1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đóng góp của chế lan viên trong lĩnh vực phê bình, lý luận văn học

136 1,1K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đóng góp của Chế Lan Viên trong lĩnh vực phê bình, lý luận văn học
Tác giả Võ Thị Thanh Phương
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Lý luận Văn học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ Điêu tàn 1937 đến Di cảo thơ được công bố sau khi ông mất 1992, 1994, 1995, Chế Lan Viên luôn tạo được cho mình một mạch thơ hết sức độc đáo, xác lập một vị trí chắcchắn của mình tron

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng đại học vinh

Trang 2

1.2 Từ trước đến nay, tài năng và thành tựu văn chương của Chế Lan

Viên được dư luận quan tâm nhiều hơn cả là ở mảng thơ ca Từ Điêu tàn (1937) đến Di cảo thơ được công bố sau khi ông mất (1992, 1994, 1995), Chế Lan Viên

luôn tạo được cho mình một mạch thơ hết sức độc đáo, xác lập một vị trí chắcchắn của mình trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, trở thành nhà thơ của thế kỷ.Nhưng như đã nói, không chỉ làm thơ, Chế Lan Viên còn viết văn xuôi, tiểu luận

- phê bình văn học, và những trước tác này cũng có giá trị không kém gì thơ ca.Riêng với lĩnh vực phê bình, lý luận văn học, Chế Lan Viên để lại những trangviết sắc sảo, tài hoa, trí tuệ với giọng văn nhiệt tình, sôi nổi

1.3 Tuy nhiên, nếu như thơ của Chế Lan Viên đã được nhiều nhà phêbình nghiên cứu, nhận xét ngay từ khi tập thơ đầu tay ra đời, thư mục nghiêncứu về thơ Chế Lan Viên nối dài hàng trăm trang, trải dài từ 1937 cho đếnhôm nay thì lĩnh vực phê bình, lý luận văn học của ông chưa được quan tâmđúng mức, tương xứng với khối lượng tác phẩm và sự đóng góp của ông Vì

những lý do trên chúng tôi lựa chọn đề tài: Đóng góp của Chế Lan Viên

trong lĩnh vực phê bình, lý luận văn học làm đối tượng nghiên cứu.

Có thể nói, việc nghiên cứu mảng phê bình, lý luận văn học của Chế

Lan Viên bắt đầu được quan tâm khi cuốn Phê bình văn học (1962) của ông

Trang 3

ra đời Với bài Phê bình cuốn Phê bình văn học của Chế Lan Viên (1963),

Triêu Dương là người đầu tiên có những nhận xét, đánh giá về các bài viếttrong tập phê bình này Mở đầu bài viết, Triêu Dương khẳng định: “Với mười

chín bài viết từ 1956 đến 1961 nay tập hợp lại trong cuốn Phê bình văn học

này, Chế Lan Viên đã cho thấy người đọc ở anh một phong cách riêng khó lẫn

với nhiều cây bút phê bình, nghiên cứu lý luận khác - “phong cách” ở đây

không chỉ hiểu là lối viết, nó còn là cách nhìn, cách suy nghĩ và giải quyếtnhững vấn đề đặt ra Có thể thấy ngay điểm nổi bật ở Chế Lan Viên: anhmuốn tới thẳng với người đọc bằng những điều tìm tòi, khám phá, đúc kết củachính anh hơn là thông qua một số nguyên lí, nhận định rút ra từ những sách

vở có sẵn” [4, 488] Nhận xét quan niệm về nghề nghiệp của Chế Lan Viên,Triêu Dương cho rằng, ông đã có những suy nghĩ, kiến giải “nghiêm túc củamột người đã sống lâu năm trong nghề, bây giờ “nghĩ về nghề” cố gắngtruyền đạt lại cho lớp người đi sau những kinh nghiệm thiết thân rất đánghoan nghênh” [4, 489] Tác giả bài viết trân trọng sự nhiệt tình của Chế LanViên trong khi nghiên cứu văn học: “Anh đến với văn học, với những cây bút

đã khuất, những tác phẩm đã ra đời cách đây hàng mấy trăm năm cũng nhưvới những cây bút, những tác phẩm hiện nay, bao giờ cũng sẵn một niềm sôinổi, chân thành” [4, 489] “Với lối viết, lối suy nghĩ như vậy, Chế Lan Viên đãđem lại cho người đọc nhiều trang viết hấp dẫn ( ) khiến cho độc giả phải dừnglại lâu ở những nhận xét ngắn mà đúng đắn và rất dễ gợi nhớ về sau” [4, 490].Bên cạnh việc đánh giá giá trị của tập sách, Triêu Dương cũng chỉ ra những

hạn chế của nó, như: “trong Phê bình văn học còn có nhiều điểm cần bàn

thêm Đó là Chế Lan Viên chưa chú ý lắm tới việc định nghĩa và giới thuyếtcho thật rõ ràng về mặt lý luận, việc chuyển ý “hơi dễ dãi” nên “cách diễn đạtcủa anh làm cho người ta khó mà đồng ý” [4, 491] Hay, ông cho rằng,phương pháp suy luận của Chế Lan Viên có phần chủ quan: “Người ta thấyChế Lan Viên có khi vì quá sôi nổi bảo vệ một nguyên tắc của mình mà điđến những nhận xét không được thỏa đáng lắm về tác phẩm” [4, 493],

Năm 1974, tác giả Hồ Sĩ Vịnh có bài Nghĩ về Suy nghĩ và bình luận của

Chế Lan Viên Trong bài viết này, Hồ Sĩ Vịnh khẳng định: “Tác giả của tập sách

này là một nhà thơ có khuynh hướng trí tuệ, một nhà viết kí chính luận - trữ tình,một nhà hoạt động văn hóa giàu kinh nghiệm… Bấy nhiêu đặc điểm ấy đều được

Trang 4

phản ánh vào tập tiểu luận - phê bình, tạo nên và khẳng định Chế Lan Viên là nhàphê bình độc đáo, có một phong cách riêng không trùng lặp” [4, 476] Ông cũngcho rằng, những suy nghĩ của Chế Lan Viên không phải là suy nghĩ mang tínhriêng tư, lí tính mà “ở Chế Lan Viên những điều ấy lặp đi lặp lại như một điệpkhúc, những điều ấy nói ra nghe sao da diết, sâu thẳm và khẩn thiết ở mức độ cao”[4, 476] Tác giả nhấn mạnh những trang viết về tội ác của quân xâm lược có sức

tố cáo mạnh mẽ: “Do vậy mà tiếng nhạc căm thù trong nhiều bài viết của Chế LanViên có sức tố cáo lớn, có âm vang xa, cao vút, gây được những phản ứng sôi sục,căm giận của người đọc đối với chủ nghĩa đế quốc Mĩ” [4, 478] Những bàn luậncủa Chế Lan Viên về thơ, theo tác giả, là những “trăn trở, nung nấu từ lâu và đượckiểm nghiệm, cọ xát trong thực tế bão táp của đời sống, của phong trào, bây giờanh nói ra nhuần nhuyễn, dễ có sức thuyết phục” [4, 478] Tác giả bài viết cũng

khẳng định: “Không phải chỉ ở đây, trong Suy nghĩ bình luận, nhưng nhất là ở

đây, Chế Lan Viên là nhà phê bình đã đưa văn phê bình trở về với cuộc sống xanhtươi, sinh động” [4, 480 - 481] Về phương pháp làm việc của nhà phê bình, Hồ SĩVịnh cho rằng Chế Lan Viên có “khả năng khái quát lớn, sức liên tưởng vàphương pháp so sánh sự kiện khá tốt” [4, 482] Giá trị của cuốn sách được đánhgiá cao ở chỗ nó “cung cấp cho chúng ta nhiều tư liệu mới, nhiều kết luận đúng,nhiều nhận xét thú vị, hoặc nêu được nhiều vấn đề cơ bản, cần thiết tạo nên âmhưởng chủ đạo của tập sách là tính chiến đấu sâu sắc” [4, 483]

Tiếp đó, tác giả Nguyễn Đăng Mạnh trong cuốn Nhà văn, tư tưởng và

phong cách (1979) có bài: Đọc Suy nghĩ và bình luận của Chế Lan Viên Trong

bài viết này, Nguyễn Đăng Mạnh khẳng định đây là tập sách có “quy mô khácnhau, công phu khác nhau, được viết theo những yêu cầu rất khác nhau” [52, 81];

“Có bài chỉ là những điều ghi nhanh nghĩ vội, lấy tính sốt dẻo của cảm hứng làmduyên Có bài là kết quả của một quá trình nghiền ngẫm nghiêm túc xứng đáng lànhững tiểu luận hoàn chỉnh” [52, 81] Tác giả cũng chỉ ra những hạn chế của tậpsách: “Nếu lấy chiều sâu của suy nghĩ, lấy tính hệ thống hoàn chỉnh làm chuẩn thìchất lượng không đều nhau Có một số ý, một số cách diễn đạt lặp đi lặp lại…

Có bài đặt vấn đề sắc sảo nhưng giải quyết vấn đề chưa có gì sâu, chưa có gìmới…” [52, 81] Song nhìn chung, tác giả đánh giá cao mặt thành công của ChếLan Viên trong tập phê bình văn học này, như: “Cuốn sách đã hấp dẫn đượcngười đọc” bởi “sức nghĩ khỏe, cách nghĩ tốt” [52, 82]; “cách đặt vấn đề của anh

Trang 5

thường mới mẻ, và dưới con mắt anh, các hiện tượng, vấn đề, thường hiện lên vớinhiều cạnh khía phong phú và đôi khi bất ngờ một cách thú vị” [52, 85]; “cáchviết giàu hình ảnh, ngắn gọn” [52, 85]; “sử dụng tu từ, mĩ từ chiếm tỉ số cao” [52,86] Tác giả còn ví những trang phê bình của Chế Lan Viên giống như “ngườiđàn bà sắc sảo, có văn hóa ưa làm dáng, thích trang sức đây là một nét thóiquen, một nét phong cách khá sâu của Chế Lan Viên” [52, 86].

Nhân ngày giỗ lần thứ 5 của Chế Lan Viên (19-6-1994), Trần Mạnh Hảo

có bài Người làm vườn vĩnh cửu Trong bài viết này, Trần Mạnh Hảo chủ yếu đề

cập đến thành tựu và đánh giá cao giá trị thơ ca của Chế Lan Viên, nhưng bêncạnh đó, tác giả cũng không quên bình luận về những trang tùy bút, tiểu luận củanhà văn: “đối với thời đại này, ông quả thực là một đại công thần về văn hóa.Ông đã đi hầu khắp thế giới, trừ có châu Mĩ, để làm người thuyết khách, ngườirao giảng của Cách mạng, của cuộc kháng chiến cứu nước Trong thời chống Mĩ,

tùy bút Những ngày nổi giận của ông có sức mạnh tinh thần của cả mười đạo binh Những bài thơ đánh giặc… của ông có sức mạnh ngang hàng với sức

mạnh của những dàn tên lửa Sam một, Sam hai” [41, 253 - 254] Và đặc biệt là

“thái độ quyết liệt, thậm chí dữ dằn, đằng đằng sát khí của ông trong hàng loạtbài tiểu luận về quan điểm nghệ thuật khi phải tranh biện, cãi vã” [41, 254]

Nguyễn Xuân Nam, trong bài Vẻ đẹp văn Chế Lan Viên (1995), đánh giá

cao cách viết tiểu luận - phê bình văn học của Chế Lan Viên Theo NguyễnXuân Nam, “giọng văn phê bình nghị luận của Chế Lan Viên là giọng văn hùngbiện” [41, 260 - 261], “lối đối thoại sinh động, hoạt bát, thú vị” [41, 261 - 262],cùng với “cách suy tưởng, cách diễn đạt đầy chất thơ làm cho người đọc dễ lâylan cảm hứng từ người viết” [41, 263] Ở bài viết này, như chính tác giả đã nói ởphần kết luận: “Tôi cứ muốn xem bài viết này như một phác thảo về những đónggóp của Chế Lan Viên về lý luận, phê bình và bút kí” [41, 268], nên NguyễnXuân Nam mới chỉ dừng lại ở những nhận xét khái quát về vẻ đẹp của văn ChếLan Viên, nghiêng về cảm nhận mà chưa đi vào những phân tích cụ thể

Trong cuốn Sống với văn học cùng thời (1997), Lại Nguyên Ân có bài

Giọng văn xuôi tiểu luận Chế Lan Viên Trong đó, tác giả khẳng định: “Chế

Lan Viên của thơ đó là chân dung nhìn nghiêng; Chế Lan Viên của văn xuôi

-ấy mới là chân dung nhìn thẳng” [7, 155] Và theo ông, khoảng cách giữa thơ vàvăn xuôi của Chế Lan Viên thật mong manh: “Nhưng cũng cứ theo thể loại mà

nhìn rộng ra, giữa văn xuôi của bút kí, chính luận, tiểu luận với thơ - mà lại là

Trang 6

thơ Chế Lan Viên càng về sau này - ranh giới cũng thật mong manh, không thấy

gì thật rạch ròi ngoại trừ một chỉ dẫn duy nhất: có hoặc không có sự chắp chữthành vần, hoặc nói bằng chính chữ của ông, có sự qua hàng” [7, 157]; “Điềumuốn nói ở đây chỉ là sự thống nhất, thuần dạng của một tác giả đằng sau nhữngthể loại tưởng như rất khác nhau Có người đã quan sát sự giống nhau từ ý tứđến câu chữ của các bút kí, chính luận và những bài thơ của Chế Lan Viên đểxác nhận chất thơ trong các bút kí ấy cũng như chất chính luận trong nhữngthơ ấy” [7, 157] Với riêng giọng văn xuôi tiểu luận, tác giả bài viết chỉ ra, đó

là “giọng của một người có nghề đi truyền nghề, dạy nghề, tâm sự và lí sự vềnghề mình, giọng của một người làm văn đã quyết “phụng sự đêm nay chobánh lái con thuyền” trước những sắc thái mới của thời cuộc Giọng của mộtngười muốn đại diện cho một nền thơ ca, một kiểu văn nghệ này đối thoại vớivới những đại diện của các nền thơ ca và văn nghệ khác Giọng của một thể loạinày muốn can dự vào các thể loại khác Giọng của một kiểu số phận văn học này

muốn “chỉnh hướng” cho những kiểu số phận văn học khác… Ở đây “cái tôi

-trữ - tình” thực sự nhường chỗ cho “cái - tôi- biện - lí” [7, 157 - 158] Đó còn là

