Vì vậy, việcnghiên cứu đời sống văn hóa của các dân tộc, trong đó có đời sống văn hóa củacác cư dân làng ven biển nhằm tạo cơ sở khoa học để đưa nông thôn, nôngnghiệp đi lên con đường cô
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRẦN VŨ TÀI
VINH - 2010
Trang 3Trong quá trình tìm kiếm, sưu tầm, tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành
đề tài này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình, đóng góp nhiều ý kiến quýbáu của nhiều tập thể và cá nhân các cấp, ban, ngành
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc tới
TS Trần Vũ Tài - người đã nhiệt tâm hướng dẫn đề tài khoa học, giúp đỡ,
động viên bản thân tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Cũng nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa Đào tạo Sau ĐạiHọc, BCN, CBGV Khoa Sử chuyên ngành lịch sử Việt Nam Trường Đại họcVinh, cũng như sự giúp đỡ tận tình về mặt tư liệu của Trung tâm Thư việntrường Đại học Vinh, Trung tâm Thư viện tổng hợp tỉnh Thanh Hóa, PhòngVăn hóa huyện Hậu Lộc
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với bạn bè, giađình và người thân đã tạo mọi điều kiện trong suốt quá trình học tập, rènluyện, tu dưỡng tại Khoa và Nhà trường
Xin chân thành cảm ơn !
Vinh, tháng 12 năm 2010
Tác giả
Lường Thị Phượng
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Đóng góp của luận văn 8
6 Bố cục của luận văn 10
NỘI DUNG 11
Chương 1 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA CƯ DÂN CÁC LÀNG VEN BIỂN HUYỆN HẬU LỘC 11
1.1 Vài nét về quá trình hình thành và phát triển các làng ven biển 11
1.1.1 Những cứ liệu khảo cổ 11
1.1.2 Nguồn tài liệu thư tịch và khảo sát thực địa 14
1.1.3 Công cuộc khẩn hoang lập làng ở phía tây Kênh De 17
1.1.4 Công cuộc khẩn hoang lập làng ở phía đông Kênh De 19
1.2 Đời sống văn hóa vật chất 27
1.2.1 Trang phục 27
1.2.2 Tập quán trong sinh hoạt ăn uống 29
1.2.3 Nhà ở 34
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2 TÍN NGƯỠNG, PHONG TỤC VÀ LỄ HỘI CỦA CƯ DÂN CÁC LÀNG VEN BIỂN HUYỆN HẬU LỘC 38
2.1 Tín ngưỡng 38
2.1.1 Thờ thành hoàng làng 38
2.1.2 Thờ cúng Cá Ông (Cá Voi) 40
Trang 52.1.4 Thờ Phật 49
2.1.5 Thờ chúa Giêsu 51
2.2 Phong tục 53
2.2.1 Tục tế lễ hạ thủy 53
2.2.2 Hôn nhân 53
2.2.3 Tục lệ tang ma 55
2.3 Lễ hội 59
Tiểu kết chương 2 68
Chương 3 TỔ CHỨC XÃ HỘI VÀ CÁC SINH HOẠT VĂN HÓA KHÁC 69
3.1 Tổ chức xã hội 69
3.1.1 Các tổ chức xã hội truyền thống 69
3.1.2 Dòng họ 80
3.1.3 Gia đình 92
3.2 Văn học dân gian 98
3.2.1 Tục ngữ 98
3.2.2 Dân ca 100
3.2.3 Ca dao 108
3.2.4 Vè 111
3.2.5 Truyền thuyết sự tích 113
Tiểu kết chương 3 118
KẾT LUẬN 120
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 127 PHỤ LỤC
Trang 6GS Giáo s
HĐND Hội đồng nhân dânNXB Nhà xuất bản
TS Tiến Sĩ
Tr CN Trớc công nguyênUBND Uỷ ban nhân dân
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bản sắc văn hóa là hành trang đáng giá nhất của mỗi dân tộc trên conđường đi tới tương lai Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trong thời kỳ mới sẽ cónhững hành động, chiến lược cần thiết để giữ gìn nền văn hóa truyền thống, để
“không đánh mất mình” trên con đường hội nhập Đảng và Nhà nước ta từ lâu
đã chủ trương bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, xây dựngmột nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Đường lối ấy được thể hiệntrên cả nhận thức và hành động Việc ra đời các cơ quan nghiên cứu văn hóa và
hệ thống các cơ quan văn hóa từ Trung ương đến cơ sở đã thể hiện văn hóa ởViệt Nam được quan tâm và đầu tư rất đáng kể vừa nhằm xây dựng đời sốngvăn hóa yên vui, lành mạnh, vừa ra sức bảo tồn các giá trị truyền thống quýbáu , các sinh hoạt truyền thống tốt đẹp được khuyến khích như lễ hội, tròchơi dân gian, trang phục dân tộc, nghệ thuật dân tộc Có thể nói, chưa baogiờ văn hóa nghệ thuật dân tộc được tôn vinh và chú ý gìn giữ, phát huy nhưhiện nay
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành Trung ương khóa VII
đã khẳng định: “Văn hoá là nền tảng tinh thần xã hội, thể hiện tầm cao và
chiều sâu về trình độ phát triển của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên Nó vừa là động lực thúc đẩy, vừa là mục tiêu phát triển kinh tế xã hội” Việt Nam
là một quốc gia đa dân tộc, văn hoá gắn liền với dân tộc, những di sản văn hoá
ở nước ta được sáng tạo, bảo vệ và phát triển bởi bàn tay, khối óc và cả xươngmáu của nhân dân các dân tộc Mỗi dân tộc trên đất nước ta dù miền xuôi haymiền ngược, đồng bằng hay miền núi, trong quá trình phát triển đều sáng tạonên nền văn hoá có bản sắc, có giá trị, bản sắc đó được biểu hiện trong lĩnh vựcvăn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, góp phần làm nên bản sắc văn hoá dântộc Việt Nam
Trang 8Văn hóa Việt từ lâu đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nướcquan tâm tìm hiểu từ nhiều góc độ khác nhau Cho đến nay đã có nhiều côngtrình nghiên cứu về văn hóa tộc người đã được công bố, cung cấp những tư liệumới, những nhận định có giá trị cho khoa học và nâng cao nhận thức về văn hóacủa các tộc người Việt Nam Tuy vậy, những kết quả nghiên cứu về đời sốngvăn hóa của các dân tộc vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ những đòi hỏi của khoahọc đang đặt ra Vấn đề nông thôn, nông dân, nông nghiệp đang là chủ đề hếtsức quan trọng thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học Vì vậy, việcnghiên cứu đời sống văn hóa của các dân tộc, trong đó có đời sống văn hóa củacác cư dân làng ven biển nhằm tạo cơ sở khoa học để đưa nông thôn, nôngnghiệp đi lên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một công việc rất thiếtthực, cấp bách đang đòi hỏi sự đóng góp của nhiều nhà nghiên cứu.
Ngày nay, Việt Nam đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước, vai trò của văn hóa càng được đề cao Trong bối cảnh đó,việc nghiên cứu đời sống văn hóa của các làng ven biển không chỉ cho chúng
ta thấy được bức tranh đa dạng của văn hóa tộc người trước môi trường biển,góp thêm cơ sở cho việc kế thừa những mặt tích cực và hợp lý về những giá trịtruyền thống đang dần bị mai một, khắc phục những hạn chế, tiêu cực của cáchquản lý xã hội không còn phù hợp với thực tiễn hôm nay mà còn góp phần tìmhiểu những nét cơ bản về quá trình hình thành và phát triển của làng xã gắnliền với công cuộc tiến ra biển Đông và giữ biển của người Việt cùng với một
số tộc người khác trong lịch sử
Vì những lý do trên, tôi chọn vấn đề: “Đời sống văn hóa vật chất và tinh
thần của cư dân các làng ven biển huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa (từ đầu thế
kỷ XIX đến năm 1945)” làm đề tài Luận văn thạc sĩ, mong muốn góp phần giải
mã những vấn đề khoa học đang đặt ra Chọn các làng ven biển huyện Hậu Lộc
để nghiên cứu vì qua điều tra khảo sát và nghiên cứu tư liệu, chúng tôi nhậnthấy làng ven biển ở đây là những làng tiêu biểu ở tỉnh Thanh Hóa ra đời vàphát triển cùng với quá trình khai hoang lấn biển của nhiều dòng họ, được diễn
Trang 9ra trong nhiều thế kỷ So sánh với các làng ven biển khác ở xứ Thanh thuộc địabàn các huyện, thị như Nga Sơn, Hoằng Hóa, Sầm Sơn, Quảng Xương, TĩnhGia thì làng ven biển của huyện Hậu Lộc hội đủ những điển hình về truyềnthống biển và có ảnh hưởng quan trọng đến sự tồn tại của cộng đồng cư dân ởđây cùng với sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Thanh Hóa trongcác giai đoạn lịch sử khác nhau.
Việc nghiên cứu, tìm hiểu đề tài này giúp chúng ta hiểu rõ thực trạng,đồng thời dự báo được tương lai phát triển văn hóa của huyện Hậu Lộc, tìm ragiải pháp bảo tồn, khôi phục và góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộcViệt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đề tài văn hoá Việt Nam từ lâu đã được các học giả trong và ngoài nướcquan tâm nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau Trong các đề tài về đời sốngvăn hóa của người Việt, thì đề tài về đời sống văn hóa ven biển cũng đã đượccác nhà nghiên cứu đề cập đến Các công trình nghiên cứu đó đã đề cập đếnnhững vấn đề kinh tế, xã hội, truyền thống văn hóa, nguồn gốc dân cư lậplàng góp phần đưa ra một cái nhìn chung để đối chiếu, so sánh tìm hiểu vềđời sống văn hóa truyền thống của cư dân ven biển ở nước ta Tuy nhiên, cáccông trình đó chưa đi sâu tìm hiểu một cách có hệ thống về đời sống văn hóavật chất và tinh thần của cư dân các làng ven biển ở từng vùng
Đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân các làng ven biểnhuyện Hậu Lộc trước đây đã được một số nhà nghiên cứu đề cập đến một cáchtrực tiếp hoặc gián tiếp
Dưới thời Pháp thuộc, một số học giả người Pháp đã có những ghi chép
về đời sống của cư dân các làng ven biển tỉnh Thanh Hóa, trong đó có các làng
ven biển huyện Hậu Lộc Đáng kể nhất trong số này là cuốn Le Thanh Hoa của
Ch Robequain miêu tả về đặc điểm địa lý, nghề nghiệp (các phương thức đánh
Trang 10bắt cá trên biển, nghề thủ công, làm muối, làm nước mắm), việc thờ thần của
cư dân Công trình này đã cung cấp cho chúng ta nguồn tư liệu quý giá đểnghiên cứu song con mang tính khái quát
Sau hòa bình lập lại, việc nghiên cứu về Hậu Lộc được chú ý hơn với sựphát hiện các di tích khảo cổ học của văn hóa Hoa Lộc Trong đó, tiêu biểu là:
Cuốn “Địa chí huyện Hậu Lộc” của GS Hoàng Tiến Tựu chủ biên.
