Lê Lựu là một trong những nhà văn đã sáng tác trên cơ sở là sự đổi mới của lý luận và cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị, thể hiện sâu sắctinh thần phản tỉnh, tự thú.. Bằng sự gặp gỡgi
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
Phạm Thị Lan Hơng
ý thức phản tỉnh trong tiểu thuyết của lê lựu
Thời kỳ đổi mới
(Khảo sát qua một số tác phẩm tiêu biểu)
luận văn thạc sĩ ngữ văn
Vinh - 2009
Trang 2Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Sau ngày 30 - 4- 1975, đất nớc ta khép lại trang sử chiến tranh, bớcsang trang mới: bảo vệ, xây dựng đất nớc trong bối cảnh hoà bình Văn họccũng có sự thay đổi Cuộc sống trở lại với những quy luật bình thờng, con ngờitrở về đối diện với muôn mặt phức tạp, xô bồ của đời sống Các nhà văn có sựmẫn cảm với cuộc sống đã không thể bỏ qua cái hiện thực đó và họ đã nhìn ranhiều vấn đề có ý nghĩa Từ thể tài lịch sử dân tộc vốn là thể tài chủ đạo, vănhọc đã chuyển sự quan tâm chủ yếu sang thể tài thế sự và đời t Sự thức tỉnh ýthức cá nhân đã mở ra cho văn học nhiều đề tài và chủ đề mới Văn học ngàycàng đi tới một quan niệm toàn vẹn sâu sắc về con ngời mà hạt nhân cơ bảncủa nó là t tởng nhân bản Con ngời vừa là điểm xuất phát, là đối tợng khámphá chủ yếu, vừa là cái đích cuối cùng của tác phẩm văn học Con ngời trongvăn học hôm nay đợc nhìn ở nhiều vị thế và trong tính đa chiều của mọi mốiquan hệ: con ngời với xã hội, con ngời với cuộc sống, con ngời của mọi gia
đình, gia tộc, con ngời với phong tục, với thiên nhiên, với những ngời khác vàvới chính mình Con ngời cũng đợc văn học khám phá ở nhiều tầng bậc: ýthức và vô thức, đời sống t tởng, tình cảm và đời sống tự nhiên, bản năng, khátvọng cao cả và dục vọng tầm thờng, con ngời cụ thể, cá biệt và con ngời trongtính nhân loại, phổ quát Đây là những vấn đề cần đợc nghiên cứu một cáchtoàn diện và sâu sắc
1.2 Sau đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng, xã hội Việt Nam đã cónhiều chuyển biến trên mọi phơng diện Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá Nền kinh tế theo mô hình cũ đợc thay thếbằng nền kinh tế theo cơ chế thị trờng Việc giao lu, hội nhập đa phơng với thếgiới bên ngoài cũng góp phần lớn làm thay đổi quan niệm lối sống của ngờiViệt Nam Đây là thời kỳ bùng nổ truyền thông đại chúng, tinh thần dân chủ
Trang 3đợc phát huy mạnh mẽ Những biến động dữ dội trong nền chính trị thế giới,nhiều vấn đề nóng bỏng mà nhân loại phải đối diện đều có ảnh hởng đến trạngthái tâm lý, cách cảm cách nghĩ của con nguời Việt Nam, từ đó làm nảy sinhnhu cầu nhận thức lại các vấn đề của đời sống Điều này đã thổi một luồng giómới vào nền văn học nghệ thuật Những vấn đề của đời sống đợc các nhà vănlật lại Nhận thức lại mọi vấn đề trở thành khuynh hớng của nền văn học thời
kỳ Đổi mới Việc phản tỉnh diễn ra là một hiện tợng có tính phổ quát, biểuhiện nét đặc thù của thời kỳ văn học và cũng là xu thế phát triển tất yếu củavăn học Đã có một số bài viết đề cập vấn đề phản tỉnh này, tuy nhiên, cònnhiều khía cạnh cụ thể cần phải đợc đào sâu hơn và lý giải toàn diện hơn nữa.1.3 Đọc tiểu thuyết hôm nay, độc giả dễ có cảm giác nó đã áp sát đờisống, xông thẳng vào các “mắt bão” của cuộc đời và nói đợc những vấn đề cực
kỳ quan thiết của cuộc sống đời thờng thông qua những số phận có tính bikịch Tiểu thuyết của Lê Lựu đã nói lên đợc số phận có tính bi kịch của conngời trớc thực tại Lê Lựu là một trong những nhà văn đã sáng tác trên cơ sở là
sự đổi mới của lý luận và cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị, thể hiện sâu sắctinh thần phản tỉnh, tự thú Tìm hiểu ý thức phản tỉnh trong tiểu thuyết LêLựu, đối với chúng tôi, là một cách đi sâu khám phá các giá trị nổi bật trongsáng tác của ông cũng nh của văn xuôi Viêt Nam thời kỳ Đổi mới Đó còn làquá trình học tập một cách nhìn, cách tiếp cận đời sống để hoàn thiện dầnphẩm chất, t duy độc lập khi đối diện với những hiện tợng phức tạp của cuộc
đời
2 Lịch sử vấn đề
Theo tìm hiểu của chúng tôi, đã có một số công trình nghiên cứu liênquan đến vấn đề ý thức phản tỉnh trong văn xuôi Việt Nam nói chung và ýthức phản tỉnh trong tiểu thuyết của Lê Lựu thời kỳ Đổi mới nói riêng Xin đ-
ợc nêu một số công trình tiêu biểu:
Trang 4Nguyễn Văn Long trong bài Một số vấn đề cơ bản trong nghiên cứu lịch
sử văn học Việt Nam giai đoạn sau 1975, in trong sách Văn học Việt Nam sau
1975, những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, đã đánh giá: “Vào nửa cuối
những năm 80 và đầu những năm 90 đã phát triển mạnh khuynh hớng nhậnthức lại hiện thực với cảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản”
[82,11] Tác giả nói đến những biến đổi theo xu hớng dân chủ hoá của văn
học: “Văn học thời kỳ này không hề từ bỏ vai trò vũ khí tinh thần – t tởngcủa nó, nhng nó đợc nhấn mạnh trớc hết ở sức mạnh khám phá thực tại và thứctỉnh ý thức về sự thật, ở vai trò dự báo dự cảm” [82,14], “sự thức tỉnh ý thức cánhân trên cơ sở tinh thần nhân bản là nền tảng t tởng và cảm hứng chủ đạo bao
trùm của nền văn học sau 1975” [82,15] Theo tác giả, tiểu thuyết Thời xa
vắng của Lê Lựu đợc coi là tác phẩm khơi dòng cho khuynh hớng “nhận thức
lại”, “nhìn thẳng vào sự thật” của văn học thời kỳ Đổi mới
Nguyễn Thị Bình trong luận án Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật
Việt Nam từ 1986 đến nay (ĐHSP Hà Nội, 1996) đã có cái nhìn đối sánh văn
xuôi Việt Nam giai đoạn từ 1975 đến nay với văn xuôi giai đoạn 1945 - 1975trên 3 phơng diện: sự đổi mới quan niệm về nhà văn, sự đổi mới quan niệm vềcon ngời và sự đổi mới thể loại Luận án quan tâm đến quan niệm nghệ thuật
về con ngời và xem đây là yếu tố quan trọng của sự tiến bộ nghệ thuật, quy
định khả năng chiếm lĩnh đời sống của văn học và chi phối trực tiếp nhiều yếu
tố khác nh đề tài, nhân vật, cốt truyện, giọng điệu, ngôn ngữ Tuy nhiên, tácgiả không nghiên cứu riêng về ý thức phản tỉnh
Bùi Việt Thắng trong Tiểu thuyết đơng đại (Nxb Quân đội Nhân dân,
2006) có bài viết về tác phẩm Thời xa vắng của Lê Lựu Tác giả cho rằng:
Thời xa vắng là một tiểu thuyết tâm lý - xã hội ít nhiều mang tính chất tự
bạch, điều đó tạo nên chất giọng mới của Lê Lựu so với những sáng tác trớc
đây của ông Tác giả quan tâm đến những con ngời cụ thể “phát hiện và miêutả quá trình tâm lý phức tạp của con ngời thụ động, méo mó và cơ hội, tới con
Trang 5ngời chủ động, hoàn thiện và trung thực là nhiệm vụ chính mà tác giả đã thựchiện thành công một cách căn bản” [102,187] Tuy nhiên, bài viết cha thấy đ-
ợc thái độ tự vấn, tự thú của nhà văn trong tác phẩm
Năm 1986, cuốn tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu trình làng đã thực
sự gây xôn xao d luận, có ngời khen, kẻ chê, có ngời đồng tình, cũng có ngờiphản đối…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, VCác nhà phê bình Trần Đình Sử, Vơng Trí Nhàn, Hoàng NgọcHiến, Ngô Thảo…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V đã có những nhận xét xác đáng về tiểu thuyết Lê Lựu.Những ý kiến ấy đã có nhiều phát hiện thú vị về tinh thần nhận thức lại trongtiểu thuyết của ông nhng còn cha đợc triển khai đầy đặn
Nguyễn Văn Lu trong bài viết “Nhu cầu nhận thức lại qua Thời xa vắng của Lê Lựu” in trên Tạp chí Văn học số 5 – 1987 đã viết : “Tác giả đã thể
hiện những sự đổi mới cái nhìn vào hiện thực với nhu cầu cấp thiết phải nhậnthức lại thực tại” Nghĩa là yêu cầu ở nhà văn một sự khám phá sâu hơn vàonhững vùng hiện thực mà trớc đây cha đợc chú ý đúng mức Ngời đọc thấy Lê
Lựu trong Thời xa vắng khác hẳn Lê Lựu trong tác phẩm trớc đó “ở đây, tác
giả đã chuyển hớng rõ rệt trong phong cách nghệ thuật Do cách nhìn hiệnthực mới, sâu sắc và nhuần nhị hơn, đã đem lại những cảm hứng mới, giọng
điệu mới cho tác giả”
Tác giả Nguyễn Kim Hồng trong bài viết in trên Tạp chí Văn học số 5 –
1988 cũng đã có nhận xét “Thời xa vắng của Lê Lựu là một tác phẩm giàu
năng lợng sự thật” “Tác phẩm đã cảnh tỉnh con ngời tự nhận thức lại mình để
tự mình đi tìm lại những giá trị nhân bản đã từng bị lãng quên, bị làm mất Vàchỉ có nh vậy, năng lợng tính ngời trong con ngời và cuộc sống xã hội mới đợc
khởi động trở lại, mới phát huy tính tích cực xã hội của nó” Có thể nói, Thời
xa vắng của Lê Lựu mang dáng dấp của một cuộc “nửa đời nhìn lại”.
Bích Thu trong bài viết “Những nỗ lực sáng tạo của tiểu thuyết Việt Nam
từ sau Đổi mới”, in trong cuốn Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học (Viện
văn học, 1999) đã nhận xét: “Đọc tiểu thuyết của Lê Lựu, ngời đọc nhớ câu
Trang 6chuyện, nhớ nhân vật của một thời đã qua mà ai cũng thấy thấp thoáng chút ítmình trong đó”.
Bên cạnh các tài liệu, sách, báo và tạp chí, một số luận văn cũng đề cập
đến vấn đề này Trịnh Thị Nga trong khoá luận tốt nghiệp ý thức phản tỉnh
trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ đầu Đổi mới (ĐH Vinh, 2007), đã đi sâu
nghiên cứu ý thức phản tỉnh đợc thể hiện trong các sáng tác của các nhà vănthời kỳ Đổi mới với cái nhìn tơng đối sâu sắc, thấu đáo, nhng cha làm rõ ýthức phản tỉnh trong các tiểu thuyết của Lê Lựu Nguyễn Thị Minh Thủy qua
công trình Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến
nay (Luận văn Thạc sỹ Ngữ văn, Trờng Đại học Vinh, 2005) đã có nhiều ý
kiến xác đáng về tiểu thuyết Lê Lựu Ngô Thị Diệu Thúy trong công trình
Phong cách tiểu thuyết Lê Lựu (Luận văn Thạc sỹ Ngữ văn, Trờng Đại học
Vinh, 2007) đã đi sâu tìm hiểu đặc điểm của phong cách tiểu thuyết Lê Lựuvới nhiều phát hiện thú vị và mới mẻ…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V
Các công trình đợc điểm qua trên đây mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểumột phơng diện, một góc độ nào đó mà cha làm nổi bật ý thức phản tỉnh trongtiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ Đổi mới Điều này cho thấy việc tìm hiểu, đánh giá
ý thức phản tỉnh trong tiểu thuyết của Lê Lựu vẫn còn phải đợc tiếp tục Chọn
đề tài ý thức phản tỉnh trong tiểu thuyết của Lê Lựu thời kỳ Đổi mới, chúng tôi
mong muốn góp một phần nhỏ vào việc đem lại cái nhìn toàn vẹn, thấu đáohơn về ý thức phản tỉnh, tinh thần nhận thức lại hiện thực trong tiểu thuyết của
ông, qua đó khẳng định vị thế của nhà văn trên văn đàn
3 Đối tợng nghiên cứu và phạm vi tài liệu khảo sát
3.1 Đối tợng nghiên cứu
ý thức phản tỉnh trong tiểu thuyết của Lê Lựu thời kỳ Đổi mới
Trang 73.2 Phạm vi tài liệu khảo sát
ở công trình này, chúng tôi chủ yếu khai thác các tác phẩm tiêu biểuthuộc thể loại tiểu thuyết của tác giả Lê Lựu thời kỳ Đổi mới gồm:
* Thời xa vắng (1986), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
* Đại tá không biết đùa (1989), Nxb Thanh Niên, Hà Nội.