“giọng quyết đoán thể hiện rõ tính chất tự thú, tự bạch” Và chính “giọng vănxuôi tiểu luận Chế Lan Viên - chính cái giọng ấy - chứ không phải những ý tứ,

lí lẽ kia - mới là đặc sắc, đặc sản của ngòi bút ông” [7, 164]

Năm 1999, nhân kỷ niệm mười năm ngày mất của Chế Lan Viên, tạithành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học tổ chức “Hội thảokhoa học về Chế Lan Viên” Trong dịp này, nhiều nhà văn, nhà phê bình vănhọc, và cả những người yêu thích thơ văn của Chế Lan Viên đã có những bàiviết đánh giá cao thành tựu văn chương của một nhà thơ tiêu biểu của thế kỷ

XX, nhà thơ của thế kỷ, nhà văn hóa Chúng tôi xin điểm ba bài viết tiêu biểu

về lĩnh vực tiểu luận - phê bình văn học của Chế Lan Viên:

- Hoàng Nhân, với bài Một phong cách phê bình trực cảm mới, khẳng

định: “Đọc một số bài phê bình văn học thơ văn cổ điển và hiện đại của ChếLan Viên, có thể nói ông đã đạt đến một phong cách phê bình trực cảm mới”[95, 69] Tác giả có những nhận xét tinh tế và so sánh phong cách phê bìnhcủa Chế Lan Viên với tình hình phê bình văn học đương đại: “Từ những năm

60, dường như ngự trị một khuynh hướng phê bình văn học thiên lệch về đềcao quan điểm, lập trường tư tưởng mà ít quan tâm xem xét những sáng tạo,giá trị nghệ thuật và tác dụng thực tế về nhiều mặt của tác phẩm văn chương( ) Chế Lan Viên đã tiếp tục một phong cách phê bình trực cảm từ thời Hoài

Thanh với Thi nhân Việt Nam nhưng hòa nhập nhiều yếu tố tích cực mới từ

Trang 7

sau thắng lợi của Cách mạng và bút pháp của một nhà thơ tài hoa của Điêu

tàn (1937), Ánh sáng và phù sa (1960), Hoa ngày thường - Chim báo bão

(1967), Hoa trên đá (1984)… Phong cách phê bình trực cảm mới của Chế

Lan Viên có ý nghĩa góp phần xây dựng nền phê bình văn học hiện đại ViệtNam” [95, 69 - 70] Trong bài viết này, Hoàng Nhân không đồng tình với nhữngnhận xét của Triêu Dương khi cho rằng “tính khoa học trong phê bình văn họccủa Chế Lan Viên còn có những chỗ yếu vì vận dụng quan điểm Mác - Lêninchưa được khách quan và đầy đủ” [95, 72] Theo tác giả, “nhớ lại bối cảnh phêbình văn học những năm 60 đang ào ào dâng lên trận địa “chống chủ nghĩa xétlại trong văn học” và không ít người cơ hội, hùa theo… dường như chỉ để đề caogiá trị duy nhất của chủ nghĩa hiện thực, thì ngày nay với khoảng cách thời gian,chúng ta có thể hiểu ý nghĩa thâm thúy của những dòng suy tưởng của họ Chế”[95, 72 - 73] Từ đó, tác giả kết luận: “Chế Lan Viên đã góp phần đổi mới phongcách phê bình trực cảm lừng danh một thời” [95, 73]

- Lê Quang Trang, trong bài Quan hệ giữa thơ và phê bình trong trước

tác của Chế Lan Viên, cũng khẳng định: “Người ta quen nghĩ đến Chế Lan

Viên là nhà thơ Điều đó đúng, nhưng không nên quên rằng ông cũng là nhàphê bình tầm cỡ Với một khối lượng bài viết không nhỏ, nhất là sự đặc sắc,độc đáo của một phong cách phê bình đầy cá tính khiến những ai quan tâmđến tình lịch sử của vấn đề không thể bỏ qua vị trí của ông trong văn học nóichung, lý luận phê bình nói riêng” [95, 61] Trong bài viết của mình, LêQuang Trang tập trung vào mối quan hệ giữa thơ và phê bình của Chế LanViên Ở điểm này, tác giả có nhiều điểm gặp gỡ với Lại Nguyên Ân trong bài

Giọng văn xuôi tiểu luận Chế Lan Viên Nhưng nếu Lại Nguyên Ân nghiêng

về cảm thụ “chất thơ” trong các trang viết văn xuôi, tiểu luận của Chế LanViên thì Lê Quang Trang đi vào những phân tích cụ thể về “chất phê bình”

trong thơ “Chất phê bình” thể hiện từ Điêu tàn đến Di cảo, điểm này thống nhất

với chính quan điểm của Chế Lan Viên “người ta làm những bài thơ đâu chỉ vớichất thơ, cần đủ mọi thứ để làm ra một thế giới Với thơ cũng vậy Do đó cần cóphê bình, có óc phê bình” [95, 62] mà đó phải là “phê bình bên trong, loại nàytác giả tiến hành với chính mình, từ trong trứng, từ trong bào thai tác phẩm vàđôi khi theo dõi tác giả suốt đời” [95, 62] Nói như thế, tức là ông khẳng địnhtrong thơ cần có phê bình” Còn trong phê bình, theo tác giả: “Sau này, nhất làtrong giai đoạn sáng tạo sung sức nhất, ông có nhiều thành tựu, thì phê bình lý

Trang 8

luận cũng có nhiều thành tựu” [95, 67] Về phong cách văn tiểu luận của ChếLan Viên, Lê Quang Trang đáng giá: “Văn phê bình của ông cuồn cuộn cảmxúc, giàu hình ảnh, nhịp điệu Ông có tài trong việc chuyển hóa ý nghĩa của từ,lấy cái cụ thể, hữu hình nói cái khái quát, trừu tượng” [95, 67].

- Khác với Hoàng Nhân và Lê Quang Trang, tác giả Nguyễn Văn Lưu

với bài Chế Lan Viên và văn hóa dân tộc tập trung nghiên cứu các bài viết của

Chế Lan Viên về phương diện văn hóa Mở đầu bài viết, Nguyễn Văn Lưukhẳng định: “Chế Lan Viên là nhà thơ có sức đọc rất lớn Ông đọc nhiều vàsuy tư sâu sắc cả Đông Tây, kim cổ, nhưng với văn hóa văn học dân tộc, ông

có sự say mê, có ý thức tìm hiểu, kế thừa đặc biệt nghiêm túc Quan niệm vềvăn hóa và tiếp thu văn hóa của Chế Lan Viên không phải là những tuyênngôn lí thuyết chung chung mà rất cụ thể rạch ròi, toàn diện Chế Lan Viên

là nhà thơ lớn của dân tộc, cũng là nhà thơ lớn của dân tộc, cũng là nhà vănhóa lớn Ông hiểu rõ bản chất quy luật của văn hóa và suốt cuộc đời mình,ông vừa sáng tác vừa nghiên cứu văn hóa, sáng tạo văn hóa” [95, 50] Theotác giả, với những bài viết tập trung về văn hóa cũng như các ý kiến thể hiệnquan điểm của Chế Lan Viên về văn hóa rải rác trong cả đời văn của Chế LanViên thì Chế Lan Viên đều “nghiên cứu, tìm hiểu nền văn hóa dân tộc khôngnhững rộng về diện mà sâu sắc đến từng ý từng lời” [95, 51]

Qua việc phân tích một số bài viết của Chế Lan Viên về văn hóa,Nguyễn Văn Lưu khẳng định: “Có thể nói Chế Lan Viên vô cùng tâm đắc,nhuần nhuyễn quan niệm coi con người, cuộc sống của con người là cốt lõicủa văn chương nghệ thuật, của văn hóa Con người của văn hóa là con người

cụ thể, con người của một hoàn cảnh, của một không gian, thời gian, của mộtdân tộc, một thời đại” [95, 52] Và theo ông, đây cũng là vấn đề Chế LanViên trở đi trở lại nhiều lần: “Ở Việt Nam, văn hóa là gì, trong bối cảnh mộtnước nhỏ bên cạnh một đế quốc to, bên cạnh một bể người và một bể chữ, thìvăn hóa ở đây là gì và cha ông ta đã giải quyết vấn đề đó, đã bảo vệ và xâydựng văn hóa như thế nào” [95, 53] Vấn đề này được Chế Lan Viên phântích, kết hợp với dẫn chứng cụ thể thuyết phục “con người Việt Nam là conngười gắn với Tổ quốc, lịch sử con người ấy quyết định không những màusắc mà cả văn hóa” Nói về cuộc chiến tranh của Đế quốc Mĩ tại Việt Nam,Nguyễn Văn Lưu cho rằng theo Chế Lan Viên không chỉ là “vấn đề quân sự,

Trang 9

chính trị” mà “về lâu dài nó là một vấn đề văn hóa” Từ việc phân tích,Nguyễn Văn Lưu thể hiện sự đồng tình của mình với những quan điểm củaChế Lan Viên về văn hóa Ông kết luận: “Cách nhìn văn hóa của Chế LanViên có một ý nghĩa to lớn Không có cái gì là hoạt động của con người lạitách rời khỏi văn hóa, lại không mang trong nó bản chất này hay bản chất kiacủa văn hóa, là chân văn hóa hay ngụy văn hóa Không thể nhìn đơn giản rằngvăn hóa nghệ thuật dường như không quan hệ trực tiếp đến chính trị ChếLan Viên là tấm gương sáng cho những người hoạt động văn hóa nghệ thuật Chế Lan Viên là một nhà văn hóa, một nhà sáng tạo văn hóa” [95, 53 - 54]

Trong cuốn Chế Lan Viên người trồng hoa trên đá (2010), tác giả Hà

Minh Đức với bài “Dòng văn xuôi sắc sảo và trí tuệ” đã đánh giá cao nhữngtrang văn xuôi của Chế Lan Viên Theo ông, đời sống văn nghệ sau ngày hòabình lập lại, xây dựng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi văn chương và lý luận về nghềphải có lí lẽ và nguyên tắc sáng tạo, “và một Chàng Văn đã xuất hiện ChàngVăn đã trả lời “những câu hỏi có thực, của những bạn đọc có thực, về nhữngvấn đề có thực Cái khó chính là ở chỗ không thể giải đáp chung được “Hìnhnhư cứ với mỗi người cụ thể phải có một câu trả lời riêng, thật riêng mới hòngsinh động, chính xác” Chàng Văn đã trả lời chung bằng lý luận sinh động,bằng thực tiễn góp phần giải quyết nhiều vấn đề về sáng tác văn nghệ” [24,

169] Đối với hai tập Nói chuyện văn thơ và Vào nghề, tác giả Hà Minh Đức

cho rằng chúng “đã đến đúng lúc trong buổi đầu mọi thứ còn bỡ ngỡ mới mẻ”[24, 170] Và: “ngay từ những ngày đầu hòa bình lập lại các nhà Thơ mới đãnhanh chóng hòa nhập với cuộc đời mới và có sáng tác hay Chế Lan Viên đãkịp thời cổ vũ những thành công của Huy Cận, Xuân Diệu, Tế Hanh” [24,170] Không chỉ là cây bút sắc sảo về mặt lý luận, đánh giá kịp thời và cổ vũcác phong trào thơ, các cây bút, Chế Lan Viên còn là người mở cánh cửa giới

thiệu nền thơ Việt Nam ra quốc tế: “Từ thung lũng đau thương ra cánh đồng

vui là bài viết hay là cánh cửa mở ra quốc tế bước đầu giới thiệu nền thơ của

chúng ta và sau này Chế Lan Viên luôn có những đóng góp mới qua những

chuyến hội thảo ở nước ngoài” [24, 170] Đối với tập Những ngày nổi giận,

Hà Minh Đức ấn tượng bởi: “Trang viết tố cáo không sôi sục căm thù nhưngthấm thía qua từng con chữ, chỉ ra bản chất của kẻ thù, nó coi thường mọingười, nó là con thú đội lốt người, cái ác đội lốt lương thiện, kẻ lừa dối mang

Trang 10

vẻ trung thực” [24, 173] Ông khẳng định: “Có thể nói, Chế Lan Viên là nhàthơ đánh địch xuất sắc nhất trong những năm chống Mĩ cứu nước qua vănxuôi, qua thơ Ngòi bút nhà thơ dựa trên sức mạnh của chính nghĩa, củatruyền thống dân tộc, của một nền văn hóa vững chắc được xây dựng, bồi đắp

từ hàng ngàn năm lịch sử - Trong bài Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân,

Chế Lan Viên đã có những tri thức thông tuệ khi trân trọng tìm hiểu tư tưởng

và tình cảm của cha ông qua các thời kì Tác giả bày tỏ lòng biết ơn cha ông

từ thanh gươm đến trang sách đã giữ gìn giang sơn tươi đẹp cho đến hômnay” [24, 173 - 174] Qua việc phân tích một số bài viết, bài nói chuyện củaChế Lan Viên, Hà Minh Đức đánh giá: “Chế Lan Viên thông minh, trí tuệ vàlinh hoạt trong đối thoại Bài viết, bài nói của anh bao giờ cũng để lại nhiều ýtưởng sắc sảo, gây ấn tượng” [24, 180] Theo ông, ở Chế Lan Viên có sự kếthợp giữa “kiến thức sâu sắc và kinh nghiệm sáng tác thành thực” ; “Chế LanViên giàu tri thức và lý luận về thơ luôn tiếp nhận những cái mới của thơ cathế giới qua các cuộc hội thảo quốc tế, qua những công trình lý luận về thơ cógiá trị Có thể nói trong dàn nhạc về thơ, tác giả cùng Xuân Diệu là nhữngnhạc trưởng tin cậy trong nhiều thập kỷ” [24, 182]

Điểm lại lịch sử nghiên cứu về tiểu luận và phê bình văn học của ChếLan Viên, chúng tôi có những nhận xét như sau:

- Các nhà nghiên cứu phê bình đánh giá cao giá trị của các tập tiểu luận

và phê bình văn học của Chế Lan Viên Ông là một cây bút viết tiểu luận vàphê bình văn học trí tuệ, sắc sảo, độc đáo, tài hoa, có đóng góp lớn cho nền lýluận, phê bình văn học hiện đại Việt Nam

- Nhiều bài viết có những luận điểm quan trọng, khái quát, phát hiệnmới mẻ, sâu sắc, thuyết phục

- Tuy nhiên, các bài viết chỉ đi vào một khía cạnh nào đó hay dừng lại ởmột tập tiểu luận, phê bình văn học cụ thể mà chưa đi sâu tìm hiểu một cách đầy

đủ, có hệ thống về toàn bộ hoạt động phê bình, lý luận văn học của Chế Lan Viên

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát

3.1 Lấy Đóng góp của Chế Lan Viên trong lĩnh vực phê bình, lý luận văn học

làm đối tượng nghiên cứu, luận văn tập trung khảo sát 8 tập tiểu luận - phêbình văn học của tác giả như sau:

- Kinh nghiệm tổ chức sáng tác, Nxb Thép mới, Hà Nội, 1952.