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1990 Nội dung đề cập đến điều kiện địa lý tựnhiên, kinh tế, lịch sử, xã hội, văn hóa, các ngành nghề truyền thống songcòn mang tính khái quát, lẻ tẻ
Cuốn “Địa chí Diêm Phố - Ngư Lộc” của Đảng uỷ - UBND xã Ngư
Lộc Nxb Văn hóa Thông tin Thanh Hóa 1992 Nội dung đề cập đến điều kiệnđịa lý, lịch sử, xã hội, văn hóa, các ngành kinh tế truyền thống của xã NgưLộc
Cuốn “Địa chí Hải Lộc” của Đảng uỷ - UBND xã Hải Lộc Nxb Văn
hóa Thông tin Thanh Hóa 2000 Nội dung đề cập đến điều kiện địa lý tự nhiên
và xã hội con người Hải Lộc
Mới đây nhất, vào năm 2008 có công trình luận án Tiến sĩ nhân học của
TS Phạm Văn Tuấn, Viện Dân tộc học mang tên: “Cơ cấu tổ chức xã hội
truyền thống của làng Việt ven biển huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa” Đề tài
này nghiên cứu về các loại hình sở hữu truyền thống trong cộng đồng làng xã,
về tổ chức xã hội truyền thống cũng như sự biến đổi về cơ cấu tổ chức xã hộicủa làng Việt ven biển huyện Hậu Lộc sau Cách mạng tháng Tám 1945
Ngoài ra, còn có một số công trình có đề cập đến văn hóa tinh thần của
cư dân ven biển Hậu Lộc như:
Cuốn “Lễ tục lễ hội truyền thống xứ Thanh” tập 2, của Hoàng Anh
Nhân Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội 2006 Nội dung có đề cập đến lễ hội làngDiêm Phố - Ngư Lộc
Trang 11Cuốn “Văn hóa dân gian Thanh Hóa bước đầu tìm hiểu” của Hoàng
Minh Tường Nxb Văn hóa Dân tộc 2007 Nội dung đề cập đến tín ngưỡng củangư dân vùng biển Thanh Hóa trong đó có Hậu Lộc với việc xây dựng đời sốngvăn hóa và Lễ hội Cầu Ngư ở làng biển Ngư Lộc
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chỉ tập trung phản ánh huyện Hậu Lộcdưới góc độ khảo cổ học và địa lý học Có thể nói, cho đến nay vẫn chưa cómột công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề đời sống văn hóavật chất và tinh thần của cư dân các làng ven biển ở huyện Hậu Lộc Đây làmột lý do để tác giả Luận văn đi vào nghiên cứu vấn đề này Tuy ở phạm vimột địa phương, nhưng đề tài hy vọng sẽ ít nhiều góp phần vào việc giữ gìn vàphát huy bản sắc văn hóa của cộng đồng cư dân ven biển huyện Hậu Lộc nóiriêng, của cộng đồng cư dân ven biển Việt Nam nói chung Từ đó góp phầnvào việc bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
3 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1 Nguồn tư liệu
Để hoàn thành bản Luận văn này, trước hết chúng tôi có tham khảo một
số công trình gồm:
Các bộ lịch sử địa lý
Cuốn Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê;
Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quan triều Nguyễn; Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú; Dư địa chí của Nguyễn Trãi (các bộ sử
trên, tuy không chép cụ thể về đời sống cư dân nhưng được coi là sử liệu gốc,phản ánh ít nhiều về hoạt động của làng xã cổ truyền)
Các nguồn tài liệu văn hóa
Cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm; Cơ sở
văn hóa Việt Nam của Trần Quốc Vượng; Bẳn sắc văn hóa người Việt của Lã
Duy Lan; Tìm hiểu phong tục Việt Nam của Toàn ánh; Bản sắc văn hóa - hành
Trang 12trang của mỗi dân tộc của Vy Trọng Toán; Tìm hiểu tín ngưỡng truyền thống Việt Nam của Mai Thanh Hải; v.v
Các tạp chí tham khảo khác
Chúng tôi sử dụng một số công trình nghiên cứu của tác giả Phạm Văn
Tuấn như Làng biển Diêm Phố - xã Ngư Lộc, thông báo Dân tộc học năm 2004; Tình hình phân bố dòng họ ở vùng ven biển huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh
Hóa, Dân tộc học (2) năm 2005; Tài liệu sắc phong của các làng xã vùng ven biển huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, Dân tộc học (5) năm 2005; Làng ngư nghiệp ở huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam á (2)
năm 2006; Tổ chức Giáp ở vùng ven biển huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, Đông Nam á (3) năm 2006; Các loại hình làng ở vùng ven biển huyện Hậu
Lộc, tỉnh Thanh Hóa, thông báo Dân tộc học năm 2006.
Các nguồn tư liệu địa phương
Tư liệu địa phương là nguồn tư liệu chủ yếu phục vụ cho đề tài này,thông qua các đợt điền dã và đi thực tế ở địa bàn các xã, thôn và một số cơ
quan của tỉnh và của huyện, xã, chúng tôi đã sử dụng một số cuốn như Nét văn
hóa xứ Thanh của Hoàng Khôi; Lễ tục, lễ hội truyền thống xứ Thanh; Khảo sát văn hóa làng xứ Thanh của Hoàng Anh Nhân; Văn hóa truyền thống các tỉnh Bắc - Trung Bộ của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam; Văn hóa dân gian Thanh Hóa - bước đầu tìm hiểu của Hoàng Minh Tường; Tục chơi xuân Thanh Hóa
của Hội nghệ thuật dân gian; Lễ hội xứ Thanh của Ban quản lý di tích và danh
thắng Thanh Hóa; v.v Ngoài ra còn một số tác phẩm của các học giả nước
ngoài như Le Thanh Hoa của Ch Robequain, các thống kê số liệu đã được xuất
bản hoặc lưu giữ ở các thư viện, các báo cáo, tài liệu của các cơ quan chuyênmôn ở (UBND) tỉnh, huyện và xã Một số tài liệu huyện chí, xã chí của các địaphương cũng giúp chúng tôi trong quá trình bổ sung những tư liệu mà trướcđây có nhưng hiện tại đã bị mất mát hoặc thất lạc góp phần so sánh với nguồn
Trang 13tài liệu điền dã Đáng chú ý là các nguồn tài liệu sắc phong cho các vị thần, giaphả của các dòng họ, văn bia, đại tự, câu đối, thần tích, ngọc phả ở các di tíchđền thờ, chùa, phủ, nhà thờ họ bằng chữ Hán Nôm là những bằng chứng cụ thể
để tìm hiểu về đời sống của cư dân cũng như quá trình tụ cư, lập làng Tuynhiên, vùng đất huyện Hậu Lộc có nhiều biến động về địa lý hành chính, dó đónhiều tài liệu còn lưu giữ tản mạn trong nhân dân chưa được sưu tầm đầy đủ,một số nguồn vốn ở đây nhưng chuyển cư đến những vùng đất xa xôi mangtheo cả nguồn tài liệu vật chất và cả trong trí nhớ, vì thế tác giả gặp nhiều trởngại, hạn chế trong việc tiếp cận các tài liệu này trong quá trình nghiên cứu vàthực hiện Luận văn
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành những yêu cầu đặt ra, chúng tôi đã sử dụng phương phápluận sử học Mác xít và phương pháp Hồ Chí Minh từ lúc sưu tầm, chỉnh lý tàiliệu đến quá trình biên soạn đề tài Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôirất coi trong khâu giám định nguồn tư liệu nhằm nâng cao mức độ chuẩn xác,khoa học Khi tiến hành các đợt nghiên cứu điền giã tại các điểm được lựachọn, chúng tôi sử dụng các phương pháp cụ thể như: Quan sát, thẩm vấn, điềutra hồi cố, thống kê, ghi chép các chuyện kể, truyền thuyết dân gian, ca dao, tụcngữ, các thông tin từ những người già và những người hiểu biết về xã hộitruyền thống ở địa phương
Ngoài ra, để giải quyết những vấn đề được đặt ra, chúng tôi sử dụngphương pháp logíc, phương pháp nghiên cứu phân tích, so sánh đối chiếu cácđặc điểm về đời sống tổ chức xã hội truyền thống tiêu biểu các nơi trong vùngbiển Thanh Hóa và mở rộng đến một số vùng biển khác ở miền Bắc, miền Namqua các công trình nghiên cứu của các tác giả khác chúng tôi cũng sử dụngphương pháp nghiên cứu liên ngành như dân tộc học, địa lý học, xã hội học đểphân tích, xử lý số liệu cần minh chứng, góp phần làm sảng tỏ các vấn đềnghiên cứu
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là đời sống văn hóa vật chất và tinhthần của cư dân các làng ven biển huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa
Mong muốn của chúng tôi là nghiên cứu về đời sống vật chất như ăn,mặc, ở và những tín ngưỡng, phong tục tập quán, văn học nghệ thuật từ thực
tế này góp phần vào việc tiếp cận nghiên cứu về đời sống vật chất, tinh thầncủa một làng Việt cụ thể ở đồng bằng ven biển Bắc Trung Bộ Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là giới hạn trong xã hội truyền thống
từ đầu thế kỷ XIX đến năm 1945
Địa bàn nghiên cứu chính của luận văn là các làng ven biển thuộc các xã
Đa Lộc, Hưng Lộc, Ngư Lộc, Minh Lộc, Hải Lộc, Hòa Lộc của huyện Hậu Lộcđược phân bố nằm giữa hai cửa sông: cửa Lạch Sung ở phía bắc và LạchTrường ở phía nam trải dài trên 12 km Ở địa bàn 6 xã này, chúng tôi nghiêncứu đời sống văn hóa của tất cả các làng truyền thống mà trước Cách mạngtháng Tám 1945 thuộc địa phận hai tổng Liên Cừ và Xuân Trường Chúng tôiquan tâm nhiều đến đời sống ăn, mặc, ở, những tín ngưỡng, phong tục tậpquán, văn học, nghệ thuật của các làng ven biển huyện Hậu Lộc
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn là chuyên khảo đầu tiên, trình bày về đời sống văn hóa vật chất
và tinh thần của cư dân các làng ven biển huyện Hậu Lộc từ đầu thế kỷ XIXđến năm 1945
5.1 Đóng góp về mặt khoa học
Những kết quả nghiên cứu của Luận văn gợi mở hướng tiếp cận mới vềđời sống văn hóa cộng đồng cư dân Việt Nam, đặc biệt là cộng đồng cư dânven biển
Trang 15Qua khảo sát thực tế, sưu tầm, tập hợp, khai thác tư liệu văn hóa cổtruyền trong cộng đồng cư dân ven biển huyện Hậu Lộc, Luận văn nhằm cungcấp và hệ thống tư liệu về nguồn gốc hình thành của các cộng đồng cư dân venbiển qua quá trình hình thành và phát triển trong lĩnh vực văn hóa Đồng thờicũng thấy rõ những nét đặc trưng của nền văn hóa đó qua các biểu hiện trongđời sống tâm linh, tình cảm, lối sống, đạo đức, lòng yêu quê hương, đất nước,tinh thần đoàn kết trong chiến đấu cũng như trong lao động sản xuất Đóchính là bản sắc văn hóa của cộng đồng cư dân ven biển huyện Hậu Lộc, từ đóthấy được tính đa dạng, phong phú của vùng đất này với các vùng ven biểnkhác ở nước ta.
