Đề tài “Ý niệm về người phụ nữ trong một số truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Minh Châu” góp phần cụ thể hoá lí thuyết ngữ pháp chức năng và ngữ dụng học trong phân tích chủ điểm cụ thể
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -& -
NGUYỄN THỊ THUÝ ANH
Ý NIỆM VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG MỘT SỐ
TRUYỆN NGẮN TIÊU BIỂU CỦA
NGUYỄN MINH CHÂU
CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ : 60.22.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Lê Đình Tường
Vinh - 2009
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành nhờ sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Lê Đình Tường, sự góp ý chân thành của các thầy giáo phản biện, các thầy cô giáo trong bộ môn ngôn ngữ và bạn bè đồng nghiệp
Nhân đây cho phép chúng tôi được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến tất cả các quý thầy cô và các bạn bè đồng nghiệp, đặc biệt là thầy giáo
Lê Đình Tường – người đã trực tiếp hướng dẫn và động viên chúng tôi thực hiện và hoàn thành luận văn với một hướng đi khá mới mẻ này
Do đề tài luận văn được tiếp cận với một hướng khá mới nên chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, vì vậy rất mong được sự góp ý chân thành của quý thầy cô và các bạn!
Vinh, tháng 12 năm 2009
Tác giả luận văn
Trang 3MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Đóng góp của Luận văn
6. Bố cục của Luận văn
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Một vài đặc điểm về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
1.1.1 Vài nét cơ bản về truyện ngắn
1.1.2 Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
1.1.2 Thế giới nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
1.2 Ngữ pháp chức năng - cơ sở để phân tích ngôn bản
1.2.1 Ngữ pháp chức năng
1.2.2 Cú là đơn vị nghiên cứu
1.2.3 Hai siêu chức năng cơ bản của cú
1.2.3.1 Chức năng phản ánh
1.2.3.2 Chức năng liên nhân
1.3 Các quy tắc hội thoại
1.3.1 Khái niệm hội thoại
1.3.2 Các quy tắc hội thoại
1.4 Tri nhận
1.4.1 Khái niệm tri nhận
1.4.2 Ý niệm
Tiểu kết
Trang 4Chương 2: Ý NIỆM VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ QUA NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI
KỂ CHUYỆN 2.1 Ngoại hình rất đặc trưng của các nhân vật nữ
2.1.1 Ngoại hình của người con gái trong chiến tranh
2.1.2 Ngoại hình người phụ nữ sau chiến tranh
2.1.3 Sự khác nhau trong ý niệm về ngoại hình của hai người phụ nữ
2.2 Ý niệm về phẩm hạnh và tính cách của người phụ nữ
2.2.1 Nguyệt – người con gái có vẻ đẹp nhân cách hoàn hảo
2.2.1.1 Nguyệt – người con gái đẹp trong cái nhìn của các nhân vật khác 2.2.1.2 Nguyệt - cái đích hướng tới trong câu chuyện của chị em Lãm 2.2.1.3 Nguyệt – người con gái bình tĩnh, tự tin, dũng cảm và có trách
nhiệm
2.2.1.4 Nguyệt – tình yêu và sự cảm phục trong Lãm
2.2.2 Người đàn bà trong “Chiếc thuyền ngoài xa” với sự cam chịu
2.2.2.1 Hành động, cử chỉ của người đàn bà
2.2.2.2 Thái độ, cảm xúc của người đàn bà
2.3 Các nhân vật nữ với những tình yêu đặc biệt
2.3.1 Nguyệt và hành trình đến với một tình yêu lãng mạn giữa bom
Trang 53.1.2 Sự thay đổi cách xưng hô của người đàn bà hàng chài gắn với sắc
thái tình cảm và mục đích giao tiếp
3.2 Các quy tắc hội thoại và việc thể hiện sự sắc sảo, lịch sự trong ngôn ngữ của các nhân vật nữ
3.2.1 Vẻ đẹp trong ngôn từ của Nguyệt
3.2.1.1 Các tham thoại của Nguyệt đảm bảo quy tắc luân phiên lượt lời 3.2.1.2 Các tham thoại của Nguyệt có tính liên kết cao với câu chuyện của Lãm
3.2.1.3 Các tham thoại của Nguyệt luôn có tính cộng tác
3.2.1.4 Các tham thoại của Nguyệt thể hiện sự tôn trọng thể diện người
nghe
3.2.2 Sự đúng mực trong ngôn ngữ người đàn bà hàng chài
3.2.2.1 Các tham thoại của người đàn bà thể hiện sự khiêm tốn, thậm chí
có phần tự ti
3.2.2.2 Các tham thoại của người đàn bà luôn đảm bảo quy tắc luân
phiên lượt lời
3.2.2.3 Các tham thoại của người đàn bà hàng chài có tính liên kết cao 3.2.2.4 Các tham thoại của người đàn bà luôn thể hiện sự cộng tác cao
3.3 Các hành động lời nói trong tham thoại của các nhân vật nữ
3.3.1 Các hành động lời nói và việc thể hiện nhân cách của Nguyệt
3.3.1.1 Các hành động lời nói chủ yếu của nhân vật Nguyệt
3.3.1.2 Tính lịch sự
3.3.1.3 Sự tự tin và lòng dũng cảm
3.3.1.4 Tinh thần trách nhiệm cao trong công việc
3.3.1.5 Lòng vị tha, bao dung, độ lượng
3.3.2 Các hành động lời nói thể hiện sự sắc sảo và thấu hiểu lẽ đời
của người đàn bà hàng chài khốn khổ
3.3.2.1 Các hành động lời nói chủ yếu trong ngôn ngữ người đàn bà
hàng chài
Trang 63.3.2.2 Các hành động lời nói phù hợp với hoàn cảnh và mục đích giao
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1 Phụ nữ là một trong những chủ điểm được quan tâm và có được dấu
ấn đặc biệt trong các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, một trong những nhà văn đã để lại nhiều tác phẩm đặc sắc viết về đề tài chiến tranh cũng như cuộc sống đời thường của con người sau khi hòa bình lập lại
Người phụ nữ trong các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu mỗi người một cuộc sống, một số phận với ngoại hình, tuối tác khác nhau nhưng đó là những con người luôn khát khao được sống, được yêu, những con người giàu nghị lực, giàu lòng vị tha và sẵn sàng hy sinh Những phẩm chất ấy luôn luôn được khẳng định và đề cao cả trong gian khổ của chiến tranh, khi tất cả sống và lao động vì độc lập và thống nhất đất nước hay khi hòa bình lập lại, những con người suốt ngày chỉ lo “cơm ăn, áo mặc” cho cuộc sống bình thường; những phẩm chất đó luôn luôn được thừa nhận và đề cao từ những vị thế nhìn khác nhau: Dù là từ vị thế của một chàng trai đang yêu
và khao khát được yêu, dù là từ vị thế của một nghệ sĩ nhiếp ảnh luôn gọi
người đàn bà mới ngoài bốn mươi (hàm ý coi khinh) là mụ
Sự thay đổi và không thay đổi trong ý niệm của Nguyễn Minh Châu về người phụ nữ là vấn đề thú vị và hấp dẫn, là vấn đề cần nghiên cứu kỹ hơn
để góp phần xác định năng lực phản ánh hiện thực của “hiện tượng văn học”, của người đi tiên phong trong sự nghiệp đổi mới văn học ở Việt Nam.1.2 Trong thực tiễn nghiên cứu tác phẩm văn học, đặc biệt là trong dạy học ngữ văn ở trường phổ thông, nhiều khi người ta vẫn nặng về bình giảng, hiểu tác phẩm trên cơ sở cảm thức chủ quan mà ít chú ý đến những nguyên tắc cơ bản về phân tích ngôn bản Theo M.Haliday, “việc đánh giá ngôn bản, phân tích ngôn bản giúp người ta có thể xác định ngôn bản có hiệu quả hay không có hiệu quả so với mục đích cụ thể của nó” (Halliday, tr.15) Và thực sự nhiều nghiên cứu đã lấy ngữ pháp chức năng làm cơ sở
Trang 8để phân tích ngôn bản “Phân tích ngôn bản mà không dựa vào ngữ pháp thì hoàn toàn không phải là phân tích mà chỉ thuần túy là một bài bình giảng về ngôn bản hoặc là một yêu cầu phải được thực hiện đối với một tập hợp các khế ước phi ngôn ngữ nào đó” (Halliday, tr 28) Do vậy, ngữ pháp chức năng cùng với lý thuyết về ngữ dụng học được chúng tôi chọn làm cơ
sở để xác định ý niệm của Nguyễn Minh Châu về người phụ nữ trong hai truyện ngắn đã và đang được dạy-học ở chương trình phổ thông trung học:
Mảnh trăng cuối rừng và Chiếc thuyền ngoài xa.