Trang 11

- Nói chuyện thơ văn (Chàng Văn), Nxb Văn học, Hà Nội, 1960.

- Vào nghề (Chàng Văn), Nxb Văn học, Hà Nội, 1962.

- Phê bình văn học, Nxb Văn học, Hà Nội, 1962.

- Suy nghĩ và bình luận, Nxb Văn học, Hà Nội, 1971.

- Bay theo đường dân tộc đang bay, Nxb Văn nghệ giải phóng, 1976.

- Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1981.

- Ngoại vi thơ, Nxb Thuận Hóa, Huế,1987.

3.2 Bên cạnh đó, luận văn còn khảo sát các tập thơ, văn xuôi, của ChếLan Viên

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Tìm hiểu vị trí mảng phê bình, lý luận trong sự nghiệp văn học của ChếLan Viên, từ đó khẳng định những đóng góp toàn diện của Chế Lan Viên đốivới sự phát triển của nền văn học dân tộc

4.2 Tìm hiểu đóng góp của Chế Lan Viên thể hiện qua những đối tượngchính, những vấn đề nổi bật trong lĩnh vực phê bình, lý luận văn học

4.3 Tìm hiểu đóng góp của Chế Lan Viên thể hiện qua phong cách phê bình,

lý luận văn

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương phápchủ yếu sau:

- Phương pháp thống kê - phân loại

- Phương pháp hệ thống

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp so sánh - đối chiếu

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, tương ứng với các

nhiệm vụ nghiên cứu đã nêu trên, luận văn được triển khai qua ba chương :

Chương 1 Hành trình sáng tạo và vị trí mảng phê bình, lý luận văn

học trong sự nghiệp của Chế Lan Viên

Chương 2 Những đối tượng chính và những vấn đề nổi bật trong

lĩnh vực phê bình, lý luận văn học của Chế Lan Viên

Chương 3 Những nét đặc sắc trong phong cách phê bình, lý luận

văn học của Chế Lan Viên

Trang 12

Chương 1 HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO VÀ VỊ TRÍ MẢNG PHÊ BÌNH,

LÝ LUẬN VĂN HỌC TRONG SỰ NGHIỆP CỦA CHẾ LAN VIÊN

1.1 Sự nghiệp văn học của Chế Lan Viên

1.1.1 Chế Lan Viên - vài nét tiểu sử

Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 23.10.1920 (tạiDiễn Châu, Nghệ An) trong một gia đình viên chức nhỏ, nhưng quê gốc ở xãCam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị Từ năm 1927, gia đình ông chuyểnvào sống ở huyện lị An Nhơn (thành Bình Định cũ) Chế Lan Viên lớn lên vàhọc tiểu học ở An Nhơn rồi xuống Quy Nhơn học tiếp bậc Thành chung Đỗbằng Thành chung, ông thôi học, đi dạy tư kiếm sống Có thể xem Quy Nhơn,Bình Định là quê hương thứ hai của Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu ấnsâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ

Chế Lan Viên bắt đầu làm thơ từ lúc còn ở tuổi thiếu niên (năm 12, 13

tuổi) Thơ, truyện ngắn của ông được đăng trên các báo Tiếng trẻ, Khuyến

học, Phong hóa từ những năm 1935 - 1936 Năm 17 tuổi, với bút danh Chế

Lan Viên, ông xuất bản tập thơ đầu tay nhan đề Điêu tàn, gây được sự chú ý

đặc biệt trong phong trào Thơ mới Từ đây, cái tên Chế Lan Viên trở nên nổitiếng trên thi đàn Việt Nam Cũng vào thời gian này, ông tham gia nhóm thơBình Định cùng nhiều nhà thơ có tên tuổi như Hàn Mặc Tử, Yến Lan, QuáchTấn, Bích Khê và một số bạn thơ khác Chế Lan Viên cùng với Hàn Mặc Tử,Yến Lan, Quách Tấn được người đương thời gọi là "Bàn thành tứ hữu" củaBình Định Vùng đất này đã để lại những ấn tượng sâu đậm trong tâm trí củangười thiếu niên giàu trí tưởng tượng Thành Bình Định chính là Đồ Bàn,kinh đô của vương quốc Chiêm Thành xa xưa Tuy đã tiêu trầm, nhưng quốcgia phong kiến từng có thời kì rực rỡ huy hoàng ấy vẫn còn để lại nhiều dấutích: những ngọn tháp, những bãi tha ma hoang vắng, những câu chuyện về

ma Hời đầy bí ẩn và cả trong khúc hát Nam Ai, Nam Bình cũng chứa chất

niềm cảm thông của người Việt - Chàm dành cho nỗi đau buồn của một dântộc bị tàn vong Tâm hồn đa cảm, giàu tưởng tượng của cậu thiếu niên ChếLan Viên chắc chắn đã tìm được sự đồng cảm đặc biệt từ số phận đất nước,nhân dân Chàm Nhà nghèo, sớm mồ côi cha, Chế Lan Viên “bẩm sinh hay

Trang 13

buồn” (Phạm Hổ) Mang tâm sự của người dân mất nước, bản tính lại ít giao

du, thích cô độc, Chế Lan Viên thuở ấy thường hay quanh quẩn bên những

ngọn tháp Chàm, hoang vắng Ông tìm thấy cảm hứng Điêu tàn từ chính

những ngọn tháp này chăng? Nhà thơ Nguyễn Vỹ từng nhận xét: “Trong câuchuyện tâm sự, tôi thấy rõ Chế Lan Viên bị ảnh hưởng hoàn toàn bởi nhữngngọn tháp Chàm rải rác ở khắp Bình Định, ở ngay tỉnh lị Bình Định, gần QuyNhơn, chứng tích của một nền văn minh cổ kính vừa sụp đổ Nếu Chế LanViên cũng là sản phẩm của những điêu tàn bi hận mà lịch sử vẻ vang của dântộc Chàm còn để lại trên đất nước thung lũng PoNagar” [4, 596 - 597]

Năm 1939, Chế Lan Viên ra học tại Hà Nội, sau đó Chế Lan Viên vàoSài Gòn làm báo rồi ra Thanh Hóa, sau nữa quay về Đà Nẵng, Huế dạy học.Năm 1942, ông cho ra đời tập văn Vàng sao, mang màu sắc siêu hình, huyền

bí, sau đó là tập bút kí triết luận Gai lửa Mọi sự kiếm tìm và thể hiện nghệ

thuật của Chế Lan Viên thời kì này đều rơi vào “bế tắc” trước hoàn cảnh đấtnước lúc bấy giờ

Cách mạng tháng Tám năm 1945 nổ ra, ông tham gia phong trào ViệtMinh tại Quy Nhơn, rồi ra Huế tham gia Đoàn Xây dựng cùng với HoàiThanh, Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh Trong thời kì kháng chiến chống Pháp,Chế Lan Viên làm báo và công tác văn nghệ ở Liên khu IV và chiến trườngBình - Trị - Thiên Thời kì này, Chế Lan Viên viết bài và làm biên tập cho các

báo Quyết thắng, Cứu quốc, Kháng chiến Cách mạng và kháng chiến đã giúp

cho nhà thơ có những biến đổi sâu sắc, quan trọng trong tư tưởng và conđường nghệ thuật của mình Phong cách thơ của ông giai đoạn này cũngchuyển dần về trường phái hiện thực Tháng 7 năm 1949, trong chiến dịch TàCơn - Đường Chín (Quảng Trị), Chế Lan Viên được kết nạp vào Đảng Cộngsản Đông Dương

Năm 1954, Chế Lan Viên tập kết ra Bắc làm biên tập viên báo Văn học.

Từ năm 1956 đến năm 1958, ông công tác ở Phòng Văn nghệ, Ban Tuyên

huấn Trung ương, cuối năm 1958 trở lại làm biên tập tuần báo Văn học (sau là báo Văn nghệ) Những bài thơ Chế Lan Viên sáng tác trong thời kì kháng chiến được tập hợp trong tập thơ Gửi các anh (in năm 1955), thể hiện sự

chuyển biến quan trọng trong tư tưởng và hồn thơ của tác giả

Trang 14

Tiếp đó, tập thơ Ánh sáng và phù sa (1960) là một thành công xuất sắc

của Chế Lan Viên trên chặng đường thơ Cách mạng, đánh dấu bước phát triểnmới của thơ Chế Lan Viên Vào cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, thơChế Lan Viên có những chuyển biến mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu mới

với các tập: Hoa ngày thường, Chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh

giặc (1972), Đối thoại mới (1973) đậm chất chính luận thời sự, âm hưởng sử

thi hào hùng mang khí thế cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc, đồng thời vẫn cómột mạch thơ trong trẻo, dịu mát về tình cảm gia đình, tình yêu, thiên nhiên…

Tập thơ Hoa trước lăng Người (1976) là một thành công của Chế Lan Viên về

hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam

Sau ngày đất nước giải phóng (1975), ông vào sống ở Thành phố HồChí Minh, tại một căn nhà nhỏ ở quận Tân Bình, ven thành mà ông đặt tên

cho nơi ấy là Viên Tĩnh viên và tiếp tục cho ra đời các tập thơ Hái theo mùa (1977), Hoa trên đá (1984), Ta gửi cho mình (1986).

Ngoài tài năng thơ, Chế Lan Viên còn là cây bút văn xuôi đặc sắc với

các tập bút kí như Vàng sao (1942), Thăm Trung Quốc (1963), Những ngày

nổi giận (1966), Giờ của số thành (1977), ; các tập tiểu luận - phê bình văn

học như: Vào nghề (1962), Phê bình văn học (1962), Suy nghĩ và bình luận (1971), Nghĩ cạnh dòng thơ (1981), Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân

(1981),

Ông từng là Ủy viên thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, Ủy viên BanThư kí Hội Nhà văn Việt Nam, Đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủCộng hòa các khóa IV, V và VI, Ủy viên Ban Văn hóa - Giáo dục của Quốchội Ông cũng đã tham dự nhiều diễn đàn văn hóa quốc tế ở Liên Xô, Pháp,Nam Tư, Ấn Độ, Na Uy, Thụy Điển Ông mất ngày 19 tháng 6 năm 1989 tạiBệnh viện Thống Nhất, thành phố Hồ Chí Minh

Ba năm sau khi ông qua đời, người bạn đời của ông là nhà văn Vũ Thị

Thường đã tuyển chọn và xuất bản: Di cảo thơ Chế Lan Viên gồm ba tập (tập

1 - 1992, tập 2 - 1993, tập 3 - 1996)

Chế Lan Viên đã được trao các giải thưởng sau:

- Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, năm 1994 (Di cảo thơ, tập 1,2)

- Giải A Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, năm 1995 (Hoa trên đá)

- Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật, năm 1996

Trang 15

1.1.2 Các chặng đường sáng tạo văn học của Chế Lan Viên

Có thể chia sự nghiệp văn học của ông qua các chặng: trước Cáchmạng tháng Tám (1945), sau Cách mạng tháng Tám đến 1975, sau 1975 đếnkhi qua đời

1.1.2.1 Trước Cách mạng tháng Tám

Trước Cách mạng tháng Tám, Chế Lan Viên được biết đến với tư cách

là một nhà thơ, đặc biệt khi Điêu tàn xuất hiện trên văn đàn đã tạo nên một

tiếng vang lớn Một chàng thanh niên 17 tuổi đã làm người đọc phải phải ngỡngàng không chỉ vì sự xuất hiện đột ngột của một hồn thơ trẻ tuổi, mà còn bởi

trong giọng buồn quen thuộc của thơ ca lãng mạn 1932 - 1945, đây là giọng buồn ảo não, có pha màu huyền bí Giữa bình nguyên nhiều màu sắc của Thơ

mới hồi ấy, Điêu tàn “đột ngột xuất hiện như một niềm kinh dị”, “một tháp Chàm lẻ loi và bí mật” (Hoài Thanh và Hoài Chân - Thi nhân Việt Nam) Tập

Điêu tàn là sự kết hợp và thăng hoa cùng lúc nhiều yếu tố: những ám ảnh tuổi

thơ với những tháp Chàm cô đơn sừng sững trong hoàng hôn, nỗi cô đơn và

bế tắc của một thanh niên vừa lớn lên đã thấm nỗi buồn thời đại, và sau nữa làmột tài năng thơ thiên phú

Tên tuổi của Chế Lan Viên càng được nhiều người biết đến khi cùngvới Hàn Mạc Tử, Yến Lan, Quách Tấn nhóm lên nhóm thơ Bình Định nổitiếng và tạo một dấu ấn độc đáo cho Thơ mới đương thời

Đến với thơ của Chế Lan Viên trước Cách mạng, người đọc dễ dàng nhậnthấy, thơ ông in rõ những dấu ấn của thực tại cuộc sống và chất chứa bao niềmsuy tưởng về quá khứ đau thương của một dân tộc Trước những chứng tích củamột nền văn minh bị mai một theo thời gian còn lại như: ngọn tháp, đền đài,tượng Chàm, đã gợi lên cho tâm hồn thơ Chế Lan Viên biết bao sự liên tưởng

mạnh mẽ và để rồi, nhà thơ lặng lẽ quay về “xem non nước giống dân Hời”.

Khám phá những giá trị của thơ Chế Lan Viên trước Cách mạng, mộttrong những điều khiến chúng ta phải ngẫm nghĩ đó là cái thế giới đầy kinh dị, lànỗi đau xót được tạo nên bởi tâm hồn thơ tuổi trẻ có trí tưởng tượng phong phú

Ở ông trào dậy bao điều suy nghĩ và bao nỗi xót xa, buồn tủi về những gì đangdiễn ra trong cuộc sống hiện tại Ông cay đắng khi nhận ra cái thế giới xungquanh mình đầy rẫy những trò gian trá, bịp bợm, thâm hiểm và xảo quyệt, ông

ngậm ngùi cho những kiếp Sống mòn, Đời thừa, Bước đường cùng,

Trang 16

Chế Lan Viên tìm đến thơ để gửi gắm và giãi bày sự suy ngẫm củamình về cuộc sống Ông nói đến nỗi đau của dân tộc Chàm cũng là để bộc lộnỗi đau của chính mình trước cảnh đời hiện tại Chính từ những nhận thức đó,

nhà thơ cảm nhận sâu sắc về sự vô nghĩa, cái u buồn, u tối, cái sầu vô hạn

giữa cuộc đời hiện tại và ông:

Với tôi tất cả đều vô nghĩa Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!