* Chuyện làng Cuội (1991), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
* Sóng ở đáy sông (1995), Nxb Hải Phòng.
* Hai nhà (2000), Nxb Thanh Niên, Hà Nội.
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn của chúng tôi tập trung giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứuchính nh sau:
4.1 Khái quát bức tranh văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới và vị trí củasáng tác Lê Lựu trong thời kỳ đó
4.2 Phân tích những nội dung phản tỉnh trong tiểu thuyết của Lê Lựu thời
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn đợc triển khai trong ba chơng:
Trang 8Chơng 1 Vị trí tiểu thuyết Lê Lựu trong bức tranh chung của văn học
Việt Nam thời kỳ Đổi mới.
Chơng 2 Những nội dung phản tỉnh trong tiểu thuyết của Lê Lựu thời kỳ
Đổi mới.
Chơng 3 Những cách tân nghệ thuật gắn liền với ý thức phản tỉnh trong
tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ Đổi mới.
Chơng 1
vị trí tiểu thuyết Lê Lựu trong Bức tranh chung của
văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới
Trang 91.1 Bức tranh chung của văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới
1.1.1 Từ 1986 đến đầu thập kỷ 90 là chặng đờng văn học đổi mới sôi nổimạnh mẽ, gắn liền với sự khởi động công cuộc đổi mới đất nớc Đại hội lầnthứ VI của Đảng (1986) đã xác định đờng lối đổi mới toàn diện, mở ra mộtthời kỳ đổi mới cho đất nớc, bớc vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ và ngàycàng vững chắc Đờng lối đổi mới tại Đại hội VI của Đảng, tiếp theo đó lànghị quyết 05 của Bộ Chính trị, cuộc gặp gỡ của Tổng Bí Th Nguyễn VănLinh với đại diện giới văn nghệ sĩ vào cuối 1987, đã thổi một luồng gió mớivào đời sống văn học nớc nhà, mở ra thời kỳ mới của văn học Việt Nam trongtinh thần đổi mới t duy và nhìn thẳng vào sự thật Vào nửa cuối những năm 80
và đầu những năm 90 đã phát triển mạnh khuynh hớng nhận thức lại hiện thực
với cảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản Tiểu thuyết Thời xa
vắng của Lê Lựu đợc coi là tác phẩm khơi dòng cho khuynh hớng này và trở
thành sự kiện văn học nổi bật của những năm 1986 - 1987 Cỏ lau và Mùa trái
cóc ở Miền Nam của Nguyễn Minh Châu đã nhìn nhận chiến tranh từ phía tác
động của nó đến số phận và tính cách con ngời Nỗi buồn chiến tranh của Bảo
Ninh cho thấy chiến tranh vẫn luôn đeo bám nhiều thế hệ đã đi qua cuộckháng chiến cho đến suốt cuộc đời Nguyễn Huy Thiệp lại phơi bày sự khủng
hoảng của xã hội, sự thay đổi các giá trị và lối sống qua tác phẩm Tớng về hu
và nhiều truyện ngắn xuất sắc khác Bến không chồng của Dơng Hớng, Mảnh
đất lắm ngời nhiều ma của Nguyễn Khắc Trờng, Đám cới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng lại dựng lên bức tranh hiện thực với nhiều mặt tối, với
bao điều xót xa, nhức nhối mà các tác giả muốn ngời đọc cùng toàn bộ ý thứcxã hội phải đối diện với nó Với hớng tiếp cận đời sống trên bình diện thế sự -
đời t đã đợc mở ra ở những năm 80, nhiều cây bút đã đi vào thể hiện mọi khíacạnh của đời sống cá nhân và những quan hệ thế sự đan dệt nên cuộc sống đờithờng phồn tạp, vĩnh hằng Nhiệt tình đổi mới xã hội, khát vọng dân chủ và
Trang 10tinh thần nhìn thẳng vào sự thật đã là những động lực cho văn học của thời kỳ
Đổi mới phát triển mạnh mẽ, sôi nổi Sự đổi mới ý thức nghệ thuật nằm ởchiều sâu của đời sống văn học, nó vừa là kết quả vừa là động lực cho nhữngtìm tòi đổi mới trong sáng tác và tác động mạnh mẽ đến sự tiếp nhận của côngchúng văn học T duy văn học mới đã dần hình thành làm thay đổi các quanniệm về chức năng của văn học, về mối quan hệ giữa văn học và đời sống,nhà văn và bạn đọc, về sự tiếp nhận văn học Đồng thời, sự đổi mới t duy nghệthuật cũng thúc đẩy mạnh mẽ những sự tìm kiếm, thể nghiệm về cách tiếp cậnthực tại, về các thủ pháp và bút pháp nghệ thuật, phát huy cá tính và phongcách cá nhân của nhà văn
Từ giữa những năm 90 (thế kỷ XX) đến nay, trong xu thế đi tới sự ổn
định của xã hội, văn học về cơ bản không xa rời định hớng đổi mới đã hìnhthành từ giữa những năm 80 Nếu nh trớc đó, động lực thúc đẩy văn học đổimới là nhu cầu đổi mới xã hội và khát vọng dân chủ thì khoảng 10 năm trở lại
đây, văn học quan tâm nhiều hơn đến sự đổi mới chính nó, mặc dù vẫn không
đi ra khỏi xu hớng dân chủ hoá Đây là lúc văn học trở về với đời sống thờngnhật và vĩnh hằng, đồng thời có ý thức và nhu cầu tự đổi mới hơn bao giờ hết
về hình thức nghệ thuật, phơng thức biểu hiện Tuy ít có những tác phẩm gây
đợc nhiều "cú sốc" trong d luận nhng hầu nh ở thể loại nào cũng có sự tìm tòi,
tự đổi mới Tình trạng có phần “lặng lẽ” của văn học nớc nhà gần đây là cóthực Điều đó phải đợc cắt nghĩa từ nhiều nguyên nhân kể cả do sự hạn chếcủa chính ngời cầm bút Tuy nhiên, văn học bớc đầu đã đợc "cởi trói" vớinhững chuyển biến tích cực, đạt đợc một số thành tựu đáng kể nh: giữa vănhọc và đời sống có sự gắn bó chặt chẽ hơn, có nhiều tìm tòi mạnh dạn từ nộidung đến hình thức, từ t tởng đến thủ pháp nghệ thuật, vai trò chủ thể củanghệ sỹ đợc coi trọng và phát huy mạnh mẽ, đời sống văn học đợc dân chủhoá một bớc
Trang 111.1.2 ý thức phản tỉnh đợc xem là một trong những cảm hứng chính củavăn học thời kỳ Đổi mới Vào những năm đầu của thời kỳ Đổi mới đã pháttriển một khuynh hớng sôi nổi trong văn xuôi có thể gọi là khuynh hớng
“nhận thức lại” Đáp ứng yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật, nhiều cây bút đãnhìn lại hiện thực của thời kỳ vừa qua, phơi bày những mặt trái còn bị chekhuất, lên án những t tởng, thói quen đã lỗi thời, trở thành vật cản trên bớc đ-
ờng phát triển của xã hội Tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu có thể coi là
tác phẩm chính thức khơi dòng cho khuynh hớng này Tiếp đó là hàng loạttiểu thuyết và truyện ngắn xuất hiện trong những năm cuối thập kỷ 80 và 90
nh Bến không chồng của Dơng Hớng, Đám cới không có giấy giá thú của Ma
Văn Kháng Vấn đề chiến tranh cũng đợc nhận thức lại từ sự tác động ghêgớm của nó đến tính cách và số phận của con ngời, với bao nỗi éo le, bi kịchxót xa Bên cạnh cảm hứng phê phán nổi trội ở một số tác phẩm thì phổ biếnhơn và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc hơn là cảm hứng về con ngời và thânphận của họ Với Nguyễn Minh Châu, nhận thức lại là phải làm những cuộc
đối chứng trong t tởng, để vợt lên những nhận thức sai lầm, máy móc hoặcgiản đơn về con ngời và xã hội Sự nhận thức lại cũng dẫn đến tinh thần tự
phê phán nghiêm khắc và các nhân vật tự thú dới ánh sáng của lơng tâm (Bức
tranh - Nguyễn Minh Châu) Nhận thức lại thực tại không đồng nghĩa với
“xét lại” mà theo tinh thần “khi nhờ vào kinh nghiệm ngời ta gạt bỏ sai lầm
khỏi cái chủ quan mà nó bao hàm, ngời ta sẽ đi dần đến chân lý” (Bút kí triết
học - Lenin) Sự chiêm nghiệm của nhà văn, của nhân vật bộc lộ rất rõ trên tác
phẩm, từ kết cấu đến hình tợng, chi tiết nghệ thuật Nhận thức lại quan hệ giữacá nhân và xã hội, giữa con ngời và hoàn cảnh, nhận thức lại chính mình vànhững ngời xung quanh…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V là trách nhiệm của ngời cầm bút, của văn học nghệthuật Trên nẻo lối mới này, các nhà văn đã đem lại cho bạn đọc nhiều tácphẩm thú vị và bổ ích, có khả năng thanh lọc tâm hồn ngời
Trang 12Tóm lại, văn xuôi hôm nay sở dĩ đợc ngời đọc đón chào nồng nhiệt, vìtính dân chủ của nó đợc nâng lên một tầm vóc mới Trớc hết, cần ghi nhận sự
nỗ lực của văn xuôi trong việc hớng tới con ngời, vì con ngời và nhiều cách đểtiếp cận đời sống, nhìn thẳng vào sự thật, vào một cuộc sống đang vỡ ra, đang
đợc sắp xếp lại Bằng hình tợng điển hình, nhà văn đã thể hiện những mâuthuẫn, phức tạp chằng chịt của thực tế xã hội Trong văn học, đã xuất hiệnnhiều tác phẩm viết về đời thờng, về những cảnh, những ngời mà chúng ta th-ờng gặp nhng ít quan tâm với bao buồn vui, éo le có thật Vả lại, đời thờnghôm nay cũng đầy những biến động gay gắt, những thử thách không dễ dàngtrong sự hình thành nhân cách mới Văn xuôi hôm nay đã mạnh bạo khai tháctính “đa sự”, “đa đoan” của cuộc sống và tình đời để tự nhìn lại, nhận thức lại,
tự sám hối, tự vấn, tự thú…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V để tìm ra chân lý
1.2 Quá trình sáng tác của Lê Lựu và vị trí tiểu thuyết của ông trong văn học thời kỳ Đổi mới
1.2.1 Quá trình sáng tác
Lê Lựu (tên khai sinh cũng là bút danh), sinh 12 – 12 – 1942 trong gia
đình nghèo tại thôn Mãn Hòa, xã Tân Châu, huyện Châu Giang, tỉnh HngYên Hiện ông đang sinh sống ở Hà Nội Cuộc đời cầm bút của ông trải quakhông ít những thăng trầm, thử thách cả trong thời chiến lẫn thời bình Đó làcuộc đời lao động nghệ thuật không biết mệt mỏi Ông đi trên lộ trình văn họcvới những mong muốn và tâm huyết của con ngời thấm thía nỗi đời Tại thời
điểm này, ông đã có trong tay hàng chục truyện ngắn, tiểu thuyết và thực sựtạo đợc chỗ đứng riêng trên văn đàn Việt Nam Ông là nhà văn Quân đội trởngthành trong kháng chiến chống Mỹ, từng thử bút trên nhiều thể loại: truyệnngắn, tiểu thuyết, hồi ký…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V và đạt đợc nhiều thành công Lê Lựu đã góp vàonền văn học một khối lợng tác phẩm không nhỏ và rất có giá trị Bởi nhà văn
luôn viết hết mình nh ông sống Ông đã từng tâm niệm rằng “sống thế nào
Trang 13viết thế ấy , tốt nhất là không m ”, “tốt nhất là không m “tốt nhất là không m ợn ai cả ”, “tốt nhất là không m… Quá trình sáng tác của Lê Lựu
có thể tạm chia làm hai thời kỳ: thời kỳ trớc Đổi mới và thời kỳ Đổi mới.Thời kỳ trớc Đổi mới, ngay từ năm 1963, khi còn làm báo ở Quân khu,
Lê Lựu đã viết truyện ngắn Tết làng Mụa Sau đó là một loạt truyện ngắn
Trong làng nhỏ, Ngời cầm súng, Phía mặt trời, Truyện kể từ đêm trớc … Đến Ngời về từ đồng cói thì Lê Lựu đã là “một cây bút viết văn kì cựu” [45,79].