1.3 Đề tài “Ý niệm về người phụ nữ trong một số truyện ngắn tiêu
biểu của Nguyễn Minh Châu” góp phần cụ thể hoá lí thuyết ngữ pháp chức
năng và ngữ dụng học trong phân tích chủ điểm cụ thể của ngôn bản, đồng thời góp phần xác định phương pháp dạy thích hợp đối các tác phẩm văn chương trong nhà trường, trong đó có một số truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu Mặt khác, đề tài còn cho thấy quá trình nhà văn đi tìm “cái hạt ngọc ẩn dấu trong bề sâu tâm hồn con người”, đặc biệt trong tâm hồn người phụ nữ
2 Lịch sử vấn đề
Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn có nhiều đóng góp cho nền văn học Việt Nam trong chiến tranh và đặc biệt là trong thời kì đổi mới Đã có rất nhiều cuộc hội thảo và hàng trăm công trình nghiên cứu lớn nhỏ bàn về tác phẩm, con người Nguyễn Minh Châu - người được đánh giá
là “tiên phong” trong sự nghiệp đổi mới của văn học nước nhà
Đề tài người phụ nữ trong tác phẩm Nguyễn Minh Châu là một vấn
đề khá thú vị, nó thể hiện rất rõ cái nhìn sâu sắc, đôn hậu của nhà văn về cuộc đời và con người trong mọi giai đoạn sáng tác Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về đề tài này còn chưa nhiều và chưa xứng đáng với vị thế của nó trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu
Trang 9Trên phương diện phê bình văn học, hầu như chỉ có một số công trình, bài viết về đề tài này như “Ấn tượng về nhân vật nữ của Nguyễn Minh Châu” của tác giả Nguyễn Thị Minh Thái; “Nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu” – khoá luận tốt nghiệp của Đào Thị Mai (Đại học Vinh); hay đi cụ thể vào từng nhân vật như bài viết của Nguyễn Văn Bính: “Vẻ đẹp nhân vật Nguyệt và nghệ thuật xây dựng nhân vật Nguyệt của Nguyễn Minh Châu”… Còn lại, hình ảnh người phụ nữ chỉ được các tác giả đề cập một phần trong những bài viết về vấn đề con người nói chung trong tác phẩm Nguyễn Minh Châu Chẳng hạn trong bài viết
“Đường tới cỏ lau”, tác giả Chu Sơn đã nói về vẻ đẹp “mẫu tính” của người phụ nữ; hay tác giả Ngô Thảo bàn về số phận các nhân vật nữ trong bài
“Đọc những tác phẩm mới của Nguyễn Minh Châu”…
Với các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, đã có một số tác giả đi sâu nghiên cứu, như Lê Thị Sao Chi với công trình: “Ngôn ngữ độc thoại của nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu” (Luận văn thạc sĩ - Đại học Vinh), Nguyễn Thị Thu Hằng với “Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh Châu” (Khoá luận tốt nghiệp - Đại học Vinh), Trần Thị Thuỳ Linh với “Khảo sát từ ngữ rào đón trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu”…Riêng về đề tài người phụ nữ, chỉ có một vài công trình nghiên cứu trên phương diện ngôn ngữ học, cụ thể như: “Đặc điểm lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu” – luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thị Hiền (Đại học Vinh) Tuy nhiên, theo nghiên cứu của chúng tôi thì chưa thấy công trình nào đi theo hướng tiếp cận của ngữ pháp chức năng và đi sâu phân tích ngôn ngữ một vài tác phẩm cụ thể để khảo sát sự giống và khác nhau trong ý niệm về người phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước và sau 1975 Việc vận dụng lý thuyết ngữ pháp chức năng để phân tích ngôn bản hiện nay đã trở trành một xu hướng và đã được chứng minh bởi tính khoa học và hiệu quả của nó Điều đó đã gợi ý
cho chúng tôi thực hiện đề tài “Ý niệm về người phụ nữ trong một số truyện
Trang 10ngắn tiêu biểu của Nguyễn Minh Châu” trên cơ sở lý thuyết ngữ pháp chức
năng – một cách tiếp cận nội dung văn bản văn học trên cơ sở ngôn ngữ học
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Ý niệm vê người phụ nữ của Nguyễn Minh Châu được phản ánh trong rất nhiều trong tiểu thuyết cũng như truyện ngắn của ông; tuy nhiên chúng tôi chỉ chọn Nguyệt trong “Mảnh trăng cuối rừng” và người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” để khảo sát Và ý niệm này được Nguyễn Minh Châu thể hiện qua:
- Ngôn ngữ cũng như góc đánh giá của những người kể chuyện: (i) Nguyệt được phản ánh qua ngôn ngữ và quan điểm của Lãm, người chiến
sĩ lái xe đang tìm hiểu Nguyệt, (ii) Người đàn bà hàng chài qua ngôn ngữ
và lăng kính của người nghệ sỹ đi tìm ảnh
- Ngôn ngữ của chính Nguyệt và người đàn bà trong giao tiếp với người
kể chuyện và với những người xung quanh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Hai người phụ nữ đều được Nguyễn Minh Châu phản ánh qua cách nhìn của các nhân vật trong truyện ngắn Luận văn chỉ tập trung khảo sát các biểu đạt ngôn ngữ trong phạm vi câu và những câu có tham thể chỉ
Nguyệt (trong Mảnh trăng cuối rừng) và người đàn bà hàng chài (trong
Chiếc thuyền ngoài xa), những câu có cái biểu đạt liên quan đến họ và các
tham thoại được hai người phụ nữ sử dụng trong giao tiếp với những người xung quanh
Những số liệu do nhân vật kể chuyện cung cấp được nghiên cứu chủ yếu trên bình diện phản ánh thông qua các sự tình và vai nghĩa
Số liệu về ngôn ngữ của phụ nữ được nghiên từ các bình diện khác nhau của ngữ dụng như hành động lời nói, tình liên kết, lịch sự trong hội thoại…
Trang 114 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tiến hành đồng thời các phương pháp nghiên cứu sau:
4.1 Thống kê, phân loại
- Thống kê tất cả những câu có các biểu thức quy chiếu người phụ nữ
làm tham tố trong hai truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu (Ví dụ: Nguyệt,
cô, cô gái…; Người đàn bà hàng chài, người đàn bà, mụ…).
- Ở những câu là ngôn ngữ nhân vật người kể chuyện, chúng tôi phân loại câu theo nghĩa biểu hiện của khung vị ngữ (gồm vị từ làm trung tâm và các tham tố của nó), sau đó tiếp tục chia nhỏ thành các nhóm câu theo vai nghĩa (Chẳng hạn: những câu có tham tố “Nguyệt” làm hành thể; những câu có tham tố “Nguyệt” làm đích/mục tiêu…)
- Ngôn ngữ của Nguyệt và người đàn bà được khảo sát từ cách sử dụng
ngôn từ, trong đó có các loại hành động lời nói (trần thuật, cầu khiến, hỏi,
từ chối, van nài…); cách nhân vật tuân thủ các quy tắc hội thoại (Quy tắc liên kết, quy tắc luân phiên lượt lời, quy tắc cộng tác…) để từ đó xác định
đặc điểm, bản chất của từng nhân vật
4.2 Phân tích, tổng hợp
- Tiến hành phân tích tư liệu trên cơ sở các số liệu đã thống kê, phân loại (tần số lặp lại của các vai nghĩa, các loại chức năng phản ánh của câu, các hành động lời nói, các trường nghĩa…)
- Từ sự phân tích tư liệu, rút ra ý niệm về người phụ nữ trong từng truyện ngắn nói riêng và về người phụ nữ nói chung trong từng giai đoạn sáng tác của Nguyễn Minh Châu
- Ý niệm chung của Nguyễn Minh Châu về phụ nữ qua hai truyện ngắn
4.3 So Sánh
- So sánh sự giống và khác nhau trong ý niệm về người phụ nữ của Nguyễn Minh Châu trước và sau 1975 qua hai truyện ngắn
Trang 125 Đóng góp của Luận văn
- Đã có rất nhiều cách tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Minh Châu ở góc độ
lí luận văn học cũng như ngôn ngữ học, với đề tài này chúng tôi muốn đưa
ra một hướng tiếp cận mới trên cơ sở phân tích ngôn bản của ngữ pháp chức năng
- Phân tích ngôn ngữ hai truyện ngắn cụ thể để thấy được sự giống và khác nhau trong ý niệm về người phụ nữ của Nguyễn Minh Châu trước và sau 1975 (hình thức, đạo đức, bổn phận, trách nhiệm…) Qua đó thấy được
sự khách quan, sự tinh tế và trải nghiệm của Nguyễn Minh Châu trong phản ánh hiện thực cuộc sống
6 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Luận văn có ba chương
- Chương 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
- Chương 2: Ý niệm về người phụ nữ qua ngôn ngữ của người kể chuyện
- Chương 3: Ý niệm về người phụ nữ qua ngôn ngữ của chính họ
Trang 13CHƯƠNG I MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Một vài đặc điểm về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
1.1.1 Vài nét cơ bản về truyện ngắn
Truyện ngắn là “thể tài tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội” (1, tr.359) Với tư cách một thể tài tự sự, truyện ngắn hiện đại, cũng như truyện dài, truyện vừa hiện đại, đều ít nhiều mang những đặc tính của
tư duy tiểu thuyết Tuy nhiên, khác với truyện dài, truyện vừa - vốn là những thể tài mà quy mô cho phép chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường nhằm khắc họa một hiện tượng, phát hiện một đặc tính trong quan hệ con người hay trong đời sống tâm hồn con người
Truyện ngắn thường ít nhân vật và nhân vật trong truyện ngắn ít khi trở thành một thế giới hoàn chỉnh, một tính cách đầy đặn, mà thường là một nhát cắt trong cuộc đời, nó hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người
Cốt truyện của truyện ngắn thường có giới hạn về thời gian, không gian; nó có chức năng nhận ra một điều gì sâu sắc về cuộc đời, về con người Chi tiết và lời văn là những yếu tố quan trọng cho nghệ thuật viết truyện ngắn Lời kể và cách kể chuyện là những điều được người viết truyện ngắn đặc biệt chú ý khai thác và xử lí, nhằm đạt hiệu quả mong muốn
