1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và sử dụng phiếu học tập để dạy tự học chương 1 phần di truyền học sinh học 12 THPT nâng cao

106 873 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng và sử dụng phiếu học tập để dạy tự học chương I - phần di truyền học sinh học 12 THPT nâng cao
Tác giả Nguyễn Viết Trung
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Đình Trung
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số16/2006/QĐ- BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD& ĐT đã nêu: “phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

- -NGUYỄN VIẾT TRUNG

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP ĐỂ DẠY TỰ HỌC CHƯƠNG I - PHẦN DI TRUYỀN HỌC SINH HỌC 12 THPT NÂNG CAO

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

VINH - 2009

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lê Đình Trung đã tận tình giúp đỡ,hướng dẫn và tạo điều kiện trong suốt quá trình tiến hành và hoàn thành đề tài

- -Cảm ơn PGS.TS Nguyễn Đình Nhâm, cảm ơn ban lãnh đạo Trường Đại HọcVinh, khoa Sau Đại học, khoa Sinh học và các thầy giáo, cô giáo, cán bộ, bạn bè vànhững người thân trong gia đình đã giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn

Cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Sinh họctrường THPT Nông Cống 1, Nông Cống 2, Nông Cống 3, Nông Cống 4, Tĩnh Gia 2,Quảng Xương 2 đã cộng tác, giúp đỡ, tạo điều kiện để tác giả tiến hành thực nghiệmthành công

Mặc dù đã rất nỗ lực cố gắng, nhưng chắc chắn đề tài không thể tránh khỏinhững thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những đóng góp chân thành của các nhà khoahọc, các thầy giáo, cô giáo và bạn bè để bản văn được hoàn chỉnh hơn

Xin chân thành cảm ơn !

Vinh, ngày 28 tháng 12 năm 2009

Tác giả luận văn

Nguyễn Viết Trung

Trang 3

Chương I Cơ sở lý luận, thực tiễn của việc sử dụng PHT dạy tự học 8

1.1 Lược sử nghiên cứu về việc sử dụng PHT trong dạy học 8

1 2 Cơ sở lý luận của việc xây dựng và sử dụng PHT trong dạy học 12

1.3 Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng PHT trong dạy học 25

Chương II Xây dựng và sử dụng các dạng PHT để dạy tự học chương I phần di truyền học - Sinh học 12 nâng cao THPT

28

2.1 Xây dựng các dạng PHT để dạy tự học chương I phần DTH sinh học 27

Trang 4

12 nâng cao THPT

2.2 Phương pháp sử dụng phiếu học tập để dạy tự học chương I phần di

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC BẢNG - -

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Trang 7

ĐHHDG: Điều hòa hoạt động gen

Trang 8

Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số

16/2006/QĐ- BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD& ĐT đã nêu: “phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện khả năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh” [18].

Mục tiêu đặt ra trong ngành giáo dục nước ta hiện nay là đổi mới phương phápdạy học theo hướng thay đổi từ hướng truyền thụ một chiều sang dạy học theo

“phương pháp tích cực”, làm cho quá trình học là quá trình kiến tạo: HS tìm tòi, khámphá, phát hiện, khai thác và xử lý thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩmchất Chú trọng hình thành các năng lực (tự học, sáng tạo, hợp tác) dạy phương pháp và

kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách học [1] Tư tưởng nhấn mạnh vai trò chủ đạo tíchcực của người học, xem người học là chủ thể của quá trình học tập đã có từ lâu Ở thế

kỷ XVII, A.Kômenxki đã viết “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm,phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách…Hãy tìm ra phương pháp cho giáo viên dạyít hơn, học sinh học nhiều hơn” [13] Ở nước ta vấn đề phát huy tính tích cực chủ độngcủa học sinh nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo đã được đặt ra trong ngànhgiáo dục từ những năm 1960, với khẩu hiệu biến quá trình đào tạo thành quá trình tựđào tạo Tuy nhiên, thuật ngữ dạy học lấy học sinh làm trung tâm chỉ được phổ biếngần đây Quá trình dạy học lấy GV làm trung tâm sang dạy học lấy HS làm trung tâm

là một xu thế tất yếu có lý do lịch sử Để thực hiện được điều này đòi hỏi người giáoviên phải thay đổi phương pháp dạy của mình, yêu cầu GV phải có trình độ cao hơn

nhiều cả về phẩm chất và năng lực nghề nghiệp “Một GV sáng tạo là một GV biết giúp

đỡ HS tiến bộ nhanh chóng trên con đường tự học, GV phải là người hướng dẫn, người cố vấn hơn là chỉ đóng vai trò công cụ truyền đạt tri thức” [12], [13] “Người thầy giáo tồi truyền đạt chân lý, người thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra chân lý”

Như vậy, một trong những điều cốt lõi của giáo dục hiện nay là chuyển quátrình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, rèn luyện cho người học có được kỹ năng,

Trang 9

phương pháp, thói quen tự học, biết ứng dụng những điều đã học vào những tình huốngmới, biết phát hiện và giải quyết những vấn đề đặt ra, tạo cho HS lòng ham học, khơidậy tiềm năng vốn có trong mỗi HS Tuy nhiên, hiện nay sự chuyển biến về phươngpháp dạy học ở trường phổ thông, phương pháp đào tạo ở trường sư phạm chưa được làbao, phổ biến vẫn là cách dạy thông báo các kiến thức định sẵn, cách học thụ động,

sách vở, tình trạng chung hàng ngày vẫn là “Thầy đọc - trò chép” hoặc giảng giải xen

kẽ vấn đáp tái hiện, giải thích minh hoạ bằng tranh [11] Nếu cứ tiếp tục cách dạy vàhọc như thế giáo dục sẽ không đáp ứng nhu cầu đổi mới của xã hội Sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (2000 - 2020), sự thách thức trước nguy cơ tụt hậutrên đường tiến vào thế kỷ XXI bằng cách cạnh tranh trí tuệ đang đòi hỏi đổi mới giáodục, trong đó có sự đổi mới căn bản về phương pháp dạy và học [9] Đã đến lúc chúng

ta phải thực hiện theo khẩu hiệu “Trả lại vị trí vốn có cho người học và tự học” [14].

Một trong những biện pháp giúp HS tự học đó là sử dụng PHT trong dạy học.PHT với tính chất là một phương tiện dạy học có ưu điểm rất lớn như dễ sử dụng, hiệuquả cao, sử dụng được trong nhiều khâu của quá trình dạy học: Hình thành kiến thứcmới, cũng cố vận dụng, kiểm tra đánh giá vừa phát huy được công tác độc lập của họcsinh, vừa phát huy được hoạt động tập thể Phiếu học tập không chỉ là phương tiệntruyền tải kiến thức mà còn hướng dẫn cách tự học cho học sinh đồng thời qua đó rènluyện năng lực tư duy sáng tạo và xử lý linh hoạt cho người học Phiếu học tập khôngchỉ tổ chức hoạt động theo cá nhân mà có thể tổ chức hoạt động theo nhóm một cách

có hiệu qủa Thông qua PHT GV có thể tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm Theođiều tra của M.Hebditch (1990) về mức độ hứng thú với các phương pháp dạy học củahọc sinh từ 11 đến 18, thì thảo luận nhóm chiếm 80%, độ lưu trữ thông tin 50% [25].Tuy PHT có vai trò quan trọng như vậy nhưng việc dạy học bằng PHT chiếm tỉ lệ rấtthấp [26] PHT chưa được sử dụng phổ biến, trong quá trình dạy học đa phần PHTđược sử dụng còn mang tính hình thức, phần lớn giáo viên chỉ sử dụng khi thao giảng

Do vậy chưa phát huy hết vai trò quan trọng mà PHT mang lại Bên cạnh đó hiện nayPHT chủ yếu được giáo viên sử dụng trong khi dạy bài mới mà ít sử dụng trong cáckhâu khác của dạy học đặc biệt sử dụng PHT trong việc hướng dẫn học sinh tự học

Trang 10

Ngoài ra chương trình phổ thông mới cải cách, kiến thức trong SGK có nhiều điểm mới

và khó, nội dung tương đối nhều Do vậy, với thời gian ngắn nhất ở trường THPTkhông thể cung cấp cho HS cả một kho tàng kiến thức khổng lồ, nhiệm vụ của ngườigiáo viên hiện nay không phải cung cấp cho học sinh một vốn tri thức mà quan trọng

họ phải trang bị cho học sinh khả năng tự làm việc, tự nghiên cứu, tự tìm hiểu và tựnắm bắt thêm tri thức mới Qua đó nâng cao được hiệu quả tiếp thu, lĩnh hội kiến thức

và hình thành kỹ năng, kĩ xảo của các em Vì vậy việc áp dụng PHT sẽ giảm bớt thờigian trên lớp, giúp học sinh tự giác học tập, nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứngđược yêu cầu đổi mới công tác giáo dục hiện nay Chính vì thế theo chúng tôi việc sửdụng PHT là việc cần thiết đối với mỗi giáo viên

Kiến thức chương I, phần di truyền học trong Sinh học 12 là kiến thức khó, làtrọng tâm của môn sinh học, việc HS tiếp thu kiến thức gặp một số trở ngại Songchương trình di truyền học đã được HS tiếp cận từ sớm, HS đã có những kiến thức nhấtđịnh về nội dung của bài học Vậy việc phát triển phương pháp tự học ở HS trongchương I phần di truyền là việc làm cần thiết Nếu chúng ta kết hợp linh hoạt giữa việc

sử dụng PHT để nâng cao khả năng tự học với các phương pháp dạy học tích cực khác

sẽ nâng cao được chất lượng quá trình dạy và học chương I - phần di truyền học Mặtkhác, chương trình lớp 12 THPT mới cải cách, nội dung có nhiều đổi mới Do vậychưa có hệ thống PHT đủ về số lượng và chất lượng phục vụ cho quá trình dạy học.Xuất phát từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài:

“ Xây dựng và sử dụng phiếu học tập để dạy tự học kiến thức chương I phần di

truyền học - Sinh học 12 THPT nâng cao”.