(Xuân)

Có lẽ trong sự sâu thẳm ở cõi lòng Chế Lan Viên, hình ảnh của “nhữngtháp Chàm gầy mòn vì mong đợi, những đền xưa đổ nát dưới thời gian, nhữngtượng Chàm lở lói rỉ rên than” không chỉ là hình ảnh của một nước Chàm đãmất, mà còn là sự dự cảm về số phận của dân tộc Việt trong cảnh nô lệ lầmthan Cuộc sống hiện tại được Chế Lan Viên cảm nhận với niềm uất hận, đauthương, nên dẫu có xuân về trong nắng sớm nhưng trong lòng ông vẫn đônglạnh giá băng thôi

Chế Lan Viên phủ nhận thực tại xã hội đương thời và thất vọng, chánnản trước những sắc màu, hình ảnh của trần gian để hướng đến “một tinh cầugiá lạnh, một vì sao trơ trọi cuối trời xa” Ông đã đi tìm mình, tìm Cõi Tatrong sự cô đơn và bơ vơ giữa cái mênh mông xa vắng của cuộc đời để rồi xót

xa, buồn tủi nhận ra mình chỉ là một cánh chim thu lạc cuối ngàn, ông thốt lên

Đường về thu trước xa lắm lắm

Mà kẻ đi về chỉ một tôi!

Tóm lại, trước thực tại của xã hội đó, Chế Lan Viên đã tìm được cáchnói độc đáo để thể hiện một cách thấm thía, sâu sắc những nỗi đau đời củaông Chế Lan Viên mượn đề tài về sự hoang phế, điêu tàn để kí thác một tâm

sự mới, một tư tưởng lớn lao hơn so với bản thân đề tài Có thể nói, Chế LanViên tìm về quá khứ của một dân tộc khác, là một cách nói, mà cũng là mộtcách tránh nói về hiện thực mất nước của dân tộc mình

Không chỉ gây tiếng vang với Điêu tàn, Chế Lan Viên còn được biết đến với một số truyện ngắn đăng trên các báo Tiếng trẻ, Khuyến học, Phong

hóa vào những năm 1935- 1936.

Năm 1942, Chế Lan Viên cho ra đời tập Vàng sao, một tập bút kí văn

chương - triết luận, được đánh giá là “đạt tới sự tổng hợp của triết học và thi

Trang 17

ca” [4, 449] Tập Vàng sao gồm nhiều tiểu luận và tạp kí, với thể văn suy

tưởng, tràn đầy những hình ảnh kì dị và nên thơ Chế Lan Viên muốn làm mộtnhà triết học, lí giải những vấn đề lớn mà xưa nay triết học nghiên cứu Chỗđứng của nhà thơ là cái “lầu tư tưởng” do ông tưởng tượng ra trên cơ sở mộtcái lầu cửa Đông của thành Bình Định Từ đây tách biệt hẳn sự ràng buộc nhỏnhen ở đời Tại “lầu tư tưởng” đó, Chế Lan Viên thả cho dòng tư tưởng đi về

mọi chốn Xa Xanh vô tận của đất trời, cái tôi cô đơn hoảng loạn tưởng có thể

tự giải thoát bằng một “đài thơ” hay một “tháp nghĩ” :

“Ta lại lên lầu, thành tâm hơn một nhà giáo sĩ Mở chiếc áo để tìm vú

mẹ, ta băn khoăn mở cánh cửa tìm trời Chỉ một cử chỉ đó thôi mà ta đã tưởnglìa bỏ một cái gì khác lạ Thật thế, cách đây ba bước ấy là phiền hà sâu bọ củacuộc đời: bữa cơm không ngon, đôi giày sắp thủng, bức thư nhạt nhẽo của côtình nhân, tính hạnh ngỗ nghịch của mấy ông học trò khó dạy Nhưng bây giờ

ta đã có một bầu khinh thanh… Cảm giác của ta là đứng trong một cái thápđài vô ảnh, và tuy không tàng thuật, ta vẫn ung dung như một kẻ vô hình.Làm gì nghĩ gì, ngoài kia nhìn vào, loài người như đui, như điếc” [114, 56]

Như vậy, trong giai đoạn này, hai tác phẩm: một Điêu tàn (thơ), một

Vàng sao (văn xuôi) đã đánh dấu một giai đoạn sáng tác đầy dấu ấn của Chế

Lan Viên, được đánh giá là: “Hai tác phẩm - một thơ, một văn xuôi - như mộtcặp song sinh tinh thần của một giai đoạn sáng tạo cùng nhằm về một hướng,

tụ lại một điểm: hành trình đầy hứng khởi mà cũng đầy đau đớn vào một thếgiới thần bí và siêu hình” [5, 9]

1.1.2.2 Từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975

Cách mạng tháng Tám thành công, lịch sử dân tộc sang trang Cùng vớinhững thay đổi lớn lao, và mạnh mẽ của đời sống dân tộc, cuộc đời và thơ,văn Chế Lan Viên đã thoát khỏi “thung lũng đau thương” đặc bóng tối, thoátkhỏi sự cô đơn, bế tắc để tìm ra “cánh đồng vui” tràn đầy “ánh sáng và phùsa” để hòa hợp với người

Chế Lan Viên hạnh phúc đón chào cách mạng, nhiệt thành tham giakháng chiến, nhưng con người nghệ sĩ trong ông không ít những nỗi bănkhoăn, vướng mắc ở vấn đề nghệ thuật và Cách mạng

Sau mười năm hòa mình vào đời sống kháng chiến, hiểu hơn về Tổ

quốc và nhân dân, năm 1955, Gửi các anh ra đời là “vụ gặt” đầu của Chế

Trang 18

Lan Viên trong mùa thơ mới Trong thời gian kháng chiến, sự sáng tạo thơ

của Chế Lan Viên chỉ dừng lại ở tập thơ Gửi các anh gồm 14 bài Những

tháng năm đó, con người nghệ sĩ ở Chế Lan Viên chủ yếu nghiền ngẫm, tìmtòi về phương thức thể hiện để phù hợp với nhu cầu thẩm mĩ của cuộc đờimới Ông đã trải qua những gian truân vất vả và cảm nhận được không khíhào hùng, sôi động của dân tộc trong kháng chiến Ông xúc động mãnh liệttrước bao nhiêu tấm gương hi sinh anh dũng của những con người bìnhthường giản dị để làm nên chiến thắng

Ở tập thơ Gửi các anh, bỏ đi phần gò ép, chập chững buổi đầu trên con

đường thơ Cách mạng, chúng ta cũng dễ nhận ra sự xúc động của Chế LanViên khi viết về người mẹ trong vùng giặc chiếm với tình cảm chân thành Đó

là lòng yêu thương mẹ của đứa con nghĩ đến mẹ nhiều nước mắt rưng rưng

Nghĩ về mẹ, nhà thơ đã cảm nhận tình thương của mẹ là gió dịu đưa hương,

và mẹ thương con như sữa nồng, như nước mắt Chế Lan Viên còn ghi lại

những niềm vui bình dị của đời sống kháng chiến ở Một bữa cơm thường

trong bản nhỏ Nhà thơ xúc động viết về sự ngã xuống của các anh bộ đội nơi

biên giới Việt Lào, bên bờ suối Vạn Mai, hay dưới một gốc cây sung “chín đỏ mùa hè” Hình ảnh của những người dân công gánh bom gập người, đường

dài đứt hơi mà vẫn luôn yêu đời cũng đã đi vào thơ Chế Lan Viên trong niềm

tự hào trân trọng Ông xót xa, đau đớn trước cảnh quê hương chìm trong khói

lửa chiến tranh, máu đã hòa nước mắt, ngút trời đồng bốc lửa, và đồi sim lầy máu tươi Chế Lan Viên những mong mọi người hãy luôn Nhớ lấy để trả thù

cho quê hương, Tổ quốc

Có thể nói, sống chân thành, sâu sắc với hiện thực đời sống kháng chiếnchống Pháp của dân tộc, Chế Lan Viên đã đưa thơ ông thoát khỏi dĩ vãng buồnthương để trở về với cuộc đời hiện tại trong niềm tin yêu Cuộc sống cách mạng

và kháng chiến đã tạo điều kiện thuận lợi, chắp cánh cho tâm hồn thơ Chế Lan

Viên vươn tới những đỉnh cao nghệ thuật và Bay theo đường dân tộc đang bay.

Hồn thơ Chế Lan Viên đã hoàn toàn đổi khác Trước kia, ông nhìn vào trong đểbiểu hiện mình thì nay, ông nhìn ra xung quanh để thể hiện cuộc sống kháng chiếncủa một Bình Trị Thiên đánh giặc và cảm nhận cái đẹp, cái anh hùng

Trong giai đoạn này, ngoài Gửi các anh, Chế Lan Viên chủ yếu là viết

báo Sau khi tham gia Cách mạng tháng Tám tại Quy Nhơn, Chế Lan Viên ra

Trang 19

Huế tham gia Đoàn Xây dựng cùng với Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Đào DuyAnh… Ông viết bài cho báo Quyết Thắng của Việt Minh Trung Bộ Trongkháng chiến chống thực dân Pháp, ông hoạt động văn nghệ và báo chí ở Liênkhu Bốn và chiến trường Bình Trị Thiên Cũng thời gian này, ông bắt đầu viết

phê bình, tập hợp trong cuốn Kinh nghiệm tổ chức sáng tác Kinh nghiệm sáng tác của ông là kinh nghiệm đi tìm tài liệu; kinh nghiệm ghi chép; kinh

nghiệm về việc thực hiện tác phẩm Đó là những kinh nghiệm quý báu cho

nền văn nghệ Cách mạng trong những ngày đầu hòa bình

Năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta giành đượcthắng lợi Chế Lan Viên hòa mình với cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội ởmiền Bắc trong niềm vui và hạnh phúc Trong hoàn cảnh cuộc đời mới, hơnlúc nào hết, Chế Lan Viên càng nhận rõ hơn ý nghĩa lớn lao mà ông đã cóđược ở những tháng năm sống gắn bó với cuộc sống kháng chiến của dân tộc:

Ôi kháng chiến mười năm qua như ngọn lửa, Nghìn năm sau vẫn đủ sức soi đường.

(Tiếng hát con tàu)

“Từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui” là cảm hứng chủ đạo của

tập thơ Ánh sáng và phù sa được xuất bản năm 1960 Tập thơ phản ánh, ngợi ca

cuộc sống mới đang lớn dậy từng ngày, đồng thời xuyên suốt tập thơ là sự giằng

xé trong tâm hồn nhà thơ, đẩy lùi nỗi đau cũ để tiến đến niềm vui mới: “Cho đến

được… lúa vàng đất mật - Phải trên lòng bao trận gió mưa qua” Khép lại cuộc

đấu tranh ấy, Chế Lan Viên đã “từ chân trời của một người đến với chân trời củamọi người” Tập thơ đánh dấu sự thăng hoa mới của hồn thơ Chế Lan Viên từ

cõi lãng mạn siêu hình thời Điêu tàn, trở thành nhà thơ hát ca về sự đổi thay của

cuộc sống tự do và xây dựng bởi niềm vui bây giờ là niềm vui có thực:

Nắng đem chia mùa mới xuống trăm nhà,

Đã tắt tiếng than cuộc đời gió thổi.

Mẹ ru con bằng bài ca bộ đội, Đời quá vui nên áo vải cũng cài hoa.

(… Cái vui bây giờ)Nỗi đau về cuộc sống quá khứ đã qua và niềm vui giữa cuộc sống hiệntại ngày một dâng đầy, tâm hồn thơ của Chế Lan Viên giờ đây như ngập trànniềm vui trước cuộc đời rực rỡ phù sa Nhà thơ quan niệm "lấy cái vui của đời

Trang 20

đánh bạt mọi thương đau" Càng gắn bó với cuộc đời, nhà thơ càng thấm thía

hơn bao niềm hạnh phúc đang đến với mình Nhà thơ đã cảm nhận “hạnhphúc như đào ngon chín tới, hạnh phúc nào không hạnh phúc đầu tiên" và

"mỗi bước đời ta ghép một vần thương" Niềm vui càng trở nên rạo rực vàcàng nhân lên khi Chế Lan Viên nhận thức về cuộc sống ngày càng sâu sắchơn:

Ngoảnh đầu chào Điện Biên, Ngoảnh đầu chào Giơne.

Ngoảnh đầu chào trăm nơi máu Đảng ta và nhân dân ta đã đổ,

Cho sáng nay chân ta về dẫm lại nơi này.

Vâng, tôi yêu những nơi đá cộc cây cằn,

Tổ quốc như bà mẹ nghèo thì thào cùng tôi qua nước mắt Nhưng rừng vàng bể bạc,

Tôi cũng yêu những nơi thân thể chín đầy.

Như tháng giêng hai mình xuân trái chín, Mỗi trái đào mọng đỏ gọi lòng ta.

Đất này xưa giặc chiếm, không hoa.

Tôi vui lòng đổi trăm mùa khác, Lấy nhánh hồng đây, nở chậm mùa.

Cuộc sống hôm nay mới đáng yêu làm sao! Vì thế, những vần thơ củanhà thơ viết về cuộc đời mới rất đỗi đằm thắm, ngọt ngào Nhà thơ cảm nhận:

Cái sống ngọt ngào trong từng sợi cỏ,

Một cành hoa cũng muốn giục môi hôn

Trang 21

Cộng với rừng chim ca.

Đã nhân lòng ta dậy, Chia đều trăm trang thơ.

(Toán)Sống giữa niềm vui của cuộc đời mới, Chế Lan Viên quan niệm mới

mẻ về quê hương Quê hương không chỉ là nơi chôn nhau, cắt rốn Quê hương

còn là nơi ta gắn bó và biết sống hết mình vì nó Trong bài thơ Tiếng hát con

tàu, nhà thơ viết:

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn

hay:

Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.

(Tiếng hát con tàu)

Nghĩ về cuộc sống hiện tại trong sự so sánh với quá khứ đau thươngcủa dân tộc, Chế Lan Viên càng tự hào khi hiểu rằng cuộc đời ngày thêm rực

rỡ phù sa, ngày một thêm ý nghĩa

Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả,

Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn.

Dẫu có bay giữa trăng sao cũng tiếc không được

sống phút bây giờ

(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?)