Luận văn đi sâu tìm hiểu khảo sát thực tế để bước đầu phác họa bứctranh toàn cảnh với những đặc trưng cơ bản về văn hóa vật chất và tinh thầncủa cộng đồng cư dân ven biển huyện Hậu Lộc trong cộng đồng các dân tộcViệt Nam
5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Đóng góp thiết thực vào việc xây dựng cơ sở khoa học cho việc địnhhướng các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của cư dân vùng venbiển huyện Hậu Lộc hiện nay, trên cơ sở gìn giữ và phát huy các giá trị truyềnthống góp phần cải tạo và xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước
Bước đầu hệ thống và phản ánh những kết quả điều tra, nghiên cứu đãđạt được về Hậu Lộc trên các phương diện và lĩnh vực chủ yếu (địa lý, lịch sử,kinh tế, xã hội, đặc biệt là văn hóa) để góp phần vào việc tìm hiểu Thanh Hóa
và Việt Nam
Đáp ứng một phần nhu cầu tìm hiểu quê hương đất nước của nhân dân
và các ngành trong huyện, giúp cho mỗi người Hậu Lộc hiểu biết thêm quêhương xứ sở của mình, trên cơ sở đó mà củng cố nâng cao hơn ý thức và khảnăng làm chủ quê hương, đất nước
Trang 16Trên cơ sở tập hợp và hệ thống tư liệu về đời sống văn hóa vật chất vàtinh thần của cư dân các làng ven biển huyện Hậu Lộc, luận văn cung cấp chogiáo viên và học sinh các trường phổ thông trong huyện một nguồn tư liệutham khảo cần thiết để giảng dạy và học tập tốt hơn lịch sử văn hóa địaphương.
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chínhcủa luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Đời sống văn hóa vật chất của cư dân các làng ven biển
huyện Hậu Lộc.
Chương 2 Tín ngưỡng, phong tục và lễ hội của cư dân các làng
ven biển huyện Hậu Lộc Chương 3 Tổ chức xã hội và các sinh hoạt văn hóa khác.
Trang 17Chương 1
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA CƯ DÂN
CÁC LÀNG VEN BIỂN HUYỆN HẬU LỘC
1.1 Vài nét về quá trình hình thành và phát triển các làng ven biển
đó là lớp cư dân Việt cổ thuộc nền văn hóa Đông Sơn và cư dân thuộc văn hóaLạch Trường
* Cư dân thuộc văn hóa Đa Bút
Cho đến nay, thuộc văn hóa Đa Bút chúng ta biết được 4 di chỉ phân bố
từ tây sang đông, dọc theo triền sông Mã, suốt từ trung du đến ven biển ThanhHóa Đó là: Đa Bút xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Lộc; Bản Thuỷ xã Vĩnh Thịnh,huyện Vĩnh Lộc; Cồn Cổ Ngựa xã Hà Lỹnh, huyện Hà Trung và Gò Trũng xãPhú Lộc, huyện Hậu Lộc
Di chỉ khảo cổ học Gò Trũng (hay vườn Dâu) thuộc loại hình cồn cátven biển, nằm bên cạnh bờ biển, rất gần cửa Lạch Trường được các nhà khảo
cổ học xếp vào hậu kỳ đá mới cách ngày nay khoảng 5000 năm và coi là di chỉtiêu biểu cho giai đoạn muộn của văn hóa Đa Bút, một trong những văn hóasau Hoà Bình Ở di chỉ này, trong tầng văn hóa dày 30 - 40cm đã tìm thấy đồgốm rất giống Đa Bút với số lượng rất lớn Đó là những nồi gốm có đáy trònmiệng loe hay bóp vào, bên ngoài có văn nan, được tạo bằng bàn dập buộc dâythân thực vật Công cụ chủ yếu ở Gò Trũng là những chiếc rìu đá được màinhẵn, không có vai, có đốc hơi thu nhỏ, mặt cắt ngang thân hình bầu dục Một
Trang 18số rìu đá còn mang dấu cưa Tại đây, đã tìm được nhiều chì lưới bằng đá phiếnmềm, hình cầu, hình quả nhót với số lượng lớn Đó là chứng tích của nghềđánh cá phát triển, khi con người lan rộng ra đến cửa biển [43; 41] Có thểngười Gò Trũng đã đóng được những chiếc thuyền bên cạnh bè mảng truyềnthống để ra khơi.
Từ những kết quả nghiên cứu tổng hợp, các nhà khảo cổ học đã khẳngđịnh cư dân văn hóa Đa Bút là lớp người đầu tiên chiếm lĩnh khai phá đồng
bằng ven biển Thanh Hóa sau đợt biển tiến, mở đầu cho nền văn hóa biển ở
vùng đồng bằng duyên hải này [28; 32]
* Cư dân thuộc văn hóa Hoa Lộc
Nằm trong cùng một doi cát song song với bờ biển, di chỉ văn hóa HoaLộc kéo dài từ xã Hoa Lộc, Phú Lộc đến xã Hoà Lộc với các địa điểm Hoa Lộc
- Phú Lộc - Bái Cù được các nhà khảo cổ học phát hiện từ năm 1970 và đượctập trung khai quật từ năm 1973 có niên đại cách ngày nay khoảng 4000 năm.Các bộ lạc Hoa Lộc sống gần bờ biển Xương cá biển cùng với nhiều chì lướitìm thấy trong nhiều di chỉ văn hóa Hoa Lộc, chứng tỏ đánh cá là một hoạtđộng kinh tế quan trọng ở các bộ lạc này Di chỉ này là một địa điểm tìm được
số lượng cuốc đá nhiều hơn tất cả những địa điểm đã biết ở Việt Nam từ trướcđến nay Những lưỡi cuốc đá ở Hoa Lộc có chuôi tra cán, rìu và bôn có vaiđược mài nhẵn vuông vắn, nhiều đồ gốm như nồi, vò và những chiếc bình cóvao gẫy, miệng gấp vào trong được trang trí rất đẹp phảng phất phong cách vănhóa Phùng Nguyên Một đặc điểm nữa là ở di chỉ này có mặt của rất nhiều condấu bằng đất nung hình chữ nhật, hình bầu dục, hay hình tròn, có lẽ là để in lênvải Một vài hiện vật bằng đồng như rìu đồng, dây đồng chứng tỏ chủ nhân củanền văn hóa này đã biết đến kim khí [45; 68,69]
* Cư dân thuộc văn hóa Đông Sơn
Bước vào thời kỳ văn hóa Đông Sơn, Hậu Lộc cũng là địa bàn phát hiện
ra 6 địa điểm của thời kỳ này là Đại Lộc, Núi Bần, Bãi Xóc, Bù Ngàn, Mã
Trang 19Ngô, Khe Máng (mà niên đại xác định từ đầu thiên niên kỷ I tr CN cho đến vài
ba thế kỷ sau CN) Những di chỉ này phản ánh tính làm chủ đồng bằng của cưdân Việt cổ xứ Thanh Ở vùng sát bờ biển vào giai đoạn cuối của thời HùngVương cũng đã xuất hiện những đơn vị cư trú rộng lớn dựa trên cơ sở công xã
nông thôn Những công xã nông thôn đó sau này được gọi là làng, xã, nhưng trước đây còn có những tên gọi cổ hơn như kẻ, chạ, chiềng Những làng Việt
cổ có tiếng kẻ thường đi liền với tên nôm của làng mà biểu hiện cụ thể như làng Kẻ Mom ở ven biển huyện Quảng Xương, kẻ Trường ở ven biển huyện
Hậu Lộc, Hoằng Hóa còn để lại những dấu ấn trong tâm thức người dân vùngnày về một vùng quê cổ với những dấu vết về văn hóa vật chất và tinh thần đặctrưng Tại núi Vàng xã Triệu Lộc, năm 1999 cũng phát hiện được trống đồng
có niên đại văn hóa Đông Sơn
* Cư dân thuộc văn hóa Lạch Trường
Nền văn hóa khảo cổ này thuộc khu vực cửa biển Lạch Trường, đượcnhà khảo cổ học người Thụy Điển O Jansé phát hiện vào những năm đầu thế
kỷ XX Sau đó, O Jansé đã tiến hành khai quật 29 ngôi mộ tại các địa điểmYên Hậu, Quý Giáp, Trang Trung, Nam Huân, Bái Trung (xã Hoà Lộc), LụcTrúc (xã Phú Lộc) Đó là những ngôi mộ Hán bằng gạch (thuộc các thế kỷ I -III) được xây dựng đẹp đẽ, bề thế, được các nhà sử học coi đây là khu vựcchiếm đóng quan trọng của quan lại nhà Hán [1;53] Tại các ngôi mộ ở di chỉnày, ngoài những hiện vật mang đậm đặc trưng văn hóa Hán như các loại tiềnBán Lạng, Ngũ Thù, đến Khai Nguyên Thông Bảo và những chiếc bình hình
con tiện đời Hán, ở hai bên thành bình có “văn thao thiết” (ta thường gọi là
