền mua thúng thì đựng cho đầy

Trang 28

Mất tiền mua chúng em đây Thì anh hành hạ bõ ngày cới xin

- Gần sáng mới đợc chồng yêu Hắn vật hắn lộn nh diều tha ga (gà).

Nh đã biết, trong xã hội phong kiến, ngời phụ nữ không có sự bình đẳng

từ ngoài xã hội và trong gia đình Nhng ít ai biết rằng, ngay cả trong chuyện thầm kín chốn phòng the thì ngời phụ nữ luôn là ngời bị phụ thuộc, cái nhu cầu rất con ngời ấy cũng bị đấng mày râu tớc đi quyền bình đẳng "Chuyện ấy" dờng nh trở thành một cái "hứng" mà quyền chủ động luôn thuộc về phía nam giới; ngời phụ nữ nh là một món đồ chơi, một thứ giải trí nhằm thoả mãn nhu cầu ích kỷ của họ mà thôi

Nhằm thể hiện hành vi tính giao của con ngời, ca dao sử dụng rất đa dạng các từ ngữ cùng các hình ảnh sinh động chỉ "chuyện ấy" một cách giản

dị, kín đáo hoặc thô mộc, thẳng thắn Sự kín đáo ấy đợc thể hiện trong những lời ca dao rất nhẹ nhàng, mợt mà:

- Chơi xuân kẻo hết xuân đi, Rày hờn mai tủi còn gì là xuân.

- Ra tay mở khoá động đào, Thực tiên thời đợc bớc vào chơi tiên.

Nhu cầu ấy luôn gắn liền với tuổi trẻ tuổi xuân của đời ngời Nhng nó không thuần tuý là nhu cầu bản năng mà nó còn chứa đựng cái đẹp của sự thanh cao nơi chốn bồng lai tiên cảnh - "chơi tiên" Mỗi lời ca dao đều đợc ra

đời trong những hoàn cảnh cụ thể, những lúc thanh nhàn thì lời ca dao về

"chuyện ấy" có thể đợc gắn với khung cảnh thần tiên nhng khi lao động vất vả thì nó gắn những công việc cụ thể

Ước chi em hoá ra trâu, Anh hoá ra chạc xỏ nhau cả ngày.

Ước gì em hoá lỡi cày,

Trang 29

Anh hoá thành bắp lắp ngay bây giờ.

Những động tác của hoạt động tính giao đó được tác giả dân gian chú ý ghi lại và đa vào ca dao và tạo nên những lời ca dao rất giàu hình ảnh

Mình em nh hơng án thờ thần

Anh nh con nhện dần dần bá chơi.

Ân ái nam nữ là chuyện vô cùng tế nhị: chuyện khó nói, khó diễn tả thành lời ấy đã đợc tác giả dân gian gửi gắm vào trong hình ảnh ví von thật sinh động giúp ngời nghe hình dung đợc những cử chỉ âu yếm mà rất kín đáo của "chuyện ấy" Và khi "chuyện ấy" diễn ra, ca dao không chỉ ghi lại ở hình

ảnh mà cả những âm thanh rất đặc trng của nó:

Cô tú kẽo kẹt cậu cai,

Vợ chồng thuyền chài kẽo kẹt dới sông.

Trong quan hệ tính giao, cú những thanh âm đợc phát ra thể hiện sự say

mê, thoả món của ái tình Tác giả dân gian đã rất khéo léo trong việc lựa chọn từ chỉ âm thanh "kẽo kẹt" để ghi lại đợc cảnh ái õn của con ngời

Trong quan hệ vợ chồng, sự ân ái gắn chặt với cái nghĩa tình:

Đạo vợ chồng hôm ấp mai ôm Phải đâu cua cá với tôm Khi đòi mớ nọ khi chồm mớ kia.

Đạo vợ chồng là cái nghĩa trăm năm thuỷ chung gắn bó Tình cảm keo sơn đó đợc hình thành nên bởi những chia sẻ ngọt bùi trong cuộc sống Đặc biệt chuyện ân ái "hôm ấp mai ôm" là sự thể hiện cụ thể của tình cảm này mà

bao đôi trai gái yêu nhau mơ ớc:

- Ước chi anh hoá ra cau

Em hoá ra bẹ ấp nhau tứ mùa.

- Ước gì anh hoá ra chăn

Để cho em đắp, em lăn cùng giờng.