Bởi lẽ Chế Lan Viên đã hiểu được giá trị của cuộc sống, giá trị tự do, tự

nhận thức ra những điều mà thủa Điêu tàn không có được:

Tôi trở lại lòng mình, Bây giờ mình cũng hiểu:

Hiểu đúng sắc trời xanh, Khi dẹp tàn dông bão.

Hiểu giá làn gươm báu, Sau mỗi lần đấu tranh.

Hiểu mình và hiểu người, Hiểu đời và hiểu Đảng.

Tôi góp phần ánh sáng, Tôi làm chủ hồn tôi.

(Ngoảnh lại mười lăm năm)

Trang 22

Chế Lan Viên đã đi từ chân trời của một người, đến chân trời của mọi

người Cuộc đời mới là nguồn sức mạnh tinh thần giúp nhà thơ đi thực tế, gặp

lại nhân dân và hiểu cuộc sống bao la rung cả những lòng đang riêng lẻ, nhà thơ khát vọng:

Tôi muốn đến chỗ nước trời lẫn sắc,

Nơi bốn mùa đã hóa thành thu.

Nơi đáy bể những rừng san hô vờ thức ngủ,

Những rừng rong tóc xõa lược trăng cài.

Nơi những đàn mây trắng xóa cá bay đi,

Cá nục, cá chuồn, cá chim - không phải chim đâu cá hồng hồng sắc vẩy, Con cá song cầm đuốc dẫn thơ về.

(Cành phong lan bể)

Cuộc sống mới chứa chan ánh sáng và phù sa đã thực sự giúp Chế Lan

Viên lấn từng nỗi đau như mùa chiêm lấn vành đai trắng và nay trở về ta lấy

lại vàng ta Khi đã có hướng rồi, nhà thơ không ngần ngại: đi ra với sông, đi

ra với trời, đi ra với đời để cảm nhận được

Tôi yêu quá cuộc đời như con đẻ, Như đêm xuân người vợ trẻ yêu chồng.

Tôi nối với bạn bè như với bể,

Cả lòng tôi là một giải sông Hồng

(Chim lượn trăm vòng)

Càng đến với cuộc sống, những vần thơ của Chế Lan Viên càng chanchứa niềm tin yêu cuộc sống và có quan niệm đúng đắn về con người côngdân trong cuộc đời mới Trước đây nhà thơ trăn trở về cái Ta, Cõi Ta, thì giờđây nhà thơ đã nhận thức sâu sắc về trách nhiệm của mình trước cuộc đờimới, xã hội mới:

Ta là ai? Như ngọn gió siêu hình,

Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt

Ta vì ai? Khẽ xoay chiều ngọn bấc,

Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh

(Hai câu hỏi)

Chế Lan Viên có khát vọng làm một cánh chim lượn trăm vòng trên Tổ

quốc mênh mông để được trở lại giữa rừng sâu Việt Bắc, đến trước đồi Điện

Trang 23

Biên rực lửa, đến cả những vùng xưa chẳng đến, về giữa miền Nam trời của

mẹ, ra bể cá nồng hơi gió bể, nối với bạn bè như với bể, được ngắm nhìn ngàn

núi trăm sông diễm lệ và mở rộng tâm hồn mình đón nhận bao niềm vui vàhạnh phúc giữa cuộc đời Với khát vọng đó, nhà thơ lòng tự dặn lòng:

Ôi chim én có bay không chim én, Đến những đảo xa, đến những đảo mờ.

Ở đâu chưa đi thì lòng sẽ đến, Lúc trở về, lòng ngậm những cành thơ

(Qua Hạ Long)

Cuộc sống mới được nhà thơ cảm nhận với niềm tin yêu chân thành và

đó chính là nguồn thi hứng lớn lao, mạnh mẽ, luôn trỗi dậy trong tâm hồn nhàthơ Những đổi thay kì diệu của cuộc sống đã tạo tâm hồn thơ Chế Lan Viêncàng thêm dạt dào cảm xúc Nhiều bài thơ của Chế Lan Viên trong thời kì nàythể hiện sự nhận thức sâu sắc về vẻ đẹp của Tổ quốc và dân tộc, về vai trò của

Đảng và Bác Hồ, tiêu biểu là Tiếng hát con tàu, Cành phong lan bể, Tàu đến,

Tàu đi, Kết nạp Đảng trên quê mẹ, Người đi tìm hình của nước,v.v

Được tắm mình giữa đời sống của nhân dân, được ánh sáng của Đảng soi rọi

và phù sa của cuộc đời vun đắp, Chế Lan Viên đã vượt khỏi nỗi đau riêng đến vớiniềm vui chung của dân tộc bằng tấm lòng chân thành và sự tài hoa nghệ thuật đểdâng hiến cho đời nhiều vần thơ hay Cảm xúc ngày vào Đảng thiêng liêng quá, tựhào quá, Chế Lan Viên đã nói được niềm xúc động không phải chỉ của riêng mình

mà của chung những người đồng chí được đứng trong hàng ngũ của Đảng :

Ngày vào Đảng đất trời như đổi khác, Những vật vô tri cũng làm rưng nước mắt.

Đá sỏi cây cằn, sao bỗng thấy thiêng liêng?

Giọng nói quen nghe, màu đất quen nhìn.

Bỗng chan chứa trăm điều chưa nói hết, Tôi cúi đầu nghe, dặt dìu, tha thiết.

Cây cỏ trời mây, kẻ mất người còn, Trong mơ hồ, trăm tiếng của quê hương.

(Kết nạp Đảng trên quê mẹ)

Trang 24

Chế Lan Viên là một trong những nhà thơ thành công khi viết về hìnhtượng Chủ tịch Hồ Chí Minh Hình ảnh Bác trong thơ Chế Lan Viên hiện lêngần gũi, bao dung:

Ôi! Giữa lòng ta, Bác đến tự hồi nào?

Khi ta muốn thơ ta thành hầm chông giết giặc Thành một nhành hoa mát mắt cho đời.

(Người thay đổi đời tôi - Người thay đổi thơ tôi) Với Chế Lan Viên, chưa bao giờ Tổ quốc lại cao đẹp như những thángnăm kháng chiến chống Mĩ Nhà thơ không ngần ngại khẳng định đó là những

ngày đẹp hơn tất cả, ngày vĩ đại Trong hoàn cảnh đó, vẻ đẹp tâm hồn và tính

cách của dân tộc Việt Nam càng ngời sáng hơn Nhà thơ kiêu hãnh viết:

Ta đội triệu tấn bom mà hái mặt trời hồng

Ta mọc dậy trước mắt nghìn nhân loại

Hai tiếng Việt Nam đồng nghĩa với anh hùng

(Thời sự hè 72, bình luận)

Hiện thực đời sống thời kì kháng chiến chống Mĩ đã tỏa nắng cho thơChế Lan Viên để nhà thơ có thêm nhiều vần thơ tràn đầy sức sống và sức hấpdẫn Tâm hồn thơ Chế Lan Viên rộng mở hướng tới khắp mọi miền của Tổquốc để nhạy bén thu nhận chất thơ của đời sống và hòa nhịp sống của mìnhvới nhịp sống của dân tộc Nhà thơ viết về những cuộc tiễn đưa ra trận với kỉ

niệm của cái hôn cân vạn ngày lửa đạn và trầm tích trong bể sâu của nhớ, là

chút thương nhớ giắt bên mình cùng súng đạn

Hình ảnh của cuộc sống chiến đấu gian khổ mà hào hùng đi vào thơChế Lan Viên ngày càng thêm đậm đà, sâu sắc Nhà thơ tự hào viết những tênlàng, tên núi, tên đường, tên sông gắn liền với những chiến công hiển háchnhư: Trường Sơn, Đường Chín, Ngã ba Đồng Lộc, Cồn Cỏ, Quảng Bình,

Trang 25

Vĩnh Linh Nhà thơ cảm nhận cuộc sống hôm nay mỗi tấc núi sông thành thơ

và hóa sử và các thế hệ nhìn chỗ ta đứng lúc này như những hải đăng Tất cả

những điều đó chính là chất vàng, chất ngọc của cuộc đời đã góp phần tạo choChế Lan Viên có được nhiều tứ thơ hay

Trước hiện thực đời sống đó, nhà thơ nhận thức sâu sắc hơn vẻ đẹp của

Tổ quốc và sự gắn bó rất đỗi đằm thắm, thiết tha với Tổ quốc:

Ta yêu Việt Nam đẹp, Việt Nam thơ, bát ngát câu Kiều, bờ tre mái rạ,

Mái đình cong cong như bàn tay em gái vẫy giữa đêm chèo

Cánh cò Việt Nam trong hơi mát xẩm xoan, cò lả,

Cái đôn hậu nhân tình trong nét chạm chùa Keo.

(Thời sự hè 72, bình luận)

Hình ảnh của những bà mẹ, người chị, người vợ, những chàng áo vải,

những binh nhất, binh nhì mười tám tuổi đã đi vào thơ Chế Lan Viên với vẻ

đẹp chân chất, bình dị và thật đáng tự hào Cũng chính trong những nămtháng nước sôi lửa bỏng này, nhà thơ cảm nhận trọn vẹn hơn vai trò to lớn củanhân dân:

Nhân dân không có một thanh gươm vung một cái đến trời mây,

Nhưng họ gánh lịch sử đến nghìn lần lớn hơn đời họ.

(Thơ bổ sung)

Càng yêu Tổ quốc, càng nhận thức sâu sắc bản chất của kẻ thù vànhững nỗi đau thương dân tộc phải trải qua, những khát khao về cuộc sốngyên bình hạnh phúc, Chế Lan Viên đã sáng tạo nên những nhành hoa mát mắt

cho đời Đó là những hình ảnh bắt lòng ta nhớ mãi ở các bài thơ: Sông Cầu,

Hoa ngày thường, Đi trong chùa Hương, Mây của em, Lau mùa thu, Kỉ niệm

có gì,… Cuộc sống không chỉ đòi hỏi Chế Lan Viên suy ngẫm, triết lí, mà còn

giúp cho nhà thơ có được sự cảm xúc sâu lắng trước vẻ đẹp giản dị của đờisống hàng ngày qua những vần thơ viết về các loài hoa, về tình yêu đằm thắm

thiết tha và sự ngọt ngào của cuộc sống hạnh phúc gia đình qua các bài: Hoa

thảo hoa vàng, Rét đầu mùa nhớ người đi phía bể, Chia, Cảm ơn, Con đi sơ tán, Đặt tên con

Với tình cảm nồng nàn, trí tuệ sắc sảo và sự gắn bó sâu sắc với hiênthực đời sống chiến tranh, Chế Lan Viên đã sáng tạo được nhiều vần thơ xúc

Trang 26

động đậm đà chất trữ tình, hùng ca về vẻ đẹp tâm hồn, tính cách của dân tộcViệt Nam trong kháng chiến chống Mĩ

Trong giai đoạn này, ngoài sự trào dâng niềm vui trong thơ, Chế LanViên cũng có những tác phẩm văn xuôi đặc sắc và những bài phê bình sắc

sảo Những ngày nổi giận, tập bút kí của Chế Lan Viên được coi là một thành

tựu mới của phong trào sáng tác văn nghệ chống Mĩ, cứu nước Tác phẩmkhông chỉ thể hiện cuộc sống anh hùng của dân tộc ta mà còn là sự nhận thứccủa Chế Lan Viên về trọng trách của người cầm bút trong cuộc chiến đấu

chung của cả dân tộc Với ba tác phẩm phê bình là Nói chuyện thơ văn, Vào

nghề, Phê bình văn học, và Suy nghĩ và bình luận Chế Lan Viên đã thể hiện

một trí tuệ sắc sảo, tư duy phân tích, tổng hợp và sự đào sâu, phát hiện các

vấn đề của sáng tác văn học Đặc biệt trong cuốn Phê bình văn học, với mười

chín bài viết từ năm 1956 đến năm 1961, Chế Lan Viên đã cho người đọcthấy ở ông một phong cách riêng khó lẫn với nhiều cây bút phê bình, nghiêncứu và lý luận khác Phong cách của ông không chỉ thể hiện ở lối viết mà còn

là cách nhìn, cách suy nghĩ và giải quyết những vấn đề đặt ra Điểm nổi bậtcủa Chế Lan Viên trong phê bình văn học là đã nói thẳng những điều tìm tòi,khám phá, đúc kết của chính ông hơn là thông qua một số nguyên lí, nhậnđịnh rút ra từ những sách vở có sẵn

1.1.2.3 Từ sau 1975 đến khi qua đời

Về thơ, sau năm 1975, thơ Chế Lan Viên được in trong hai tập là Hái

theo mùa và Hoa trên đá Những khúc trữ tình không còn trẻ trung, nhưng sâu

lắng, tha thiết, thấm tận đáy lòng: “Tuổi năm mươi lòng yêu như lửa đỏ/ Màbên ngoài vẫn cứ trắng như không” Những năm cuối đời, khi hoàn cảnh sốnggặp không ít những khó khăn, nhưng Chế Lan Viên vẫn không ngừng sángtạo Mạch thơ về cuộc sống chống Mĩ vẫn tiếp tục vận động và phát triển vớitầm nhận thức cao hơn, tầm nhìn xa rộng hơn Mặt khác, cũng trong thời giannày, Chế Lan Viên trăn trở và suy ngẫm nhiều về cuộc sống đời thường, vềbản thân để khẳng định chiều sâu thẳm trong tâm hồn mình, tự tìm mình

Đặc biệt, nhiều bài thơ trong Di cảo, nhất là ở những bài thơ viết vào

khoảng thời gian 1987, 1988, người đọc nhận thấy sự giãi bày, tự vấn chântình của Chế Lan Viên Tuy chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn cuối đờinhưng đó là sự tiếp tục của một nhà thơ luôn ý thức được vai trò quan trọng

Trang 27

của nghệ thuật đối với cuộc sống và đó là quy luật muôn đời mà cuộc đời củaChế Lan Viên cũng không nằm ngoài quy luật đó

Cũng vì lẽ đó, “đã bao nhiêu năm anh hát giọng cao, giờ đây anh hátgiọng trầm” Đây không phải là sự đổi giọng đến bất ngờ như cảm nghĩ của

một số người khi đến với Di cảo thơ Sự tự nhận thức, nghiền ngẫm về bản

thân đã giúp cho Chế Lan Viên không rơi vào sự ảo tưởng Ông quan niệmmỗi câu thơ đều phải vượt lên mình:

Sau anh còn mênh mông nhân loại,

Đừng nghĩ mình là người đi cuối.