2 Mục đích nghiên cứu

- Xây dựng bộ phiếu học tập đủ về số lượng và chất lượng phục vụ cho việc dạy họcchương I - phần di truyền học sinh học 12 THPT

- Xây dựng quy trình sử dụng PHT trong dạy học nhằm năng cao khả năng tự họcchương I - phần di truyền học Sinh học 12 THPT nâng cao

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Trang 11

Học Sinh lớp 12 THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Bộ phiếu học tập và quy trình sử dụng phiếu học tập trong dạy học chương I phần di truyền học Sinh học 12 nâng cao THPT

-4 Giả thiết khoa học

Nếu xây dựng được bộ PHT phần DTH Sinh học 12 THPT và sử dụng hợp lý sẽnâng cao được chất lượng dạy học chương I, đặc biệt nâng cao được khả năng tự họccho HS đối với phần kiến thức di truyền học nói riêng và môn Sinh học nối chung

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lý luận về việc xây dựng và sử dụng PHT trong quá trình dạy họcnói chung và hướng dẫn tự học nói riêng

- Phân tích cấu trúc, nội dung kiến thức kĩ năng chương I, phần di truyền học

- Thiết lập quy trình xây dựng PHT

- Xây dựng bộ phiếu học tập chương I, phần di truyền học THPT 12 nâng cao

- Xây dựng quy trình sử dụng PHT để dạy tự học kiến thức chương I, phần ditruyền học Sinh học 12 THPT

- Thực nghiệm xác định tính khả thi và hiệu quả của bộ phiếu học tập trong việc tổchức và truyền tải nội dung dạy học chương I - phần di truyền học

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu các tài liệu về chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trongcông tác giáo dục và các tài liệu, sách báo có liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa lớp 12 THPT nâng cao

- Nghiên cứu tài liệu lý luận về PHT, nguyên tắc, kĩ thuật thiết kế và sử dụng PHT

6.2 Phương pháp chuyên gia

- Trao đổi với những nhà sư phạm, những người am hiểu sâu rộng về lĩnh vựcnghiên cứu, từ đó có những định hướng cho việc nghiên cứu đề tài

- Trao đổi trực tiếp với giáo viên dạy học Sinh học 12 về bộ phiếu đã soạn làm cơ

sở chỉnh sữa và hoàn thiện bộ phiếu học tập

Trang 12

6.3 Phương pháp điều tra cơ bản

- Tiềm hiểu việc sử dụng PHT của GV:

+ Kĩ năng soạn bài

+ Kĩ năng thiết kế PHT

+ Việc sử dụng các phương pháp dạy học đặc biệt là việc sử dụng PHT

- Tiềm hiểu việc lĩnh hội kiến thức của HS:

+ Ý thức học tập

+ Chất lượng lĩnh hội kiến thức

+ Các kỹ năng được rèn luyện trong học tập

6.4 Phương pháp thực nghiệm Sư phạm

6.4.1 Thực nghiệm thăm dò

Sử dụng phiếu điều tra: Xây dựng phiếu điều tra tìm hiểu thực trạng sử dụngphiếu học tập trong dạy học Sinh học 12 mới ở các phần đã học Tổ chức điều tra và xửlý kết quả điều tra

6.3.2 Thực nghiệm chính thức

* Mục đích: Nhằm thu thập số liệu và xử lý bằng toán học thống kê, xác định chỉ tiêu

đo lường và đánh giá chất lượng bộ phiếu

* Phương pháp thực nghiệm:

- Xây dựng hệ thống PHT chương I phần di truyền học - Sinh học 12

- Thiết kế giáo án cho lớp thực nghiệm và lớp đối chứng

- Tổ chức thực nghiệm tại trường THPT:

+ Chọn các trường thực nghiệm: Các trường thực nghiệm có đủ cơ sở vật chất,trang thiết bị dạy – học

+ Chọn GV thực nghiệm: GV dạy lớp TN cũng là GV dạy lớp ĐC

+ Chọn lớp ĐC và lớp TN phù hợp với tiêu chí đặt ra

+ Tiến hành thực nghiệm: Quá trình TN được tiến hành đầu học kì I năm học

2009 – 2010

+ Xây dựng hệ thống câu hỏi khảo sát chung cho cả lớp TN và lớp ĐC

+ Phân tích, xử lý và thống kê số liệu thực nghiệm

Trang 13

6.5 Phương pháp thống kê toán học

Tính các tham số đặc trưng:

+ Điểm trung bình X: Là tham số xác định gía trị trung bình của dãy số thống

i

i x n n

Cv% = 30% - 100%: Dao động lớn, độ tin cậy nhỏ

cộng của TN và ĐC bằng đại lượng kiểm định td theo công thức:

DC

DC TN TN

DC TN

n

S n S

X X Td

2 2

do f = n1 + n2 - 2 Nếu |td| ≥ t thì sự sai khác của các giá trị trung bình TN và ĐC là cóý nghĩa

Trang 14

Các số liệu điều tra cơ bản được xử lý thống kê toán học trên bảng Excel, tính

số lượng và % số bài đạt các loại điểm và tổng số bài có điểm 5 trở lên làm cơ sở địnhlượng, đánh giá chất lượng lĩnh hội kiến thức từ đó tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đếnchất lượng học tập

Các số liệu xác định chất lượng của lớp ĐC và TN được chi tiết hoá trong đáp ánbài kiểm tra và được chấm theo thang điểm 10

7 Những đóng góp mới của đề tài

- Thiết lập quy trình xây dựng PHT

- Xây dựng bộ PHT chương I, phần di truyền học Sinh học 12

- Xây dựng quy trình sử dụng phiếu học tập để dạy tự học

- Qua thực nghiệm xác định được giá trị của bộ PHT đã xây dựng

8 Giới hạn đề tài

- Thiết lập quy trình xây dựng PHT

- Xây dựng bộ PHT chương I - phần di truyền học sinh học 12 (nâng cao) THPT

- Xây dựng quy trình sử dụng PHT trong các khâu của quá trình dạy tự học nhằmnâng cao khả năng tự học của học sinh

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng PHT dạy tự học

I.1 Lược sử nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới thế giới liên quan đến đề tài

Sử dụng PHT để dạy tự học là một trong những phương pháp dạy học lấy họcsinh làm trung tâm Trên thế giới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm cómầm mống từ cuối thế kỉ XIX, được phát triển từ những năm 20, được phát triển mạnh

từ những năm 70 của thế kỉ XX [12]

Ở Pháp, vào những năm 1920 đã hình thành những “nhà trường mới”, đặt vấn

đề phát triển năng lực ở trẻ, khuyến khích các hoạt động do chính học sinh tự quản Xu

Trang 15

hướng này đã có ảnh hưởng tới Hoa Kỳ và nhiều nước châu Âu Luật định hướng giáodục 10 năm, ban hành năm 1989 đã khẳng định: Về nguyên tắc, mọi hoạt động giáodục điều phải lấy học sinh làm trung tâm Bộ giáo dục Pháp năm 1981 đã khẳng định:Cần kiên quyết đặt đứa trẻ vào trung tâm giáo dục và có sự thích ứng hơn nữa ở mỗitrường hợp đặc biệt [2].

