1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn THẠC sĩ phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên trường sĩ quan thông tin hiện nay

100 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Năng Lực Nghiên Cứu Khoa Học Của Học Viên Trường Sĩ Quan Thông Tin Hiện Nay
Trường học Trường Sĩ Quan Thông Tin
Chuyên ngành Nghiên Cứu Khoa Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 634,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu khoa học là một trong những mục tiêu chủ yếu và không thể thiếu trong hoạt động có tính chất nghiên cứu của mọi cơ sở đào tạo đại học; nhiệm vụ cơ bản của học viên Trường sĩ quan Thông tin, gắn liền với thực hiện mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ sĩ quan tham mưu Thông tin cấp phân đội quân đội trong thời kỳ mới. Nghiên cứu khoa học của học viên vừa góp phần củng cố, hoàn thiện và phát triển những kiến thức đã học, phục vụ trực tiếp cho việc nâng cao chất lượng học tập, vừa rèn luyện phương pháp, kỹ năng nghiên cứu và hình thành phẩm chất cần thiết khác của người cán bộ góp phần hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ khi họ ra trường. Đồng thời, nghiên cứu khoa học vừa là động lực và phương tiện để nâng cao chất lượng đào tạo, nâng cao khả năng sáng tạo khoa học, cung cấp nhiều sản phẩm có tính ứng dụng cao vừa là yêu cầu bắt buộc và là điều kiện quan trọng để đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học viên sĩ quan Thông tin. Trường sĩ quan Thông tin là một đơn vị nằm trong hệ thống giáo dục chung của các học viện, nhà trường Quân đội. Với chức năng, nhiệm vụ đào tạo sĩ quan Chỉ huy kỹ thuật Thông tin cho toàn quân; trước yêu cầu đổi mới, phát triển tiến thẳng lên hiện đại của Binh chủng, nhà trường đã tập trung nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, coi trọng phát triển toàn diện phẩm chất, nhân cách, năng lực và khả năng tư duy sáng tạo độc lập trong nghiên cứu cũng như ứng dụng và sử dụng công nghệ thông tin, các phương tiện kỹ thuật Thông tin hiện đại ở học viên sĩ quan đào tạo trình độ đại học, coi đây là vấn đề cơ bản, xuyên suốt và lâu dài trong sự phát triển bền vững của Nhà trường hiện nay. Những năm qua, sự nghiệp xây dựng quân đội có bước phát triển mới

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN

NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA HỌC

1.1 Quan niệm về năng lực nghiên cứu khoa học và phát

triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Trường

1.2 Đặc điểm phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của

học viên Trường Sỹ quan Thông tin 24

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

TRONG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA HỌC VIÊN TRƯỜNG SỸ QUAN

2.1 Thực trạng phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của

học viên Trường Sỹ quan Thông tin hiện nay 422.2 Những vấn đề đặt ra trong phát triển năng lực nghiên cứu

khoa học của học viên Trường Sỹ quan Thông tin hiện nay 59

Chương 3 GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA HỌC VIÊN TRƯỜNG

3.1 Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục và đào

tạo ở Trường Sỹ quan Thông tin 683.2 Phát huy tính tích cực, sáng tạo trong tự học, tự nghiên

cứu của học viên Trường Sỹ quan Thông tin 773.3 Xây dựng môi trường nghiên cứu khoa học thuận lợi cho

học viên Trường Sỹ quan Thông tin 84

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghiên cứu khoa học là một trong những mục tiêu chủ yếu và không thểthiếu trong hoạt động có tính chất nghiên cứu của mọi cơ sở đào tạo đại học;nhiệm vụ cơ bản của học viên Trường sĩ quan Thông tin, gắn liền với thực hiệnmục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ sĩ quan tham mưu Thông tin cấp phân đội quânđội trong thời kỳ mới Nghiên cứu khoa học của học viên vừa góp phần củng cố,hoàn thiện và phát triển những kiến thức đã học, phục vụ trực tiếp cho việc nângcao chất lượng học tập, vừa rèn luyện phương pháp, kỹ năng nghiên cứu và hìnhthành phẩm chất cần thiết khác của người cán bộ góp phần hoàn thành tốt chứctrách, nhiệm vụ khi họ ra trường Đồng thời, nghiên cứu khoa học vừa là độnglực và phương tiện để nâng cao chất lượng đào tạo, nâng cao khả năng sáng tạokhoa học, cung cấp nhiều sản phẩm có tính ứng dụng cao vừa là yêu cầu bắtbuộc và là điều kiện quan trọng để đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của họcviên sĩ quan Thông tin

Trường sĩ quan Thông tin là một đơn vị nằm trong hệ thống giáo dụcchung của các học viện, nhà trường Quân đội Với chức năng, nhiệm vụ đào tạo

sĩ quan Chỉ huy kỹ thuật Thông tin cho toàn quân; trước yêu cầu đổi mới, pháttriển tiến thẳng lên hiện đại của Binh chủng, nhà trường đã tập trung nâng caochất lượng đào tạo nguồn nhân lực, coi trọng phát triển toàn diện phẩm chất,nhân cách, năng lực và khả năng tư duy sáng tạo độc lập trong nghiên cứu cũngnhư ứng dụng và sử dụng công nghệ thông tin, các phương tiện kỹ thuật Thôngtin hiện đại ở học viên sĩ quan đào tạo trình độ đại học, coi đây là vấn đề cơ bản,xuyên suốt và lâu dài trong sự phát triển bền vững của Nhà trường hiện nay

Những năm qua, sự nghiệp xây dựng quân đội có bước phát triển mới;chính sự quan tâm về mọi mặt, ưu tiên đầu tư trang thiết bị kỹ thuật thông tinhiện đại cho quá trình dạy và học nên chất lượng học tập, nghiên cứu cũng nhưkhả năng tư duy sáng tạo của học viên từng bước được nâng lên, học viên tốtnghiệp ra trường công tác cơ bản đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ của từng đơn

vị Thông tin trong toàn quân Tuy nhiên, so với xu thế toàn cầu hóa, hội nhập

Trang 3

sâu rộng trong giáo dục và đào tạo như hiện nay; trước yêu cầu ngày càng caocủa đào tạo đại học cũng như sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học vàcông nghệ thì hoạt động nghiên cứu khoa học toàn trường nói chung và củahọc viên sĩ quan đào tạo đại học ở trường sĩ quan Thông tin nói riêng chỉ đạtkết quả nhất định; số lượng đề tài tăng lên nhưng khả năng ứng dụng của các

đề tài còn hạn chế Tỷ lệ học viên tham gia nghiên cứu tăng lên nhưng tínhthụ động trong học tập và nghiên cứu vẫn chưa được cải thiện đáng kể; nănglực tư duy lý luận, phương pháp nghiên cứu khoa học, cũng như thực tiễnnghiên cứu ứng dụng đối với hoạt động này còn nhiều bất cập

Chính vì vậy, để đào tạo đội ngũ học viên sĩ quan sau khi tốt nghiệp ratrường vừa có tri thức, khả năng và phẩm chất khoa học cần thiết vừa chuyênsâu chuyên ngành thông tin viễn thông biết vận dụng tri thức vào phát hiện vàgiải quyết đúng đắn những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình quản lý, chỉhuy, giáo dục, huấn luyện đơn vị, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của

quân đội, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới thì việc nghiên cứu " phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Trường sĩ quan Thông tin hiện nay" là vấn đề cơ bản và cấp thiết.

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Vấn đề xây dựng và phát huy nguồn lực con người, phát triển toàn diệnnăng lực con người, trong đó có phát triển năng lực nghiên cứu khoa học luôn

là một đề tài thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học

Liên quan đến vai trò của nguồn lực con người và vai trò của nghiên

cứu khoa học đối với sự phát triển xã hội; trên phương diện lý luận có các

công trình như: A.X.Gientốp, T.R.Côndrátcốp, E.A.Khơmencô (chủ biên

1969), Những vấn đề phương pháp luận của lý luận và thực tiễn quân sự, Nxb

Quân đội nhân dân dịch và phát hành, 1976, Hà Nội; I.A.Gruđinhin

(1971), Phép biện chứng và lĩnh vực quân sự hiện đại, Nxb Quân đội nhân dân dịch và phát hành, 1976, Hà Nội; V.I.Kúptchốp (1976), Vai trò của

triết học trong nhận thức khoa học, (người dịch Đỗ Bá), thư viện Học viện Chính

trị quân sự; "Con người và nguồn lực con người trong phát triển", Viện Thông

Trang 4

tin Khoa học Xã hội; "Mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng giảng dạy và

nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn" tập thể tác giả, Học viện Chính trị

quân sự; Lê Hữu Nghĩa, "Tư duy khoa học trong giai đoạn cách mạng khoa

học công nghệ" Nguyễn Trọng Chuẩn (1978),“Phép biện chứng duy vật với tính cách là lôgíc học và phương pháp luận của nhận thức khoa học hiện đại”, Tạp chí Triết học, 22(3); Ngô Đình Xây (1993), Phương pháp nhận thức khoa học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Lê Hữu Nghĩa, Phạm Duy

Hải (1998), Tư duy khoa học trong cách mạng khoa học - công nghệ, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Đặng Vũ Hiệp (1995)

Liên quan đến phát triển năng lực nghiên cứu khoa học còn có các

công trình như: Phạm Thị Ngọc Trầm "Trí tuệ, nguồn lực vô tận của sự phát

triển"; Nguyễn Văn Tài "Tích cực hoá nhân tố con người của đội ngũ sĩ quan trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay"; Lê Quang

"Vấn đề nắm vững phương pháp khoa học trong cách tiếp cận các vấn đề xã hội"; Lê Quý Trịnh "Phát triển năng lực trí tuệ của sĩ quan trẻ trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay"; v.v

Đề án khoa học (2009): “Xây dựng hệ tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt

động khoa học, công nghệ và môi trường ở Học viện Chính trị hiện nay”, Chủ

nhiệm đề án Nguyễn Bá Dương Đề án đã đưa ra những căn cứ lí luận và thựctiễn để xây dựng hệ tiêu chí Đề xuất được hệ tiêu chí cơ bản đánh giá, xếp loại

đề tài khoa học cấp Học viện và cấp phòng, khoa, hệ kể cả đề tài lịch sử quân sự;

hệ tiêu chí đánh giá công tác quản lí khoa học, quản l công nghệ thông tin vàquản lí hoạt động bảo vệ môi trường Hệ thống tiêu chí mà đề án nêu ra có bảnbảo đảm được tính định lượng, định tính, thể hiện là tước đo để đánh giá chấtlượng hoạt động khoa học, công nghệ và môi trường ở Học viện chính trị Đề áncòn đề xuất hệ thống giải phá cơ bản để đưa hệ thống tiêu chí vào thực hiệntrong thực tiễn Các giải pháp và kiến nghị của đề tài có giá trị tham khảo tốttrong quá trình nghiên cứu xác định các giải pháp phát triển năng lực nghiêncứu khoa học của học viên sĩ quan Thông tin hiện nay

Trang 5

Liên quan đến hoạt động nghiên cứu khoa học ngoài quân đội còn có các bài viết “Hãy coi nghiên cứu khoa học như một phương pháp đào tạo đại học” của tác giả Võ Xuân Đàn, đăng trên Kỷ yếu hội thảo - Bộ Giáo dục

và Đào tạo, Nhà xuất bản Giáo dục (2003); “nghiên cứu khoa học giáo dục

trong giai đoạn tới” của tác giả Nguyễn Hữu Châu, đăng trên Tạp chí Giáo

dục, số 98, 10-2004; “Biện pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học

giáo dục của sinh viên Đại học Sư phạm” (2005) của Lê Thị Thanh Chung;

“Cơ sở khoa học và giải pháp nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho giáo viên các trường sư phạm kỹ thuật” của tác giả Nguyễn Viết Sự, đăng trên

Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 13, 102006; “Sinh viên nghiên cứu khoa học

-Động lực chính để biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” của

tác giả Trần Văn Nhung, đăng trên Tạp chí Giáo dục, số 130, kỳ 2, Bài viết đã làm rõ một số vấn đề về cơ sở lý luận của phương pháp luậnnghiên cứu khoa học; đồng thời chỉ rõ thực trạng và những giải pháp tiếp tụcnâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho giáo viên trường sư phạm kỷ

1-2006-thuật hiện nay “Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học ở trường đại

học” của tác giả Nguyễn Thị Hương Giang, đăng trên Tạp chí Quản lý giáo

dục, số 37, 6-2012; “Trường đại học nghiên cứu và các tiêu chí nhận diện

đại học nghiên cứu” của tác giả Phạm Thị Ly, đăng trên Tạp chí Khoa học

giáo dục, số 90, 3-2013; Khi bàn về vai trò của nghiên cứu khoa học giáodục, tác giả Dương Thiệu Tống cũng đã khẳng định: Công cuộc cải tổ giáodục ở Việt Nam không thể không tiến hành nghiên cứu khoa học nói chung

và nghiên cứu khoa học giáo dục nói riêng; đồng thời cho rằng, vai trò củangười nghiên cứu khoa học rất quan trọng, họ là những người được quantâm hàng đầu trong chiến lược cải cách giáo dục ở nước ta hiện nay Các đềtài, bài báo khoa học trên cơ bản đi sâu nghiên cứu vấn đề nâng cao chấtlượng nghiên cứu khoa học ở các trường cao đẳng, đại học trên toàn quốcvới những cách tiếp cận khác nhau

Liên quan đến hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển năng lực nghiên cứu khoa học trong quân đội được nhiều tác giả lựa chọn làm đề