Phải để lại dấu chân, nhành cây, viên sỏi,

Cho người theo sau không cô đơn.

(Sau anh) Chế Lan Viên nghĩ nhiều về cái chết để đừng tuyệt vọng, để sống nhữngngày còn lại có ích cho mai sau Trong giai đoạn này, Chế Lan Viên cũng có một

số tác phẩm văn xuôi và phê bình xuất sắc Về văn xuôi, ông có: Bay theo

đường dân tộc đang bay, Giờ của số thành, Nàng tiên trên mặt đất Về phê bình,

ông có Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân và Ngoại vi thơ Đây là những

đóng góp quý báu vào lý luận thơ, không phải bằng ngôn ngữ lí thuyết tư biện,

mà bằng kiểu tư duy hình tượng và đầy chất thơ trong những tương quan vănhóa xa rộng Đó là kiểu phê bình “thơ trong thơ” độc đáo của Chế Lan Viên

1.2 Vị trí mảng phê bình, lý luận văn học trong văn nghiệp của Chế Lan Viên

Không chỉ nổi danh với những bài thơ tài hoa mà Chế Lan Viên cònđược biết đến với tư cách là nhà lý luận, phê bình sắc sảo Trong phê bình, lýluận lúc người ta bắt gặp Chế Lan Viên trao đổi về các tuyển tập thơ, về thể

kí, về sự đổi mới ngôn ngữ, về văn trong sách giáo khoa, về giảng văn trongnhà trường Lúc khác, người ta lại gặp Chế Lan Viên chân tình trao đổi kinhnghiệm sống và viết với các bạn làng văn Sài Gòn sau ngày miền Nam đượchoàn toàn giải phóng Rồi ông viết đề tựa cho sách lý luận nghiên cứu, chothơ các bạn trẻ Đọc lý luận phê bình của Chế Lan Viên, ta thấy rõ cái tiềmlực dồi dào của một trí tuệ năng động: luôn muốn xem xét, phân tích, muốnbàn bạc, trao đổi, muốn đưa ra những đề nghị, những giải pháp

Trong phê bình, lý luận phần đóng góp nổi bật hơn cả của Chế Lan Viên

là những ý kiến về sự đổi mới nội dung và hình thức thể hiện thơ; về sự ủng

Trang 28

hộ và cổ vũ các lực lượng thơ trẻ tìm tòi, khám phá Một phần quan trọngtrong mảng lý luận, phê bình của Chế Lan Viên nằm trong các bài viết củaông giới thiệu thành tựu của thơ văn Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế.Trong nhiều năm, Chế Lan Viên được biết đến như là sứ giả của văn hóa, vănnghệ Việt Nam Những bài viết của Chế Lan Viên đã đóng góp một phầntrong lịch sử nghiên cứu tiến trình của văn học Việt Nam đương đại Cùng vớiHoài Thanh, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên đem đến cho phêbình, lý luận văn học Việt Nam một phong cách: Phong cách nghệ sĩ.

Không chỉ đóng góp cho thơ, Chế Lan Viên còn là một nhà phê bìnhvăn học sắc sảo Mảng lý luận, phê bình văn học chiếm một phần khá quantrọng trong trước tác của ông và để lại dấu ấn sâu sắc nhờ sự phong phú của ýtưởng, sắc bén của lập luận và một bút pháp thông minh đầy cá tính Những

tập tiểu luận phê bình như Phê bình văn học, Suy nghĩ và bình luận đề cập

khá phong phú đến nhiều vấn đề lý luận thơ, phong trào thơ cùng với côngviệc làm thơ ở mọi góc độ tư tưởng, vốn sống và kĩ thuật sáng tác Trong phêbình, Chế Lan Viên có cái nhìn rộng để tổng kết, có tư duy phân tích, có sựnhạy cảm của người trong nghề và sự gắn bó sâu sát với mỗi bước đi của cảnền thơ để nêu lên những nhận xét sắc sảo

Tiểu luận - phê bình của Chế Lan Viên được tập hợp trong các tác

phẩm: Vào nghề, Nói chuyện thơ văn, Phê bình văn học,Suy nghĩ và bình

luận, Bay theo đường dân tộc đang bay, Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân, Ngoại vi thơ, ngoài ra còn có trong các bài giới thiệu, các bài “tựa” và

“bạt” cho một số tác giả mà ông am hiểu và quý trọng như Hàn Mặc Tử, BíchKhê, Yến Lan, Tế Hanh

Dưới đây, chúng tôi điểm qua những nội dung chính trong các tập tiểuluận - phê bình của Chế Lan Viên

1.2.1 Kinh nghiệm tổ chức sáng tác (Nxb Thép Mới, 1951)

Đây là tập thuyết trình của Chế Lan Viên về kinh nghiệm tổ chức sáng

tác Tập sách gồm ba phần:

- “Kinh nghiệm về việc đi tìm tài liệu”

- “Kinh nghiệm về việc ghi chép”

- “Kinh nghiệm về việc thực hiện tác phẩm”

Trang 29

Phần thứ nhất, về “Kinh nghiệm về việc đi tìm tài liệu”, Chế Lan Viên

đề cập tới “Quan trọng của vấn đề tìm tài liệu”, “Một vài nguyên tắc trongviệc tìm tài liệu” và “Những phương thức tìm tài liệu”

1 Trong phần “Quan trọng của vấn đề tìm tài liệu”, Chế Lan Viên tậptrung khẳng định yêu cầu thiết yếu: “Không đủ tài liệu không sáng tác được.Kinh nghiệm lâu nay chứng tỏ rằng những bạn văn nghệ có tác phẩm đều nhờ

đã chuẩn bị được tài liệu đầy đủ dồi dào” [99, 7]

2 Trong phần “Những nguyên tắc tìm tài liệu”, Chế Lan Viên nêu lên 4nguyên tắc tìm tài liệu:

Một là, phải định rõ mục đích bộ môn Vì có định rõ mục đích bộ môn

thì việc đi thực tế để tìm tài liệu phù hợp sẽ đạt được kết quả Song nghệ sĩcũng cần linh động, vì trong thực tế “nhiều trường hợp cuộc đi, hay nói chung

sự sống thay đổi cả mục đích và bộ môn ta đã định” Và theo nguyên tắc linhđộng, người nghệ sĩ cần ghi những cái chưa cần đến: “Để dành đó mai sau cóthể dùng đến trong một trường hợp cần thiết” [99, 14]

Hai là, phải hiểu rõ vấn đề về các phương diện chuyên môn, tổ chức.

Trước khi lấy tài liệu phải có sự tìm hiêu rõ vấn đề thì việc tìm tài liệu mớithu được kết quả

Ba là, phải định rõ kế hoạch chương trình Tức là xếp đặt thời gian

công việc: “Ta phải định điểm chính, điểm phụ, việc trước, việc sau”

Bốn là, phải áp dụng một phương pháp khoa học Vấn đề nào cũng có tình

trạng chủ quan và điều kiện khách quan Nên “áp dụng một phương pháp khoahọc để hiểu hết tình trạng chủ quan và những điều kiện khách quan đã quyếtđịnh nó” Ông khuyên “nên tìm tài liệu và hiểu tài liệu về bốn phương diện sau:

a Về hoàn cảnh và những vấn đề tương quan với nó

b Trong thể động và quá trình của nó

c Về những trường hợp biến thể của nó

d Về những mâu thuẫn chất chứa trong lòng nó” [99, 17]

3 Về “phương thức tìm tài liệu”, theo Chế Lan Viên có thể thực hiệntheo các phương thức: Đọc tài liệu ở cơ quan đoàn thể hay của tư nhân; Dựcác buổi công khai, các phiên tòa; Tham gia các hội nghị; Hỏi chuyện

Trang 30

Nhưng dù có thực hiện các phương thức trên thì “phương thức hay nhấtvẫn là bản thân ta đến nơi để "sống" nhân vật, phong trào Khi "sống" như vậycần chú ý nhiều đến sự việc và phối hợp chặt chẽ với khách quan”.

Phần thứ hai, về “kinh nghiệm ghi chép”, Chế Lan Viên trình bày hai

mục: “Quan trọng của việc ghi chép”, “Một vài kinh nghiệm ghi chép”

1 Về tầm “quan trọng của việc ghi chép”, ông cho rằng: “để tài liệuphục vụ cho sáng tác không bị thất lạc, cần phải ghi chép Vì ghi chép là đểnhớ, và nhớ đúng sự thật” [99, 48] Đồng thời, ông cũng cho rằng ghi chép

“huấn luyện cho ta nhận xét, suy nghĩ và có thể làm tài liệu cho người kháckhi cần dùng” [99, 50]

2 Về “một vài kinh nghiệm ghi chép”, tác giả nêu lên năm kinh nghiệmcủa mình:

Một là, chú ý ghi chép chi tiết vì “chi tiết là phương tiện để ta cụ thể

hóa sự việc” [99, 51], “càng có chi tiết dồi dào càng dễ cho trí tưởng tượng”[99, 53] Chế Lan Viên khuyên nhà văn chú ý tới các điểm sau trong khi ghichép chi tiết: “tìm các chi tiết tiêu biểu” [99, 53]; “không nên lệch về một giácquan hay một cảm giác nào” [99, 54]

Hai là, chú ý ghi chép ngôn ngữ, vì ngôn ngữ là phương tiện để “dân

tộc hóa tác phẩm, đại chúng hóa tác phẩm” [99, 55]

Ba là, nên ghi chép theo lối lấy note Vì như vậy sẽ ghi được “đầy đủ

chi lí sự việc diễn ra trước mắt” [99, 57]

Bốn là, phối hợp ghi tại trận và ghi thường ngày Hai cách ghi chép này

hỗ trợ, bổ sung cho nhau, Vì có những sự việc không cho phép ghi tại trận thìkhi về, bằng trí nhớ phải ghi lại, hoặc lúc nào chợt nhớ đến cũng phải ghi lại;

và “hàng ngay phải xem lại để bổ khuyết các sự thiếu sót trong lúc ghi vội tạitrận” [99, 59-60]

Năm là, phân loại khi ghi chép, có hai cái lợi: phân loại cụ thể thì “việc

ghi chép mới thu được nhiều kết quả” [99, 61], và “khi nghiên cứu cũng tàiliệu dễ dàng, xây dựng điển hình dễ dàng” [99, 62]

Phần thứ ba, về “kinh nghiệm thực hiện tác phẩm”, Chế Lan Viên trình

bày ba mục:

1 “Kinh nghiệm sử dụng tài liệu và phương pháp làm việc”: Theo ông,với tài liệu đã có nhà văn phải “nghiên cứu các tài liệu”, chọn lựa và sử dụng

Trang 31

hợp lí chúng Ông khuyên nhà văn có thể “dùng y như thật, nhưng có thể phảisửa chữa, thêm bớt, hoặc biến hóa nó đi” [99, 67]; “không nên tham lam và nô

lệ tài liệu” [99, 69] mà cần “sử dụng tài liệu để điển hình hóa sự việc” [99, 71]

và phải biết “sống trong tài liệu” [99, 76] Ông cũng khuyên nhà văn trong khisáng tác “không ỷ lại vào cảm hứng” [99, 79]và cần “nghỉ ngơi đúng lúc vàđúng cách” [99, 81]

2 Về “vấn đề kỹ thuật”, ông khuyên người viết phải chú ý đến việc lựachọn một kỹ thuật xứng đáng để biểu hiện nội dung Nhưng kỹ thuật không điđôi với chất và số lượng của tài liệu; cần sử dụng kỹ thuật phù hợp với thóiquen và trình độ thưởng thức của quần chúng Cần trau dồi kỹ thuật trên quanđiểm của nhân dân, và khi tác phẩm đã viết xong phải sửa chữa để hoàn thiệntác phẩm

3 Về “sáng tác tập thể”, tức là sáng tác nhiều người, Chế Lan Viênkhẳng định, đây là phương pháp sáng tác mới, nhưng là phương pháp có hiệuquả, nhất là với những người còn bỡ ngỡ

1.2.2 Nói chuyện văn thơ (Nxb Văn học, 1960)

Đây là tập sách tập hợp những mẩu nói chuyện của Chàng Văn với bạnđọc về văn học, gồm bảy vấn đề: “Lập trường tư tưởng, tình cảm”; “Vốn sốngthực tế”; “Học tập, nghiên cứu, thưởng thức”; “Về năng khiếu, khả năng, cátính”; “Về đề tài và cách thể hiện đề tài”; “Về phương pháp làm việc”; “Hìnhthức thể tài”

- Về “Lập trường tư tưởng, tình cảm”, Chế Lan Viên khẳng định, đây làyêu cầu “then chốt”, “đầu tiên” đối với mỗi nhà văn, nhà thơ trong sáng tác

Vì nếu không có lập trường dễ dẫn đến lệch lạc, ba phải, thiếu công bằng,thậm chí phá hoại Đồng thời phải luôn bồi đắp tình cảm dồi dào lành mạnhcủa giai cấp công nhân

- Về “Vốn sống thực tế”, Chế Lan Viên cho rằng, muốn viết văn thì

người nghệ sĩ phải “bước vào đời sống đời sống thực” vì “sống là cái bột cho

ta gột nên hồ”; có sống mới có tư tưởng phong phú; sống là cả một quá trìnhnên trong khi sống phải kết hợp với điều tra, nghiên cứu, nhận xét; thực hiệnphương pháp sống khoa học; khi sống phải đi vào tư tưởng tâm hồn và tìm cáisống dồi dào ngay ở chỗ khô khan

Trang 32

- Về “Học tập, nghiên cứu, thưởng thức”, Chế Lan Viên quan niệm,người nghệ sĩ phải không ngừng học tập, học trong nước, học bạn bè đồngnghiệp; tiếp thu vốn văn hóa nước ngoài; học văn học truyên thống; học tâm lí

ở trong cuộc sống và kết hợp vừa sống, vừa học, vừa viết có như vậy thì khiviết mới dễ dàng

- “Về năng khiếu, khả năng, cá tính”, Chế Lan Viên yêu cầu, nhà vănphải là người vừa hồng (giỏi về chính trị), chuyên (giỏi về văn) và bác (biếtrộng ra các môn khác) Quá trình viết là sự vận dụng tổng hợp các yếu tố: lítrí, tình cảm, năng khiếu đồng thời định hình cá tính riêng, làm nên cái độcđáo của riêng mình Muốn viết văn rất cần đến năng khiếu, nhưng không nên

ỷ lại, cậy tài dẫn đến tình trạng “nhiều nhà văn có khiếu lúc đầu, về sau chỉcòn có tên mà không có khiếu nữa” [99, 55]