Đến truyện ngắn này, văn Lê Lựu đã có mùi tiểu thuyết Ngời đọc biết ông là
nhà tiểu thuyết có tài Ngời về từ đồng cói đã đạt giải nhất trong cuộc thi sáng
tác do Bộ Lao động Thơng binh Xã hội, Tổng cục Chính trị, Hội Nhà văn và
Bộ Văn hoá tổ chức Sau này, tác phẩm đợc chuyển thể thành kịch bản phim…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V
Năm 1972, Lê Lựu đi Trờng Sơn và bắt đầu viết Mở rừng (1975), tiểu thuyết
tiêu biểu cho đề tài chiến tranh và ngời lính cách mạng
Thời kỳ Đổi mới, Lê Lựu bắt đầu ấp ủ và viết về những điều tâm huyếtnhất, đau đớn nhất, với mong muốn “lấp đầy chỗ khiếm khuyết” mà trongchiến tranh, vì mục tiêu giải phóng dân tộc nên văn học chỉ viết về cái hạnhphúc mà không nói đến bi kịch, đau khổ Tác phẩm đánh dấu sự chuyển đổi t
duy ấy là Thời xa vắng (1986) Tiếp đó là những tác phẩm có giá trị nh Đại tá
không biết đùa (1989), Chuyện làng Cuội (1991), Sóng ở đáy sông (1995), Hai nhà (2000) Nhiều tác phẩm của Lê Lựu đợc chuyển thể thành phim.
Bên cạnh truyện ngắn Ngời về từ đồng cói là hai tiểu thuyết Thời xa vắng và
Sóng ở đáy sông Nhà văn đã nhận đợc nhiều giải cao: giải nhì (không có giải
nhất) cuộc thi truyện ngắn Báo Văn nghệ (1967 - 1968) với truyện ngắn Ngời
cầm súng; giải thởng Hội Nhà văn Việt Nam (1986) với tiểu thuyết Thời xa vắng Chừng ấy cha phải là đủ đối với một nhà văn bản lĩnh và tài năng, song
nó khẳng định kết quả sự sàng lọc của thời gian cũng nh của độc giả Nhữngsáng tác ở thời kì Đổi mới đã thể hiện sâu sắc sự trăn trở, tìm tòi, nỗ lực của
ông Những vấn đề của hiện thực cuộc sống và con ngời đợc Lê Lựu khám phá
Trang 14bằng cái nhìn phản tỉnh, bằng tinh thần tự nhận thức lại, tự sám hối và thứctỉnh.
1.2.2 Vị trí của tiểu thuyết Lê Lựu trong nền văn học thời kỳ Đổi mới
Sáng tạo nghệ thuật là một quá trình khổ luyện đòi hỏi ở ngời cầm bútkhông chỉ niềm đam mê, tâm huyết mà còn cả tài năng, bản lĩnh thật sự Cóthể nói, cuộc đời cầm bút của Lê Lựu là một cuộc vật lộn căng thẳng với bảnthân mình, để vơn lên không ngừng cho ngang tầm cuộc sống và thời đại, đểphục vụ cuộc sống và thời đại Sự nghiệp sáng tác của ông không nhiều nhng
là một đóng góp lớn cho nền văn học, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết Ông tự
nhận mình là “loại nhôm nhoam” nhng “không viết không chịu đợc” Chính cái day dứt “không viết không chịu đợc” ấy đã đa nhà văn lên một vị trí xứng
đáng trong văn đàn bằng hàng loạt tác phẩm có giá trị Lê Lựu đợc xem là cây
bút “tiền trạm” của văn học thời kỳ Đổi mới Thời xa vắng là tác phẩm có ý
nghĩa khởi xớng cho nền văn học thời kỳ Đổi mới Đóng góp của Lê Lựu chonền văn học thời kỳ Đổi mới là không nhỏ cả về số lợng lẫn chất lợng, đặcbiệt là tinh thần dám nhìn thẳng vào sự thật, tinh thần nhận thức lại Tiểuthuyết của Lê Lựu là một minh chứng tiêu biểu, một thành tựu của đờng lối
đổi mới văn nghệ của Đảng, nhất là từ sau Đại hội VI (1986) Bằng sự gặp gỡgiữa thời đại và cảm quan nghệ thuật nhạy bén của ngời nghệ sỹ, với nhữngtìm kiếm chân lý kiên trì, những suy ngẫm, trăn trở đầy trách nhiệm của mộtnhà văn tài năng và tâm huyết, Lê Lựu đã cho ra đời những tác phẩm thànhcông góp phần làm giàu cho nền văn học thời kỳ Đổi mới ở thể loại tiểuthuyết Tác phẩm của ông khi mới ra đời, đã chịu không ít những khen chê
(Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội)…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V nhng qua thời gian, những tác phẩm ấy
đã khẳng định đợc giá trị đích thực Tiểu thuyết của nhà văn này đã thể hiện
đợc một phong cách riêng, một tiếng nói riêng Đó là tiếng nói mới về tinhthần nhận thức lại, lay tỉnh ý thức về sự thật, tinh thần sám hối cho văn họcthời kỳ Đổi mới
Trang 151.3 Phản tỉnh – một vấn đề lớn trong tiểu thuyết của Lê Lựu
ý thức phản tỉnh trong tiểu thuyết Lê Lựu đợc hiểu là ý thức tự lay tỉnhmình, nhìn nhận lại mọi vấn đề với những suy ngẫm, dằn vặt Nhà văn tự vấnbản thân, tự thức tỉnh và sám hối, đồng thời qua đó xây dựng ý thức tự vấntrong xã hội – một điều kiện thiết yếu để đời sống ý thức xã hội ngày càngphát triển lành mạnh Dù viết về chiến tranh hay nông thôn và ngời nông dân,
về cá tính con ngời hay sứ mệnh của văn học nghệ thuật, tác phẩm của ông
đều thể hiện sâu sắc tinh thần nhận thức lại hiện thực với hi vọng mỗi chúng ta
có cái nhìn về cuộc sống chân thực và xác đáng hơn
1.3.1 Tiểu thuyết của Lê Lựu góp phần làm nên ý thức phản tỉnh của một thời kỳ văn học
Thời xa vắng (1986) có thể coi là tác phẩm có ý nghĩa đặt nền móng cho
khuynh hớng "nhận thức lại" trong văn học thời kỳ Đổi mới Tác phẩm là thửnghiệm nghệ thuật mà mức độ thành công rất đáng đợc ghi nhận, trớc hết dotinh thần trách nhiệm cao cả của nhà văn Cùng với Lê Lựu là sự dũng cảm
của những ngời khai phá đờng mới trong văn học nh Vũ Tú Nam với Sống với
thời gian hai chiều, Xuân Thiều với Tháng ngày đã qua, Nguyễn Khải với Thời gian của ngời, Nguyễn Minh Châu với Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành … nhằm nhận thức lại các vấn đề đang diễn ra trong đời sống thực tại.
Chiến tranh đã đi qua nhng những tác phẩm viết về chiến tranh nh Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh, Ký sự miền đất lửa của Vũ Kỳ Lân và Nguyễn Sinh,
Những ngời đi tới biển của Thanh Thảo, Đờng tới thành phố của Hữu Thỉnh,
Họ cùng thời với những ai của Thái Bá Lợi…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V vẫn là những tác phẩm có giá trịvì những tác phẩm đó thể hiện sâu sắc ý thức phản tỉnh Nhân vật trong các tácphẩm đã có ý thức nhìn thẳng vào sự thật, sự thật của tình huống, sự thật của
hi sinh Cùng với ý thức ấy là trách nhiệm của mỗi ngời đối với sự nghiệpchung…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Các nhà văn đã tớc bỏ những ánh hào quang “văn chơng” để sự hisinh và chiến công hiện ra trần trụi trong ánh sáng đích thực của nó Con ngời
Trang 16giờ đây không chỉ thể hiện chiến công, ý thức và khí phách của nhân dân mà
còn thể hiện cả số phận của nhân dân nữa Đại tá không biết đùa của Lê Lựu
cũng là tác phẩm viết về thời chiến tranh ác liệt Ngời lính không chỉ biết tiếncông, hồ hởi với những vinh quang chiến thắng, họ cũng phải đối mặt với mộtthực tại là sự mất mát của tình yêu, của hạnh phúc riêng t, của sự li tán gia
đình Đại tá Hoàng Thuỷ, suốt 40 năm lăn lộn ở chiến trờng, chiến đấu vìhạnh phúc của nhân dân, vì sự bình yên của tổ quốc, nhng bản thân ông chỉ cómột đứa con cũng bị mất Đó là nỗi mất mát, đớn đau nhất mà ông phải trải
qua Ngoài ra, Sóng ở đáy sông, Chuyện làng Cuội, Hai nhà … đều là những
tác phẩm thể hiện sâu sắc cái nhìn nhận thức lại của nhà văn trớc hiện thực.Cùng với sáng tác của các nhà văn thời kỳ Đổi mới, tiểu thuyết của Lê Lựugóp phần làm nên ý thức phản tỉnh của một thời kỳ văn học
1.3.2 Điểm qua một số tiểu thuyết của Lê Lựu thể hiện ý thức phản tỉnh
Thời xa vắng (Nxb Hội Nhà văn Hà Nội, 1986), nói về hình ảnh ngời
lính trong chiến tranh thì xông xáo, ngoan cờng, lập nhiều chiến công nhngkhi trở về với cuộc sống đời thờng lại trở nên lạc lõng, luôn sợ d luận, khôngdám sống là mình, không dám sống cho mình, chỉ sống hộ, sống theo ngờikhác
Đại tá không biết đùa (Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1989) nói về thời
đã qua: con ngời không dám sống đúng với mình, chỉ sống với nghĩa vụ vàtrách nhiệm vì sự nghiệp chung, mà quên đi ý thức về cá nhân
Chuyện làng Cuội (Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1991), phản ánh bộ
mặt của nông thôn Việt Nam lúc nào cũng quá đề cao danh dự, làm cho cánhân con ngời rơi vào vòng khốn đốn Tệ hại hơn, nói khoác đã trở thành nếpquen của nhân dân ở làng Cuội Ranh giới giữa cái thật và cái giả là hết sứcmong manh Sự xuống cấp của đạo đức con ngời là vấn đề có thật.Tác phẩmnày thức tỉnh con ngời phải biết đối diện với sự thật, công bằng với sự thật…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V
Trang 17 Sóng ở đáy sông (Nxb Hải Phòng, 1995), thể hiện bi kịch của con
ng-ời cá nhân trong xã hội, là sự sám hối, ăn năn của con ngng-ời và ớc mơ vơn tớicuộc sống tốt đẹp
Hai nhà (Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2000), nói lên bi kịch của con
ngời trong cuộc sống hôn nhân và gia đình, ở một góc nhỏ của thành phố
Ng-ời ta sống với nhau đôi khi chỉ là sự gá buộc hững hờ, chỉ vì lợi ích cá nhân.Nhà văn phát hiện ra bi kịch đớn đau nhất trong gia đình: bi kịch “đồng sàng
dị mộng”, sự êm ấm hạnh phúc chỉ là cái vỏ hình thức để che đậy mà thôi…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V
Chơng 2 Những nội dung phản tỉnh trong tiểu thuyết
của Lê Lựu thời kỳ đổi mới
Trang 182.1 Nhận thức lại những vấn đề lớn của đời sống chính trị, văn hoá, xã hội
2.1.1 Vấn đề chiến tranh
Chiến tranh là đề tài nổi bật của văn học Việt Nam trong các giai đoạnphát triển Đặc biệt trong giai đoạn 1945 – 1975, không khí chiến tranh cómặt hầu hết ở các tác phẩm Văn học chủ yếu phản ánh số phận của nhữngcon ngời, những làng quê luôn tồn tại trong hoàn cảnh chiến tranh, chịu sự chi
phối của chiến tranh: Đất nớc đứng lên (Nguyên Ngọc), Ngời mẹ cầm súng (Nguyễn Thi), Hòn Đất (Anh Đức), Chiếc lợc ngà (Nguyễn Quang Sáng),
Dấu chân ngời lính (Nguyễn Minh Châu)…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Mỗi tác phẩm một cách phản ánhnhng đều thể hiện đợc không khí của chiến tranh chống giặc ngoại xâm củadân tộc
“Một đất nớc 50 năm không ngớt tiếng súng thì không khí chiến tranh in
đậm trên gơng mặt văn học là lẽ đơng nhiên” (Xuân Thiều) Trong hoàn cảnh
đó, mối quan tâm của ngời dân Việt Nam yêu nớc là làm sao để chiến thắngquân thù, làm sao để có cuộc sống hòa bình cho dân tộc Mỗi nhà văn là mộtchiến sỹ trên mặt trận văn hoá, đã hớng ngòi bút của mình vào mục đích caocả đó Tác phẩm của họ là những bản anh hùng ca, ca ngợi cuộc kháng chiến
vĩ đại của dân tộc Tinh thần ngợi ca, khuynh hớng sử thi và cảm hứng lãngmạn đã làm cho nhiều tác phẩm văn chơng phát huy đợc tính chiến đấu, cósức cổ vũ tuyên truyền cho cách mạng Ngọn lửa nhiệt tình trong mỗi ngời