Ở Hoa Kỳ: Trong những năm 1960 đã vận dụng phương pháp dạy học theonhóm Ý tưởng dạy học cá nhân hóa ra đời trong những năm 1970, đã được thử nghiệmgần 200 trường: Giáo viên xác định mục tiêu, cung cấp các phiếu hướng dẫn (PHT) đểhọc sinh tiến hành công việc độc lập theo nhịp độ phù hợp với năng lực [21]

Ở Hàn Quốc: Từ thập niên 90 tới đây: Giáo dục hướng vào giai đoạn hậu côngnghiệp Để đáp ứng đòi hỏi mới đặt ra do sự bùng nổ kiến thức và sáng tạo kiến thức

Ở Nhật Bản: Hội đồng quốc gia cải cách giáo dục đã đề ra 3 yêu cầu thiết yếucủa cải cách giáo dục là [1]:

1 Thực hiện việc chuyển sang hệ thống giáo dục suốt đời

2 Chú trọng hơn nửa vai trò quan trọng của tính cách mỗi con người

3 Làm cho giáo dục phù hợp hơn với những thay đổi của thời đại

Dạy học lấy học sinh làm trung tâm đã được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu: Tưtưởng nhấn mạnh vai tích cực chủ động của người học, xem người học là chủ thể củaquá trình học tập đã có từ lâu, ở thế kỉ XVII, A.Kômenski đã viết: “Giáo dục có mụcđích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán, phát triển nhân cách… hãy tìm raphương pháp cho phép GV dạy ít hơn, HS học nhiều hơn” [14]

X.L.Rubixtein (1946): Đã khẳng định rằng tư duy thường bắt đầu từ một vấn đềhay một câu hỏi từ sự ngạc nhiên hay thắc mắc từ một mâu thuẫn Nên trong quá trìnhdạy học phải đề ra một phương pháp sao cho học sinh hứng thú học tập

Biaxinop (1967): Tác giả đã đề cập đến việc chím lĩnh tri thức bằng cách quacác phương pháp và hình thức dạy học kích thích được sự hoạt động nhận thức tíchcực, sinh động của học sinh và đòi hỏi phải áp dụng duy trì nhận thức vào trong laođộng của họ [19]

Trang 16

M.A.Đialop và M.N.Xcantin (1980) đã nhận xét rằng: Nguyên tắc về tính tựgiác và tính tích cực của học sinh gắn bó với tính nguyên tắc về vai trò chỉ đạo của nhàgiáo dục và thể hiện tính chất mới mẽ của quá trình dạy học, trong đó tất cả công việccủa học sinh mang một tính chất tích cực và tự giác [19].

R.C Sharma (1988) viết: “Trong phương pháp dạy học HSTT, toàn bộ quá trìnhdạy học đều hướng vào nhu cầu, khả năng, lợi ích của HS Mục đích là phát triển ở HS

kĩ năng và năng lực độc lập học tập và giải quyết các vấn đề… Vai trò của GV là tạo ranhững tình huống để phát triển vấn đề, giúp HS nhận biết vấn đề, lập giả thuyết, làmsáng tỏ và thử nghiệm các giả thuyết, rút ra kết luận” [13]

Theo K.Barry và King (1993), đặt cơ sở cho HSTT là những công trình củaJohn Dewey (Experience and education, 1938) và Carl Rogers (Freedom to learn,1986) Các tác giả này đề cao nhu cầu, lợi ích của người học, đề xuất việc để cho ngườihọc lựa chọn nội dung học tập, được tự lực tìm tòi nghiên cứu Theo hướng đó, bêncạnh xu hướng truyền thống thiết kế chương trình giảng dạy lấy logic nội dung mônhọc làm trung tâm đã xuất hiện xu hướng thiết kế chương trình học tập lấy nhu cầu, lợiích của người học làm trung tâm [13]

R.R.Singh (1991) cho rằng tư tưởng này đặc biệt nhấn mạnh vai trò của ngườihọc, hoạt động học Người học được đặt ở vị trí trung tâm của hệ giáo dục, vừa là mụcđích lại vừa là chủ thể của quá trình học tập Vì nhấn mạnh điều này, tác giả đề nghịthay thuật ngữ “quá trình dạy học lấy người học làm trung tâm”, “quá trình học tập dongười học điều khiển” Tác giả đã viết: “Làm thế nào để cá thể hóa quá trình học tập đểcho tiềm năng của mỗi cá nhân được phát triển đầy đủ đang là một thách thức chủ yếuđối với giáo dục” [13]

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Trước yêu cầu thực tiễn đặt ra cho các ngành khoa học nói chung và giáo dụcnói riêng đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng tích cực hoá người học, với cácbiện pháp tổ chức học sinh hoạt động tự lực, chủ động đã trở thành xu hướng của nhiềuquốc gia trên thế giới và khu vực

Trang 17

Vào những năm 1960, nhiều nghiên cứu về các biện pháp tổ chức học sinh hoạtđộng học tập tự lực, chủ động, sáng tạo đã được đặt ra Cũng thời điểm đó trong cáctrường sư phạm đã có khẩu hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”.

Từ sau những năm 1970 trở đi, các nghiên cứu, về các biện pháp tổ chức học sinh hoạtđộng học tập tự lực được quan tâm nghiên cứu đồng bộ cả về lý thuyết và thực hành.Trong đó nổi bật là các công trình nghiên cứu: “Cải tiến phương pháp dạy và học nhằmphát huy trí thông minh của học sinh” của tác giả Nguyễn Sỹ Tý (1971) “Kiểm trakiến thức bằng phiếu kiểm tra” của tác giả Lê Nhân (1974) [14]

Đặc biệt sau nghị quyết Trung Ương IV khoá VII (tháng 2-1993), Nghị quyết

TW II khoá VIII (tháng 12 - 1996) Và gần đây nhất là nghị quyết TW VI khoá IX(tháng 4 - 2002) của Đảng về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo hướng pháthuy tính tích cực của học sinh trở thành vấn đề quan trọng cấp bách của ngành Giáodục trong giai đoạn hiện nay Để tổ chức được các phương pháp dạy học tích cực đòihỏi phải có các phương tiện tham gia tổ chức như: Bài tập, bài tập tình huống, bài toánnhận thức, câu hỏi trắc nghiệm, phiếu học tập [18]

Cùng với sự đổi mới về tư tưởng, quan điểm của Đảng, Nhà nước và của toàndân về Giáo dục, nhiều tác giả tâm huyết cũng có những nghiên cứu có giá trị về đổimới phương pháp Giáo dục – dạy học như:

GS.TS Trần Bá Hoành: Bản chất của việc dạy học lấy học sinh làm trungtâm( Kỷ yếu hội thảo khoa học), đã có những đóng góp to lớn trong việc đổi mớiphương pháp dạy học theo hướng hoạt động hóa người học

GS.TS Đinh Quang Báo “ Phát triển hoạt động nhận thức HS trong các bài dạySinh học ở trường phổ thông Việt Nam” , luận án phó tiến sĩ năm 1981, cho rằng: Vấn

đề cung cấp cho HS các biện pháp, kỹ năng để tự bổ sung kiến thức, nghĩa là biến quátrình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, là dạy HS cách học , rất cần thiết

Lê Đình Trung: “ Xây dựng và sử dụng bài toán nhận thức để nâng cao hiệuquả dạy học phần cơ sở vật chất và cơ chế di truyền trong chương trình Sinh họcTHPT” – Luận án PTS 1994

Trang 18

- Lý luận dạy học sinh học đại cương - Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành.NXBGD 1998.

- Vận dụng phương pháp tích cực vào dạy học sinh học 10 – Nguyễn An Ninh(Luận văn thạc sĩ)

- Dạy - tự học của GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn

- Tổ chức hoạt động học tập tự lực trong dạy học Sinh thái học lớp 11 Phan Thị Bích Ngân (Luận văn thạc sĩ)

THPT-Tuy nhiên, hầu hết các công trình đưa ra chỉ ở mức độ chung chung cho bộ mônSinh học mà chưa có công trình nào cụ thể về từng phương pháp sử dụng từng phươngtiện cho từng nội dung cụ thể Các vấn đề đưa ra chỉ được đề cập trong các công trìnhnghiên cứu lồng ghép với các phương tiện khác, nhất là sử dụng phiếu học tập để dạyphần di truyền học Sinh học 12 - THPT

Tuy nhiên, Cho tới nay PHT cũng đã có nhiều tác giã nghiên cứu Có thể đề cậptới một số tài liệu và công trình có đề cập đến vấn đề sử dụng PHT trong dạy học như:

Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THPT chu kỳ III của GS.TS.NguyễnThành Đạt [18]

Kĩ thuật dạy học sinh học của GS.Trần Bá Hoành [11]

Hà Nhật Thăng và Phạm Hồng Quang (1966) đã tiến hành nghiên cứa và thựchành phương pháp này qua việc “sử dụng phiếu hoạt động học tập trong tổ chức tự họccho học sinh dân tộc nội trú” Tuy nhiên, lần đầu tiên nghiên cứu thực nghiệm với mộtphương pháp mới cho học sinh dân tộc nội trú, tác giả cũng đã thu được một số kếtquả nhất định [2]

Luận án phó tiến sĩ của Nguyễn Thị Dung (1995) cũng đã nghiên cứu việc “dạyhọc giải quyết vấn đề có sử dụng PHT” trong chương trình giải phẩu người ở lớp 9 và

tỏ ra có hiệu quả Theo tác giả cốt lõi của phương pháp này là phương pháp nghiên cứa

“một phương pháp có giá trị trí, đức, dục lớn nhất, kĩ năng tìm tòi sáng chế và nhữngkiến thức vững chắc, phong phú cả về lí thuyết lẫn thực tiễn” [21]

Trang 19

Sử dụng phiếu hoạt động học tập trong dạy học chương 6 sinh học 7 - THCSnhằm phát triển ở HS khả năng hệ thống hoá kiến thức Luận văn thạc sĩ của NguyễnThi Thuỳ Linh (2004) [21].