- “Về đề tài và cách thể hiện đề tài”, ông thừa nhận, trong thực tế có

trất nhiều đề tài: kháng chiến, thiếu nhi, thần thoại, tư sản, tình yêu, giáodục đề tài nào cũng hay và quý Do vậy nhà văn phải lựa chọn sao cho phùhợp với khả năng, với tư tưởng, tình cảm, vốn sống, vốn tư liệu và cách nhìnnhận để thẻ hiện tốt nhất

- “Về phương pháp làm việc”, ông tin rằng, muốn sáng tác được nhà

văn “phải chuẩn bị rất lâu, từ trước lúc viết như thế ‘kịp thời’ sẽ hóa ‘lâu dài’

Sự chuẩn bị của nhà văn là ghi chép tìm tài liệu Khi đã có sự chuẩn bị kỹlưỡng thì bắt tay vào viết, nên “viết một hơi” sau đó đọc lại và “sửa nhiềulần” Mỗi người có một năng nổi trội, do vậy nên chọn ưu thế của mình đểsáng tác đạt hiệu quả

- Về “hình thức thể tài”, Chế Lan Viên chủ trương: nội dung là yếu tốquyết dịnh hình thức Do vậy nhà văn phải xác định nội dung trước, sau đóchọn hình thức thể hiện phù hợp

1.2.3 Phê bình văn học (Nxb Văn học, 1962)

Đúng như tên gọi của tập sách, đây là tập phê bình văn học đầu tiên củaChế Lan Viên, gồm 19 bài viết Trong tập này, Chế Lan Viên đánh giá cácvấn đề văn học nổi bật diễn ra từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1960.Qua khảo sát chúng tôi chia thành các nội dung sau:

1.2.3.1 Các bài viết thể hiện quan điểm của Chế Lan Viên về nghề văn

Trang 33

Chế Lan Viên là người luôn trăn trở về nghề văn Trong mối quan hệgiữa sống và viết, ông đề cao vai trò của sống và thể hiện bằng so sánh rấthình ảnh: “vấn đề ĐẤT đặt ra trước vấn đề HOA HỒNG Vấn đề sống đặt ratrước vấn đề nghệ thuật, tác phẩm” Chế Lan Viên trình bày quan điểm củamình về sống như sau: Sống trong quần chúng và sống cùng quần chúng Đểviết được theo Chế Lan Viên phải “sống trước đã”.

Cùng với sống, theo ông, nhà văn phải có sự chân thành: “Chân thành

là một quá trình tranh đấu, trong ấy cái mới, cái tiến bộ của ta và tập thể đạplên cái cũ, cái xấu mà đi”

1.2.3.2 Các bài phê bình thơ

Các bài phê bình thơ chiếm một nửa tập sách Chế Lan Viên đánh giá

về thơ của tác giả trong quá khứ như: Nguyễn Du; các nhà thơ ưu tú của nềnthơ Cách mạng (Huy Cận, Tế Hanh); các nhà thơ trẻ; phong trào thơ; thơ caquần chúng,v.v Dù là đánh giá về tác giả nào hay vấn đề gì, Chế Lan Viênđều xuất phát từ quan điểm vì sự phát triển của văn nghệ mà nêu lên, cổ vũnhững thành tựu và chân thành chỉ ra những tồn tại hạn chế

1.2.3.3 Đối thoại với nhóm dân chúng miền Nam

Trong hoàn cảnh đất nước còn chia cắt, một bộ phận văn nghệ miềnNam dưới sự kiểm soát của chính quyền Ngụy luôn chống phá Cách mạng vàphong trào văn nghệ Cách mạng Chế Lan Viên lên tiếng phản bác nhữngluận điệu xuyên tạc của kẻ thù, chỉ rõ bản chất dã thú của kẻ xâm lược

Trang 34

sống mãnh liệt và sống lâu dài mới giúp cho nghệ sĩ có được vốn sống, vốn

tư liệu quý giá để sáng tác

1.2.4.2 Về thể loại truyện

Là một nhà thơ, nhưng trả lời các câu hỏi về truyện, Chế Lan Viên tỏ ra

là người rất am hiểu về nghệ thuật viết thể loại này Với 25 bài viết, Chế LanViên đi sâu vào kỹ thuật, nghệ thuật viết truyện: cốt truyện, vấn đề, nhânvật, giúp bạn đọc có thêm nhiều tri thức về thể loại

1.2.4.3 Về các thể phóng sự, bút kí,

Mục này có bảy bài viết, trong đó, Chế Lan Viên giúp bạn đọc phânbiệt các thể loại: phóng sự, kí sự, bút kí, hồi kí và nhật kí Ông nêu yêu cầuđối với người viết là phải xác định rõ chủ đề để bài viết không tản mạn, sángtạo trong phóng sự là phải biết chọn lọc, khi viết phải đi sâu vào tâm tình, tưtưởng để bài viết có tác dụng

1.2.4.4 Về thể loại thơ

Với 29 bài viết, Chế Lan Viên bàn sâu với bạn đọc về thơ Chế Lan Viênnêu kinh nghiệm: phải thấy cái tứ toàn bài trước khi viết, phải hiểu rõ năngkhiếu của mình, phải có xúc cảm và thành thực, quen và thuộc các quy luật củathơ để làm chủ nó; nên tăng cường chất tưởng tượng trong thơ, trên cơ sở

“chân” cần có “ảo”, thơ cần có nhiểu phong cách Ông khuyên các bạn yêuthơ nên sáng tác những bài thơ làm cho cuộc sống đáng yêu hơn, vui tươi hơn

1.2.5 Suy nghĩ và bình luận (Nxb Văn học, 1971)

Tập này gồm hai mươi bài viết, trong đó, Chế Lan Viên đề cập đếnnhiều vấn đề khác nhau về văn học như bàn về vai trò của thơ ca trong thờiđại Cách mạng trên các diễn đàn văn học trong nước và quốc tế, tìm hiểu thơ

ca của cha ông, đánh giá về thơ của các nhà thơ Việt Nam hiện đại, bàn vềngôn ngữ và việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

1.2.5.1 Nhiều năm liền trên các diễn đàn văn học trong nước và quốc tế, ChếLan Viên đại diện cho văn nghệ sĩ Việt Nam có những bài phát biểu quantrọng, gây được ấn tượng mạnh mẽ với bạn bè trong nước và quốc tế Nhất làtrong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước các bài phát biểu: “Thơ ởnước chúng tôi đang đánh Mỹ” (Tham luận tại cuộc họp bàn tròn quốc tế vềThơ, tại Giê-oóc-gi, Liên Xô), “Nghĩ về Đông Ki-Sốt” (Phát biểu tại lễ kỉniệm 350 năm ngày mất Xéc-văng-téc, 1547-1616, tổ chức ở Nhà hát Bôn-sôi,

Trang 35

Mạc-tư-khoa năm 1966), “Nền văn hóa từ cuộc sống” (Bài phát biểu tại buổikhai mạc “Ngày trí thức Pháp ủng hộ Việt Nam” ở Pa -ri), Chế Lan Viên trìnhbày quan điểm của mình về vai trò của thơ ca đối với đời sống con người: “ỞViệt Nam chúng tôi, thơ ca không thể tách rời cuộc sống con người Thơ cacần thiết, như mặt trời cần thiết, cần thiết ánh sáng, cần thiết hoa lá, vũ khí”.Trong những năm tháng chống Mỹ ác liệt, thơ ca Việt Nam đã thực hiện sứmệnh cao cả, cổ vũ tinh thần yêu nước, đốt cháy ngọn lửa căm thù giặc, ChếLan Viên giới thiệu thơ ca, văn hóa Việt Nam với bạn bè quốc tế; vạch trầnbản chất xâm lược, hủy diệt của kẻ thù Các bài phát biểu của Chế Lan Viên

đã kêu gọi được sự ủng hộ của bạn bề quốc tế, nhiều nhà văn, nhà thơ đã lêntiếng phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam; và các bài phát biểu củaông được đăng tải trên các tạp chí có uy tín ở nước ngoài

1.2.5.2 Chế Lan Viên viết “Tựa tuyển tập Thơ ba năm chống Mỹ” giới thiệu với bạn đọc những thành tựu bước đầu của thơ ca chống Mỹ Thơ ca phản ánh

kịp thời cuộc sống, chiến đấu của nhân dân trên cả hai miền “Chúng ta đãlàm ra thơ chống Mỹ thời ta, phục vụ lấy thời ta, một thứ văn học có tình cảm,

có tư tưởng, có hình tượng” [103, 149]

Với Tố Hữu, nhà thơ xuất sắc của nền thơ cách mạng Việt Nam, Chế LanViên có hai bài phê bình thơ Tố Hữu: “Thơ Tố Hữu”, “Tổ quốc Việt Nam, conngười Việt Nam trong thơ Tố Hữu” Nhìn chung Chế Lan Viên đánh giá caonhững thành tựu thơ Tố Hữu: là người mở đầu, dẫn đầu cho nền thơ cách mạng.Với giọng tâm tình, ngọt ngào; hồn thơ dạt dào lí tưởng; nội dung thơ bám sátcuộc sống hiện thực vì thế thơ Tố Hữu được nhiều người yêu thích

Chế Lan Viên có bài nhận xét, góp ý về việc lựa chọn thơ đưa vào sáchgiáo khoa, ông thẳng thắn nêu lên những hạn chế Vì theo ông chọn thơ chođưa vào sách cho học sinh học phải là những tác phẩm tốt nhất, ưu tú nhất

Chế Lan Viên trở về với văn học quá khứ để “tìm hiểu cái mới của người

xưa”, sau khi ông đọc Hợp tuyển thơ văn Việt Nam Với tinh thần “Tìm hiểu để

kế thừa Tìm hiểu để phê phán Tìm hiểu để bồi dưỡng cho sáng tác Tìm hiểu đểxây dựng cho lý luận, phê bình, nhưng trước tiên là tìm hiểu cái đã” [103, 53],Chế Lan Viên trân trọng di sản văn học mà ông cha để lại vì đó “cũng là tinh hoacủa nhân loại, mà lại là cái nhân loại gần gũi nhất, sinh trưởng ngay trên đất đaicủa chính chúng ta, nhân loại Việt Nam” [103, 54] Chính di sản văn học cha

Trang 36

ông chúng ta đã đặt nền móng cho văn học hôm nay cả về mặt lý luận sáng tác:hiện thực, nhân vật, đối tượng miêu tả trong thơ , tạo được nhiều phong cáchmới lạ “Cha ông là những người quen luôn luôn mới lạ với chúng ta”.

Viết lời tựa cho các tập thơ: Sức mới, Từ nhà máy đến chiến hào, Nhân

dân tuyến lửa, Chế Lan Viên với vai trò là người giới thiệu, nhận xét khách

quan thành tựu, và hạn chế của mỗi tập thơ Chẳng hạn,với tập Sức mới, về

thành tựu ông phấn khỏi nhận xét: “Điều đáng yêu nhất của tập thơ này là nónồng ấm cái hơi thở của cuộc sống, của cuộc sống xã hội chủ nghĩa trên miền

Bắc nước ta” [103, 89] Ông yêu cầu Đốt cháy hơn nữa ngọn lửa lí tưởng

trong thơ các bạn trẻ Tập Từ nhà máy đến chiến hào là tiếng nói của những

người thợ, đó là những vần thơ ra đời từ các nhà máy, từ các phân xưởng, chothấy sự gắn bó với nghề của những người công nhân đang góp phần xây dựng

chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Nhân dân tuyến lửa là tập thơ “của những người

không cốt làm thơ”, nhưng đó là những vần thơ “ngồn ngộn, phong phú sựsống” và đó chính là điểm nổi bật của tập thơ

1.2.5.3.Hình tượng Hồ Chủ tịch là một thành công trong thơ Chế Lan Viên

Với bài tiểu luận Sen của loài người, Chế Lan Viên khẳng định sự đa dạng

trong bút pháp Bài viết không dài nhưng Chế Lan Viên giúp người đọc hiểuthêm về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Bác, đặc biệt ở phương diệnvăn hóa Bác của chúng ta là một thiên tài lỗi lạc nhưng trước Bác ta cảm thấygần gũi và như được lớn thêm lên Bài viết là những xúc cảm của Chế LanViên về Bác, nhưng đó là tiếng nói đại diện cho tình cảm của nhân dân ViệtNam với vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu của dân tộc

1.2.5.4 Chế Lan Viên còn bàn đến vai trò của ngôn ngữ qua hai bài:

“Làm cho tiếng nói trong sáng, giàu và phát triển”; “Ngôn ngữ của quần

chúng và của nhà văn” Đây là vấn đề được Đảng, Nhà nước và Bác Hồ rất

quan tâm Chế Lan Viên bày tỏ quan điểm của mình về việc giữ gìn sự trongsáng của tiếng Việt: “Giữ gìn sự trong sáng của từ vụng, của hệ thống ngữpháp dân tộc” Nhưng phải kết hợp với việc “làm giàu thêm cho ta nhiều từvựng mới, nhiều quy luật mới về ngữ pháp mà thời đại đem đến cho ta” Hay đóchính là sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa ngôn ngữ của nhân loại Nhà văn trongquá trình sáng tác phải “chịu khó nhặt, chịu khó tìm những ý rất hay, những chữrất hay mà quần chúng cho ta” Nhà văn có nhiệm vụ sáng tạo ngôn ngữ Từ vốn

Trang 37

ngôn ngữ chung của dân tộc, nhà văn phải “mang đến cách nói riêng của mình”

và lại trở thành sản phẩm chung của mọi người Như vậy ngôn ngữ được bảo tồn

sự trong sáng mà ngày càng trở nên giàu có, phong phú

1.2.6 Bay theo đường dân tộc đang bay (Nxb Văn học, 1976)

Tập sách có 25 bài viết từ năm 1963 đến năm 1976 Nội dung của tậptiểu luận- phê bình này rất phong phú Trong đó có sáu bài tham luận phátbiểu tại các diễn đàn văn học trong nước và quốc tế, hai bài tham luận trìnhbày trước Quốc hội Phần lớn là những bài tiểu luận - phê bình về văn học vàcác vấn đề có liên quan: quan hệ giữa thơ và các ngành nghệ thuật khác:

(tuồng, múa rối); lý luận về thơ xã hội chủ nghĩa, Nghĩ nghề nghĩ về

thơ nghĩ; phê bình thơ của Tố Hữu, tìm hiểu thơ Bác; lên án cuộc chiến tranh

của đế quốc Mỹ ở Việt Nam

Với cương vị đại biểu Quốc hội, Chế Lan Viên có những bài phát biểu

về văn học trước Quốc hội Ở các bài phát biểu này ông thể hiện sự nhận thứcsâu sắc về vai trò của văn học đối với đời sống "văn nghệ đã thành một thức