dân Việt Nam đợc đốt cháy bởi những tấm gơng nh anh Trỗi (Sống nh anh của Trần Đình Vân), chị Sứ (Hòn Đất của Anh Đức)…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Sự hi sinh mất mát ít đợcnhắc đến Một số tác phẩm có đụng chạm đến vấn đề này thì bị xem là yếu
đuối, mang t tởng phản động, uỷ mị (Màu tím hoa sim của Hữu Loan) Mọi
cái chết đợc nhắc đến đều là những cái chết hoá thành bất tử, nhằm khẳng
định sự bất diệt của lý tởng cách mạng, của lòng quả cảm, hi sinh
Trang 19Từ 1975 trở đi, đất nớc đợc hoà bình, Bắc Nam thống nhất Chiến tranh
đã đi qua nhng vẫn là đề tài lớn đợc phản ánh trong văn xuôi Việt Nam Ngời
ta vẫn còn nhắc đến ở khía cạnh ngợi ca tinh thần anh dũng của dân tộc qua
các tác phẩm nh: Năm 75 họ đã sống nh thế (Nguyễn Trí Huân), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thụy)…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Bên cạnh đó,
đã bắt đầu xuất hiện những tác phẩm có cách nhìn khác về chiến tranh, thấyrằng chiến tranh không chỉ là những chiến thắng hào hùng mà còn là những
mất mát hi sinh: Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Lửa từ những ngôi nhà
(Nguyễn Minh Châu)…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Các tác phẩm này đã bớc đầu chạm đến những mấtmát hi sinh mà chiến tranh đã gieo rắc cho những con ngời và những miềnquê Chiến tranh càng lùi xa, chúng ta càng có cơ hội bình tâm nhìn lại nó.Ngời đọc muốn đợc hiểu về một chiến tranh khác ở Việt Nam.Vẫn là cuộckháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhng cuộc chiến tranh đó phải đợchiểu nh sự thật nó đã từng tồn tại trong lịch sử chứ không hoàn toàn nh nó đã
đợc phản ánh trong văn học 1945 – 1975 Để đáp ứng nhu cầu bạn đọc, cácnhà văn phải lao vào cày xới lại cánh đồng mà trớc đây ngời ta đã gieo trồng
và đã có đợc những vụ mùa thành công Điều đó đòi hỏi ngời gieo trồngkhông chỉ phải đổ mồ hôi công sức, mà còn có cả lòng dũng cảm, dám vợt quathử thách Những tác phẩm của Lê Lựu đã phản ánh cuộc chiến tranh trong cáinhìn nhận thức lại để hiểu rõ hơn về sự thực nh cuộc chiến tranh đã tồn tại
Đại tá không biết đùa là một trong những tác phẩm tiêu biểu viết về
chiến tranh trong cái nhìn nhận thức lại của Lê Lựu Chiến tranh là những mấtmát đau thơng mà mỗi con ngời phải chịu đựng Tiểu thuyết kể về cuộc đờicủa một ngời chiến sỹ - đại tá Hoàng Thuỷ Qua nhân vật này, ngời đọc thấyrằng, hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt đôi khi đã làm cho con ngời đánh mấtchính mình Cuộc đời của đại tá Hoàng Thuỷ luôn vì dân tộc, hình nh ông đãquên mất cuộc sống riêng t Ông có vợ và một cậu con trai tên là Tuỳ Thờigian ở bên nhau của vợ chồng ông nếu tính từng ngày cộng lại cha đầy ba
Trang 20tháng trong cả đời ngời Khi ông về thăm quê, con trai ông đã 7 tuổi Với tínhcách của ngời lính, khi con trai không nhận ra ông, ông đã hai lần dìm nóxuống ao, bắt gọi bố Từ đó ông có cách giáo dục con rất cứng nhắc, bởi theo
ông “thái độ thơng con đúng đắn nhất là phải rèn luyện giáo dục nó nghiêmtúc”, “phải bỏ cái kiểu thơng con uỷ mị, yếu đuối, động tí là than thở, khóclóc”, “phải thật kiên quyết, mình kiên quyết mà không xử lý đợc phải yêu cầu
nhà trờng, đoàn thể, cần thì báo cho chính quyền” [59,15] Đó là cách giáo
dục con quá nguyên tắc, cứng nhắc nhng ông vẫn cho là đúng đắn Chính vìthế, năm con ông 13 tuổi, ông đã nhờ công an huyện cho nó tập trung cải tạolao động sáu tháng một cách nghiêm ngặt Khi đồng chí trởng công an huyệnphân tích, lý giải và cho rằng không nhất thiết phải giáo dục con theo cách đó,thì ông tỏ thái độ khó chịu ngay cả với những việc diễn ra trong huyện nhà màkhông thuộc về quyền hạn, chức trách của ông “Từ cái ăn mặc, đi đứng, nóinăng đến những ý nghĩ, việc làm…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, Vnhìn vào đâu tôi cũng thấy thất vọng, tôikhông thể chịu đựng nổi” [59,16] Theo ông, mọi cái đều cần phải thay đổi và
có thể thay đổi theo ý mình, “kể cả những cơn gió lớn, nếu anh không thích,anh cũng buộc nó lại, tôi sẽ có cách vây bọc nó, không cho nó đến nếu tôikhông muốn”…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V
Chiến tranh đã gieo rắc nỗi đau thơng lên bao con ngời, bao vùng quêtrên đất nớc Việt Nam Thời gian đại tá ở chiến trờng, ngời vợ của ông luônphải sống trong cảnh cô đơn, mòn mỏi, đợi chờ Hai vợ chồng ông đã chịunhiều mất mát hi sinh: tuổi thanh xuân và hạnh phúc sum họp gia đình Contrai ông cũng ra mặt trận Trong một hoàn cảnh đặc biệt, con trai đại tá bị mấttích, không rõ nguyên nhân, nhng ông vẫn dằn lòng, thậm chí qua nhiềunguồn tin, ông còn cho rằng nó đã là kẻ phản bội tổ quốc và phải trừng trị đích
đáng nh bao kẻ phản bội tổ quốc khác “Nếu các anh đã coi chúng là những kẻ
đã phản bội tổ quốc thì còn phải hỏi gì nữa Đến khi ông cha dịu nỗi đau đớn,ngời ta lại báo cho ông biết, con ông và bạn nó đã trở về, theo ông nên xử lý
Trang 21nh thế nào Nó đã bỏ vị trí chạy sang đất địch, các anh cứ bắt nó về trại tạmgiam mặt trận mà xét hỏi nh các anh vẫn thờng làm, sao có trờng hợp ngoạilệ” [59,28].
Sự khốc liệt của chiến tranh làm cho ngời lính trở nên cứng nhắc, lạnhlùng, đôi khi độc đoán đến mức tàn nhẫn Là ngời mẹ, nhng vợ của đại tákhông bao giờ đợc tham gia vào việc giáo dục con cái Muốn đa con đi đâu,cho chơi bời với ai, tự dng bắt cải tạo, tự xin hoãn đi học đại học nớc ngoài đểlàm công nhân, để rèn luyện đều do đại tá nghĩ ra, bắt con phải làm theo, ngời
vợ không đợc bàn bạc, tham gia Ngay cả mối tình thiêng liêng của con trai
ông với cô gái thành thị, ông cũng kiên quyết ngăn cấm và tìm cách chia rẽ.Vì theo ông, cô gái ấy là ngời không đứng đắn “nó đã bỏ đợc ngời thứ nhất thì
có thể bỏ đợc ngời thứ 100” Khi con trai mất tích và chết, đại tá vẫn bìnhthản, không phải vì không thơng xót mà bình thản để không ảnh hởng đếnkhông khí chiến đấu của đồng đội, nhng sự mất mát trong lòng là vô cùng lớnlao Bề ngoài đại tá rất kìm nén nhng trong thâm tâm ông thấy lòng mình buốt
đau đến mức nào “Ba ngày phơi mình giữa nhiệt độ bốn mơi bảy phẩy năm,
ông không ăn, không uống một hợp nớc, mặc cho các cán bộ đại đội tha thiếtvan nài Cuối ngày thứ ba, khi ông đã có cảm giác không thể chịu đựng hơnnữa, ông lần ra mỏm núi, chỗ nhìn thấy dòng nớc sông chảy giữa hai biên
giới, ông ôm mặt khóc, gọi tên con Lần đầu tiên ông khóc Lần đầu tiên ông
gọi tên con mình tha thiết đến ngất đi, ngời ta phải gọi trực thăng mặt trận đến
cấp cứu ” Sự cố nén trong lòng ngời lính đã bật ra tức tởi khi chính họ đã quásức chịu đựng Khi gặp và biết ngời lái xe đã bỏ mặc con ông, “một cái tát nhtrời giáng vào mặt anh ta Anh ta ngã gục xuống dờng, ông dấn lên một bớc,tóm cổ áo lôi dậy Mày có biết tao là ai đây không? Tao là bố của ngời chiến
sĩ mày đã bỏ lại để cho giặc giết đấy Tao đây! Tao đây!…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Khi hai ngời bác sĩlực lỡng xốc hai nách đại tá dìu đi thì ông đa hai tay ôm lấy mặt khóc tu tu
Về đến phòng, mồ hôi ông toá ra, mặt mũi tái nhợt…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V” [59,119] Chiến tranh
Trang 22đã đem đến cho con ngời những tổn thất nặng nề về tinh thần Đau đớn hơn làtrớc nỗi mất mát của ngời ruột thịt, họ cũng phải cố nén, cố dấu lòng mình Hình ảnh chiến tranh trong tác phẩm không hiện ra trực tiếp mà qua sự từngtrải trong cuộc sống của đại tá Hoàng Thuỷ và những mối quan hệ của ông.Ngời đọc hiểu rằng, chiến tranh không chỉ là chiến công mà còn là sự tànkhốc làm cho con ngời phải chịu nỗi đau của chia ly, đau thơng, tang tóc.Thảm hại hơn là chiến tranh đã làm cho con ngời nhiều lúc không dám bộc lộmình, không dám sống thật với những tình cảm riêng t của mình, chỉ vì sợ
điều đó làm ảnh hởng đến tinh thần chung của dân tộc
Nếu Đại tá không biết đùa là tác phẩm viết về chiến tranh trong thực tại
nó đang diễn ra và những con ngời trực tiếp tham gia vào cuộc chiến đấu ấy
thì Thời xa vắng lại viết về chiến tranh qua hình ảnh ngời lính đã từng tham
gia chiến đấu và trở về với cuộc sống đời thờng Giang Minh Sài là một ngờicon của vùng Hạ Vị, một ngôi làng nghèo đói quanh năm Sài học rất giỏi,từng làm trởng ban phụ trách thiếu niên của xã, rồi đi bộ đội, vừa chiến đấu,vừa tự học, một năm hoàn thành chơng trình ba lớp, đợc cử đi học đại học vàtrở thành giáo viên, công tác ở ban chính trị trung đoàn Khi những tiếng “điB” còn là thầm thì, những ngời đi B còn phải chọn lựa để đến cái nơi chứa đầy
bí mật của những xa cách và hi sinh, Sài đã xung phong đi B Dới ngòi bút của
Lê Lựu, hình ảnh ngời lính trong chiến tranh đợc thể hiện một cách toàn diện,
đa chiều hơn Ngời lính không chỉ đợc miêu tả ở tinh thần xông lên nhả đạn,luôn sống trong hào quang của chiến thắng mà còn đợc phản ánh ở chiều sâu
bí ẩn, thầm kín nhất – chiều sâu tâm lý Đời sống tâm lý của Giang Minh Sài
đợc nhà văn thể hiện khá tinh tế qua hành động viết nhật ký của anh Mỗidòng nhật ký là một dòng tâm t, tình cảm của ngời lính đợc thể hiện rất thật.Anh có mối tình đầu với cô bạn học cùng lớp Đó là một tình yêu thiêng liêng
và vô cùng trong sáng, nhng vì hoàn cảnh không cho phép, nên anh đã gửigắm tất cả vào những trang nhật ký với những trăn trở, suy t sâu sắc Tuy
Trang 23nhiên, trong cuộc sống, đôi lúc ngời lính vẫn còn bị động, xuôi chiều, khôngdám thể hiện chính kiến của mình Sài không hề yêu vợ, nhng trớc sự độngviên, thúc ép của đơn vị là phải “yêu vợ”, Sài cũng đã nghe theo để đợc vào
họ trong chốc lát
Giang Minh Sài là ngời chiến sỹ trung kiên lập đợc nhiều chiến công ởchiến trờng, suýt đợc phong danh hiệu Anh hùng lực lợng vũ trang quân giảiphóng Cuộc sống cực nhọc của ngời lính với anh đã trở thành thiêng liêng.Sau chiến tranh, anh ra Bắc, làm giảng viên ở trờng kỹ thuật quân sự, Sài trởthành con ngời ở tất cả mọi lĩnh vực khiến nhiều kẻ phải mơ tởng Anh trởthành nhân vật hoàn hảo cho sự lựa chọn khắt khe của những cô gái kiêu kì.Oái oăm thay, chính con ngời đó lại gặp bi kịch đớn đau Bởi khi trở về saucuộc chiến, anh trở thành kẻ lạc lõng, bơ vơ, không thể hòa nhập với cuộcsống hiện tại Sài yêu và cới Châu, một cô gái Hà thành Hạnh phúc tởng sẽ
