Từ trong khí thế đấu tranh đó, cùng với Lê Lợi - vị anh hùng giải phóng dân tộc, Nguyễn Trãi - biểu tợng cho tinh hoa khíphách non sông, lịch sử nớc ta cũng đã sản sinh, hun đúc nên rất
Trang 2vò hång t©m
§ãNg GãP CñA gia téc L£ LAI
trong khëi nghÜa lam s¬n
vµ v¬ng triÒu lª s¬
(1418 – 1527) 1527)
Chuyªn ngµnh: lÞch sö ViÖt Nam
M· sè: 60.22.54LuËn v¨n th¹c sÜ khoa häc lÞch sö
Ngêi híng dÉn khoa häc:
TS NguyÔn quang hång
Vinh - 2009
Trang 3Trong quá trình tìm kiếm, su tầm, tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành
đề tài này, tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ tận tình, đóng góp nhiều ý kiến quý báucủa nhiều tập thể và cá nhân các cấp, ban, ngành
Đặc biệt, tôi xin đợc bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc tới
TS Nguyễn Quang Hồng - ngời đã nhiệt tâm hớng dẫn đề tài khoa học,
giúp đỡ, động viên bản thân tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thànhluận văn này
Cũng nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS TS Nguyễn Trọng
Văn - Khoa Đào tạo Sau Đại Học, BCN, CBGV Khoa Sử chuyên ngành lịch sử Việt Nam Trờng Đại học Vinh, cũng nh sự giúp đỡ tận tình về mặt
t liệu của Ban quản lí khu di tích Lịch sử Lam Kinh, đền thờ Trung Túc Vơng
Lê Lai và Gia tộc họ Lê - Đền thờ An Lạc Hoằng Hải, Hoằng Hoá
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với bạn bè, gia
đình và ngời thân đã tạo mọi điều kiện trong suốt quá trình học tập, rèn luyện,
tu dỡng tại Khoa và Nhà trờng
Vinh, tháng 12 năm 2009
Tác giả
Vũ Hồng Tâm
Trang 4Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 5
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp của luận văn 7
6 Bố cục của luận văn 8
Nội dung 9
Chơng 1 Ngọc Lặc - vùng đất Gia Tộc Lê Lai định c 9
1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên và xã hội 9
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 9
1.1.2 Điều kiện xã hội 11
1.2 Quá trình định c và phát triển của Gia tộc Lê Lai trên đất Ngọc Lặc .17
Tiểu kết chơng 1 23
Chơng 2 Đóng góp của Gia tộc Lê Lai trong khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1427) 25
2.1 Khởi nghĩa Lam Sơn - đỉnh cao của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV 23
2.2 Đóng góp của Lê Lai trong khởi nghĩa Lam Sơn 32
2.2.1 Lê Lai trong những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa 32
2.2.2 Lê Lai xả thân vì sự nghiệp chung 36
2.3 Đóng góp của Gia tộc Lê Lai trong khởi nghĩa Lam Sơn 42
2.3.1 Giai đoạn ở miền Tây Thanh Hoá (1418-1424) 42
2.3.2 Giai đoạn chuyển vào Nghệ An cho đến lúc cuộc khởi nghĩa thắng lợi hoàn toàn (1424 - 1427) 54
Tiểu kết chơng 2 63
Trang 53.1 Trong lĩnh vực Chính trị - Xã hội 65
3.2 Trong lĩnh vực Quân sự - Bang giao 71
3.3 Trong lĩnh vực Văn hoá - Giáo dục 74
3.4 Ân điển của vơng triều Lê Sơ đối với Gia tộc Lê Lai 77
3.4.1 Đối với Lê Lai 77
3.4.2 Đối với con cháu Lê Lai 92
Tiểu kết chơng 3 103
Kết Luận 105
Tài liệu tham khảo 110
Phụ lục
Trang 6Mở ĐầU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV mà đỉnh
cao là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi (Lê Thái Tổ) khởi xớng và lãnh
đạo mở ra một trang sử oanh liệt, đánh đấu mốc chói lọi trong lịch sử đánhgiặc cứu nớc của dân tộc ta Từ trong khí thế đấu tranh đó, cùng với Lê Lợi -
vị anh hùng giải phóng dân tộc, Nguyễn Trãi - biểu tợng cho tinh hoa khíphách non sông, lịch sử nớc ta cũng đã sản sinh, hun đúc nên rất nhiều ngờicon u tú, những gia đình danh gia võ tớng, những anh hùng, các hào kiệt,những ngời mà phẩm chất, tài năng, khí phách và sự hy sinh cao cả là biểu t-ợng sinh động, điển hình tô thắm cho phẩm chất anh hùng của một dân tộcanh hùng Trong rất nhiều sự hy sinh cho phong trào giải phóng dân tộc ở thế
kỷ XV do Thái Tổ Cao Hoàng Đế Lê Lợi lãnh đạo là tấm gơng hy sinh cao cả,anh dũng “Liều mình cứu chúa” của Lê Lai góp phần vào thắng lợi của khởinghĩa Lam Sơn và những đóng góp của Gia tộc ông trong công cuộc phục hng
vĩ đại của dân tộc ta trong thế kỷ XV, đa đến sự thịnh đạt của vơng triều Lê Sơvào bậc nhất của lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam
1.2 Khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh xâm lợc đợc Lê Lợi phát
động từ núi rừng miền Tây Thanh Hoá Nét độc đáo của cuộc khởi nghĩa này
là ngoài việc thu hút đông đảo các anh hùng nghĩa sĩ trong nớc nô nức về tựunghĩa còn đợc sự ủng hộ trực tiếp và mạnh mẽ của nhân dân tại chỗ, từ ngờiKinh đến các dân tộc thiểu số Trờng hợp tiêu biểu là Gia tộc Lê Lai, cả Giatộc nhà Lê Lai đã có tới năm ngời tham gia cuộc khởi nghĩa, mà đặc biệt đó
là sự hy sinh cao cả của Lê Lai để mở đờng sống cho cuộc khởi nghĩa Vìvậy, sau ngày toàn thắng ông đợc phong làm công thần hạng nhất, truy tặng
chức Thiếu uý, Lê Lợi còn sai Nguyễn Trãi viết hai đạo Tiên “ ớc thệ từ “ và Lai công thệ từ
“ ” cất giấu trong tủ vàng để mãi mãi ghi nhớ công ơn của LêLai Hơn thế nữa, trớc khi qua đời, Lê Lợi còn căn dặn con cháu nhà Lê baogiờ cũng làm giỗ Lê Lai vào ngày hôm trớc ngày giỗ của Lê Lợi (22.8 âm
lịch) Vì thế, trong nhân dân còn lu truyền câu Hai mốt Lê Lai - hai hai Lê“
Lợi ”
Với những đóng góp to lớn ấy, Lê Lai cùng Gia tộc của ông xứng đángvới những ân điển mà vua Lê Thái Tổ và vơng triều Lê Sơ đã dành cho Gia tộccủa ông Mặc dù Lê Lai và gia tộc của ông có những đóng góp to lớn cho công
Trang 7cuộc giải phóng dân tộc cách đây hơn 5 thế kỷ, nhng tới nay sử học nớc ta vẫncha có một công trình khoa học trọn vẹn nào đánh giá một cách đúng đắn toàndiện sự hy sinh cao cả, những đóng góp to lớn của cá nhân Lê Lai cũng nh Giatộc ông trong khởi nghĩa Lam Sơn và vơng triều Lê Sơ sau này.
1.3 Nghiên cứu về những đóng góp của cá nhân Lê Lai và Gia tộc ông
trong khởi nghĩa Lam Sơn và vơng triều Lê Sơ là góp phần nghiên cứu về cuộckhởi nghĩa Lam Sơn và một trong những vơng triều phong kiến phát triển nhấttrong lịch sử hình thành và tồn tại của chế độ phong kiến Việt Nam Ngoài ra
đề tài còn dành một phần để nghiên cứu những ân điển của vơng triều Lê Sơ
đối với gia tộc Lê Lai trong thế kỷ XV cũng nh những vơng triều sau này
Đây là một nét mới khi tiếp cận nghiên cứu về những Gia tộc đã góp phầncùng cả dân tộc viết lên trang sử hào hùng trong lịch sử chống ngoại xâm vàhiểu rõ hơn về chính sách đãi ngộ đối với các công thần của nhà nớc Lê Sơ mà
đứng đầu là các vị vua từ Lê Thái Tổ cho đến khi vơng triều này sụp đổ cũng
nh những vơng triều phong kiến sau này Trên cả hai phơng diện ấy, công việccủa chúng tôi góp phần thiết thực vào việc nghiên cứu về khởi nghĩa Lam Sơn
và vơng triều Lê Sơ, cũng nh những đóng góp của Gia tộc Lê Lai đối với quốcgia dân tộc là một việc cần thiết
1.4 Ngày nay, khi đất nớc bớc sang thế kỷ XXI, đang có những bớc
chuyển mình tiến lên trên con đờng đổi mới, thì sự nghiệp bảo vệ độc lập chủquyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đất nớc cũng luôn đặt ra một yêu cầumang tính cấp thiết Đó là những tấm gơng, những cống hiến xơng máu cho
độc lập tự do và xây dựng đất nớc mà điểm sáng là đức hy sinh cao cả của
ng-ời anh hùng Lê Lai nhằm mở lối thoát cho sự tồn tại của nghĩa quân Lam Sơn
Đề tài là một lời tri ân, tri nghĩa và cũng là một thông điệp gửi tới thế hệ trẻhôm nay rằng hãy khắc ghi những cống hiến, đóng góp to lớn của ông cha tatrong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nớc trong những thế kỷ trớc và giai
đoạn hiện nay
Chính vì lẽ đó mà chúng tôi chọn đề tài: “Đóng góp của Gia
tộc Lê Lai trong Khởi Nghĩa Lam Sơn và Vơng triều Lê Sơ (1418 - 1527)”, làm đề tài luận văn tốt.
2 Lịch sử vấn đề
Trang 8Khi nghiên cứu về các danh tớng Lam Sơn nói chung và Lê Lai nóiriêng thì những đóng góp của cá nhân ông cùng Gia tộc trong khởi nghĩa cũng
nh đối với vơng triều Lê Sơ từ lâu đã đợc nhiều học giả trong và ngoài nớcquan tâm Vì vậy, khi quyết định lựa chọn đề tài này, chúng tôi gặp phải nhiềukhó khăn lớn đó là nguồn t liệu Song, trong quá trình thu thập, tìm tòi, với nỗlực của bản thân và với sự giúp đỡ của các cơ quan văn hoá, chúng tôi thấyvấn đề nội dung đề tài tập trung nghiên cứu đã đợc một số cuốn sách, bài viết
đề cập nh:
Bài viết của ông Hồ Đắc Duy “Ai giết Lê Lai? Tại sao Đại việt sử ký toàn th không chép chuyện Lê Lai liều mình“ ” đăng trên Tạp chí Xa & Nay số
52 tháng 7.1998, Tiếp đến là bài viết của Đỗ Đức Hùng Vài ý kiến trao đổi“
với ông Hồ Đắc Duy về công thần bình Ngô khai quốc Lê Lai” đăng trên Tạp
Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Thuần có bộ “Danh tớng Việt Nam” trong
đó ông dành riêng tập 2 nói về “Danh tớng khởi nghĩa Lam Sơn” đợc Nhà xuất
bản Giáo dục phát hành năm 2000 Trong công trình nghiên cứu này tác giả có
đề cập tới danh tớng Lê Lai Tuy nhiên, tác giả cuốn sách cũng mới trình bày
d-ới dạng tỉnh lợc về danh tớng Lê Lai trong phong trào giải phóng dân tộc đầuthế kỷ XV và khởi nghĩa Lam Sơn Cuốn sách cha phải là công trình mang tínhchuyên sâu nói về những đóng góp có tính thoả đáng công lao, sự nghiệp của vịtớng này Tuy vậy, công trình đã giúp cho chúng tôi rất nhiều về mặt sử liệu,quan điểm đánh giá các danh tớng Lam Sơn nói chung, danh tớng Lê Lai nóiriêng
Trong năm 2002, ban nghiên cứu biên soạn lịch sử Thanh Hoá đã hoàn
thành tập 3 “Lịch sử Thanh Hoá (thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII)" đợc Nhà xuất bản Khoa học Xã hội phát hành năm 2002 ở chơng 2 “Khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ
và những hoạt động của nghĩa quân ở Thanh Hoá (1416 - 1424)” T.S Hà Mạnh
Trang 9Khoa có đề cập đến sự hy sinh cao cả và đóng góp to lớn của Gia tộc Lê Laitrong khởi nghĩa Lam Sơn.