Trang 6

tài luận văn, luận án, tiêu biểu như: Đề tài khoa học KX.HV-02-03 cấp Học

viện: “Hoạt động khoa học của Học viện Chính trị quân sự (1986-2005)

thành tựu và kinh nghiệm” của tập thể tác giả, do Nguyễn Bá Dương làm chủ

nhiệm, thực hiện năm 2005, đã nghiên cứu hoạt động khoa học của Học việnChính trị quân sự từ năm 1986 đến năm 2005, làm rõ đặc điểm hoạt độngnghiên cứu khoa học của Học viện và nhiệm vụ của hoạt động khoa học đốivới công tác GD - ĐT; đồng thời chỉ ra những kinh nghiệm trong hoạt độngkhoa học, giúp cho các nhà khoa học có cơ sở để khái quát thành những tiêuchí trong hoạt động khoa học và đưa ra những phương hướng nhằm nâng caochất lượng hoạt động khoa học của Học viện Chính trị quân sự; Đào Văn

Tiến (1998), Nâng cao năng lực tư duy sáng tạo của sĩ quan cấp phân đội

Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ quân sự, Học viện

Chính trị quân sự, Hà Nội; Nguyễn Bá Dương (1999), “Nâng cao năng lựctrí tuệ - một công việc cấp bách trong xây dựng Quân đội nhân dân trong

giai đoạn cách mạng mới”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân (4); “Một số giải

pháp nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học của học viên trong các nhà trường quân đội”, do Học viện Kỹ thuật Quân sự chủ trì, Trần Văn

Lộc làm chủ nhiệm, thực hiện năm 1999; “Mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng

giảng dạy và nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn ở các trường quân đội” do Vũ

Quang Lộc chủ biên, thực hiện năm 2001-Đề tài đã làm rõ khái niệm, mối quan

hệ giữa nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học xã hội nhân văntrong nhà trường quân đội; làm rõ cơ chế tác động để nâng cao chất lượng nghiêncứu khoa học và chất lượng giảng dạy; việc vận dụng những thành tựu khoa học

công nghệ vào quá trình giảng dạy của GV; “Các giải pháp đẩy mạnh hoạt động

nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội ở Học viện Chính trị quân sự hiện nay”, Học viện Chính trị chủ trì, Vũ Quang Đạo làm

chủ nhiệm đề tài, thực hiện năm 2002.v.v

Ngoài ra còn có các bài viết: "Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học

của giảng viên nhằm đáp ứng yêu cầu đổi nới giáo dục đại học hiện nay" Tạp chí giáo dục lý luận chính trị quân sự, số 5 năm 2006, Trương Thành

Trang 7

Trung Theo tác giả, chất lượng nghiên cứu khoa học phục vụ cho đổi mớigiáo dục - đào tạo của trường đại học phụ thuộc vào nhiều nhân tố, bêncạnh giảng viên thì học viên là nhân tố có vị trí quan trọng đặc biệt Nănglực nghiên cứu khoa học của học viên được thể hiện ở trình độ hiểu sâu sắc

lý luận về phương pháp nghiên cứu khoa học, nắm bắt những sự kiện khoahọc, xác lập những vấn đề nghiên cứu, huy động hệ thống tri thức và kỹnăng để giải quyết vấn đề một cách độc lập, sáng tạo và đưa lại hiệu quảthiết thực Cũng theo tác giả, năng lực nghiên cứu khoa học chỉ được hìnhthành ở những học viên thực sự tận tâm với công việc học tập, nghiên cứu,

trung thực trong lao động khoa học và có một số điều kiện phù hợp; "Đẩy

mạnh nghiên cứu khoa học của học viên góp phần nâng cao chất lượng đào tạo chính ủy ở Học viện Chính trị hiện nay” của tác giả Đỗ Minh Châu, đăng

trên Tạp chí Giáo dục Lý luận Chính trị quân sự, số 1, năm 2009; “nghiên

cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy ở các học viện, trường đại học công an nhân dân” của tác giả Vương Thị Ngọc Huệ, đăng trên Tạp

chí Khoa học giáo dục, số 81, 6-2012; v.v

Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trên đây là những tưliệu có giá trị để tác giả tham khảo, kế thừa trong quá trình triển khainghiên cứu đề tài

Tóm lại, những đề tài, công trình nghiên cứu, những bài viết về hoạt

động nghiên cứu khoa học và phát triển năng lực nghiên cứu khoa học củangười học nói chung và học viên Đại học các Trường quân sự nói riêng đềcập trên đây cho thấy:

Các nhà nghiên cứu, các tác giả qua những giai đoạn khác nhau đềukhẳng định vai trò quan trọng của nghiên cứu khoa học và sự cần thiết phảiphát triển năng lực tư duy, năng lực nghiên cứu khoa học nhằm nâng caochất lượng giáo dục, đào tạo Vấn đề nghiên cứu khoa học từ lâu đã đượcnhiều tác giả trong nước nghiên cứu Tuy nhiên, phát triển năng lực nghiêncứu khoa học của học viên các trường đại học quân sự chỉ được các tác giảtập trung nghiên cứu nhiều hơn trong những năm gần đây

Trang 8

Trong quân đội, vấn đề nghiên cứu khoa học của học viên các trường đạihọc quân sự là một trong những hướng nghiên cứu chính được các nhà khoa học,nhà quản lý giáo dục và đội ngũ giảng viên quan tâm; các công trình trên cũng đã

tập trung làm rõ thực chất, vai trò và các giải pháp phát huy, phát triển nguồn lực

con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng

quân đội trong thời kỳ mới Song do mục đích, phạm vi nghiên cứu, các tác giảcủa các công trình trên chưa đặt ra nghiên cứu vấn đề phát triển năng lực nghiêncứu khoa học của học viên nói riêng ở Trường sĩ quan Thông tin hiện nay Vì vậy,

"Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Trường sĩ quan Thông tinhiện nay" là vấn đề mới và bức thiết

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Mục đích nghiên cứu

Làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn và đề xuất một số giải phápnhằm phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Trường sĩ quanThông tin hiện nay

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ quan niệm, đặc điểm phát triển năng lực nghiên cứu khoa học củahọc viên Trường sĩ quan Thông tin

Đánh giá thực trạng phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viênTrường sĩ quan Thông tin hiện nay

Đề xuất giải pháp cơ bản phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của họcviên Trường sĩ quan Thông tin hiện nay

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu bản chất, đặc điểm quá trình phát triển năng lực nghiên cứukhoa học của học viên Trường sĩ quan Thông tin

* Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về phát triển năng lực nghiên cứu khoa học củađối tượng học viên đào tạo sĩ quan bậc đại học Trường sĩ quan Thông tin từ năm

2010 đến nay

Trang 9

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của đề tài

* Cơ sở lý luận của đề tài

Là hệ thống những quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, các Nghịquyết của Quân uỷ Trung ương về khoa học, nghiên cứu khoa học, về giáo dục,đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới; quan điểm của Đảng vềxây dựng Binh chủng Thông tin, xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội, đội ngũ sĩquan Thông tin Liên lạc

* Cơ sở thực tiễn của đề tài

Thực tiễn giáo dục đào tạo, thực tiễn đội ngũ sĩ quan nhà trường; kết quảtrực tiếp khảo sát phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên ở Trường

sĩ quan Thông tin

* Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, đề tài sử dụng các phương phap: hệ thống - cấu trúc; phântích - tổng hợp; khái quát hoá - trừu tượng hoá và phương pháp chuyên gia;phương pháp tổng kết thực tiễn; điều tra xã hội học để nghiên cứu

6 Ý nghĩa của đề tài

Đề tài góp phần làm rõ lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, làm cơ

sở khoa học cho hoạt động lãnh đạo, chỉ huy quản lý và tổ chức thực hiện giáodục đào tạo, phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Trường sĩquan Thông tin hiện nay

Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, giảng dạy các vấn

đề liên quan đến công tác giáo dục, đào tạo của Nhà trường

7 Kết cấu của đề tài

Đề tài gồm: 3 chương (7 tiết), phần mở đầu, phần kết luận, phần danh mụctài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA HỌC VIÊN

TRƯỜNG SĨ QUAN THÔNG TIN 1.1 Quan niệm về năng lực nghiên cứu khoa học và phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Trường sĩ quan Thông tin

1.1.1 Quan niệm về năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Trường sĩ quan Thông tin

* Năng lực nghiên cứu khoa học

Năng lực được hiểu nghĩa chung nhất là: "Khả năng, điều kiện chủ quan

hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó"; "là phẩm chất tâm lý vàsinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chấtlượng cao"[36, tr 639] Năng lực con người là sản phẩm của sự phát triển xã hội

vì vậy nó không những do hoạt động của bộ não người, mà còn do trình độ pháttriển lịch sử xã hội quy định Theo ý nghĩa đó, năng lực nói chung và năng lựcnghiên cứu khoa học nói riêng của con người luôn gắn liền và không tách rời với

tổ chức lao động xã hội cùng với hệ thống giáo dục tương ứng với tổ chức đó

Năng lực nghiên cứu khoa học là khả năng và điều kiện bên trong của conngười để họ tiến hành hoạt động nghiên cứu khoa học có hiệu quả Năng lựcnghiên cứu khoa học là kết quả của sự tác động tổng hợp của các yếu tố như: trithức khoa học, khả năng nhận thức khoa học; các phẩm chất cá nhân

Nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của con người nhằm thõa mãn

nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới Nghiên cứu khoa học có vai trò quan trọngtrong tiến trình phát triển của xã hội loài người; giúp con người nhận thức ngàycàng đầy đủ, sâu sắc hơn bản chất các sự vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên,

xã hội và tư duy Đồng thời thông qua hoạt động đó, làm cho các phẩm chất, nănglực của con người ngày càng phát triển

Nghiên cứu khoa học là một quá trình diễn ra phức tạp, không ngừng giảiquyết những mâu thuẫn của sự tìm tòi, phát hiện những tri thức mới, khám phánhững nguyên lý, quy luật, con đường mới mẻ của sự phát triển Quá trình đó luônxuất hiện những giả thuyết, những ý tưởng, những xu hướng, dự báo khác nhau,thậm chí trái ngược nhau Thành công của nghiên cứu khoa học là ở chỗ tìm ra trithức mới phù hợp với sự phát triển của hiện thực, đem lại lợi ích cho con người

Trang 11

Nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của con người Kết quả đạtđược của hoạt động nghiên cứu khoa học phụ thuộc chủ yếu vào trình độ năng lựcnghiên cứu của con người Từ cách tiếp cận, phân tích trên đây có thể quan niệm:

Năng lực nghiên cứu khoa học là tổng thể các yếu tố hợp thành khả năng của con

người trong việc phát hiện và giải quyết đúng đắn những vấn đề thực tiễn, nhằmthỏa mãn nhu cầu nhận thức và hiệu quả cải tạo thực tiễn của con người

Các yếu tố cấu thành năng lực nghiên cứu khoa học là một thể thốngnhất các yếu tố về tri thức khoa học; khả năng nhận thức khoa học và phẩmchất khoa học tác động biện chứng lẫn nhau, song mỗi yếu tố có cấu trúc, vịtrí vai trò riêng của nó

Trước hết, tri thức khoa học là yếu tố cơ bản cấu thành năng lực nghiên

cứu khoa học, nó phản ánh sự hiểu biết của mỗi người về thế giới khách quan và

về chính bản thân mình, là lượng thông tin mà mỗi người lĩnh hội được trong quátrình học tập và tham gia các hoạt động Thông thường tri thức được phân loạitheo cấp độ hoặc lĩnh vực nó khái quát Xét ở phạm vi bao quát thì có tri thức về

tự nhiên, xã hội và con người Xét về trình độ khái quát, có tri thức cảm tính và trithức lý tính; tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận; tri thức tiền khoa học và trithức khoa học Căn cứ vào hoạt động sống của con người, có các dạng tri thức cơbản như: tri thức thực tiễn, tri thức lý luận khoa học và tri thức nghề nghiệp

Tri thức khoa học là yếu tố không thể thiếu đối với mọi hoạt động của conngười, nhất là hoạt động nghiên cứu khoa học nó là yếu tố căn bản Có tri thứckhoa học giúp cho con người có phương pháp tiếp cận, luận giải những vấn đề đặt

ra một cách thuận lợi nhất

Khả năng nhận thức khoa học là khả năng nhận thức thế giới của con

người, tìm con đường, biện pháp để tiếp cận, lĩnh hội tri thức và sáng tạo trithức mới Các thao tác tư duy dựa trên cơ sở quy luật của hoạt động nhậnthức, bao gồm các phương pháp cụ thể như so sánh, phân tích, tổng hợp, kháiquát hoá, trừu tượng hoá.v.v Nắm chắc, thực hiện đúng các nguyên tắc vàquy luật của tư duy đúng đắn

Khả năng nhận thức khoa học đóng vai trò quan trọng trong hoạt độngnhận thức và hoạt động nghiên cứu khoa học Nhờ nó mà con người có thể "bóctách" các mặt, các bộ phận của sự vật, hiện tượng Có phương pháp tư duy đúnggiúp cho chủ thể không vi phạm những sai lầm trong nhận thức nội dung, nghiêncứu khoa học nói riêng

Trang 12

Kết quả nhận thức khoa học là sản phẩm nhận thức của con người về quyluật của tư duy, nhưng khi được con người tiếp thu và sử dụng một cách tự giác

nó lại trở thành cơ sở bên trong quyết định đến hiệu quả của hoạt động nhận thức

và là cơ sở để xây dựng, phát triển tri thức mới Tuy nhiên, mỗi một lĩnh vựcnghiên cứu khoa học cụ thể, đòi hỏi mỗi người phải có khả năng nhận thức mới

và một phương pháp tư duy phù hợp Có khả năng nhận thức khoa học độc lập,sáng tạo là cơ sở bảo đảm cho hoạt động nghiên cứu khoa học đạt kết quả cao

Vì vậy, trong quá trình giáo dục, chủ thể giáo dục không những quan tâm trang

bị tri thức cho người học mà còn hết sức coi trọng giáo dục phương pháp, đặcbiệt là phương pháp tư duy và khả năng nhận thức khoa học