ăn tinh thần góp phần nuôi dưỡng dân tộc" [115, 401] Và thẳng thắn chỉ ranhững thiếu sót của ngành văn nghệ như: "tính lý tưởng chưa cao, tính hiệnthực cũng mỏng manh, non yếu " [115, 402]

Với các bạn văn nghệ sĩ miền Nam, Chế Lan Viên luôn dành nhữngtình cảm thân yêu nhất Đến với các đồng nghiệp miền Nam ngay sau ngàyđất nước thống nhất, Chế Lan Viên chia sẻ những khó khăn mà văn nghệ sĩmiền Nam gặp phải: "Nhiệm vụ của chúng ta, của các bạn là giải quyết choxong cái đống ác rưởi mà địch để lại cho ta ấy Không dễ dàng gì quét mộtnhát chổi hay cho nó một mồi lửa là xong Nó là đống rác tinh thần, thuốc độctinh thần" Tiếp theo Chế Lan Viên nêu biện pháp khắc phục: "Đi đôi vớiviệc lên án nó, phải có nhiều tác phẩm của chúng ta, và chỉ có tác phẩm haythì mới giải quyết được"[115, 265]

Luôn trăn trở với những vấn đề lý luận về nghề, trong tập sách này,Chế Lan Viên dành nhiều bài viết bàn luận về lý luận thơ, về văn học: "Có lúcphải nói thực, và có lúc phải nói hư Có khi nói thẳng, mà có khi nói quangcũng rất cần thiết" [115, 323] Chế Lan Viên nói đến lao động trong thơ:

"Trong thơ có cảm hứng, nhưng trong thơ có lao động, cật lực, đổ mồ hôi, sứclực ra mà lao động" [115, 327]

Trang 38

Trong tập tiểu luận – phê bình này, Chế Lan Viên dành hai bài viết về

thơ của Bác là Thử phân tích một bài thơ bốn câu của Bác, và bài Bỗng nghe

vần "Thắng" vút lên cao Với bài Thử phân tích một bài thơ bốn câu của Bác,Chế Lan Viên phân tích cụ thể nội dung tư tưởng của bài Tức cảnh Pắc –

Bó Giúp bạn đọc cảm nhận rõ hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những

ngày đầu về nước, chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam Bài Bỗng nghe

vần "Thắng" vút lên cao, Chế Lan Viên tìm hiểu những bài thơ chúc tết của

Bác Đó là nét đẹp văn hóa của người Việt Nam mà Bác luôn trân trọng, gìngiữ Nhưng không chỉ là thơ chúc tết, mà những vần thơ xuân của Bác có ýnghĩa động viên, hiệu triệu tinh thần của toàn quân, toàn dân ta trong cuộckháng chiến chống Mỹ cứu nước

Đây là tập tiểu luận – phê bình văn học thể hiện rõ nét phong cách phêbình của Chế Lan Viên: trí tuệ, sắc sảo, sôi nổi và đậm chất trữ tình chính luận

1.2.7 Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân (Nxb Tác phẩm mới, 1981)

Đây là tập tùy bút - tiểu luận, gồm mười sáu bài viết, nội dung đề cậpđến nhiều phương diện khác nhau của văn hóa và văn học Đó là những bài viếtgiàu cảm xúc, mà nổi bật là cảm xúc vui sướng bởi sự thống nhất của Tổ quốc.Sau ngày đất nước thống nhất, tại Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 3-8-1976,Chế Lan Viên có bài nói chuyện với anh chị em văn nghệ sĩ Sài Gòn, dự lớpnghiên cứu chính trị và văn nghệ khóa II Chế Lan Viên đã đến với anh chị

em văn nghệ sĩ Sài Gòn bằng tình cảm thân tình Ông tâm sự về hành trìnhđến với Cách mạng, và sự chuyển biến trong thơ của mình Chế Lan Viên nói

về Đảng bằng lòng biết ơn Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi như

tên một bài viết của ông Chế Lan Viên phân tích thành tựu, sự thắng lợi củacách mạng nói chung và nền văn học cách mạng nói riêng; về vai trò của nhàthơ, của thơ ca, công việc sáng tác trong thời đại cách mạng Ông nói để anhchị em nghệ sĩ Sài Gòn hiểu hơn về Đảng, về nhiệm vụ của văn học trong tìnhhình mới Đó là nội dung và mục đích các bài nói chuyện của Chế Lan Viên

Tổ quốc - mùa xuân là đề tài được Chế Lan Viên dành nhiều bài viết.Nói về mùa xuân, vẻ đẹp, niềm vui, sức sống, mà mùa xuân mang lại,nhưng Chế Lan Viên luôn đặt mùa xuân song hành cùng Tổ quốc, nên nộidung không đơn giản, một chiều Nói về mùa xuân là để nói về con người, về

Trang 39

trách nhiệm của mỗi người trước lịch sử, dân tộc, để đất nước mãi mãi lànhững mùa xuân.

Luôn trăn trở về nghề, ở tập phê bình - tiểu luận nào Chế Lan Viêncũng có những bài viết bày tỏ quan điểm về nghề văn Trong tập sách này,Chế Lan Viên đề cập đến mối quan hệ giữa thơ và phê bình, số lượng và chấtlượng, công việc bình thơ, giảng thơ trong nhà trường Ở mỗi bài Chế LanViên trình nêu những yêu cầu, trình bày những kinh nghiệm thiết thực cho cáchoạt động này

Trong tập sách này, Chế Lan Viên có hai bài viết về văn hóa: “Qua tiếng

hát Mèo”, “Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân” “Qua tiếng hát Mèo” là bài

viết thể hiện sự am hiểu sâu sắc văn hóa của người Mèo Bài viết có bốn phần:Tiếng hát Mèo giữa dàn đồng ca dân tộc, Thơ Mèo nói bản sắc Mèo, Xã hộiMèo xưa, tâm hồn và tiếng hát Mèo Thông qua bài viết, Chế Lan Viên giớithiệu đến bạn đọc những nét đặc sắc của văn hóa, văn học Mèo Đó là những bảnsắc dân tộc vô cùng quý giá trong cộng đồng 54 dân tộc anh em

Khai thác phương diện văn hóa, văn học của ông cha, Chế Lan Viên trởlai với lịch sử, giúp bạn đọc thấy được công sức của ông cha ta trong quátrình dựng nước và giữ nước, đặc biệt là việc bảo tồn di sản văn hóa, văn học.Trải qua một nghìn năm Bắc thuộc, và những cuộc chiến tranh liên miên,những di sản mà hôm nay chúng ta có được là nhờ xương máu của biết baothế hệ đã đổ xuống Văn hóa, văn học nhưng tựu chung lại là con người, vìcon người Do vậy có “gác vì văn” thì cùng cần “có quán vì người” Đó là nétnhân văn, văn hóa của người Việt mà thế hệ hôm nay và mai sau cần tiếp tụctìm hiểu, bảo tồn, phát huy

Chế Lan Viên còn có hai bài phát biểu Bài “Con người làm chủ, làm

chủ con người” là bài phát biểu tại diễn đàn của Quốc hội, Chế Lan Viên nó vềviệc “xây dựng một nền văn hóa mới, con người mới”; bài “Pơ-Rem-Chân-Đơ,Văn hóa, Hòa bình” là bài phát biểu tại Hội nghị quốc tế kỉ niệm 100 nămsinh Pơ-Rem-Chân-Đơ Chế Lan Viên đánh giá cao sự đóng góp vĩ đại củaPơ-Rem-Chân-Đơ về văn học Trong bối cảnh bọn bành trướng Trung Quốcđang gây chiến tranh ở biên giới phía Bắc, Chế Lan Viên lên án hành độngnày của bọn bành trướng Trung Quốc và đồng minh can thiệp Mỹ, thông qua

Trang 40

đó kêu goi sự ủng hộ của các nhà văn tham dự Hội nghị và nhân dân yêuchuộng hòa bình trên thế giới.

1.2.8 Ngoại vi thơ (Nxb Thuận Hóa, 1987)

Là tập tiểu luận - tạp văn, có 21 bài viết, chia làm ba phần Chế Lan Viên

dành phần thứ nhất với 12/21 bài để giới thiệu, phê bình về thơ: “Thơ và Cách

mạng”; “Thơ và tù ngục”; “Giao thông vận tải và thơ”; “Thơ với hòa bình”;

“Thơ và tình bạn”; giới thiệu những vần thơ Tố Hữu viết về quê hương; và

những bài viết về thơ của những người bạn thơ thân thiết, đáng kính Ở mỗiđối tượng được giới thiệu đều có những phát hiện tinh tế về nét đặc sắc, độcđáo Đó là tập thơ của các chiến sĩ cách mạng viết trong nhà tù Côn Đảo; lànhững bài thơ viết về ngành giao thông vận tải Đặc biệt Chế Lan Viên cónhững bài viết giới thiệu thơ của các tác giả mà ông yêu quý: Xuân Hoàng,

Trần Nhật Thu, Hoàng Tố Nguyên, Yến Lan và bài Vĩnh biệt Xuân Diệu.

Phần thứ hai và thứ ba Chế Lan Viên bàn về “Ngoại vi thơ” như đúngnhan đề của cuốn tiểu luận - tạp văn này Một đề tài thành công cả trong thơ vàvăn xuôi của Chế Lan Viên là hình tượng Hồ Chủ tịch, trong tập này một lần

nữa điều đó được khẳng định với bài Trời cao xanh ngắt sáng Tuyên ngôn Chế

Lan Viên viết hồi kí về Đoàn Nghệ thuật Xây dựng (Huế 1946) với nhiều kỉniệm sâu sắc, xúc động về những người anh, người bạn, người đồng chí thânthiết

Chế Lan Viên là nhà thơ, nhà văn hóa có trách nhiệm cao với nghề.Những biến động của đời sống, sự ảnh hưởng của văn hóa nước ngoài vàoViệt Nam sau ngày đất nước thống nhất là điều ông luôn trăn trở Với bài viết

“Văn hóa thực dân mới chết hay chưa chết”, Chế Lan Viên giúp người đọc

nhận thức được những âm mưu đầu độc văn hóa của chế độ thực dân mới

Những năm tám mươi của thế kỉ XX, sự biến đổi trong đời sống vănhóa, văn học diễn ra trên phạm vi toàn cầu Việt Nam chúng ta cũng khôngnằm ngoài sự biến đổi ấy Chế Lan Viên là một trong những người sớm nhận

ra sự thay đổi này Tham dự cuộc gặp gỡ Quốc tế các nhà văn ở Sofia vàotháng 11 năm 1984, Chế Lan Viên có những bài tham luận được bạn bè quốc

tế đánh giá cao Các bài tham luận này được ông đưa vào phần ba của tập

sách: “Bên lề cuộc gặp gỡ Quốc tế các nhà văn”, “Văn chương tuyệt vọng hay

Ngày đăng: 27/12/2013, 20:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoài Anh (1995), “Chế Lan Viên một bản lĩnh, một tâm hồn thơ phong phú, đa dạng, bí ẩn”, Văn học, (41) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên một bản lĩnh, một tâm hồn thơ phongphú, đa dạng, bí ẩn”, "Văn học
Tác giả: Hoài Anh
Năm: 1995
2. Vũ Tuấn Anh (1979), Văn học Việt Nam chống Mĩ cứu nước, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam chống Mĩ cứu nước
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoahọc Xã hội
Năm: 1979
3. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại, nhận thức và thẩm định, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại, nhận thức và thẩmđịnh
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2001
4. Vũ Tuấn Anh (2001), Chế Lan Viên - Tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên - Tác gia và tác phẩm
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 2001
5. Vũ Tuấn Anh (2009), Chế Lan Viên - Tác phẩm chọn lọc, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên - Tác phẩm chọn lọc
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 2009
6. Lại Nguyên Ân (1987), Văn học và Phê bình, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và Phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1987
7. Lại Nguyên Ân (1997), Sống với văn học cùng thời, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: ống với văn học cùng thời
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1997
8. Huy Cận (1989), “Chế Lan Viên thi sĩ trên mặt trận tư tưởng”, Báo Nhân dân, (23/6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên thi sĩ trên mặt trận tư tưởng”, "BáoNhân dân
Tác giả: Huy Cận
Năm: 1989
9. Hoàng Minh Châu (1999). Nghĩ về nghề, ghi về bạn, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ về nghề, ghi về bạn
Tác giả: Hoàng Minh Châu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
10. Lê Đình Cúc (1991), “Lại bàn về phê bình văn học”, Văn học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lại bàn về phê bình văn học”," Văn học
Tác giả: Lê Đình Cúc
Năm: 1991
11. Hoàng Diệp (1991), Chế Lan Viên, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên
Tác giả: Hoàng Diệp
Năm: 1991
12. Xuân Diệu (1958), Những bước đường tư tưởng của tôi, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bước đường tư tưởng của tôi
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1958
13. Xuân Diệu (1960), Phê bình giới thiệu thơ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình giới thiệu thơ
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1960
14. Xuân Diệu (1984), Công việc làm thơ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công việc làm thơ
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1984
15. Phạm Tiến Duật (2003), Vừa làm vừa nghĩ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vừa làm vừa nghĩ
Tác giả: Phạm Tiến Duật
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2003
16. Đặng Anh Đào (1991), “Hai bí quyết của phê bình văn học”, Văn học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hai bí quyết của phê bình văn học”, "Văn học
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 1991
17. Phan Cự Đệ - Hà Minh Đức (1979), Nhà văn Việt Nam (1945-1975), tập 1, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Việt Nam (1945-1975)
Tác giả: Phan Cự Đệ - Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1979
18. Phan Cự Đệ - Trần Đình Hượu - Nguyễn Trác - Nguyễn Hoành khung - Lê Chí Dũng - Hà Văn Đức (2003), Văn học Việt Nam (1900-1945), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1900-1945)
Tác giả: Phan Cự Đệ - Trần Đình Hượu - Nguyễn Trác - Nguyễn Hoành khung - Lê Chí Dũng - Hà Văn Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
20. Hà Minh Đức (chủ biên, 1995), Tổng tập văn học Việt Nam, tập 27, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
21. Hà Minh Đức (1997), “Chế Lan Viên” - Khảo luận văn chương, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế Lan Viên”" - Khảo luận văn chương
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NxbKhoa học Xã hội
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w