Trong hai năm 2005 - 2006 Ban biên soạn Lịch sử Thanh Hoá đã kịp
hoàn thành bộ sách “Danh nhân Thanh Hoá” 2 tập, do Nhà xuất bản Thanh
Hoá ấn hành Cũng nh nh nhiều công trình khoa học khác, cuốn sách chỉ mới
ra mắt bạn đọc dới dạng tiểu sử về lịch sử cá nhân từng nhân vật
Ngoài ra, một số lợng sách có liên quan rãi rác đến nội dung của đề tài
nh “Kỷ yếu Lê Lợi và Thanh Hoá trong khởi nghĩa Lam Sơn” Nhà xuất bản Thanh Hoá phát hành 1988, Danh nhân đất Việt“ ” Nhà xuất bản Thanh Niên
Hà Nội 1998 đồng chủ biên là Nguyễn Anh - Quỳnh C - Văn Lang và nhiềucông trình khác Riêng những ân điển của vơng triều Lê Sơ đối với Gia tộc LêLai cha đợc quan tâm nghiên cứu
Luận văn của chúng tôi một mặt là sự kế thừa thành tựu của những họcgiả đi trớc, mặt khác là sự cố gắng giải quyết và làm sáng tỏ những công lao
và đóng góp to lớn của cá nhân Lê Lai và Gia tộc của ông trong khởi nghĩaLam Sơn và đối với vơng triều Lê Sơ sau này
3 Đối tợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của luận văn là Đóng góp của Gia tộc Lê Lai“
trong khởi nghĩa Lam Sơn và vơng triều Lê Sơ (1418 - 1527)” Để làm rõ
những đóng góp của Lê Lai cùng Gia tộc của ông trong khởi nghĩa Lam Sơn vàvơng triều Lê Sơ, luận văn tập trung đề cập đến quê hơng, gia đình của ngờianh hùng Lê Lai, những nét khái quát cơ bản về khởi nghĩa Lam Sơn đồng thờitập trung nghiên cứu những đóng góp của ngời anh hùng Lê Lai cùng Gia tộc
ông trong khởi nghĩa và đối với quốc gia phong kiến Đại Việt thời Lê Sơ
Vì vậy, chúng tôi đặc biệt làm rõ về gia đình, dòng họ và những buổi
đầu khi Lê Lai gia nhập khởi nghĩa Lam Sơn Để làm rõ công lao, đóng gópcủa Lê Lai trong phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV chúng tôi cũng
đã tập trung nghiên cứu vai trò của ông trong bộ chỉ huy cuộc khởi nghĩa,những đóng góp, cống hiến to lớn của ông cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vàcòn có những đóng góp to lớn của Gia tộc ông cho vơng triều Lê Sơ sau này
Trang 103.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới thiệu khái quát về điều kiện tự nhiên xã hội của vùng đấtNgọc Lặc, nơi Gia tộc Lê Lai định c và giới thiệu vài nét về nguồn gốc của Giatộc Lê Lai
Một nội dung quan trọng của luận văn là nghiên cứu những đóng gópcủa Lê Lai và Gia tộc của ông trong khởi nghĩa Lam Sơn
Luận văn còn dành một phần để nghiên cứu về những đóng góp của Giatộc Lê Lai đối với vơng triều Lê Sơ từ 1428 đến 1527 và những ân điển của v-
ơng triều Lê Sơ đối với Gia tộc Lê Lai Những nội dung khác không nằm trongphạm vi nghiên cứu của đề tài
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
- T liệu đợc hậu duệ đời sau con cháu Lê Lai lu giữ: Tộc phả, Gia phả,
Đạo chế lụa, sắc phong,
- Những công trình của nhiều nhà nghiên cứu, các tác giả Việt Namgồm: Các loại sách chuyên sâu về Lịch sử Việt Nam, những kiến thức mangtính phổ thông của lịch sử dân tộc
4.2 Phơng pháp nghiên cứu
Về phơng pháp luận: Để giải quyết những vấn đề do đề tài đặt ra,
chúng tôi dựa vào chủ nghĩa duy vật biện chứng, đặc biệt là chủ nghĩa duy vậtlịch sử Chúng tôi đã sử dụng triệt để quan điểm sử học Mác xít nhằm đánhgiá khách quan, không thiên kiến những đóng góp của Lê Lai cùng Gia tộctrong khởi nghĩa Lam Sơn và vơng triều Lê Sơ Quan điểm sử học Mác xítcũng là kim chỉ nam để chúng tôi xử lý nguồn t liệu đợc các sử gia phong kiếnbiên soạn, trên tinh thần khoa học và đảm bảo tính lịch sử
Trang 11Về phơng pháp cụ thể: Trong luận văn, chúng tôi chủ yếu sử dụng các
phơng pháp lịch sử, lôgíc lịch sử, phơng pháp đối chiếu so sánh, phơng phápliên môn Đặc biệt là phơng pháp xác minh điền giã trên hiện trờng lịch sử.Mục đích khôi phục một cách chân thực khách quan bức tranh tổng thể vềnhững đóng góp của ngời anh hùng Lê Lai trong phong trào giải phóng dântộc đầu thế kỷ XV và những đóng góp của Gia tộc ông cho vơng triều Lê Sơ
mà đề tài luận văn đặt ra
5 Đóng góp của luận văn
5.1 Đây là công trình đầu tiên dới dạng một luận văn chuyên nghành,
đi sâu nghiên cứu đóng góp của một Gia tộc võ tớng là luận văn đầu tiên dựnglại một cách có hệ thống bức tranh mang tính tổng thể, toàn diện về chân dungngời anh hùng Lê Lai cùng những đóng góp của Gia tộc ông trong phong tràogiải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV và xây dựng và bảo vệ quốc gia phong kiến
Đại Việt thời Lê Sơ một cách rõ ràng, khách quan và trung thực
5.2 Luận văn là công trình khoa học, tài liệu tham khảo có giá trị giúphọc sinh, sinh viên tìm hiểu về một số vấn đề trong cuộc “Khởi nghĩa LamSơn”, đặc biệt là sự nghiệp đánh giặc giữ nớc của dân tộc ta mà đại diện lànhững đóng góp lớn lao của Gia tộc võ tớng Lê Lai trong khởi nghĩa LamSơn cũng nh trong giai đoạn cũng cố và xây dựng vơng triều Lê Sơ Đâycũng là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống những ân điểncủa vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Thánh Tông đối với Gia tộc Lê Lai,
từ đó góp phần nghiên cứu, hiểu rõ hơn về nhà nớc quân chủ Đại Việt thời
Lê Sơ
5.3 Luận văn là tài liệu tham khảo bổ ích, lí thú cho việc giảng dạy lịch
sử địa phơng về danh nhân lịch sử Lê Lai, những giờ giảng dạy trên hiện trờnglịch sử tại các địa phơng thuộc địa bàn xứ Thanh, những vùng đất còn in đậmdấu ấn của dòng họ Lê Lai cách đây hơn 5 thế kỷ
5.4 Cuối cùng, luận văn là một công trình khoa học bổ ích, thiết thực, gópphần giáo dục truyền thống của Gia tộc, dòng họ, quê hơng Từ đó thắp sángthêm cho tinh thần con cháu trong Gia tộc Lê Lai hôm nay về tấm gơng chiến
đấu của ông cha xa mà không ngừng tu dỡng, học tập và rèn luyện Tích cựctham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc ngày nay
Trang 126 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, th mục tài liệu tham khảo theoquy định của một luận văn Thạc sĩ, nội dung cơ bản của luận văn gồm ba ch-
ơng:
Chơng 1 Ngọc Lặc - vùng đất Gia tộc Lê Lai định c
Chơng 2 Đóng góp của Gia tộc Lê Lai trong khởi nghĩa Lam Sơn
(1418 - 1427) Chơng 3 Đóng góp của Gia tộc Lê Lai đối với vơng triều Lê Sơ
(1428 - 1527)
Trang 13Nội dung
Chơng 1 Ngọc Lặc - vùng đất Gia Tộc Lê Lai định c
1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên và xã hội
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Ngọc Lặc là một trong 11 huyện miền núi, nằm cách trung tâm tỉnhThanh Hóa 77 km về phía Tây, có tọa độ địa lý 19055’ - 20017’ vĩ độ Bắc,
105031’ - 104057’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp huyện Cẩm Thủy và huyện BáThớc, phía Nam giáp huyện Thờng Xuân, phía Đông giáp huyện Thọ Xuân vàhuyện Yên Định, phía Tây giáp huyện Lang Chánh Ngọc Lặc là gạch nốigiữa vùng châu thổ miền núi tỉnh Thanh Hóa, giàu tiềm năng kinh tế, có vị tríchiến lợc hiểm yếu trong các cuộc chiến ngoại xâm của dân tộc
Địa hình huyện Ngọc Lặc phức tạp và đa dạng Do nằm ở đồi núi phíaTây tỉnh Thanh Hóa thuộc vị trí giáp liền giữa hai vùng châu thổ và miền núi,lại ảnh hởng bởi đồi núi trung du và lu vực sông Mã, sông Chu nên địa hìnhhuyện Ngọc Lặc có nhiều núi đá vôi với hai dạng chính: Một vùng núi cao(chiếm 271.492 ha), với nhiều hang động kỳ thú thuộc các xã Thúy Sơn, NgọcSơn, Lộc Thịnh Rừng dày nhiều sản vật quý hiếm nh: Lim, Lát hoa, Táu,Sến, Luồng
Hệ thống sông ngòi của huyện gồm 3 con sông chính: Sông Âm chảy từbiên giới Việt - Lào, chảy qua huyện Lang Chánh rồi chảy vào Ngọc Lặc vềphía Tây Nam, qua các xã Vân Am, Phùng Giáo, Phùng Minh rồi đổ ra sôngChu Sông Cầu Chày chảy từ xã Thạch Lập đến Thúy Sơn chảy qua trung tâmhuyện rồi chảy xuống các huyện Thọ Xuân, Yên Định, Thiệu Hóa rồi nhậpvào sông Mã Sông Hép là con sông nằm ở phía Bắc và Đông Bắc huyện chảyqua các xã Ngọc Liên, Lộc Thịnh, Cao Thịnh Với một mạng lới sông ngòi,khe suối dày đặc đã tạo điều kiện thuận lợi cho Ngọc Lặc phát triển về kinh tếcông nghiệp, nông nghiệp, giao thông, đờng thủy và tạo ra đợc các công trìnhthủy điện nhỏ phục vụ cho các xã Tuy nhiên với lợng sông suối nhiều cũng
đã gây ra nhiều khó khăn cho huyện đó là lợng ma lũ đầu nguồn lớn, làm thiệthại đến nông nghiệp và tài sản của nhân dân cũng nh việc đi lại khó khăntrong từng làng xã ở các xã vùng sâu, vùng xa của huyện
Trang 14Thời tiết khí hậu Ngọc Lặc thuộc nhiệt đới gió mùa, thờng có gió Tây,khí sắc âm u, cho nên đến tháng tiểu hàn, đại hàn đã rét Mùa đông lạnh (từtháng 10 năm trớc đến tháng 3 năm sau), ít ma có sơng giá, sơng muối Bìnhquân có từ 11 đến 13 ngày/năm, nhng do phân bố không đều trên năm nên th-ờng gây úng lụt về mùa ma và hạn hán về mùa khô Nhiệt độ trung bình từ
230c - 270c, nhiệt độ cao khoảng 340c, những ngày có gió Tây (gió Lào) khônóng nhiệt độ lên đến 410c Nhiệt độ và khí hậu thích hợp cho sự phát triểncủa rừng cây nhiệt đới trên địa bàn huyện Ngọc Lặc [12; 8]
Giao thông vận tải xa kia của huyện chủ yếu là trên hai con đờng chính:
Đờng sông và đờng bộ Đờng sông chủ yếu trên 3 con sông lớn: Sông Âm,sông Cầu Chày và sông Hép Theo đờng sông chúng ta có thể đặt chân lênnhiều vùng đất của huyện Ngọc Lặc Sông Âm và sông Cầu Chày nối với sôngChu và sông Mã là hai con sông lớn nhất nhì ở xứ Thanh, có nhiều phù l u tỏakhắp các vùnh trong và ngoài tỉnh Bởi vậy vốn là cửa ngỏ của miền núi vớimiền xuôi xứ Thanh nên đờng sông Ngọc Lặc đã nối liền miền ngợc với miềnxuôi trong tỉnh và ngoài tỉnh và trở thành tuyến đờng trọng yếu phục vụ chokinh tế và giao lu văn hóa giữa các huyện với nhau Đờng bộ của Ngọc Lặcgồm hai con đờng chính: Đờng quốc lộ 15A và đờng 519, đờng 15A chạy quahuyện dài 35 Km (Từ huyện Thọ Xuân chạy qua Ngọc Lặc đi Lang Chánh)
Đờng 519 có độ dài qua huyện là 15 Km (Từ trung tâm huyện chạy sang CẩmThủy) Ngày nay có thêm một con đờng, đờng Hồ Chí Minh chạy qua huyệnNgọc Lặc nối liền với các huyện khác, ra Bắc và vào Nam Ngoài ra còn cócác con đờng liên thôn, liên xã đợc mở mang tu sửa thuận lợi cho việc đi lại vàgiao lu, vận chuyển hàng hóa giữa các vùng trong huyện và các tỉnh