Phẩm chất khoa học thực chất là sự tổng hợp của các yếu tố cấu thành năng

lực, khả năng nghiên cứu khoa học của bản thân như: những yếu tố thuộc về tâm,sinh, lý; khả năng phát hiện, khả năng sáng tạo, tư chất năng khiếu, thiên hướngnghiên cứu độc lập của người nghiên cứu; nghiên cứu khoa học là một lĩnh vựcđặc biệt vì vậy, yêu cầu cần đúng và trung thực, mới và hay

Trong phẩm chất nghiên cứu khoa học, vấn đề khả năng sáng tạo của

người nghiên cứu khoa học có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình nghiêncứu, phát hiện và giải quyết đúng đắn, linh hoạt những vấn đề thực tiễn mớinảy sinh Nó là đặc trưng bản chất nhất của năng lực nghiên cứu khoa học Nóimột cách khác, đó là khả năng phát hiện những tri thức mới, là quá trình phủđịnh biện chứng của tri thức, làm cho nhận thức của con người ngày càngphong phú, sâu sắc, đầy đủ hơn về sự vật, hiện tượng trong thế giới kháchquan Khả năng sáng tạo là hệ quả tất yếu của sự vận động biện chứng giữa trithức sâu rộng và phương pháp tư duy khoa học Nó là một tập hợp các phẩmchất tâm lý, tư duy phức tạp trong đó bao gồm: tư chất năng khiếu, tính độclập, năng động, trí tưởng tượng, trực giác, phán đoán của tư duy, khả năng pháthiện tình huống nảy sinh cần nghiên cứu,v.v Tư chất năng khiếu là nhữngtiềm năng được phát triển, di truyền và bẩm sinh, phản ánh mức độ huy độngcác tế bào thần kinh tham gia vào các hoạt động; quy định thiên hướng, lĩnhvực sáng tạo của mỗi cá nhân Tư chất năng khiếu có vai trò quan trọng tronghoạt động sáng tạo của con người, chi phối đến quá trình phát triển năng lựcnghiên cứu khoa học của mỗi người

Trang 13

Tuy nhiên, tư chất năng khiếu chỉ có thể phát huy, phát triển trên cơ sở sựhiểu biết, lòng say mê, hứng thú, mục đích sống và hành động của mỗi con người.

Nó là cơ sở bảo đảm cho sự sáng tạo đúng đắn, hợp quy luật

Tính độc lập và năng động của tư duy cũng là những phẩm chất quan trọngcủa khả năng sáng tạo, nó đưa lại cho con người khả năng xem xét, giải quyết vấn

đề một cách tự lực, tích cực, chủ động, có cân nhắc chọn lọc Trong lĩnh vực quân

sự, tính độc lập, sáng tạo của tư duy giúp cho người chỉ huy quyết đoán, linh hoạt,sáng tạo trong xử trí các tình huống chiến đấu, vừa giữ được yếu tố bí mật về lựclượng và ý định chiến đấu của ta, vừa nghi binh, lừa địch và đưa ra những quyếtđịnh táo bạo bất ngờ giành thắng lợi cho trận đánh

Khả năng sáng tạo còn phụ thuộc vào trí tưởng tượng, trực giác, phánđoán của các nhà khoa học Đây là những yếu tố hết sức quan trọng trong hoạtđộng sáng tạo L.Đ.Bơrơi đã nhận xét: cơ sở của tất cả các thành tựu khoa họcđích thực là tưởng tượng sáng tạo và trực giác của nhà khoa học

Khả năng sáng tạo phản ánh bản chất của năng lực nghiên cứu khoa học, là

hệ quả tất yếu của quá trình phát triển trình độ tri thức và phương pháp tư duy.Đồng thời, khả năng sáng tạo góp phần tác động thúc đẩy sự phát triển của trình

độ tri thức và phương pháp tư duy của con người

Sự tác động biện chứng của các yếu tố đó làm cho nhận thức con ngườingày càng phát triển Con người ngày càng khám phá, hiểu biết đầy đủ, sâu sắchơn về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình, làm cho hoạt động thực tiễn củacon người ngày càng có hiệu quả cao hơn

Như vậy, bản chất năng lực nghiên cứu khoa học là khả năng sáng tạo củacon người Sự phát triển của năng lực nghiên cứu khoa học kết quả của sự pháttriển khả năng trình độ tri thức, phương pháp tư duy và khả năng tìm tòi sáng tạocủa mỗi con người

* Năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Trường Sỹ quan Thông tin

So với thanh niên ngoài quân đội, với quân nhân trong quân đội và họcviên các học viện, trường sĩ quan khác trong toàn quân, học viên đào tạo sĩ quancấp phân đội ở Trường Sĩ quan Thông tin mang đầy đủ những nét chung đó là: Họ

là những thanh niên có tuổi đời còn trẻ, sức khỏe tốt, có trình độ văn hóa, có khảnăng sáng tạo, đang phát triển và hoàn thiện phẩm chất nhân cách của sĩ quan; sẵnsàng vượt qua mọi khó khăn gian khổ; có ý thức bảo vệ Tổ quốc thường trực, có

Trang 14

nguyện vọng phục vụ lâu dài trong quân đội, luôn năng nổ, nhiệt tình, sáng tạo,nhạy bén với thông tin mới, sôi nổi trong thực hiện nhiệm vụ, năng động,

Song, do chưa được huấn luyện và trải nghiệm trong các hoạt độngchính trị, khoa học quân sự nên ở họ còn bộc lộ những hạn chế nhất định như:chưa đủ thi thức cần thiết và những hiểu biết phương pháp nghiên cứu khoahọc, thiếu chín chắn, bản lĩnh chính trị chưa vững vàng, khi gặp khó khăn thấtbại tạm thời dễ bi quan chán nản, thiếu kiên trì nhẫn nại; phương pháp nhậnthức đúng sai trong tiếp xúc với cái mới còn hạn chế… Mặt khác, do họ xuấtthân từ nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, sống ở nhiều vùng miền, hiểu biếtcông nghệ thông tin khác nhau nên họ mang theo những phong tục, tập quán

và những nét văn hóa đa dạng vào trường Tất cả những đặc điểm đó sẽ chiphối, tác động không nhỏ đến khả năng, trình độ, phương pháp hoạt độngnghiên cứu khoa học của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở Trường Sĩquan Thông tin hiện nay

Ngoài những nét chung nói trên, học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở

Trường Sĩ quan Thông tin còn có những nét riêng là: Học viên Sĩ quan Thông

tin là những thanh niên xuất thân từ thành thị đến nông thôn , có đủ tiêu chí về

tuổi, sức khỏe, trình độ văn hóa, năng lực nhận thức, hiểu biết lĩnh vực công nghệthông tin, có ước mơ theo học chuyên ngành công nghệ thông tinviễn thông, quacác kỳ thi được tuyển chọn vào trường sĩ quan Thông tin để đào tạo thành những

sĩ quan chỉ huy tham mưu thông tin quân sự cấp phân đội trình độ đại học; có đủphẩm chất và năng lực cần thiết trong chỉ huy, quản lý, sử dụng; biết nghiên cứu,sáng tạo và làm chủ vũ khí trang bị kỷ thuật Thông tin hiện đại đáp ứng tốt nhiệm

vụ Thông tin viễn thông tình hình mới

Về mô hình, mục tiêu, yêu cầu đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở Trường Sĩquan Thông tin được xác định: đào tạo ra những sĩ quan tương lai cấp phân độibậc đại học, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ thông tin thích ứng với mục tiêutiến thẳng lên hiện đại; có năng lực lãnh đạo, chỉ huy cấp trung đội, phát triểnlên đại đội, tiểu đoàn ở các đơn vị thông tin trong toàn quân Xuất phát từ môhình, mục tiêu, yêu cầu đào tạo đó, đòi hỏi người học viên đào tạo sĩ quan cấpphân đội phải có sự cố gắng, nỗ lực cao, tích cực, chủ động trong hoạt độngnghiên cứu, học tập, rèn luyện Mặt khác, hoạt động thông tin liên lạc là hoạtđộng cơ mật, luôn có nhiều tình huống và công nghệ mới, kẻ địch luôn tìm mọicách chống phá; lực lượng các phân đội thông tin phân tán nhỏ lẻ, phải xử lý

Trang 15

những tình huống thông tin phức tạp; thường xuyên sử dụng khối lượng trangthiết bị kỹ thuật hiện đại, có giá trị kinh tế cao Với chức năng lãnh đạo, chỉhuy đòi hỏi người sĩ quan thông tin cấp phân đội có bản lĩnh chính trị kiênđịnh; phẩm chất đạo đức, lối sống mẫu mực, vững vàng về tâm lý, ý thức tổchức kỷ luật nghiêm; có năng lực chỉ huy và trình độ nghiệp vụ thông tin vững,làm chủ trang bị thiết bị kỹ thuật thông tin hiện đại, khả năng nghiên cứu, sángtạo bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt trong mội tình huống.

Ở học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội, hoạt động nghiên cứu khoa học ở

họ còn mới mẻ, chủ yếu rèn cho họ phương pháp tiếp cận vấn đề, tập dượt nghiêncứu; bởi nghiên cứu khoa học là một hoạt động đặc biệt, đòi hỏi người học cả vềtrình độ tri thức, khả năng nhận thức và phẩm chất cần thiết; đặt ra thường xuyên

và cấp thiết đối với các chủ thể giáo dục của nhà trường trong việc phát triển nănglực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội nói riêng

Từ cách hiểu trên, bước đầu quan niệm: Năng lực nghiên cứu khoa học của

học viên Trường sĩ quan Thông tin là tổng hợp các phẩm chất tâm, sinh lý, tri thức, khả năng và phẩm chất khoa học cần thiết của học viên đảm bảo cho họ thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ học tập và nghiên cứu khoa học đáp ứng yêu cầu đào tạo của Nhà trường và Binh chủng.

* Các yếu tố cấu thành năng lực nghiên cứu khoa học của học viên

Cũng như mọi năng lực khác, năng lực nghiên cứu khoa học không phải làmột yếu tố đơn nhất, hay sự cộng lại giản đơn của các yếu tố chủ quan, mà là sựthống nhất hữu cơ của các yếu tố Các yếu tố đó luôn tác động biện chứng, làmtiền đề và điều kiện cho nhau, chúng có vai trò, vị trí khác nhau trong năng lựcnghiên cứu khoa học của học viên Các yếu tố cơ bản quy định sự phát triển nănglực nghiên cứu khoa học của học viên ở trường Sĩ quan Thông tin bao gồm:

Tri thức khoa học: Là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống

nhờ có phương pháp hoạt động khoa học, các hoạt động nầy có mục tiêu xácđịnh và sử dụng phương pháp khoa học Không giống như tri thức kinh nghiệm,tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm

và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên Trithức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học(discipline) như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,…

Tri thức khoa học là yếu tố cơ bản, cốt lõi quyết định trực tiếp đến nănglực nghiên cứu khoa học Trình độ tri thức đó là mức độ nông, sâu về sự hiểu

Trang 16

biết, nắm bắt quy luật vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Trình

độ tri thức là nói đến số lượng và chất lượng thông tin mà chủ thể thu nhận vàtích luỹ được trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn Đây là vốn hiểubiết toàn diện mà người học viên tích luỹ được, là nền tảng để hình thành, pháttriển năng lực nghiên cứu khoa học của người học viên, vốn tri thức hiểu biếttoàn diện, ngày càng sâu sắc và được cập nhật, bổ sung thường xuyên sẽ là tiền

đề giúp cho học viên có khả năng thích nghi với mọi điều kiện, hoàn cảnh vàphát triển năng lực nghiên cứu khoa học đáp ứng sự vận động, phát triển khôngngừng của thực tiễn

Tri thức cấu thành năng lực nghiên cứu khoa học của học viên hết sứcphong phú, bao gồm cả kiến thức về tự nhiên, xã hội và tư duy Song do đặc thùcủa khoa học xã hội và nhân văn quân sự, nên những kiến thức đặc trưng cấuthành năng lực nghiên cứu khoa học của học viên trước hết là tri thức lý luậnkhoa học, là vốn hiểu biết về lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, quan điểm, đường lối của Đảng, các vấn đề kinh tế, chính trị - xã hội,khoa học, kỹ thuật và công nghệ; kiến thức về lĩnh vực chuyên ngành, khả nănghiểu biết kiến thức liên ngành

Hoạt động nghiên cứu khoa học của người học viên là một thực tiễn vôcùng sinh động và đa dạng, luôn đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ, tình huống cầnphải giải quyết Cùng với những hiểu biết về trình độ lý luận, kinh nghiệm trongnghiên cứu có ý nghĩa sâu sắc giúp con người vận dụng những hiểu biết đã đượctích lũy trong quá trình nhận thức trước đó để giải quyết một cách khá hiệu quảnhiều vấn đề mới nảy sinh, nhiều nhiệm vụ trước mắt, cụ thể do thực tiễn đặt ra.Đồng thời, tính trực tiếp của kinh nghiệm góp phần loại bỏ những giải pháp khôngphù hợp mà tư duy lý luận đặt ra

Trong năng lực nghiên cứu khoa học của học viên, kinh nghiệm đóngvai trò kết nối, thu hẹp khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn Những tri thứckhoa học có mức độ trừu tượng hóa và khái quát rất cao nhưng trong thực tiễnhầu như hoàn toàn không có khảng cách, khoảng cách này có thể được lấp đầynhờ tư duy kinh nghiệm

Mặt khác, tri thức tổng hợp cấu thành năng lực nghiên cứu khoa học củahọc viên còn bao hàm vốn kiến thức hiểu biết về lý luận và phương pháp luậnnghiên cứu khoa học, bao gồm cả kiến thức về lý thuyết và kinh nghiệm nghiêncứu; kiến thức, kỹ năng thu thập và xử lý thông tin trong hoạt động nghiên cứu

Trang 17

Đây là những kiến thức đóng vai trò rất quan trọng trong nâng cao trình độ nănglực nghiên cứu khoa học của học viên, định hướng và nâng cao chất luợng, hiệuquả hoạt động thực tiễn nghiên cứu khoa học của mỗi học viên.