mặt hổ phù) còn có những chiếc bình được cải biên thành hình đầu voi, phầnvoi được sử dụng như một chiếc ấm; chiếc mâm đất nung có hoa văn là nhữngvòng tròn tiếp tuyến, hình xoắn ốc đôi hoặc hình chữ S nối nhau rất quenthuộc với nghệ thuật Đông Sơn truyền thống Đặc biệt ở di chỉ này, một vàitượng người bằng đồng đội đèn phát hiện được xét về đặc điểm nhân chủng:
Trang 20tóc quăn, môi dày, mắt lồi cũng như xét về phong cách nghệ thuật, không thuộcvăn hóa Hán mà dường như có chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Ấn Độ Với sựphát hiện ở đây mật độ các ngôi mộ cổ dày đặc chủ yếu là mộ Hán cùng với sự
đa dạng về các loại hình hiện vật như vậy, cho thấy khu vực Lạch Trường từrất sớm đã có tầm quan trọng chiến lược trong việc quan hệ trao đổi buôn bánvới các vùng miền trong tỉnh, trong nước và với người nước ngoài Hàng hóa ở
xứ Thanh đã xuôi sông Mã, sông Chu theo các cửa biển Thần Phù, LạchTrường để vào Nam ra Bắc Lại có thể ngược dòng đến các vùng trung du,miền núi hoặc miền tây bắc Khảo cổ học đã chứng minh những hiện vật nhậpngoại không thuộc truyền thống Đông Sơn nêu trên ở các mộ Hán LạchTrường chứng tỏ quan hệ trao đổi buôn bán với người Hán chiếm vị trí quantrọng nhất của tầng lớp thương nhân Cửu Chân Điều này tạo nên sự phongphú, đa dạng và độc đáo về văn hóa ở khu vực Lạch Trường những năm đầucông nguyên và những thế kỷ sau đó
1.1.2 Nguồn tài liệu thư tịch và khảo sát thực địa
Như trên đã nói, cộng đồng người Việt ở vùng ven biển huyện Hậu Lộchình thành từ hai nguồn: người Việt bản địa và người Việt từ nơi khác di cưđến Trải qua các thời kỳ lịch sử, bên cạnh nhóm người Việt bản địa, nhiềunhóm người Việt từ đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ đã lần lượt di cư đếnHậu Lộc ngoài ra còn có một bộ phận người Hán được các nhà khảo cổ học
gọi đó là Văn hóa Lạch Trường Trên dặm dài lịch sử, những luồng dân cư mới
đến nhanh chóng, hoà mình vào cư dân bản địa, rồi trở thành cư dân bản địa,
cứ như thế hết lớp này đến lớp khác như phù xa của sông Lèn, sông LạchTrường cũng hết lớp này đến lớp khác bồi đắp nên vùng đất đai ven biển, tạodựng nên vùng đất cửa sông sầm uất, dầu nguồn gốc từ nhiều miền hội tụ
Nét nổi trội của tình hình cư dân ở đây là tính đậm đặc của mật độ dân
cư Theo số liệu điều tra dân số năm 2003, dân số Hậu Lộc là 184.230 người,bình quân 1.283 người/km2, so với mật độ bình quân của cả tỉnh là 326 người/
Trang 21km2 So với các huyện đồng bằng ven biển thì mật độ dân số Hậu Lộc đứngthứ 2 sau Sầm Sơn 3.256 người/km2, Quảng Xương 1.227 người/km2, HoằngHóa 1.138 người/km2, Tĩnh Gia 500 người/km2 [16; 15] Nếu chỉ tính dân sốtrung bình năm 2001, phân theo huyện, thị xã, nông thôn, thì dân số ở khu vựcthị trấn huyện là 3.757 người, nông thôn là 176.912 người, theo giới tính nam
là 87.474 người, nữ là 93.195 người
Quá trình tiến xuống khai phá vùng đất của cư dân Gò Trũng, Hoa Lộcnhững thế kỷ sau ngày càng mạnh mẽ hơn Có thể nói đất liền tiến ra đến đâuthì con người đi theo ngay ra đến đó, có khi lại còn đi trước bước tiến của đấtbằng cách quai thêm những đê biển ngay trên những phần đất còn ngập mặn.Với hai nền văn hóa này, chứng tỏ vùng ven biển Hậu Lộc ngoài bộ phậnngười Hán ở vùng cửa biển Lạch Trường, thì người Việt vẫn là bộ phận dân cư
cơ bản tạo nên diện mạo làng xã ở vùng đất này Có thể thấy làng Việt ở vùngven biển Hậu Lộc được hình thành từ hai nguồn: người Việt bản địa (GòTrũng, Hoa Lộc) và người Việt từ các nơi khác di cư đến trong nhiều thế kỷsau đó Do đó tổ chức gia đình, dòng họ, làng xã, phong tục tập quán của ngườiViệt ở đây vừa có những đặc điểm chung của người Việt cả nước vừa có nhữngnét riêng phù hợp với điều kiện địa lý và lịch sử hình thành
Các làng ven biển huyện Hậu Lộc ngày nay nằm trên địa bàn 6 xã là ĐaLộc, Hưng Lộc, Ngư Lộc, Minh Lộc, Hải Lộc và Hoà Lộc được giới hạn bởisông Kênh De Đây là dòng sông tự nhiên chảy theo hướng bắc - nam nối sôngLèn ở phía bắc với sông Lạch Trường ở phía nam, nhận lũ của sông Lèn đổ rasông Lạch Trường Dòng sông này, đồng thời cũng là ranh giới để phân biệt 5
xã ở phía tây Kênh De gồm Quang Lộc, Liên Lộc, Hoa Lộc, Phú Lộc, Hoà Lộc
- một thời là biển với đồng đất của 5 xã nêu trên duy chỉ có xã Hoà Lộc nằm ởphía tây Kênh De, nhưng trên thực tế bên cạnh nghề nông còn có nghề cá, nghềlàm muối và những nghề của cư dân vùng biển, vì vậy Hoà Lộc vẫn mang đặcđiểm của một làng xã ven biển Do vậy, khi nói tới vùng ven biển Hậu Lộc bao
Trang 22giờ người ta cũng nhắc tới địa bàn của 6 xã nêu trên Các làng ven biển huyệnHậu Lộc trước Cách mạng tháng Tám 1945 nằm chủ yếu ở hai tổng Liên Cừ vàXuân Trường (trước là Đăng Trường), huyện Hậu Lộc, phủ Hà Trung, tỉnh
Thanh Hóa Thời cuối Lê đầu Nguyễn, theo sách “Các tổng trấn xã danh bị
lãm” (Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX), tỉnh Thanh Hóa gọi là Nội trấn
Thanh Hoa, huyện Hậu Lộc gọi là Phong Lộc, tổng Xuân Trường gọi là ĐăngTrường được phấn bố như sau:
Tổng Đăng Trường gồm 18 xã, thôn, sở: thôn Trường Trung thuộc xãĐăng Trường, thôn Quý Giáp, thôn Trường Thị, thôn An Hậu, thôn Hữu Nghĩathuộc xã Bái Hà, thôn Bái Trung, thôn Đăng Thịnh, thôn Đông Thượng, thônNguyễn, thôn Lục Trúc, thôn Nội thuộc xã Trương Xá, thôn Nam Hoa, AnLương, Sở Điện, Diêm Phố, Hà Nội, Lộc Sơn, Y Bích
Trong 18 xã, thôn, sở nêu trên thì các thôn Trường Trung, Trường Thị,Bái Trung, Nam Hoa, thôn Nội xã Trương Xá nay thuộc xã Hoà Lộc; DiêmPhố nay thuộc xã Ngư Lộc; Lộc Tiên, Y Bích nay thuộc xã Hải Lộc
Tổng Liên Cừ: gồm 15 xã, thôn, trang: Liên Cừ, Yên Giáo, Hoàn Trung,Yên Trung, thôn Hiển Vinh thuộc xã Yên Cừ, thôn Vĩnh Lộc, thôn HươngTrung, trang Phú Lương, Liên Khê, thôn An Thuế thuộc xã Liên Trì, thôn LộcLớn thuộc xã Khúc Phần, thôn Đa Phạn, thôn Bạch Đầu, thôn Hoa Giáp thuộc
xã Địch Cần [78; 109]
Những thôn, xã trên thì có Yên Giáo nay thuộc địa phận xã Minh Lộc,một phần Hưng Lộc và một phần Hải Lộc; thôn Hương Trung, trang PhúLương nay thuộc xã Hưng Lộc; xã Khúc Phần, thôn Đa Phạn nay thuộc mộtphần xã Minh Lộc và xã Hải Lộc; thôn Hoa Giáp nay thuộc xã Đa Lộc
Nhiều tài liệu, sắc phong, gia phả, thần tích ở các địa phương trên chobiết: Một số làng ở vùng ven biển huyện Hậu Lộc được khai khẩn từ thời Trần,đến thời Lê Sơ rồi Lê Trung Hưng trên cơ sở hội tụ dân cư một cách tự nhiên,liên tục gắn liền với công cuộc khai hoang lấn biển một cách tự phát của nhiều
Trang 23dòng họ từ những miền quê đến trong các thế kỷ đã dần dần hình thành nênmột cơ cấu tổ chức làng xã khá rõ nét và ổn định vào cuối thời Lê đầu thờiNguyễn Sau Cách mạng tháng Tám 1945, đơn vị tổng được bãi bỏ và thaybằng đơn vị xã, quy mô nhỏ hơn, Hậu Lộc được chia thành 10 xã lớn (bao gồmcác làng của 5 tổng cũ) là: Trường Xuân, Vạn Lộc, Liên Cừ, Long Thịnh,Thuần Lộc, Liên Thịnh, Phú Điền, Đại Lý, Uy Thống, Đông Thành.