1.1.2 Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn có vị trí nổi bật trong giai đoạn văn học Việt Nam từ những năm 60 đến cuối những năm
80, và cho đến nay, những tác phẩm của ông vẫn có ý nghĩa thời sự trong đời sống xã hội và được nhiều người yêu thích Ông sáng tác và thành công
Trang 14trên nhiều thể loại như: tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, phê bình, trong đó truyện ngắn được
xem là thể loại thành công hơn cả
Nhà văn Lê Lựu đã có lần nói rằng Nguyễn Minh Châu nhìn vào đâu cũng ra được truyện ngắn Bởi vì truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu chú
ý đến các đề tài của cuộc sống thường nhật Ở sáng tác của Nguyễn Minh Châu, truyện ngắn bộc lộ ra những đặc tính của một thể loại ưu việt, mở ra cho văn học những đề tài mới và vấn đề mới của đời sống, những hiện tượng nhân vật mới Các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu đào sâu thêm
ý niệm của chúng ta về đất nước và con người Việt Nam trong từng thời kì lịch sử Sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu có thể chia làm hai giai đoạn: trong và sau chiến tranh
Là thế hệ nhà văn trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ vĩ đại của đất nước, những sáng tác của Nguyễn Minh Châu trước 1975 không thể không mang những đặc điểm của một nền văn học thời chiến – thời kì
mà cảm hứng chủ đạo trong sáng tác là ca ngợi cuộc chiến đấu, đề cao cộng đồng, dân tộc và lịch sử Có thể nói, chưa bao giờ những hình tượng tập thể, hình tượng nhân dân, hình tượng người lính hiện lên trong văn học đẹp
đẽ đến thế Trong những thành tựu chung ấy có phần đóng góp quan trọng
của Nguyễn Minh Châu với những tác phẩm: Cửa sông, Dấu chân người
lính, Lửa từ những ngôi nhà…Trong thời kì này, thành công của Nguyễn
Minh Châu chủ yếu tập trung ở thể loại tiểu thuyết, tuy nhiên vẫn có những
truyện ngắn đã để lại nhiều dấu ấn như: Những vùng trời khác nhau, Người
mẹ xóm nhà thờ, Mảnh trăng cuối rừng, Bên đường chiến tranh…Sáng tác
của Nguyễn Minh Châu trong những năm chiến tranh thường nghiêng về thể hiện cái cao cả, cái anh hùng và thiên về ca ngợi những vẻ đẹp trong chiến đấu Nhân vật chủ yếu trong tác phẩm của ông là những người lính cách mạng, ở họ kết tinh những phẩm chất cao đẹp, anh hùng, lý tưởng
“như những con chim đại bàng phải tìm đến những cánh rừng đại thụ”,
Trang 15“tìm chỗ đặt chân trên các các mỏm núi đá cao” Lý tưởng đó ta có thể bắt
gặp trong hình ảnh nhân vật Lãm (Mảnh trăng cuối rừng) – một chàng trai
đã dám trốn nhà đi bộ đội; nhân vật Nguyệt, người con gái vừa rời ghế trường phổ thông xung phong đi kiến thiết miền Tây; hay nhân vật Lữ
trong Dấu chân người lính - người đã “từ bỏ trái hạnh phúc đã ửng hồng
trong vườn nhà mình để cầm súng đi chiến đấu” (24, tr 131)…
Sau chiến tranh, đất nước bước vào một thời kì mới, rất nhiều vấn đề nảy sinh trong xã hội thời hậu chiến, đặc biệt là vấn đề đạo đức con người Điều đó đặt ra cho các nhà văn một yêu cầu bức thiết phải đổi mới văn học
cả về mặt nội dung lẫn nghệ thuật Nguyễn Minh Châu là người đi tiên phong trong sự nghiệp đổi mới ấy Trong một cuộc hội thảo tại tuần báo Văn nghệ, Nguyễn Minh Châu đã nói: “Cái đời sống hôm nay bắt tôi phải quan tâm (…) Những biểu hiện của lối sống, đạo đức và thậm chí là cả quan niệm sống của những người xung quanh ta – nhất là thanh niên – khiến chúng ta không thể không quan tâm và lo lắng (…) Thế là tôi quyết định xông vào cái mặt trận đạo đức này” (24, tr.176-177) Bằng tài năng nghệ thuật và bằng cái tâm đau đáu với đời, Nguyễn Minh Châu đã cho ra
đời những tác phẩm có giá trị, nhất là ở thể loại truyện ngắn như: Bức
tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Đứa ăn cắp, Chiếc thuyền ngoài xa, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát… Có thể nói, sau 1975, truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu đã đạt đến đỉnh cao của thành tựu Truyện ngắn của ông thường đề cập đến những vấn đề thường nhật của cuộc sống, những con người bình thường trong xã hội, nhưng qua đó bộc lộ được nhiều triết lý nhân sinh Với những tác phẩm của mình, Nguyễn Minh Châu
đã đem đến cho người đọc một cách nhìn mới đối với hiện thực Nhà văn nhìn vào cuộc sống bình thường hằng ngày với một mối quan tâm đặc biệt
để phát hiện những vấn đề bên trong của nó Có những vấn đề hằng ngày ta vẫn tiếp xúc, chứng kiến không biết bao lần mà không thấy gì đáng quan
tâm thì ông nhìn thấy và thấy rất sâu xa Chẳng hạn, với truyện ngắn Mẹ
Trang 16con chị Hằng, nhà văn chỉ tâm tình kể về một bà mẹ bình thường với cả
những khuyết tật bình thường của một người đàn bà nông dân cùng với cách cư xử của bà với con cái và cách cư xử của con cái đối với bà, nhưng qua những vấn đề tưởng như bình thường ấy nhà văn đã cho ta hiểu ra một thực tế Hóa ra sự hi sinh quá âm thầm, nhẫn nhục gần như bản năng của người mẹ đôi lúc đã gây cho con cái trở nên ích kỉ…
Sau 1975, khi đất nước đã thoát ra khỏi cuộc chiến tranh, thì vấn đề đạo đức con người lại là vấn đề nổi cộm Những thói xấu, thói ích kỉ của chủ nghĩa cá nhân trong thời chiến đã bị lấn át bởi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, thì nay có dịp bột phát Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn nhìn ra sớm nhất và sâu sắc nhất vấn đề này Vì vậy trong phần lớn truyện ngắn của nhà văn trong thời kì này là loại truyện luận đề - những luận đề về đạo đức, nhân văn, về tâm lí xã hội Những chủ đề đạo đức, nhân văn ấy được nhà văn thể hiện qua chính những vấn đề chân thực của đời sống Nhà phê bình Ngọc Trai đã nhận xét: “Anh có cái nhìn sâu sắc và toàn diện đối với con người và hiện thực Dưới ngòi bút tài hoa của anh, cái hiện thực nhiều chiều, nhiều vẻ gợi sức liên tưởng thật xa rộng Vì vậy các truyện ngắn của anh thường có thể gây cho bạn đọc nhiều cách tiếp cận, nhiều cách hiểu, cách giải thích khác nhau…” (24, tr 216) Những truyện
ngắn Bức tranh, Đứa ăn cắp, Sắm vai, Chiếc thuyền ngoài xa, Một lần đối
chứng…thể hiện rất rõ những trăn trở, chiêm nghiệm của nhà văn về những
vấn đề cuộc sống, đạo đức con người
Nhà văn Nguyễn Minh Châu ra đi khi sức viết của ông vẫn còn sung sức, khi trong ông vẫn còn biết bao trăn trở với cuộc đời Mặc dù vậy, những gì ông để lại cho chúng ta ngày hôm nay cũng đủ cho thấy tầm vóc của một nhà văn có tâm và có tài Ông xứng đáng được xem là người đi tiên phong trong việc đổi mới văn học những năm 80, là nhà văn tiêu biểu của nền văn học hiện đại Việt Nam
Trang 171.1.3 Thế giới nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
Văn học không thể thiếu nhân vật, vì đó chính là phương tiện cơ bản
để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng Nhân vật được sáng tạo ra, hư cấu ra để thể hiện sự đánh giá của nhà văn về giá trị con người, là cái nhìn của nhà văn đối với số phận con người Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu rất phong phú và đa dạng, trong đó các nhân vật nữ chiếm một vị trí khá quan trọng Theo Nguyễn Thị Minh Thái thì: “những nhân vật đáng yêu nhất của Nguyễn Minh Châu là những nhân vật nữ (…).Nguyễn Minh Châu có một cái nhìn ấm áp, đôn hậu, luôn chăm chút phát hiện những vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam từ nhiều chiều, nhiều hướng, nhiều phía khác nhau Trong bối cảnh chiến tranh lẫn bối cảnh đời thường, những nhân vật ấy đều đẹp Và mỗi nhân vật là một phát hiện mới về hình tượng phụ nữ trong văn xuôi hiện đại” (24, tr 164)
Người phụ nữ hiện lên trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu có nhiều số phận khác nhau, tính cách khác nhau, nhưng đa phần đều mang những phẩm chất vô cùng đẹp đẽ Đó là những con người dũng cảm trong
chiến đấu, sống có lý tưởng như Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng), Quỳ (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành) – người con gái đã từ chối đi học
nước ngoài, khoác ba lô vào Trường Sơn theo tiếng gọi của tổ quốc… Đó
là những người phụ nữ có tấm lòng son sắt, thủy chung như Nguyệt – cô thanh niên xung phong luôn một lòng chờ đợi, thủy chung với người con
trai cô chưa một lần gặp mặt; hay nhân vật Hạnh trong truyện ngắn Bên
đường chiến tranh, một người phụ nữ ba mươi năm kiên nhẫn chờ đợi một
người lính chưa hò hẹn, không một tin tức, chị chỉ biết làm nhà bên một con đường ra trận với hi vọng mỏng manh, rồi một ngày nào đó có thể người lính ấy sẽ qua đây dừng lại ngôi nhà này, và chỉ khi đã gặp lại anh trên đường lên phía bắc chị mới yên lòng cùng gia đình đi về một địa điểm khác Đó là những người mẹ âm thầm hi sinh vì con cái, vì hạnh phúc gia
đình như bà mẹ trong Mẹ con chị Hằng, hay người đàn bà hàng chài trong
Trang 18Chiếc thuyền ngoài xa…, như nhận xét của Nguyễn Văn Hạnh: “Nguyễn
