1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vài nét về chế độ giáo dục khoa cử nho học ở nam định dưới thời nguyễn 1802 1919

59 572 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vài nét về chế độ giáo dục khoa cử Nho học ở Nam Định dưới thời Nguyễn 1802 - 1919
Tác giả Phạm Văn Chinh
Người hướng dẫn PTS. Phan Trọng Sung
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 1919
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 222,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

và trong một chặng đờng dài của nền giáo dục khoa cử Nhohọc nớc nhà, Nam Định đã đóng góp rất nhiều trí thức nho học mà tên tuổi củahọ vẫn đợc sử sách mãi mãi nhắc tới nh: Nguyễn Hiền, L

Trang 1

Mục lục

Trang

Phần A: Mở đầu.

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn để nghiên cứu 4

3 Nhiệm vụ và giới hạn của đề tài 5

4 Phơng pháp nghiên cứu 6

5 Bố cục đề tài 6

Phần B: Nội dung Chơng 1: Khái quát chung về địa lý tự nhiên, lịch sử và truyền thống giáo dục khoa cử Nho học Nam Định trớc thời Nguyễn (1075 - 1802) 8

1.1 Vị trí địa lý tự nhiên, lịch sử Nam Định 8

1.2 Giáo dục khoa cử Nho học Nam Định trớc thời Nguyễn (1075 - 1802) 11

Chơng 2 vài nét về chế độ Giáo dục khoa cử Nho học Nam Định dới thời Nguyễn (1802 - 1919) 28

2.1 Tình hình giáo dục ở Nam Định thời Nguyễn 28

2.1.1 Tổng hợp về tình hình giáo dục 28

2.1.2 Hệ thống trờng học ở Nam Định 29

2.2 Tình hình khoa cử Nam Định thời Nguyễn (1802 - 1919) 32

2.2.1 Thi Hơng và danh sách cử nhân Nam Định 32

2.2.2 Danh sách các vị đỗ Tiến sĩ, Phó bảng 55

2.2.3 Danh sách các vị Đại khoa Nam Định cha có cứ liệu chính xác 62

2.3 Làng, dòng họ và những thầy giáo nổi tiếng 65

2.3.1 Những làng và dòng họ tiêu biểu 65

2.3.2 Những thầy giáo nổi tiếng 69

2.4 Thành tựu giáo dục và đào tạo Nam Định thời kỳ đổi mới 72

Trang 2

Phần C Kết luận 75

phụ lục Tài liệu tham khảo 78

Phần A: Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Nam Định là tỉnh duyên hải phía Nam đồng bằng Bắc bộ, là nơi phong phú

về lịch sử và di tích lịch sử cũng nh cảnh đẹp tự nhiên Đặc biệt Nam Định là tỉnh

có truyền thống yêu nớc và văn hiến lâu dài, là quê hơng của vơng triều Trần vớihào khí Đông A, làm nên cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên chóingời sử sách

Nam Định là một phần gắn bó máu thịt với Tổ quốc Việt Nam yêu dấutrong suốt mấy nghìn năm lịch sử Nằm ở giữa hạ lu hai con sông lớn của đồngbằng Bắc Bộ là sông Hồng và sông Đáy Cũng nh những dòng sông đó, hàng nămvẫn cần cù bồi đắp lên những giọt phù sa màu mỡ làm tăng độ phì nhiêu cho

đồng bằng Bắc Bộ Nam Định vẫn gìn giữ những bản sắc văn hoá lâu dài của dântộc, đồng thời cũng biểu hiện rõ một sắc thái văn hoá riêng biệt

Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, Nam Định đã sản sinh ranhiều vị anh hùng dân tộc nh Hng Đạo Đại Vơng Trần Quốc Tuấn, Bảo NghĩaHầu Trần Bình Trọng với lời nói khảng khái: “Ta thà làm quỷ nớc Nam còn hơn

Trang 3

làm vơng đất Bắc'' và trong một chặng đờng dài của nền giáo dục khoa cử Nhohọc nớc nhà, Nam Định đã đóng góp rất nhiều trí thức nho học mà tên tuổi của

họ vẫn đợc sử sách mãi mãi nhắc tới nh: Nguyễn Hiền, Lơng Thế Vinh, Trần VănBảo, Trần Bích San, Khiếu Năng Tĩnh, Phạm Văn Nghị, Đặng Xuân Bảng chính họ là những tài sản vô giá cho sự trờng tồn và phát triển của quốc gia, củadân tộc, đấy là cha kể tới những con ngời tài giỏi khác mà trong dòng chảy củathời gian, vì một yếu tố khách quan nào đó đã vô tình bị lớp bụi thời gian chephủ

Là ngời con sinh ra trên mảnh đất Nam Định yêu qúy, đợc tắm mát và rất

đổi tự hào trong truyền thống văn hiến của quê hơng Hơn thế nữa tôi lại là sinhviên ngành sử, đã từ lâu ấp ủ mong ớc tự mình tổng hợp lại những thành tựu vềgiá trị tinh thần của ông cha qua truyền thống giáo dục khoa cử Nho học của tỉnhnhà, để qua đó giúp cho chính bản thân tôi và các thế hệ sau này hiểu đợc nhữnggiá trị to lớn và đẹp đẽ mà ông cha đã dựng lên, để cho dòng chảy của tri thức sẽchẳng bao giờ ngừng trên quê hơng Nam Định Chính vì những mong ớc ấy, tôi

đã mạnh dạn chọn đề tài: “Vài nét về chế độ giáo dục khoa cử Nho học ở Nam

Định dới thời Nguyễn 1802 - 1919” làm khoá luận tốt nghiệp đại học của mình.Mặc dù tôi biết đó là một đề tài không dễ dàng bởi sự rắc rối trong việc su tầm và

xử lý số liệu Nhng tôi tin rằng bằng lòng say mê của mình, sự giúp đỡ tận tìnhcủa thầy Phan Trọng Sung và các thầy cô giáo trong bộ môn lịch sử Việt Nam,tôi có thể góp một phần nhỏ vào việc tái hiện lại nền giáo dục khoa cử Nho họcthời Nguyễn trên quê hơng Nam Định

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

“Giáo dục và Khoa cử Nho học ở Nam Định dới thời Nguyễn (1802 1919)'' là một đề tài rộng Vì vậy nghiên cứu nó cần phải có thời gian bởi tính chitiết và sự rắc rối trong việc xử lý số liệu của vấn đề, đặc biệt với Nam Định trongtiến trình phát triển của mình đã nhiều lần thay tên, nhập vào và tách ra với cácvùng đất khác

-Việc thi cử, học hành và đỗ đạt của các nhà khoa bảng, từ xa đã đợc các sửgia ghi lại một cách đầy đủ, nhng đó chỉ là những vấn đề chung của một triều đạihay cả một chiều dài hàng ngàn năm của chế độ phong kiến Có thể kể ra nh:

Trang 4

- Lịch Triều Hiến Chơng loại chí của Phan Huy Chú - NXB Hà Nội 1992

- Quốc Triều Hơng khoa lục của Cao Xuân Dục - NXB TP Hồ Chí Minh

1993

- Đại việt sử ký toàn th của Ngô Sĩ Liên

Những ông Nghè, ông Cống triều Nguyễn của Bùi Hạnh Cẩn (chủ biên)

-NXB văn hoá, Hà Nội 1993

- Các vị Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám hoa qua các triều đại phong

kiến Việt Nam của Trần Hồng Đức - NXB VHTT, Hà Nội 1999

- Lịch sử giáo dục Việt Nam trớc cách mạng tháng Tám 1945 của Nguyễn

Đăng Tiến (chủ biên) - NXBGD 1996

- Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thái phong kiến của

Nguyễn Tiến Cờng - NXBGD, Hà Nội 1998

Ngoài ra còn có rất nhiều cuốn sách viết về giai thoại, tiểu sử của các nhàkhoa bảng Việt Nam Tuy nhiên, từ trớc tới nay cha có một công trình nghiên cứuchuyên khảo cụ thể nào về chế độ giáo dục khoa cử Nho học ở Nam Định dớithời Nguyễn nói riêng, và các triều đại phong kiến Việt Nam nói chung Đây là

sự khó khăn, nhng cũng là niềm tự hào của tôi, đợc là một trong những ngời đầutiên đặt bút tìm hiểu truyền thống giáo dục khoa cử ở quê hơng mình

3 Nhiệm vụ và giới hạn của đề tài

Trong phạm vi của đề tài, chủ yếu chúng tôi chú ý đề cập tới những vấn đề sau:

Thứ nhất: Khái quát về địa lý tự nhiên, lịch sử và truyền thống giáo dục

khoa cử Nho học ở Nam Định trớc thời Nguyễn từ 1075 - 1082 Từ đó giúp ngời

đọc có thể thấy đợc vị trí địa lý tự nhiên, truyền thống hiếu học của con em Nam

Định từ xa, và đó chính là nguồn sữa nuôi nấng và thúc đẩy dòng chảy tri thức, làtấm gơng cho các thế hệ mai sau