đến với Sài sau bao thăng trầm vất vả, nhng trong thời gian chung sống, anh
Trang 24mới phát hiện ra rằng giữa anh và vợ có quá nhiều sự cọc cạch Sài thờng bị vợchì chiết là “dân nhà quê”, “tọa tệch”, ăn đổ làm vỡ Sài bị vợ coi thờng, khinh
bỉ và lấn lớt Cô ta đã phản bội Sài, kết cục họ phải li hôn Niềm hi vọng cuốicùng của anh là đứa con, mà theo anh, toà án sẽ để anh nuôi, nhng đớn đauthay, trớc toà, Châu đã tuyên bố đứa con ấy không phải là máu mủ của Sài.Thế là Sài mất tất cả…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Viết nên những điều này, Lê Lựu muốn nói rằng: chiếntranh không chỉ gây ra thảm họa cho con ngời ngay trong cuộc chiến, màthảm họa đó còn kéo dài triền miên, dai dẳng trong đời sống con ngời cả sauchiến tranh Nỗi đau trong cuộc đời Giang Minh Sài chính là tàn d về sự khốcliệt của chiến tranh gieo rắc lên mỗi con ngời
Cùng với Lê Lựu, Nguyễn Minh Châu cũng viết về đề tài chiến tranh,
nh-ng cách quan sát của Nguyễn Minh Châu khônh-ng giốnh-ng Lê Lựu ở Cỏ lau,
thảm họa chiến tranh đợc Nguyễn Minh Châu thể hiện qua cuộc đời của Lực.Lực đã tâm sự “chiến tranh, kháng chiến không phải nh một số ngời khác, đếnbây giờ tôi không hề mảy may hối tiếc đã dốc hết cả tuổi trẻ vào đấy, cốnghiến cho nó, nhng nó nh lỡi dao phạt ngang mà hai nửa cuộc đời tôi bị chặt lìa,khó gắn liền lại nh cũ, nhng đau đớn là hai nửa cuộc đời tôi cũng không bị cắtlìa hẳn” [13,434] Lực sống sót trở về sau chiến tranh, nhng chiến tranh đã cớp
đi của anh tất cả Chiến tranh đã phạt ngang cuộc đời Lực, lấy đi của anhnhiều thứ, nhng cũng có những thứ nó chỉ lấy đi của anh một nửa Khốn nỗi,nửa còn lại đó, Lực không thể chắp nối nó nguyên vẹn nh xa Vợ anh vẫn còn
đó, nhng đã thuộc về ngời đàn ông khác, tình yêu của hai ngời tuy còn vẹnnguyên, nhng nếu chắp nối sẽ gây đau khổ cho ngời thứ ba Lực đã trở về sauchiến tranh với tâm trạng chán chờng và không có niềm tin vào cuộc sống.Còn nhân vật của Lê Lựu, dù đang trong cuộc chiến hay đã trở về sau chiếntranh, vẫn không ngơi nghỉ, vẫn không ngừng đấu tranh để đứng vững tronghoàn cảnh mới Họ chịu không ít những mất mát, thậm chí có khi rơi vào bi
Trang 25kịch, nhng họ vẫn giữ gìn nhân cách của mình vốn đợc tôi luyện trong chiếntranh, không ngừng vơn lên và tin tởng vào cuộc sống
Cũng viết về đề tài này, trớc Đổi mới, ở tác phẩm Mở rừng, Lê Lựu đã đề
cập đến một lớp ngời trong chiến tranh, cụ thể là một đơn vị lái xe vào chiếntrờng với những tấm gơng của ngời lính cách mạng cống hiến hết mình chodân tộc nh đại tá Quang Văn, Vũ, Trờng, Ngà…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Bên cạnh đó, mỗi ngời cũng
có cuộc sống riêng Họ nh một cánh rừng âm u, phải tự mở lấy lối mà đi, phải
tự quyết định lấy số phận, cuộc đời mình Thông qua số phận của mỗi con
ng-ời cá nhân cụ thể để nói đến vấn đề của dân tộc là một cái nhìn mới mẻ củanhà văn trớc Đổi mới Sau Đổi mới, cái nhìn về con ngời cá nhân của Lê Lựu
cụ thể và sâu sắc hơn Viết về chiến tranh từ tiêu điểm con ngời và số phận cánhân, từ điểm nhìn của những con ngời có những suy nghĩ, hi vọng và khátkhao riêng t, nhà văn đã đa đến cho độc giả một cái nhìn mới mẻ về con ngời
và cuộc sống
Nh vậy có thể thấy rằng, với tinh thần phản tỉnh, vấn đề chiến tranh trongsáng tác của Lê Lựu đã đợc thể hiện bằng cái nhìn rất khác Chiến tranhkhông chỉ đợc nhìn nhận ở chiều hớng ngợi ca mà còn đợc khắc họa ở góc độ
là những mất mát hi sinh nhng không chỉ là mất mát về thể xác hay tinh thần
mà nguy hiểm hơn là con ngời đã đánh mất chính mình Chiến tranh là thếgiới của sầu thảm, buồn đau Sự tàn phá của chiến tranh là khốc liệt không chỉvới cộng đồng, mà còn với cả từng cá nhân Hình ảnh ngời lính cũng đợc phản
ánh trong cái nhìn đa chiều Không giống nh trong văn học 1945 – 1975,trong sáng tác của Lê Lựu, hình ảnh ngời lính đời thờng hơn, họ cũng cónhững tình cảm, khao khát riêng t, thầm kín…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Tất cả đợc Lê Lựu thể hiện mộtcách chân thật, cảm động qua những trang viết của mình
2.1.2 Vấn đề xã hội nông thôn
Trang 26Nông thôn là đề tài rất quan trọng, tạo nhiều cảm hứng cho nhiều cây bút
ở mọi thời kỳ và để lại nhiều tác phẩm có giá trị Trong văn học trung đại,
ng-ời đọc đã bắt gặp hình ảnh nông thôn qua thơ Nguyễn Khuyến rất yên ắng,tĩnh mịch Trong văn học 1930 – 1945, nông thôn Việt Nam hiện lên với nạn
thuế khóa nặng nề (Tắt đèn của Ngô Tất Tố), đời sống xã hội ngột ngạt (Chí
Phèo của Nam Cao) Trong văn học Việt Nam 1945 – 1975, xã hội nông
thôn Việt Nam gắn với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ củadân tộc, bức tranh nông thôn không thê thảm nh trớc, mà bừng lên ánh sáng
của niềm tin (Con trâu của Nguyễn Văn Bổng, Cái sân gạch của Đào Vũ,
Anh Keng của Nguyễn Kiên…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V)
Văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới đã nhìn nhận lại xã hội nông thôn
bằng tinh thần phản tỉnh Cùng với các tác phẩm nh Mảnh đất lắm ngời nhiều
ma của Nguyễn Khắc Trờng, Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, tiểu
thuyết của Lê Lựu đã thể hiện một cách nhìn khác về nông thôn Vốn xuấtthân từ nông thôn, mang đậm bản chất nông dân “ngấm chất bùn đất của thônquê”, từ nhỏ đã sống với niềm vui, nỗi buồn của làng quê, Lê Lựu luôn nghĩ
về quê hơng, luôn quan tâm đến ngời nông dân và nông thôn với những vấn đềxoay quanh việc đổi mới, cải cách ruộng đất Tác giả phát hiện ra rằng: nôngthôn Việt Nam không yên bình êm ả, chỉ có hăng hái lao động sản xuất, phơiphới đi lên nh ngời ta tởng Đó còn là nơi chứa đầy những định kiến, bảo thủ,những tập tục lạc hậu, nghèo đói, là nơi con ngời, ngay cả ngời ruột thịt cũng
đố kị, ghen ghét nhau, lợi dụng nhau, sẵn sàng chỉ trích, chửi bới nhau để đạt
đợc lợi ích riêng
Thời xa vắng in lần đầu tháng 4 năm 1986, nhng đợc viết xong từ tháng 9
năm 1984 Nhìn vào thời điểm sáng tác cụ thể, có thể thấy đợc sự mẫn cảmcủa nhà văn đối với công cuộc đổi mới Tác phẩm đã bao quát đợc nhiều vấn
đề của hiện thực nông thôn, trong đó thể hiện rất rõ nhu cầu nhận thức lại của
Trang 27toàn xã hội – nhận thức lại thực trạng những diễn biến thời cải cách ruộng
đất và hợp tác hóa nông nghiệp Đọc tác phẩm, ngời đọc nh thấy đợc bức tranhcủa toàn cảnh đời sống nông thôn Đó là hình ảnh làng Hạ Vị nghèo đói,quanh năm lụt lội, mất mùa, đầy những định kiến cổ hủ Mở đầu tác phẩm,nhà văn đã cho ngời đọc ấn tợng bởi hình ảnh “làng bập bềnh nh trôi trong
đêm sơng muối Những cây cau thẳng đuột, cao vóng nh chỉ chực lao thẳng
đến tận trời, chìm ngập giữa âm thầm giá lạnh” Một không gian yên ắng, tĩnhmịch chứa đựng trong đó là sự lặng lẽ, đói nghèo của bao con ngời nơi đây.Nạn đói loang bùng khắp xã, con ngời thiếu ăn, thiếu mặc Thiên tai liên tục
ập đến nh muốn “nuốt chửng cả những bãi xanh non mênh mông lúa lốc vàvừng” “Những ngày ma ngâu ào đến, ào đi nh một thứ trò đùa dai dẳng.Những đêm chớp nháy liên hồi ở chân trời đằng đông gọi nớc lên nhanh nhtát, chả mấy chốc mà tràn vào làng” Cảnh chạy lụt của dân làng diễn ra hốihả “Tiếng trống thúc ngũ liên, tiếng loa hối hả suốt ngày đêm, gọi ngời lớn đi
hộ đê quai, giục trẻ con, ngời già, trâu bò, lợn gà chạy vào đê chính Nồi niêu,chăn chiếu gác lên sàn Nhất thiết mỗi gia đình phải xay ngô lấy lõi đủ 10ngày ăn Làng quay cuồng mù mịt trong nỗi hoảng loạn” Nông thôn nghèo
đói không chỉ vì thiên tai lũ lụt, mà còn vì ngời nông dân quá chây ì, lạc hậu
Họ chỉ thích sống cuộc sống của ngời làm thuê Dờng nh số trời đã định cholàng này chỉ có việc làm thuê, sáng cắp nón đi, tối cắp nón về, chen lấn, tranhcớp nhau từng ngời chủ, ai đợc chủ tin thì coi đó nh là một diễm phúc, có thểvênh váo, hãnh diện với ngời khác Cái thói quen thích đợc chủ tin dùng, khenngợi của họ thật đơn giản: lúc nghèo đói, nếu vay mợn thì phải canh cánh longày trả, tự làm lấy ruộng nhà mình thì vốn ít, cha kể đến thiên tai Thế là họcho rằng, không có gì dễ nh nghề đi làm thuê, vừa nhẹ nhàng, vừa có miếng
ăn ngay, đôi khi còn bớt xén hoặc xin thêm về cho bố mẹ, vợ hoặc chồng,hoặc con cái, đợc nh thế là tất cả tơi vui bừng sáng, ai cũng phấp phỏng hivọng ngày hôm sau nữa sẽ có nh thế…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Lâu dần thành quen, ngời ta có thể bỏ
Trang 28ruộng chứ không thể bỏ nghề làm thuê Chính tâm lí thích làm thuê đã làmcho cuộc sống của họ lúc nào cũng nghèo túng, nheo nhóc Cảnh làm thuê củalàng đợc Lê Lựu miêu tả rất cảm động, nhng cũng có nỗi niềm nh là tủi hờn,giận dỗi của một ngời yêu thiết tha quê hơng mình Nhà văn thấy đợc cảnh ng-
ời ngời làm thuê, nhà nhà làm thuê Tâm lí làm thuê để kiếm miếng ăn nh làthờng trực trong suy nghĩ của mỗi ngời và mỗi gia đình Cụ thể là gia đình ông
Đồ Khang Ngời đọc không khỏi băn khoăn, suy nghĩ trớc hình ảnh cu Sài đilàm thuê và cái giây phút “Sài muốn ứa nớc mắt vì bị khinh rẻ, nó hiểu thế nào
là thân phận của kẻ đi làm thuê để kiếm một bữa cơm” Nhà văn đã tái hiệncảnh dân làng chầu chực để chờ chủ ban phát niềm hạnh phúc đợc làm thuê:
“Làng lũ lợt kéo nhau đi Lúc đầu còn gọi nhau í ới, hỏi han nhau, về sau cànggần đến nơi, càng im lặng nh những cái bóng lầm lũi chuyển động Dờng nh aicũng nghĩ đến cái bí quyết gì đấy để khỏi ế ẩm Cả hàng dăm bảy trăm ngời đi
và chạy 3 cây số, khi đến chân đê đều dấn lên ào ào nh cơn lốc cuốn để tranhchiếm chỗ ngồi Những chỗ ngon đã hết, họ dúm dụm vào nhau thành từngkhóm trông lặng lẽ nh những mô đất Ai mới qua đây lần đầu vào những đêmtrăng suông lạnh lẽo, dễ hoảng hốt tởng mình lạc vào bãi tha ma chi chítnhững ngôi mộ đắp đất cày ải” [57,25]
Xã hội Việt Nam trong Thời xa vắng còn là những tập tục lạc hậu nh nạn