Minh Châu viết về người đàn bà trong nhiều tư cách khác nhau nhưng anh đầy hào hứng và ưu ái khi viết về người đàn bà làm mẹ, người đàn bà luôn cảm nhận không chỉ bằng ý thức mà bằng bản năng, thiên chức làm mẹ, nền tảng của cuộc sống” (24, tr 266)
Nguyễn Minh Châu không phải không thấy những mặt trái, mặt tiêu cực ở người phụ nữ, nhưng ông ít đề cập đến mặt này, hoặc nếu có thì cũng
là để làm nền để tôn lên cái vẻ đẹp ngầm ẩn bên trong tâm hồn họ - vẻ đẹp
“mẫu tính” của người phụ nữ Việt Nam Nguyễn Minh Châu luôn nhìn người phụ nữ bằng tâm hồn giàu tình yêu thương và cặp mắt đôn hậu Ông luôn cố gắng đi tìm “hạt ngọc ẩn dấu trong bề sâu tâm hồn con người”, đặc biệt là người phụ nữ
Thế giới nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu vô cùng phong phú, mỗi nhân vật là một tấm gương phản chiếu bức tranh cuộc sống, bức tranh tâm hồn con người vô cùng đa dạng Qua mỗi nhân vật, ta lại hiểu thêm một khía cạnh trong ý niệm về người phụ nữ của Nguyễn Minh Châu Trong luận văn này, chúng tôi không có ý định tìm hiểu tất cả các nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu mà chỉ tìm hiểu ý niệm về người phụ nữ của nhà văn qua hai truyện ngắn tiêu biểu trước và
sau 1975 (Mảnh trăng cuối rừng và Chiếc thuyền ngoài xa), và quan trọng
hơn là cách nhà văn thể hiện ý niệm đó qua hệ thống ngôn ngữ
1.2 Ngữ pháp chức năng – cơ sở để phân tích ngôn bản
1.2.1 Ngữ pháp chức năng
Theo Cao Xuân Hạo, “ngữ pháp chức năng là một lý thuyết và một
hệ phương pháp được xây dựng trên quan điểm coi ngôn ngữ như một phương tiện thực hiện sự giao tiếp giữa người và người” (19, tr.11) Nếu như ngữ pháp cổ điển và ngữ pháp cấu trúc luận chỉ chú ý nghiên cứu phần hình thức của ngôn ngữ, cố gắng khảo sát xem chúng được cấu tạo như thế
Trang 19nào mà không chú ý tìm hiểu cách hoạt động của chúng trong khi thực hiện chức năng giao tiếp của mình; thì ngữ pháp chức năng “tự đặt cho mình nhiệm vụ nghiên cứu, miêu tả và giải thích các quy tắc chi phối hoạt động của ngôn ngữ trên các bình diện của mặt hình thức và mặt nội dung trong mối liên hệ có tính chức năng thông qua việc quan sát cách sử dụng ngôn ngữ trong những tình huống giao tế hiện thực không phải chỉ để lập những danh sách đơn vị và xác định những hệ thống và tiểu hệ thống đơn vị ngôn ngữ, mà còn để theo dõi cách hành chức của ngôn ngữ qua những biểu hiện sinh động của nó trong khi được sử dụng” (19, tr.15-16) Lý thuyết ngữ pháp chức năng ra đời với mục đích phục vụ phân tích ngôn bản, tức nhằm
“góp phần để hiểu ngôn bản: phân tích ngôn ngữ giúp người ta có khả năng
có thể chỉ ra tại sao và làm thế nào mà một ngôn bản có nghĩa như nó có”, đồng thời “việc đánh giá ngôn bản, phân tích ngôn bản giúp người ta có thể xác định ngôn bản có hiệu quả hay không có hiệu quả so với mục đích cụ thể của nó và lý do – mặt nào ngôn bản thành công và mặt nào thất bại hoặc ít thành công” (Halliday, tr.15)
Ngữ pháp chức năng xác định câu là đơn vị cơ bản của ngôn từ, là những đơn vị tối thiểu có thể sử dụng trong giao tiếp, là những đơn vị nhỏ nhất trong đó các đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ (nhất là từ) có thể có được chức năng ngữ pháp Những quy tắc xây dựng cấu trúc câu được ngữ pháp chức năng trình bày và giải thích trên cơ sở những mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ và tư duy trong việc cấu trúc hoá và tuyến tính hoá những
sự tình được phản ánh trong một ngữ cảnh nhất định với sự tham gia của các nhân vật giao tiếp Hầu hết các tác giả ngữ pháp chức năng đều quan niệm câu có ba chức năng cơ bản tương ứng với ba bình diện nghĩa: (i) Nghĩa biểu hiện, (ii) Nghĩa hoạt động và (iii) Nghĩa liên kết ngôn bản Ba bình diện này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và nhiệm vụ của ngữ pháp chức năng chính là xác minh các mối quan hệ giữa ba bình diện
1.2.2 Cú là đơn vị nghiên cứu
Trang 20Vấn đề của ngôn ngữ học nói chung, ngữ pháp nói riêng là vấn đề nghĩa, và câu chính là đơn vị cơ sở để nghiên cứu nghĩa, còn cú là đơn vị
cơ sở để nghiên cứu câu, nghiên cứu ngôn bản Cho đến nay, cú chưa được các tác giả hiểu đồng nhất với nhau, có tác giả từng gọi nó là “mệnh đề”, là
“kết cấu chủ - vị” Trong ngữ pháp tiếng Việt, cú đã được nghiên cứu và sử dụng trong các công trình của nhiều tác giả như Nguyễn Hiến Lê, Lưu Vân Lăng, Cao Xuân Hạo, Diệp Quang Ban…
Có một số quan niệm đã đồng nhất cú với câu, tuy nhiên trên thực tế,
cú không tương đương với câu, và nó cũng không phải tương đương với nội dung mệnh đề Nó là đơn vị vừa mang đặc trưng của mệnh đề vừa mang đặc trưng của câu Hiện nay có ba loại định nghĩa cơ bản về cú:
- Cú được đặt trong quan hệ với cú pháp: cú được coi là đơn vị cấu tạo câu Nó là một cấu trúc bao gồm các thành phần câu như chủ ngữ, vị ngữ,
và các thành tố khác như: trạng ngữ, bổ ngữ, định ngữ…Như vậy, câu đơn chỉ gồm một cú, câu kép bao gồm hai cú trở lên Theo quan điểm này thì các thành phần của cú trùng với các thành phần của câu (Nguyễn Kim Thản
1962, Diệp Quang Ban 1989…)
- Cú được đặt trong quan hệ với các kiểu tạo nghĩa: cú được nghiên cứu trong các quan hệ cú pháp, quan hệ ngữ nghĩa và cả trong hoạt động Đơn
vị này được các tác giả ngữ pháp chức năng xác định trên ba cấp độ: 1) chức năng cú pháp, 2) chức năng nghĩa học và 3) chức năng dụng học
- Cú được đặt trong quan hệ với nghĩa: cú được coi là đơn vị miêu tả các
sự tình Nó là một kết cấu có động từ làm trung tâm và các vai nghĩa xoay quanh nó Cấu trúc của cú được hình thành xoay quanh mối quan hệ ngữ nghĩa giữa vị từ và thành tố của nó; mối quan hệ này có thể được gán cho
ba mức độ của chức năng: ngữ nghĩa, cú pháp và ngữ dụng
+ Chức năng ngữ nghĩa được phân định trên khung cú pháp của cú dựa vào các vai nghĩa, các quan hệ của các thành tố như: tác thể, hành thể, nghiệm thể, đối thể…
Trang 21+ Chức năng cú pháp là chủ ngữ, bổ ngữ trực tiếp và bổ ngữ gián tiếp + Chức năng ngữ dụng được thể hiện qua phương thức tổ chức thông tin Đó là chủ đề, tiêu điểm, đề.
Các tác giả ngữ pháp chức năng coi cú ở bất cứ chỗ nào cũng đều là một đơn vị giống nhau, dù nó thực hiện một chức năng (như một câu đơn) hay thực hiện chức năng như một bộ phận của cú phức Cú được Halliday nghiên cứu trên ba bình diện siêu chức năng là: phản ánh, liên nhân và ngôn bản Giữa ba bình diện nghĩa của ngôn từ có mối quan hệ vô cùng chặt chẽ với nhau “Các bình diện ấy tồn tại vì nhau, và nhờ có nhau, cho nên không thể hiểu thấu đáo bất cứ bình diện nào nếu không liên hệ với hai bình diện kia Và nhiệm vụ của ngữ pháp chức năng chính là xác minh được mối quan hệ giữa cả ba bình diện ” (19, tr.19) Ba bình diện nghĩa này được thể hiện trong ngôn ngữ thành một tổng thể, làm thành cái cơ sở cho cách tổ chức nghĩa của tất cả các ngôn ngữ trên thế giới
Tuy nhiên, cũng theo Cao Xuân Hạo thì để xác minh được mối quan
hệ giữa ba bình diện thì trước hết phải “phân giới dứt khoát từng bình diện một, không để lọt một sự lẫn lộn nào trong khi xếp các sự kiện vào bình diện này hay bình diện kia” (19, tr.19) Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu phân tích ngôn bản dựa trên hai siêu chức năng cơ bản của ngôn ngữ là chức năng phản ánh và chức năng liên nhân Khảo sát nhân vật Nguyệt trong “Mảnh trăng cuối rừng” và người đàn bà trong “Chiếc thuyền ngoài xa” từ bình diện nghĩa phản ánh trong ngôn ngữ người kể chuyện sẽ hiểu được “Công – Dung - Hạnh” của họ từ những quan điểm khác nhau, những trải nghiệm khác nhau Còn khi khảo sát các kiểu hành động lời nói, cách
tổ chức lời nói của chính hai người phụ nữ đó không những hiểu được cái
“Ngôn” của người phụ nữ hiện đại mà còn hiểu được trải nghiệm của chính
họ trong cuộc sống Từ đó có thể xác định được ý niệm về bổn phận, trách nhiệm và nghĩa vụ của hai người phụ nữ trong các hoàn cảnh chung, riêng khác nhau nhưng vẫn có những phẩm chất giống nhau
Trang 221.2.3 Hai siêu chức năng cơ bản của cú
Theo M.Halliday thì “tất cả các ngôn ngữ đều được tổ chức xung quanh hai loại nghĩa chính: nghĩa tư tưởng hay nghĩa phản ánh và nghĩa liên nhân hay nghĩa hoạt động Theo thuật ngữ của lý thuyết hiện hành, hai thành phần được gọi là ‘siêu chức năng’ là hệ hình trong hệ thống ngôn ngữ của hai mục đích có tính khái quát rất cao, đó là hai mục đích tạo cơ sở cho toàn bộ việc sử dụng ngôn ngữ để: i) hiểu hoàn cảnh (tư tưởng) và hành động dựa vào những người khác trong môi trường (liên nhân)” (Halliday, 1994, tr.13) Trong cú, hai bình diện nghĩa/siêu chức năng này
sự nhận thức ấy có thể rất khác nhau ở mỗi cá nhân, mỗi dân tộc Nghĩa phản ánh chính là phần nội dung nhận thức giống nhau, nó hầu như không
lệ thuộc vào phần khác và có được tính đồng nhất, bất biến Theo Haliday, chức năng phản ánh là biểu hiện những sự tình: những hành động, những biến cố, những quá trình tâm lí và những mối quan hệ Các sự tình ấy