Trang 30

Ca dao luôn gắn bó với cuộc sống của ngời dân lao động Dờng nh mọi công việc trong cuộc sống đều đợc ngời bình dân phản ánh vào thể loại văn chơng bình dân này Ngay cả hoạt động tính giao của con ngời cũng đợc ngời bình dân lồng ghép vào trong những bài ca dao nói về công việc lao động của

họ Do đó, ca dao có khá nhiều bài thể hiện công việc và nghề nghiệp gắn với

"chuyện ấy" nh: thợ hàn, thợ cối xay

- Một rằng thơng, hai rằng thơng

Có bốn chân giờng gãy một còn ba Hết đồng anh lại pha chì

Anh hàn chín tháng cô mình thụ thai Sinh đợc thằng bé con trai

Về sau giống bố gặp ai nó cùng hàn.

- Lác trông thấy gánh đôi bồ Kèm theo ca đục giống đồ thợ xay Lại đây em bảo câu này:

Có bà ở goá cần đóng xay anh tề Dăm trong đại bọc khít khe Thớt trên thớt dới ngõng thì đút vô

Đút vô giằng kéo quanh co Anh xay xay mãi, hết ló (lúa) bồ ló chum.

Nhu cầu ái ân, tình dục là một nhu cầu hết sức tự nhiên của con ngời Những ham muốn dục tình con ngời trở thành những khát khao đòi hỏi sự thoả mãn:

Chuột kêu chút chít trong vò Lòng anh có muốn thì mò lại đây.

Lời bài ca dao thể hiện rõ tâm trạng muốn đợc thoả mãn ái ân của chàng trai và đằng sau đó là lời mời gọi thiết tha muốn đợc dâng hiến, đợc tận

Trang 31

hởng hạnh phúc ái ân của ngời phụ nữ Song nhu cầu đợc tận hởng hạnh phúc

ấy không phải lúc nào cũng đợc thoả mãn:

Canh năm chợp mắt lơ mơ

Chồng vừa vào sờ gà gáy rạng đông.

Cuộc sống nông nghiệp vất vả khiến con ngời ta luôn phải đầu tắt mặt tối lo toan miếng ăn, cái mặc trong cuộc sống hàng ngày Bởi vậy, sự thoả mãn nhu cầu ái ân vợ chồng có lúc thật hiếm hoi, khó có đợc sự trọn vẹn Nh-

ng sự thoả mãn ái ân không phải là sự hoà hợp giữa hai bên nam nữ lại tạo ra

bi kịch đau xót:

Tham giàu lấy phải thằng Ngô

Đêm nằm nh thể cành khô đâm vào.

Chuyện sinh hoạt vợ chồng là điều thiết yếu trong cuộc sống hôn nhân

"Chuyện ấy" diễn ra là sự thể hiện tình cảm yêu thơng muốn đợc gần gũi nhau của cả hai vợ chồng Nếu hai ngời khác giới không có tình cảm thật sự thì cái nhu cầu

ấy hoàn toàn thuộc về bản năng của sự đòi hỏi sinh lý Bởi vậy thật xót xa cho số phận những ngời phụ nữ có cuộc sống vợ chồng không tình cảm, khi cái "chuyện ấy" diễn ra là mang tới bao sự tủi nhục đớn đau của sự vô tình "cành khô đâm vào"

Và nếu biết đợc tình cảm của ngời vợ lấy “chồng Ngô” trên thì những ngời phụ nữ sau sẽ thấy đợc sự đồng cảm khi cùng cảnh ngộ:

- Hỡi cô làm đỏm làm đe Lấy chồng thợ cối nó đè cả đêm.

Nhu cầu ái ân đều xuất hiện ở cả hai bên nam và nữ và không phải lúc nào nam giới cũng là ngời chủ động mà đôi khi sự chủ động thuộc về phía nữ

Đàn ông kia hỡi đàn ông, Nửa đêm trở dậy cắm chông đàn bà.

Đàn bà kia hỡi đàn bà, Nửa đêm trở dậy rút ruột già đàn ông.

Trang 32

Trong xã hội xa có những ngời phụ nữ khát khao nhu cầu ái ân mà không đợc thoả mãn, họ phải chịu cảnh chồng đi xa, chồng chung thật là tội nghiệp! Ngời phụ nữ luôn nhận phần thua thiệt về mình Nh vậy, lời bài ca dao hiếm hoi vừa trích trên đã góp một phần nhỏ bé vào tiếng nói đòi sự bình

đẳng nam nữ ngay trong những chuyện kín đáo tế nhị nhất

Hoạt động tính giao là hành vi quen thuộc với ngời trởng thành

"Chuyện ấy" đã đợc tác giả dân gian "gửi" vào những bài ca dao - câu đố rất

dí dỏm:

- Xa kia em trắng nh ngà Bởi chàng ngủ lắm nên đà em thâm Lúc khoẻ chàng đấm, chàng đâm

Đến khi mệt lử chàng nằm lên trên.