Khoáng sản, trên đất Ngọc Lặc đã phát hiện một số loại khoáng sản nh:
Mỏ sắt ở làng Sam (xã Cao Ngọc), Mỏ quặng Cromit tại làng Môn (xã PhùngGiáo), Mỏ Đồng ở Đồng Trôi (xã Lộc Thịnh), nguyên liệu phân bón hóa chất
có mỏ phốtphoric ở (xã Lộc Thịnh) là nơi có sản lợng lớn nhất với trữ lợng74.689 tấn [12; 8] Mỏ than ở (xã Nguyệt ấn), nguyên liệu sành sứ, thủy tinhmasalat ở (xã Mỹ Tân), ngoài ra còn có đất sét để sản xuất gạch, ngói và cácnúi đá vôi phục vụ cho sản xuất và xây dựng
Thiên nhiên đã tạo cho mảnh đất Ngọc Lặc màu mỡ, giàu tài nguyênthiên nhiên và khoáng sản để phát triển kinh tế, văn hóa, song thiên nhiêncũng gây không ít khó khăn cho việc phát triển kinh tế ở Ngọc Lặc nh khí hậu
Trang 15khắc nghiệt hạn hán, lũ lụt Tuy nhiên từ trong gian khó đã thử thách hun đúcnên phẩm chất cao đẹp của đồng bào các dân tộc Ngọc Lặc đã phát huy u thế
và điều kiện tự nhiên, văn hóa, quốc phòng ở tỉnh Thanh Hoá
1.1.2 Điều kiện xã hội
Trên mảnh đất Ngọc Lặc c dân chủ yếu là đồng bào các dân tộc Mờng,Kinh, Dao, Thái cùng sinh sống, tuy mỗi dân tộc có những nét văn hoá riêng,các phong tục tập quán, nét sinh hoạt, cách làm ăn sinh sống khác nhau Song
họ đều có chung tinh thần yêu quê hơng đất nớc, trãi qua các cuộc kháng chiếnchống kẻ thù xâm lợc đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện Ngọc Lặc đãcống hiến sức ngời, sức của cho tiền tuyến ở những thế kỷ trớc cũng nh giai
đoạn sau này cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Cộng đồng các dân tộc huyện Ngọc Lặc nh ngời Mờng, Dao, Thái,Kinh cùng chung sống từ lâu đời đã đóng góp xứng đáng vào công cuộc dựngnớc, giữ nớc của dân tộc ta Đồng thời hun đúc những giá trị lịch sử văn hóa
Dân tộc Thái, với chữ viết, tiếng nói, trang phục dân ca (Khặp Thái) hátmúa, nghi lễ, các trò diễn kin chiêng, Booc Mạy, cá sa, phấn chả (quanh câyhoa), Coong Giàn (coong lớn), kèn bè âm vang, réo rắt, diễn tấu “khua luống”vui nhộn Đã đóng góp vào nền văn hóa của đồng bào các dân tộc Ngọc Lặcnhững nét đặc sắc
Sự đan xen văn hóa các dân tộc cùng chung sống trên đất Ngọc Lặc đợcthể hiện rõ nét ở một hệ thống đền thờ thiên nhiên, nhân thần và đình thờThành Hoàng Các thần và thành Hoàng đợc thờ ở Ngọc Lặc gồm đông đảonhững ngời có công với đất nớc dân tộc nh anh hùng dân tộc Lê Lợi, các khaiquốc công thần thời Lê thế kỷ XV nh Lê Lai (ở Kiên Thọ); Đinh Lễ, Đinh Bộ,
Đinh Liệt (ở xã Minh Tiến), Phạm Cuống (xã Vân Am)
Trang 16Từ những năm 20 của thế kỷ XX những nhà khảo cổ học ngời Pháp đãphát hiện một số huyện miền núi xứ Thanh nh huyện Cẩm Thủy, Bá Thớc,Thạch Thành, Ngọc Lặc Những di chỉ c trú của dân c trong thời đại đá mới(thuộc văn hóa Hòa Bình) cách ngày nay khoảng 11.000 năm Cũng nh ở cácnơi khác, ở Ngọc Lặc c dân thời đại mới c trú trong các hang động mái đácạnh bờ suối nh các hang Mộc Thạch, Lộc Thịnh I, Lộc Thịnh II v.v , phơngthức kinh tế chủ yếu là săn bắt, hái lợm và bắt đầu đã sơ khai nền kinh tế nôngnghiệp Tại các địa điểm khảo cổ cho biết ngời Ngọc Lặc thủa đó đã có tổchức xã hội sơ khai Các bếp nấu các nơi c trú gần nhau, các mộ táng chôntheo những công cụ lao động, đồ dùng sinh hoạt hay đồ trang sức Các nghi
lễ tôn giáo đã có mặt trong đời sống tinh thần của họ
Vào thời văn hóa Đông Sơn trên mảnh đất Ngọc Lặc phát hiện đợc cácnhóm đồ đồng Đông Sơn khá phong phú gồm công cụ, vũ khí và những chiếctrống Đồng đợc phát hiện nhiều nơi trên địa bàn huyện Ngọc Lặc Di chỉ khảo
cổ Mã Mè, di chỉ núi Mú ở xã Nguyệt ấn là dấu vết về chòm, bản,làng
Thời dựng nớc Ngọc Lặc thuộc vùng đất bộ Cửu Chân, một trong 15 bộthuộc vơng quốc Văn Lang của Vua Hùng Cho đến nay theo quan điểm củanhiều nhà khảo cổ học thì ngời Mờng c trú ở đây rất đông và có cùng nguồngốc với ngời Việt (Kinh) và chắc chắc là c dân bản địa của Ngọc Lặc
Đến đầu công nguyên Ngọc Lặc là miền đất thuộc huyện Đô Lung.Thời thuộc Hán (Năm 111 trớc công nguyên) năm 210 Ngọc Lặcthuộc huyện Võ Biên Thời thuộc Tùy - Đờng (581 - 905) miền đất Ngọc Lặcthuộc huyện Di Phong rồi huyện Trờng Lâm đến tận thời Đinh - Tiền Lê -Lý
Thời Trần - Hồ thuộc huyện Nga Lạc (tơng đơng với huyện Ngọc Lặcngày nay) và một phần đất huyện Thọ Xuân phía tả ngạn sông Chu
Thời thuộc Minh nhập Nga Lạc với Lỗi Giang gọi là huyện Nga Lạc(tức 2 huyện Ngọc Lặc và Cẩm Thủy ngày nay)
Thế kỷ XV giặc Minh tàn bạo xâm lợc và đặt ách cai trị trên đất ĐạiViệt Lê Lợi dựa vào vùng đất quê Lam Sơn, dựa vào lòng dân gi ơng caongọn cờ khởi nghĩa Nhiều ngời con u tú của Ngọc Lặc tham gia khởi nghĩangay từ những ngày đầu mới nhen nhóm Trong đó tiêu biểu nhất là sự thamgia của cả Gia tộc phụ đạo đất Dựng Tú là Lê Lai (nay là làng Tép xã KiênThọ) cùng anh trai Lê Lạn và các con Lê Lô, Lê Lộ, Lê Lâm - cả nhà đều
Trang 17tham gia khởi nghĩa từ những ngày đầu Hai cha con quan lang ng ời Mờng ởNgọc Châu (Kiên Thọ) là Lê Hiển, Lê Hu cũng sớm đứng dới cờ khởi nghĩa.
Đất Ngọc Lặc trở thành căn cứ tích trữ lơng thực, khí giới, luyện quâncủa Lê Lợi Tại Vân Am, tớng Phạm Công Cuống trực tiếp thu gom cất giấu l-
ơng thực cho nghĩa quân do nhân dân tích cực giúp đỡ ở đây hiện vẫn còn ditích một bãi tập của nghĩa quân Lam Sơn tại thôn Long Sơn (xã Nguyệt ấn)một vùng bằng phẳng, rộng khoảng 6 ha, nằm dới chân núi Tạt, quanh bãi cósuối nhỏ bao quanh Nhân dân địa phơng thờng gọi là “Hấp ông Lê” TiếngMờng nghĩa là “Bãi tập ông Lê Lợi” ở cách Lam Sơn 10 km về phía Tây Bắc
Đặc biệt hơn cả, Lê Lai và Gia tộc của ông đã nêu cao tấm gơng chiến
đấu hy sinh vì sự tồn vong của sự nghiệp “cứu dân, cứu nớc” hành động tựnguyện đổi áo cải trang thành “Chúa Lam Sơn” lĩnh 500 quân và hai thớt voichiến xông ra tập kích quân Minh để giải vây cho nghĩa quân Lam Sơn của LêLai là tấm gơng hy sinh vĩ đại đã mở đờng sống cho toàn bộ lực lợng cuộckhởi nghĩa Chính vì thế tấm gơng đó đã trở thành tiểu lợng cao đẹp rực rỡ và
tự hào nhất của nhân dân Ngọc Lặc nói riêng và Thanh Hóa nói chung trongcuộc kháng chiến chống giặc Minh ở thế kỷ XV và những cuộc kháng chiếnchống ngoại xâm của dân tộc sau này
Thời Hậu Lê - năm Quang Thuận thứ 10 (1469) Ngọc Lặc thuộc huyệnLơng Giang phủ Thiệu Thiên
Thời Nguyễn là phần đất của huyện Thụy Nguyên (không còn huyệnNga Lạc nữa)
Năm Thành Thái 12 (1900) cắt tổng Ngọc Lặc và cả xã ngời Mờngthuộc tổng Yên Tờng, Quảng Thi (huyện Thụy Nguyên phủ Thiệu Hóa), thànhlập Châu Ngọc, sau là Châu Ngọc Lặc, Ngọc Lặc thời kỳ này gồm 4 tổng: HạtCao, Ngọc Khê, Cốc Xá và Vân Am Trên cơ sở 17 mờng (Rặc, Lập, Yến, Tạ,Chẹ, Ngôn, Mờng Vin, Vim, Um, Rờng, Lộc Thịnh, Ngọc Trung, Mỹ Lâm,Bằng, Phủ Yên) sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 bỏ Châu đổi là huyệnNgọc Lặc [11; 15]
Ngày 5/7/1977, theo quyết định số 177-CP của Hội đồng Chính phủ sápnhập 2 huyện Ngọc Lặc và Lang Chánh gọi là huyện Lơng Ngọc
Ngày 30/8/1982 theo quyết định số 149 - HĐBT của hội đồng Bộ trởngchia Lơng Ngọc thành hai huyện Ngọc Lặc và Lang Chánh và giữ nguyên têngọi đến ngày nay
Trang 18Hiện nay huyện Ngọc Lặc có 20 xã và 3 thị trấn: Phùng Giáo, PhùngMinh, Phúc Thịnh, Nguyết ấn, Kim Thọ, Minh Tiến Minh Sơn, Ngọc Trung,Ngọc Sơn, Ngọc Liên, Cao Thịnh, Lộc Thịnh, Quang Trung, Thúy Sơn, ThạchLập, Ngọc Khê, Mỹ Tân, Cao Ngọc, Vân Am; 3 thị trấn: Phố Công (huyện lỵ)Thị trấn Nông trờng sông Âm, Thị trấn Nông trờng Lam Sơn [12, 28].
Với tinh thần yêu nớc và truyền thống của c dân Ngọc Lặc đến cuối thế
kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, kẻ thù mới lúc này vừa có tiềm lựcquân sự, vừa có tiềm lực kinh tế t bản chủ nghĩa Mặc dù vậy nhân dân ta vẫnkhông cam chịu khuất phục Lòng yêu nớc trong mọi tầng lớp nhân dân lạibùng lên hơn bao giờ hết
Hởng ứng chiếu Cần Vơng của vua Hàm Nghi (1885) đồng bào các dântộc Ngọc Lặc đã dấy lên phong trào chống giặc Pháp mãnh liệt Nhân dân đãcùng với nghĩa quân Hà Văn Mao và Cầm Bá Thớc phối hợp chiến đấu, đã
đánh lui nhiều cuộc tiến công của quân thù vào căn cứ khởi nghĩa Đà Giám(thuộc xã Quang Trung), thủ lĩnh Hà Văn Mao đã dựa vào thế hiểm yếu, lậpphòng tuyến chống giặc và xây dựng đồn Mã Cao Nhân các tổng Ngọc Lặctham gia sự nghiệp cứu nớc
Không chỉ đánh Pháp trên đất Ngọc Lặc, nhiều ngời con của Ngọc Lặc
đã tham gia trận đánh mở màn ở đập Bái Thợng (thuộc huyện Thọ Xuân) trận
đánh ở Điền L (Bá Thớc)
Phong trào Cần Vơng chống Pháp ở Thanh Hóa cũng nh cả nớc bị quânthù đàn áp đẫm máu và thất bại Nhng ngọn lửa chống Pháp vẫn âm ỉ cháy vànhân dân Ngọc Lặc cùng với nhân dân tỉnh Thanh tiếp tục hởng ứng cácphong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hớng t tởng của PhanBội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học lãnh đạo Nhng đến những năm
30 của thế kỷ XX ánh sáng của Đảng đã rọi tới, hớng đồng bào các dân tộcNgọc Lặc đi theo con đờng cách mạng vô sản đánh đuổi thực dân phong kiếnlãnh đạo nhân dân ta giành độc lập tự do cho dân tộc
Ngày 3/2/1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời Sự kiện lịch sử trọng
đại ấy đã đánh dấu bớc ngoặt lớn trong phong trào cách mạng nớc ta Từ đâycác địa phơng nhanh chóng thành lập Đảng bộ để đáp ứng yêu cầu lịch sử đòihỏi trên quê hơng mình Ngày 29/7/1930, Đảng bộ Thanh Hóa đợc thành lập,
đồng bào các dân tộc Ngọc Lặc theo Đảng vùng dậy đấu tranh giải quyết mâuthuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp mở đờng cho xã hội phát triển
Trang 19Ngọn đuốc soi đờng của Đảng dẫn dắt đồng bào các dân tộc Ngọc Lặctham gia phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ thời kỳ 1936 - 1939, thamgia phong trào phản đế cứu quốc thời kỳ 1940 - 1941 thổi bùng lên ngọn lửachiến khu Ngọc Trạo thiêng liêng, quả cảm và tiến tới phong trào Việt Minhthời kỳ 1941 - 1945 vùng lên đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân.