Làng xã trên con đường phát triển, tự thân chúng mở rộng ra nhiều mặt,trước hết là sự gia tăng nhân đinh, sau đó kéo theo nhiều vấn đề khác Lúc đầuthường có một hai họ đến mở làng Trải qua thời gian con cháu của họ sinh sôinảy nở nhiều lên, khiến diện tích thổ canh dần thu hẹp nhường chỗ cho việc mởrộng thổ cư Làng đầu tiên có một xóm sau thành nhiều xóm họp lại thành làng.Căn cứ vào các nguồn sử liệu lưu trữ tại địa phương như gia phả, thần tích, bia
ký và tài liệu ghi chép dân tộc học có thể thấy quá trình hình thành và pháttriển của các làng ven biển ở Hậu Lộc gồm hai thời kỳ cơ bản:
1.1.3 Công cuộc khẩn hoang lập làng ở phía tây Kênh De
Vùng đất phía tây Kênh De là xã Hoà Lộc ngày nay, trước đây gồm 7làng đó là:
* Làng Bái Trung: Là nơi có di tích khảo cổ học Bái Cù nằm trong nền
văn hóa Hoa Lộc cách ngày nay trên dưới 4000 năm Trong các lần khai quật,các nhà khảo cổ học đã tìm được 76 chì lưới của cư dân Bái Cù trong việc đánh
cá biển Nếu di chỉ Gò Trũng nằm ở phía bắc thuộc xã Phú Lộc thì di chỉ Bái
Cù lại nằm về phía nam gần cửa sông Lạch Trường, điều đó cho thấy cư dân ởthời kỳ tiền Đông Sơn không chỉ mở rộng địa bàn cư trú của mình trên nhữngdoi cát biển mà còn tiến xuống xa hơn bám theo dòng sông bắt đầu công cuộckhai sơn phá thạch trường kỳ gian lao
Hấp dẫn người Bái Cù lúc bấy giờ không phải là dòng sông kỳ lạ, phongcảnh hữu tình Họ không chỉ chiếm lĩnh những cánh đồng rộng rãi để trồng trọt
mà còn chinh phục biển cả Những bằng chứng khảo cổ học ở Bái Cù cho thấy
Trang 24yếu tố văn hóa biển của nền văn hóa Hoa Lộc là góp phần làm nên sức sốngtruyền thống của văn hóa Đông Sơn sau này chính nó cũng góp phần vào sựhình thành những làng cổ đầu tiên của bộ Cửu Chân thời các vua Hùng ở lưuvực sông Mã Do nguồn thức ăn phong phú, các tụ điểm dân cư nhanh chóngphát triển chiếm lĩnh hầu khắp miền đất phía đông nam cạnh cửa biển LạchTrường Có thể cư dân Bái Trung là hậu duệ của một bộ phận vốn là chủ nhâncủa nền văn hóa Hoa Lộc có từ 4000 - 3500 năm trước đó Trải qua các thời kỳlịch sử, bên cạnh nhóm người Việt bản địa, nhiều nhóm người Việt từ đồngbằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ đã lần lượt di cư đến vùng đất Hoà Lộc ngày nay.Lớp cư dân Việt sau khai khẩn vùng đất Bái Trung từ thế kỷ XV Chủ nhân lậpnên làng đầu tiên là dòng họ Nguyễn Sau đó có các họ Hoàng, Mai, Trịnh,Bùi, Đỗ, Phạm từ nhiều nơi đến cư trú trên những bãi cát hoang như Bái Quan,Bái Rạp, Bái De, Bái Cù Sở dĩ được gọi là Bái Trung vì làng nằm ở bãi cátgiữa những bãi cát làng khác Cư dân ở đây chủ yếu gieo cấy lúa cạn và trồngmàu trên những doi cát biển Cuối thời Lê đầu thời Nguyễn, Bái Trung là mộtthôn thuộc tổng Đăng Trường của huyện Phong Lộc Tên làng này còn tồn tạicho đến nay.
* Thôn Nội xã Trương Xá (nay là làng Tam Thắng và Tam Hoà): Là
một làng được hình thành sớm từ thời Lý - Trần trên một doi cát cạnh cửa biểnLạch Trường, lấy tên là Trương xá Tên gọi Trương Xá - là chỉ nơi cư trú đầutiên của họ Trương ở làng này Nối tiếp sau đó là các họ Phạm, Lê, Vũ, Hà,Trần Đến cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn, Trương Xá đã phát triển lên thànhmột xã thuộc tồng Đăng Trường
* Làng Yên Hậu, làng Trường Trung và làng Trường Thị (nay là
làng Xuân Tiến): Thời cuối Lê đầu Nguyễn là ba thôn Ba làng này đều nằm ởtrên ba doi cát biển chạy từ bắc xuống nam cạnh Kênh De Người lập nên balàng là ông Ngộ An thuộc dòng họ Trịnh đến đây khai khẩn từ thế kỷ XV Balàng trên sau họp thành xã Văn Trường (Văn Tràng) Ba làng này vừa làmruộng, vừa làm muối
Trang 25* Làng Nam Huân (còn gọi là Nam Hoa): Vốn được hình thành do sự
tách hộ từ làng Trương Xá cũ từ cuối thời Lê Đến đầu thế kỷ XIX, thôn NamHuân có tên là Nam Hoa Đây là một làng nông nghiệp với 20,65 ha, 70 hộ, nơi
cư trú của ba dòng họ Trương, Nguyễn, Đỗ và một số giáo dân Làng có tụcthờ thánh cá ở đền Thượng và đền Hạ
* Làng Phú Ngư: Vốn trước là xóm Bến của làng Trương Xá Làng có
khoảng 70 hộ giáo dân với ba dòng họ chính là Nguyễn, Trương, Đỗ Làng cónhà thờ họ đạo Trương Xá trực thuộc giáo sứ Đa Phạn (Hải Lộc) được xâydựng từ năm 1932 Nghề nghiệp chính của cư dân Phú Ngư là đánh cá trênsông, trên biển Làng không có ruộng đất canh tác
1.1.4 Công cuộc khẩn hoang lập làng ở phía đông Kênh De
Sau chiến thắng quân Nguyên lần thứ hai năm ất Dậu (1285), vua TrầnNhân Tông cho phép một số dòng họ khẩn hoang lập làng mới ở ven biển cáchuyện Quảng Xương, Hoằng Hóa, Nga Sơn, Tĩnh Gia, Hậu Lộc Họ Trần từHải Dương vào khai phá vùng Hà Lộ (Hoằng Yên, Hoằng Hóa), họ Bùi, họTrần ở Sơn Nam Hạ vào vùng Diêm Phố (Ngư Lộc) và Lạch Trường (xã HảiLộc ngày nay) để khẩn hoang lập làng mới và mở mang nghề nghiệp
Vùng đất phía đông Kênh De bao gồm 5 xã ngày nay là:
Xã Đa Lộc: Dưới triều Nguyễn, có hai làng: Khang Cù, Mỹ Điền (Mỹ Hoa)
* Làng Mỹ Điền: Được hình thành sớm nhất, từ thế kỷ XV, nằm trong
xã An Giáo, gắn liền với sự tích khai dân lập ấp của vị thần hoàng NguyễnDuy Thành, Cuối thời Lê, Mỹ Điền nằm trong xã Địch Cần (xã Địch Cần có
ba làng Mỹ Khúc, Hương Trung, Mỹ Điền) Từ khi lập ấp đến nay, Mỹ Điền
là nơi cư trú của ba dòng họ Vũ, 2 họ Nguyễn, họ Dương, Mai, Đỗ, Phạm, Tạ,Kiều, Đào
* Làng Khanh Cù (Hanh Cát, Hanh Cù): Cuối thế kỷ XIX thuộc tổng
Thạch Tuyền, huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung Đến năm 1916 Khang Cù được
Trang 26tách làm 2 thôn: Hanh Cát và Hanh Cù Thời kỳ này hai làng Hanh Cát, Hanh
Cù mới thuộc đơn vị hành chính tổng Sen Cừ, huyện Hậu Lộc
Xã Hưng Lộc: Trước Cách mạng tháng Tám, xã Hưng Lộc gồm các thôn: Phú
Lương, An Lương, Hương Trung, Khúc Phần (Mỹ Khúc), Yên Lãnh, Phú Nhi.Hiện nay, có 12 thôn gồm Phú Xuân, Phú Hòa, Yên Hòa, Tây Hòa, Đông Hòa,Thái Hòa, Yên Mỹ, Yên Thịnh, Phú Nhi, Phú Vượng, Tân Hưng, Hưng Bắc.Trong các làng cổ nêu trên thì làng Phú Lương được chia thành hai thôn là PhúXuân và Phú Hòa; làng Hương Trung được chia thành ba thôn: Tây Hòa, ĐôngHòa, Thái Hòa; thôn An Lương đổi thành Yên Hòa, thôn Khúc Phần đổi thànhYên Mỹ, thôn Yên Lãnh đổi thành Yên Thịnh, còn ba thôn Tân Hưng, HưngBắc, Phú Vượng mới được thành lập do dân cư từ xã Ngư Lộc chuyển cư đến
* Trang Phú Lương (nay là làng Phú Xuân và Phú Hòa): Lúc đầu gọi là
ấp An Thiện trong trang An Giáo, sau đó dân đinh phát triển lên, nên hìnhthành một trang mới gọi là trang Phú Lương (Trang là đơn vị hành chính cơ sở
từ thời Lê) Sau Cách mạng tháng Tám 1945 gọi là làng Phú Lương Đây làmột làng được khai phá sớm so với các làng trong xã bởi ba dòng họ đầu tiên làTăng, Đoàn, Nguyễn, sau đó họ Phạm, Họ Phan Riêng dòng họ Tăng có 2 chi:được phân biệt là Tăng Trong và Tăng Ngoài Tăng Trong là họ cũ ở tronglàng (lúc đầu có 12 gia đình), họ Tăng Ngoài là họ ở ngoài làng di cư đến sau
* Làng An Lương (nay là làng Yên Hoà): Thời Lý, Trần có tên là An
Lang, thời Lê Trung Hưng đổi thành An Lương, đến cuối thời Lê, đầu Nguyễnvẫn gọi là An Lương Theo truyền thuyết và tộc phả của một số họ thì làng AnLương xưa có địa giới cắm mốc hai đầu: phía nam giáp thôn Hưng Thái (HảiLộc); phía bắc giáp Kiến Long, thuộc khu đồng Mành đê sông Lèn Nhưng xảy
ra sự tích làm mắm cá vảnh, cá trà tiến vua, dân làng không thực hiện, bị nhàvua triệt hại, nhân dân và các họ phải chạy tán loạn, thay tên, đổi họ để tránhnạn Bấy giờ làng có cụ Phạm Phúc Duy đang làm quan trong triều đình vua Lêgiữ chức vụ Cảnh Thành Hữu trưởng cơ quan đã xin vua minh oan cho làng,
Trang 27được nhà vua cho về quê phi ngựa lấy đất lập lại làng An Lương Vì vậy làng
An Lương có địa hình như ngày nay Ngay từ buổi đầu lập làng đã có nhữngdòng họ đến trước như họ Phạm, Đinh, Đào, Trương, Vũ Riêng hai dòng họTrần Hữu và Trần Tung mới đến sau Cách mạng tháng Tám Hiện nay YênHoà là nơi cư trú của 10 họ: Phạm, Đinh, Đào, Trương, Vũ, Nguyễn, TrầnTung, Trần Hữu, Đỗ, Đậu
* Làng Khúc Phần còn gọi là Mỹ Khúc (nay là làng Yên Mỹ):Lúc mới
thành lập có tên là Khúc Phần Thời Nguyễn gọi là Mỹ Khúc nằm trong xãĐịch Cần Xã Địch Cần có 3 thôn là Mỹ Khúc, Hương Trung, Mỹ Điền thuộctổng Sen Cừ Vào cuối thời Lê đầu thời Nguyễn, Khúc Phần có 6 họ đến sinh
cơ lập nghiệp gồm họ Phạm, Nguyễn, Hà, Vũ, Trần (2 họ) được phân bố trên 8khu đất như Trại Phượng, Trại Quyền, Cồn Biêng, Cồn Sũng, Tổ ác, ĐồngĐập, Cổ Bánh Đến nay Yên Mỹ là nơi cư trú của 14 dòng họ, trong đó cónhững dòng họ cự tộc như họ Phạm, Đinh, Nguyễn, Đỗ, Vũ, Trương, Đào
* Làng Yên Lãnh (nay là làng Yên Thịnh): Xưa thuộc xã An Giáo.