Nguyễn Thị Thanh Chung (2006): Xây dựng và sử dụng phiếu học tập để dạyhọc các khái niệm trong chương các quy luật di truyền Sinh học 11 – Luận văn thạc sĩ

Tóm lại: Việc sử dụng PHT trong qua trình dạy học đã được nhiều tác giả quantâm đúc kết trong các công trình nghiên cứu Nhưng do chương trình có nhiều đổi mới,giáo viên chưa cập nhật tốt nội dung, nên phương pháp “sử dụng PHT trong dạy họcsinh học” chưa được phổ biến trong quá trình giảng dạy

Phần di truyền học thuộc chương trình lớp 12 mới cải cách và chính thức thựchiện trong năm học 2008 – 2009 nên chưa có đề tài nghiên cứu về phương pháp sửdụng PHT trong phần này Chính vì thế vấn đề tác giả nghiên cứu là một vấn đề mới

I.2 Cơ sở lý luận của việc xây dựng và sử dụng PHT trong dạy học nói chung và phần cơ sở di truyền học nói riêng

1.2.1 Khái niệm phiếu học tập

Phiếu học tập (PHT) hay còn gọi là phiếu hoạt động (activity sheet) hay phiếulàm việc (work sheet )

PHT là những “tờ giấy rời”, in sẵn những công tác độc lập hoặc làm theo nhómnhỏ được phát cho từng học sinh tự lực hoàn thành trong một thời gian ngắn của tiếthọc hoặc tự học ở nhà Mỗi PHT có thể giao cho học sinh một hoặc vài nhiệm vụ nhậnthức cụ thể nhằm hướng tới kiến thức kỹ năng hay rèn luyện thao tác tư duy để giaocho HS [7] Hiện nay cùng với sự phát triển của công nghệ khoa học thì các nhiệm vụhọc tập không nhất thiết phải được ghi vào trong giấy mà giáo viên có thể sử dụng máychiếu hoặc máy vi tính để cung cấp những nhiệm vụ đó cho HS

1.2.2 Cấu trúc phiếu học tập

Mỗi PHT có cấu trúc gồm các phần sau:

* Phần dẫn:

Là các chỉ dẫn của giáo viên quy định kiểu hoạt động, nội dung hoạt động haynguồn thông tin

Trang 20

-Ví dụ 1: Đọc thông tin mục II.1 SGK trang 12, hoàn thành sơ đồ sau:

-Ví dụ 2: Qua những kiến thức đã học trong bài 2 Hãy kết nối thông tin hai cộtsao cho phù hợp

Kiểu hoạt động là liên hệ, vận dụng kiến thức cũ, nghiên cứu kiến thức mới, sosánh nội dung hoạt động, chú thích các quá trình

Để đạt hiệu quả sử dụng PHT cao, đảm bảo thời gian thực hiện phần dẫn yêucầu ngắn gọn, rõ ràng, chính xác, dẫn dắt học sinh đến các hoạt động cụ thể

Các thao tác, công việc học sinh cần thực hiện là:

- Đọc thông tin mục II SGK nâng cao trang 12

- Quan sát sơ đồ trong PHT

- Tìm ý thích hợp

- Điền vào phiếu và hoàn thành PHT

* Phần quy định thời gian thực hiện:

Hoàn thành PHT phải thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định tuỳ vàokhối lượng công việc mà thời gian có thể là 5 phút, 10 phút, dài hơn hoặc ngắn hơn.Ngoài ra cũng cần căn cứ vào trình độ học sinh, thời gian tiết học

Tuy nhiên phần này không bắt buộc phải để trong PHT, nó có thể được giáoviên thông báo bằng lời trong quá trình phát phiếu

Trang 21

Lớp: …… Trường: ………

PHT: Vai trò các thành phần tham gia phiên mã.

Mục tiêu: Xác định được vai trò của các thành phần tham gia phiên mã.

Yêu cầu: Nghiên cứu SGK mục I (Cơ chế phiên mã) Hãy ghép hai cột với nhau cho

phù hợp

Thời gian: 3 phút

d Nucleotit tự do

của môi trường

1.2.3 Phân loại phiếu học tập

1.2.3.1 Căn cứ vào mục đích lý luận dạy học

a PHT dùng để hình thành kiến thức mới:

Trong quá trình hướng dẫn học sinh nghiên cứu kiến thức mới GV có thể sửdụng phiếu kết hợp với SGK, học sinh thảo luận sau đó đưa ra ý kiến thống nhất hoặctrong một số phần kiến thức gần giống với phần đã học trước đó GV có thể cung cấpPHT cho học sinh, học sinh tự nghiên cứu trên lớp hoặc về nhà vận dụng kiến thức đãhọc để hoàn thành PHT theo quy định

b PHT dùng để củng cố, hoàn thiện kiến thức:

Sử dụng để truyền thụ kiến thức mới cho học sinh Thông qua việc dẫn dắt họcsinh hoàn thành các yêu cầu trong PHT, học sinh đã lĩnh hội được lượng kiến thức nhấtđịnh Dạng này cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa giáo viên hướng dẫn và học sinh PHTnày có vai trò rất lớn trong việc khắc sâu kiến thức, giúp học sinh hoàn thiện nhữngkiến thức vừa được lĩnh hội

c PHT dùng để kiểm tra, đánh giá:

Trang 22

Được dùng trong các bài kiểm tra 1 tiết, 15 phút, kiểm tra 1 kỳ, kiểm tra năm học.Giúp học sinh khắc sâu, hệ thống hoá lại kiến thức, giúp giáo viên nắm bắt được tình hìnhhọc tập của học sinh để điều chỉnh lại phương pháp dạy học cho phù hợp.

1.2.3.2 Căn cứ vào nguồn thông tin sử dụng để hoàn thành PHT

sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học giúp học sinh phát triển kỹ năngquan sát, phân tích Nguồn thông tin để hoàn thành PHT là kênh hình trong SGK, tranhảnh, phim tư liệu

c PHT khai thác cả kênh chữ và kênh hình

So với hai dạng trên thì dạng này phổ biến hơn nhiều bởi chương trình SGKđổi mới có cả kênh chữ và kênh hình đi kèm với nhau Dạng này yêu cầu học sinh vừađọc thông tin, vừa quan sát hình mới có thể hoàn thành PHT

1.2.3.3 Căn cứ vào đặc điểm nội dung [7]

a Loại phiếu hình thành kiến thức

* Dạng 1: Tìm ý phù hợp điền vào ô trống của bảng

Dạng PHT có ưu điểm rèn luyện cho học sinh biết đọc tóm tắt tìm ra ý chính.Sau khi hoàn thành phiếu kiến thức được tóm tắt và hệ thống hóa Dạng này thườngđược sử dụng với những kiến thức được trình bày bằng kênh chữ trong SGK

* Dạng 2: Tìm ý cơ bản và xác định quá trình phát triển của nội dung

Trang 23

Dạng PHT có vai trò lớn trong việc rèn luyện khả năng phát hiện kiến thức quantrọng và tìm ra mối quan hệ giữa các kiến thức thành phần, chỉ ra sự phát triển của kiếnthức, và diễn đạt bằng hình vẽ nên chính xác hơn.