Ngày 23/8/1945, đợc sự hỗ trợ của lực lợng khởi nghĩa Thọ Xuân, CẩmThủy, Yên Định, quần chúng cách mạng Ngọc Lặc đã kéo về châu lỵ, đánh đổ
ách cai trị của chế độ thực dân phong kiến thiết lập chính quyền cách mạng, gópphần cùng cả tỉnh, cả nớc mở ra kỷ nguyên độc lập tự do và CNXH
Hởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Trung ơng, Hồ ChíMinh, đồng bào các dân tộc Ngọc Lặc một lòng đoàn kết đánh đuổi thực dânPháp xâm lợc
Ngày 27/8/1949, chi bộ Cộng sản đầu tiên - chi bộ Bắc Sơn ra đời trênquê hơng Ngọc Lặc Sự phát triển nhanh chóng của chi bộ Bắc Sơn đã đặt nềntảng cho việc ra đời của Đảng bộ Ngọc Lặc và Huyện ủy lâm thời vào tháng12/1950 Với sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ, đồng bào các dân tộc NgọcLặc tích cực xây dựng, bảo vệ hậu phơng đóng góp cao nhất nhiều nhất sứcngời, sức của cho các cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc giành thắng lợiquyết định
Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Ngọc Lặc đã huy động14.667 ngời con u tú vào bộ đội, 456 thanh niên xung phong, 4.210 dân cônghỏa tuyến (đặc biệt là thời kỳ chống Mỹ cứu nớc, Ngọc Lặc đã chi viện chochiến trờng Quảng Trị trung đội du kích Bắc Sơn, đơn vị đã chiến đấu dũngcảm, lập công xuất sắc đợc tặng thởng huân chơng chiến công hạng nhất).Trong chiến đấu và công tác đã có 1.277 chiến sỹ đã hy sinh to lớn, Ngọc Lặc
đã đợc Nhà nớc phong tặng danh hiệu 23 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 2 Anhhùng lực lợng vũ trang nhân dân, 1 Anh hùng lao động Toàn huyện đợc tặngthởng 4.437 huân huy chơng kháng chiến [12, 145]
Nh vậy lịch sử xã hội vùng đất Ngọc Lặc từ nhiều thế kỷ trớc thực sự đã
có một bề dày truyền thống hun đúc nên những con ngời anh hùng, nhữngdanh gia vọng tộc mà tên tuổi của họ mãi gắn liền với thời gian và cùng với cảnớc và cả dân tộc trãi qua rất nhiều thử thách gian nan xứng đáng với truyềnthống đánh giặc giữ nớc của c dân Ngọc Lặc từ xa xa mà điển hình là đóng
Trang 20góp của Gia tộc Lê Lai trong khởi nghĩa Lam Sơn và vơng triều Lê Sơ ở thế kỷ
XV
1.2 Quá trình định c và phát triển của Gia tộc Lê Lai trên đất Ngọc Lặc
Ngọc Lặc từ xa xa là địa bàn c trú của nhiều dân tộc khác nhau nh ngờiMờng, Dao, Thái, Kinh cùng chung sống đã đóng góp xứng đáng vào côngcuộc dựng nớc, giữ nớc của dân tộc Đồng thời hun đúc những giá trị lịch sửvăn hóa và đậm đà bản sắc dân tộc cho quê hơng
Ngày nay dân số toàn huyện Ngọc Lặc tính đến năm 2005 là 140.201ngời, trong đó Dân tộc Mờng có 94.011 ngời chiếm 68,5 tổng dân số, Dân tộckinh có 40.624 ngời chiếm 29,6% tổng dân số, Dân tộc Giao có 1.386 ngờichiếm 1,01% tổng dân số, Dân tộc Thái có 1.043 ngời chiếm 0,76% tổng dân
số Các dân tộc khác có 178 ngời chiếm 0,13% tổng dân số
Quá trình định c của Gia tộc Lê Lai trên đất Ngọc Lặc cho tới ngày nayvẫn cha tìm thấy nguồn tài liệu nào nhắc tới nhng theo tơng truyền thì Gia tộc
Lê Lai là quý tộc ngời Mờng ở vùng miền Tây Thanh Hoá Từ xa xa cho tới
ngày nay bà con dân tộc Mờng ở vùng Ngọc Lặc vẫn thừa nhận “Lê Lai là tổ của mình” [29, 40] Vấn đề này đang còn đợi nghiên cứu, xong quê hơng Lê
Lai từ trớc tới nay thì đúng là nơi c trú của dân tộc Mờng
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo là cuộc chiến tranh giảiphóng mang tính nhân dân sâu sắc Nét độc đáo của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
là ngoài việc thu hút đông đảo các anh hùng nghĩa sĩ trong nớc nô nức về tựunghĩa còn đợc sự ủng hộ trực tiếp mạnh mẽ của nhân dân tại chỗ từ ngời Kinh
đến các dân tộc thiểu số Có thể kể trong danh sách 18 ngời ở Hội thề LũngNhai đã có ít nhất là 5 ngời thuộc dân tộc ít ngời đó là Lê Thận, Lê Hiểm,Phạm Lôi, Đinh Lan Sự đóng góp của nhân dân địa phơng trớc hết là đồngbào dân tộc miền núi không phải chỉ 1 hoặc 2 ngời có chí quyết lập công togiết giặc mà là cả toàn dân từ bà già, trai tráng, cả quan lang đều theo Lê Lợihởng ứng cờ khởi nghĩa Số ngời gia nhập nghĩa quân “theo chật suối chậtrừng” ấy tuyệt đại đa số là đồng bào các dân tộc Nhiều ngời con u tú củaNgọc Lặc tham gia khởi nghĩa ngay từ những ngày đầu mới nhen nhóm nhHai cha con quan lang ngời Mờng ở (Ngọc Châu Kiên Thọ) là Lê Hiển, Lê Hucũng sớm đứng dới cờ khởi nghĩa Nhng tiêu biểu nhất là Gia tộc Lê Lai đời
đời làm phụ đạo trên đất Dựng Tú (Kiên Thọ - Ngọc Lặc)
Trang 21Tổ tiên của Lê Lai đời đời làm phụ đạo ở vùng Dựng Tú - Sách Đứcgiang, giờ đây là xã Kiên Thọ huyện Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hoá và cũng làláng giềng gần gũi với sách Lam Sơn của Lê Lợi Theo “Lam sơn thực lục”thôn Nh áng thuộc hơng Lam Sơn, huyện lơng Giang phủ Thanh hoá (ngàynay là xã Xuân Lam huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hoá) ở đây có những cánh
đồng tha và đồi núi thấp xen kẽ những cánh đồng nhỏ hẹp Núi đồi đá thuộcthôn Nh áng là ngọn núi cao nhất vùng Lam Sơn xung quanh Lam Sơn làkhu vực dân c trú tơng đối đông đúc, các bản làng của ngời Mờng, Thái và ng-
ời Kinh đã sinh cơ lập nghiệp dọc theo dòng sông Lơng từ nhiều thế kỷ Giaothông đi lại giữa các vùng lân cận rất thuận lợi Vì vậy, đây chính là cơ sở vậtchất tinh thần ban đầu cho “Lam Sơn tụ nghĩa”
Theo lời kể của bác Bùi Huy Quang thủ từ đền thờ Trung Túc Vơng LêLai thì Lê Lợi sinh năm 1383 và Lê Lai sinh năm 1355, tuy lệch nhau về tuổi
đời, nhng cùng chí hớng và ngang chức vụ ở hai vùng Đức Giang và Khả Lamnên hai ông rất thân với nhau Vì vậy, ngay từ những ngày đầu nhen lủa củacuộc khởi nghĩa thì Lê Lai đã tự nguyện cùng cả Gia tộc về Nh áng đứng dớilá cờ khởi nghĩa Lam Sơn
Cụ thân sinh ra Lê Lai là Lê Kiều, mẹ là Lê Thị Kiệu và sinh đợc haingời con trai Con trởng là Lê Lạn, con thứ là Lê Lai Lê Lạn theo vua thái Tổ(tức Lê Lợi) khởi binh từ những ngày đầu và có nhiều công lao Năm ất tỵ
1425 đánh ở ải Khả Lu, ông hy sinh, sau tặng là thái phó Hiệp Trung hầu, gia
tặng là Hiệp quận công Còn Lê Lai thì Đại việt thông sử“ ” chép: “Lê Lai tính cơng trực, dung mạo khác thờng, chí cao cả lẫm liệt, lo việc hậu cận cho vua Thái Tổ rất chu đáo, công lao rõ rệt” [19, 156]
Mùa đông năm bính thân 1416 Lê Lợi cùng 18 vị tớng thân cận, liêndanh hội thề sống chết có nhau, văn thề nh sau:
“niên hiệu thiên khánh thứ nhất, năm Bính thân tháng 2, qua ngày Kỷ mão là ngày sóc, đến ngày 12 là Canh dần.
Phụ đạo lộ khả lam nớc an nam là Lê lợi cùng Lê lai, lê thận, lê văn an, lê văn linh, trịnh khả, trơng lôi, lê liễu, bùi quốc hng, lê ninh,
lê hiểm, vũ uy, nguyễn trãi, đinh liệt, lê nhân chú, lê bồi, lê lý, đinh lan, trơng chiến kính đem lễ vật, sinh huyết tấu cáo cùng hạo thiên thợng
đế, hậu thổ hoàng địa và các tôn linh thần bậc thợng, trung, hạ coi sông núi
ở các xứ nớc ta.
Cúi xin chứng giám cho:
Trang 22Rằng có bạn ở phơng xa đến, kết giao vui vẻ, cùng giữ lòng tin Vì thế phải có lễ tấu cáo.
Nay ở trong nớc, tôi là phụ đạo lê lợi cùng với lê lai đến trơng chiến, 19 ngời Tuy họ hàng quê quán khác nhau, nhng kết nghĩa thân nhau
nh một tổ liền cành Phận vinh hiển đều có khác nhau, mong có tình nh cùng chung một họ.
[có kẻ] bằng đảng xâm chiếm nớc ta, qua cửa quan làm hại, nên lê lợi cùng lê lai đến trơng chiến, 19 ngời chung sức đồng lòng, giữ gìn đất n-
ớc làm cho xóm làng đợc ăn ở yên lành thề sống chết cùng nhau, không giám quên lời thề son sắt.
Tôi cúi xin trời đất và các vị thần linh chứng giám, ban cho trăm phúc, đến thân mình, nhà mình, con cháu trong họ hàng đều đợc yên vui h- ởng lộc trời.
Nếu nh lê lợi cùng lê lai đến trơng chiến sinh lòng này khác, cầu ơn hiện tại, núp bóng quân thù, không cùng một lòng, quên lời thề ớc Chúng tôi nguyện trời đất và các thần linh giáng trăm tai ơng trị mình cho đến họ hàng, con cháu đều bị tru diệt, chịu hết hình phạt của trời.
kính xin có lời thề [38, 134].
Lê Lai tham dự hội thề và đứng thứ tự thứ hai sau Lê Lợi, sau hội thềlịch sử này ông đợc trao chức Tổng quản phủ Đô tổng quản, tớc Quan Nộihầu quan nội hầu là tớc vị cao nhất mà lê lợi đã phong cho các tớng dớiquyền tổng quản là chức đứng đầu, còn phủ đô tổng quản là cơ quan trựcthuộc bộ chỉ huy, chịu trách nhiệm về hậu cần, xây dựng đại bản doanh và bảo
vệ bình định vơng Lê Lợi cùng các tớng trong bộ chỉ huy
Năm mậu tuất 1418, lúc mới dựng cờ khởi nghĩa, tớng ít, quân thiếu,
bị giặc Minh bao vây Lê Lai đã anh dũng hy sinh để mở lối thoát cho nghĩaquân và sau này ông đợc ban tặng nhiều nhiều chức tớc, sau là trung túc v-
ơng
Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, Gia tộc Lê Lai đã hy sinh vì
sự nghiệp giành độc lập cho đất nớc cả thảy 5 ngời và cũng hiếm có Gia tộcnào cả 5 ngời đều là tớng giỏi, là cánh tay đắc lực cho sự nghiệp “Bình Ngô”của Bình Định vơng Lê Lợi
Trang 23Anh trai Lê Lạn cùng ba con trai của Lê Lai là Lê Lô, Lê Lộ và LêLâm Tất cả đều là những tớng tài của nghĩa quân và đều hy sinh vì nớc:
- Lê Lạn (Anh ruột Lê Lai)
- Lê Lai (Dịch bào thế quốc)
- Lê Lô (Con trai Lê Lai)
- Lê Lộ (Con trai Lê Lai)
- Lê Lâm (Con trai Lê Lai)
Lê Lộ sinh ba con trai, là Tích, Tung, Dũng, đều có công trạng, đợcphong hầu Tích sinh ra Dợc, Dợc lại sinh ra ba con trai, là Liệp, Hiệp, Quỵ,
đều đợc tập tớc
Lê Lâm sinh con trai Lê Niệm Trong suốt hai đời vua của nhà Lê Sơ:
Lê Nhân Tông (1442- 1459), Lê Thánh Tông (1460-1497), Lê Niệm là mộttrong những tôi hiền đợc đắc dụng Lê Niệm có 25 ngời con, trong đó có 15ngời con trai, 3 ngời Tuớc hầu, 2 ngời Tớc bá, 2 ngời làm Tả đô đốc, 1 ngờilàm Thợng th và 10 ngời con gái thì 1 ngời làm Hoàng Hậu, 1ngời là Cungtần Con trai thứ t là Lê Khủng làm chức Tham đốc, theo đi đánh chiêmthành bị chết, tặng là Thái bảo Thuần quận công con trai thứ 5 là Lê ý, tớcDiên Trực hầu, theo đi đánh Chiêm Thành có công, phong là Thuần chínhTuyên lực công thần Tả đô đốc, chởng phủ sự Diên quận công con thứ 2 tên
là Lê Chí làm chức Tả đô đốc, theo đi đánh Chiêm Thành bắt đ ợc giặc TràToàn đợc phong tớc Bình Lơng bá, sau đó tiến phong lên Bình Lơng hầu
Lê Chí có 5 ngời con trai, 1 ngời đợc phong Tớc công, 2 ngời phong
T-ớc hầu, 1 ngời TT-ớc bá, 1 ngời làm Phò mã Nh Đại Việt thông sử“ ” đánh giá
là: “gia đình quý hiển không ai sánh kịp” [19, 164].