Thứ hai: Đề tài đi sâu nghiên cứu vài nét về giáo dục khoa cử Nho học ở

Nam Định dới thời Nguyễn từ 1802 - 1919, làm sáng tỏ phần nào tình hình giáodục khoa cử, các kỳ thi thờng ở Nam Định, danh sách các vị đỗ đại khoa, trungkhoa, những dòng họ, và những tấm gơng trong việc tu dỡng đạo đức Sản phẩmcủa giáo dục khoa cử Nho học thời Nguyễn.So sánh, đánh giá sự hơn kém về tỷ lệ

Trang 5

đỗ đạt giữa Nam Định với các tỉnh khác để làm nổi bật tình hình giáo dục khoa

cử ở Nam Định

Cuối cùng rút ra những nhận xét đánh giá khách quan về giáo dục khoa cửNho học ở Nam Định dới thời Nguyễn và vai trò của nó đối với sự phát triển củanền giáo dục Nam Định nói riêng, và nền giáo dục Việt Nam nói chung tronggiai đoạn hiện nay

4 Phơng pháp nghiên cứu.

Đề tài này, chúng tôi sử dụng các chuyên ngành nh đọc tài liệu, su tầm,thống kê, tập hợp các con số, trích dẫn, đối chiếu, đánh giá và phân tích vấn đề

Đồng thời, chúng tôi còn sử dụng phơng pháp lịch sử và phơng pháp lô gíc

để làm sáng tỏ nhiều sự kiện nhằm rút ra những nhận xét khách quan hơn

5 Bố cục của đề tài

1.1 Vị trí địa lý tự nhiên, lịch sử Nam Định

1.2 Giáo dục khoa cử Nho học Nam Định trớc thời Nguyễn (1075 - 1802)

Chơng 2 : Vài nét về chế độ giáo dục khoa cử Nho học ở Nam Định

dới thời Nguyễn (1802 - 1919)

2.1 Tình hình giáo dục ở Nam Định thời Nguyễn

2.1.1 Tổng hợp về tình hình giáo dục

2.1.2 Hệ thống trờng học ở Nam Định thời Nguyễn

Trang 6

2.2 Tình hình khoa cử ở Nam Định dới thời Nguyễn.

2.2.1 Thi Hơng và danh sách Cử nhân Nam Định

2.2.2 Danh sách Tiến sĩ và Phó bảng Nam Định

2.2.3 Danh sách những vị đại khoa cha có cứ liệu chính xác

2.3 Làng, dòng họ và những thầy giáo nổi tiếng:

2.3.1 Những làng và dòng họ tiêu biểu

2.3.2 Những thầy giáo nổi tiếng

2.4 Thành tựu giáo dục và đào tạo ở Nam Định thời kỳ đổi mới

Phần C: Kết luận

Phần B: Nội dung Chơng 1: Khái quát về địa lý tự nhiên, lịch sử và truyền thống giáo dục khoa cử nho học Nam Định

trớc thời Nguyễn (1075 - 1802).

1.1 Vị trí địa lý tự nhiên, lịch sử Nam Định

Nam Định là tỉnh duyên hải ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ, phía đôngNam giáp biển đông, phía đông Bắc giáp tỉnh Thái Bình, phía Tây Bắc giáp tỉnh

Hà Nam, phía Tây giáp tỉnh Ninh Bình, Nam Định có diện tích tự là 1.657,5 km2,bằng 6,52% diện tích toàn quốc [3;9]

Nam Định nằm giữa hạ lu hai con sông lớn của đồng bằng Bắc Bộ là sôngHồng và sông Đáy Ngay từ thời tiền sử, Nam Định đã là bộ phận không thể tách

rời của lãnh thổ Việt Nam ngày nay, là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt

Việt Nam

Khi nhà nớc Văn Lang - Âu Lạc đợc thành lập, vùng đất Nam Định thuộc

bộ Giao Chỉ Dới thời Bắc thuộc, đất nớc bị chia thành quận, huyện, Nam Địnhthuộc huyện Chu Diên quận Giao Chỉ Từ thời Tam Quốc (220 - 280), Nam Địnhthuộc quận Vũ Bình

Trang 7

Sau khi giành đợc độc lập tự chủ (thế kỷ X) tới nay, Nam Định trải quanhiều cuộc biến đổi về địa giới, hành chính, khi nhập, khi tách, và tên gọi cũngthay đổi qua các thời ky, lúc là Đạo, lúc là Lộ, lúc là Thừa Tuyên khi là Xứ làTrấn rồi là Tỉnh

Thời Lý, Nam Định thuộc lộ Hải Thanh và lộ Hoàng Giang Thời Trần,phần lớn đất Nam Định đợc gọi là phủ Thiên Trờng [5 ; 201]

Năm 1469, Lê Thánh Tông đặt Thừa tuyên làm đơn vị hành chính, sau đổiThừa tuyên thành Xứ, Nam Định thuộc xứ Sơn Nam Năm 1741, Lê Cảnh Hngtách xứ Sơn Nam thành Sơn Nam Hạ và Sơn Nam thợng, Nam Định thuộc SơnNam Hạ bao gồm cả phần đất Thái Bình Triều Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 3(1822) Sơn Nam Hạ đợc đổi thành Trấn Nam Định Năm 1831, sau cải cách hànhchính, trấn Nam Định đổi thành tỉnh Nam Định gồm có 4 phủ, 18 huyện Chotới1890 tách hai phủ lập tỉnh Thái Bình, Nam Định còn 2 phủ là Thiên Trờng vàNghĩa Hng, 9 huyện [5 ; 421]

Theo thời gian, vùng đất Nam Định ngày càng đợc mở rộng, lấn nhanh rabiển, thế kỷ XIX đã ghi nhận một bớc phát triển đáng kể ở vùng đất Nam Định.Thủ phủ Nam Định đợc thiết lập trên cơ sở vùng kho lơng Vị Hoàng trớc đây,thành Nam bắt đầu đợc xây dựng vào năm 1804, dần dần thành Nam trở thànhnơi buôn bán sầm uất vào bậc nhất ở duyên hải Bắc Bộ, và trở thành vị trí chiến l-

ợc quan trọng về kinh tế, quốc phòng và yết hầu của thành Hà Nội Vì vậy, khi

thực dân Pháp nuôi dã tâm xâm lợc nớc ta, chúng đã nhận định: ''Chiếm đợc

thành Hà Nội và thành Nam Định tức là chiếm đợc Bắc Kỳ''

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, các đơn vị hành chính của tỉnh Nam

Định thay đổi theo thời gian, và từ tháng 2/1997 tới nay toàn bộ tỉnh Nam Định baogồm 9 huyện: Mỹ Lộc, Vụ Bản, ý Yên, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trờng, GiaoThủy, Hải Hậu, Nghĩa Hng và thành phố Nam Định, với 225 xã, phờng, thị trấn

Nam Định là một tỉnh có bờ biển dài 72km từ cửa Ba Lạt đến cửa Đáy Địahình chia làm hai vùng Nếu nh phía Bắc đất đai thờng bị ngập úng, thì phía Nam

đất đai ở đây do phù sa sông Hồng và sông Đáy bồi đắp, nên màu mỡ, phì nhiêuhơn Tuy nhiên, để có thể nuôi sống con ngời, ngời dân ở đây phải tiến hành khai

khẩn, đắp đê ngăn mặn câu ngạn ngữ Làm nh Nam hạ bốc đất” mới chỉ khái

quát đợc phần nào hình ảnh ngời dân nơi đây Lịch sử khẩn hoang ở đây đã để lại

Trang 8

những ngời có công lớn đối với nhân dân Nam Định, trong đó có những ngời từnơi khác đến nh Nguyễn Công Trứ, đồng thời cũng có ngời là con của mảnh đấtNam Định nh Phạm Văn Nghị, Nguyễn Ngọc Liên Chính những làng xóm máimọc lên đã trở thành một cộng đồng đoàn kết, gắn bó keo sơn Sự đoàn kết nàycòn tạo thành và làm phong phú thêm nét đẹp truyền thống văn hoá bình dị nhnggiàu tình nhân văn của Nam Định nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung

Để giữ gìn bản sắc văn hoá của quê hơng, của dân tộc, trong suốt hàngngàn năm dựng nớc, những thế hệ Nam Định luôn đứng lên đấu tranh, từ đầu kỷnguyên khi Hai Bà Trng phất cờ khởi nghĩa cho tới khi Đảng cộng sản Việt Nam

ra đời (3/2/1930) lãnh đạo nhân dân ta làm nên hai cuộc khánh chiến thần thánhcủa dân tộc, chống Pháp, và chống Mỹ Trong đó phải kể tới những tấm gơng tiêubiểu cho truyền thống đấu tranh bất khuất đó nh: Thục côn Công chúa, Hồng N-

ơng nữ tớng trong khởi nghĩa Hai Bà Trng; Đinh Lôi, Hoàng Tề, Vũ Đình Dung lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa nông dân Phan Bá Vành; tấm gơng chống Pháp tiêubiểu cho kẻ sỉ và sĩ phu Bắc Hà thời Nguyễn là Đốc học Nam Định Phạm Văn

Nghị, ớc ao của ông muốn ném bút gắng công, khiến cho anh hùng hào kiệt

nghe thấy mà nổi dậy ” Ông thành lập đội nghĩa binh gồm 365 ngời đa số là Nho

sĩ, từ Nam Định kéo vào Đà Nẵng đánh Pháp Một sĩ phu đơng thời nghe tin ông

đem quân đi Đà Nẵng đã xúc động viết:

“Nghe nói tiên sinh đã cử binh Nhìn gơm, ốm dậy luống thơng mình.