Trước Cách mạng tháng Tám 1945 gọi là Yên Lãnh, sau Cách mạng gọi là TânTiến, từ năm 1954 gọi là Yên Thịnh Yên Lãnh là nơi cư trú của 15 họ và dòng
họ gồm: Đinh, Hoàng, Phan, Nguyễn, Trương, Lưu, Mai (mai Văn, Mai Thế,Mai Huy), Vũ (Vũ Văn, Vũ Huy), Trần, Phạm Trong những dòng họ trên thì
họ Đinh có số đinh lớn nhất: 28 hộ, 75 đinh Những dòng họ nêu trên chủ yếu
là các chi trưởng của các dòng họ từ Minh Lộc di cư đến Sở dĩ có tên gọi YênLãnh vì các dòng họ từ Minh Lộc lên lãnh xứ vùng đất họ sinh sống vì thế màgọi là Yên Lãnh Làng được hình thành khoảng 200 năm trở lại đây, ban đầuchỉ có 32 hộ, nay làng có 115 hộ, 427 nhân khẩu Đây là một làng thuần nôngnghiệp cư dân chủ yếu là trồng lúa và các loại cây hoa màu và chăn nuôi gà,lợn, ngan
* Làng Phú Nhi: Xưa thuộc xã Yên Giáo, vốn là vùng đất được khai
phá từ thời vua Lê Thánh Tông (1470) Đền thờ Lê Huy Phúc ở Phú Nhi có
Trang 28tấm bia (mờ cả hai mặt) nhưng còn đọc được dòng lạc khoản ghi “Thịnh
Đức, nguyên niên trọng xuân, chính nguyệt cốc nhật”, có thể đây là niên đại
dựng đền dưới thời vua Lê Thần Tông (1649 - 1650) Thành hoàng Lê HuyPhúc là người đã có công chiêu dân lập ấp ở đông Kênh De được ghi trongthần tích của làng Vì thế công việc dựng đền thờ, đặt hậu đã trở nên quantrọng ở thời kỳ này Hiện nay, Phú Nhi có 11 họ và dòng họ gồm họ Lê,Đinh, Phan, Hoàng, 3 họ Mai, 2 họ Vũ, 2 họ Nguyễn, trong đó có 3 họ Lê,Nguyễn, Vũ có quê gốc từ Nghệ An đến đây khai khẩn đất hoang từ đầu thời
Lê Sơ
* Làng Hương Trung (nay là làng Đông Hoà, Tây Hòa, Thái Hòa):
Thời Lê Trung Hưng gọi là Định Trung, xã Địch Cần Thời Nguyễn gọi thônHương Trung, xã Địch Cần Từ năm 1954 đổi tên là Kiến Long, hiện nay đượcchia thành 3 thôn: Tây Hòa, Đông Hòa, Thái Hòa Đây là một làng được khaikhẩn từ thời Lê Sơ, đến cuối thời Lê Sơ (1511 - 1521) đã là một làng xã ổnđịnh về hành chính với 18 dòng họ: 2 Lê, 8 dòng họ Nguyễn, 2 dòng họ Trần,
Họ Dương, Phạm, Trịnh, Hà, Đồng, Trương Trong các dòng họ trên thì họNguyễn có quê gốc từ Nghệ An, họ Lê, Trần, Dương, Phạm, Trịnh, Hà, Đồng,Trương có quê gốc từ Quảng Xương
Xã Ngư Lộc: Là vùng đất được khai khẩn từ thời Trần Trước Cách
mạng tháng Tám có tên là xã Diêm Phố Đây là một làng “nhất xã nhất thôn”.
Về quá trình hình thành làng xã ở Diêm Phố diễn ra trong một thời gian đài.Theo gia phả họ Bùi, cho thấy họ này có nguồn gốc từ Hà Đông (Hà Tây) vàođất Diêm Phố từ thế kỷ XII, khai khẩn đất hoang ở xứ Cồn Bò, cạnh cửa biểnLinh Trường Lúc này mới hình thành một ấp nhỏ, dân số vài chục gia đình.Gia phả họ Trần ở Diêm Phố lại cho biết họ này có nguồn gốc tổ tiên từ KiếnXương (xưa thuộc Sơn Nam Hạ) đến đây đem theo nghề cá và nghề muối Mặtkhác gia phả họ Chu ở xã An Ninh (Tiền Hải - Thái Bình), cho biết dòng họnày từ Diêm Phố - Thanh Hóa ra Người đầu tiên là ông Chu Hữu Ngạn (con
Trang 29rốt thứ 7) của một gia đình họ Chu ở Diêm Phố ông là một võ tướng có công
giúp nhà Lê trừ dẹp “hải phỉ”, “hải khẩu” (giặc biển, cướp biển) trấn giữ miền
duyên hải Thái Bình (cửa Kỳ Bá) vào thời Lê Thánh Tông, ông được phongchức Vệ Hiệu uý và đặc tiến Thượng tướng quân phụ quốc, tự Đôn Nghĩa.Được nhà vua phong cấp ruộng đất Ông đã lập nên hai làng Trình Phố vàDiêm Điền ở tỉnh Thái bình [25; 95] Còn gia phả họ Phạm thì cho biết DiêmPhố trở thành một xã từ đầu thời Lê Trung Hưng [92; 217] Đến thời Nguyễn,Thiệu Trị thứ 6 (1846), sắc phong ở phủ thờ cá Ngư Ông cho biết Diêm Phố
đã là một xã có quy mô thuộc tổng Xuân Trường, huyện Hậu Lộc, tỉnh ThanhHóa Sau thời Khải Định thứ 2 (1917), Diêm Phố được gọi với một tên mới là
Thượng Diêm Phố Đầu thế kỷ XX, Diêm Phố đã là một nơi quần cư “chen
chúc ngót 500 nóc nhà với khoảng 3000 dân ( ) tập trung lại được 120 thuyền với 500 mảng” [60; 177] Trải qua chặng đường lịch sử gồm 500 năm
hình thành và phát triển, ngày nay Diêm Phố đã trở thành một xã lớn có 23 họ
và 78 dòng họ được chia thành 7 thôn dựa theo hợp tác xã nghề cá gồm:Chiến Thắng, Thành lập, Thắng Lợi, Quyết Tiến, Nam Vượng, Toàn Thắng
và Bắc Thọ
Xã Minh Lộc: Thời Lê Sơ gọi là ấp An Thiện thuộc trang An Giáo Đây
là vùng đất bãi rộng, phía bắc giáp với làng Phú Lương xã Hưng Lộc kéo dàiđến làng Y Bích - Lộc Tiên xã Hải Lộc ở phía nam Phía đông giáp vịnh Bắc
Bộ, phía tây là Kênh De Lúc đầu cư dân ở miền cao tràn xuống ở trên nhữngdoi cát ven biển lẻ tẻ từng nhóm vài ba hộ làm nghề đánh cá Đến thời LêTrung Hưng niên hiệu Thái Hoà (1443 - 1453), ngọc phả của làng Phú Lươngcho biết: ông Nguyễn Huy Thành người gốc Nghệ An, giữ chức tổng trấn lộThanh Hoa, khi đi tuần tra miền ven biển Thuần Lộc, thấy bãi đất sa bồi khu
An Thiện, trang An Giáo, ông liền chiêu tập 100 người (gồm 9 dòng họ) cấptiền gạo về đây khẩn hoang lập ấp Ông đã chia ruộng đất cho từng hộ gia đình,
Trang 30khuyến khích việc nông trang, chia bãi lập địa Tên gọi trang An Giáo được tồntại suốt từ thời Lê cho đến đầu thời Nguyễn gọi là xã An Giáo.