Cháu xa đời Nhân Lơng Hầu Lê công Thái, tín quận công lê công
từ, thờ vua trang tông và thế tổ thái vơng tức trịnh kiểm nhiều lần lậpcông, đều làm đến chức Thái bảo, phong là tuyên lực công thần đến các ôngnghĩa lộc hầu công trừng, hoằng lễ hầu công giới, thờ vua thần tông vàvăn tổ nghị vơng tức trịnh tráng, thờng đi theo hộ vệ, và ra sức đánh dẹp
đều đợc phong là dơng vũ uy dũng tán trị công thần
Ngày nay, con cháu gia tộc Lê Lai đã di c đến sinh sống trên mọi miền
tổ quốc nh ở xã Hoằng Hải huyện Hoằng Hoá tỉnh Thanh Hoá, huyện DiễnChâu, Quỳnh Lu tỉnh Nghệ An, tỉnh Ninh Bình, Tp.Hà Nội, tỉnh Thái Bình,
Trang 24tỉnh Hà Tĩnh Lịch sử đã trải qua hàng ngàn năm, nhiều tấm gơng hy sinhcao cả xuất hiện liên tiếp trong từng thời kỳ lịch sử mà tiêu biểu nhất là haicuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân ta, con cháu của giatộc Lê Lai phát huy truyền thống cha ông cũng đã có những đóng góp rất tolớn cho độc lập dân tộc và bảo vệ tổ quốc Việt Nam.
Tiêu biểu trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ, chỉ riêng con cháu Gia tộc Lê Lai nhánh Hoằng Hoá đã có 1200 thanhniên lên đờng nhập ngũ, trong đó có 186 liệt sỹ, 82 ngời thơng binh, 114 ngờibệnh binh, nhiều ngời giữ chức vụ cao trong quân đội Đợc Đảng và Nhà nớcphong tặng, truy tặng 250 huân Huy chơng các loại, 35 Dũng sỹ diệt Mỹ, 80Chiến sỹ thi đua và Chiến sỹ quyết thắng
Hàng trăm con em đã và đang học ở các trờng Đại học trong và ngoài
n-ớc, trong đó có trên 100 ngời là Tiến Sĩ, Thạc Sĩ, Kỹ S, Bác Sĩ, Giáo viên,Chuyên viên kỹ thuật, Giám đốc, Cán bộ trung-cao cấp của Đảng và Nhà nớc
Đến nay có ngời đã anh dũng hy sinh, có ngời đã nghỉ hu, mất sức, cóngời phục viên, có ngời còn tại ngũ hoặc dang công tác học tập trên mọi miền
tổ quốc, hầu hết đều giữ vững và phát huy truyền thống cách mạng của ôngcha, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ đợc giao
Vì vậy, Lê Lai và gia tộc của ông xứng đáng Cả một nhà trung nghĩa,“
vì nớc bỏ mình” trở thành một biểu tợng cao đẹp rực rỡ nhất của lòng yêu nớc
quên mình vì độc lập của dân tộc ở thế kỷ XV cũng nh thế kỷ XX Mãi mãitrở thành niềm tự hào của nhiều thế hệ con cháu trong Gia tộc
Từ điều kiện tự nhiên thuận lợi cũng đã tạo điều kiện cho xã hội ở đâyphong phú với sự định c tập trung trên mảnh đất Ngọc Lặc, c dân chủ yếu là
đồng bào các dân tộc Mờng, Kinh, Dao, Thái cùng sinh sống, trong đó dân tộcMờng có số lợng đông nhất Tuy mỗi dân tộc có những nét văn hoá riêng, các
Trang 25phong tục tập quán, nét sinh hoạt, cách làm ăn sinh sống khác nhau Song họ
đều có chung tinh thần yêu quê hơng đất nớc, trãi qua các cuộc kháng chiếnchống kẻ thù xâm lợc đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện Ngọc Lặc đãcống hiến sức ngời, sức của cho tiền tuyến ở những thế kỷ trớc cũng nh giai
đoạn sau này cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Trãi qua lịch sử, đa đến sự thay đổi về địa giới hành chính, tên gọi cũngthay đổi qua các thời kỳ, nhng truyền thống yêu nớc sẵn sàng hy sinh vì nghĩalớn vì giang sơn xã tắc - độc lập dân tộc vẫn đợc nhân dân nơi đây duy trì từthế hệ này qua thế hệ khác mà đặc biệt và nổi trội hơn cả đó là tấm gơng hysinh cống hiến của Lê Lai và Gia tộc ông cho quốc gia Đại Việt ở thế kỷ XV
và ở những giai đoạn sau này
Không chỉ có những đóng góp cho khởi nghĩa Lam Sơn và vơng triều LêSơ ở thế kỷ XV mà cho tới ngày nay con cháu trong Gia tộc Lê Lai vẫn cốnghiến đóng sức ngời, sức của cho đất nớc ở thế kỷ XX cũng nh thế kỷ XXI Trãiqua hơn 5 thế kỷ, với sự phát triển thì ngày nay con cháu Gia tộc Lê Lai đã di
c đến nhiều vùng đất khác nhau của đất nớc, nhng những truyền thống yêu
n-ớc của miền đất quê cha đất tổ vẫn đợc các thế hệ truyền nhau đời đời xứng
đáng với tinh thần yêu nớc của cả một Gia tộc
Trang 26Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV mà tiêu biểu đó
là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn dới sự lãnh đạo của ngời anh hùng dân tộc LêLợi, từ núi rừng Lam Sơn Thanh Hoá đã nhen lên một ngọn lửa yêu nớc toảsáng khắp mọi miền Khởi nghĩa Lam Sơn từ lâu đã đi vào lịch sử, đi vào lòngngời Việt Nam nh một biểu tợng anh hùng bất khuất của xứ Thanh, của cả đấtnớc và dân tộc ta
Trãi qua hơn một ngàn năm Bắc thuộc, 20 năm chịu sự đô hộ của giặcMinh (1407-1427) đó là một thử thách to lớn mang ý nghĩa sống còn đối vớidân tộc ta Với âm mu của nhà Minh là không những chiếm nớc ta làm thuộcquốc mà còn muốn thực hiện dã tâm đồng hoá vĩnh viễn xoá bỏ nớc ta và sápnhập vào hẳn lãnh thổ của nhà Minh Trong những năm cai trị của giặc Minhthì chúng đã đa ra những chính sách cai trị tàn bạo dã man và thâm độc hòng
đè bẹp ý chí quật cờng của nhân dân ta Nhng ở các vùng đồng bằng Bắc Bộ,vùng Đông Bắc, Tây Bắc và vùng Thanh Nghệ Tĩnh đã liên tiếp nổ ra nhiềucuộc khởi nghĩa nhng cuối cùng đã bị sức mạnh tàn bạo phi nghĩa của kẻ thù
đàn áp dìm trong biển máu
Trong giai đoạn lịch sử dân tộc đang trải qua những gian nan thử tháchmang tính quyết định, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên đất ThanhHoá thời điểm này không những chứng kiến các cuộc đấu tranh do các quý tộcTrần lãnh đạo nh khởi nghĩa Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng diễn ra trong thờigian từ (1407-1414), cuộc khởi nghĩa của Đồng Mặc (1410) ở vùng thợng duThanh Hoá Sau cuộc khởi nghĩa của Đồng Mặc, trên địa bàn phía Nam Thanhhoá lại diễn ra một cuộc nổi dậy với quy mô lớn dới sự lãnh đạo của ngờinông dân nghèo Nguyễn Chích trên vùng đất Đông Sơn của Thanh Hoá Đâycũng là thời điểm ghi dấu sự xuất hiện của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do LamSơn động chủ Lê Lợi khởi xớng và lãnh đạo bùng lên trên mảnh đất Lam Sơnthuộc miền Tây Thanh Hoá vào tháng Giêng năm 1418
Lam Sơn thuộc huyện Lơng Giang phủ Thanh Hoá (ngày nay thuộc xãXuân Lam huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hoá) Dới thời thuộc Minh, nhân dân
Trang 27Thanh Hoá cũng nh các nơi khác trong cả nớc, bị bóc lột đến xơng tuỷ Ngoàithuế và lao dịch quân Minh còn chiếm đoạt ruộng đất của nhân dân để lập đồn
điền Trong các sở đồn điền này, chúng huy động đa số thổ quân và một số ítquân Minh thuộc các vệ sở Thanh Hoá đi sản xuất lơng thực Không cam tâmtrong cảnh mất nớc, nhân dân Thanh Hoá đã cùng nhân dân cả nớc khôngngừng nổi dậy đấu tranh ở cả miền xuôi lẫn miền núi Trong suốt 20 năm đô hộcủa nhà Minh, quân địch chỉ chiếm đợc vùng Thanh Hoá cha đầy đợc nửa năm
Điều đó chứng tỏ tinh thần yêu nớc và chí khí kiên cờng của nhân dân địa
ph-ơng Khởi nghĩa Lam Sơn là một tiêu biểu mới rực rỡ hơn nữa về truyền thống
đấu tranh của nhân dân nơi đây
Lam Sơn nằm về tả ngạn sông Chu, cách thành phố Thanh Hoá ngày nay50km, phía dới Bái Thợng 3km Đó là một vùng đồi thấp xen kẽ những dải rừngtha và cánh đồng hẹp, phía trên tiếp giáp với núi rừng trùng điệp của miền th-ợng du Thanh Hoá, đầu nguồn các con sông Mã, sông Chu, ngày nay là cáchuyện Thờng Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh, Cẩm Thuỷ, Bá Thớc, Quan Hoá Trong những năm đầu khởi nghĩa, khi lực lợng mới tập hợp, còn non yếu thì núirừng nơi đây đã trở thành nơi che chở, đùm bọc và nuôi nấng nghĩa quân thoátkhỏi nhiều cuộc bao vây càn quét của địch, đồng thời tạo địa hình thuận lợi chonhiều trận phục kích tiêu hao sinh lực địch
Xung quanh Lam Sơn trong phạm vi vài chục dặm là bản làng của nhiềutớng lĩnh nghĩa quân Đó là các làng dọc sông Chu (hay sông Lơng) nh HảiLịch (còn gọi là Hải Quát), Quần Đôi, Diên Hào, Mía (còn gọi là Thịnh Mỹ),Dao Xá, Mục Sơn, Bái Thợng, Bái Đô (nay là các xã Thọ Hải, Thọ Diên, XuânLam) C dân ở đây quanh năm vất vả với đồng ruộng và sông nớc, nhng tất cả
đều nhiệt tình hăng hái góp công vào cuộc khởi nghĩa
Về phía Tây và phía Bắc Lam Sơn là các bản làng của các dân tộc thiểu
số nh ngời Mờng, ngời Thái Sinh sống dới chân núi hệ Pù Rinh hoặc bên cácngọn suối đổ vào sông Chu nh làng Đức Trai, Tép (còn gọi là Dựng Tú),Nguyệt ấn, Nh áng, Xuân Dơng, Xuân Mỹ thuộc huyện Ngọc Lặc, ThờngXuân Đây là những ngời nông dân hiền lành cần cù chất phác, quanh nămchăm chỉ bên nơng rẫy và khe suối Giai đoạn chuẩn bị lực lợng để khởi nghĩa
là những năm gian khổ nhất của nghĩa quân, các bản làng trên đã đùm bọc, che
Trang 28chở và nuôi nấng nghĩa quân, cùng Lê Lợi tham gia giết giặc cứu nớc tiêu biểu
có gia đình phụ đạo Lê Lai ở Dựng Tú
Lam Sơn có sông Chu chảy qua, từ Lam Sơn trở xuống, sông Chu chảyqua các huyện Thọ Xuân, Thiệu Hoá đến ngã ba Bông nhập với sông Mã rồixuôi ra biển Đây chính là huyết mạch giao thông quan trọng giữa miền núi vớimiền biển xứ Thanh Lam Sơn cũng liền kề với đờng thợng đạo từ bắc vàonam, từ đông sang tây, từ căn cứ này nghĩa quân có thể tiến vào Nghệ An,sang Lào hoặc tiến ra Đông Quan mà không gặp trở ngại gì đáng kể về địa lí
Đây là điều kiện rất thuận lợi để nghĩa quân có thể toả xuống đồng bằng, có thể
di chuyển lên miền thợng lu sông Mã và khi cần thiết rút lên miền Tây dựa vàothế núi rừng của hệ Pù Rinh để bảo toàn lực lợng, tranh thủ thời gian nuôi quânchuẩn bị phản công quân địch Đây chính là những yếu tố nổi bật của rừng núi
và sông nớc Lam Sơn, biểu trng cho ý trí quật cờng, tinh thần bền bỉ và niềm tựhào của dân tộc ta ở thế kỷ XV
Lê Lợi xuất thân từ một hào trởng địa phơng, đợc thừa hởng nhữngthành quả của ông cha để lại Lê Lợi đã đoàn kết thu phục lòng dân, chiêuhiền đãi sĩ, dung nạp những nhân vật có danh tiếng, liên kết các dòng họ cóthế lực vùng Lơng Giang - Lôi Dơng Một nét đặc sắc nữa của khởi nghĩa LamSơn đó là ngoài việc thu hút các bậc hiền sĩ xứ Thanh còn thu hút với nhữngbậc hiền tài u tú có tâm huyết ngày đêm nung nấu cho vận mệnh tồn vong củadân tộc trên khắp mọi miền tổ quốc Không ít những bậc nhân tài nghĩa sĩ đãtìm về với mảnh đất Lam Sơn tập hợp dới ngọn cờ của “Lam Sơn động chủ -
Lê Lợi”, nguyện cùng dốc sức, dốc hết tâm huyết giành lại giang sơn cho dântộc
Sự đoàn kết gắn bó giữa “Lam Sơn động chủ- Lê Lợi” cùng những cánhân, gia đình, dòng họ trên vùng đất Lơng Giang - Lôi Dơng và nhiều con
em quý tộc của vơng triều trớc đây, các lực lợng khác nhau trong xã hội chứng