“được sắp xếp lại theo cách tri giác của người nói, được tổ chức lại thành một cấu trúc lô-gich ngôn từ, được tuyến tính hóa lại theo những quy tắc ngữ pháp của câu, được tình thái hóa ở nhiều cấp tùy theo thái độ của người nói, cái hình ảnh mà người nói dùng để truyền đạt sự tình cho người nghe một mặt được giản lược đi và mặt khác lại được trang trí thêm nhiều yếu tố chủ quan của người nói” (19, tr.425)
Chức năng phản ánh tồn tại trong tất cả các đơn vị miêu tả thế giới khách quan trong nhận thức của con người Nội dung này được gọi chung là kinh nghiệm
Trang 23Kinh nghiệm (nội dung phản ánh) được biểu đạt bằng các nội dungmệnh đề hay các quá trình (theo quan điểm của Halliday) Kinh nghiệm của con người được chia thành hai loại: kinh nghiệm bên ngoài và kinh nghiệm bên trong Kinh nghiệm bên ngoài là các kinh nghiệm về các hành động và
sự kiện do con người hay các hành thể khác tạo ra Còn kinh nghiệm bên trong một mặt là sự thể hiện lại kinh nghiệm bên ngoài, mặt khác là ý thức riêng biệt về trạng thái tồn tại của con người Các phạm trù ngữ pháp có nhiệm vụ phản ánh: các quá trình vật chất (kinh nghiệm bên ngoài) và các quá trình tinh thần (kinh nghiệm bên trong)
Giữa hai loại quá trình trên có một loại quá trình thứ ba: quá trình quan hệ Quá trình này phản ánh mối liên hệ giữa mảng này với mảng kia của thế giới kinh nghiệm
Kinh nghiệm được phản ánh nhờ khả năng tri nhận của con người về thế giới Kinh nghiệm ấy có thể được biểu đạt bằng các đơn vị ngôn ngữ khác nhau như ngôn bản, cú, ngữ…
Khảo sát nhân vật trong ngôn bản theo ba bình diện nghĩa sẽ giúp người nghiên cứu nhân ra hoạt động cũng như kết quả hoạt động trong cuộc sống (từ các quá trình vật chất); những tâm tư, tình cảm, nhận thức xã hội, cũng như khát vọng sống, khát vọng yêu thương (từ các quá trình tinh thần), để từ đó nhận ra bản chất, phẩm hạnh của họ
b Cấu trúc
Một quá trình bao gồm có ba phần: lõi của quá trình (vị từ), tham thể/diễn tố và chu cảnh Mỗi vị từ và các diễn tố của chúng tạo nên khung
vị từ - là cấu trúc cơ bản của cấu trúc nghĩa phản ánh Theo L.Tesniere, mỗi
vị từ biểu hiện một màn kịch nhỏ, nó có một diễn trị riêng, được thể hiện trong số lượng các diễn tố của nó Có những vị từ có diễn trị zero, hay vô (diễn) trị: đó là những vị từ như “mưa”, không có diễn tố nào Có những vị
từ chỉ có một diễn tố, gọi là đơn trị, như “ngã” trong đó, dù có hai người
ngã thì cũng chỉ có một vai do hai người đóng Có những vị từ có hai diễn
Trang 24tố gọi là song trị, như “đánh”, trong đó có một người đánh và một người bị đánh Có những vị từ ba diễn tố, gọi là tam trị, như “cho”, trong đó có một người cho, một vật đem cho và một người nhận
Mỗi diễn tố/tham thể thực hiện một chức năng nhất định, cách gọi tên các chức năng này rất khác nhau tuỳ vào quan niệm của từng tác giả Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng cách gọi tên các diễn tố của Cao
Xuân Hạo: hành thể, tác thể, đối thể, tạo thể, tiếp thể, động thể, nghiệm thể,
đích, nguồn, mục tiêu…
Xung quanh hạt nhân do vị từ và các diễn tố tạo nên, có các chu tố chỉ hoàn cảnh, không có số lượng nhất định như các diễn tố, tương đương với các phó từ: thời gian, nơi chốn, phương thức, điều kiện, kết quả, mục đích…
c Phân loại câu theo nghĩa phản ánh
Theo giáo sư Cao Xuân Hạo thì “bất cứ một sự tình nào được con người tri giác như một sự tình đều có thể diễn đạt đúng như nhau trong tất
cả các ngôn ngữ bằng những câu có nghĩa biểu hiện hoàn toàn giống nhau, tuy những câu đó đôi khi có thể khác nhau ở những phần khác của nghĩa” (19, tr.427) Chính vì vậy, phân loại hình các nghĩa phản ánh của câu là một trong những công việc tất yếu của ngữ pháp chức năng Tiếp thu những thành tựu trong cách phân loại câu của Dik, Haliday, đồng thời xét trên thực tế sử dụng Tiếng Việt, tác giả Cao Xuân Hạo đã đưa ra biểu đồ hệ
thống các sự tình khá chi tiết (Xem trang 429, Tiếng Việt – sơ thảo ngữ
pháp chức năng) Theo Cao Xuân Hạo, các sự tình, được biểu hiện trong
ngôn ngữ bằng những câu mà hạt nhân là khung vị ngữ, gồm lõi vị ngữ (mà trung tâm là vị từ) và các tham tố của nó trong đó có một tham tố làm đề (hay tiểu đề nếu câu có nhiều bậc cấu trúc đề-thuyết), trước hết có thể chia
ra làm ba loại (hay gọi là loại câu cho tiện):
- Câu tồn tại
- Câu chỉ sự tình động hay sự việc, biến cố
Trang 25- Câu chỉ sự tình tĩnh hay tình hình
Câu tồn tại thể hiện sự tồn tại của một sự vật ở một nơi nào đó trong thế giới Sự tồn tại của sự vật có thể được định vị hay không định vị
Trong các câu chỉ biến cố, dựa vào tiêu chí (+ chủ ý) hay (- chủ ý) có
thể chia thành hai loại câu: hành động và quá trình Hành động là một sự
việc có chủ ý, cho nên có thể do con người hay động vật thực hiện Quá trình là một biến cố không chủ ý, chủ thể của nó có thể là người, động vật hay bất động vật Từ các câu chỉ hành động và quá trình, tác giả Cao Xuân
Hạo lại tiếp tục chia nhỏ các loại câu như tác động, tạo diệt, di chuyển,
chuyển biến….
Trong các câu chỉ tình hình có thể phân biệt câu chỉ trạng thái với câu chỉ quan hệ Trạng thái là một tình hình có mặt trong bản thân chủ thể,
dựa vào tính thường tồn hay không thường tồn, Cao Xuân Hạo lại chia
thành câu tính chất hay câu tình trạng Quan hệ là một tình hình mà nội
dung là một cái gì ở giữa hai sự vật, dù đó là một sự tiếp xúc, một khoảng cách, một mối dây nhân quả, hay một sự so sánh
Trong luận văn này, khi phân tích hai truyện ngắn Mảnh trăng cuối
rừng và Chiếc thuyền ngoài xa, chúng tôi đặc biệt chú ý đến các loại câu:
hành động, trạng thái, tồn tại và quan hệ Và ở trong mỗi loại câu, chúng tôi tiếp tục phân loại câu theo các nhóm với tham tố chỉ người phụ nữ làm hành thể, nghiệm thể hay đích/mục tiêu của hành động (theo vai nghĩa) Từ
đó rút ra những kết luận về tính cách, phẩm chất cũng như ngoại hình của người phụ nữ, qua đó thấy được ý niệm về người phụ nữ của Nguyễn Minh Châu được thể hiện trong hai tác phẩm Chẳng hạn, khi thống kê, phân loại câu theo nghĩa biểu hiện, chúng tôi nhận thấy tham tố “Nguyệt” (Trong
Mảnh trăng cuối rừng) chủ yếu đóng vai hành thể trong rất nhiều câu hành
động (29/43 câu) Kết hợp với phân tích các động từ, tính từ trong câu, có thể thấy Nguyệt là một cô gái rất hoạt bát, mạnh mẽ, chủ động, tự tin trong mọi tình huống Đó thực sự là con người của công việc Còn trong truyện
Trang 26ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, tham tố “người đàn bà/mụ” cũng đóng vai trò
hành thể trong rất nhiều câu hành động (22/38 câu), nhưng những hành
động của chị lại chứng tỏ đó là một người chỉ biết cam chịu, nhẫn nhục với cái đầu luôn cúi gầm, ánh mắt nhìn xuống, cách tay buông thõng, bước chân mệt mỏi…
Như vậy, chức năng phản ánh trong cú được biểu đạt theo hệ thống các quá trình và vai nghĩa Việc phân tích câu theo nghĩa phản ánh kết hợp với phân tích nghĩa liên nhân và liên kết ngôn bản sẽ xác định được một cách rõ nét ý niệm về người phụ nữ của Nguyễn Minh Châu trong từng truyện ngắn
1.2.3.2 Chức năng liên nhân
Cùng với chức năng phản ánh, chức năng liên nhân (hay còn gọi là chức năng hoạt động) là một trong hai loại siêu chức năng của ngôn ngữ Chức năng này được thể hiện qua việc sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt các mối quan hệ xã hội và quan hệ cá nhân, là cơ sở để người nói/viết tác động đến người nghe/đọc Theo Haliday, nghĩa hoạt động hay nghĩa liên nhân là
“thứ nghĩa có hình thức như một sự hoạt động: người nói hay người viết dùng ngôn ngữ để tác động như thế nào đó vào người nghe hay người đọc” (19, tr.25) Chức năng liên nhân bao gồm các cách khác nhau mà người nói
sử dụng để thực hiện hành động lời nói
Theo tác giả J Lyon thì chức năng liên nhân phản ánh thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay tình trạng mà nội dung mệnh đề đó miêu tả Còn J Searle thì cho rằng khung lý thuyết hành
vi ngôn ngữ là thích hợp nhất để thảo luận về chức năng liên nhân bởi lý thuyết này quan tâm đến quan hệ giữa người nói và điều được nói ra
Đây là một chức năng phong phú và đa dạng Tuy nhiên, tổng hợp các quan điểm của các tác giả ngữ pháp chức năng thì có thể hiểu một cách khái quát về chức năng liên nhân của lời nói, gồm: hành động lời nói và thái độ của người nói
Trang 27Chức năng liên nhân của câu trước hết được biểu đạt qua các hànhđộng lời nói Khi nói ra một câu tức là ta đang thực hiện một hành động,
“một mặt chính là hành động nói năng hoặc hành động sản sinh văn bản đang xét, mặt khác là hành động hiểu hay tiếp thu văn bản của người đối thoại - những hành động nói năng và hành động hiểu này được gọi khác đi
là những lời nói” (32, tr.21) Hệ thống các hoạt động lời nói này được