* Dạng 3: Tóm tắt và chỉ ra sự phát triển của ý thức

Dạng này giúp học sinh thấy được mối quan hệ giữa các thành phần trong một quan

hệ thống nhất, qua việc phát hiện từng thành phần kiến thức HS sẽ hiểu rõ hơn lượngkiến thức mình lĩnh hội

b Loại phiếu phát triển năng lực nhận thức

* Dạng 1: Phiếu phát triển kĩ năng so sánh

So sánh là một trong những kĩ năng rất quan trọng vì qua việc so sánh họcsinh sẽ phân tích được những điểm giống và khác nhau giữa các sự vật hiện tượng, từ

đó học sinh có khả năng phân biệt được sự vật hiện tượng này với sự vật và hiện tượngkhác PHT dạng này có ưu điểm lớn trong việc định hướng các dấu hiệu, các chỉ tiêu sosánh, qua đó học sinh có cơ sở để đánh giá những điểm giống và khác nhau trong khi

so sánh

* Dạng 2: Phiếu phát triển kĩ năng phân tích

Phân tích là một kĩ năng rất quan trọng, vì thông qua việc phân tích HS mớihiểu sâu các vấn đề, nắm chắc vốn tri thức mà mình tiếp thu được, từ đó mới vận dụnglinh hoạt vào việc giải bài tập cũng như vận dụng kiến thức vào thực tế một cách hợplí PHT dạng này định hướng cách tiếp nhận thông tin, bằng những kiến thức học sinh

có kết hợp với việc định hướng trong PHT các em tự hoàn thiện những kiến thức cònlại

* Dạng 3: Phiếu phát triển kĩ năng tổng hợp

Dạng PHT này giúp các em hệ thống lại những kiến thức đã học, nó có vai tròquan trọng khi học xong một chương, một phần hoặc toàn bộ chương trình đã học

Như vậy, việc phân loại PHT có thể hình dung qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1 Các loại PHT dùng trong dạy học

Trang 24

1.2.4 Yêu cầu phiếu học tập

* Quán triệt mục tiêu, nội dung bài học

Mục tiêu của bài học không chỉ là hoàn thành kiến thức, kĩ năng mà quan trọnghơn là phải phát triển tư duy và vận dụng kiến thức Do đó trong quá trình dạy học có

sử dụng PHT, giáo viên luôn bám sát mục tiêu bài học, không xa rời nội dung chínhcủa bài Tránh gây nhiễu cho học sinh trong quá trìng lĩnh hội kiến thức, tập trung vàokiến thức của bài

* Đảm bảo tính chính xác

Trong quá trình dạy học Sinh học nói chung việc sử dụng PHT là hết sức cầnthiết Tuy nhiên khi hướng dẫn học sinh hoàn thành hãy lập các sơ đồ, bảng hay trả lờicâu hỏi có trong PHT phải luôn đảm bảo tính chính xác về kiến thức của bài học, tránhviệc xây dựng PHT có sơ đồ, hệ thống quá rườm rà, phức tạp Việc sử dụng PHT, phù

Trang 25

hợp cả về trình độ nhận thức của học sinh, cả về thời gian và lôgic chung của chươngtrình không gò bó, gượng ép.

* Đảm bảo nâng dần mức độ từ dễ đến khó

Trong quá trình dạy học sử dụng PHT cho học sinh, tuỳ vào trình độ, năng lực

cụ thể của học sinh mà giáo viên nâng dần yêu cầu và mức độ hệ thống hoá từ dễ đếnkhó như sau: Giáo viên trình bày nội dung bằng ngôn ngữ hệ thống hoá (sơ đồ chữ),bằng lời, bằng sơ đồ, bằng bảng

1.2.5 Vai trò phiếu học tập

PHT có ưu thế cao hơn câu hỏi, bài tập ở chổ khi muốn xác định một nội dungkiến thức nào đó thỏa mãn nhiều tiêu chí hoặc xác định nội dung từ các tiêu chí khácnhau, nếu diễn đạt bằng câu hỏi thì dài dòng, ta có thế bằng một bảng có nhiều tiêu chíthuộc một cột, các hàng khác nhau Học sinh căn cứ vào tiêu chí ở cột và hàng để tìm ýđiền vào ô trống cho phù hợp Như vậy giá trị lớn nhất của PHT là với một nhiệm vụphứp tạp được định hướng rõ ràng, diễn đạt ngắn gọn bằng một bảng gồm các hàng,cột ghi rõ các tiêu chí cụ thể

Trong dạy học truyền thống, giáo viên là trung tâm hoạt động, trong một giờhọc hoạt động của giáo viên ciếm phần lớn, giáo viên trình bày giảng giải, làm thínghiệm, biểu diễn phân tích, tổng hợp minh họa còn học sinh ngồi nghe ghi chép,nhìn quan sát một cách thụ động, khi giáo viên nêu những câu hỏi thì học sinh thụ độngtrả lời, nhưng chỉ có một vài học sinh được hoạt động vì thời gian có hạn, còn nhiềuhọc sinh khác ngồi nghe câu trả lời của các bạn, của giáo viên Vì vậy không được hoạtđộng không được rèn luyện kĩ năng hoạt động Bằng việc sử dụng tích cực PHT,chuyển hoạt động của giáo viên từ trình bày, giảng giải, thuyết minh sang hoạt

động hướng dẫn, chỉ đạo Mọi học sinh được tham gia tích cực, không còn hiện tượngthụ động nghe giảng Cụ thể PHT có những vai trò sau:

1.2.5.1 Phiếu học tập là một phương tiện truyền tải nội dung dạy học

Trong quá trình dạy học PHT được sử dụng như một phương tiện để truyền tải kiếnthức, nội dung của phiếu chính là nội dung hoạt động học tập của học sinh Thông qua

Trang 26

việc hoàn thành các yêu cầu nhất định trong phiếu một cách độc lập hay có sự trợ giúpcủa giáo viên mà học sinh lĩnh hội được một lượng kiến thức tương ứng.

1.2.5.2 Phiếu học tập là một phương tiện hữu ích trong việc rèn luyện các kĩ năng

cho học sinh

Để hoàn thành được các yêu cầu do PHT đưa ra học sinh phải huy động hầunhư tất cả các kĩ năng hành động, thao tác tư duy: Quan sát, phân tích, tổng hợp, sosánh, phán đoán, suy luận, khái quát hoá, cụ thể hoá, hệ thống hoá Vì vậy sử dụngPHT trong quá trình dạy học sẽ giúp cho học sinh hình thành và phát triển các kĩ năng

cơ bản

1.2.5.3 Phiếu học tập phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, rèn luyện năng lực tự

học tự nghiên cứu cho học sinh

Trong quá trình tổ chức dạy học cho học sinh có thể sử dụng PHT giao cho mỗi

cá nhân hoặc nhóm học sinh hoàn thành, bắt buộc học sinh phải chủ động tìm tòi kiếnthức Vì vậy, tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh được nâng lên

Mặt khác mỗi PHT có thể dùng trong nhiều khâu của quá trình tự học nhưnghiên cứu tài liệu mới, ôn tập củng cố, kiểm tra đánh giá dưới nhiều hình thức như ởlớp hoặc ở nhà, có thể cần sự giúp đở của giáo viên hoặc không Do vậy, PHT còn pháthuy được khả năng tự học, tự nghiên cứu cho học sinh

1.2.5.4 Phiếu học tập là kế hoạch nhỏ để tổ chức dạy học

PHT thường được thiết kế dưới dạng bảng có nhiều cột, nhiều hàng thể hiệnnhiều tiêu chí Vì vậy, ưu thế của PHT là khi muốn xác định một nội dung kiến thức,thoả mãn nhiều tiêu chí hay xác định nhiều nội dung với các tiêu chí khác nhau VớiPHT một nhiệm vụ học tập phức tạp được định hướng rõ ràng, diễn đạt ngắn gọn nhưmột kế hoạch nhỏ dưới dạng bảng hoặc sơ đồ PHT có thể sử dụng trong tất cả cáckhâu của quá trình dạy học

1.2.5.5 PHT đảm bảo thông tin hai chiều giữa dạy và học, làm cơ sở cho việc uốn nắn, chỉnh sửa những lệch lạc trong hoạt động nhận thức của người học

Sử dụng PHT trong dạy học, giáo viên có thể kiểm soát, đánh giá được động lựchọc tập của học sinh thông qua kết quả hoàn thành PHT, thông qua báo cáo kết quả cá

Trang 27

nhân, thảo luận trong tập thể từ đó chỉnh sửa, uốn nắn những lệch lạc trong hoạt độngnhận thức của học sinh Do đó PHT đã trở thành phương tiện giao tiếp giữa thầy và trò,giữa trò - trò đó là mối liên hệ thường xuyên liên tục.

1.2.5.6 PHT là một biện pháp hữu hiệu trong việc hướng dẫn học sinh tự học

1.2.6 Dạy tự học bằng PHT

1.2.6.1 Khái niệm tự học

Ngày nay có nhiều tài liệu nói về tự học của HS, điều đó là tất yếu Phươngpháp tự học có thể giúp người học thích ứng được những đòi hỏi khắt khe của cuộcsống hiện đại Nó phải là phương pháp học tập cơ bản và suốt đời của người học [30]

“Tự học là tự mình động não, suy nghĩ sử dụng các năng lực trí tuệ quan sát, sosánh, phân tích, tổng hợp, có khi cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ thực hành) cùng cácphẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan, (nhưtrung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, không ngại khổ, kiên trì, nhẫnnại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đổ, biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnhmột lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại thành sở hữu của mình” [25] Để tự họcngười học phải huy động hết mọi nguồn lực có trong tay và trong tầm tay (nội lực)trước khi sử dụng khi sử dụng hỗ trợ từ người khác (ngoại lực)

Tự học là một quá trình tâm lí đặc trưng của con người, hoạt động tự học là hoạtđộng tự giác, tích cực, tự chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của tác nhânhướng tới những mục tiêu nhất định Tự học không chỉ có ý nghĩa trong thời gian họctập ở nhà trường, mà còn có ý nghĩa lớn trong cuộc đời mỗi con người [4]

1.2.6.2 Những khó khăn của HS khi tiến hành tự học

Một trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế của tự học là HS gặp nhiềukhó khăn khi sử dụng phương pháp này Đó có thể là những khó khăn khách quan nhưphải tự mình giải quyết việc học và những nguyên nhân chủ quan như thiếu tự tin, dễnản trí khi gặp bế tắc Trong số khó khăn đó nổi lên là những hạn chế về kĩ năng tựhọc Có thể kể ra một số khó khăn thường thấy khi thiếu kĩ năng tự học [25]

- Sưu tầm và phân loại tài liệu học tập

- Nghiên cứu tài liệu

Trang 28

- Khắc phục khó khăn khi không có giáo viên trợ giúp.