Bạn bè cùng học năm xa ấy

Ai đã theo thấy buổi xuất chinh”

Bên cạnh truyền thống đấu tranh kiên cờng, bất khuất ngời Nam Định rấtcoi trọng việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ, các anh hùng dân tộc, những ngờitài cao, học rộng, những ông tổ nghề nghiệp Hai nơi có lễ hội lớn là hội ĐềnTrần ở Tức Mặc (Mỹ Phúc) thờ Hng Đạo Đại Vơng Trần Quốc Tuấn, và hội PhủGiầy ở Kim Thái (Vụ Bản) thờ Mẫu Liễu Hạnh Hiện nay trong dân gian còn lu

truyền câu ca:"tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ" Ngoài tín ngỡng thì nhiều

tôn giáo cũng phát triển ở Nam Định, hiện nay khoảng 67% dân số Nam Địnhtheo đạo Phật, 20% theo đạo Thiên Chúa và khoảng 0,3% theo đạo Tin Lành

Trang 9

Tất cả những điều kiện thuận lợi và khó khăn, cùng với truyền thống đấutranh kiên cờng, bền bỉ đã hun đúc nên một truyền thống hiếu học qúy báu củacon ngời quê hơng nơi đây, để rồi trong suốt hàng ngàn năm của lịch sử giáo dụckhoa cử Nho học qua các triều đại phong kiến Việt Nam, Nam Định đã sản sinh

ra rất nhiều các bậc danh sĩ, trí thức Nho học mà ngày nay tên tuổi của họ mãimãi còn đợc nhắc tới

1.2 Giáo dục khoa cử Nho học Nam Định trớc thời Nguyễn (1075 - 1802).

Trong suốt hàng ngàn năm dựng nớc và giữ nớc, trải qua các triều đại từ

Lý - Trần - Lê sơ cho đến nhà Nguyễn sau này đều nhận thấy sự đặc biệt quantrọng của chính sách tuyển dụng ngời tài, mà muốn tuyển dụng ngời tài một cách

hiệu quả nhất thì không có con đờng nào khác là con đờng khoa cử Bởi: nhân

tài là nguyên khí của nhà nớc, nguyên khí mạnh thì trị đạo mới thịnh Khoa mục là ờng thẳng của quan trờng, đờng thẳng mở thì chân nho mới có” [7; 161]

đ-Nam Định từ xa vẫn đợc coi là vùng đất văn hiến, mặc dù không cổ kínhlâu đời nh các xứ Bắc, xứ Đông, xứ Đoài Từ triều Lý, năm 1010 Lý Công Uẩndời đô ra thành Đại La đổi Đại La thành Thăng Long, từ đó cho tới thời Lê MạtThăng Long trở thành kinh đô của quốc gia Đại Việt Nhà lý cũng là triều đại đầutiên đánh dấu một bớc triển mới của Nho học và mở đầu cho lịch sử khoa lục ở n-

ớc ta Từ đó trong dân gian luôn luôn truyền tụng câu : Nhất kinh kì, nhì tứ

Trấn”, điều này phản ánh sự đỗ đạt cao của các nho sĩ ở kinh kì và tứ Trấn, trong

đó có Nam Định, bởi vì Nam Định là vùng đất thuộc trấn Sơn Nam hạ Đời lý,vào mùa thu tháng 8 năm 1070, Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu Năm ất Mão(1075) đời Lý Nhân Tông (1072 - 1127) mở khoa thi Nho học Tam trờng lấy tên

là Minh kinh bác học“ ” Năm 1076 lập Quốc Tử Giám Điều này đã đánh dấu

b-ớc tiến mới của Nho học [13]

Nhà Trần (1225 - 1400) mở khoa thi đầu tiên vào năm 1232 đời vua TrầnThái Tông với tên gọi : Thái học sinh Học trò thi đỗ đợc xếp làm ba giáp: Đệnhất giáp, Đệ nhị giáp, Đệ tam giáp Năm 1239, nhà Trần định lệ 7 năm thi Hộimột lần mà cha định lệ thời gian thi Hơng Năm Giáp Dần (1374) đời vua TrầnDuệ Tông mở khoa thi Tiến sĩ Danh hiệu tiến sĩ bắt đầu có từ đó Phép thi Hơng

Trang 10

đợc quy định rõ vào 1396, đỗ Tam trờng gọi là Sinh đồ, đỗ Tứ trờng gọi là Hơngcống mới đợc vào thi Hội

Nh vậy thì nhà Trần trên nền tảng mà nhà Lý đã đặt, có bớc tiến vững chắchơn, phát triển thêm một bớc chế độ khoa cử Nho học ở nớc ta

Nhà Hồ (1400 - 1407) chỉ tồn tại 7 năm, nhng cũng kịp tổ chức đợc 3 kỳthi Hội, nhng điều đặc biệt hơn hẳn là ngoài 4 trờng thí sinh phải trải qua, thìphải thi thêm 1 trờng nữa là môn Toán pháp

Tuy nhiên khoa cử Nho học vào thời Lê phát triển vợt bậc, quy định chặtchẽ về nội dung, thời gian, phép thi Năm 1466 định lệ 3 năm tổ chức một kỳthi Nếu Tý, Ngọ, Mão, Dậu thi Hơng, thì Sửu, Mùi, Thìn, Tuất thi Hội Ngời đithi, nếu đỗ đều đợc đề cao Năm 1484, Lê Thánh Tông ra lệnh khắc tên các vịTiến sĩ vào bia đá dựng ở trờng Quốc Tử Giám Bằng những việc làm thiết thực

đó, số thí sinh dự thi rất đông, trình độ cũng hơn hẳn nh Phan Huy Chú nhận xét:

Khoa cử các đời, thịnh nhất là thời Hồng Đức Cách lấy đỗ rộng rãi, cách chọn

ngời công bằng, đời sau cùng không thể theo kịp” [7;160].

Nh vậy, ngay từ thời Lý - Trần, các triều đại đã nhận thấy nhân tài là

nguyên khí của nhà nớc” muốn trị vì đất nớc, xây dựng đất nớc hùng mạnh thì

nhất thiết phải có đội ngũ thức giả đông đảo đợc tuyển chọn qua khoa cử, chứkhông phải những võ sĩ chỉ múa kiếm trên lng ngựa mà thôi Nhờ nhận thức sâu sắc

điều đó, mà trong vòng mấy trăm năm quốc gia Đại Việt ngày càng hùng cờngkhiến cho phong kiến phơng Bắc tuy lớn mạnh hơn nhiều cũng phải kiêng nể

Từ thế kỷ XVI - XVII trong vòng hơn một trăm năm, đất nớc ta rơi vàocảnh nội chiến tàn khốc giữa các tập đoàn phong kiến Trịnh - Mạc (1527 - 1592)

và Trịnh - Nguyễn (1627 - 1672), mặc dù Nam Định không nằm trong chiếntuyến phân tranh giữa các tập đoàn, nhng việc vơ vét, bóc lột, thống trị dã mancủa tập đoàn phong kiến Mạc trong chiến tranh Trịnh - Mạc, và tập đoàn họ Trịnhtrong chiến tranh Trịnh - Nguyễn phục vụ cho cuộc chiến tranh cũng làm cho đờisống nhân dân vô cùng cực khổ, máu chảy đầu rơi khắp thôn xóm Và chính điều này

đã làm cho giáo dục khoa cử Nho học ngày càng sa sút hơn

Tuy nhiên trong gần 800 năm (1075 - 1802), lịch sử khoa cử phong kiếnViệt Nam trải qua các đời: Lý - Trần - Hồ - Lê Sơ - Mạc - Lê Trung Hng cũng đã

để lại cho chúng ta những niềm tự hào về lớp ông Nghè, ông Cống:

Các triều đại Tổng số

khoa thi

Số tiến sĩ trong cả nớc

Số trạng nguyên

Số tiến sĩ Nam Định

Trang 11

là một vùng đất nhỏ hẹp cũng ghi nhận sự thành đạt của 57 vị đại khoa từ thời Lýtới Hậu Lê Con số này không phải là nhiều, nhng điều đáng chú ý ở đây, là trong

57 vị đỗ đại khoa thì có tới 9 ngời đỗ Tam khôi trong đó có 5 Trạng nguyên, 2Bảng nhãn và 2 Thám hoa Đỗ cao nhất là thời Lê Thánh Tông - thời đợc coi làthịnh đại nhất của giáo dục khoa cử Nho học Việt Nam Trong tổng số 56 Trạngnguyên của cả nớc thì Nam Định có 5 vị, chiếm tỷ lệ 8,8% Và nếu nh thời Lê Sơlấy 20 Trạng nguyên thì Nam Định có 2 vị là Lơng Thế Vinh và Vũ Tuấn Chiêu

đều đỗ dới thời Lê Thánh Tông, chiếm tỷ lệ 10% so với cả nớc

(1) Đào s tích (1350 - 1396): Quê xã Cổ Lễ, huyện Tây Chân nay thuộcthị trấn Cỗ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định