(Cái chiếu)

- Thoạt vào thì vén váy lên Cái dới mấp máy cái trên gật gù Bốn chân chong chóng, hai bụng kề nhau Cắn giữa phao câu nghiên đi nghiến lại.

(Cối xay)

Bên cạnh những lời ca dao phồn thực với những yếu tố chỉ bộ phận sinh thực khí, hành vi giao phối, còn có những bài ca dao thể hiện tình cảm nhớ nhung gắn bó tha thiết của nam nữ rất gần gũi với ý nghĩa phồn thực trong văn hoá dân gian:

- Rợu nằm trong nhạo chờ nem Anh nằm phòng vắng chờ em một mình.

- Đôi ta nh rắn liu điu Nớc chảy mặc nớc ta dỡu lấy nhau.

- Anh đi đằng ấy xa xa

Để em ôm bóng trăng tà năm canh.

Trang 33

Nớc non một gánh chung tình Nhớ ai, ai có nhớ mình chăng ai?

Lời ca dao thể hiện tình cảm trai gái quấn quýt với khát vọng tình cảm sáng trong, không hề có chút vẩn đục của ham muốn thể xác tầm thờng Xét

kỹ, tình cảm nam nữ khác giới ấy dù thế nào cũng đợc bắt nguồn từ cái nhu cầu tự nhiên có đôi có lứa của tạo hoá Bởi vậy, tính chất phồn thực của tín ngỡng dân gian ít nhiều đợc ảnh hởng trong những bài cao dao thể hiện tình cảm lứa đôi

Mặt khác, ca dao phồn thực không chỉ có những lời ca dao chỉ đề cập

đến sinh thực khí nam hoặc nữ hay hành vi giao phối mà nhiều khi trong một lời ca dao, cả sinh thực khí nam, nữ, thậm chí cả hành vi giao phối đồng thời xuất hiện:

- Tới đây khác tổng lạ làng, Anh thấy thuyền em sạch, anh muốn thả cây giầm vàng anh chơi.

- Thân em nh thể ngôi sao, Thân anh cũng giống ông thiên tào ngồi trên.

- Ước gì ruộng dới dịch lên, Ruộng trên dịch xuống, đôi bên giao hoà.

Cả ba yếu tố phồn thực cùng xuất hiện trong những lời ca dao thể hiện một ớc muốn giao hoà nam nữ tha thiết đến cháy bỏng Phải chăng, đây chính

là ảnh hởng của lối t duy lỡng phân lỡng hợp, là ảnh hởng của nét độc đáo trong tín ngỡng phồn thực của văn hoá nông nghiệp Việt Nam

Tóm lại, biểu hiện của yếu tố phồn thực trong ca dao trên hai phơng diện tơng ứng với hai dạng của tín ngỡng phồn thực: đề cập đến sinh khí và hành vi giao phối Các hình ảnh biểu trng cho sinh khí, hành vi giao phối trong ca dao thờng gắn với sinh hoạt đời thờng, công việc lao động sản xuất nông nghiệp - thể hiện dấu ấn của văn hoá nông nghiệp trọng tĩnh

Trang 34

Ngày nay, vấn đề tình dục đã đợc nói tới một cách phổ biến trên các

ph-ơng diện thông tin đại chúng Từ xa, tác giả dân gian đã thể hiện đợc điều ấy bằng những lời ca dao truyền miệng mộc mạc, giản dị Đó chính là nơi lu giữ, cất giấu những nét văn hóa truyền thống của tín ngỡng phồn thực Bởi vậy, vấn đề tình dục ngày nay cần đợc nhìn nhận dới góc độ văn hoá học trong chiều dài văn hiến ngàn năm của dân tộc Việt

2.3 Chủ thể phát ngôn của những lời ca dao mang tính phồn thực

Ca dao là một thể loại thuộc văn học dân gian đợc lu truyền bằng phơng thức truyền miệng Đó là những sáng tác tập thể của những tác giả vô danh

Do đó, việc xác định chủ nhân của thể loại trữ tình dân gian không hề dễ dàng Với bộ phận ca dao đề cập tới yếu tố phồn thực, chúng tôi thống nhất xét chủ nhân của nó trên tiêu chí giới tính: nam giới và nữ giới Từ tiêu chí này, chúng ta thấy đợc chủ thể phát ngôn những lời ca dao phồn thực có thể

sử dụng nhiều cách diễn đạt với những lời lẽ thanh nhã hay thô tục tuỳ vào từng hoàn cảnh, đối tợng đợc hớng đến