Dưới thời Gia Long (1802 - 1820) do sự phân chia lại các tổng, các làng
xã trong huyện, khu vực ấp An Thiện - trang An Giáo được chia thành nhiều xãnhư An Lương, Y Bích thuộc tổng Xuân Trường; An Giáo, Phú Lương, ĐaPhạn, Lộc Lớn (tức xã Khúc Phần) thuộc tổng Liên Cừ Riêng xã Yên Giáođược chia thành 9 thôn: thôn Yên Lãnh, Phú Nhi, Lưu Đông, Lưu Trung,Trung Hoà, Thôn Thọ, thôn Tây, thôn Đông, thôn Yên Phú
Sang thời Khải Định (1924), do sự tranh giành của những người trong bộmáy chính quyền xã lúc bấy giờ, xã Yên Giáo được chia thành 2 xã: Yên Giáo
và Yên Nhân Xã Yên Giáo gồm 5 thôn: Yên Lãnh, Phú Nhi, Yên Phú, LưuTrung sau thêm làng Cầu Yên Xã Yên Nhân gồm 5 thôn: Lưu Đông, TrungHoà, thôn Đông, thôn Tây, thôn Thọ
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, 2 xã trên lại sát nhập thành xã TiếnThịnh Tháng 6 năm 1947, xã Tiến Thịnh được xác nhập vào xã Vạn Lộc, xãVạn Lộc gồm 4 xã đông Kênh De (Minh Lộc, Hưng Lộc, Ngư Lôc, Đa Lộc).Tháng 4 năm 1954, xã Vạn Lộc được chia thành 4 xã (Minh Lộc, Hưng Lộc,Ngư Lộc, Đa Lộc) xã Minh Lộc hiện tại gồm: xã Yên Nhân, Yên Giáo cũ vàthêm 2 thôn: Phúc Thành và Yên Thành còn làng Phú Nhi và 1/3 làng YênLãnh (thuộc Yên Giáo cũ) thuộc về xã Hưng Lộc
Hiện nay xã Minh Lộc có 10 thôn: Minh Hùng, Minh Phú, Minh Thành,Minh Thanh, Minh Đức, Minh hải, Minh Thọ, Minh Thịnh, Minh Thắng, MinhHoà là nơi cư trú của 60 dòng họ lớn nhỏ, với 2.400 hộ, 12.074 khẩu
Xã Hải Lộc: Trước Cách mạng tháng Tám 1945, xã Hải Lộc có 6 làng là
làng Y Bích, Lộc Duyên, Tiên Xá, Hưng Thái, Nam Khê và Đa Phạn Hiện nay
có 7 làng là Y Bích, Lộc Tiên, Trường Nam, Đa Phạn, Hưng Thái, LạchTrường và Thắng Hùng, trong đó có 2 làng Thắng Hùng và Lạch Trường mớiđược thành lập từ năm 1976
Trang 31* Làng Y Bích - Lộc Duyên - Tiên Xá: Lúc đầu một số gia đình của họ
Bùi, họ Trần cư trú ở vùng núi Linh Trường, về sau chuyển sang thành lập xómriêng có tên là Tiên Xá (nhà đầu tiên) lấy nghề đánh cá và làm nước mắm làmnghề nghiệp chính để sinh sống Đầu thế kỷ XV, dưới thời Lê - niên hiệu TháiHoà (1443 - 1453), Đô Tri Nội thị hầu Nguyễn Huy Thành có công dẹp giặcChiêm Thành, được vua Lê Nhân Tông cho giữ Tổng trấn lộ Thanh Hoa và cho
về vùng đất ven biển huyện Hậu Lộc khai hoang ở bãi An Thiện, lập nên trang
An Giáo Trang An Giáo - nay là vùng đất của hai xã Minh Lộc và Hưng Lộc.Dòng họ Mai đã từ trang An Giáo đến vùng đất Lộc Tiên ngày nay lập ra làngLộc Duyên Còn làng Y Bích vốn là một địa danh được nhắc đến từ cuộc khởinghĩa Bà Triệu (năm 248) khi nói về chiến thuyền của Lục Dận tấn công quận
Cửu Chân mà “mũi đường biển qua cửa Vích tiến về phía nam” [8; 57] Như
vậy vào thời kỳ này, ở Hải Lộc đã có 3 làng: Y Bích, Lộc Duyên và Tiên Xá.Văn bia ở chùa Vích dựng tháng 10 năm Kỷ Tỵ (1689) - niên hiệu Chính Hoà
cũng ghi “Tam xã hưng công bi” (Y Bích - Lộc Duyên - Tiên Xá đóng góp
tiền của vào việc xây dựng chùa Vích) [95; 38]
* Làng Hưng Thái: Cuối thế kỷ XVIII, có một gia đình họ Trần, họ Mai
(khoảng 13 hộ, 60 nhân khẩu) từ đất làng Lộc Tiên đến ở quanh Cồn Gai (họTrần ở phía đông, họ Mai ở phía tây) lập nên một xóm có tên là xóm Mới (xómnày vẫn do làng Lộc Tiên quản lý) Về sau họ Tô từ Lộc Tiên lên, họ Bùi, họĐồng từ Diêm Phố vào, dân số đông dần (khoảng 100 người) Năm Canh Dầnđặt tên là xóm Hưng Thái Năm ất Dậu (1945) có thêm một sô gia đình ở xómVạn Tân (xã Vạn Lộc) tiếp tục bổ sung và chính thức có tên là Hưng Tháithuộc xã Đinh Công, sau này là một làng của xã Trường Xuân
* Làng Nam Khê hay Trà Linh (nay là làng Trường Nam): Lúc đầu
gồm một số gia đình ở rải rác trên các cồn như cồn Giếng, cồn ổi, cồn Nghè,cồn Đò cạnh cửa sông Kênh De làm nghề đăng đó và lọc nước làm muối Vềsau dân cư từ vùng Sơn Nam Hạ đi vào, Y Bích, Lộc Tiên chuyển cư lên, dân
cư đông dần lập nên làng Vì có khe nước chảy ở phía nam nên gọi là làng
Trang 32Nam Khê Sau đổi thành làng Trường Nam Đây là nơi cư trú của 6 họ:Nguyễn, Đỗ, Phạm, Bùi, Ngô, Lê.
* Làng Đa Phạn (xưa có tên là Kẻ Trạn) Nguồn gốc cư dân của làng
này là các họ Trịnh, Phạm, Hoàng theo đạo thiên chúa di cư từ xã Khúc Phầnthuộc tổng Sen Cừ (nay là xã Hưng Lộc) đến đây từ đầu thế kỷ XIX Giữa thế
kỷ XIX, vua Tự Đức cấm đạo, dân Kẻ Trạn phiêu tán khắp nơi Đầu thế kỷ
XX, các họ Nguyễn từ Lộc Tiên đến, họ Trương từ Nam Huân về, họ Mai từHưng Thái xuống, họ Đồng từ Diêm Phố vào, một số họ khác từ Ninh Bình,Nga Sơn chuyển đến đã tạo cho Kẻ Trạn trở thành một vùng công giáo sốngđộng và thịnh vượng Về sau Kẻ Trạn được gọi là Đa Phạn Hiện nay Đa Phạn
có 290 hộ với 1.200 nhân khẩu là một làng công giáo toàn tòng
Từ những chứng tích của con người ở di chỉ Bái Cù (Hoà Lộc) trong nềnvăn hóa Hoa Lộc thời tiền Đông Sơn, nằm sát cửa biển Lạch Trường ở phía tâyKênh De, các nhà khảo cổ học đã nghĩ đến một cuộc di cư từ Bái Cù xuốngphía đông giáp biển theo triền sông Mã trên con đường chiếm lĩnh vùng hạ lưugiàu có Dẫu chưa có một bằng chứng khảo cổ học nào của 5 xã nằm ở phíađông Kênh De, nhưng Hậu Lộc trong lòng Thanh Hóa, vẫn có thể tự hào vềmình, một cái nôi bé nhỏ của một bộ phận người Việt Cổ, bắt đầu một trang sửchinh phục biển cả của người Hậu Lộc Hậu Lộc trong tiến trình lịch sử quêhương, ngày càng thêm sức hấp dẫn đối với lớp người Việt từ các nơi di cưđến Đó là đất thiêng của những hào kiệt luyện chí, là đất lành của những cánh
chim chiều bạt gió Đó cũng là “đất hứa” đối với những ai không tấc đất cắm
dùi, khát khao tìm đất Đó còn là bến đậu của những thân phận bèo bọt nổi trôithời xưa cũ Họ từ xứ Nghệ ra trên chiếc thuyền chài rách nát, từ tỉnh Bắc vàobằng đôi chân trần lấm đất, từ Hoằng Hóa, Quảng Xương, Nga Sơn hết lớp nàyđến lớp khác với hàng trăm dòng họ kết thành một khối, chiến thắng sự khốcliệt của thiên nhiên, biển cả để biến những vùng đất gò đống, bùn lầy ngổnngang thành những làng quê trù mật, dân cư từ nhiều miền hội tụ
Trang 331.2 Đời sống văn hóa vật chất
1.2.1 Trang phục
Trang phục của cư dân các làng ven biển Hậu Lộc nói chung là giản dị,bình dân Xưa kia hiếm vải để may mặc cho nên yếu tố bền chắc là yếu tố hàngđầu trong quan niệm về trang phục của người nông dân Quan niệm ấy đượcđúc thành những tục ngữ:
- Ăn lấy chắc - mặc lấy bền
- Xai xải áo vải bền lâu
Nhà giàu có thì mỗi người trong gia đình một năm thường được maymột bộ quần áo mới còn nhà nghèo thì vá chằng vá đụp, năm này qua nămkhác vẫn chỉ có một hai bộ cũ kĩ, rất hiếm được may áo mới Với người laođộng đồng ruộng hay sông nước hoặc làm nghề thủ công thì đàn ông thườngcởi trần đóng khố Về khố là thứ trang phục hiện đã vắng bóng, có nhiều têngọi để chỉ các chủng loại khố đã trở thành từ cổ như khố sồi, khố đũi, khố dây,khố rợ, khố lẻn mà ngày nay lớp trẻ rất xa lạ
Nghề dệt ở Thanh Hóa là một nghề phổ biến nhất, quan trọng nhất Nhờ
có điều kiện đất đai thổ nhưỡng thích hợp cho việc trồng dâu nuôi tằm, trồngbông lấy sợi - hai nguyên liệu chính của nghề dệt - nên nghề dệt ở đây đã sớmphát triển Đến thời Nguyễn thì đã định hình bởi sự phân công tự nhiên của nó.Trên hầu khắp các vùng, miền ở Thanh Hóa chỗ nào cũng có nghề dệt, mỗimột làng ít nhất cũng có một nhà hành nghề Hậu Lộc xưa có nhiều làng trồngbông kéo vải, chăn tằm dệt tơ như Kẻ Nhợm (Lộc Tân), Kẻ Lãi (Lộc Sơn) sản phẩm dệt ra có nhiều loại: dày, thưa, mỏng, mịn, thô tuỳ theo nhu cầu sửdụng Chẳng hạn như vải mỏng và thưa được dùng trong tang phục Vải thô,dày, rất bền, sợi ngang sợi dọc thường được chắp đôi người ta gọi là vải bố, sảnxuất tại Liên Cừ (Hậu Lộc) dùng để may buồm Còn lại đa phần là vải dày, mịnphục vụ cho nhu cầu may mặc của quảng đại quần chúng nhân dân Từ đầu thế
kỷ XX trở về trước hầu như Hậu Lộc tự túc vải mặc chứ không nhập vải lụa từ
Trang 34nơi khác tới Các loại vải dệt máy như cát bá, trúc bâu, lĩnh the chỉ nhập vàoThanh Hóa cũng như Hậu Lộc từ những năm 1935 trở đi.