Ông đỗ Trạng nguyên khoa Giáp Dần niên hiệu Long Khánh 2 (1374) đờiTrần Duệ Tông Từ thi Hơng đến thi Đình ông đều đỗ đầu

Sau khi đỗ Trạng nguyên, ông đợc bổ chức Lễ bộ Thợng th Năm 1381 đợcthăng Nhập nội Hành khiển kiêm Hữu ty Lang trung Nhà Minh âm mu xâm lợcnớc ta, vua Trần giao ông đi sứ nhà Minh với mục đích kéo dài thời gian hoàhoãn, bằng tài năng của mình ông đã thuyết phục đợc vua Minh giảm nhẹ yêusách, bãi bỏ việc đòi cống nạp tăng nhân Khâm phục tài năng của ông vua Minh

đã ban tặng ông bốn chữ L “ ỡng quốc Trạng nguyên

Trang 12

(2) Lơng Thế Vinh (1441 - 1496): Tự là Cảnh Nghị, hiệu Thụy Hiên, dângian quen gọi là Trạng Lờng Quê xã Cao Hơng, huyện Thiên Bản, nay là thânCao Phơng, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

Thủa nhỏ nổi tiếng là Thần đồng, ông đỗ Giải nguyên Hơng cống khoaNhâm Ngọ 1462, đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh (Trạng nguyên)khoa Qúy Mùi niên hiệu Quang thuận 4 (1463) đời Lê Thánh Tông Sau khi đỗ,

ông đợc bổ làm Hàn lâm viện Trực học sĩ, quyền Cấp sự trung công khoa Saukiêm Đồng bí th giám, đợc thăng Hàn lâm viện Thị giảng kiêm T huấn Sùng lâmquán, Tú lâm cục Năm 1484 tham gia soạn thảo văn bia Tiến sĩ, đợc thăng Hànlâm viện Thị giảng chởng viện sự, Nhập thị kinh diên, tri Sùng văn quán và Túlâm cục, Hộ bộ Tả thị lang tớc Hơng Lĩnh hầu Sau khi mất đợc phong làm Phúcthần

(3) Nguyễn Hiền (1235 - 1251): Quê xã Dơng A, huyện Thợng Hiền, nay

là thôn Dơng A, xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định

13 tuổi đỗ Trạng nguyên khoa thi Thái học sinh năm Đinh Mùi niên hiệuThiên ứng Chính Bình 16 (1247) đời Trần Thái Tông Làm quan đến chức Thợng

th, nổi tiếng là Thần đồng có tài ứng đối rất nhanh Ông mất khi đơng chức

(4) Trần Văn Bảo (1521 - 1610), sau đổi là Trần Văn Nghị Quê xã Cổ Chữ,huyện Giao Thủy nay là thôn Dứa, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam

định

27 tuổi đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoaCanh Tuất niên hiệu Cảnh Lịch 3 (1550) đời Mạc Phúc Nguyên Làm quan đếnThợng th, tớc Nghĩa Bá Hầu, sau khi mất đợc ban tớc Nghĩa Quận công

(5) Vũ Tuấn Chiêu (1425- ?),quê xã Cổ Da, huyện Tây Chân nay là thônXuân Lôi xã Nam Hùng huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định

51 tuổi đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ Cập đệ Đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa

ất Mùi niên hiệu Hồng Đức 6 (1475) đời Lê Thánh Tông Làm quan đến chức

Lại bộ Tả thị lang (sách Đại Việt lịch đại Tiến sĩ khoa thực lục chép ông đỗ

Trang nguyên năm 55 tuổi)

(6) Lê Hiến Giản (1341 - 1390), Tên trớc là Lê Hiến Phủ Quê Trang ợng Lao, huyện Tân Chân nay thuộc Nam Thanh huyện Nam Trực tỉnh Nam

Th-Định Ông vấn dòng dõi Tô Hiến Thành Năm 34 tuổi đỗ Bảng nhãn khoa Giáp

Trang 13

Dần niên hiệu Long Khánh 2 (1374) đời Trần Duệ Tông Làm quan đến chức Thịlang, ông cùng em trai là Tiến sĩ Lê Hiến Tứ mu giết Hồ Quý Ly nhng việckhông thành Trớc khi mất ông còn đọc hai câu thơ:

Tấc kiếm trừ gian trời đất biết.

Tấm lòng báo nớc quỷ thần hay ” (7) Trần Đạo Tái ( ? - ?): Quê Tức Mặc, phủ Thiên Trờng nay là thôn TứcMặc, xã Lộc Vợng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định

Ông Là con Thợng tớng Thái s Trần Quang Khải, cháu nội vua Trần TháiTông 14 tuổi đỗ Bảng nhãn dới triều Trần Thánh Tông

(8) Phạm Gia Mân (1525 - ?), Quê xã Dơng Hồi, huyện Đại An, nay làthân Dơng Hồi xã Yên Thắng huyện ý Yên tỉnh Nam Định

Năm 53 tuổi đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ cập Đệ tam danh (Thám hoa) khoa

Đinh Sửu niên hiệu Sùng Khang 10 (1577) đời Mạc Mậu Hợp Làm quan đếnchức Binh bộ Tả thị lang, tớc Nhân Hà Bá

(9) Trần Bích Hoành (1452 - ?): Quê xã Vân Cát, nay là thân Vân cát, xãKim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Đỗ đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ tamdanh (Thám hoa) khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức 9 (1478) đời Lê ThánhTông Làm quan đến chức Đông các Đại học sĩ

Ngoài 9 vị Tam khôi kể trên, Nam Định còn có rất nhiều ngời đỗ Đạikhoa

1 Bùi Tân (? - ?): Quê xã Kim Bảng nay thuộc xã Kim Thái, huyện Vụ Bản,

tỉnh Nam Định Đỗ đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Tuất niên hiệuCảnh Thống 5 (1502) đời Lê Hiến Tông Làm quan đến chức Hình bộ Hữu thị lang

2 Dơng Bật Trạc (1684 - ?) Quê xã Cổ Lễ, nay thuộc thị trấn Cổ Lễ,

huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa

ất Sửu niên hiệu Vĩnh Thịnh 11 (1715) đời Lê Dự Tông

3 Dơng Xân (? -?) Quê xã Cao Hơng, nay thuộc xã Liên Bảo, huyện Vụ

Bản, tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa ất Mùi niênhiệu Đại Chính 6 (1535) đời Mạc Đăng Doanh, làm quan đến chức Hình bộ Hữuthị lang, trớc Diên Hà Bá

Trang 14

4 Đào Minh Dơng (? - ?) Quê xã Hộ Xá, nay thuộc xã Xuân Ninh, huyện

Xuân Trờng, tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa CanhTuất niên hiệu Cảnh Lịch 3 (1550) đời Mạc Phúc Nguyên

5 Đào Toàn Bân (? - ?) Quê xã Cổ Lễ nay thuộc thị trấn Cổ Lễ, huyện

Trực Ninh, tỉnh Nam Định Ông là cha Trạng nguyên Đào S Tích Đỗ Đệ nhị giápTiến sĩ khoa Nhâm Dần (1362) đời Trần Dụ Tông Làm quan đến chức Lễ bộ Th-ợng th, tri Thẩm hình viện sự

6 Đặng Phi Hiển (1603 - 1678) Quê xã Thụy Trung, nay thuộc xã Tân

Thịnh huyện Nam Trực tỉnh Nam Định Năm 25 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến

sĩ xuất thân khoa Mậu Thìn niên hiệu Vĩnh Tộ 10 (1628) đời Lê Thần Tông, làmquan tới chức Đông các Đại học sĩ, tớc Vệ Thụy hầu

7 Đinh Thao Ngọc (TK16) Quê xã Hải Lộ, nay thuộc xã Liêm hải, huyện

Trực Ninh, tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa MậuThìn niên hiệu Đoan Khánh 4 (1508) đời Lê Uy Mục

8 Đinh Trung Thuần (1463 - ?) Quê xã Phùng Xá, nay thuộc xã Yên

Khánh huyện ý Yên tỉnh Nam Định Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (HoàngGiáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức 18 (1487) đời Lê Thánh Tông, làmquan đến chức Thợng th

9 Đỗ Hựu (1441 - ?) Quê xã Đại Nhiễm, nay thuộc xã Yên Bình, huyện

ý Yên, tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuấtniên hiệu Hồng Đức 9 (1478) đời Lê Thánh Tông, từng đi sứ nhà Minh, làm quan

đến chức Lại bộ Tả thị lang

10 Đồng Công Viện (1681 - ?) Quê xã Hải Lạng, nay thuộc xã Nghĩa

Thịnh, huyện Nghĩa Hng, tỉnh Nam Định Độ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thânkhoa Nhâm Thìn niên hiệu Vĩnh Thịnh 8 (1712) Đời Lê Dụ Tông

11 Hoàng Phạm Dịch (1701 - ?) Quê xã Từ Quán, nay thuộc xã Tân

Thịnh huyện Nam Trực tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thânkhoa Mậu Thìn niên hiệu Cảnh Hng 9(1748) đời Lê Thần Tông