Khả năng nhận thức khoa học: Ở học viên trong suốt quá trình nghiên

cứu, học tập và đào tạo trong nhà trường đều có thể đạt được Tuy nhiên, ởmức độ khác nhau Cùng với khả năng nhận thức khoa học thì khả năng phát

hiện vấn đề nghiên cứu cũng là một thành tố hết sức quan trọng cấu thành năng lực nghiên cứu khoa học của học viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự.

Khả năng phát hiện vấn đề trong nghiên cứu khoa học là sản phẩm quan trọng,kết tinh tổng hợp của cả tư duy khoa học, nhãn quan chính trị đúng đắn và sựnhạy bén, sắc sảo trong quan sát đối tượng nghiên cứu của người học viên; nóđược hình thành trên cơ sở khối lượng tri thức tổng hợp, trình độ tư duy lí luận,kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, nhãn quan chính trị đúng đắn của người họcviên và chịu sự chi phối bởi định hướng chính trị trong nghiên cứu khoa học

Phẩm chất khoa học: Trong nghiên cứu khoa học thì phẩm chất khoa

học là vấn đề cần phải được đặt lên hàng đầu Ví như một công trình khoa họccần có là ba phẩm chất: đúng và trung thực, mới và hay Người làm khoa học

và nghiên cứu khoa học phải xác định tìm cái gì mới, tìm hướng đi mới, khônglặp lại Ở nhiều lĩnh vực, phương pháp nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, kếtquả nghiên cứu phải mới Với kết quả nghiên cứu mới sẽ được coi trọng nhất,thậm chí nếu trong trường hợp kết quả cũ thì cũng phải xem lại có đượcphương pháp mới để thuyết phục phương pháp này tới nhiều người khi ápdụng Để hi vọng với phương pháp mới đó tác giả hoặc người khác có thể làm

ra kết quả mới, vì bản thân phương pháp mới không được đánh giá và khôngđược để ý đến, trừ khi chỉ tìm ra được kết quả mới Mặt khác, cần phải đặc biệtcoi trọng sự đánh giá của đồng nghiệp

Để có sự đánh giá chính xác, nghiên cứu khoa học không cần phải chạy theo

số lượng Bên cạnh đó, chúng ta cần phải xác định cho mình những mục tiêu nghiêncứu ngắn hạn bên cạnh mục tiêu dài hạn Hiện nay có nhiều học viên, sinh viên vẫncho rằng, khó nhất là tìm đề tài cho mình Điều này càng khó hơn đối với nhà khoahọc trẻ, với những học viên bước đầu tập dượt về phương pháp nghiên cứu trước bốicảnh khoa học hiện đại cạnh tranh rất quyết liệt Bước khó khăn đối với nhà khoa họctrẻ là có bước qua được khi làm khoa học tập sự độc lập hay không

Trang 18

Ngoài những phẩm chất khoa học cần thiết trên, tính tích cực, sự hứng thúsay mê, trình độ kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng nghiên cứu, kinh nghiệm vốn sốngcũng là nhân tố có vai trò quyết định đến sự phát triển năng lực nghiên cứu khoahọc của họ Để phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên, môitrường nghiên cứu khoa học là yếu tố không thể thiếu Môi trường nghiên cứukhoa học của học viên là sự kết hợp của nhiều yếu tố: cơ sở vật chất, phươngtiện, trang thiết bị, năng lực lãnh đạo, quản lý của cấp uỷ, chỉ huy các cấp; nănglực bảo đảm các điều kiện cho hoạt động nghiên cứu khoa học của học viên; cơchế, chính sách trong quản lý; sự liên kết, phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị vàcác tập thể khoa học; bầu không khí dân chủ, mối quan hệ hợp tác trong nghiêncứu của học viên v.v

Xét về mặt không gian, môi trường nghiên cứu khoa học của học viên liên

hệ và gắn bó chặt chẽ với môi trường sư phạm, môi trường văn hoá, vừa mangnhững nét chung của một nhà trường đại học quân sự, vừa mang những dấu ấnriêng của lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn quân sự Môi trườngnghiên cứu có sự tác động sâu sắc đến tư duy nhận thức, sự sáng tạo và cả thái độ,động cơ tích cực của học viên đối với hoạt động nghiên cứu khoa học, có thể thúcđẩy hoặc kìm hãm hoạt động nghiên cứu khoa học của học viên theo chiều hướngtích cực hoặc tiêu cực

Việc xác lập và tổ chức thực hiện cơ chế hoạt động nghiên cứu khoa học làtrách nhiệm của Đảng uỷ, Ban giám hiệu nhà trường, cơ quan chức năng và cáckhoa giáo viên Cơ chế hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường được xáclập và tổ chức thực hiện sẽ trực tiếp tác động đến sự vận hành các hoạt động của

bộ máy quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đồng thời, tác động mạnh mẽ tớithái độ tích cực tự giác, say mê, tính sáng tạo của mỗi học viên đối với hoạt độngnghiên cứu khoa học

Điều kiện, cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu Cơ sở vật chất phương tiệndạy học có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hiệu quả của quá trình dạy học vànghiên cứu khoa học Cơ sở vật chất phương tiện hiện đại cho phép phát huy tối

đa tác dụng trong việc cung cấp thông tin, nhanh chóng, chính xác, tăng thêmhướng thú trong việc nghiên cứu và triển khai thực tiễn sáng kiến và đề tài nghiêncứu khoa học của học viên Cơ sở vật chất, phương tiện dạy học ở Trường sĩ quanThông tin liên quan trực tiếp đến hoạt động nghiên cứu khoa học của học viênkhoa học xã hội và nhân văn quân sự bao gồm hệ thống giảng đường, thư viện,

Trang 19

sách báo, tạp chí, tài liệu, phim huấn luyện, hệ thống máy tính, trang thiết bị kỷthuật thông tin, hệ thống đèn chiếu…

Cơ sở vật chất, phương tiện dạy học có ảnh hưởng rất rõ tới chất lượnghiệu quả quá trình nghiên cứu khoa học của học viên Vì cơ sở vật chất, trangthiết bị dạy học tạo nền móng cho quá trình học tập và nghiên cứu khoa học củahọc viên được tốt Cơ sở vật chất phương tiện dạy học quy định thao tác củangười học viên trong hoạt động nghiên cứu, giúp cho người học viên thực hiệncác đề tài tiết kiệm được thời gian nhưng vẫn đạt hiệu quả cao, rèn luyện được

kỹ xảo, kỹ năng thực hành, tăng thêm độ tin cậy, hứng thú dễ nhớ, dễ hiểu trongquá trình học tập, nghiên cứu

1.1.2 Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Trường sĩ quan Thông tin

Phát triển, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng là quá trìnhvận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến ngàycàng hoàn thiện hơn

Theo đó, có thể hiểu phát triển năng lực nghiên cứu khoa học là tổng hợp

các hoạt động của chủ thể, các quá trình vận động đi lên và chuyển hóa về chất của các yếu tố tri thức khoa học, khả năng nhận thức và phẩm chất khoa học đáp ứng yêu cầu phát hiện và giải quyết đúng đắn những vấn đề thực tiễn đặt ta

Dấu hiệu đặc trưng cơ bản xác định sự phát triển của năng lực nghiên cứukhoa học là ở tính quy định mới cao hơn về chất của cả khả năng trình độ tri thức,phương pháp tư duy và khả năng sáng tạo, đặc biệt là khả năng sáng tạo ra hệthống tri thức mới

Để xem xét, đánh giá sự phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của mộtđối tượng cụ thể cần phải nắm được thực trạng ban đầu của nó, lấy đó làm cơ sở

để tiến hành so sánh và đánh giá sự phát triển về chất của cái mới Trên cơ sở thựctrạng ban đầu ấy, cùng với đặc điểm, yêu cầu của lĩnh vực hoạt động, yêu cầu cầnđạt được của sự phát triển để làm rõ đặc trưng, làm rõ khái niệm, xác định tiêu chí

và đề ra giải pháp cụ thể phát triển các yếu tố cấu thành năng lực nghiên cứu khoahọc một cách hợp lý

Xuất phát từ những yếu tố cấu thành năng lực nghiên cứu khoa học của học

viên Trường sĩ quan Thông tin; bước đầu quan niệm: Phát triển năng lực nghiên

cứu khoa học của học viên Trường sĩ quan Thông tin là tổng thể các hoạt động của chủ thể; là quá trình vận động đi lên, chuyển hóa về chất của các yếu tố cấu

Trang 20

thành năng lực nghiên cứu khoa học của học viên thông qua sự tác động hợp quy luật của các chủ thể, đảm bảo cho họ thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ học tập và nghiên cứu khoa học, đáp ứng yêu cầu đào tạo của Nhà trường và Binh chủng.

Mục đích nghiên cứu khoa học của học viên là góp phần nâng cao chất

lượng đào tạo; Tiếp cận và vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học;Giải quyết một số vấn đề khoa học và thực tiễn Là những học viên bước đầutập dượt, làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học thì học hỏi kinhnghiệm từ những người thầy là nội dung cần thiết Chính vì vậy, mục đích củaphát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên là quá trình hiện thực hóacác phẩm chất và khả năng nghiên cứu của họ và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụhọc tập, nghiên cứu, đáp ứng yêu cầu đào tạo của Nhà trường và Binh chủng

Từ thực tiễn hoạt động nghiên cứu khoa học sẽ giúp cho học viên cóthêm kinh nghiệm để có khả năng độc lập nghiên cứu sau này Kết quả nghiêncứu sẽ làm cho học viên nắm chắc bài giảng của thầy và tự tin hơn về những

gì trong thực tế còn thiếu

Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đại học ởTrường sĩ quan Thông tin là một vấn đề hết sức quan trọng Nó là kết quả quá

trình phát triển của chủ thể, với những nội dung tương ứng và phương pháp phù

hợp góp phần nâng cao chất lượng học tập, rèn luyện của học viên trong quá trình giáo dục, đào tạo ở nhà trường; điều kiện, môi trường nghiên cứu khoa học thuận lợi cũng như quá trình công tác của người chỉ huy cấp phân đội binh chủng

Thông tin sau khi tốt nghiệp Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của họcviên Trường sĩ quan Thông tin là quá trình tự giác, thông qua vai trò tác động tíchcực, hợp quy luật của các chủ thể, quá trình rèn luyện và khả năng tự học tập,nghiên cứu, rèn luyện của học viên

Chủ thể phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên là cơ

quan quản lý, đơn vị, các khoa, Nội dung hướng đến sự phát triển toàn diện

về trình độ tri thức, học viên phát triển toàn diện, nhất là trang bị những kiếnthức cơ bản, nền tảng về phương pháp nghiên cứu, kiến thức chuyên ngành;khả năng nghiên cứu và sáng tạo trong chuyên môn, nghiệp vụ thông tin;phẩm chất khoa học cần thiết

Bằng nhiều hình thức nghiên cứu thông quá trình trình dạy học; quá

trình tự học, tự nghiên cứu, thu tập tài liệu đến thực hành viết tham luận khoahọc, viết báo, viết chuyên đề, tham gia các đề tài nghiên cứu các cấp, các buổi

Trang 21

hội thảo khoa học nhằm tạo ra phong trào nghiên cứu khoa học sâu rộng trongtoàn trường Điều kiện, môi trường nghiên cứu thuận lợi sẽ góp phần tích cựchóa nhân tố người học viên trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu cũng nhưthực tiễn công tác ở các đơn vị Thông tin trong Binh chủng và Quân đội.

Thực chất nâng cao chất lượng học tập, rèn luyện của học viên đào tạo bậcđại học ở Trường sĩ quan Thông tin là quá trình phát triển ở người học cả về trình

độ tri thức, năng lực tư duy sáng tạo, phẩm chất, đạo đức cách mạng, thế giới quankhoa học, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa; cả năng lực chỉ huy, quản lý và tổchức thực hiện…; đáp ứng ngày càng tốt hơn mục tiêu, yêu cầu đào tạo Sự pháttriển đó là kết quả tác động của nhiều yếu tố cả điều kiện khách quan và nhân tốchủ quan Đặc biệt trước yêu cầu của quá trình học tập có tính chất nghiên cứu,vai trò của nhân tố chủ quan trong đó có năng lực nghiên cứu khoa học của họcviên hết sức quan trọng Vai trò đó được thể hiện trên các mặt cơ bản dưới đây

Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học góp phần quan trọng, nâng cao phương pháp tiếp thu, lĩnh hội tri thức và phát triển tri thức mới của học viên.