- Tự kiểm soát và quản lí quá trình tự học

- Đánh giá kết quả và hiệu quả tự học

1.2.6.3 Vai trò của phương pháp tự học

Nếu rèn luyện cho người học có được kĩ năng, phương pháp, thói quen tự học,biết ứng dụng những điều tự học vào những tình huống mới, biết phát hiện và giảiquyết những vấn đề đặt ra sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có chomỗi người Làm được như vậy kết quả học tập sẽ nâng lên gấp bội, HS sẽ có thể tiếptục tự học khi vào đời, dễ dàng thích ứng với cuộc sống trong xã hội Vì những lẽ đó,ngày nay trong quá trình dạy học, người ta nhấn mạnh hoạt động học, tạo sự chuyểnbiến từ học thụ động sang tự học chủ động

1.2.6.4 Vai trò PHT nhằm nâng cao khả năng tự học cho HS THPT

Đối với hoạt động tự học PHT là một biện pháp hữu hiệu để hỗ trợ học sinhtrong việc tự lực chiếm lĩnh tri thức Nó có tác dụng định hướng cho học sinh cần nắmbắt nội dung phần này như thế nào? Nội dung nào là nội dung trọng tâm? Với vai trò

đó nó đã giúp đỡ người thầy rất nhiều trong hoạt động dạy học Làm cho chất lượngdạy học ngày càng được nâng cao nhất là trong xu thế hiện nay việc tự học trở nên rấtquan trọng

Việc sử dụng PHT để phát triển biện pháp tự học cho HS đó là quá trình mà GV

sử dụng các dạng PHT, hướng dẫn, định hướng cho học sinh cách nghiên cứu tài liệu,lĩnh hội kiến thức Thông qua hệ thống các dạng PHT khác nhau GV giúp HS tiếp cậnvới hệ thống tri thức, biết cách tự nghiên cứu tài liệu, xử lý thông tin, từ đó hình thànhtri thức, kĩ năng, kĩ xảo, vận dụng linh hoạt những tri thức đã học vào các tình huốngkhác nhau Qua đó giúp các em có thể học suốt đời

Như vậy việc sử dụng PHT để dạy tự học cho học sinh có ý nghĩa thiết yếutrong dạy học hiện đại bởi một số lí do sau đây:

Thứ nhất: Phát triển khả năng tư duy sáng tạo của học sinh

Thứ hai: Tăng cường động cơ học tập

Trang 29

Thứ ba: Tạo điều kiện để học sinh thể hiện cảm xúc và phát triển các kĩ năng

tự biểu hiện

Vai trò của PHT trong dạy tự học được cụ thể hóa qua sở đồ sau:

1.2.7 Khả năng xây dựng phiếu học tập để dạy học chương I, phần di truyền học Sinh học 12 THPT nâng cao

Trong dạy học người ta có thể sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau,mỗi phương pháp có ưu điểm và nhược điểm riêng Tuy nhiên, để phát huy tính tíchcực, chủ động sáng tạo của người học, đòi hỏi GV phải biết lựa chọn phương pháp chophù hợp với từng đối tượng HS cũng như tuỳ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể Phươngpháp sử dụng PHT là một trong những phương pháp có nhiều ưu điểm, phương phápnày ngoài việc phát huy tính tích cực của học sinh, nó còn đảm bảo mối quan hệ mật

“Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng HS, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng HS phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện khả năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS”.

MỤC ĐÍCH

HÌNH THỨC

TỔ CHỨC

PHƯƠN G PHÁP

SỬ DỤNG PHT

TỔ CHỨC

HƯỚNG DẪN

Tự thể hiện

Trang 30

thiết giữa lý luận dạy học và thực tiễn, đảm bảo tính thống nhất giữa trực quan và trừutượng.

Học sinh lớp 12 thuộc lứa tuổi từ 17 – 18 đã nhận thức được tầm quan trọngcủa việc học tập, các em biết chuẩn bị cho mình một vốn kiến thức thật vững chắc,trước mắt đó là đối mặt với hai kỳ thi lớn là thi tốt nghiệp và thi đại học sau đó là bướcvào đời với hành trang kiến thức vững chắc để sống tốt hơn, có kiến thức vận dụng vàothực tế Vì thế muốn kích thích lòng ham học tập của học sinh, khơi dậy ở các em niềmvui trong học tập không còn cách nào khác là người giáo viên phải vận dụng một cáchlinh hoạt các phương pháp học tập tích cực, trong đó sử dụng PHT là một phương pháptrong các phương pháp đó Bản chất của quá trình dạy học là sự hình thành phản xạ cóđiều kiện, bằng việc đưa ra những tình huống có vấn đề, nếu HS giải quyết được cáctình huống đó các em sẽ thấy sung sướng, sảng khoái Do vậy thông qua việc sử dụngPHT sẽ phát huy hết tiềm năng ở các em

Xét trên cơ sở triết học mọi sự vật và hiện tượng điều tồn tại trong hai mặt đốilập nhau vừa thống nhất, vừa đấu tranh Chính vì vậy trong quá trình dạy học người

GV phải đặt ra những mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển HS vào tìnhhuống có vấn đề, phát huy cao độ tính năng động sáng tạo của các em trong việc giảiquyết vấn đề Nên việc sử dụng PHT có tác dụng tích cực là dạy cho học sinh năng lực

tự học, sáng tạo

Chương trình di truyền học nói chung, cơ chế di truyền và biến dị nói riêng đãđược đề cập trong chương trình sinh học THCS Đặc biệt lên đến lớp 9, học sinh đượcnghiên cứu tương đối bài bản về sự di truyền và biến dị Ở chương trình lớp 9 đã đềcập tới các vấn đề của sự di truyền và biến dị như:

- Các thí nghiệm của Menđen

- NST: NST, nguyên phân, phát sinh giao tử và thụ tinh, cơ chế xác định giới tính, ditruyền liên kết

- ADN và gen: Mối quan hệ ADN–ARN–Protein Mối quan hệ giữa gen và tính trạng

- Biến dị: Đột biến gen, ĐBCT NST, đột biến số lượng NST, thường biến

- Ứng dụng di truyền học

Trang 31

Sự di truyền còn đề cập trong chương trình lớp 10 đó là sự phân bào (cơ chế ditruyền ở cấp độ tế bào).

Như vậy, kiến thức di truyền học và biến dị đã được học sinh tiếp cận tương đốisớm, chính vì thế HS đã có một vốn kiến thức cơ bản về hiện tượng di truyền và biến

dị Lên lớp 12 kiến thức di truyền tiếp tục được HS nghiên cứu trên cơ sở có sự kế thừa

và phát triển nội dung di truyền học ở các cấp học dưới Do vậy, việc áp dụng phươngpháp dạy học nào để phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh là việc làmhết sức quan trọng

Chương I phần di truyền học lớp 12 là kiến thức không mới, do đó đòi hỏi các

em phải nhớ lại những kiến thức đã học từ đó vận dụng linh hoạt vào nội dung chươngtrình sao cho hợp lý Để làm được điều này người giáo viên phải biết kích thích học tập

và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh Trong quá trình soạn bài phải thận trọng đểlàm sao cho bài giảng của mình thật sinh động, hấp dẫn và sâu sắc, trong giờ dạy ngườigiáo viên phải biết tạo ra những tình huống có vấn đề bằng những câu hỏi mang tínhchất định hướng, gây được sự tò mò cho học sinh, kích thích các em làm việc chủđộng, sôi nổi trong giờ học Do vậy, người giáo viên cần chỉ dẫn cho học sinh cách giảiquyết vấn đề, mặt khác cần rèn luyện cho các em kĩ năng, kĩ xảo làm việc độc lập vớisách giáo khoa

Qua trên ta thấy viếc áp dụng phương pháp dạy học bằng việc sử dụng PHT sẽ

có hiệu quả cao, nếu sử dụng một cách hợp lý, thường xuyên và kết hợp lịnh hoạt vớicác phương pháp khác sẽ nâng cao được chất lượng học tập ở các em, đặc biệt hìnhthành ở các em tinh thần tự học, tự nghiên cứu, hình thành những kĩ năng, kĩ xão cơ bản cho các em