12 Hoàng Quốc Trân (1751 - ?) Quê xã Nam Chân, nay thuộc xã Đồng

Sơn, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thânkhoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hng 40 (1779) đời Lê Hiển Tông Làm quan đếnchức Hàn lâm viện đãi chế, thị Hiến sát xứ Kinh Bắc

Trang 15

13 Lê Hiến Tứ (1341 - 1390) Quê Trang Thơng Lao, nay thuộc xã Nam

Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Ông là em sinh đôi của Bảng nhãn LêHiến Giản Đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Dần niên hiệu Long Khánh 2 (1374) đời TrầnDuệ Tông Làm quan đến chức Ngự sử đại phu

14 Ngô Bật Lợng (? - ?) Quê xã Bái Dơng, nay thuộc xã Nam Dơng,

huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoaCanh Tuất niên hiệu Cảnh Lịch 3 (1550) đời Mạc Phúc Nguyên

15 Ngô Tiêm (1749 - 1818) Quê xã Cát Đằng, nay thuộc xã Yên Tiến

huyện ý Yên, tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa KỷHợi niên hiệu Cảnh Hng 40 (1779) đời Lê Hiển Tông, làm quan đến chức Tháihoà điện học sĩ, tớc Mỹ Phái hầu

16 Ngô Trần Thực (1724 - ?) Quê xã Bách Tính, nay thuộc xã Nam

Hồng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thânkhoa Canh Thìn niên hiệu Cảnh Hng 21 (1760) đời Lê Hiển Tông, làm quan đếnchức Đông các Đại học sĩ, tớc Diên Trạch bá

17 Nguyễn Công Biệt (1599 - ?) Quê xã Khang Cù, nay là xã Đồng Sơn

huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoaNhâm Thìn niên hiệu Khánh Đức 4 (1652) đời Lê Thần Tông

18 Nguyễn Danh Nho ( 1638 - 1699) Quê gốc Cẩm Bình, tỉnh Hải Dơng.

Trú quán tại xã Cổ Nông, nay thuộc xã Bình Minh huện Nam Trực tỉnh Nam

Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Trị

8 (1670) đời Lê Huyền Tông, làm quan đến chức Bồi tụng Hữu thị lang

19 Nguyễn Địch (? - ?) Quê xã Vụ Sài, nay thuộc xã Yên Lộc huyện ý

Yên tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Tuấtniên hiệu Đại Bảo 3 (1442) đời Lê Thái Tông, làm quan đến chức Tả thị lang

20 Nguyễn Sùng Nghê (1428 - ?) Nguyên quán huyện Vĩnh Xơng nay

thuộc quận Hoàn Kiếm - Hà Nội Trú quán tại xã Hiển Khánh, nay thuộc xã HiểnKhánh huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thânkhoa ất Mùi niên hiệu Hồng Đức 6 (1475) đời Lê Thánh Tông, làm quan đếnchức Lại bộ Thợng th

Trang 16

21 Nguyễn Thế Trân (1603 - ?) Quê xã Bách Tính, nay thuộc xã Nam

Hồng huyện Nam Trực tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thânkhoa Mậu Thìn niên hiệu Vĩnh Tộ 10 (1628) đời Lê Thần Tông

22 Nguyễn T Đô (1464 - ?) Quê xã Tử Mặc, nay là xã Yên Trung huyện

ý Yên tỉnh Nam Định Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp) khoa KỷMùi niên hiệu Cảnh Thống 2 (1499) đời Lê Hiển Tông

23 Nguyễn ý (1485 - ?) Quê xã Th Nhi, nay là xã Tân Thịnh huyện Nam

Trực tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Mùi niênhiệu Hồng Thuận 3 (1511) đời Lê Tơng Dực, làm quan đến Tự Khanh

24 Phạm Bảo (1456 - 1501) Quê xã Hoàng Xá, nay thuộc xã Yên Nhân

huyện ý Yên tỉnh Nam Định Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp)khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức 18 (1487) đời Lê Thánh Tông

25 Phạm Duy Chất (1616 - 1665) Quê xã Ngọ Trung, nay thuộc xã Liên

Minh huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thânkhoa Kỷ Hợi niên hiệu Vĩnh Thọ 2 (1659) đời Lê Thần Tông Làm quan tới chức

Đông các Đại học sĩ

26 Phạm Duy Cơ (1685 -?) Quê xã Từ Quán, nay là xã Tân Thịnh huyện

Nam Trực tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa CanhDần niên hiệu Vĩnh Thịnh 6 (1710) đời Lê Dụ Tông

27 Phạm Đạo Phú (1463 - 1539) Quê xã Hoàng Xá, nay thuộc xã Yên

Nhân huyện ý Yên tỉnh Nam Định Là anh họ Hoàng Giáp Phạm Bảo, đỗ Đệ tamgiáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức 21 (1490) đời

Lê Thánh Tông, đợc bổ chức Hàn lâm viện kiểm thảo, thăng tới Hình bộ Tả thịlang Ông có công cùng Hoàng Giáp Phạm Bảo tổ chức khai hoang, lập làng HngThịnh, thuộc huyện Đại An (nay thuộc xã Hoàng Nam, huyện Nghĩa Hng, tỉnh Nam

Định) Sau khi mất ông đợc vua Lê tặng hàm Tham tri và phong làm Phúc thần

28 Phạm Hùng (? - ?) Quê xã Đờng Sơn, huyện Thiên Bản, nay thuộc xã

Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Ông Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân(Hoàng Giáp) khoa Tân Sửu niên hiệu Hồng Đức 12 (1481) đời Lê Thánh Tông,làm quan đến chức Hàn lâm viện biện lý, Hình bộ Hữu thị lang

29 Phạm Hữu Du (1682 - ?) Quê xã Quán Các, nay thuộc xã Tân Thịnh,

huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân niên

Trang 17

hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời Lê Dụ Tông Làm quan đến Công bộ Hữu thị lang,

t-ớc Quán Anh bá

30 Phạm Khắc Thận (1441 - 1509) Quê xã Cổ Trung, nay thuộc xã Nam

Hùng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Đổ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân(Hoàng Giáp) khoa Quý Sửu niên hiệu Hồng Đức 24 (1493) đời Lê Thánh Tông.Làm quan đến chức Lễ bộ Tả thị lang, tớc Xuân Lâm tử

31 Phạm Kim Kính (1683 - ?) Quê xã Cổ S, huyện Thiên Bản nay là thôn

Vĩnh Lại, xã Vĩnh Hào, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Trớc đỗ khoa Sĩ Vọng,sau đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Dần niên hiệu Vĩnh Thịnh

6 (1710) đời Lê Dụ Tông Làm quan tới chức Đông các Đại học sĩ Nhập thị kinh

diên Năm 1724 đợc cử đi sứ nhà Thanh, đợc vua Thanh tặng biển vàng đề Vạn

thế vĩnh lại” (Muôn đời đợc cậy nhờ)

32 Phạm Tráng (? - ?) Quê xã Dũng Nhuệ, nay thuộc huyện Nam Trực,

tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Tuất niênhiệu Cảnh Thống 5 (1502) đời Lê Hiến Tông Làm quan đến chức Lại bộ Hữu thịlang

33 Phạm Trọng Huyền (1746 -?) Quê xã Dũng Quyết, nay thuộc xã Yên

Phú, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoaMậu Tuất niên hiệu Cảnh Hng 39 (1778) đời Lê Hiển Tông, làm quan tới chứcHàn lâm viện thị th

34 Tống Hân (1535 - ?) Quê xã Vũ Lao, nay là thôn Vũ Lao, xã Tân

Thịnh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thânkhoa Bính Thìn niên hiệu Quang Bảo 2 (1556) đời Mạc Phúc Nguyên Làm quan

đến Thợng Th, tớc Lễ Khê bá

35 Trần Đình Huyên (1561 -?) Quê xã Cổ Chử, nay là thân Dứa, xã

Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Ông là con Trạng nguyên TrầnVăn Bảo Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Bính Tuất niên hiệu ĐoanThái 2 (1586) đời Mạc Mậu Hợp, làm quan đến Hình bộ Thợng th

36 Trần Hữu Thành (1558 - ?) Quê xã Đào Lạng, nay thuộc xã Nghĩa

Thái, huyện Nghĩa Hng, tỉnh Nam Định Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân(Hoàng Giáp) khoa Bính Tuất niên hiệu Đoan Thái 2 (1586) đời Mạc Mậu Hợp

Trang 18

37 Trần Kỳ (? - ?) Quê xã An Thái, nay là xã Kim Thái, huyện Vụ Bản,

tỉnh Nam Định Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp) khoa Đinh Mùiniên hiệu Hồng Đức 18 (1487) đời Lê Thánh Tông, làm quan tới chức Đông cáchiệu th

38 Trần Mại (1688 - ?) Quê xã Vị Hoàng, huyện Mỹ Lộc nay thuộc nội

thành Nam Định, tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoaTân Sửu niên hiệu Bảo Thái 2 (1721) đời Lê Dụ Tông, làm quan đến chức Công

bộ Hữu thị lang

39 Trần Thụy (TK 16) Quê xã Ngọc Bộ, nay thuộc xã Yên Nhân, huyện

ý Yên, tỉnh Nam Định Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp) khoa KỷSửu niên hiệu Minh Đức 3 (1529) đời Mạc Đăng Dung Làm quan đến Hàn Lâmviện hiệu thảo