ép duyên, tảo hôn Dới sự bắt ép của gia đình, cu Sài phải lấy vợ lúc 13 tuổi
Điều đáng nói là Sài không hề yêu vợ, nhng Sài vẫn phải lấy và sống chung
Đó là kết quả của hủ tục “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” Bởi ông Đồ Khang,cha Sài đã quen với một nề nếp, một thói quen, một thông tục cha truyền connối từ mấy đời nay: con cái không có quyền muốn sao đợc vậy, vì nh thế làtrái với phép tắc gia phong
Thực trạng xã hội nông thôn còn đợc nhà văn đề cập đến ở sự tha hóa vềnhân cách, đạo đức của một số ngời Ngời ta đi đám tang cụ Đồ Khang với
Trang 29nhiều nguyên nhân: “Nhiều ngời đến viếng cụ Đồ vì nghĩa, vì sự tôn trọng,kính nể…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, VSong cũng có những ngời đến vì mục đích khác Họ là vô số ngờicha hề biết cụ Đồ là ai…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Họ đi đám chỉ vì không đi không tiện Thành rakhông phải họ đi đa cụ Đồ mà là đa đám ông Hà đã về làm Bí th Huyện ủy đ-
ợc nửa năm nay và đa đám anh Tính – ủy viên phụ trách nội chính của ủyban hành chính huyện ” [57,169]…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Ngời ta đi đa tang vì nghĩ đến chính mình,vì mục đích tầm thờng với những tính toán nhỏ nhen Trong cái làng quêthanh vắng tởng nh rất yên bình ấy đã chứa đựng bao nhiêu điều nhức nhối mà
Lê Lựu đã chỉ ra cho ngời đọc bằng cái nhìn phản tỉnh
Những định kiến lạc hậu của xã hội nông thôn Việt Nam còn đợc tác giả
thể hiện qua tiểu thuyết Sóng ở đáy sông Núi, nhân vật chính của tác phẩm,
có mối tình đầu thiêng liêng với ngời con gái ở quê ngoại thuộc vùng nôngthôn của huyện Kinh Môn ở tỉnh Hải Dơng Tình yêu của họ đến rất nhanh,trong trắng, cả hai cùng nhau hứa hẹn đi đến bến bờ hạnh phúc, nhng tình yêucủa họ bị phản đối bởi giữa hai ngời có mối quan hệ “dây mơ rễ má” đến bảy,tám đời Khi biết mọi ngời phản đối tình yêu của mình, Núi cũng đã thể hiện
sự hiểu biết “luật nhà nớc cho phép năm đời là đợc lấy nhau” Nhng Núi đãnhận đợc câu trả lời lạnh lùng từ ngời cậu họ: “Luật nhà nớc là cho nơi khác,
để chỗ tỉnh thành ngời ta theo, còn làng này chín, mời đời mà bằng vai phảilứa đã không đợc lấy nhau, huống hồ cháu lại lấy cô” [61,71] Đó là thói quen
nh một luật lệ nghiêm ngặt của làng, vẫn không cho ai vợt qua cái ranh giớihết sức tùy tiện và mơ hồ mà vô cùng chặt chẽ, chặt chẽ đến mức độc ác Địnhkiến đó đã làm cho tình yêu của họ bị chia rẽ Ngời con gái phải bỏ làng, sốngcuộc đời phiêu bạt, cô đơn Còn Núi phải bỏ học, dấn thân vào con đờng tộilỗi, trở thành tên ăn cắp khét tiếng
Ở Chuyện làng Cuội, nhà văn cũng tập trung khai thác những vấn đề
trong đời sống nông thôn với những đói nghèo lụt lội, đám ma, lễ hội và
Trang 30những phong tục tập quán Nhà văn còn đề cập đến vấn đề cải cách ruộng đấttrong nông thôn Nạn lũ lụt và nghèo đói đã làm cho cuộc sống nhân dân làngCuội bấp bênh, khốn đốn Hoàn cảnh ấy đôi khi khiến họ trở thành những conngời nhỏ nhen Cả làng rình mò, ngời này xăm xoi ngời kia, tranh dành, trộmcắp của nhau để chạy từng bữa ăn qua ngày Những nhà khá giả hơn, khi lụt
đến, ngô khoai của nhà mình thà để ngập nớc, trơng phềnh lên, dù hôi thốicũng chỉ để riêng mình ngửi chứ tuyệt đối không hề cho ai Cảnh lụt lội đãmang đến bao bi kịch đau thơng cho con ngời Vì nớc dâng cao nên đứa bé lênbảy bị chết đói phải thả trôi theo dòng nớc cuốn do không có đất để chôn Mộtngời cha chết lại đem đến niềm vui cho những ngời con Nghe thì trớ trêu nh-
ng đó là sự thật Ngời con mừng vì cha mình chết vào ngày nớc trong đầmCuội đang rút, nghĩa là cha mình vẫn có đất để chôn mà không phải thả trôisông nh thằng bé bảy tuổi…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Chỉ bằng những chi tiết ấy thôi, nhà văn đã táihiện chân thật, cảm động cuộc sống vất vả của ngời nông dân với bao niềmxót xa, thơng cảm
Bức tranh xã hội nông thôn trong tác phẩm còn thể hiện ở việc nhà vănviết về một sự kiện nổi bật trong lịch sử, sự kiện cải cách ruộng đất với nhữngmặt đợc – mất, tốt – xấu và chủ trơng về làm cải cách của Đội, với chínhsách ba cùng: cùng ăn, cùng ở, cùng làm…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V a đến cho vùng nông thôn vốn đquen với sự bình yên trở nên sôi động lạ thờng Tình trạng giả - thật, thật –giả đã đợc cán bộ Đội cải cách bày ra Cái bình thờng đã trở nên không bìnhthờng và cái không bình thờng đã trở thành bình thờng Khi Đội chuẩn bị vềlàng, ngời đứng ra tổ chức tng bừng đón đợi là đồng chí Kiêm, ngời từng thamgia Việt Minh, hoạt động bí mật cho cách mạng, hiện là Huyện ủy viên trựctiếp làm Bí th chi bộ xã Cả xã nô nức đi mít tinh nghe đồng chí Kiêm nóichuyện và reo lên khi Đội cải cách đã về với bà con Nhng Đội ra mắt đêmhôm trớc, đến đêm hôm sau đã ra lệnh bắt Kiêm, cùm hai chân, trói hai tay,bởi theo Đội là phải “chõm ngay con cá to”, “phải diệt ngay đầu não của nó
Trang 31để nó không có khả năng tổ chức lực lợng chống phá” Những cán bộ của Đội
đã “bồi dỡng” cho bà con hiểu rằng, Kiêm là một tên đầu sỏ, hoạt động bí mậtcho địch, đợc cài vào để phá tổ chức cách mạng Dù tin tởng, yêu mến đồngchí Kiêm, nhng dới sự “chỉ đạo” của Đội, nhân dân hoàn toàn nghĩ rằng gia
đình tên Kiêm là gia đình đại địa chủ, là thành phần phản cách mạng Với
ph-ơng châm “xâu chuỗi” và “cắm rễ”, các cán bộ Đội đã lập nên hồ sơ phạm tộicủa Kiêm, giả mà y nh thật Kiêm bị khép vào những tội trạng không thể thathứ, phải xử án tử hình Để tăng sức thuyết phục, cán bộ Đội đã tổ chức chocác nhóm tố thử, đấu thử đúng nh kịch bản của Đội…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Nhân dân làng Cuội ấutrĩ, nhận thức kém, hiểu biết ít đã hoàn toàn tin theo lời của Đội Kết cục đồngchí Bí th chi bộ xã bị chết oan “Khi những ngời du kích xách súng phủi quần
đứng dậy và anh cán bộ Đội bắn phát súng lục cuối cùng vào đầu, máu ộc rathì có tiếng thất thanh của một cán bộ tóc lốm đốm bạc nhảy từ ô tô xuốngkêu lên: Đình lại! Đình thi hành án lại!” [60,263]…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Từ sự kiện ấy, nhà vănmuốn nói rằng: sự kém hiểu biết, sự ấu trĩ đã ăn sâu vào tâm trí của ngời dân,dẫn đến sự nhìn nhận sai lệch, kết quả là cái bình thờng trở nên không bình th-ờng, cái không bình thờng trở thành cái bình thờng, “việc phụ hóa chính màviệc chính lại hóa phụ”, đa đến bao tai ơng cho ngời nông dân lao động nghèokhổ…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Bức tranh xã hội nông thôn đợc nhà văn xây xựng tập trung trongkhông gian của làng Cuội: ở bờ đầm của làng Cuội, ở bến sông, ở miếu làngCuội đã nảy sinh bao vấn đề Ngời đọc có thể thấy bức tranh hiện thực sinh
động, đủ màu sắc, đủ cung bậc trong không gian hẹp ấy ở đó có chuyện tìnhyêu, có ái ân, tình dục, có ghen tuông và thù hận, có sai lầm và sửa sai, có cáithật và cái dối trá, và cái thật có thể trở thành cái giả, ngời ta có thể sửa sailầm này bằng những sai lầm khác
Cũng viết về vấn đề xã hội nông thôn nh nhiều nhà văn khác, nhng cách
viết của Lê Lựu không hề gay gắt Nguyễn Khắc Trờng với tác phẩm Mảnh
đất lắm ngời nhiều ma (tiểu thuyết đợc trao giải A văn xuôi năm 1991), đã
Trang 32phơi bày thực trạng nông thôn Việt Nam những năm 80 Đó là sự tranh chấpquyền lực, vị thế giữa các dòng họ, cụ thể là dòng họ Trịnh Bá và dòng học
Vũ Đình Hai bên tìm cách để hạ bệ nhau Trịnh Bá Hàm lợi dụng vợ mình là
bà Son, trớc đây là ngời tình của ông Vũ Đình Phúc, dựng nên câu chuyệnquan hệ lén lút giữa bà Son và ông Phúc Ông Phúc vì muốn nâng cao uy tíncủa mình trớc làng, mà sẵn sàng đa cha ra đấu tố Bố của ông Phúc đã từ mặtcon, nhng khi nghe Phúc khơi dậy mối thù của hai dòng họ, ông bố bị đánhtrúng huyệt, chỉ còn bừng bừng nỗi hận với dòng Trịnh Bá mà quên ngay mốithù với con mình Mâu thuẫn dòng họ nặng nề, kéo theo tình trạng vây cánh
Để có quyền lực, để mu cầu lợi riêng, ngời ta không trừ giở bất cứ thủ đoạnnào để hãm hại nhau Đó thực sự là mảnh đất ngời, ma lẫn lộn…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Bằng cáchmiêu tả những sự kiện, Nguyễn Khắc Trờng đã dựng nên bức tranh nông thônlúc nào cũng ồn ào, ngột ngạt Nông thôn trong sáng tác của Lê Lựu khôngphải nh thế, mà chỉ hiện lên ở những nét nhẹ nhàng, nhng gợi đợc những vấn
đề nhức nhối, để lại trong ngời đọc nhiều suy nghĩ, day dứt và trăn trở Qua
đó, thể hiện bản lĩnh của nhà văn là dám nói thẳng, nói thật, và trên một
ph-ơng diện nào đó, bộc lộ sự đau đời của tác giả Bởi hơn ai hết, Lê Lựu luôn ao
ớc đợc viết về nông thôn làng quê nh chính ông đã từng tâm sự “Tôi vốn gốcnông dân rặt, làng tôi có thể nói là nghèo nhất thế giới, ngời dân khổ và cơ cựckhông gì diễn tả nổi, vậy mà tôi cha viết đợc gì về làng quê và những ngờithân yêu đó…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Tôi nghĩ, mình ở trong gan ruột nông thôn ra, có máu nhà quêchính cống Thế là tôi quyết tâm, quyết chí viết một mạch nh từ máu thịt tuôn
ra trên ngòi bút” [81,256]
2.1.3 Vấn đề bản chất con ngời nông dân Việt Nam
Trong không khí đổi mới hôm nay, khi nhà văn có quyền tự do nói thẳng,nói thật, tự do phản ánh, sáng tạo thì điểm nhìn của nhà văn cũng có thêm
Trang 33chiều rộng và chiều sâu Nhà văn không chỉ khắc họa đời sống xã hội vớimuôn mặt của nó, mà còn đi sâu vào những bi kịch cá nhân, vào những đớn
đau bất hạnh của số phận con ngời Qua đó khắc họa đợc những mặt tốt, xấu,những mâu thuẫn, xung đột trong bản thân con ngời, trong gia đình
Bản chất của ngời nông dân Việt Nam đã từng đợc văn học ở các giai
đoạn quan tâm, phản ánh Ngời đọc đã gặp hình ảnh ngời nông dân cần cù,chịu đựng, lam lũ nhng rất giàu lòng yêu nớc trong thơ Nguyễn Khuyến vàNguyễn Đình Chiểu Họ phải chịu cảnh áp bức “một cổ hai tròng” của chế độ
phong kiến, thực dân, là nạn nhân thê thảm của chế độ su thuế (Tắt đèn của
Ngô Tất Tố) Họ bị bần cùng hóa, thậm chí bị tha hóa cả nhân hình, nhân tính
nhng vẫn luôn khao khát làm ngời lơng thiện (Chí Phèo của Nam Cao).