Phương pháp tiếp thu, lĩnh hội tri thức là cách thức, con đường tiếp cận, lĩnh hộitri thức Có phương pháp tốt sẽ bảo đảm cho quá trình tiếp thu, lĩnh hội tri thứccủa học viên nhanh chóng và vững chắc, biến tri thức của thầy, của sách vở thànhtri thức của bản thân mình

Với chất lượng "đầu vào" của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩquan Thông tin hiện nay, việc phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của họcviên là một cơ sở quan trọng bảo đảm cho học viên xây dựng được phương pháptiếp thu, lĩnh hội tri thức một cách khoa học, phù hợp, tích cực, chủ động, sángtạo, khắc phục lối học thuộc lòng, rập khuôn, máy móc Trước những vấn đề củanhận thức học viên không bị thụ động mà luôn tìm cách lập luận lý giải một cáchlôgíc chặt chẽ để nắm vững bản chất của vấn đề

Thực tiễn giảng dạy ở Trường sĩ quan Thông tin cho thấy, những học viên

có năng lực nghiên cứu khoa học tốt, tham gia tích cực các hoạt động nghiên cứukhoa học, các cuộc thi sáng tạo, ứng dụng, tích cực tranh luận, trao đổi trong quátrình học tập, họ thường xây dựng được cho mình phương pháp tiếp thu, lĩnh hộitri thức phù hợp với nội dung của các môn học, bảo đảm cho họ có khả năng nắmbắt tri thức nhanh chóng và vững chắc Sau mỗi bài giảng của giảng viên, học viên

có khả năng khái quát được nội dung, xác định những vấn đề cần tập trungnghiên cứu, bổ sung trong quá trình tự học

Trang 22

Trong quá trình nghiên cứu tài liệu, họ có khả năng khái quát nắm vữngthực chất vấn đề, có khả năng tái hiện và vận dụng phù hợp vào giải quyết cácvấn đề trong học tập cũng như các hoạt động khác Đặc biệt những học viên cónăng lực nghiên cứu khoa học tốt thường trong các bài thi, kiểm tra hay trình bàymột vấn đề nào đó, họ luôn định hình được cách sắp xếp, trình bày thứ tự nộidung một cách lôgíc, chặt chẽ, mạch lạc, cân đối, xác định được vấn đề trọngtâm, trọng điểm, những vấn đề cần thiết phải đầu tư thích đáng để làm rõ, ít bịtrùng lắp hoặc bỏ sót nội dung trong quá trình diễn đạt tri thức của mình Đồngthời với năng lực nghiên cứu khoa học, học viên không chỉ dừng lại ở việc tiếpthu, lĩnh hội tri thức được trang bị mà tiếp tục nghiên cứu phát triển tri thức mới,hiểu biết mới, làm cho nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn Bảo đảmcho họ có được một hệ thống tri thức "cơ bản, hệ thống, thống nhất chuyên sâu"

Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn hoạt động khoa học, tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ trong quá trình học tập, rèn luyện của học viên Tổ chức thực tiễn thực hiện các nhiệm vụ

là một tiêu chí quan trọng đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học viên trongquá trình giáo dục, đào tạo ở Nhà trường Kết quả đạt được của tổ chức hoạtđộng thực tiễn, thực hiện nhiệm vụ của học viên không chỉ phụ thuộc vào trình

độ tri thức mà còn chịu sự chi phối rất lớn bởi khả năng, cách thức, biện pháp tổchức thực hiện của họ Hay nói một cách khác, nó còn phụ thuộc vào khả năngbao quát công việc, khả năng xem xét, đánh giá đúng đắn những thuận lợi, khókhăn, xu hướng vận động phát triển của nhiệm vụ; trên cơ sở đó xác định yêucầu, nội dung, biện pháp cụ thể trong quá trình tổ chức thực hiện Đặc biệt trong

tổ chức thực tiễn thực hiện nhiệm vụ thường nảy sinh những vấn đề mới, ngoài

dự kiến, trong những tình huống đó, kết quả thực hiện nhiệm vụ của học viênphụ thuộc chủ yếu vào khả năng phán đoán, khả năng sáng tạo của họ trongnghiên cứu, xem xét nắm vững bản chất vấn đề, xác định nhiệm vụ trọng tâm,,khâu đột phá và những giải pháp cụ thể trong tổ chức thực hiện

Như vậy, có thể nói: thực chất tổ chức thực tiễn thực hiện nhiệm vụ trongquá trình học tập là quá trình học viên vận dụng tri thức đã được lĩnh hội vào tổchức thực hiện các nhiệm vụ Năng lực tổ chức thực tiễn, kết quả thực hiện cácnhiệm vụ trong quá trình học tập của học viên phụ thuộc vào trình độ tri thức,phương pháp tư duy và khả năng vận dụng tri thức vào giải quyết từng nhiệm vụ

cụ thể Vì vậy phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên luôn là yếu tố

Trang 23

quan trọng, nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn, thực hiện các nhiệm vụ của họcviên trong quá trình giáo dục, đào tạo ở Nhà trường.

Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học là một yếu tố quan trọng, tạo thành động lực bên trong kích thích tính tích cực, chủ động sáng tạo của học viên trong quá trình học tập rèn luyện Năng lực nghiên cứu khoa học càng phát triển,

khả năng sáng tạo của học viên được nâng lên, càng thôi thúc họ say mê tìm tòi,khám phá tri thức mới, tranh thủ thời gian học tập, rèn luyện phát triển, hoàn thiệnphẩm chất, năng lực của mình

Bên cạnh những vai trò trên đây, phát triển năng lực nghiên cứu khoa họccủa học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Thông tin còn có vai trò đối vớiviệc hoàn thành nhiệm vụ của người chỉ huy cấp phân đội binh chủng Thông tin

Học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Thông tin sẽ là nhữngngười chỉ huy cấp phân đội binh chủng Thông tin sau khi tốt nghiệp ra trường.Đặc trưng cơ bản hoạt động của họ vừa là người chỉ huy, quản lý bộ đội, quản lý

cơ sở vật chất, vũ khí, trang thiết bị kỷ thuật Thông tin vừa là người tổ chức giáodục, huấn luyện, tổ chức chỉ huy chiến đấu và thực hiện các nhiệm vụ khác củađơn vị Những hoạt động đó đòi hỏi phải có trình độ khoa học Người chỉ huy phải

có năng lực nghiên cứu khoa học mới có thể nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm

vụ của mình Hiện nay, do sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học vàcông nghệ hiện đại; do yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và chiến đấu củaquân đội; trước sự chống phá quyết liệt của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thùđịch đứng đầu là Mỹ; sự tác động của mặt trái cơ chế thị trường, vì vậy, phát triểnnăng lực nghiên cứu khoa học của học viên càng có ý nghĩa quan trọng Nó là mộttrong những cơ sở để người chỉ huy cấp phân đội binh chủng Thông tin nâng caochất lượng quản lý, giáo dục bộ đội, quản lý và sử dụng trang thiết bị kỷ thuậtThông tin; nâng cao chất lượng tổ chức huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiếnđấu; kịp thời phát hiện và làm vô hiệu hoá âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻthù, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụđược giao

1.2 Đặc điểm phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Trường sĩ quan Thông tin

Chất lượng học tập, rèn luyện của học viên là kết quả của quá trình giáodục, đào tạo; là sự phản ánh mức độ phấn đấu và kết quả đạt được của học viêntrong học tập, rèn luyện so với mục tiêu, yêu cầu đào tạo đã được xác định Đối

Trang 24

với học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Thông tin, trên cơ sở quán triệtNghị quyết số 20-NQ/TW về lãnh đạo công tác khoa học, công nghệ và môitrường đến năm 2020 và những năm tiếp theo của Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khoá XI ban hành ngày 01/11/2012; Nghị quyết số 791-NQ/QUTW ngày30/12/2012 Quân uỷ Trung ương ban hành về lãnh đạo công tác khoa học, côngnghệ và môi trường trong quân đội đến năm 2020 và những năm tiếp theo Binhchủng Thông tin liên lạc tiếp tục đẩy mạnh hiện đại hóa hệ thống thông tin quân

sự, thực hiện chủ trương đi tắt, đón đầu, đi thẳng vào kỹ thuật hiện đại, xây dựngBinh chủng Thông tin liên lạc “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” Ngày13/8/2013 Chính phủ quyết định thành lập Trường Đại học Thông tin liên lạc trên

cơ sở Trường Sĩ quan Thông tin; Nhà trường xây dựng và triển khai thực hiệnChiến lược xây dựng, phát triển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Xuất phát

từ yêu cầu nhiệm vụ giáo dục - đào tạo trong tình hình mới, Đảng ủy Nhà trường

đã ra Nghị quyết chuyên đề số 242 NQ/ĐU ngày 9/7/2012 về lãnh đạo đổi mới,

nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học

Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Trường Sĩ quanThông tin là quá trình vận động phát triển các nhân tố bên trong của người họcviên với điều kiện khách quan của quá trình nghiên cứu khoa học như: mục tiêuyêu cầu, nội dung, chương trình, điều kiện vật chất bảo đảm cho quá trình nghiêncứu khoa học Học viên là chủ thể của quá trình phát triển năng lực nghiên cứukhoa học, phát huy nhân tố chủ quan, tính tích cực, sáng tạo, nâng cao hiệu quảtác động những điều kiện khách quan vào quá trình phát triển năng lực nghiên cứukhoa học của mình Đó chính là qui trình tác động biện chứng giữa điều kiệnkhách quan và nhân tố chủ quan của quá trình phát triển năng lực nghiên cứu khoahọc của học viên Qui trình đó tác động tạo ra mối quan hệ tất yếu, thường xuyêntrong quá trình giáo dục và đào tạo, ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển nănglực nghiên cứu khoa học của học viên Từ góc độ đó cho thấy phát triển năng lựcnghiên cứu khoa học của học viên Trường Sĩ quan Thông tin phụ thuộc vào một

số đặc điểm có tính qui luật sau:

1.2.1 Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên là một quá trình nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới nội dung với đổi mới phương pháp đào tạo của nhà trường

Trường Sĩ quan Thông tin là trung tâm đào tạo sĩ quan chỉ huy tham mưuThông tin cấp phân đội của Binh chủng Thông tin, có nhiệm vụ đào tạo học viên

Trang 25

phân đội bậc đại học, trang bị trình độ lý luận chính trị, xây dựng phẩm chất đạođức, năng lực thực hành nghiệp vụ kỷ thuật Thông tin của người sĩ quan tươnglại Do đó, vấn đề phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên luônđược coi trọng, là một nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động nghiên cứu khoahọc của nhà trường Học viên cơ bản đều được lựa chọn từ kỳ thi tuyển sinh Đại

đa số có những phẩm chất và năng lực cần thiết đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giáodục, đào tạo cũng như nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của Nhà trường Phươngchâm đào tạo của nhà trường là “cơ bản, hệ thống, thống nhất, chuyên sâu”,không chỉ đáp ứng mục tiêu yêu cầu đào tạo chung mà còn có ý nghĩa quantrọng đối với tiềm năng nghiên cứu khoa học sau này Đặc biệt là nội dung,chương trình các môn khoa học xã hội nhân văn được xem là cơ sở trực tiếp đểphát huy các yếu tố năng lực nghiên cứu khoa học Đây là những điều kiện, tiền

đề thuận lợi đảm bảo cho quá trình phát triển năng lực nghiên cứu khoa học củahọc viên Trường Sĩ quan Thông tin

Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên luôn chịu chi phốinhân tố chủ quan, trong đó nhận thức về yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học

là vấn đề xuyên suốt, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển năng lực nghiên cứu khoahọc của học viên

Yêu cầu và nhiệm vụ nghiên cứu khoa học có ý nghĩa quan trọng trong quátrình phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên, là phương hướng hoạtđộng cơ bản của chủ thể và các lực lượng tham gia vào quá trình nghiên cứu khoahọc Yêu cầu, nhiệm vụ qui định phương hướng xác định việc lựa chọn các đề tài,các công trình khoa học và sáng kiến, cải tiến kỷ thuật để nghiên cứu Nghị quyết86/NQ-ĐUQSTW xác định mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục đào tạo và nghiên cứukhoa học ở các trường Quân đội trong tình hình mới; Đào tạo trình độ đại học cóphẩm chất chính trị vững vàng và đạo đức cách mạng trong sáng, có trình độ cao

về lý thuyết, có khả năng nghiên cứu độc lập và năng lực thực hành, có trình độngoại ngữ tương ứng Gắn đào tạo cán bộ đầu ngành với nghiên cứu khoa học,nghệ thuật quân sự và khoa học quân sự, nhất là với việc phục vụ các chươngtrình trọng điểm của Bộ Quốc phòng

Căn cứ vào Nghị quyết, chỉ thị của cấp trên và thực tiễn công tác giáo dục

và đào tạo và nghiên cứu khoa học của Nhà trường, Nghị quyết 242 NQ/ĐU Đảng

bộ nhà trường ngày 9/7/2012 và kế hoạch nghiên cứu khoa học 2015; định hướngđến năm 2020 đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục và đào tạo là “Tiếp tục đổi

Trang 26

mới nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo sát với yêu cầu thực tiễn đơn vị cơ sở

và đối tượng tác chiến Coi trọng chất lượng đào tạo toàn diện các cấp học, bậchọc, bảo đảm học viên ra trường có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, cónăng lực và sức khoẻ hoàn thành chức trách nhiệm vụ theo mục tiêu, yêu cầu đàotạo” Trên cơ sở chỉ đạo của Đảng uỷ Nhà trường về nhiệm vụ nghiên cứu khoahọc, "mở rộng đối tượng, phạm vi, quy mô nghiên cứu phù hợp nhu cầu phát triểncủa thực tiễn, phát huy cao nhất tiềm năng nghiên cứu trong đội ngũ cán bộ, giảngviên, học viên Nhà trường Kết hợp chặt chẽ nghiên cứu lý luận với nghiên cứuthực nghiệm, nghiên cứu chế thử Đổi mới công tác tổ chức quản lý, phương phápthực hiện; nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng các đề tài, sáng kiến; đa dạngcác sản phẩm nghiên cứu; tạo sự chuyển biến vững chắc, toàn diện về công tácnghiên cứu khoa học, phát huy hết tiềm năng nghiên cứu khoa học trong Nhàtrường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, xây dựng Nhà trườngtrở thành trường điểm trong hệ thống các nhà trường trong Quân đội"

Nhận thức rõ yêu cầu và nhiệm vụ nghiên cứu khoa học là cơ sở cho họcviên phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển trình độ tri thức, khảnăng tư duy và tính sáng tạo lên tầm cao mới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của nhàtrường Giải quyết mối quan hệ tác động giữa năng lực nghiên cứu khoa học củahọc viên với yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trong tình hình mới; đồngthời giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới nội dung với đổi mới phương phápđào tạo của nhà trường Đây là nội dung được xác định như một trong các vấn đề

có tính quy luật và được biểu hiện trên các mặt sau:

Khả năng nhận thức của học viên về nhiệm vụ phát triển năng lực nghiên cứu khoa học và phát triển tri thức toàn diện cho học viên ở Trường Sĩ quan Thông tin Nhận thức của học viên bước đầu về phát triển năng lực nghiên cứu

khoa học còn có mức độ khác nhau, không đồng đều, do đó phải nâng cao nhậnthức cho họ về vấn đề này Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ; “Tư tưởngđúng thì hành động mới khỏi sai lạc và mới làm tròn nhiệm vụ cách mạng được”

Vì vậy, nâng cao nhận thức về nhiệm vụ phát triển năng lực nghiên cứu khoa họccho học viên, có nhận thức đúng họ mới có niềm tin, có ý chí và có hành độngđúng, nếu không có nhận thức đúng thì trong quá trình nghiên cứu sẽ dẫn đến chủnghĩa kinh nghiệm, thiếu cơ sở khoa học và vấn đề nghiên cứu kết quả không cao

Trong quá trình hoạt động nghiên cứu khoa học cần phát hiện những vấn

đề mâu thuẫn giữa cơ sở lý luận với thực tiễn nghiên cứu khoa học, tìm ra khuynh

Trang 27

hướng phát triển của vấn đề khoa học, thấy được tính tất yếu của yêu cầu, nhiệm

vụ của nhà trường Vì vậy, đòi hỏi phải có phẩm chất tư duy nhanh, nhạy, linhhoạt; có sự nghiên cứu sâu sắc thì mới có thể khái quát thực tiễn thành lý luận,mới phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học đạt kết quả tốt Thông qua tựhọc, tự nghiên cứu khoa học, rèn luyện năng lực phát hiện các vấn đề trong nghiêncứu,…thì mới đánh giá đúng, chính xác được phát triển năng lực nghiên cứu khoahọc của học viên ở Trường Sĩ quan Thông tin hiện nay Quá trình tự học, tựnghiên cứu của học viên mới phát huy được tính độc lập, sáng tạo, mới phát triểnnăng lực nghiên cứu khoa học của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Nănglực của người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do côngtác, do luyện tập mà có” [22, tr.280] Như vậy, trong hoạt động thực tiễn của họcviên một mặt phải tự rèn luyện, mặt khác phải quán triệt tốt nguyên tắc thống nhấtgiữa lý luận với thực tiễn, thấy rõ mối quan hệ giữa lý luận đối với thực tiễn, đó làbiện chứng của quá trình học tập và thực hành nghiên cứu khoa học

Nhận thức đầy đủ về mối quan hệ giữa yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứu khoahọc của nhà trường với phát triển tri thức toàn diện nhằm phát huy tất cả các nhân

tố sẵn có của người học viên, tự nghiên cứu, tự học tập nâng cao năng lực nghiêncứu khoa học và phát triển các nhân tố động lực lên mức độ cao hơn đáp ứng mụctiêu, nhiệm vụ của Nhà trường trong tình hình mới

Nhận thức rõ sự tác động từ nội dung chương trình, kế hoạch giáo dục và đào tạo của Nhà trường đến quá trình phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Nội dung, chương trình, kế hoạch là yếu tố cơ bản có mối quan hệ

hữu cơ với các yếu tố phát triển năng lực nghiên cứu khoa học từ trình độ tri thức,khả năng tư duy và tính sáng tạo đến phương pháp giảng dạy của đội ngũ giảngviên của nhà trường Mối quan hệ này tạo nền tảng vững chắc nhằm hoàn thànhmục tiêu yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhàtrường Mối quan hệ này quy định khả năng tiếp nhận tri thức của người học vàviệc lựa chọn phương pháp, phương tiện trong giảng dạy, thời gian tiến hành vàkhả năng hoàn thành nhiệm vụ của giảng viên Bởi vì, nội dung, chương trình, kếhoạch là điều kiện để các yếu tố năng lực nghiên cứu khoa học thể hiện khả năngthực hiện nhiệm vụ, từ đó tạo tiền đề cho sự phát triển năng lực nghiên cứu khoahọc của học viên Ngược lại, nếu có năng lực nghiên cứu khoa học mà không cónội dung để thực hiện thì năng lực nghiên cứu khoa học cũng không được bộc lộ

Trang 28

Mục tiêu yêu cầu và nhiệm vụ của nhà trường phản ánh tập trung yêu cầu

xã hội và yêu cầu xây dựng quân đội trong giai đoạn mới Chính vì vậy, nhu cầunghiên cứu khoa học của nhà trường có những đặc thù riêng của một binh chủng

kỷ thuật tiến thẳng lên hiện đại Để đạt được mục tiêu nhiệm vụ của nhà trường,học viên không ngừng phấn đấu về mọi mặt, nâng cao trình độ kiến thức, chuyênmôn nghiệp vụ, rèn luyện phương pháp tư duy và tính nhạy bén sáng tạo, làm tốtcông tác nghiên cứu khoa học, hoàn thiện phẩm chất, năng lực công tác của ngườihọc viên sau khi tốt nghiệp ra trường

Hiện nay, trước yêu cầu xây dựng quân đội ngày càng cao đòi hỏi sự kếthợp các yếu tố này ngày càng chặc chẽ, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình tácđộng đến các yếu tố đó phát triển Cho nên, phát triển năng lực nghiên cứu khoahọc của học viên là một quá trình nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệgiữa đổi mới nội dung với đổi mới phương pháp đào tạo của nhà trường

Đổi mới nội dung với đổi mới phương pháp đào tạo của nhà trường tác động

mạnh mẽ đến quá trình nghiên cứu khoa học của học viên Vì vậy, nhận thức đầy

đủ mối quan hệ biện chứng này để xây dựng ý chí quyết tâm, thái độ trách nhiệmcủa mình đối với việc phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên

Nhận thức về yêu, cầu nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với khả năng thực hành nghiên cứu khoa học của học viên, phát huy nhân tố độc lập sáng tạo trong nghiên cứu khoa học Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học học

viên xác định thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học vừa là góp phần hoànthành mục tiêu của nhà trường, vừa là rèn luyện kỹ năng nghiên cứu, phươngpháp thực hành nghiên cứu một vấn đề khoa học, thứ tự các bước tiến hànhnghiên cứu khoa học và phát huy tính năng động sáng tạo nghiên cứu khoa học.Bởi vì, để thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trước hết phải nhận thứcđúng đắn về nhiệm vụ nghiên cứu khoa học từ đó mới xây dựng động cơ thựchiện nghiên cứu khoa học phát huy các nhân tố chủ quan, tạo ra niềm tin vữngchắc vào thành quả nghiên cứu khoa học của mình, góp phần thực hiện mụctiêu nghiên cứu khoa học của nhà trường

Nhận thức đúng đắn về yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cũng nhưmối quan hệ trên sẽ tạo ra động lực trực tiếp giúp cho người học viên nắm đượcnhững thông tin tri thức lý luận mới về các vấn đề chính trị-xã hội, góp phần bổsung vào kho tàng tri thức của mình, nhằm phục vụ công tác học tập, nghiên cứu

và công tác của người học, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà

Trang 29

trường Từ đó, nhận thức đúng vấn đề tiếp nhận thông tin và xử lý thông tin mộtcách chính xác, nâng cao trình độ về mọi mặt và đem lại cái mới phục vụ cho xãhội Việc phát hiện ra sự kiện, hiện tượng chưa được biết đến, chưa có ai bắt tayvào nghiên cứu đã trở thành động lực cho học viên phát hiện tiếp cận tìm ra cáimới, khám phá cái mới, áp dụng vào thực tiễn nghiên cứu khoa học ở nhà trường.Trên cơ sở đó, khẳng định vai trò chủ quan của học viên ở Trường Sĩ quan Thôngtin luôn năng động sáng tạo trong nghiên cứu khoa học.

Nhận thức về mối quan hệ giữa nội dung và phương pháp đào tạo của Nhàtrường đã góp phần trực tiếp vào phát huy năng lực nghiên cứu khoa học của họcviên Bởi lẽ, để nghiên cứu khoa học tốt thì phải cần có trình độ tri thức, nhữnghiểu biết về tự nhiên và xã hội, nắm được tình hình thực tiễn của nhiệm vụ nhàtrường Để có được những yếu tố đó thì phải có năng lực tiếp thu, nhận biết và lýgiải các hiện tượng đó một cách khoa học Do vậy, phát triển năng lực nghiên cứukhoa học là điều kiện bảo đảm cho khả năng nhận thức và tiếp thu các vấn đề cầnthiết đó; đồng thời bổ sung vào tri thức để phục vụ cho quá trình học tập, công tác

và nghiên cứu khoa học tốt hơn

Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên là một quá trìnhnhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa nội dung và phương đào tạo ở nhàtrường; đồng thời tiến hành một cách toàn diện, đồng bộ tất cả các nội dung,giải pháp và phải vận dụng linh hoạt nhiều hình thức phong phú, đa dạng,không nên tuyệt đối hoá hoặc xem nhẹ bất cứ một nội dung, phương thức giáodục nào Như vậy, nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới

nội dung với đổi mới phương pháp đào tạo của nhà trường là vấn đề có ý nghĩa

thiết thực góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho học viên, rènluyện phương pháp, tác phong nghiên cứu khoa học, đáp ứng mục tiêu yêu cầucủa nhà trường trong tình hình mới

1.2.2 Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên là một quá trình tích cực, sáng tạo của người dạy và người học trong quá trình đào tạo của nhà trường

Bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức có tính chấtnghiên cứu của người học được tổ chức trong điều kiện sư phạm nhất địnhdưới sự chỉ đạo của người dạy Đó là quá trình tác động biện chứng giữangười dạy và người học nhằm để truyền thụ và lĩnh hội tri thức, trong đó ngườihọc đóng vai trò lĩnh hội tri thức dưới sự truyền thụ, định hướng của người dạy ở

Trang 30

bất cứ thời đại nào, ở bất cứ quốc gia nào và ở mọi cấp học người thầy luôn đóngvai trò quan trọng trong việc truyền thụ tri thức cho người học.

Ở Trường sĩ quan Thông tin với đối tượng học viên đào tạo bậc đạihọc chủ yếu là thi tuyển từ học sinh phổ thông và quân nhân có thời gian tạingũ còn ít, trong khi đó nội dung huấn luyện chủ yếu là thông tin chuyênngành, chiếm 60% toàn bộ nội dung chương trình học tập Đây là những nộidung mới so với đối tượng đào tạo Vì vậy việc lĩnh hội tri thức của ngườihọc chủ yếu thông qua giảng dạy của người thầy (đội ngũ giảng viên) Do đóchất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên có ý nghĩa quyết định nhất đếnnâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của Nhà trường nói chung và pháttriển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đại học ởTrường sĩ quan Thông tin nói riêng

Chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên là tổng hợp của nhiều yếu

tố tác động biện chứng lẫn nhau Trong đó, bao gồm những yếu tố cơ bản là:nội dung giảng dạy của giảng viên, phương pháp giảng dạy của giảng viên,phương tiện dạy học và uy tín, phẩm chất, tính mô phạm của người thầy

Nội dung giảng dạy của giảng viên ở Trường sĩ quan Thông tin là hệthống tri thức về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội nhân văn, khoa học quân

sự, khoa học tư duy, kỹ thuật thông tin, nghiệp vụ viễn thông và những chuẩnmực giá trị, thái độ ứng xử đối với tự nhiên, đối với xã hội, đối với ngườikhác và chính bản thân mình, v.v

Phương pháp giảng dạy của giảng viên là cách thức, biện pháp thủthuật do giảng viên sử dụng để truyền thụ tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo

và tổ chức điều khiển hoạt động nhận thức của học viên

Phương tiện dạy học là tập hợp những thiết bị kỹ thuật và phương tiện

mà giảng viên sử dụng trong quá trình giảng dạy nhằm nâng cao hiệu quảtruyền thụ tri thức cho học viên

Ngoài những yếu tố cơ bản trên đây, chất lượng giảng dạy của giảngviên còn được tạo bởi phẩm chất, uy tín, tính mô phạm của người thầy Đó lànhững giá trị xã hội, phản ánh phẩm chất đạo đức, năng lực hoạt động, lốisống, cách ứng xử và thái độ trách nhiệm của người thầy đối với công việc,đối với sự trưởng thành, tiến bộ của học viên

Trang 31

Chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên luôn là yếu tố quan trọng,trực tiếp tác động đến phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viênđào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Thông tin Sự tác động đó đến tất cả cácyếu tố cấu thành năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Biểu hiện cụ thểcủa những tác động đó là:

Chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên trực tiếp tác động đến phát triển trình độ tri thức của học viên Trình độ tri thức là một yếu tố cấu

thành, đồng thời là cơ sở nền tảng của phát triển năng lực nghiên cứu khoahọc Việc phát triển trình độ tri thức của học viên đào tạo bậc đại học ởTrường sĩ quan Thông tin bằng nhiều con đường khác nhau: thông qua giảngdạy của giảng viên, qua phương tiện thông tin đại chúng, cùng với tự học, tựnghiên cứu tài liệu và hoạt động giao tiếp của học viên v.v Ngày nay, trước

sự bùng nổ của cách mạng khoa học và công nghệ học viên đào tạo bậc đạihọc ở Trường sĩ quan Thông tin, có điều kiện để nhanh chóng làm giàu trithức của mình bằng rất nhiều những kênh thông tin khác nhau

Tuy nhiên, ở mỗi lĩnh vực hoạt động luôn đòi hỏi mỗi người có độ trithức chuyên sâu về lĩnh vực hoạt động của mình Với đối tượng và mục tiêu,yêu cầu đào tạo của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Thông tinđòi hỏi phải có tri thức toàn diện, chuyên sâu về kỷ thuật viễn thông và thôngtin quân sự Đây là một lĩnh vực có sự phát triển mới từng ngày so với đốitượng "đầu vào" của học viên Trong khi đó do yêu cầu của hoạt động quân

sự, nhiều nội dung học viên cần thiết phải lĩnh hội không được tuyên truyềnrộng rãi trên báo chí và phương tiện thông tin đại chúng Đồng thời trong thờigian bốn năm học ở trường, đòi hỏi học viên phải lĩnh hội một lượng tri thứcrất lớn cả tri thức cơ sở, tri thức cơ bản, tri thức chuyên ngành thông tin đểđáp ứng với yêu cầu hoạt động quản lý, chỉ huy, lãnh đạo đơn vị cấp phân độibinh chủng thôn tin Do đó thời gian học của học viên chủ yếu ở giảng đường,thao trường, bãi tập; thời gian tự học, tự nghiên cứu không nhiều Chính vìvậy lượng tri thức học viên lĩnh hội trong quá trình giáo dục, đào tạo ở Nhàtrường chủ yếu thông qua hoạt động giảng dạy của giảng viên, vì vậy chấtlượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên có ý nghĩa quyết định đến phát triểntrình độ tri thức của học viên

Chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên có vai trò to lớn đối với phát triển phương pháp tư duy và khả năng sáng tạo của học viên Nội dung

Trang 32

giảng dạy của giảng viên không chỉ là những tri thức về khoa học tự nhiên,khoa học xã hội và nhân văn, khoa học quân sự, kỷ thuật công nghệ thôngtin mà còn có cả tri thức về khoa học tư duy, tri thức về phương pháp, cáchtiếp cận lĩnh hội tri thức Đồng thời thông qua việc phân tích, lý giải, trình bàynhững vấn đề của nội dung giảng dạy của giảng viên, tác động trực tiếp vàocác giác quan của người học, hình thành cho họ phương pháp tư duy, cáchthức giải quyết một vấn đề khoa học cụ thể.