Tóm lại: kiến thức chương I phần di truyền học hoàn toàn có thể sử dụng PHT

để phục vụ cho quá trình dạy và học Nếu sử dụng thường xuyên và có khoa học sẽnâng cao được chất lượng dạy học đáp ứng được những đổi mới trong dạy và học theoquy định của Bộ GD&ĐT đề ra

1.3 Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng PHT để dạy học sinh học

1.3.1 Thực trạng xây dựng và sử dụng PHT trong dạy học của GV

Trang 32

* Phương pháp giảng dạy

Qua việc điều tra 28 giáo viên dạy bộ môn sinh học thuộc các trường: THPTNông Cống 1, Nông cống 2, Nông Cống 3, Nông Cống 4, Tĩnh Gia 2, Quảng Xương 2.Chúng tôi thu được kết quả trong bảng sau:

Bảng 1.1 Kết quả điều tra việc sử dụng phương pháp dạy học

* Thực trạng và kĩ năng sử dụng PHT trong dạy học phần kiến thức, kĩ năng chương I phần Di truyền học nói riêng và môn Sinh học nói chung

-Cũng qua điều tra 28 GV chúng tôi thu được kết quả:

- Việc xây dựng PHT để dạy học:

- Việc sử dụng PHT để dạy:

Trang 33

Thường xuyên: 0%; Không thường xuyên: 11% ; Ít sử dụng 57%; Không bao giờ: 32%

- Mức độ cần thiết của việc sử dụng PHT để dạy học chương I phần DTH nói riêng vàtrong môn sinh học nói chung

- Khi sử dụng PHT có kết hợp cho HS thảo luận và sử dụng vốn kinh nghiệm sẵn có

- Không khí học tập của HS như thế nào khi sử dụng PHT để dạy học?

- Thầy cô đánh giá như thế nào về mức độ nhận thức của HS khi sử dụng PHT?

- Tình hình sử dụng PHT trong việc hướng dẫn HS tự học:

STT

Các khâu của quá trình dạy

học

Mức độ sử dụng (%)Thường

xuyên

Không thườngxuyên

Ít sửdụng

Không sửdụng

- GV chưa thực sự coi trọng việc xây dựng và sử dụng PHT để dạy học Sinh học.Chính vì vậy chất lượng sử dụng PHT để dạy học chưa cao

- Đa phần GV chưa hiểu rỏ bản chất cơ sở lí luận của PHT, đặc biệt là quy trìnhxây dựng và sử dụng PHT trong dạy tự học

27

Trang 34

- Qua dự giờ một số GV ở các trường THPT chúng tôi nhận thấy kĩ năng sử dụngPHT trong dạy học của GV chưa thật sự hợp lí: GV chưa khai thác hết tác dụng củaphiếu Phần lớn các bài có sử dụng PHT thì GV thường dạy không hết bài “Cháy giáoán”.

Tóm lại: Phương pháp dạy học phổ biến ở các trường THPT hiện nay vẫn chỉ là

thuyết trình giảng giải là chính Phương pháp dạy học tích cực đã bắt đầu được ứng dụngvào dạy học Sinh học ở các trường THPT, nhưng vì chưa có sự hiểu biết đầy đủ về cơ sởkhoa học các phương pháp này cho nên hiệu quả chưa cao

* Nguyên nhân của những hạn chế đó là:

nhiều, nội dung có nhiều thay đổi Vì vậy, một số giáo viên chưa nắm được bản chấtnội dung kiến thực Điều này đã làm hạn chế trong công việc soạn giáo án và tổ chứcgiảng dạy của GV

- Việc thay đổi giáo dục, chuyển từ việc dạy học lấy GV làm trung tâm sang dạyhọc lấy HS làm trung tâm, làm cho đa phần giáo viên và học sinh chưa thích ứng kịp

học đặc biệt trong dạy rự học nên hiệu quả sử dụng chưa cao

1.3.2 Thực trạng của HS nhận thức tri thức thông qua sử dụng PHT

- HS chưa làm quen với các phương pháp tự học đặc biệt là việc sử dụng PHT

để nâng cao khả năng tự học do vậy chất lượng dùng phiếu chưa cao, đa phần HS còn ĩ lại không chủ động tự lĩnh hội kiến thức

- Hầu hết HS quen với kiểu học thuộc lòng, chưa biết c27ách học, cách phântích chứng minh làm rõ nội dung bài học

- Đa số HS coi môn học là môn phụ do vậy không đầu tư thời gian, công sứcvào việc học tập, việc học của HS không có động cơ bên trong mà chỉ mang tính đốiphó với thầy giáo hay trong các giờ kiểm tra

Chính vì những lí do trên nên việc dạy và học phần di truyền chưa cao đặc biệtchưa phát huy hết năng lực tự học của HS, chưa đảm bảo được yêu cầu đổi mới dạyhọc theo quy định của Bộ GD và ĐT đặt ra

28

Trang 35

Chương II Xây dựng và sử dụng các dạng phiếu học tập về nội dung kiến thức chương I - phần di truyền học Sinh học 12 PTTH nâng cao

2.1 Xây dựng các dạng PHT để dạy học chương I phần DTH sinh học 12

2.1.1 Phân tích nội dung cấu trúc chương trình chương I, phần di truyền học Sinh học 12 THPT nâng cao

2.1.1.1 Khái quát nội dung kiến thức chương I phần DTH

Chương 1: Cơ chế của hiện tượng di truyền và biến dị gồm 10 bài:

+ Bài 1: Gen, mã di truyền và tự nhân đôi AND

+ Bài 2: Phiên mã và dịch mã

+ Bài 3: Điều hoà hoạt động Gen

+ Bài 4: Đột biến Gen

+ Bài 5: Nhiểm sắc thể và đột biến nhiễm sắc thể

+ Bài 6: Đột biến số lượng nhiểm sắc thể

+ Bài 7: Thực hành: Quan sát các dạng đột biến số lượng NST

+ Bài 8: Ôn tập chương

+ Bài 9- 10: Thực hành

Nội dung chính của chương I nói về vật chất di truyền ở cấp độ phân tử, cấp

độ tế bào; cơ chế di truyền ở cấp độ phân tử; cơ chế biến dị ở cấp độ phân tử và tế bào.Nội dung chủ yếu trình bày về cách thức tổ chức thông tin thành các đơn vị di truyền,gen, khái niệm mã di truyền, cách thức truyền đạt thông tin di truyền từ tế bào này sang

tế bào khác (quá trình nhân đôi ADN), Từ ADN sang ARN (phiên mã), từ ARN sangprotein (quá trình dịch mã)

Vật chất di truyền đề cập đến gen (vật chất di truyền ở cấp độ phân tử) và NST(vật chất di truyền ở cấp độ tế bào)

Cơ chế di truyền đề cập chủ yếu tới cơ chế di truyền ở cấp độ phân tử đó làmối quan hệ giữa ADN, ARN, Prôtein Mối quan hệ đó được thể hiện quát sơ đồ: ADN – mARN – Prôtêin

Ngoài ra, liên quan tới cơ chế di truyền còn đề cập tới cơ chế điều hoà hoạt độngcủa gen ở sinh vật nhân sơ và sinh vật nhân thực

28

Trang 36

Cơ chế biến đổi vật chất di truyền đề cập tới hiện tượng đột biến bao gồm có độtbiến gen (đột biến ở cấp độ phân tử) và đột biến NST (đột biến ở cấp độ tế bào) Ngoài

ra trong phần này còn trình bày về cấu trúc của bộ máy di truyền ở cấp độ tế bào(nhiễm sắc thể) NST được xem là cấu trúc mang thông tin di truyền của tế bào, chúngđược tổ chức sao cho quá trình truyền đạt thông tin giữa các tế bào được tiến hành mộtcách chính xác, đồng thời giúp tế bào điều hòa hoạt động của gen

Bài ôn tập chương: Hệ thống hóa kiến thức của chương, đề cập tới một sốdạng bài tập cơ bản ứng dụng những kiến thức lý thuyết đã học Gồm có bài tập về cơchế di truyền ở cấp độ phân tử và cơ chế đột biến ở cấp độ phân tử và cấp độ tế bào

Bài 9: Thực hành xem phim về cơ chế nhân đôi ADN, phiên mã và dịch mã.Qua bài này học sinh có khả năng vận dụng kiến thức đã học để phân tích sơ đồ diễnbiến của quá trình nhân đôi ADN, quá trình phiên mã, quá trình dịch mã Đồng thờiqua bài này rèn luyện kỹ năng quan sát, tính sáng tạo trong các tình huống khác nhau

Bài 10: Thực hành quan sát các dạng đột biến số lượng NST trên tiêu bản cốđịnh hay trên tiêu bản tạm thời Qua bài này học sinh có thể phân biệt được các dạngđột biến NST trên tiêu bản cố định hay tiêu bản tạm thời, vẽ được số lượng, hình tháiNST đã quan sát