Đến văn học 1945 – 1975, hình ảnh ngời nông dân đợc nhìn nhận tronghoàn cảnh khác Văn học giai đoạn này gắn với hai cuộc kháng chiến chốngPháp và chống Mỹ của dân tộc Hình ảnh ngời nông dân hiện lên là những ng-
ời hăng say lao động sản xuất, chiến đấu, có lòng yêu nớc nồng nàn, sẵn sàng
hi sinh bản thân vì lợi ích của tổ quốc Ngời nông dân đã bắt đầu làm quen với
đời sống tập thể (Con trâu của Nguyễn Văn Bổng, Xung đột của Nguyễn Khải,
Cái sân gạch của Đào Vũ, Bão biển của Chu Văn…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V) Mô típ đợc nhắc đến khiviết về ngời nông dân trong giai đoạn này là chuyện vào ra hợp tác xã, vấn đềquan hệ giữa lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân, sức ì của tâm lí tiểu nông gâycản trở cho công cuộc tập thể hóa Ngời ta thờng dựa vào việc ngời nông dân
có tích cực tham gia vào hợp tác xã hay không để đánh giá về họ Thực ra, đây
là cái nhìn hời hợt, đơn giản khi đánh giá con ngời, thấy con ngời chỉ là “conngời công dân, con ngời xã hội, con ngời chính trị” (Trần Đình Sử) Ngờinông dân cũng mang trong mình những bản tính riêng rất đặc trng Họ cũng
có những khát vọng và đòi hỏi riêng của cá nhân Chính vì thế, đánh giá ngờinông dân không thể đơn giản qui kết ở chỗ ý thức tập thể của anh ta nh thếnào Hơn nữa, thực tế cuộc sống có muôn vàn thay đổi, muốn đánh giá bản
Trang 34chất ngời nông dân, phải có cái nhìn ở nhiều chiều để phát hiện ra nhiều khíacạnh khác nhau trong bản chất của họ.
Đến văn học thời kỳ Đổi mới, bản chất ngời nông dân Việt Nam đợckhám phá bởi cái nhìn mới và đa chiều hơn Bên cạnh những sáng tác của cáccây bút cùng thời, tác phẩm của Lê Lựu đã thể hiện một cái nhìn tinh tế, nhạycảm của nhà văn về bản chất ngời nông dân Điều đó đợc thể hiện rõ trong hai
tiểu thuyết Thời xa vắng và Chuyện làng Cuội.
Thời xa vắng đánh dấu một cuộc “nhìn lại” trong văn học, bắt đầu thời kỳ
Đổi mới Tác phẩm nói về cái thời cha xa lắm của nông thôn nớc ta Đó là thời
kỳ ngời nông dân chập chững bớc những bớc đầu tiên hòa nhập vào cuộc sốngthành phố và cuộc sống Xã hội chủ nghĩa mới Nhng cuộc hòa nhập đó không
hề đơn giản Giang Minh Sài là anh nông dân chính gốc, sống trong gia đìnhnhà nho nghèo, rặt những kỷ cơng, lễ giáo và phép tắc trên dới Nếp sống gia
đình và cuộc sống nông thôn ảnh hởng lớn đến tâm lý và tính cách của Sài.Trong gia đình, anh phải nghe theo bố mẹ, anh chị Ngoài xã hội, Sài cũng nínnhịn trớc những bậc huynh trởng mới nh Hiền, Hiểu, phó chủ nhiệm chính trịtrung đoàn và ban chỉ huy đại đội của Sài Anh không dám đứng ra định đoạtcuộc sống cho riêng mình mà luôn nghe theo, ỉ lại, trông chờ ở ngời khác,mặc dù anh là ngời thông minh Lê Lựu đã nói đợc cái tâm lí của anh nôngdân trong con ngời Giang Minh Sài Đó là tâm lý sợ d luận, tâm lí nô lệ củangời nông dân Việt Nam từ ngàn đời nay đã bị tớc mất quyền tự chủ, chỉ quensống bằng nghề làm thuê Thói quen đó đã ăn sâu và trở thành sức ì tâm lýnặng nề Anh cu Sài bớc ra khỏi lũy tre xanh của làng nhng lại mang trongmình tâm lý, tính cách của anh nông dân xã hội cũ Vì thế, khi đã thoát khỏivòng kiềm tỏa của gia đình, thoát đợc cuộc sống nông thôn để lên thành phốsống, thì anh vẫn gặp bi kịch Anh bị vợ khinh rẻ vì nhu nhợc, không dám tự
định đoạt, việc gì cũng răm rắp nghe theo vợ Tâm lý nô lệ, thói quen ỉ lại củathằng nhà quê vẫn cha mất đi trong Sài, nó khiến Sài bị choáng, bị sốc và gặp
Trang 35thất bại thảm hại khi bớc vào môi trờng sống cần sự năng động, sáng tạo,quyết đoán Cuối cùng, Sài trở về quê hơng, nhận ra cuộc sống ở nông thônmới là cuộc sống đích thực dành cho mình.
Thời xa vắng còn nói lên một khía cạnh khác trong bản chất ngời nông
dân là tâm lí sợ d luận Cuộc đời Giang Minh Sài là một tấn bi kịch mànguyên nhân chính là từ gia đình và bản thân anh ta Ngay từ nhỏ, Sài đã bịcột chặt vào cái đợc gọi là danh dự, bổn phận Dù không yêu vợ, nhng khi
đứng lên nhận danh hiệu thiếu niên tiêu biểu, nghe chú Hà bảo “cấm đợc bỏ
vợ đấy nhé”, Sài đã phải yêu cái con bé mà mình ghét từ đầu đến chân đểxứng đáng với danh hiệu thiếu niên tiêu biểu của xã Câu nói của chú Hà đãtrở thành một “tảng đá khổng lồ” đè nặng lên vai Sài Vì lo đến vai trò gơngmẫu của một liên đội trởng, Sài không chê vợ nữa “Nó rất sợ tiếng xì xào bàntán ở bất cứ chỗ nào của ngời lạ cũng nh ngời quen Thành ra nó chỉ yêu vợ ởchỗ đông và bằng sự im lặng Nghĩa là trớc đám đông, dù chỉ là ba ngời, nókhông đợc nói, không đợc làm việc gì để ngời ta nhận thấy giữa nó và vợ có sựhục hặc” [57,43] Khi lớn lên, anh yêu cô bạn học cùng lớp, nhng tình yêu của
họ dang dở vì không vợt qua đợc d luận…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Thế là suốt đời Sài chỉ sống theongời khác, sống vì ngời khác mà không dám nêu lên chủ kiến của mình ởlàng Hạ Vị của Sài, ngời ta sợ mất nhiều thứ: sợ mất danh dự, sợ gia đình, xãhội Ngời ta sống vì danh dự, vì mọi ngời, sống theo d luận Ngời ta khôngdám sống là mình, cho mình mà chỉ sống theo mong muốn của ngời khác Đó
là tâm lí cố hữu đã ăn sâu trong tâm trí của ngời nông dân Việt Nam Điều đótrở thành một lực cản lớn đối với con ngời trong quá trình tìm hạnh phúc riêngcho mình và hòa nhập theo lối sống mới
Chuyện làng Cuội tái hiện những biến động, những sinh hoạt của con
ng-ời trớc Đổi mới cũng nh sau cải cách Ngng-ời nông dân không chỉ thật thà, chấtphác, chăm chỉ làm ăn nh ta tởng Bằng cái nhìn vừa tinh tế vừa sắc sảo, LêLựu đã phản ánh một sự thật là: ở ngời nông dân cũng đầy rẫy sự ganh đua,
Trang 36ghen tị, cũng đầy đám nịnh bợ, bắng nhắng, “gió chiều nào xoay chiều ấy”,cốt mu cầu lợi ích cho riêng mình Trong lòng họ cũng đầy thù hận và quyếtchí trả mối thù hận của cá nhân mình Tác giả đã cho ngời đọc hình dung mốihận thù của Lu Minh Hiếu đối với vợ mình và tên đội Lăng Khi biết vợ phảnbội mình, ngoại tình với đội Lăng, Hiếu đã tức chí, nung nấu mối thù Với vợ,
bề ngoài anh vẫn vui vẻ nhng trong lòng lại nuôi chí trả thù một cách xảoquyệt Anh lạnh lùng, dửng dng đến mức tàn nhẫn Anh ép mẹ mình phải giả
vờ dựng lên mối quan hệ mẹ chồng - nàng dâu bất hòa, để buộc vợ anh phải lihôn Chị vợ vừa hổ thẹn nhục nhã, vừa đau đớn cực độ nên đã thắt cổ tự tử.Với tên đội Lăng, Hiếu lại tìm cách trả thù giả dã man hơn Sau này, khi đã làngời công tác ở một Bộ, anh đã cố tình tiếp cận với cô gái ít tuổi hơn con gáimình, mà anh biết chắc chắn rằng đó là con gái của tên đội Lăng Sự trả thùcủa Hiếu thật ghê tởm, khi anh ta đóng vai là ngời yêu để cô gái dẫn về nhà ramắt bố mẹ Hiếu đã ngủ với con gái của Lăng ngay trong nhà Lăng và cố tình
để cho ông ta nhìn thấy điều đó Mối hận và cách trả thù của Hiếu quả là ghêgớm Ngời đọc hoàn toàn bất ngờ trớc những phản ứng và hành động củaHiếu, một ngời xuất thân là nông dân quê mùa, chất phác
Sự thù hận của ngời nông dân còn đợc nhà văn miêu tả khá kỹ ở cảnh têntrởng đồn Bạt trả thù chị Đất Khi tên Bạt đến bắt mẹ con chị Đất ra đồn trìnhdiện, biết Bạt là tên hay xu nịnh cấp trên để đợc lợi riêng, chị Đất đã lấy danh
ông tổng Lỡi để dọa nó Tên Bạt đã vô cùng tức giận “Nỗi uất ức bừng bừng
đùn lên làm cho cái mặt nó dày ra…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V nó đành nuốt hận xin chị Đất bỏ qua mọiviệc, chắc là máu nó đang bầm tím lại” Nhng chẳng lâu la gì, chỉ tám thángsau, nó có dịp nói chuyện với chị Đất để cho “cái u bầm tím trong lòng nó đợc
vỡ ra” Khi chị Đất đi thăm chồng đang ở tù và có thai chính là lúc cơ hội trảthù của tên Bạt đã đến Vì muốn giữ bí mật cho chồng nên khi tên đồn trởnghỏi về cha của đứa bé trong bụng, chị đã trả lời là “Tôi chửa hoang” Tên Bạt
đã cố tình xin mấy chữ “Tôi chửa hoang” do chính tay chị viết để “tiện bề nói
Trang 37với cấp trên” Hôm sau, nó đã tổ chức cạo trọc bôi vôi, dong chị Đất trầntruồng đi khắp làng Cuội, dán chữ “Tôi chửa hoang” lên mặt chị để bêu rếu vàhạ nhục chị Đó là một cách trả thù rất đê hèn, vô liêm sỉ và mất hết tính ngời.Bằng cái nhìn thẳng vào sự thật, Lê Lựu đã cho ngời đọc thấy đợc thù hận và