40 Trần Xuân Vinh (TK 15) Quê xã Măng Lự, nay thuộc phờng Năng

Tĩnh, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định Đỗ đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân(Hoàng Giáp) khoa Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống 2 (1499) đời Lê Hiến Tông

41 Vũ Duy Thiện (TK 15) Quê xã An Cự, nay thuộc xã Đại An, huyện

Vụ Bản, tỉnh Nam Định Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp) khoaMậu Tuất niên hiệu Hồng Đức 9 (1478) đời Lê Thánh Tông

42 Vũ Đình Dung (1699 - 1740) Quê xã Cà Đông, nay thuộc xã Nam

C-ờng huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thânkhoa Quý Sửu niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời Lê Thuận Tông

43 Vũ Đoan (TK 16) Quê xã Đồng L, nay là thân Đồng L, xã Tân Thịnh,

huyện Nam Trực, Tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoaQúy Mùi niên hiệu Thống Nguyên 2 (1523) đời Lê Cung Hoàng

44 Vũ Huy Trác (1730 - 1793) Quê xã Nộng Điền, nay thuộc xã Nghĩa

Đồng, huyện Nghĩa Hng, tỉnh Nam Định, Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thânkhoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hng 33 (1772) đời Lê Hiển Tông Làm quan

đến chức Lễ bộ Tả thị Lang, kiêm Quốc tử giám T Nghiệp

45 Vũ Kiệt (TK 15) Quê xã Sa Lung, nay thuộc xã Đồng Sơn, huyện Nam

Trực, tỉnh Nam Định Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuấtniên hiệu Hồng Đức 9 (1478) đời Lê Thánh Tông Làm quan đến Cấp sự trung

Trang 19

46 Vũ Triệt Võ (1460 - ?) Quê xã Đào Lạng, nay thuộc xã Nghĩa Thái,

huyện Nghĩa Hng, tỉnh Nam Định Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (HoàngGiáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức 18 (1487) đời Lê Thánh Tông

47 Vũ Vĩnh Trinh (TK 15) Quê xã An Cự, nay là xã Đại an, huyện Vụ

bản, tỉnh Nam Định Đỗ Đệ nhất giáp khoa Minh Kinh năm Kỷ Dậu niên hiệuThuận Thiên 2 (1429) đời Lê Thái Tổ

48 Vơng Văn Hiệu (? - ?) Quê huyện Thợng Hiền, nay thuộc tỉnh Nam

Định Đỗ Đệ nhất giáp Đệ nhị danh khoa thi Thái học sinh năm Mậu Thìn niênhiệu Trinh Phù 3 (1208) đời Lý Cao Tông [theo 18]

Khoa thi Hơng đầu tiên ở nớc ta có lẽ đợc tiến hành vào năm 1373 để chuẩn

bị cho khoa thi Đại tỉ năm 1374 Nhng phải tới năm 1396 chính thức có qui định vềphép thi Hơngvà theo đó nếu năm trớc thi Hơng thì năm sau thi Hội Nội dung thi H-

ơng phải trải qua 4 kỳ:

Kì thứ nhất: thi Kinh Nghĩa

Trải qua các kỳ thi Hội, thi Đình trang cả nớc từ triều Lý đến triều Lê(1010 - 1789), nền giáo dục khoa cử Nho học ở Nam Định ngày càng ổn định vàphát triển hơn Ngoài 57 vị đỗ đại khoa, trong đó có tới 9 vị đỗ Tam khôi kể trên,chứng tỏ Nam Định là một vùng đất học nổi tiếng, nơi xứng đáng là quê hơngcủa một vơng triều lừng lẫy trong lịch sử dân tộc, nơi sản sinh ra những danhnhân kiệt xuất cho dân tộc

Có đợc những thành tựu về khoa cử chính là nhờ vào việc tích cực học tập,dùi mài kinh sử của các nho sinh, đã:

Theo thầy nấu sử, sôi kinh

Tháng ngày không quản, sân Trình lao đao”

Trang 20

Tuy nhiên, xa kia việc học hành của các con em nhân dân tại các địa

ph-ơng thờng rất đơn giản Hiện nay cha có một thống kê nào cho thấy từ thời Lý tớithời Lê ở xã đã có trờng quốc lập, thậm chí cả tới thời Nguyễn sau này Trongcác làng xã ta thờng thấy các ông đồ, ông Tú, thậm chí là các vị Đại khoa do mộtnguyên nhân khách quan nào đó trở về quê mở trờng dạy học Lúc bấy giờ cảNam Định có một Đốc học phụ trách việc giáo dục trong toàn trấn, vài năm tổchức việc sát hạch cho các Nho sinh, nếu đạt thì đợc vào học ở trờng phủ hay tr-ờng huyện Sau đó huyện, phủ lại tổ chức sát hạch lần nữa, rồi đa lên trờng học ởtrấn do quan Đốc học trực tiếp giảng dạy Và cuối cùng chính quan Đốc học làngời sát hạch cuối cùng để chọn ra những ngời đủ tiêu chuẩn để đi thi Hơng

Đã từ lâu trong nền giáo dục Việt Nam thời phong kiến khi nhắc tới trấnSơn Nam trớc đây và Nam Định sau này ngời ta không thể không đề cập tớinhững vùng quê học hành đỗ đạt nổi tiếng nh làng Hành Thiện, làng La Ngạn,

thôn Cao Hơng đây đợc xem là những trung tâm khoa bảng“ ” của Nam Định.Khoa Qúy Mùi năm Quang Thuận 4 (1463) đời Lê Thánh Tông, trấn Sơn Namgiật giải Tam khôi, khi làm lễ vinh quy, vua Lê Thánh Tông đã tặng một lá cờxanh, tự tay đề 4 câu thơ:

“Trạng nguyên Lơng Thế Vinh Bảng nhãn Nguyễn Đức Trinh Thám hoa Quách Đình Bảo Thiên hạ cộng tri danh”

Lơng Thế Vinh (1441 - 1496) tự là Cảnh Nghị, hiệu là Thụy Hiên, dângian quen gọi là Trạng Lờng Quê xã Cao Hơng, huyện thiên Bản, nay là thônthân Cao Phơng, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Ông đỗ Giảinguyên Hơng cống khoa Nhâm Ngọ 1462, đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệnhất danh (Trạng nguyên) khoa Qúy Mùi niên hiệu Quang Thuận 4 (1463) đời

Lê Thánh Tông Sau khi đỗ ông đợc bổ Hàn lâm viện Trực học sĩ, quyền Cấp sựtrung công khoa Sau lại kiêm Đồng bí th giảm, đợc thăng Hàn lâm viện Thịgiảng, kiêm T huấn Sùng lâm quán và Tú lâm cục Năm 1484 ông tham gia soạnthảo văn bia Tiến sĩ, đợc thăng Hàn lâm viện Thị giảng Chởng viện sự, Nhập thịkinh diên, tri Sùng văn quán và Tú lâm cục, Hộ bộ Tả thị lang, tớc Hơng Lĩnhhầu Năm 1493 ông làm độc quyền khảo thi Đình khoa Quý Sửu Ông từng là Sái

Trang 21

phu Tao Đàn hội, có nhiệm vụ biên tập và sửa chữa thơ của các hội viên Sau khimất ông đợc phong làm Phúc thần

Ông là nhà chính trị, nhà toán học, nhà văn, ông cũng rất giỏi âm nhạc vàsân khấu chèo Ông làm quan nổi tiếng là trung thực, đã nhiều lần thẳng thắn chỉtrích bọn quan lại ăn hối lộ hay làm những việc làm sai trái với đạo luân thờng.Năm Quang Thuận 8 (1467) ông tố cáo Giám sát ngự sử Quản Thiêm ăn hối lộcủa Hàn Tông Nghiệp để che dấu tội ác của hắn, khiến nhà vua cách chức Thiêm

và bắt giam Nghiệp Cuối năm đó ông lên án Trấn điện tớng quân Bùi Huấn vềtội hủ hoá, ông còn vạch tội khai man lý lịch để đợc thăng thởng của chỉ huy sứ

vệ Vũ lâm Lê Tông Vĩnh khiến bọn Vĩnh, bọn Huấn đều bị trị tội L ơng ThếVinh còn nhiều lần mạnh dạn góp ý với nhà vua sửa sang triều chính đem lợi íchcho nhân dân Đặc biệt hầu nh các giấy tờ bang giao với nớc ngoài đều do ôngbiên soạn Năm Canh Tý (1480), Lơng Thế Vinh đã thay mặt nhà vua viết ba bàibiểu gửi cho vua Minh để giải quyết những vụ rắc rối ở biên giới Việt - Trung với

lời lẽ kiên quyết nhng khiêm nhờng, hợp tình, hợp lý, vua Minh phải khen là n “

-ớc Nam có lắm ngời tài” Tiếng tăm của ông lừng lẫy cả hai n-ớc Việt - Trung,

ngời đời sau còn có thơ khen ngợi:

"Hùng văn lỡng quốc danh chân Trạng"

Hay "Quán thế văn chơng danh lỡng quốc"

Ông còn là một nhà giáo dục đào tạo nhiều nhân tài cho đất nớc nh Bảngnhãn Lơng Đắc Bằng, Thám hoa Trần Bích Hoành, Tiến sĩ Nguyễn Tất Đại

Nhà bác học Lê Quý Đôn đã đánh giá ông là ngời "tài hoa danh vọng vợt bậc".