Kasevich gọi là hoạt động lời nói Còn theo J Austin thì “Nói là hành động” (To say something is to do something), “Khi nói người ta đồng thời thực hiện một hành động nào đó” (In saying something we are doing
something) Hoạt động lời nói luôn có tính mục đích, “người nói không
những làm một cái gì đó cho mình mà còn yêu cầu ở người nghe một cái gì đó” (Haliday, tr.68)
Hành động lời nói là một cấu trúc tầng bậc, nội dung cơ bản của hành động lời nói là gồm: động cơ (lý do để phải nói và để phải nghe), mục đích (nói để đạt cái gì) và thực hiện nhờ những hành vi phù hợp (nói cái gì
và nói thế nào) Chẳng hạn, cùng là hành động cầu khiến, nhưng với những
lí do, mục đích khác nhau nên cách thể hiện lời nói của hai nhân vật nữ
trong hai truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng và Chiếc thuyền ngoài xa cũng
khác nhau Với mục đích muốn bảo vệ an toàn cho xe hàng và người chiến
sĩ lái xe, Nguyệt (trong Mảnh trăng cuối rừng) đã thực hiện một loạt hành động yêu cầu, mệnh lệnh như: “Anh bị thương thì xe cũng mất, anh cứ nấp
đó!”, “Cho xe chạy đi anh, nó còn tiếp tục đánh ngầm đấy!” Còn với
người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa, khi chánh án Đẩu yêu
cầu mụ rời bỏ người chồng vũ phu, với mục đích muốn Đẩu thương xót để
mụ được sống với chồng, người đàn bà ấy đã thực hiện hành động cầu xin:
“Con lạy quý tòa…”, “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”
Tính mục đích, tính định hướng hành động lời nói được gọi là lực ngôn trung Các hành động lời nói theo danh sách của J Austin là vô cùng
Trang 28đa dạng, và theo ý kiến của Cao Xuân Hạo thì nó có thể kéo dài đến vô tận Trong giới hạn của đề tài này, chúng tôi chỉ đi sâu vào các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Theo Đỗ Thị Kim Liên (trong
cuốn Giáo trình ngữ dụng học) có thể kể đến các nhóm hành động ngôn
ngữ tiêu biểu sau:
- Hành động trần thuật (gồm có: trần thuật miêu tả; trần thuật kể;
trần thuật thông báo; trần thuật giải trình…)
- Hành động nói năng (gồm có: hành động hỏi; hành động nói)
- Hành động cầu khiến - mệnh lệnh (gồm có: hành động cầu khiến;
hành động yêu cầu; hành động mời mọc; hành động đề nghị; hành động dặn dò; hành động mệnh lệnh; hành động cầu mong)
các tiểu từ tình thái: một tẹo, chút việc, đây, đấy, đây mà, một tỵ, anh ạ, nhỉ,
… Chính thái độ đó đã tăng mối thiện cảm với cô trong lòng Lãm và làm
cho câu chuyện giữa hai người xa lạ trở nên thân thiết
Trang 29Như vậy có thể thấy, chức năng liên nhân độc lập nhưng không tách rời chức năng phản ánh trong ngôn ngữ Hai chức năng này gắn bó mật thiết và góp phần thể hiện một cách hiệu quả nội dung ngôn bản
1.3 Các quy tắc hội thoại
1.3.1 Khái niệm hội thoại
Hội thoại là một trong những khái niệm trung tâm của ngữ dụng học Theo Đỗ Thị Kim Liên: "Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định" (36, tr 120)
Cho đến nay, đã có nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Dân, Đỗ Thị Kim Liên, Lê Đông, Trần Thị Thìn, Nguyễn Thị Thanh Hương nghiên cứu sâu về hội thoại, trongluận văn này, chúng tôi chỉ đề cập đến vấn đề các quy tắc hội thoại
1.3.2 Các quy tắc hội thoại
“Quy tắc hội thoại là những quy tắc bất thành văn nhưng được xã hội chấp nhận và những người tham gia hội thoại phải tuân theo khi thực hiện các vận động hội thoại để cho cuộc hội thoại vận động như mong muốn” (36, tr 213) Có rất nhiều cách chia các quy tắc hội thoại, tuy nhiên có thể
kể đến các quy tắc cơ bản sau:
1) Quy tắc luân phiên lượt lời: Khi có hai người hội thoại, người kia phải
nói khi người này nhường lời cho, không được dẫm đạp lên lời của nhau
2) Quy tắc liên kết hội thoại: Một cuộc hội thoại không phải là sự lắp
ghép ngẫu nhiên, tuỳ tiện các phát ngôn, các hành vi ngôn ngữ mà phải có tính liên kết Nếu giữa các lời của các nhân vật hội thoại không có liên kết thì cuộc thoại sẽ trở nên rời rạc
3) Quy tắc cộng tác hội thoại (còn gọi là phương châm hội thoại) do
Grice nêu ra từ năm 1967 Nguyên tắc này được phát biểu một cách tổng quát như sau:
Trang 30“Hãy làm cho phần đóng góp của anh (vào cuộc hội thoại) đúng như
nó được đòi hỏi ở giai đoạn (của cuộc hội thoại) mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh đã chấp nhận tham gia vào” (5, tr 288).
Phương châm cộng tác hội thoại được Grice tách thành 4 nguyên tắc nhỏ hơn:
- Đừng nói điều gì mà anh tin rằng không đúng
- Đừng nói điều gì mà anh không có đủ bằng chứng
c Nguyên tắc quan hệ: hãy làm cho phần đóng góp của anh có dính líu đến câu chuyện đang diễn ra
d Nguyên tắc cách thức: Tránh lối nói tối nghĩa, mơ hồ về nghĩa; hãy ngắn gọn và có trật tự
4) Quy tắc tôn trọng thể diện của những người hội thoại: yêu cầu người
nói phải khéo léo tránh những điểm yếu, đề cao điểm mạnh của người nghe
5) Quy tắc khiêm tốn: Trong hội thoại tránh đừng tự khen ngợi mình,
phải tỏ ra khiêm tốn
Những quy tắc hội thoại trên chứng minh rằng trong hội thoại, sự giao tiếp bằng ngôn ngữ không phải là sự kiện ngẫu nhiên, tuỳ tiện mà phải tuân theo những quy luật nhất định đã được cộng đồng xã hội công nhận Trong hội thoại nếu người nói tuân theo những quy tắc này thì sẽ chứng tỏ mình là một người hiểu biết và lịch sự trong giao tiếp
Trang 311.4 Tri nhận
1.4.1 Khái niệm tri nhận
Theo Trần Văn Cơ: “Tri nhận là tất cả những quá trình trong đó những dữ liệu cảm tính được cải biến khi truyền vào não dưới dạng những biểu tượng tinh thần (hình ảnh, mệnh đề, khung, cảnh,…) để có thể lưu lại trong trí nhớ con người” (11, tr.3) Nó cũng được coi như là cách xử lí thông tin dưới dạng những kí hiệu, cải biến nó từ dạng này sang dạng khác Tri nhận, nó là biểu hiện cho quá trình nhận thức hoặc tổng thể những quá trình tâm lí (tinh thần, tư duy) phục vụ cho việc xử lí và chế biến thông tin
Hoạt động tri nhận là hoạt động tư duy của con người dẫn đến chỗ thông hiểu một cái gì đó Kết quả của hoạt động tri nhận là sự tao ra một hệ thống những ý niệm giúp cho con người hiểu biết, giả định, suy nghĩ và tưởng tượng của thế giới hiện thực và các thế giới khả dĩ Hoạt động tri nhận là một bộ phận cấu thành của ý thức con người Hoạt động tri nhận được thực hiện trong những điều kiện văn hóa nhất định Ngôn ngữ chính
là một hệ thống kí hiệu đóng vai trò quan trọng trong sự biểu hiện và cải biến thông tin, vì vậy, ngôn ngữ là một công cụ của tri nhận
1.4.2 Ý niệm
Trong thực tiễn nghiên cứu, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về
ý niệm Tuy nhiên có một đặc điểm chung có tính nguyên tắc của ý niệm là
“nó được xem như cơ sở để nghiên cứu tổng hợp ngôn ngữ và văn hóa, song bản thân nó lại không nằm trong phạm vi ngôn ngữ, cũng không nằm trong phạm vi văn hóa, và cũng đồng thời không nằm trong cả hai lĩnh vực này Ý niệm là đơn vị của tư duy, là yếu tố của ý thức Việc nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa ngôn ngữ và văn hóa sẽ không đầy đủ nếu thiếu cái khâu trung gian này” (11, tr 6) Theo Stepanov, “ý niệm tựa như một khối kết đông của nền văn hóa trong ý thức con người; dưới dạng của nó nền văn hóa đi vào thế giới ý thức (tư duy) của con người, và, mặt khác, ý niệm là cái mà nhờ đó con người – người bình thường, không phải ‘con
Trang 32người sáng tạo ra văn hóa’ – chính con người đó đi vào văn hóa, và trong một số trường hợp nhất định có tác động đến văn hóa” (11, tr 6).
Còn tác giả Trương Thị Mĩ Dung đã tổng hợp ý kiến của nhiều tác giả và đưa ra kết luận về những đặc điểm của ý niệm như sau:
a) Ý niệm là sự kiện của lời nói, đó là lời nói được phát ngôn ra Do đó nó khác với khái niệm.
b) Ý niệm gắn chặt với người nói và luôn định hướng đến người nghe Người nói và người nghe là hai bộ phận cấu thành của ý niệm.
c) Ý niệm mang tính chủ quan với nghĩa nó là một mảng của “bức tranh thế giới”, nó phản ánh thế giới khách quan qua lăng kính của ý thức ngôn ngữ dân tộc Do đó ý niệm mang tính dân tộc sâu sắc.
d) Ý niệm là đơn vị của tư duy (ý thức) của con người Hai thuộc tính không thể tách rời nhau của ý niệm là trí nhớ và tưởng tượng Ý niệm là một hành động
đa chiều: nếu là hành động của trí nhớ thì nó hướng về quá khứ, nếu là hành động của trí tưởng tượng thì nó hướng về tương lai, còn nếu nó là hành động phán đoán thì nó hướng về hiện tại.
e) Ý niệm, khác với khái niệm, không chỉ mang đặc trưng miêu tả, mà còn có cả đặc trưng tình cảm – ý chí và hình tượng Ý niệm không chỉ suy nghĩ, mà còn cảm xúc Nó là kết quả của sự tác động qua lại của một loạt nhân tố như truyền thống dân tộc, sáng tác dân gian, tôn giáo, hệ tư tưởng, kinh nghiệm sống, hình tượng nghệ thuật, cảm xúc và hệ thống giá trị Ý niệm tạo ra một lớp văn hóa trung gian giữa con người và thế giới Nó được cấu thành từ tri thức tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo lí, luật pháp, phong tục tập quán, và một số thói quen mà con người tiếp thu được với tư cách là thành viên xã hội (11, tr 6).