tỏ bớc chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa tuy quy mô buổi đầu còn mang tính địaphơng nhỏ hẹp, nhng tinh thần của cuộc khởi nghĩa đã thể hiện những đặc
điểm mang tính chất quốc gia, dân tộc với t tởng đại đoàn kết toàn dân tộc cho
sự nghiệp bảo vệ non sông đất nớc Chính vì vậy, nhân tài tuấn kiệt hội tụ vềLam Sơn không chỉ riêng con em vùng đất xứ Thanh, mà còn có sự tham giacủa nhiều nhân vật có tâm huyết với vận mệnh của dân tộc trên nhiều vùngmiền của đất nớc Mặt khác, lực lợng buổi đầu tụ nghĩa cho cuộc khởi nghĩa
Trang 29Lam Sơn là những ngời con u tú từ nhiều địa phơng xa gần, từ nhiều tầng lớpxã hội khác nhau, nhng cùng chung một chí hớng không phân biệt tầng lớp,giai cấp một bầu nhiệt huyết muốn đánh đuổi quân giặc để khôi phục nền độclập dân tộc, cứu dân khỏi cảnh lầm than cơ cực Chính điều này là điểm nổibật tạo ra sự khác biệt về tính chất cho cuộc đấu tranh nơi núi rừng Lam Sơn
so với những cuộc đấu tranh trớc đó và trong thời kỳ này Chúng ta thấy lần
đầu tiên trong một cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ của nhà Minh, một phongtrào đấu tranh mà ở đó lực lợng gia nhập cuộc khởi nghĩa có sự đa dạng vềthành phần tham gia, nhng không có sự xuất hiện những mâu thuẫn về giaicấp, tầng lớp
Khởi nghĩa Lam Sơn là sự cấu kết cao độ tinh thần dân tộc, là hệ quả
đ-ợc tạo ra bởi chính tài năng và đức độ của “Lam Sơn động chủ - Lê Lợi”, mộtcon ngời luôn biết trọng ngời hiền tài tuấn kiệt, không xem thờng kẻ trên,không khinh nhờn ngời dới, không phân biệt sang hèn, không phân định đẳngcấp Chính cái uy danh, trí đức, nghĩa dũng của con ngời này đã là một tấm g-
ơng sáng có sức hấp dẫn cấu kết mọi cá nhân, mọi tầng lớp lại với nhau dớingọn cờ khởi nghĩa Lam Sơn Ngay từ giai đoạn đầu hình thành cuộc khởinghĩa, nhân tố đoàn kết mang sắc thái dân tộc của cuộc khởi nghĩa Lam Sơnchính là những yếu tố tạo sự khác biệt với các cuộc khởi nghĩa trớc là ở những
đặc điểm ấy Vì vậy, đây chính là điểm khởi đầu có ý nghĩa quyết định chomột phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đi đến thắng lợi chính là khởinghĩa Lam Sơn
Ngày 2 tháng 1 năm Mậu Tuất (tức 7 tháng 2 năm 1418), trong khôngkhí thiêng liêng của ngày Tết cổ truyền dân tộc, trớc non Lam, sông Lơng của
xứ Thanh, đất trời nớc Việt, Lê Lợi đã cùng toàn thể nghĩa quân Lam Sơndựng cờ khởi nghĩa Lê Lợi tự xng là Bình Định Vơng và truyền hịch kêu gọinhân dân khắp nơi cùng đứng lên giết giặc cứu nớc Từ Lam Sơn, ngọn cờkhởi nghĩa do Lê Lợi phất cao đã trở thành ngọn cờ tiêu biểu cho truyền thốngyêu nớc bất khuất và chính nghĩa, trở thành ngọn cờ tập hợp đoàn kết của toàndân tộc cùng đứng lên giành độc lập Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ, thực
sự đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc đầu thế
kỷ XV Từ đây, cờ khởi nghĩa Lam Sơn trở thành biểu tợng khẳng định chân
lý và sức mạnh của toàn dân tộc quyết tâm đánh đuổi quân thù ra khỏi bờ cõi
Trang 30ở Hội thề Lũng Nhai năm 1416, Lê Lợi cùng với 18 ngời bạn thân tín
nhất thì giờ đây đã tập hợp thành lực lợng đông đảo Đại việt sử ký toàn th“ ”
chép lực lợng gồm: “30 quan võ, một số quan văn, 200 quân thiết đột, 200 nghĩa sĩ, 300 dũng sĩ, 4 con voi và quân khinh dũng cùng ngời già yếu đi hộ vệ chỉ 1000 ngời [” 18, 74]
Nghe tin Lê Lợi không chịu hàng phục, đã khởi binh truyền hịch ngaytrên mảnh đất Lam Sơn, quân Minh lập tức tập trung phát binh đàn áp, hòngtiêu diệt nghĩa quân ngay từ buổi ban đầu mới thành lập Nh vậy, chỉ ít lâu saukhi dấy cờ khởi nghĩa đã diễn ra cuộc chiến đấu không cân sức giữa một bên
là nghĩa quân Lam Sơn mới thành lập còn gặp nhiều khó khăn với một bên là
đội quân xâm lợc hùng hậu và thiện chiến Thế nhng, mọi cố gắng của bọn ớng tá, binh lính nhà Minh sau những lần tấn công quy mô vào đất Lam Sơn
t-dù là cao nhất cũng không mang lại những kết quả gì Với những chiến thắng
ở Lạc Thuỷ, Mờng Mọt (1418), Mỹ Canh, Mờng Chính (1419) và những cuộctiến công vào kẻ địch gây cho chúng nhiều tổn thất Từ Lam Sơn - Chí Linh -
Mỹ Canh - Mờng Chính đến Lô Sơn, nghĩa quân Lam Sơn đã mở rộng địa bànhoạt động ra khắp vùng Tây Bắc Thanh Hoá Lê Lợi và nghĩa quân đã xâydựng những căn cứ vững chắc trong lòng đồng bào các dân tộc cho cuộc khởinghĩa đầy gian khó và oanh liệt này Đó chính là những minh chứng hùng hồncho sự bất lực của giặc Minh trong việc tìm ra kế sách nhằm đàn áp và tiêudiệt ngọn cờ yêu nớc trên vùng đất Lam Sơn
Giai đoạn 1419 - 1420, mặc dù cha phải là giai đoạn cuộc khởi nghĩaLam Sơn có những thuận lợi về chủ quan, về tính chất trên các chiến trờng cólợi cho nghĩa quân đối với sự phát triển của cuộc khởi nghĩa Nhng nhìnchung, đến thời điểm này, khởi nghĩa Lam Sơn đã bớc đầu thể hiện sức mạnh,sức sống mãnh liệt, thể hiện một cách rõ ràng, cụ thể và xứng đáng đây linhhồn trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở thế kỷ XV Đây chính làngọn cờ đầu tiên phong cho làn sóng giết giặc cứu nớc đầu thế kỷ XV đợc thểhiện trên nhiều phơng diện nh: Đội ngũ lãnh đạo đến lực lợng tham gia cuộckhởi nghĩa, tinh thần đoàn kết, khả năng chịu đựng các đòn tấn công ác liệt củaquân địch, và khả năng phản kích đập tan mọi sự đàn áp, truy quét và khủng bốcủa quân giặc
Giai đoạn 1920 - 1923, nhà Minh thờng xuyên huy động một lực lợnglớn tập trung càn quét vùng căn cứ của nghĩa quân, có đợt tới 10 vạn tên nhng
Trang 31không tiêu diệt đợc nghĩa quân Trái lại chúng luôn bị quân ta phục kích tiêudiệt nh trận Bồ Mộng, Quan Du tiêu diệt hơn 2000 quân địch, nh trận ủng áiquân địch thua to Trần Trí phải chạy tháo thân Đặc biệt là phản công đánh tanliên quân Minh - Ai Lao thu đợc nhiều vũ khí quân nhu Tháng 2 năm 1422quân Minh do Mã Kỳ chỉ huy hợp với quân Ai Lao hai mặt tập kích doanh trạiquân ở Quan Du gây cho ta những tổn thất nặng nề Lê Lợi phải bỏ Quan Du
cùng nghĩa quân rút lên Sách Khôi, quân Minh truy sát rất ác liệt Đại việt sử“
ký toàn th” chép: Tình thế nghĩa quân lúc này nguy hiểm Lê Lợi đã động viên“
tớng sĩ liều chết mở đờng máu thoát vây Nghĩa quân đã chiến đấu rất anh dũng, giết chết tên tả tham tớng Phùng Quý cùng hơn 1000 tên địch và bắt đợc hơn 100 con ngựa” [18, 249] Bọn Trần Trí, Mã Kỳ thất bại phải rút về Đông
Quan, quân Ai Lao tháo chạy về nớc
Mặc dù quân ta thắng lớn ở Sách Khôi nhng nghĩa quân không tránh khỏinhững tổn thất Vì vậy, Lê Lợi cùng bộ tham mu quyết định đa nghĩa quân vềcăn cứ Chí Linh, cũng cố và xây dựng lực lợng, đồng thời tạm hoà hiếu với giặcnhằm tranh thủ thời gian để xoay chuyển tình thế Tới khi Trần Trí bắt sứ giả
Lê Trăn thì cuộc thơng lợng của nghĩa quân với quân Minh bị tan vỡ, Lê Lợituyệt giao với chúng Khi vũ khí quân lơng phục hồi đầy đủ Lê Lợi và bộ tham
mu đã có quyết định chuyển hớng mới cho cuộc khởi nghĩa với kế hoạch tiếnvào Nghệ An của Nguyễn Chích, mở ra giai đoạn thứ hai cho cuộc khởi nghĩaLam Sơn
Chí Linh đã chứng kiến 3 lần giặc đến là 3 lần giặc thua Ngay từ trận đầu,với tấm gơng hy sinh cao cả của Lê Lai, Lê Lợi và nghĩa quân còn lại đã rút vềcăn cứ Chí Linh để bảo tồn lực lợng trở về Lam Sơn tiếp tục sự nghiệp Lần thứnhất Chí Linh trở thành bức tờng che chở và nuôi dỡng nghĩa quân lần thứ hai,nghĩa quân bị quân Minh đánh úp sau lng không kịp đối phó và bị thiệt hại nặng
Lê Lợi và nghĩa quân lại rút về Chí Linh Năm 1423 nghĩa quân Lam Sơn hoạt
động ở vùng Sách Khôi quân Minh liền tấn công, nhận thấy không thể cầm cựlâu dài với địch trên vùng đất này Lê Lợi và bộ tham mu quyết định về Chí linhlần thứ ba Nh vậy vào những lúc tình thế hiểm nghèo nhất nghĩa quân lại trở vềvới Chí Linh vừa bảo tồn lực lợng, vừa nhử địch vào đất hiểm dùng quân maiphục tiêu diệt sinh lực địch giành lại thế chủ động trên chiến trờng
Với sáu năm hoạt động ở miền rừng núi Thanh Hoá, nghĩa quân Lam Sơn
đã trải qua các trận thử thách ác liệt, có lúc Lê lợi và nghĩa quân bị quân Minh
Trang 32dồn vào bớc đờng cùng phải chọn lựa một trong hai giải pháp là đầu hàng hoặcliều chết giết giặc hoặc có ngời thay thế Lê lợi để mu nghiệp lớn về sau Lê lai
và những nghĩa sĩ của ông đã khẳng khái đứng ra gánh vác trách nhiệm này.chính tấm gơng hy sinh cao cả ấy đã tránh cho cuộc khởi nghĩa khỏi bị tiêudiệt nhờ có tinh thần đoàn kết chiến đấu của “tớng sĩ một lòng phụ tử” tinhthần chịu đựng gian khổ “nếm mật nằm gai” với ý chí quyết tâm không đội trờichung với giặc, vì thế nghĩa quân lam sơn đã trởng thành nhanh chóng đủ sức
đa khởi nghĩa đến thắng lợi về sau, xoá bỏ ách thống trị ngoại bang trên lãnhthổ đại việt
2.2 Đóng góp của Lê Lai trong khởi nghĩa Lam Sơn
2.2.1 Lê Lai trong những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa
Khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo là cuộc chiến tranh giải phóngmang tính nhân dân sâu sắc ngay từ những ngày đầu dựng cờ khởi nghĩa gi-
ơng cao ngọn cờ độc lập dân tộc Lê lợi đã tập hợp đợc đông đảo lực lực lợngyêu nớc tham gia Với tài năng và đức độ hơn ngời ông đã thu hút đợc nhiềubậc hiền tài trong nớc Trong đó Nguyễn Trãi là ngời tiêu biểu Lê Lợi đã vợtqua đợc những hạn chế của tầng lớp xuất thân, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết
ông dốc hết gia tài, của cải động viên toàn Gia tộc cùng đánh giặc Bằngnhững việc làm vì nớc, bằng cung cách đối xử với mọi tầng lớp trong xã hội,
ông đã gây đợc lòng tin yêu với mọi ngời đặc biệt là đồng bào các dân tộc ởmiền Tây Thanh hoá nô nức tham gia nghĩa quân
Nhờ vậy mà lực lợng nghĩa quân nhanh chóng lớn mạnh ở hội thềlũng nhai năm 1416, Lê lợi và 18 ngời anh em thân tín đến khi khởi sự năm
1418, Đại việt sử ký toàn th“ ” chép lực lợng gồm: “30 quan võ, một số quan văn, 200 quân thiết đột, 200 nghĩa sĩ, 300 dũng sĩ, 4 con voi và quân khinh dũng cùng ngời già yếu đi hộ vệ chỉ 1000 ngời [” 18, 74]
Ngay từ Hội thề lũng Nhai (trên đất thờng xuân ngày nay) cho đếnnhững năm sau đó, đồng bào các dân tộc đã tích cực gia nhập nghĩa quân sự
đóng góp của nhân dân thanh hoá trong giai đoạn chuẩn bị khởi nghĩa cho
đến khi nghĩa quân phải 3 lần rút về núi chí linh thật là to lớn Đồng bàocác dân tộc miền núi, các quan lang đều theo lê lợi hởng ứng dới ngọn cờkhởi nghĩa:
“Ngời kéo nhau đến ùn ùn Ngời kéo nhau ra nh ong nh kiến
Trang 33Đi theo chật suối, chật rừng” [5, 202].