Nh đã biết, do vị trớ tạo lập được trong cuộc sống cộng với những đặc trưng về tõm – sinh lớ, đối tợng phát ngôn chủ yếu của ca dao phồn thực là nam giới Do đó, những bài ca dao phồn thực m chủ nhân là nam giới mangànét mạnh bạo đặc trng riêng của giới tính:

Sáng trăng vằng vặc Vác c đi chơi, Thấy đàn ngỗng trời Giơng cung ra bắn Gặp cô yếm thắm

Đội gạo lên chùa Giơ tay bóp vú Khoan khoan tay chú

Đừng bóp vú tôi

Trang 35

Hôm nay ba mơi Ngày mai mồng một

Để tôi đội gạo Lên chùa cúng phật

về mặt đạo đức Vậy nờn ta mới cú những lời ca tỏo bạo:

Cô kia cắt cỏ bên sông Cái váy thì cộc cái lông thì dài Thuyền chài nó trả quan hai

Cụ không chịu bán để dài quét sân.

Chủ nhân của lời ca dao trên rõ ràng là của một ngời đàn ông.Với sự tự

do trong phát ngôn, tác giả của lời ca dao đã đề cập đến một chi tiết rất nhỏ ở

bộ phận kớn của ngời phụ nữ Họ đã nói quá “cái ấy” lên tạo nên sự hài hớc,

dí dỏm thu hút ngời nghe Và chúng ta nhận thấy rằng, khi nói về bộ phận kín thì nam giới rất ít nói về “cái ấy” của mình mà họ luôn hớng đến ngời phụ nữ Điều n y – à như đó từng lớ giải - là hết sức tự nhiên của tâm lý con ngời, đặc biệt là những ngời đàn ông với những khát khao, với sự tò mò muốn tìm hiểu cái mới lạ hay đơn giản chỉ nhằm khẳng định sự từng trải của bản thân

Ngày đăng: 27/12/2013, 21:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Cao Huy Đỉnh, Tìm hiểu tiến trình Văn học dân gian Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tiến trình Văn học dân gian Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
3. Nguyễn Xuân Đức, Những vấn đề thi pháp Văn học dân gian Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Văn học dân gian Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
4. Ninh Viết Giao, Kho tàng ca dao xứ Nghệ, NXB Nghệ An, Nghệ An, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao xứ Nghệ
Nhà XB: NXB Nghệ An
5. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Giáo Dục
6. Trần Đình Hợu, Nho giáo và văn học trung cận đại, NXB Giáo Dục, Hà Néi, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và văn học trung cận đại
Nhà XB: NXB Giáo Dục
7. Đinh Gia Khánh, Văn học dân gian Việt Nam, NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo Dục
8. Nguyễn Xuân Kính (cb), Kho tàng ca dao ngời Việt (2 tập), NXB Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao ngời Việt (2 tập)
Nhà XB: NXB Văn Hoá Thông Tin
9. Nguyễn Xuân Kính, Thi pháp ca dao, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
10. Nguyễn Lộc, Văn hoá Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX , NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX
Nhà XB: NXB Giáo Dục
11. Tạ Lũng Minh, “Một góc nhìn về tác phẩm ít đợc biết tới của thi sĩ Nguyễn Bính: Tỳ Bà Truyện" “ ”, Báo An ninh thế giới, Số 28, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một góc nhìn về tác phẩm ít đợc biết tới của thi sĩ Nguyễn Bính: Tỳ Bà Truyện"“
12. Nhiều tác giả, Lịch sử văn học Việt Nam , NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo Dục
13. Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh, Hồ Xuân Hơng về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân Hơng về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: NXB Giáo Dục
14. Trần Đình Sử, Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại, NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại
Nhà XB: NXB Giáo Dục
15. Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo Dục, Hà Néi,1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo Dục
16. Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
17. Phơng Thu, Ca dao tục ngữ Việt Nam, NXB Thanh niên, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao tục ngữ Việt Nam
Nhà XB: NXB Thanh niên
18. Đỗ Lai Thuý, Thơ Hồ Xuân Hơng hoài niệm phồn thực – , NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Hồ Xuân Hơng hoài niệm phồn thực
Nhà XB: NXB V¨n hoá thông tin
19. Đỗ Lai Thuý, Từ cái nhìn văn hoá dân tộc, NXB Văn hoá dân tộc, Hà Néi, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ cái nhìn văn hoá dân tộc
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc
20. Hoàng Trinh, Đối thoại văn học, NXB H Nội, 1986. à 21. Hoàng Tiến Tựu, Bình giảng ca dao, NXB Giáo Dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại văn học", NXB H Nội, 1986.à21. Hoàng Tiến Tựu, "Bình giảng ca dao
Nhà XB: NXB H Nội
22. Hoàng Tiến Tựu, Văn học dân gian Việt Nam, NXB Giáo Dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo Dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w