Đặc biệt, thông qua các nội dung huấn luyện kỷ thuật thông tin và thựchành công tác đảng, công tác chính trị, đặt học viên trước những tình huống

cụ thể, đòi hỏi họ phải vận dụng tri thức, độc lập suy nghĩ và tìm cách giảiquyết, qua đó rèn luyện và phát triển ở học viên khả năng tư duy tổng hợptrong xem xét, đánh giá, phân tích sự vật, hiện tượng một cách toàn diện đểnắm vững bản chất vấn đề và đề xuất những giải pháp giải quyết phù hợp.Không chỉ tác động trực tiếp đến phát triển những yếu tố cấu thành năng lựcnghiên cứu khoa học của học viên, chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảngviên còn là một yếu tố thường xuyên tác động đến lòng say mê khoa học, hammuốn hoạt động tìm tòi, sáng tạo của học viên, một phẩm chất quan trọng gópphần phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đạihọc ở Trường sĩ quan Thông tin Chính nội dung bài giảng, phương phápgiảng dạy của đội ngũ giảng viên và uy tín phẩm chất của người thầy lànhững chuẩn mực, tạo động lực bên trong cho học viên, thôi thúc họ khaokhát vươn lên chiếm lĩnh tri thức khoa học, thúc đẩy học viên tích cực họctập, rèn luyện để phát triển, hoàn thiện phẩm chất, năng lực của mình

Có thể nói, chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên có vai trò tolớn, tác động đến phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạobậc đại học ở Trường sĩ quan Thông tin Nó là cơ sở quan trọng phát triển khảnăng trình độ tri thức, phương pháp tư duy và khả năng sáng tạo của học viên

Sự tác động của chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên đến phát triểnnăng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩquan Thông tin phụ thuộc vào nhiều yếu tố

Một là, sự phụ thuộc vào chất lượng nội dung bài giảng của giảng viên.

Chất lượng nội dung bài giảng của giảng viên là sự phản ánh hàm lượng khoahọc, độ sâu tri thức của người thầy cả về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, chỉ

có độ sâu tri thức chưa thể bảo đảm cho nội dung bài giảng có chất lượng cao

Trang 33

mà còn đòi hỏi sự phù hợp giữa hàm lượng tri thức giảng viên truyền thụ vớikhả năng nhận thức của học viên và mục tiêu yêu cầu đào tạo Có thể một bàigiảng có chất lượng cao, có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển tri thức của đốitượng này, nhưng với đối tượng khác chất lượng lại không cao và không có ýnghĩa lớn Vì vậy sự phù hợp giữa độ sâu sắc tri thức của người thầy với hàmlượng tri thức cần thiết truyền thụ cho học viên trên cơ sở khả năng nhận thứccủa họ và mục tiêu yêu cầu đào tạo là khâu quan trọng nâng cao hiệu quả tácđộng của chất lượng giảng dạy của giảng viên đến phát triển tri thức, pháttriển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên.

Hai là, sự tác động chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên đến

phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên phụ thuộc vào khả năng

sử dụng phương pháp của giảng viên trong quá trình giảng dạy

Trong hoạt động giảng dạy, giảng viên có rất nhiều phương pháp đểtruyền tải tri thức đến học viên Tuy nhiên không có một phương pháp nào làduy nhất và chung nhất cho mọi môn học, mọi bài giảng, mà trong giảng dạythường có sự kết hợp các phương pháp Cùng một nội dung bài giảng, mỗigiảng viên có thể sử dụng nhiềi phương pháp giảng dạy khác nhau Sử dụngphương pháp giảng dạy là nghệ thuật truyền tải tri thức của giảng viên Giảngviên có khả năng sử dụng phương pháp giảng dạy tốt được biểu hiện cụ thể ởcách thức trình bày nội dung bài giảng một cách lôgíc chặt chẽ, kết hợp nhuầnnhuyễn giữa lý luận với thực tiễn, nội dung với phương pháp, phương tiện, thuhút được sự tập trung chú ý của học viên vào quá trình giảng dạy của mình, bảođảm cho học viên tiếp thu, lĩnh hội tri thức nhanh chóng và vững chắc

Thực tiễn giảng dạy ở Trường sĩ quan Thông tin cho thấy những giảngviên có phẩm chất, uy tín cao, có sự am hiểu sâu sắc về tri thức lý luận và thựctiễn của nội dung giảng dạy, có phương pháp giảng dạy tốt, không nhữngtruyền thụ tối ưu tri thức cho học viên mà còn phát triển nhanh ở học viên khảnăng về phương pháp, tạo niềm tin, kích thích lòng say mê nhiệt tình, sáng tạocủa học viên trong học tập và hoạt động thực tiễn nghiên cứu khoa học

Nội dung, phương pháp giảng dạy của giảng viên, phương tiện dạy học

và phẩm chất, uy tín của người thầy là những yếu tố cơ bản cấu thành chấtlượng giảng dạy của giảng viên Các yếu tố đó có mối quan hệ biện chứng tácđộng qua lại lẫn nhau và thường xuyên tác động đến phát triển năng lựcnghiên cứu khoa học của học viên Sự tác động đó diễn ra đối với tất cả các

Trang 34

môn học, các giai đoạn và lặp đi lặp lại trong suốt quá trình giáo dục, đào tạocủa Nhà trường Vì vậy để phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của họcviên đào tạo bậc đại học ở Trường sĩ quan Thông tin đòi hỏi tất yếu phải coitrọng nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên.

Những dấu hiệu tích cực của mối quan hệ qua lại tích cực giữa giáo viên

và học viên trong nhà trường quân sự thực chất phản ánh tính mục đích củahoạt động dạy và hoạt động học, hướng tới sự phát triển nhân cách toàn diệncho mọi quân nhân tham gia quá trình dạy học Mối quan hệ qua lại tích cựcnày còn là hệ quả trực tiếp của hoạt động sư phạm quân sự Giúp người giáoviên và học viên có cách ứng xử phù hợp trong những điều kiện hoàn cảnh nhấtđịnh, qua đó ngày càng hoàn thiện hơn về nhân cách và chịu sự quy định củacác điều kiện chính trị-xã hội Sản phẩm chính của mối quan hệ tích cực ấy tạonên sự phát triển toàn diện cho người học viên, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụcủa quân đội và xã hội

Trong nhà trường quân sự thì mối quan hệ qua lại nổi bật nhất vẫn làmối quan hệ giáo viên và học viên - mối quan hệ được cho là tích cực nhấtcòn các mối quan hệ khác đều có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp và có ảnhhưởng quan trọng đến mối quan hệ này Nếu mối quan hệ qua lại giáo viên vàhọc viên tích cực, lành mạnh thì đó sẽ là một yếu tố cơ bản tạo nên sự thốngnhất của quá trình dạy học và nghiên cứu, thể hiện mối quan hệ không thểtách rời giữa chủ thể dạy và chủ thể học, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

và đào tạo trong nhà trường quân sự, góp phần xây dựng quân đội ta ngàycàng vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại; đưa Binh chủngThông tin tiến thẳng lên hiện đại

1.2.3 Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên phụ thuộc vào sự tác động tích cực từ điều kiện, môi trường nghiên cứu khoa học ở nhà trường

Điều kiện môi trường tác động đến hoạt động của con người, trong đó,mối quan hệ con người tự với nhiên là vị trí trung tâm, con người vừa là sảnphẩm của tự nhiên vừa là chủ thể năng động sáng tạo để cải tạo tự nhiên Trongđiều kiện môi trường cụ thể mối quan hệ tổng hoà điều kiện tự nhiên, xã hộithường xuyên tác động, chi phối đến quá trình hình và phát triển của conngười Chính hoạt động của con người tạo ra điều kiện, môi trường cho sự tồn

Trang 35

tại và phát triển của họ, đồng thời đến lượt nó, điều kiện môi trường tác độngtrở lại qui định sự phát triển của con người

Điều kiện môi trường là sự phản ánh khả năng, năng lực của con ngườitrong nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới khách quan Con ngườicàng tạo ra điều kiện, môi trường thuận lợi bao nhiêu thì càng thúc đẩy sự pháttriển năng lực của họ bấy nhiêu Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” C Máckhẳng định: “con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh sáng tạo

ra con người đến mức đó” [20, tr.55] Quá trình phát triển năng lực con ngườiluôn chịu sự tác động tổng hợp các yếu tố về điều kiện, môi trường Tuy nhiên,

ở mỗi lĩnh vực hoạt động cụ thể, ở mỗi dạng năng lực cụ thể của con ngườichịu sự tác động trực tiếp và mạnh mẽ nhất tới điều kiện, môi trường ở lĩnh vực

đó Vì vậy, phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Trường Sĩquan Thông tin phụ thuộc rất lớn vào điều kiện môi trường nghiên cứu khoahọc của nhà trường

Điều kiện môi trường nghiên cứu khoa học của Trường Sĩ quan Thôngtin là tổng thể các yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình giảng dạy và nghiêncứu khoa học của nhà trường như: cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy

và nghiên cứu; các hoạt động của nhà trường liên quan đến nhiệm vụ giảngdạy và nghiên cứu khoa học; hoạt động chỉ huy, lãnh đạo của cấp uỷ Đảng đốivới nhiệm vụ nghiên cứu khoa học; hoạt động của cơ quan quản lý giáo dụcđào tạo, cơ quan quản lý khoa học công nghệ môi trường; hoạt động giảngdạy của giảng viên,… là những yếu tố cơ bản cấu thành điều kiện môi trườngtác động đến quá trình phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viênTrường Sĩ quan Thông tin

Sự tác động biện chứng của các yếu tố cơ bản trên tạo ra điều kiện môitrường phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên, những yếu tố đóvừa là điều kiện, môi trường nghiên cứu khoa học vừa là động lực kích thíchgiảng viên tích cực tham gia hoạt động phát triển nghiên cứu khoa học Điều kiệnmôi trường nghiên cứu khoa học của nhà trường ảnh hưởng trực tiếp đến khảnăng mức độ phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên, với điều kiệnmôi trường thuận lợi, đảm bảo đầy đủ nhu cầu nghiên cứu khoa học thì năng lực

Trang 36

nghiên cứu phát triển, ngược lại điều kiện môi trường không thuận lợi, thiếu đồng

bộ giữa các yếu tố cấu thành sẽ hạn chế quá trình phát triển năng lực nghiên cứukhoa học, thậm chí nảy sinh ra các vấn đề tiêu cực, phản tác dụng làm ảnh hưởngđến quá trình phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên

Các yếu tố tạo nên điều kiện môi trường nghiên cứu khoa học ở Trường Sĩquan Thông tin luôn tác động qua lại lẫn nhau, hỗ trợ nhau trong quá trình phát triểnnăng lực nghiên cứu khoa học của học viên Tuy nhiên, mỗi yếu tố có vị trí vai trò

và cách thức tác động khác nhau; ở những góc độ khác nhau có khả năng tác độngvới mức độ khác nhau với mục tiêu là góp phần phát triển năng lực nghiên cứukhoa học của học viên, các yếu tố đó được biểu hiện trong từng lĩnh vực cụ thể

Hoạt động chỉ huy, lãnh đạo của cấp uỷ Đảng ở Trường Sĩ quan Thôngtin đối với hoạt động nghiên cứu khoa học là yếu tố quan trọng, trực tiếp chiphối đến phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Văn kiện Đảng

bộ Trường Sĩ quan Thông tin cũng đã xác định mục tiêu, phương hướng: “Xâydựng nhà trường vững vàng về chính trị, tư tưởng, trong mọi tình huống; đổimới toàn diện, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học;nhà trường mẫu mực về nề nếp chính qui” Hoạt động chỉ huy, lãnh đạo củacác cấp uỷ Đảng nhằm xác định mục tiêu, phương hướng, yêu cầu, nội dungbiện pháp phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Nó đảm bảo

sự thống nhất nhận thức, phát huy trách nhiệm của mọi tổ chức, mọi lực lượngtham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường, định hướngphát triển các yếu tố cấu thành năng lực nghiên cứu khoa học của học viên.Trên cơ sở Nghị quyết lãnh đạo của cấp uỷ đảng, người chỉ huy cụ thể hoá mụctiêu, yêu cầu, nhiệm vụ bằng các kế hoạch, chỉ thị, mệnh lệnh và tổ chức thựchiện Đây là hoạt động hết sức quan trọng, trực tiếp phát triển điều kiện môitrường nghiên cứu khoa học và tổ chức giáo dục, rèn luyện phát triển năng lựcnghiên cứu khoa học của học viên, hoạt động này góp phần nâng cao trình độtri thức, phương pháp tư duy và khả năng sáng tạo, nhạy bén của học viên, làm

cơ sở nắm bắt tình hình thực tiễn, luận giải các vấn đề lý luận đang nảy sinh

Hoạt động của cơ quan quản lý giáo dục, cơ quan khoa học công nghệ vàmôi trường là yếu tố quan trọng thường xuyên tác động đến quá trình phát triểnnăng lực nghiên cứu khoa học của học viên Sự tác động này thể hiện ở việc bố