Theo lời kêu gọi yêu nớc tha thiết của Lê Lợi, nhân dân nhiều làng xãxung quanh đã góp sức, góp của xây dựng lực lợng và căn cứ đánh giặc Nhiềuhào kiệt khắp nơi đã âm thầm liên kết với Lê Lợi về đây dấy nghĩa đặc biệt
có một gia đình phụ đạo thôn dựng tú, sách đức giang, huyện lơng giang(nay là xã kiên Thọ huyện ngọc lặc tỉnh thanh hoá) có 5 ngời là Lê Lạn, lêlai, lê lô, lê lộ, lê lâm, bấy giờ cả 5 ngời đều tham gia khởi nghĩa ngay từnhững ngày đầu dấy binh ở miền rừng núi phía tây thanh hoá Trong đó Lêlai là ngời có mặt bên cạnh lê lợi, cùng gánh vác những khó khăn ngaytrong những ngày đầu tiên của quá trình chuẩn bị gian nan cho Hội thề LũngNhai và cuộc khởi nghĩa này ông là một trong số 19 ngời tham dự hội thềlũng nhai tổ chức vào mùa xuân năm 1416 ở hội thề này lê lai có một vịtrí cũng rất quan trọng nên danh sách trong Hội thề chúng ta thấy ông đứngtên thứ hai sau lê lợi đây là Gia tộc yêu nớc mà hầu hết cả nhà đều theoviệc nghĩa tham gia chuẩn bị cho khởi nghĩa Lam Sơn
ẩn sâu trong núi rừng nằm bên hữu ngạn sông âm và tả ngạn sông chu, cáchlam sơn khoảng 10km về phía tây Lê lợi và 18 ngời yêu nớc đã chuẩn bị lễthề từ trớc Trong không khí trang nghiêm, Lê lợi trịnh trọng tuyên đọc lờithề:
“niên hiệu thiên khánh thứ nhất, năm Bính thân tháng 2, qua ngày Kỷ mão là ngày sóc, đến ngày 12 là Canh dần.
Phụ đạo lộ khả lam nớc an nam là Lê lợi cùng Lê lai, lê thận, lê văn an, lê văn linh, trịnh khả, trơng lôi, lê liễu, bùi quốc hng, lê ninh,
lê hiểm, vũ uy, nguyễn trãi, đinh liệt, lê nhân chú, lê bồi, lê lý, đinh lan, trơng chiến kính đem lễ vật, sinh huyết tấu cáo cùng hạo thiên thợng
đế, hậu thổ hoàng địa và các tôn linh thần bậc thợng, trung, hạ coi sông núi
ở các xứ nớc ta.
Cúi xin chứng giám cho:
Trang 34Rằng có bạn ở phơng xa đến, kết giao vui vẻ, cùng giữ lòng tin Vì thế phải có lễ tấu cáo.
Nay ở trong nớc, tôi là phụ đạo lê lợi cùng với lê lai đến trơng chiến, 19 ngời Tuy họ hàng quê quán khác nhau, nhng kết nghĩa thân nhau
nh một tổ liền cành Phận vinh hiển đều có khác nhau, mong có tình nh cùng chung một họ.
[có kẻ] bằng đảng xâm chiếm nớc ta, qua cửa quan làm hại, nên lê lợi cùng lê lai đến trơng chiến, 19 ngời chung sức đồng lòng, giữ gìn đất n-
ớc làm cho xóm làng đợc ăn ở yên lành thề sống chết cùng nhau, không giám quên lời thề son sắt.
Tôi cúi xin trời đất và các vị thần linh chứng giám, ban cho trăm phúc, đến thân mình, nhà mình, con cháu trong họ hàng đều đợc yên vui h- ởng lộc trời.
Nếu nh lê lợi cùng lê lai đến trơng chiến sinh lòng này khác, cầu ơn hiện tại, núp bóng quân thù, không cùng một lòng, quên lời thề ớc Chúng tôi nguyện trời đất và các thần linh giáng trăm tai ơng trị mình cho đến họ hàng, con cháu đều bị tru diệt, chịu hết hình phạt của trời.
kính xin có lời thề [38, 134].
Thực chất, hội thề lũng nhai chính là buổi lễ ra mắt dới dạng thật đặcbiệt và cũng rất độc đáo của bộ chỉ huy Lam Sơn từ đây, công cuộc chuẩn bịcho khởi nghĩa Lam sơn đợc tiến hành có tổ chức chặt chẽ hơn thời kỳ trớc
đó đến đầu năm 1418, cờ khởi nghĩa cứu nớc, cứu dân đã phất phới tung bay
ở lam sơn lê lợi tự xng là bình định vơng truyền hịch đi các nơi kêu gọinhân dân cùng nổi dậy giết giặc cứu nớc và trao chức tớc cho các tớng trong
bộ chỉ huy lam sơn
Nh vậy, ngay những ngày đầu chuẩn bị cho hội thề Lũng Nhai lịch sử,tới khi Lê Lợi tự xng là Bình Định Vơng và toàn bộ nghĩa quân dựng cờ khởinghĩa 1418 thì với những đóng góp to lớn của cả Gia tộc nói chung và của cánhân lê lai nói riêng trong những ngày đầu khởi sự cho cuộc kháng chiếnchống giặc Minh dài lâu của Bình Định Vơng Lê Lợi thì Lê lai đợc phong tớcquan nội hầu, chức tổng quản trong phủ đô tổng quản quan nội hầu làtớc vị cao nhất mà lê lợi đã phong cho các tớng dới quyền tổng quản làchức đứng đầu, còn phủ đô tổng quản là cơ quan trực thuộc bộ chỉ huy, chịutrách nhiệm về hậu cần, xây dựng đại bản doanh và bảo vệ bình định vơng
Trang 35Lê Lợi cùng các tớng trong bộ chỉ huy Vì thế, chúng ta đã thấy đợc sự tin ởng, tín nhiệm của Bình Định Vơng đối với cả Gia tộc của Lê Lai và cá nhân
t-ông nói riêng khi giao những trọng trách quan trọng mang tính chất sống còncủa nghĩa quân Vì vậy, sử cũ chép lê lai luôn hầu cận bình định vơng là vì
lẽ ấy Nh Đại việt thông sử“ ” chép: “Lê Lai tính cơng trực, dung mạo khác ờng,chí cao cả lẫm liệt, lo việc hậu cận cho vua Thái Tổ rất chu đáo, công lao
th-rõ rệt” [19, 156]
2.2.2 Lê Lai xả thân vì sự nghiệp chung
Từ núi rừng miền Tây Thanh Hoá, ngày 2 tháng 1 năm Mậu Tuất (tứcngày 7-2-1418) trong không khí ngày Tết nguyên Đán cổ truyền của dân tộc,
Lê Lợi và toàn thể nghĩa quân dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn và tự xng làBình Định Vơng, truyền hịch đi các nơi kêu gọi nhân dân cùng nổi dậy giếtgiặc cứu nớc
Trớc lời kêu gọi giết giặc cứu nớc của khởi nghĩa Lam Sơn, nhân dânmiền Tây Thanh Hoá đã nô nức hởng ứng Từ Dao Xá (Xuân Lam, Thọ Xuân)
có Nguyễn Lý, Lê Khảo, Lê Thế Vĩ, Lê Bính ở Đoán Lơng (Xuân Lam, ThọXuân) có Lê Sao, Lê Bị, Lê Nhi Bên hữu ngạn sông Chu, đối diện với LamSơn là các làng Đa Mĩ, Diên Hào Cũng có nhiều ngời gia nhập nghĩa quân
nh Nguyễn Nhữ Lãm, Lê Khuyển ở Mục Sơn (Xuân Bái, Thọ Xuân) có LêVăn An, Lê Văn Biếm, Nguyễn Thận Hầu nh ở làng nào của hai huyện LơngGiang và Cổ Lôi cũng có ngời gia nghĩa quân Đặc biệt nữa đó là sự nô nứctham gia nghĩa quân của nhân dân các dân tộc thiểu số miền Tây Thanh Hoá
nh ngời Mờng, Thái Trong đó có Gia tộc của phụ đạo Lê Lai, của hai chacon đại quan lang Lê Hiểm, Lê Hu ở thôn Ngọc Châu hơng Lam Sơn, ngờiThái có Lê Cố (Thờng Xuân) sự nô nức tham gia còn đợc lu truyền qua bài
hát Đón đ“ ờng mà theo” của ngời Mờng Ngọc Lặc:
Ngời kéo về dằng dặc, Ngời rớc nhau ùn ùn.
Từ đất Đô Kỳ, Đô Lam kéo đến Ngời Mờng cũng vác dao vác kiếm,
Đi chật suối, chật rừng
Để hòng giết hết giặc đang đến mờng xa cớp phá
[38, 40]
Trang 36Khi nghe đợc tin Lê Lợi không chịu hàng phục đã dấy nghĩa và tự x
-ng là Bình Định Vơ-ng ở -ngay mảnh đất Lam Sơn và truyền hịch đi khắp nơikêu gọi nhân dân giết giặc cứu nớc, lập tức quân Minh tập trung lực lợng
đàn áp nhằm tiêu diệt lực lợng nghĩa quân ngay từ buổi ban đầu khởi sự:
Tổng binh Lý Bân đã phái đô đốc Chu Quảng điều quân từ thành Tây Đô
Lý Bân thấy Thổ quan tuần kiểm huyện Nga Lạc la Lê Lợi làm phản, sai đô
đốc Chu Quảng đi đánh dẹp” [38, 148].