Khi ông mất, nhà vua đã làm thơ điếu:

"Chiếu th Thợng đế xuống đêm qua Gióng khách tiên đài kíp lại nhà Cẩm tú mấy hàng về động ngọc Thánh hiền ba chén ớt hồn hoa Khí thiêng đã lại thu sơn nhạc Danh lạ còn truyền để quốc gia Khuất ngón tay than dài cái thế Lấy ai làm Trạng nớc Nam ta!"

Trang 22

Nam Định vùng đất nhỏ hẹp, nằm ở phía Nam duyên hải đồng bằng Bắc

Bộ, vùng đất thờng xuyên bị ngập ứng, liên tục chịu cảnh "chiêm khê, hè thối".

Nhng cũng chính vì điều kiện tự nhiên đó mà đã rèn luyện cho con ngời ở nơi

đây đức tính cần cù, hiếu học, năng động Câu ngạn ngữ "làm nh Nam hạ bốc

đất" thực sự mới chỉ khái quát đợc phần nào điều kiện và tính cách của con ngời

nơi đây Nhng vợt lên trên tất cả là truyền thống hiếu học, là những tấm gơngxuất sắc, sản phẩm của nên giáo dục Nho học, và chính tài năng đợc rèn giũatrong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đó, là lĩnh vực thử thách hiệu quả nhất cho

sự nghiệp xây dựng quê hơng, xây dựng đất nớc của họ, để lại truyền thống vẻvang cho các thế hệ Nam Định sau này

Chơng 2: Vài nét về chế độ giáo dục khoa cử Nho học

ở Nam Định dới thời Nguyễn (1802 - 1919) 2.1 Tình hình giáo dục ở Nam Định thời Nguyễn.

2.1.1 Tổng hợp về tình hình giáo dục.

Từ thế kỷ XVI, tình hình đất nớc biến đổi theo chiều hớng xấu Năm 1527,Mạc Đăng Dung cớp ngôi nhà Lê, từ đó cho tới 1592 chiến tranh Trịnh - Mạcxẩy ra liên miên Chiến tranh Trịnh - Mạc kết thúc thì sự phân trạnh Trịnh -

Nguyễn lại bùng nổ, đất nớc rơi vào cảnh "nồi da nấu thịt", "huynh đệ tơng tàn",

máu chảy đầu rơi Tình hình chính trị bất ổn đó, đã kéo theo sự thụt lùi của chế

độ giáo dục khoa cử Nho học Sự thịnh vợng của khoa cử thời Lê sơ không cònnữa, và tình hình này cũng không thể không tác động trực tiếp tới tình hình giáodục khoa cử Nam Định

Năm 1802, Gia Long sau khi đánh bại nhà Nguyễn Tây Sơn, định đô ởHuế, thiết lập nền thống trị của truyền đình phong kiến Nguyễn trên toàn bộ lãnhthổ Việt Nam rộng lớn kéo dài từ mũi Cà Mau đến địa đầu Móng Cái, đa đất nớcthoát khỏi những cuộc chiến tranh huynh đệ, xây dựng Đại Nam trở thành mộtquốc gia hùng mạnh ở khu vực Đông Nam á, uy quyền tuyệt đối của Nho giáolại trở lại vị trí độc tôn

Trang 23

Chiến tranh lùi dần thì cũng là lúc các vua nhà Nguyễn phải chú trọng vàoviệc xây dựng đất nớc, những nguyên lý cơ bản của Nho giáo lại đợc phát huy,

nh lẽ "Cơng thờng", t tởng "Trung quân", truyền thống "Tôn s trọng đạo" lại

đ-ợc đề cao Các vua nhà Nguyễn ngay từ thời Gia Long đã nhận ra "hiền tài là

nguyên khí của quốc gia" Vì vậy mục tiêu tuyển lựu nhân tài phục vụ cho sự

thống trị, cho sự bảo vệ chế độ quân chủ chuyên chế, cho việc xây dựng đất nớcqua con đờng khoa cử lại đợc đề cao Có thể nói rằng, nếu nh về mặt chính trịviệc thống nhất đất nớc nhà Nguyễn đã đợc thừa hởng thành quả của nhà NguyễnTây Sơn, thì trong việc giáo dục khoa cử, tuyển chọn nhân tài, Nnhà Nguyễn đãthừa hởngkết quả to lớn của giáo dục khoa cử Nho học các triều đại trớc đó trảiqua hơn 700 năm, mà đặc biệt là sự thịnh đạt của thời Lê sơ Tuy nhiên, đầu thờiGia Long - vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn do đất nớc mới đợc thống nhất, xãhội cha ổn định, mọi vấn đề còn khó khăn, lòng dân cha yên Cho nên việc lựachọn, tuyển dụng nhân tài qua khoa cử cũng khó khăn bội phần

2.1.2 Hệ thống trờng học ở Nam Định thời Nguyễn.

Sau khi tiêu diệt nhà Tây Sơn, Nguyễn ánh lên ngôi lấy niên hiệu là GiaLong, thiết lập vơng triều Nguyễn từ năm 1802 Cũng nh các triều đại khác, saukhi thành lập, Gia Long phải đối mặt với hàng loạt vấn đề về chính trị - kinh tế -xã hội, mà muốn giải quyết đợc cũng cần phải có một đội ngũ những ngời hiềntài trông coi công việc từ trung ơng đến địa phơng Song trong lúc này lòng ngờicha đợc yên, hơn nữa cũng cha thể trong một thời gian ngắn đào tạo ngay đợcmột đội ngũ nhân tài Bởi vậy việc sử dụng những nhà danh nho, những trí sĩsống ẩn dật, các cựu thần nhà Lê cũ không chịu hợp tác với nhà Tây Sơn là điềucần kíp Vì vậy ngay sau khi lên ngôi, Gia Long đã hạ chiếu dụ các cựu thần nhà

Lê ra mắt để tuỳ tài đức mà nhà vua bổ dụng Tuy nhiên, điều này cũng không

đáp ứng đợc, số ngời ra giúp việc không nhiều khiến nhà vua ra lệnh cho cácquan ở 11 hạt Bắc thành và 2 hạt Thanh - Nghệ hễ thấy ai học rộng, văn hay

đều phải tiến cử để nhà vua xét chọn Cũng chính vì việc thu phục nhân tài khókhăn nh thế mà các vua nhà Nguyễn phải chủ trơng lấy việc tổ chức giáo dục,

đào tạo nhân tài có hệ thống mới là mục tiêu trọng yếu

Năm 1814, Gia Long ra chỉ dụ: "Học hiệu là nơi chứa chấp nhân tài, tất

phải qua giáo dục có căn bản thì mới có thể thành tài Trẫm muốn bắt chớc ngời

Trang 24

xa đặt nhà học, nuôi học trò, ngõ hầu văn phong dấy lên, hiền tài đều rỗi để cho nhà nớc dùng" [15;212].

Bắt nguồn từ chủ trơng đào tạo nhân tài để "Ngõ hầu văn phong dấy lên"

ấy mà hệ thống trờng học dới thời Nguyễn đợc thiết lập từ trung ơng tới địa

ph-ơng Năm 1803, Gia Long cho dời Quốc Tử Giám từ kinh đô Thăng Long vàoHuế ở đây nhà vua giao cho Quốc Tử Giám có nhiệm vụ khảo khoá học trò,chọn con các quan lại, học trò giỏi các nơi cử lên theo học để đào tạo Bên cạnh

đó, năm 1821 vua Minh Mạng còn cho dựng nhà Di Luân Đờng, giảng đờng, vàcác phòng cho tôn sinh (học trò thuộc dòng họ Tôn thất) vào học, thời Tự Đứccòn thành lập Tôn học đờng

Nhà Nguyễn còn quy định chức trách cụ thể cho các Giáo quan làm việc ở

Quốc Tử Giám Theo "Hội điển toát yếu" thì: "Tế Tửu coi việc học chính và đào

tạo nhân tài T Nghiệp tham gia công việc học chính làm phó phủ để giúp Tế Tửu Học Chính theo việc giáo dỡng chuyên giữ việc giảng dạy học tập".

ở nớc ta, đến thời Trần cha có các trờng quốc lập ở địa phơng Năm 1281,Vua Trần Nhân Tông cho lập nhà học ở phủ Thiên Trờng (Nam Định) cũng chỉ làmột trờng dành cho con cháu nhà Trần ở quê hơng Phải cho tới thời Lê, các tr-ờng học ở phủ, huyện mới đợc thành lập do các Giáo thụ và Huấn đạo trông coi

Thời Nguyễn, việc thành lập các trờng học ở phủ, huyện đã phát triển,mạnh nhất là dới thời Minh Mạng và Tự Đức Năm 1823, Minh Mạng cho đặt

các chức Giáo quan ở địa phơng nh sau: Đốc học coi việc học ở toàn trấn (sau này là tỉnh); Giáo thụ phụ trách trờng phủ; Huấn đạo phụ trách trờng huyện.