Tóm lại nội dung kiến thức chương này có thể được thể hiện qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.1 Các thành phần kiến thức chương I- phần di truyền học sinh học 12

Trang 38

2.1.1.2 Đặc điểm kiến thức, kĩ năng chương I phần DTH Sinh học 12 THPT

- Tính khái quát: Chương I - phần DTH cung cấp những kiến thức chung nhất

về cấu trúc VCDT ở cấp độ phân tử và cấp độ tế bào, quá trình biểu hiện của chúng, cơchế di truyền của VCDT qua các thế hệ tế bào và thế hệ cơ thể khác nhau Đồng thờichương I còn cung cấp một cách khái quát nhất về các hình thức đột biến, nguyênnhân, cơ chế phát sinh, cơ chế biểu hiện cũng như hậu quả và ý nghĩa của chúng

- Tính kế thừa: Chương I phần DTH được đặt ở vị trí đầu tiên của chươngtrình sinh học 12 Sau khi học sinh đã học hết chương trình lớp 10, học sinh được lĩnhhội hệ thống kiến thức cấu tạo và cấu trúc vật chất di truyền, cũng như đã tìm hiểu về

cơ chế di truyền ở cấp độ tế bào Như vậy trong chương này học sinh tiếp tục tìm hiểu

về cơ chế di truyền, vai trò và sự biểu hiện của các vật chất đó trong tế bào, cũng nhưtìm hiểu về cơ chế của sự biến đổi VCDT ở các cấp độ khác nhau

- Tính lôgic: Các bài trong một chương I có liên hệ rất chặt chẽ với nhau, bàitrước là cơ sở để học các bài sau

VD: Sau khi học song bài 1 và 2 học sinh sẽ có cơ sở để tìm hiểu về quá trình điều hoàhoạt động của gen Đồng thời học xong các bài 1, 2, 3 là cơ sở để học sinh tìm hiểu quátrình biến đổi vật chất di truyền qua bài 4 và bài 6

Sau khi tìm hiểu chương cơ chế di truyền và biến dị sẽ là cơ sở cho học sinhtìm hiểu tính quy luật của hiện tượng di truyền Các tính trạng được biểu hiện ra ngoài

cơ thể là do sự tương tác giữa prôtêin với môi trường sống, các tính trạng đó khôngphải biểu hiện một cách ngẫu nhiên, mà chúng được biểu hiện tuân theo những quy luậthết sức chặt chẽ Bên cạnh đó một số tính trạng không bình thường có thể biểu hiệnmột cách đột ngột có thể làm tăng hoặc giảm sức sống cá thể do hiện tượng đột biếngây ra

Như vậy, chương I được đặt ở vị trí đầu tiên thể hiện tính logic, tính khoa học

- Tính hiện đại và thực tiễn: mỗi bài đều được lồng các kiến thức liên hệ thựctiễn từ đó giúp học sinh có ý thức hơn trong việc vận dụng kiến thức vào phục vụ đờisống Tạo cho học sinh niềm đam mê khoa học

VD: Vận dụng kiến thức vật chất di truyền để giải thích tính đa dạng của sinh

Trang 39

giới, vận dụng các quy luật di truyền để giải tính quy luật về sự di truyền các tính trạngcủa bố mẹ cho các thế hệ con cái, vận dụng hiện tượng đột biến để giải thích nhữngtính trạng bất thường của các cơ thể sinh vật

2.1.1.3 Thành phần kiến thức, kĩ năng chương I - phần di truyền học

Nội dung chương I được chia 3 loại: Kiến thức khái niệm, kiến cơ chế quátrình cơ bản, kiến thức về ứng dụng

a Kiến thức khái niệm

Theo tài liệu lí luận dạy học sinh học đại cương thì kiến thức khái niệm Sinhhọc có thể chia thành ba nhóm khái niệm [3]

* Những khái niệm phản ánh cấu trúc sống

* Những khái niệm phản ánh sự vận động của cấu trúc sống (tức cơ chế các quá trình

cơ bản của sự sống)

* Những khái niệm phản ánh các dấu hiệu đặc trưng, các hiện tượng cơ bản của sựsống

- Khái niệm phản ánh cấu trúc sống:

Khái niệm gen, intron, exon, các loại gen, mARN, rARN, tARN, mã di truyền,riboxom, axit amin, polyriboxom, Operol, NST, thể lệch bội, thể đa bội, tự đa bội, dị

đa bội

- Khái niệm cơ chế quá trình cơ bản:

Quá trình nhân đôi ở sinh vật nhân sơ, sinh vật nhân thực; phiên mã; dịch mã; quátrình điều hòa hoạt động gen ở sinh vật nhân sơ, sinh vật nhân thực; cơ chế hoạt độngcủa Oprol Lac; quá trình đột biến gen, đột biến NST; cơ chế đột biến gen, đột biếnNST; cơ chế, quá trình phát sinh đột biến; cơ chế, quá trình biểu hiện của đột biến gen

và đột biến NST

- Khái niệm phản ánh các dấu hiệu đặc trưng:

Sự di truyền, sự điều hòa hoạt động của gen, sự đột biến

b Kiến thức cơ chế quá trình

- Cơ chế tự sao, sao mã, giải mã; cơ chế hoạt động gen ở sinh vật nhân sơ, sinh vật

Trang 40

nhân thực; cơ chế đột biến gen (Cơ chế đột biến điểm); cơ chế đột biến NST; cơ chếđột biến cấu trúc NST; cơ chế đột biến mất, lặp đảo chuyển đoạn NST; cơ chế đột biến

số lượng NST; cơ chế đột biến thể lệch bội, đa bội, tự đa bội, dị đa bội

c Kiến thức ứng dụng

- Ứng dụng sự di truyền ở cấp độ phân tử tức ứng dụng mối qua hệ giữa ADN,ARN, PROTEIN

- Ứng dụng sự điều hòa hoạt động của gen nhằm điều khiển các sản phẩm của gen,

từ đó vận dụng tạo ra các sản phẩm sinh học phục vụ cho các hoạt động sống

- Ứng dụng hiện tượng đột biến gen và nhiễm sắc thể trong chọn giống vật nuôi vàcây trồng

- Ứng dụng kiến thức lí thuyết để giải một số bài tập liên quan tới hiện tượng ditruyền và biến dị của sinh vật

Như vậy, kiến thức ứng dụng phần này chủ yếu vận dụng lý thuyết để giải thích các hiện tượng về di truyền trong cuộc sống, trong di truyền học người, trong chọn giốnglàm cơ sở cho những phần học tiếp theo Đây là những kiến thức trọng tâm, là những

“giáo lí trung tâm” làm nền tảng khoa học vững chắc cho các lĩnh vực khác như côngnghệ sinh học, di truyền học người, giải thích sự tiến hóa của sinh vật

d, Kĩ năng

- Qua chương I rèn luyện cho HS các kĩ năng: Phân tích, so sánh, quy nạp khái quáthoá, suy luận đề xuất giả thuyết, hệ thống hoá, vận dụng kiến thức đã học, vận dụng kiến thức thực tế

- Lập bảng so sánh các cơ chế sao chép, phiên mã, dịch mã sau khi xem phim giáokhoa về quá trình này

- Biết làm tiêu bản tạm thời NST xem tiêu bản cố định và nhận dạng được một vàiđột biến số lượng NST dưới kính hiển vi quang học

- Kĩ năng vận dụng lí thuyết vào thực tế

Thứ

tự

PHT hình thành kiến thức mới

PHT củng cố, hoàn thiện,

28

Ngày đăng: 27/12/2013, 21:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH THỨC TỔ CHỨC - Xây dựng và sử dụng phiếu học tập để dạy tự học chương 1  phần di truyền học sinh học 12 THPT nâng cao
HÌNH THỨC TỔ CHỨC (Trang 29)
Bảng 1.1. Kết quả điều tra việc sử dụng phương pháp dạy học - Xây dựng và sử dụng phiếu học tập để dạy tự học chương 1  phần di truyền học sinh học 12 THPT nâng cao
Bảng 1.1. Kết quả điều tra việc sử dụng phương pháp dạy học (Trang 32)
Bảng 2.2. PHT dùng trong các khâu của quá trình dạy học - Xây dựng và sử dụng phiếu học tập để dạy tự học chương 1  phần di truyền học sinh học 12 THPT nâng cao
Bảng 2.2. PHT dùng trong các khâu của quá trình dạy học (Trang 44)
Hình   thành   kiến thức mới trên lớp - Xây dựng và sử dụng phiếu học tập để dạy tự học chương 1  phần di truyền học sinh học 12 THPT nâng cao
nh thành kiến thức mới trên lớp (Trang 44)
Hình   thành   kiến thức mới tại nhà - Xây dựng và sử dụng phiếu học tập để dạy tự học chương 1  phần di truyền học sinh học 12 THPT nâng cao
nh thành kiến thức mới tại nhà (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w