Vậy là chỉ sau ít ngày giơng cao ngọn cờ đấu tranh giải phóng dân tộc
từ núi rừng Thanh Hoá thì đã diễn ra những cuộc chiến đấu không cân sứcgiữa một bên là nghĩa quân Lam Sơn non trẻ mới thành lập thiếu thốn đủ bề,
và một bên là đội quân xâm lợc thiện chiến, hùng hậu của giặc Minh Trong
t-ơng quan lực lợng quá chênh lệch, lại cha có kinh nghiệm chiến đấu Bình
Định Vơng Lê Lợi đã chủ động vừa chiến đấu vừa rút lui lên phía Tây để bảo
toàn lực lợng Rời căn cứ Lam Sơn, nghĩa quân rút lên Mờng Mọt: Lúc ch“ a thắng Vua phải chạy vào rừng núi, trên bờ sông Khả Lam thuộc xứ Mờng Mọt
l-lại đợc nhân dân kể l-lại nh sự tích Hồ Ly“ ”, sự tích Mụ hàng Dầu“ ” [43, 51]
Sự tích Hòn đá khao“ ” kể rằng: Chủ tớng Lê Lợi cùng tớng sĩ ngồi nghỉ trênhòn đá này, tiếp nhận vò rợu của các bô lão trong làng đem tặng Nhng ngời
Trang 37nhiều rợu ít, vị chủ tớng Lam Sơn đã trút vò rợu xuống dòng sông, tự mìnhmúc một chén uống trớc Cả đoàn quân náo nhiệt làm theo và hòn đá chứngkiến việc khao quân lịch sử này mang tên là hòn đá Khao từ đó Câu chuyện
này đã giúp cho Nguyễn Trãi lấy đó mà trân trọng ghi trong Bình Ngô đại“
cáo ” với lời văn đời đời bất hủ:
Hoà n
“ ớc sông chén rợu ngọt ngào Khắp tớng sĩ một lòng phụ tử” [29, 19].
Trớc tình hình ngày càng gay go trớc sự lùng sục vây ráp của quânMinh, Lê Lợi quyết định rút toàn bộ lực lợng nghĩa quân từ Mờng Mọt tiếnsâu hơn nữa vào miền rừng núi Chí Linh Núi Chí Linh hay Linh Sơn là mộtvùng núi hiểm trở ở miền thợng lu sông Lơng xa là Mờng Giao Lão và YênNhân, nay thuộc xã Giao An huyện Lang Chánh Vào đầu thế kỷ XV, châuLang Chánh là một châu của Thanh Hoá giáp danh với Ai Lao (nay là Cộnghoà DCND Lào) Rời Mờng Mọt lui về Chí Linh, Lê Lợi đã chọn một vùngrừng núi hiểm trở chỉ có một vài làng nhỏ ở thung lũng hoặc cheo leo trên sờnnúi nhng có nhiều lối mòn thông qua lối toả đi khắp nơi Đó chính là nơi:
Lê Lợi cùng vợ con bị đào bới, bị giặc bắt hoặc phiêu tán mọi nơi Tình thế
“vô cùng nguy nan” đó kéo dài có thể đẩy nghĩa quân vào nguy cơ bị tiêu diệt.Trớc tình thế thế đó, con đờng sống duy nhất của nghĩa quân chỉ có thể đánhlạc hớng sự chú ý của giặc để rút khỏi núi Chí Linh an toàn đây là việc rấtkhó khăn, bởi lẽ muốn đánh lạc hớng thành công, nghĩa quân phải chấp nhậntổn thất nhất định Vậy ai có thể chấp nhận hy sinh vì sự sống còn của cuộckhởi nghĩa?
Trớc tình thế trở nên nguy cấp, Lê Lợi liền họp bộ tham mu lại để bàn
kế giải nguy Lê Lợi nói rằng: Bây giờ ai có thể làm nh“ Kỷ Tín ngày xa, để ta
ẩn náu trong rừng núi, mu tính cử sự về sau” [38, 153] Kỷ Tín là một trung
Trang 38thần của vua Hán Cao Tổ ở Trung Quốc Một lần Hán Cao Tổ bị quân củaHạng Vũ bao vây ở Huỳnh Dơng (Hà Nam) rất nguy ngập, Kỷ Tín đã cảitrang làm Hán Cao Tổ ra đầu hàng để cho Hạng Vũ giết chết Nhờ sự hy sinhcủa Kỷ Tín mà Hán Cao Tổ thoát nạn để xây dựng lại lực lợng và về sau đãdiệt đợc Hạng Vũ.
Nguy cơ cuộc khởi nghĩa lâm vào tình trạng nghiêm trọng, có khả năng
bị đàn áp đẫm máu vì thế, dũng tớng Lê Lai đã khẳng khái xin tình nguyện
hy sinh để cứu Lê Lợi và giải vây cho nghĩa quân Lê Lai nói:
Thần nguyện khoác hoàng bào của bệ hạ Ngày sau bệ hạ có làm nên
“
đế nghiệp, thu đợc thiên hạ trong tay, thì xin hãy nhớ đến công lao của thần
mà cho con cháu muôn đời của thần đợc hởng ơn vua lộc nớc Đó là điều mong ớc của thần” [46, 112].
Vua liền vái trời và khấn rằng:
“Lê Lai có công khoác áo (Hoàng bào), sau này trẫm cùng con cháu của trẫm và tất cả các tớng lĩnh công thần cũng nh con cháu của họ, nếu ai không nhớ đến công này, thì xin cho cung điện hoá thành rừng núi, ấn báu hoá thành đồng rỉ, gơm thần hoá thành con dao thờng” [46, 113].
Lê Lai đã cải trang thành Chúa Lam Sơn lĩnh 500 quân và hai voi“
chiến xông ra tập kích quân Minh” [8, 47] Quân giặc thấy “Chúa Lam Sơn”
xung trận liền tập trung lực lợng quyết bắt bằng đợc “thủ lĩnh” của nghĩaquân Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt Đội nghĩa quân cảm tử cùng LêLai chiến đấu đến phút cuối cùng Lê Lai rơi vào tay giặc Giặc Minh bắt đợc
Lê Lai tởng là Lê Lợi bèn rút quân về thành Tây Đô và sau đó xử Lê Lai bằngnhững hình phạt cực kỳ tàn ác Sau khi bắt đợc Lê Lai, quân Minh rút toàn bộlực lợng bao vây núi Chí Linh và Lam Sơn về thành Tây Đô, việc phòng bị củachúng bị sơ hở tạo điều kiện để Lê Lợi và những ngời trung thành xây dựnglực lợng, tích trữ lơng thảo, vừa có thời cơ nghỉ binh, nuôi chứa nhuệ khí, để
có thể trăm trận trăm thắng và lấy đợc thiên hạ
Với sự hy sinh anh dũng vì nghĩa lớn của Lê Lai, nghĩa quân trở về căn
cứ Lam Sơn có thời gian chuẩn bị lực lợng mai phục đánh bại cuộc hành quân
của Mã Kỳ lên Lạc Thuỷ: Nghĩa quân đánh bại truy kích của địch, tiêu diệt“
hàng ngàn tên địch” [38, 159] thu đợc nhiều vũ khí, quân nhu Đó là chiến
thắng đầu tiên của nghĩa quân Lam Sơn làm nức lòng quân dân ta và cũng làtrận thắng để tri ân tấm gơng hy sinh anh dũng của Lê Lai
Trang 39Lê Lai và đội ngũ quân sĩ cùng ông chiến đấu đợc các thế hệ muôn đờighi nhớ Bởi chính có sự hy sinh đó mà cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ngay từ buổi
đầu còn trong “trứng nớc” đã thoát khỏi tình thế bị tiêu diệt, bảo vệ cho Bình
Định Vơng Lê Lợi và tớng sĩ của nghĩa quân đợc an toàn, có thời gian nghỉngơi và phục hồi lại lực lợng cho cuộc chiến dài lâu
xét về hành động dũng cảm “Liều mình cứu chúa” của Lê Lai khác với
Kỷ Tín đời Hán Bởi lẽ, Kỷ Tín cải trang làm Hán Cao Tổ ra hàng Hạng Vũkhi Lu Bang đã là Hán Cao Tổ Còn khi Lê Lai “xung phong” giả làm “ChúaLam Sơn” để cứu nghĩa quân trớc tình thế hiểm nghèo bị giặc Minh bao vâythì Lê Lợi mới “dựng cờ khởi nghĩa” tự xng là Bình Định Vơng trong lúc đóthế giặc đang rất mạnh và ông đã cùng đội quân cảm tử xông vào vòng vâytrùng điệp của quân thù để chiến đấu và hy sinh anh dũng Đây là một hành
động dũng cảm, một sự hy sinh cao cả không so đo tính toán góp phần quantrọng vào thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn sau này
Tới đây chúng ta đặt ra câu hỏi, nếu nh không có sự tự nguyện hy sinhcao cả của Lê Lai thì liệu Lê Lợi và nghĩa quân có thể thoát khỏi vòng vây củaquân Minh để tiếp tục sự nghiệp “Bình Ngô” đợc hay không? và đất nớc sẽcòn chìm đắm trong tay quân Minh bao lâu nữa Đặt ra câu hỏi trên chúng tôimuốn nhận thức rằng sự hy sinh cao cả của Lê Lai cùng với 500 quân cảm tửkhông phải chỉ vì để cứu sống một ngời cho dù ngời đó là Bình Định Vơng LêLợi - minh chủ của cuộc khởi nghĩa Hành động ấy của Lê Lai và đội quâncảm tử còn cao cả và ý nghĩa to lớn hơn là nhằm cứu lấy toàn thể dân tộc, toàn
bộ sự nghiệp Bình Ngô để giải phóng quê hơng, đất nớc
Nhờ hành động dũng cảm đó, Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn thoát khỏivòng vây trùng điệp của kẻ thù, nung nấu ý chí, rèn rủa khí giới, tích trữ lơngthảo, phục hồi lực lợng Chỉ sau 6 năm hoạt động ở miền Tây Thanh Hoá, với
kế sách bỏ đất Lam Sơn chuyển vào Nghệ An, chiếm giữ vùng đất rộng, ngời
đông Của Nguyễn Chích, Lê Lợi và bộ chỉ huy nghĩa quân đã đa cuộc khởinghĩa đi đến thắng lợi:
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật
“
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay” [35, 27].
Giải phóng Tân Bình - Thuận Hoá, bao vây thành Nghệ An, hạ thànhDiễn Châu, thành Tây Đô Sự hy sinh của Lê Lai đã góp một phần vào thắnglợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và lập nên vơng triều Lê Sơ sau này
Trang 402.3 Đóng góp của Gia tộc Lê Lai trong khởi nghĩa Lam Sơn
2.3.1 Giai đoạn ở miền Tây Thanh Hoá (1418-1424)
Giai đoạn cuộc khởi nghĩa Lam Sơn hoạt động ở miền Tây Thanh Hoá
đợc đánh dấu bằng những khó khăn gian khổ nhng cũng vô cùng dũng cảm vàoanh liệt của nghĩa quân Vợt qua những khó khăn ban đầu ấy chính là sự nỗlực của nghĩa quân cũng nh những cá nhân đã làm nên những chiến thắng đầutiên sau khi dựng cờ khởi nghĩa Trận chiến đấu đầu tiên là một phép thử đốivới nghĩa quân Lam Sơn và sự hy sinh cao cả của ngời anh hùng Lê Lai để cứulấy cả một phong trào đấu tranh là một trong những dấu mốc quan trọng đánhdấu một thời kỳ mà nghĩa quân Lam Sơn gắn bó với núi rừng miền Tây ThanhHoá, đây là căn cứ đầu tiên và chủ yếu của thời kỳ 6 năm đầu của cuộc khởinghĩa Lam Sơn gian nan và anh dũng của dân tộc ta chống lại ách thống trịcủa giặc Minh Đây cũng là thời kỳ mà đồng bào các dân tộc thiểu số nóichung cũng nh Gia tộc Lê Lai nói riêng có những cống hiến đóng góp to lớncho sự an toàn của nghĩa quân và tạo điều kiện để nghĩa quân hoạt động tiến
đến những thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Trong trận chiến đấu đầu tiên của nghĩa quân Lam Sơn ở miền rừng núiChí Linh, với hành động vô cùng dũng cảm của Lê Lai “Dịch bào thế quốc”giải vây và mở lối thoát cho nghĩa quân, sau một thời gian nơng náu ở núirừng thì ngày 9-5-1418 (tức ngày 4 - 4 năm Mậu Tuất) nghĩa quân đã trở vềcăn cứ Lam Sơn Nhng chỉ sau 5 ngày sau việc Bình Định Vơng Lê Lợi vànghĩa quân trở về Lam Sơn không thoát khỏi sự phát hiện của quân Minh
Ngay lập tức ngày 14-5-1418 tức Năm Mậu Tuất, tháng 4 mùng 9 lúc ấy giặc“
đem đại binh đánh ép Trẫm ở Lam Sơn” [36, 243].
Một lần nữa nghĩa quân lại phải rời khỏi Lam Sơn và chiến đấu ác liệt
với kẻ thù Với những kinh nghiêm chiến đấu đã có Lê Lợi rút quân lên LạcThuỷ và dự đoán quân địch sẽ đuổi theo và quân sẽ mai phục chờ đợi Ngày
13 - 4 năm Mậu Tuất, Mã Kỳ dẫn quân lên Lạc Thuỷ và lọt vào trận địa maiphục của ta ở trận Lạc thuỷ với những dũng tớng Lam Sơn nh: Lê Thạch,
Đinh Bồ, Lê Ngân, Lê Lý, Trơng Lôi Cùng nghĩa quân Chém đ“ ợc hơn ba ngàn đầu giặc, thu quân t khí giới kể hàng ngàn” [36, 243] Đây là trận chiến
đấu và chiến thắng đầu tiên có ý nghĩa lớn lao, khẳng định tài trí của thủ lĩnhnghĩa quân đồng thời đặt niềm tin cho mọi tầng lớp nhân dân và các phongtrào đấu tranh chống quân Minh trên cả nớc