Tóm lại, ý niệm bao gồm ba thành tố: thành tố khái niệm, thành tố cảm xúc – hình tượng, và thành tố văn hóa Như vậy, ý niệm không chỉ mang tính chủ quan của mỗi người mà nó còn mang tính dân tộc sâu sắc Chẳng hạn trong ý niệm của mỗi người Việt về tình nghĩa, đặc biệt là tình nghĩa vợ chồng, hình ảnh “gừng cay – muối mặn” là một biểu tượng vô cùng quen thuộc:
- Tay bưng chén muối đĩa gừng
Trang 33Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau
- Muối ba năm muôi đương còn mặn
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
Đôi ta tình nặng nghĩa dày
Có xa nhau chăng nữa thì ba vạn sáu ngàn ngày mới xa
Trong đời sống của người Việt Nam xưa, muối và gừng không chỉ là gia vị quan trọng trong bữa ăn mà nó còn là vị thuốc trong những lúc ốm đau Vì vậy, trong tư duy người Việt, “muối mặn – gừng cay” là biểu tượng cho sự gắn bó, yêu thương, thủy chung của con người trong những lúc cuộc sống hạnh phúc hay cả những lúc gặp khó khăn
Hay khi đánh giá về vẻ đẹp của người phụ nữ, trong ý niệm của người Việt nói chung, người phương Đông nói riêng, thì một người phụ nữ đẹp phải hội tụ đầy đủ cả bốn yếu tố (Tứ đức): Công – Dung – Ngôn – Hạnh Tất nhiên đối với mỗi người khác nhau, mỗi thời khác nhau thì ý niệm về mỗi tiêu chuẩn không hoàn toàn giống nhau Chẳng hạn, đối với chữ “Dung”, người xưa đánh giá người con gái đẹp phải là:
- Năm quan mua lấy miệng cười
Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen
Răng đen ai nhuộm cho mình
Để duyên mình thắm, để tình anh say
Hay là người có có cặp lông mày thanh mướt như lá liễu, mắt thuôn dài như lá rau răm:
- Những người con mắt lá răm
Đôi mày lá liễu đáng trăm quan tiền
Có người thích đôi mắt đẹp sáng ngời, lấp lánh như ánh sao khuya:
- Nhấp nhánh là nhấp nhánh ơi
Mắt người nhấp nhánh như sao trên trời
Nhớ người lắm lắm người ơi!
Trang 34Người lại đánh giá cái đẹp của người con gái qua đôi má lúm đồng tiền dễ thương:
- Hai má có hai đồng tiền
Càng nom càng đẹp, càng nhìn càng ưa.
Tiếp thu truyền thống văn hóa của dân tộc, khi xây dựng nhân vật
Nguyệt (Trong Mảnh trăng cuối rừng), là một nhân vật nữ lí tưởng,
Nguyễn Minh Châu đã khoác cho cô đầy đủ bốn phẩm chất của người phụ
nữ Việt Nam truyền thống: Công – Dung – Ngôn – Hạnh Và khi miêu tả
ngoại hình Nguyệt, nhà văn cũng rất chú ý đến chi tiết mái tóc (Mái tóc dài
tết thành hai dải; Mái tóc thơm ngát, dày và trẻ trung) và đặc biệt là hình
ảnh “gót chân hồng hồng” rất quen thuộc trong ca dao xưa
Như vậy có thể kết luận ý niệm là kết quả của quá trinh tri nhận các nhân tố như truyền thống dân tộc, tôn giáo, hệ tư tưởng, kinh nghiệm sống, hình tượng nghệ thuật, cảm xúc…để tạo ra các biểu tượng tinh thần Các ý niệm nảy sinh trong quá trình cấu trúc hóa thông tin về một sự tình khách quan trong thế giới, cũng như về những thế giới tưởng tượng và về sự tình khả dĩ trong những thế giới đó Các ý niệm “quy cái đa dạng của những hiện tượng quan sát được và tưởng tượng về một cái gì đó thống nhất, đưa chúng vào một hệ thống và cho phép lưu giữ những kiến thức về thế giới” (11, tr 7) Các nhà nghiên cứu cho rằng, chính ngôn ngữ bảo đảm cách tiếp cận với sự miêu tả và xác định bản chất của ý niệm Ý niệm có thể được biểu hiện bằng một từ, một cụm từ hay một câu tùy vào mức độ phức tạp của nó Chính vì vậy, ý niệm thể hiện cách nhìn thế giới của con người qua ngôn ngữ tự nhiên và văn hóa của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ đó Trong luận văn này, chúng tôi đi sâu tìm hiểu ý niệm về người phụ nữ của Nguyễn Minh Châu trước và sau năm 1975 qua hai tác phẩm cụ thể là
Mảnh trăng cuối rừng và Chiếc thuyền ngoài xa, để từ đó thấy được sự thay
đổi và sự ổn định trong cái nhìn về người phụ nữ của nhà văn trong hai giai đoạn lịch sử khác nhau
Trang 35Tiểu kết
Tóm lại, Chương I trình bày những vấn đề lý thuyết cơ bản có liên quan đến đề tài như: về đặc điểm truyện ngắn và thế giới nhân vật nữ trong tác phẩm Nguyễn Minh Châu, về ngữ pháp chức năng và một số khái niệm trong ngôn ngữ học tri nhận Việc phân tích ý niệm về bản chất của các nhân vật cụ thể trong ngôn bản cần dựa vào chức năng phản ánh, chức năng liên nhân, chức năng liên kết ngôn bản của các câu hoạt động mà nhân vật
đó là những tham thể hoặc chính các nhân vật đó là chủ thể của phát ngôn Chức năng phản ánh của câu và chức năng nghĩa mà nhân vật đảm nhiệm trong câu là những số liệu phản ánh trải nghiệm của các nhân vật, phản ánh hoạt động, nhận thức, tư duy, tình cảm… của họ trong những hoàn cảnh khác nhau
Hoạt động, nhận thức, tư duy, tình cảm của đối tượng nghiên cứu cũng được thể hiện qua ngôn ngữ của họ Nghiên cứu ngôn ngữ nhân vật cần được dựa trên những nguyên lý chung của giao tiếp như: hành động lời nói, lịch sự, nguyên tắc cộng tác trong giao tiếp…
Đó là những cơ sở và đường hướng để khảo sát và xác định “Ý niệm
về người phụ nữ trong một số truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Minh Châu”
CHƯƠNG II
Ý NIỆM VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ QUA NGÔN NGỮ
Trang 36CỦA NGƯỜI KỂ CHUYỆN
Lý thuyết ngữ pháp chức năng được xây dựng nhằm mục đích phân tích ngôn bản, tức nhằm “góp phần để hiểu ngôn bản: phân tích ngôn ngữ giúp người ta có khả năng có thể chỉ ra tại sao và làm thế nào mà một ngôn bản có nghĩa như nó vốn có” (Halliday, tr 15) Như vậy, muốn nắm được những ý niệm của nhà văn được gửi gắm trong tác phẩm văn học, chúng ta phải tiến hành phân tích ngôn ngữ văn bản Để tìm hiểu ý niệm về người phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước và sau cách mạng, chúng tôi đã tiến hành khảo sát các yếu tố liên quan đến hình ảnh hai nhân vật nữ trong hai truyện ngắn “Mảnh trăng cuối rừng” và “Chiếc thuyền
ngoài xa” Qua việc thống kê và phân tích các hình thức ngôn ngữ của
người kể chuyện (như trường từ vựng, cấu trúc câu theo nghĩa biểu hiện),
chúng tôi phân loại những biểu hiện trong ý niệm của nhà văn về người phụ
nữ thành các phương diện:
(1) Ngoại hình
(2) Phẩm hạnh, tính cách
(3) Tình yêu
Điểm chung về hai nhân vật nữ này là đều được Nguyễn Minh Châu
để cho những người đã từng “tai nghe, mắt thấy”, những người đã được trải nghiệm với các nhân vật đó trực tiếp phản ánh lại Đó là Lãm, người đã từng “gặp” Nguyệt trong đêm, dưới ánh đèn và ánh trăng, đã trực tiếp nghe
cô nói chuyện, nghe cô “chỉ huy” để vượt qua bom đạn máy bay, đã được nghe những người cùng sống, lao động với cô kể về cô; đó là nghệ sĩ nhiếp
ảnh, người đã trực tiếp hoặc gián tiếp gặp người đàn bà, được nghe bà nói
với chính anh hoặc nghe bà nói với người khác Hai người, mỗi người xuất phát từ một vị trí khác nhau, nghề nghiệp khác nhau, từ những quan hệ khác nhau với nhân vật phản ánh lại
2.1 Ngoại hình rất đặc trưng của các nhân vật nữ
Trang 37Cũng như hầu hết các tác giả khi viết về người phụ nữ, Nguyễn Minh Châu rất chú ý khắc hoạ dáng vẻ bề ngoài của các nhân vật nữ trong tác phẩm của mình Có lẽ đó cũng là một tất yếu bởi “Dung” chính là một trong bốn yếu tố tạo nên “Tứ đức” của người phụ nữ, và không phải ngẫu nhiên khi mọi người đều gọi họ là “phái đẹp” Là một người luôn quan tâm,
yêu quý những người được xem là phái yếu, cho nên khi viết Mảnh trăng
cuối rừng và Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã dành khá nhiều
tâm huyết để khắc hoạ chân dung hai người phụ nữ trong tác phẩm của mình Có thể nói đó là hai bức tranh gần như đối lập hoàn toàn về ngoại hình nhưng cả hai đều để lại những dấu ấn đậm nét trong lòng độc giả bởi nét đặc trưng không thể hoà lẫn trong dáng vẻ mỗi người Và rất tinh tế, Nguyễn Minh Châu đã không trực tiếp miêu tả chân dung của họ mà thể
hiện qua cái nhìn của nhân vật người kể chuyện, đó là Lãm trong Mảnh
trăng cuối rừng, là người nghệ sĩ nhiếp ảnh trong Chiếc thuyền ngoài xa
Chính điều đó đã tăng thêm tính khách quan và thể hiện được dụng ý nghệ thuật của tác giả
2.1.1 Ngoại hình của người con gái trong chiến tranh
Nguyệt, người con gái đẹp được hiện lên trong ngôn từ của những người đã gặp cô Chỉ một truyện ngắn nhưng có đến 18 câu nói về vẻ đẹp
của cô Trong đó chỉ một câu là nhận xét của Tính (chị Lãm): “Cô ta (…)
lại xinh đẹp hơn trước nữa kia” Tất cả những câu còn lại đều là miêu tả
của Lãm, vì vậy hẳn không tránh được cái nhìn lãng mạn, bay bổng của anh chàng lái xe đang yêu Có lẽ vì vậy, vẻ đẹp của Nguyệt vừa rất giản dị, gần
gũi, lại vừa huyền ảo, lung linh (Một vẻ đẹp giản dị và mát mẻ như sương
núi toả ra từ nét mặt, lời nói và tấm thân mảnh dẻ; Khuôn mặt tươi mát ngời lên vẻ đẹp lạ thường; Khuôn mặt đẹp lộng lẫy đầy ánh trăng…).