sự trả thù trong lòng ngời nông dân thật ghê gớm, đến mức đáng khinh bỉ.Một vấn đề nữa trong bản chất của ngời nông dân mà Lê Lựu muốn đề
cập đến là sự giả dối và lật lọng Phần đầu tác phẩm Chuyện làng Cuội là thái
độ lừa tình để chiếm đoạt chị Đất của tên tổng Lỡi, làm chị phải li tán quê h
-ơng, sinh con một mình Khi trở về quê, chị phải lừa dối mọi ngời bố đứa bé làViệt Minh, hoạt động bí mật, bị Tây bắt và bắn chết Sau này, có chồng làViệt Minh thật, nhng khi đi thăm chồng và có thai, lại phải nói dối là “Tôichửa hoang” Sự nói dối ấy là có nguyên do, không biết bao lần Đất trăn trở vìmình “đánh cắp mất lòng tin của mọi ngời”, nhng vì hoàn cảnh bắt buộc nênchị phải nh thế Sự lừa lọc, giả dối đợc nhà văn thể hiện rõ và tỉ mỉ hơn ở cảnh
Đội cải cách về làng Những ngời nông dân quanh năm quê mùa, chất phác,bỗng dng thành những kẻ nối dối Chồng bà Đất là ngời có công với cáchmạng nhng lại trở thành tên phản động bởi những lời nói dối và cách lập hồ sơgiả của cán bộ Đội Ngời ta vu oan cho chồng bà những tội ác: chiếm đoạtruộng đất, phát canh thu tô, đánh ngời dã man, cho vay ngô khoai nặng lãi, c-ỡng hiếp dân lành, làm tay sai cho Tây, bóc lột nhân công, giết ngời bịt đầumối, chống phá cải cách Những ngời đợc phân công nhiệm vụ “tố điêu”Kiêm, đợc “tập dợt” cẩn thận nên nói năng một cách trơn tru, tội ác của Kiêmcàng đợc định khung rõ ràng Vì lợi ích cá nhân, vì muốn đợc xuống thànhphần, cô Xuyến đã dám vu khống bố chồng cỡng hiếp mình Vì đợc Đội chothêm một ít ngô lúa mà tên Thó – vốn là anh em họ với bà Đất, trớc đây đã đ-
ợc bà giúp đỡ, sẵn sàng vu khống chồng bà Đất với nhiều tội ác Mỗi ngời đềuvì lợi ích riêng Những ngời dân thì chỉ mong mình không dính dáng đến tênKiêm, chỉ muốn Đội tin mình cũng căm thù tên đại địa chủ cờng hào, nên đã
Trang 38hùa theo những lời nói dối Sự ấu trĩ đã khiến họ tin tởng một cách mù quáng.
“Không ngờ Đội lại biết đợc tỉ mẩn bao nhiêu là chuyện kinh khủng Bà connông dân nghe Đội cung cấp quá trình phản động của tên Kiêm, ai cũng rợnhết cả ngời Bà con nông dân sờ đầu gối, nói chân thật, ai nói thế nào nghevậy, làm sao biết đợc nó thâm hiểm, quỷ quyệt đến thế” [60,204] Sự dồn dậpquyết liệt của Đội đã biến những cuộc tố khổ tràn lan, chung chung tập trungvào đối tợng chủ yếu Ngời dân hoảng hốt sợ liên quan nên háo hức đi tốkhổ…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Sự giả dối lật lọng còn đợc biểu hiện ngay trong quan hệ vợ chồng VợHiếu lang chạ với ngời đàn ông khác nhng miệng vẫn thẻ thọt với chồngnhững lời đờng mật Hiếu muốn bỏ vợ, nhng sợ ảnh hởng đến uy tín của bảnthân nên đã bắt mẹ mình dựng nên chuyện giả dối quan hệ mẹ chồng nàngdâu bất hòa để có cớ li hôn với vợ Vì quyền lợi cá nhân ích kỷ, tầm thờng màHiếu đã làm cho mẹ mình phải tìm đến cái chết đau thơng Đó là khi bà Đấtnói với đứa con gái của Hiếu về mối quan hệ cha con của Hiếu và ông tổngLỡi Sợ ảnh hởng đến sự tiến thân của mình, Hiếu đã xỉ vả, dày vò mẹ để bàcảm thấy là có lỗi và phải nhảy sông tự vẫn Khi xác bà đợc vớt lên, bao ngờingợc xuôi lo toan, không phải vì thơng bà mà vì lợi ích của bản thân mình, aicũng muốn Hiếu biết là mình đã đến Trong lúc đó, Hiếu lại đứng ngay bênxác mẹ để nguyền rủa ngời mẹ lúc này chỉ còn là cái xác thối “đồ ngu nhlợn” Thật xót xa và đau thơng!…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Qua những cảnh này, ngòi bút Lê Lựu nhtỏa ra khắp nơi, để rồi ở phơng diện nào, nhà văn cũng đa đến cho độc giả mộtcái nhìn mới Đó nh là lời cảnh báo về sự băng hoại của đạo đức, lối sống, vềnhững lối mòn cũ kỹ ở đó có cả sự căm giận của nhà văn trớc sự ấu trĩ, thấpkém trong t duy của con ngời Con ngời lừa dối nhau để sống, có thể biến cáithật thành cái không thật và ngợc lại Cái thật – cái giả chỉ có một ranh giớimong manh Để đạt đợc những lợi ích, những dục vọng cá nhân tầm thờng,ngời ta sẵn sàng dẫm lên kẻ khác, sẵn sàng dối ngời trong mọi trờng hợp, “ng-
ời ta lấy một việc có thật ai cũng biết để làm cái bao rồi nhét bao nhiêu cái
Trang 39ruột giả vào trong mà không ai cần tìm ra sự giả dối vu oan” [60,239]…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Đó làmột mảng sống nông thôn đang bị xuống cấp về đạo đức, con ngời quan hệvới nhau bằng những mu toan, tính toán cho dù đó là quan hệ mẹ con, anh em,
vợ chồng
Cũng viết về bản chất của ngời nông dân, Nguyễn Minh Châu trong
Phiên chợ Giát đã thể hiện ngời nông dân cần cù chăm chỉ mang trong mình
sức mạnh lớn, nhng lại chịu một số kiếp âm thầm, nhẫn nhục Hình ảnh con
bò khoang là hiện thân cho cuộc sống vất vả, nhọc nhằn và chịu đựng của lãoKhúng Suốt đời lão cung cúc làm lụng, mặt khi nào cũng dán vào đuôi bò.Hành động giải phóng bò khoang là hành động có ý nghĩa biểu trng thể hiện -
ớc muốn tự giải thoát của lão Lão đích thân dắt bò vào rừng, cho nó cuộcsống tự do, nhng cuối cùng thì bò khoang lại trở về với lão, tự nguyện chấpnhận cuộc sống nô lệ Lão chỉ còn biết đa cặp mắt đầy sầu não và phiền muộnnhìn nó với niềm thơng cảm xót xa vô cùng, bởi nó cũng là hiện thân số kiếpcủa lão…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V Ngời nông dân trong sáng tác của Lê Lựu và Nguyễn Minh Châu
đều là những ngời cam chịu và thích nô lệ Nhng khác với Nguyễn MinhChâu, Lê Lựu còn phát hiện đợc những nét suy đồi về đạo đức của ngời nôngdân trong cái nhìn đa diện, nhiều chiều Ngời nông dân trong sáng tác củaNguyễn Minh Châu chỉ đợc nhìn từ phơng diện tính cách, số phận còn ngờinông dân trong sáng tác của Lê Lựu lại đợc nhìn từ “tổng hòa các mối quan hệcủa xã hội” Vì thế, ngời nông dân trong sáng tác của Lê Lựu đến với ngời đọcgần và thật hơn
Tóm lại, khi viết về vấn đề xã hội nông thôn và bản chất ngời nông dânViệt Nam, Lê Lựu đã cho ngời đọc cảm nhận đợc sự trăn trở, day dứt, thấmthía từ những cảnh đời, những con ngời Nhà văn luôn gắn mình vào cuộcsống của nhân dân, hóa thân vào những vui buồn, sớng khổ của mọi ngời, th-ờng xuyên đi vào tận những ngóc ngách của đời sống để tìm hiểu, nắm bắt, tự
đặt cho mình những câu hỏi về cuộc đời và tìm cách khám phá Qua đó, giúp
Trang 40độc giả có thể nâng tâm hồn mình lên và sống cuộc sống tốt đẹp hơn, đầy chấtngời hơn.
2.2 Nhận thức lại về sự tồn tại của cá tính, của con ngời cá nhân
2.2.1 Quyền tồn tại của cá tính tự do
Cuộc Cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống
Mỹ đã khơi dậy và phát huy đến cao độ ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc, lòngyêu nớc trong con ngời Việt Nam Thành tựu nổi bật nhất của văn học ViệtNam giai đoạn 1945 – 1975 là phát hiện, sáng tạo và xây dựng hình ảnh conngời quần chúng ở nhiều bình diện Con ngời đợc ý thức trong tơng quan mới,trong quan hệ với tập thể và sự nghiệp tập thể Ngời ta đánh giá ý thức tập thểqua việc cống hiến của con ngời với tập thể Con ngời cá nhân không đợc đềcập đến Số phận cá nhân, khát vọng cá nhân bị che lấp sau số phận cộng
đồng Hình ảnh con ngời đợc ngợi ca là con ngời chiến đấu hết mình cho sựnghiệp chung của dân tộc
Từ sau 1975, chiến tranh kết thúc, cuộc sống trở về với quy luật đời ờng của nó, con ngời phải đối mặt với bao vấn đề của cuộc sống trong hoàncảnh xã hội có nhiều biến động, đổi thay Họ cũng có những khát vọng cánhân, những đòi hỏi đợc sống là chính mình Sự thức tỉnh ý thức cá nhân trởthành cảm hứng và đặc điểm bao trùm của văn học Việt Nam sau 1975, đặcbiệt là thời kỳ Đổi mới Bên cạnh các tác phẩm của Ma Văn Kháng, Dơng H-ớng…Các nhà phê bình Trần Đình Sử, V, sáng tác của Lê Lựu đã thể hiện sâu sắc ý thức khẳng định cá tính và
th-con ngời cá nhân Một trong những tác phẩm thể hiện rõ nhất điều đó là Thời
xa vắng Tiểu thuyết nói về bi kịch của con ngời không đợc sống với cá tính
của mình, không đợc sống cho mình, chỉ sống vì ngời khác, sống theo d luận.Thời gian Sài đi bộ đội mới là thời gian đằng đẵng nhất của anh vì hầu nh anhkhông đợc sống một chút gì cho chính bản thân mình Ban ngày, anh là conngời của nghĩa vụ, tập luyện chiến đấu nh đồng đội Nhng tối đến, anh phải
đối diện với chính mình Anh nhớ Hơng và tởng tợng đến tình yêu đẹp đẽ của