Đồng thời cũng quy đinh chặt chẽ việc xây dựng trờng:

- Trờng phủ: 3 gian, 2 chái, đợc cấp 300 quan tiền

- Trờng huyện: nh trờng phủ song kích thớc nhỏ hơn và đợc cấp 250 quantiền

ở các dinh trấn, học đờng đợc xây dựng gồm 1 học đờng 3 gian, 2 chái, 1nhà vuông 1 gian 2 chái [14;137-138]

Sau khi chấn chỉnh lại hệ thống trờng học từ trung ơng tới địa phơng, GiaLong đã lập tức ra sắc dụ mời các vị khoa mục thời Hậu Lê vào giảng dạy ở cáctrờng từ trấn đến huyện Tất cả các trờng đợc lập từ trung ơng tới phủ, huyện,dinh, trấn đều đợc gọi là các trờng công lập

Trang 25

Tính tới thời Tự Đức (1864-1875), cả nớc có 31 tỉnh và đạo, chia làm 321 phủ

và huyện, tổng số trờng học ở tỉnh, phủ, huyện là 158 trờng [14;98-99] Qua đó tathấy trung bình trên toàn quốc cứ 2 huyện có 1 trờng quốc lập Vào khoảng năm 5570suất đinh thì có 1 trờng học, mật độ đông nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ

Nam Định, năm 1469 dới thời Lê Thánh Tông thuộc xứ Sơn Nam Năm

1741, Lê Cảnh Hng tách xứ Sơn Nam thành Sơn Nam Hạ và Sơn Nam Thợng,Nam Định thuộc Sơn Nam Hạ bao gồm cả vùng đất Thái Bình Triều Nguyễn,năm Minh Mạng thứ 3(1822) Sơn Nam Hạ đợc đổi thành Trấn Nam Định Năm

1831 sau cải cách hành chính đổi trấn thành tỉnh, Nam Định gồm có 4 phủ, 18huyện Năm 1890 tách 2 phủ lập tỉnh Thái Bình, Nam Định còn 2 phủ 9 huyệnvới 45.092 suất đinh với 6 trờng học

- Trờng học tỉnh: Thôn Tức Mặc ngoại thành Nam Định

- Trờng học phủ Thiên Trờng: ở thôn Hành Thiện, xã Xuân Hồng,huyệnXuân Trờng

- Trờng học huyện: đóng ở Mỹ Lộc

- Trờng học phủ Nghĩa Hng: đóng ở xã Nam Thắng, huyện Nam Trực

- Trờng học huyện: ở thôn Cao Phơng xã Liên Bảo huyện Vụ Bản

- Trờng học huyện: ở Yên Thắng huyện ý Yên

Nh vậy nếu tính trung bình ở Nam Định cứ 2 phủ, huyện thì có một trờngquốc lập Chính hệ thống trờng học này đã thu hút đông đảo các nho sinh đếnhọc, điều này đã đợc khẳng định thông qua con số đỗ đạt của các nho sinh Nam

Định dới thời Nguyễn Bên cạnh các trờng học do Nhà nớc mở, thì các trờng dânlập cũng đợc mở rộng khắp thôn xóm xung quanh các phủ, huyện, tạo nên mộtmàng lới giáo dục do dân đảm nhiệm Những lớp học này thờng gồm nhiều họctrò nhiều lứa tuổi khác nhau, trình độ khác nhau, không phân chia năm học, cấphọc Những ngời dạy ở các trờng này là các nho sĩ đã có học vấn ở trình độ nhất

định nh thầy khoá, thầy đồ, thầy tú, thậm chí những ngời có học vấn uyên thâm,

đỗ đạt cao đã ra làm quan hoặc do chán cảnh quan trờng, hoặc bị bãi chức lui về

dạy học với ý nghĩa tiến vi quan, đạt vi s“ ” rất nhiều ngôi trờng nổi tiếng đã đợc,

lập lên, nh trờng Tam Đăng, trờng Hoành Nha, trờng Bái Dơng những ngờithầy này đợc cả xã hội kính trọng, rất nhiều nhà khoa bảng, các vị quan triều

Nguyễn đều xuất thân từ những mái tr “ ờng làng” này

Trang 26

Và cho tới hiện nay ở Nam Định và trên cả nớc còn mãi nhắc tới nhữngngời thầy giáo mà tài năng và đức hạnh của họ mãi mãi trờng tồn nh thầy NgôThế Vinh, thầy Phạm Văn Nghị, thầy Đặng Xuân Bảng nhiều tấm bia đá củacác dòng họ, các làng, xã khắc ghi những ngời đỗ đạt, nh tấm bia của họ Đặng ởHành Thiện, tấm bia của xã Quần Anh, nay là xã Hải Anh huyện Hải Hậu điềunày là sự chứng tỏ về thành tích và lời nhắc nhở các thế hệ hiện tại và sau này vềtruyền thống hiếu học của quê hơng

2.2 Tình hình khoa cử Nam Định dới thời Nguyễn

2.2.1 Thi Hơng và danh sách các vị đỗ cử nhân của Nam Định

Thi Hơng là kỳ thi của một tỉnh hay nhiều tỉnh chung một trờng thi dànhcho những sĩ tử đã qua các kỳ khảo hạch Thí sinh trúng tuyển trong kì thi Hơng

đợc chia làm 2 loại: Loại 1 là Cống sĩ hay Hơng cống (đến đời Minh Mạng 1828

đổi thành Cử nhân); loại hai họi là Sinh đồ (Tú tài sau này), loại này không đợc

dự kỳ thi Hội năm sau Ngời đỗ đầu thi Hơng đợc tuyên dơng Giải Nguyên, ngời

đỗ Tú tài hai lần gọi là Tú kép, ba lần là Tú mền, bốn lần là Tú đụp

Phép thi Hơng đợc quy định từ thời Lê Thánh Tông, gồm có 4 kỳ:

- Kỳ thứ nhất: Thi Kinh nghĩa

Trang 27

Năm Triều đại Thể loại

Lê Thái Tông Kinh nghĩa

Chiếu, chế,biểu Thơ, Phú Văn sách1832

Minh Mệnh Kinh nghĩa Thơ, Phú Văn sách

Phúchạch mộtbài biểu1850

Tự Đức Kinh nghĩa

Chiếu,biểu, luật Văn sách Thơ, Phú1858

Tự Đức Kinh nghĩa Chiếu,

biểu, luật Văn sách1876

Tự Đức Kinh nghĩa Thơ, Phú Văn sách

Phúchạch mộtbài biểu

1884

Kiến Phúc Kinh nghĩa Thơ, Phú Văn sách

Phúchạchkinhnghĩa,thơ phú,văn sách

Phúc hạch một bàiluận chữ Hán,

1 bài luận quốc văn

1912 4 đạo văn sách 3 bài luận chữ 1 bài chữ

Trang 28

Duy Tân Quốc ngữ Pháp không

bắt buộc1915

[14; 132 - 133]Ngày xa ngời ta chỉ coi trọng đỗ Đại khoa, song đối với kẻ sĩ đỗ đợc kỳ thiHơng là cực kỳ quan trọng, vì đỗ Hơng cống sẽ đợc bổ làm quan, và hơn nữa mới

đợc phép dự kỳ thi Hội năm sau

Dới thời Nguyễn, theo "Quốc triều Hơng khoa lục" của Cao Xuân Dục, kể

từ khoa thi Hơng đầu tiên năm Đinh Mão, niên hiệu Gia Long thứ 6 (1807) cho

đến khoa Mậu Ngọ, niên hiệu Khải Định 3(1919) -khoa thi cuối cùng của triềuNguyễn, thì toàn quốc có 6 trờng thi, gần 47 khoa thi Hơng, lấy đỗ 5226 cử nhânNam Định trúng 354 ngời (chiếm tỷ lệ 28,8%) Thời Lê, Nam Đinh thuộc trấnSơn Nam Hạ, vì vậy các sĩ tử Nam Định dự thi Hơng phải thi ở trờng Hiến Nam

đặt ở xã Hoa Dơng, huyện Kim Động, cạnh Phố Hiến Năm 1819,dời về xã VịHoàng, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định nên gọi là trờng Vị Hoàng, sau lại chuyển

về làng Năng Tĩnh, Nam Định, vì vậy mang tên là trờng Nam Định từ năm năm đầu tiên có khoa thi đặt ở trấn Nam Định (năm 1822 Minh Mạng đổi têntrấn Sơn Nam thành trấn Nam Định) Trải qua 117 năm khoa cử triều Nguyễn với

1825-47 khoa thi Hơng, truyền thống hiếu học trên vùng đất Nam Định đợc phát huy,

điều này đợc thể hiện rõ qua sự đỗ đạt của nho sĩ Nam Định trong các kỳ thi

H-ơng

Trang 29

C¸c khoa thi H¬ng triÒu NguyÔn

{ TÝnh trong c¶ níc}

ST

Sè Cö Nh©n C¶

níc

Trêng Nam

§Þnh

Nam

§Þnh

11 Canh Tý 1840 Minh M¹ng - ¢n Khoa 81 12 2

12 T©n S÷u 1841 ThiÖu TrÞ - ¢n Khoa 144 17 5

Ngày đăng: 27/12/2013, 20:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w