Nguyệt mới mười tám, đôi mươi, cái tuổi đẹp nhất, tươi thắm nhất, rực rỡ nhất của đời người con gái Có lẽ vì vậy, Nguyễn Minh Châu đã ưu
ái dành những lời ngợi ca hết mực khi khắc hoạ chân dung người con gái
Trang 38ấy Tuy nhiên, để lột tả hết vẻ đẹp hình thể của người con gái trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt và qua đó thể hiện được ý niệm của mình về vẻ đẹp của người phụ nữ không phải là việc làm đơn giản Nó đòi hỏi ở nhà văn một bản lĩnh và tài năng sử dụng ngôn ngữ tài tình.
Nguyệt là một nữ công nhân giao thông, suốt ngày đối diện với bụi,
đá, với bom đạn chiến tranh, với sự khắc nghiệt của cuộc sống trong rừng, thế nhưng cô không giống với bất cứ cô gái công trường nào mà ta vẫn hình dung, ở Nguyệt toát lên một vẻ đẹp khiến không chỉ anh chàng lái xe
mà tất cả người đọc đều không khỏi bất ngờ thú vị Sự xuất hiện của cô đã
gây một ấn tượng mạnh đối với Lãm “Trong ánh đèn gầm hắt xuống mặt
đường hiện ra ngay trước mũi xe một đôi gót chân hồng hồng, sạch sẽ, đôi dép cao su cũng sạch sẽ, gấu quần lụa đen chấm mắt cá.” Tất cả đều hiện ra
ngay trước mắt Lãm bất ngờ đến mức khiến anh phải “đưa hai tay dụi mắt”
Đó thực sự là một phát hiện đầy ngạc nhiên và thú vị về cái đẹp trong hoàn cảnh chiến tranh Chiến tranh là huỷ diệt, là chết chóc, nhưng trong chiến tranh, những người con gái như Nguyệt vẫn sống, vẫn lao động, chiến đấu
và vẫn luôn chăm chút cho vẻ đẹp của mình Khó khăn, gian khổ không thể làm họ đánh mất bản năng làm đẹp của người phụ nữ Thậm chí, chính vẻ đẹp của họ đã làm dịu bớt đi cái khốc liệt của chiến tranh
Mỗi người có một ý niệm khác nhau về vẻ đẹp của người phụ nữ Đó không chỉ phản ánh suy nghĩ, vốn sống của riêng mỗi người mà còn là sự phản ánh văn hoá của mỗi dân tộc Với Nguyễn Minh Châu, chi tiết đầu tiên ông tả Nguyệt là “một đôi gót chân hồng hồng, sạch sẽ”, một chi tiết phản ánh rất rõ quan niệm mang tính truyền thống của nhà văn về vẻ đẹp của người phụ nữ: với người Việt Nam, người con gái đẹp, đoan trang luôn gắn với hình ảnh gót chân hồng (gót sen) Vì vậy, hình ảnh “gót chân hồng hồng, sạch sẽ” ấy đã xoá bỏ mọi sự thiếu thiện cảm của anh chàng lái xe với cô gái đi nhờ xe Và nó khiến anh bắt đầu để ý và kịp nhận thấy vẻ xinh đẹp của cô gái: “Một vẻ đẹp giản dị và mát mẻ như sương núi toả ra từ nét
Trang 39mặt, lời nói và tấm thân mảnh dẻ, khác hẳn với nhiều cô gái công trường
thường cô nào cũng thấp và đẫy đà” Chỉ trong một câu, anh chàng lái xe
đã liên tục sử dụng hai phép so sánh tương đồng và tương phản để làm nổi bật vẻ đẹp của Nguyệt Một vẻ đẹp rất đặc biệt trong hoàn cảnh chiến tranh nhưng lại rất đỗi thân thuộc trong cuộc sống bình thường Ở Nguyệt thấp thoáng hình bóng những cô thiếu nữ thuần Việt mà ta vẫn bắt gặp đâu đây trong cuộc sống: “Cô ta mặc áo xanh chít hông vừa khít, mái tóc tết thành hai dải Chiếc làn và chiếc nón mới trắng loá khoác ở cánh tay một cách nhẹ nhàng”
Nguyệt là trăng, không phải vô tình khi Nguyễn Minh Châu đặt tên
cô gái là Nguyệt, và cả quãng đường cô và anh Lãm đi đều tràn ngập trong ánh trăng, dù đó chỉ là mảnh trăng non đầu tháng Hình ảnh Nguyệt và
trăng luôn song hành, quyện chặt, nhoà lẫn trong nhau (Khung cửa xe phía
cô gái ngồi lồng đầy bóng trăng; Chốc chốc tôi lại đưa mắt liếc về phía Nguyệt, thấy từng sợi tóc của Nguyệt đều sáng lên; Trăng sáng soi thẳng vào khuôn mặt Nguyệt, làm cho khuôn mặt tươi mát ngời lên đẹp lạ thường; Khuôn mặt đẹp lộng lẫy đầy ánh trăng) Trăng là Nguyệt, Nguyệt cũng là
trăng Từ đầu đến cuối tác phẩm, hai tham tố “Nguyệt”, “trăng” luôn luôn xuất hiện, có lúc chỉ có trăng, có lúc chỉ có “Nguyệt”, và cũng có lúc cả hai cùng song song tồn tại Ở những chi tiết có sự xuất hiện của cả hai tham tố
“trăng” và “Nguyệt”, tâm trạng nhân vật Lãm luôn bị xáo trộn Trăng tôn thêm vẻ đẹp của Nguyệt, Nguyệt làm ánh trăng trở nên huyền ảo, lung linh
Nó khiến Lãm nhìn vào khuôn mặt Nguyệt mà “choáng ngợp như vừa trông vào ảo ảnh” Khi “mảnh trăng đã khuất hẳn xuống khu rừng ở sau lưng”, tức là khi tham tố “trăng” ẩn đi, Nguyệt lúc này đã biến thành vầng trăng sáng, dẫn đường cho Lãm đi qua quãng đường nguy hiểm và tối tăm
(Tôi cứ nhắm cái bóng trắng nhờ nhờ của Nguyệt trước mặt mà lái theo)
Cho đến khi Nguyệt đã đi rồi, trong tâm tưởng của Lãm vẫn hiện rõ khuôn mặt ấy, “khuôn mặt đẹp lộng lẫy đầy ánh trăng” Như vậy khi “trăng” và
Trang 40“Nguyệt” đã hoà vào làm một thì cũng chính là lúc trong trái tim Lãm tràn ngập ánh sáng của tình yêu đối với người con gái ấy.
Trong ý niệm của Nguyễn Minh Châu, Nguyệt là một người con gái
có vẻ đẹp hoàn hảo Vì vậy ngay cả trong hoàn cảnh ác liệt nhất, Nguyệt
vẫn được miêu tả với vẻ đẹp khác thường (Khuôn mặt hơi tái nhưng vẫn
tươi tỉnh và xinh đẹp; Từ đầu đến chân, cô ta ướt như một con công vừa tắm) Trong con mắt của người đang yêu, người yêu mình lúc nào cũng
đẹp, vì vậy thật dễ hiểu khi trong đôi mắt Lãm, dù Nguyệt đang bị thương,
bị ướt từ đầu đến chân nhưng cô vẫn đẹp và đáng yêu vô cùng Không phải Nguyễn Minh Châu lí tưởng hoá nhân vật của mình mà chính ông đã rất tinh tế trong việc nắm bắt tâm lí của người con trai đang yêu Nguyệt lúc nào cũng đẹp trong mắt Lãm, đó là một hiện thực, một hiện thực của tâm lí con người
Có thể thấy khi miêu tả vẻ đẹp của nhân vật Nguyệt, Nguyễn Minh Châu thường hay sử dụng câu so sánh Những hình ảnh tác giả dùng để so
sánh đều là những hình ảnh thiên nhiên (Vẻ đẹp giản dị và mát mẻ như
sương núi; Cô ta ướt như một con công vừa tắm; Trông cô như môt con chim non đang tập bay) Ở đây ta lại bắt gặp một cái nhìn rất lãng mạn của
nhà văn Nguyễn Minh Châu muốn nâng tầm vẻ đẹp của nhân vật lên trên những cái bình thường, cái khốc liệt của chiến tranh Và sự lí tưởng hoá, thi
vị hoá ấy của nhà văn được người đọc dễ dàng chấp nhận bởi nó được đặt trên đôi cánh lãng mạn của một tâm hồn trẻ trung đang yêu, đó là Lãm Đâu phải Nguyễn Minh Châu đang tả Nguyệt mà chính Nguyệt đang hiện
ra trong lời kể của anh chàng Lãm, một chàng thanh niên với tình yêu Nguyệt “gần như mê muội lẫn cảm phục” I.Kant đã từng nói: “Vẻ đẹp không phải ở đôi má hồng của người thiếu nữ, mà ở trong con mắt của kẻ si tình”, vì vậy không có gì đáng phê phán Nguyễn Minh Châu khi đã lí tưởng hoá vẻ đẹp nhân vật của mình Nhà phê bình Nikulin cũng đã “biện hộ” cho Nguyễn Minh Châu: “Dẫu sao vẫn có thể biện hộ được cho tác giả về góc