Trang 37

trí sắp xếp nội dung, chương trình, kế hoạch, thời gian tiến hành nghiên cứukhoa học Sắp xếp phù hợp thời gian, lôgíc của qui trình tiến hành nghiên cứukhoa học là cơ sở nền tảng, giúp học viên duy trì hoạt động nghiên cứu khoahọc có nề nếp, thường xuyên theo kế hoạch Hoạt động nghiên cứu khoa họctrở thành cơ chế tác động dây chuyền từ giảng dạy đến nghiên cứu khoa họcmột cách có hiệu quả Thông qua hoạt động của cơ quan quản lý giáo dục và cơquan quản lý khoa học tạo ra điều kiện, môi trường thuận lợi tác động pháttriển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Đồng thời trên cơ sở thựctiễn cơ quan tham mưu cho chỉ huy lãnh đạo các cấp về công tác giáo dục đàotạo và nghiên cứu khoa học, đưa ra mục tiêu yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứukhoa học cho đội ngũ học viên phù hợp với thực tiễn của nhà trường Là cơquan quản lý giáo dục, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trườngđồng thời là cơ quan tham mưu cho Đảng uỷ, Ban giám hiệu về công tácnghiên cứu khoa học, họ có điều kiện nắm vững chất lượng và đề xuất giảipháp để nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của học viên, đáp ứng nhu cầuthực tiễn của nhà trường trong giai đoạn mới.

Cơ sở vật chất đảm bảo công tác nghiên cứu khoa học là yếu tố quantrọng không thể thiếu trong điều kiện, môi trường nghiên cứu khoa học, đó là

hệ thống tài liệu, các trang thiết bị phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học Hiệuquả nghiên cứu khoa học phụ thuộc không ít vào cơ sở vật chất đảm bảo, nó làđiều kiện để giảng viên tiếp cận các ý tưởng và thực hiện các đề tài, sáng kiếnphục vụ cho công tác giảng dạy và luận giải các vấn đề lý luận đang đặt ra

Các yếu tố của điều kiện môi trường nghiên cứu khoa học tác độngđến quá trình phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên khoa,còn có yếu tố không kém phần quan trọng đó là phong trào hoạt động nghiêncứu khoa học của Nhà trường đã kích thích sự ham muốn, khám phá cái mớicủa học viên nhà trường và cơ chế chính sách động viên khuyến kích mọiđối tượng tham gia nghiên cứu khoa học và sản phẩm khoa học có hàmlượng chất xám cao được đánh giá đúng mức với công sức mà nghiên cứukhoa học viên đã bỏ ra; đẩy mạnh ứng dụng các đề tài sáng kiến, sáng chếvào giáo dục-đào tạo và xây dựng nhà trường Có chính sách động viênkhuyến kích các đối tượng tham gia nghiên cứu khoa học, sớm phát hiện và

Trang 38

dự báo được xu hướng phát triển những nhân tố tác động, những vấn đề đặt

ra đối với nhiệm vụ của nhà trường cả hiện tại và tương lai Phương hướnghoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường là điều kiện môi trường có ýnghĩa thiết thực là yếu tố tác động tính tích cực trong hoạt động nghiên cứukhoa học và quá trình phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viênTrường Sĩ quan Thông tin

Thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học ở Trường Sĩ quan Thông tin

là hoạt động thực tiễn tác động đến tinh thần trách nhiệm của học viên đối vớihoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển năng lực nghiên cứu khoa học,

nó góp phần quan trọng, trực tiếp nâng cao trình độ tri thức khoa học, phươngpháp tư duy và khả năng sáng tạo, nhạy bén của người học viên khoa Việchuy động sự tham gia đầy đủ học viên vào hoạt động nghiên cứu khoa học vớinhững đề tài có giá trị thiết thực, mang tính thời sự cập nhật và vận dụng vàothực tiễn của nhà trường sẽ tạo nên động lực kích thích tích cực, tự giác củahọc viên trong phát triển năng lực nghiên cứu khoa học, khắc phục tư tưởng

tự ti, rụt rè không dám trình bày ý tưởng của mình khi phát hiện ra cái mới.Cần phải có cách nhìn nhận biện chứng, thấy được mối liên hệ của các yếu tốtác động trong nghiên cứu khoa học và tìm ra nguyên lý vận động phát triểncủa sự vật hiện tượng để có cách nhìn khoa học trong quá trình phát triểnnăng lực nghiên cứu khoa học của học viên Trường Sĩ quan Thông tin

Thành quả nghiên cứu khoa học của học viên vừa là tiêu chí đánh giá

sự phát triển năng lực nghiên cứu khoa học vừa là ý thức trách nhiệm đốivới nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của nhà trường, góp phần xây dựng cácnhân tố tích cực trong thực hiện nghiên cứu khoa học, kịp thời bổ sungnhững luận điểm mới với những khái quát mới mà lý luận và thực tiễn củanhiệm vụ quân đội và Binh chủng đang đặt ra; khắc phục những nhận thứclệch lạc, bổ sung những vấn đề mới phù hợp với mục tiêu xây dựng quân độinhân dân cách mạng, chính qui, tinh nhuệ từng bước hiện đại; xây dựngBinh chủng Thông tin tiến thẳng lên hiện đại; đấu tranh chống mọi biểu hiện

tư tưởng sai trái, những luận điệu xuyên tạc của kẻ thù, xây dựng môi trườngchính trị trong sáng, kiên định với mục tiêu lý tưởng của Đảng Cộng sản vàlợi ích của dân tộc Việt Nam

Trang 39

Như vậy, điều kiện môi trường nghiên cứu khoa học của Trường Sĩquan Thông tin là một thể thống nhất, hữu cơ của nhiều yếu tố, đó là hoạtđộng lãnh đạo của Đảng uỷ chỉ huy các cấp, điều kiện cơ sở vật chất, cáchoạt động của tổ chức cá nhân trong Nhà trường liên quan đến nghiên cứukhoa học, môi trường dân chủ trong nghiên cứu khoa học; các yếu tố cómối quan hệ biện chứng tác động lẫn nhau quá trình phát triển năng lựcnghiên cứu khoa học của học viên Vì vậy, phải coi trọng các yếu tố tạođiều kiện môi trường và mức độ tác động đến quá trình phát triển nghiêncứu khoa học, cần xây dựng phát triển đồng bộ các yếu tố nhằm thúc đẩyquá trình phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên khoa học

xã hội nhân văn đáp ứng mục tiêu yêu cầu và nhiệm vụ của nhà trườngtrong tình hình mới

Sự tồn tại và phát triển của con người luôn diễn ra trong những điềukiện, môi trường cụ thể, đó là sự tổng hoà các điều kiện tự nhiên, xã hội baoquanh và thường xuyên tác động, chi phối đến quá trình hình thành và pháttriển của con người

Với tư cách đó con người vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của điềukiện, môi trường do họ tạo ra Chính hoạt động của con người tạo ra điềukiện, môi trường cho sự tồn tại và phát triển của họ, đồng thời đến lượt nó,điều kiện, môi trường tác động trở lại quy định sự phát triển của con người.Điều kiện môi trường là sự phản ánh khả năng, năng lực của con ngườitrong nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới khách quan Conngười càng tạo ra điều kiện, môi trường thuận lợi bao nhiêu thì càng thúcđẩy sự phát triển năng lực của họ bấy nhiêu Sự phát triển năng lực conngười luôn chịu sự tác động tổng hợp của các yếu tố tạo nên điều kiện, môitrường Tuy nhiên ở mỗi lĩnh vực hoạt động cụ thể, ở mỗi dạng năng lực cụthể của con người chịu sự tác động trực tiếp và mạnh mẽ nhất bởi điềukiện, môi trường ở lĩnh vực đó Vì vậy phát triển năng lực nghiên cứu khoahọc của học viên đào tạo bậc đại học Trường sĩ quan Thông tin phụ thuộcrất lớn vào điều kiện, môi trường nghiên cứu khoa học của Nhà trường

*

Trang 40

Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Trường sĩ quanThông tin là quá trình không ngừng vươn lên chiếm lĩnh tri thức khoa học, nângcao phương pháp tư duy và khả năng vận dụng linh hoạt sáng tạo tri thức đó vàogiải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình học tập ở trường cũng nhưtrên cương vị quản lí, chỉ huy, lãnh đạo đơn vị cấp phân đội binh chủng Thông tinsau khi tốt nghiệp.

Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Trường sĩ quanThông tin có vai trò to lớn đối với quá trình hình thành và phát triển phẩm chất,năng lực của học viên, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập rèn luyện của họcviên trong quá trình giáo dục đào tạo cũng như trên cương vị công tác sau này

Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên còn là một quá trìnhphức tạp, là kết quả tác động biện chứng giữa điều kiện khách quan và nhân tốchủ quan trong quá trình giáo dục, đào tạo ở Nhà trường, trong đó những yếu tốtác động cơ bản là: chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên, điều kiện, môitrường nghiên cứu khoa học của Nhà trường và chính nhân tố chủ quan của bảnthân học viên

Vì vậy, để phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên Trường sĩquan Thông tin cần phải nghiên cứu nắm chắc đối tượng, đánh giá đúng thựctrạng, kết hợp điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan để tìm ra giải pháp đúngđắn thúc đẩy quá trình phát triển đó

Ngày đăng: 09/10/2021, 07:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Chí Bảo (2006), Xây dựng cơ chế dân chủ trong nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng cơ chế dân chủ trong nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn ở nước ta hiện nay
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
3. Bộ Quốc phòng (2011), Điều lệ Công tác khoa học công nghệ Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb. QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Công tác khoa học công nghệ Quân độinhân dân Việt Nam
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Nxb. QĐND
Năm: 2011
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnIX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết Trung ương II - khoá VIII, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Trung ương II - khoáVIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1997
11. Giáo trình Triết học Mác - Lênin (1999), Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác - Lênin
Tác giả: Giáo trình Triết học Mác - Lênin
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1999
12. Học viên Chính tri quân sự (2002), Mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn, Nxb QĐND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa nâng cao chất lượnggiảng dạy và nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn
Tác giả: Học viên Chính tri quân sự
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2002
15. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
16. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
18. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 23, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
19. Phạm Xuân Mát (2008), Bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội nhân văn ở Học viện Chính trị hiện nay, Đề tài khoa học cấp Học viện, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học củagiảng viên khoa học xã hội nhân văn ở Học viện Chính trị hiện nay
Tác giả: Phạm Xuân Mát
Năm: 2008
23. Nguyễn Đình Minh (2004), Phát huy vai trò nguồn lực tri thức khoa học xã hội và nhân văn trong quân đội, Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy vai trò nguồn lực tri thức khoa họcxã hội và nhân văn trong quân đội
Tác giả: Nguyễn Đình Minh
Năm: 2004
24. Lê Hữu Nghĩa - Phạm Duy Hải (1998), Tư duy khoa học trong giai đoạn cách mạng khoa học công nghệ, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy khoa học trong giai đoạncách mạng khoa học công nghệ
Tác giả: Lê Hữu Nghĩa - Phạm Duy Hải
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1998
25. M. V. Phrunde (1974), Xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, sẵn sàng chiến đấu, Nxb. QĐND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, sẵn sàng chiến đấu
Tác giả: M. V. Phrunde
Nhà XB: Nxb. QĐND
Năm: 1974
26. Lê Quang (1999), "Vấn đề nắm vững phương pháp khoa học trong cách tiếp cận các vấn đề xã hội ", Tạp chí Quốc phòng toàn dân, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nắm vững phương pháp khoa học trong cách tiếp cận các vấn đề xã hội
Tác giả: Lê Quang
Năm: 1999
27. Nguyễn Văn Tài (1998), Tích cực hoá nhân tố con người của đội ngũ sĩ quan trong xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ quân sự, Học viện Chính trị quân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích cực hoá nhân tố con người của đội ngũ sĩquan trong xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Văn Tài
Năm: 1998
28. Nguyễn Ngọc Thu (1997), "Mối quan hệ giữa tư duy nghệ thuật và sáng tạo khoa học", Tạp chí Triết học, (1/2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa tư duy nghệ thuật và sángtạo khoa học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thu
Năm: 1997
29. Phạm Thị Ngọc Trầm (1993), "Trí tuệ - nguồn lực vô tận của sự phát triển", Tạp chí Triết học, (1/3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí tuệ - nguồn lực vô tận của sự pháttriển
Tác giả: Phạm Thị Ngọc Trầm
Năm: 1993
30. Lê Quý Trịnh (2002), Phát triển năng lực trí tuệ của sĩ quan trẻ trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực trí tuệ của sĩ quan trẻ trongQuân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
Tác giả: Lê Quý Trịnh
Năm: 2002
31. Trung tâm từ điển học (1997), Từ điển tiềng Việt, Nxb. Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiềng Việt
Tác giả: Trung tâm từ điển học
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng
Năm: 1997
35. Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: Nxb. Văn hoá - Thông tin
Năm: 1998

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w