Trang phục của cư dân Hậu Lộc xưa chỉ đơn điệu một màu nâu và phụ
nữ có thêm màu đen cho chiếc khăn vuông mỏ quạ và chiếc váy Vải thô trắngđem về nhuộm nâu cho chín sẫm để may quần áo trẻ con và đàn ông, may áocho đàn bà Cũng vải nâu đó đem nhận bùn và phơi khô, giặt sạch thì trở thànhmàu đen để làm khăn và may váy cho phụ nữ Quanh năm trong lao động ănmặc chủ yếu là quần áo cũ, vá đi vá lại, màu nâu bạc trắng Trong mỗi làng chỉ
có vài người mặc quần dài trắng, mặc áo cánh phin, áo the, lương Đàn ôngdùng áo cánh nâu, quần ta nâu có dải rút bằng sợi đay xe, đầu đội nón đan bằngnan vầu Riêng đối với những người đàn ông đi biển thường cởi trần, mặc quầnđùi hoặc đóng khố; phụ nữ thời trước thường mặc váy, không một ai mặc quần
và có người chỉ khoác chiếc yếm che ngực Váy do họ tự may lấy hoặc nhờngười khác may hộ, vải may váy thường là vải Lãi, vải Nam Người giàu cómới may váy nái, váy lụa, vải may váy đem nhuộm nâu sau mới nhuộm bùn aocho đen sẫm để giữ bền màu Mùa đông thì mặc kín và ấm hơn
Nhà giàu cũng chỉ mặc đến váy lụa, váy nái Phong tục mặc váy khôngbiết có tự bao giờ nhưng duy trì mãi cho đến sau ngày toàn quốc kháng chiến
Trước Cách mạng tháng Tám, ngoài bộ quần áo duy nhất, người nôngdân Thanh Hóa nói chung, nông dân Hậu Lộc nói riêng hầu như không có quần
áo lót
Vào tết, vào lễ hội hay đám sá, trang phục đàn ông thường là áo cánhnâu gài hàng cúc giữa (áo 4 thân) hay gài cúc bên hông phải (áo 5 thân) Áocánh 4 thân thường có 2 túi dưới và 1 túi thượng bên ngực trái Người lịch sựthì trên nẹp ngang của túi có viền vải khác màu nâu Người giàu có hay hàngquan chức, học thức trong làng thì có áo lương cặp, quần trắng sang bằng vảicát bá, đầu đội khăn xếp, chân đi giày hạ, tay cầm ô lục soạn Sang trọng lắm
Trang 35thì có đôi kính dâm và đội nón dứa chóp bạc đằng sau có đứa trẻ hầu cắp tráp(tiểu đồng), trong tráp có trầu cau, thuốc lá và các vật dụng khác.
Trang phục đàn bà cũng áo cánh nâu gài khuy giữa để lao động Đi chợbúa buôn bán giao dịch thì có áo 5 thân dài qua đầu gối, mặc yếm cổ xẻ hayyếm cổ xuây, đeo khuyên tai vàng hay bạc, đầu vấn khăn màu đen hay nhiễutím, mặc váy nâu hay sang trọng thì mặc váy đen váy lĩnh, chân đi dép quaingang và có dắt bộ dây xà tích bằng bạc bên hông phải hoặc trái Đàn bàthường có mốt rất phổ biến là “áo thay vai” Áo mặc đã bạc màu (thường 1 hay
2 năm) thì thay vai, nghĩa là cắt bỏ từ bả vai trở lên để thay vải mới sẫm màu,giữ lại phần dưới Áo thay vai thường cắt lệch thân (thân phải và thân trái lệchnhau) màu đậm ở trên, màu bạc nhạt ở dưới, ôm khít thân mình làm cho ngườicon gái trở nên thon thả, nền nã
1.2.2 Tập quán trong sinh hoạt ăn uống
Ăn uống cũng như tập tục về ăn uống của một địa phương đều phụ thuộcvào tình hình lương thực, thực phẩm của địa phương
Vùng biển Hậu Lộc cũng chia thành những vùng lương thực, thực phẩmkhác nhau và phần lớn mang tính khép kín tương đối cho nên cũng hình thànhnhững vùng tập tục ăn uống khác nhau Đối với những vùng làm màu lươngthực chính là lúa gạo Giống lúa trước đây thường cấy là lúa thông ngạnh, lúahạt tiêu Cơm gạo thông ngạnh có màu đỏ nhưng ăn cơm có vị ngọt Gạo thôngngạnh là gạo dành cho những gia đình nghèo túng Còn những nhà khá giảdùng cơm gạo di, gạo ven trắng Cơm gạo này thường dẻo, trắng, ngon cơm.Đối với những làng chuyên làm nghề biển do đời sống là dựa vào con thuyền,
tấm lưới Biển lặng thì “cơm đầy rá, cá đầy nồi” biển động thì “ngừng chèo
treo niêu” Công việc làm ăn đều tuỳ thuộc vào con nước, trời bể Do đó cái ăn
luôn bị chi phối thiếu thốn, khó khăn Đã vậy thiên tai lũ lụt lại thường xuyên
đe dọa, tàn phá cướp đi nhiều mồ hôi, sức lực, đất đai, nhà cửa, người thân.Sống trong hoàn cảnh cực kỳ ngặt nghèo như vậy con người ở đây đêm lo ngày
Trang 36làm, vừa phải nỗ lực lao động, vừa phải thắt bụng tính toán trong từng việc chitiêu, ăn uống Do đất cát khô cằn phần lớn chỉ trồng khoai lang nên ăn uốngcủa họ chủ yếu là khoai lang tươi và khô Thời vụ thì dùng khoai tươi, qua vụthì dùng khoai khô thái lát Thứ khoai người vùng biển chuyên dùng là khoaivùng đông kênh De, bùi và thơm Khoai củ luộc, dỡ ra rá (để nguội) ăn cùngvới canh dền tía, cá luộc hoặc mắm Khoai khô nấu xéo với đậu đánh tơi nắmthành nắm hoặc xới vào bát ăn với canh hoặc chấm mắm, cá luộc
Trừ các nhà giàu có, tầng lớp nông dân từ trung nông lớp dưới trởxuống bần nông, cố nông đời sống bấp bênh, không có lương thực dự trữ để
ăn hết vụ Có khi những năm mất mùa “vừa treo hái lên đã không còn hạt
thóc để nhổ râu” !
Trong một gia đình thường chỉ có nồi đất dùng nấu cơm, kho cá, nấucanh, nấu nước, may mắn mới có được một cái nồi đồng, xanh đồng là từ đờiông cha truyền lại Bát đũa cũng sơ sài, dăm bảy cái bát đàn, đĩa đàn chứ
Trang 37không có điều kiện mua sắm đổi mới thường xuyên Mỗi khi giỗ tết thườngmượn lẫn nhau.
Mỗi bếp thường xuyên có một bồ con đựng muối, một vại cà nén, một lọ
mẻ chua dùng trong chế biến bữa cơm gia đình Tập tục chung là “ăn nhanh” Cơm dọn ra “đá đòn” ngồi xuống cùng ăn, không khề khà kéo dài và ăn xong
đứng lên ngay Tất nhiên, các cuộc tiếp đãi chè chén thì kéo dài hơn nhiều để
có thời gian chuyện trò
Quanh năm, người dân vùng ven biển Hậu Lộc xưa chỉ “dưa cà mắm
mặn” Thịt cá ngon lành hầu như chỉ được ăn trong các ngày giỗ, ngày tết, ốm
đau cũng không có mà ăn
Tuy cuộc sống nghèo đói, ăn uống đạm bạc và đơn điệu song người dânven biển Hậu Lộc xưa cũng biết đến cái ngon, cái lành trong ăn uống nơi làngquê như:
- Mặc cho sóng vỗ ba cồn
Tôm he bóc vỏ ăn ngon khoẻ người
- Một đầu cá chai bằng hai thủ lợn
Thói quen nấu nướng ở Hậu Lộc xưa ít xào, rán, nem, nộm, chiên, hầm
vì đó là những loại thức ăn sang
Trang 38Tập tục trong làng quê thường là:
- Cơm độn: gạo độn ngô, độn khoai, độn sắn thường xuyên Cơm độn ănchắc bụng lâu đói, lao động bền bỉ và năng suất
- Khoai lang: khoai luộc, khoai khô xéo với đỗ đánh tơi ăn với cá biểnkho hay ăn với canh chua
- Thức ăn sẵn: cà muối, muối vừng, muối lạc, dưa cải, mắm tôm, ruốcchua, nước cáy, moi khô
- Thức ăn nấu phổ biến ở các làng quê thường là:
+ Nấu dấm: dấm cá, dấm ốc, dấm cua đồng nấu với mẻ hoặc lá chua+ Làm nham: củ chuối bóp vừng, hoa chuối bóp vừng lạc
+ Làm nộm: rau muống luộc hay cây chuối non thái nhỏ trộn với rau giá,tép khô, moi khô rang chín bóp vừng hoặc mắm tôm
+ Nấu om: om cá đồng, om lươn, om ốc
+ Nấu bung: cá đồng, ốc, lươn bung với củ chuối non hay cà bát
Trên đây là các món ăn phổ biến trong thói quen ăn uống thành tục ởHậu Lộc Tất nhiên tuỳ từng địa phương, tuỳ từng hoàn cảnh gia đình mỗi nơimỗi người còn có nhiều cách ăn uống, các món ăn khác nhau như nem, gỏi song không phổ biến Riêng cỗ bàn trong giỗ chạp, tết nhất thì tuỳ tài, tuỳ lực
mà nấu nướng cầu kỳ phong phú Cũng như ở nhiều vùng quê khác trong tỉnhThanh, vùng ven biển Hậu Lộc loại bánh tráng (bánh đa) được dùng phổ biến.Bánh tráng dùng ăn kèm với các món ăn trong bữa cơm sang trọng, trong giỗtết, trong tiếp đãi bạn bè Bánh tráng cũng là món quà quê cho con trẻ rấtthích hợp
Ngoài ra còn có các loại bánh quen thuộc như bánh đúc, bánh tày, bánhmướt (tức bánh quấn song chỉ xếp gấp lại chứ không cuốn)
Về uống, ở Hậu Lộc xưa cũng không cầu kỳ Nhân dân trong huyện nóichung đều uống nước lã Trừ một số gia đình giàu có thì có rượu chè: rượungâm thuốc bắc, chè Đồng Lương, chè Chính Thái
Trang 39Phổ biến trong dân quê là các thứ sau đây:
- Chè xanh: nước chè rất đặc, ngày nấu 2, 3 ấm (sáng, trưa, chiều), cókhách thì không kể Đối với các làng quê uống chè xanh đã trở thành tục lệ
- Chè vối
- Chè góp (góp các lá cây, hái ngày mùng 5 tháng 5)
- Thuốc lào: thuốc trồng ở các làng vùng biển và bán khắp các chợ quê.Nhà giàu hút thuốc làm bằng điếu bát, điếu gióng, phổ biến trong dân quê làđiếu cày Điếu cày đơn giản chỉ là một ống tre hoặc nứa, có cái nõ điếu để đặtthuốc châm lửa, trong đổ nước để lọc khói Nhiều người có tài khoét nõ điếu,khi rít thì tiếng nõ điếu kêu xé lên giòn giã phà khói ra khoan khoái
- Trầu cau: khách vào nhà chỉ mời trầu là chủ yếu, ít có nhà mời nướcuống Đúng như câu ca xưa: “miếng trầu là đầu câu chuyện” Nhà nào cũngtrồng một vài cây cau, một vài bụi trầu để ăn quanh năm Vào mùa cau, nhiềungười vào các làng mua về bổ phơi khô để bán ở các chợ Ngoài ra còn có cácloại vỏ như: vỏ chay, vỏ vằng ăn kèm với trầu
- Rượu ngang: nấu bằng gạo để phân biệt với rượu Ty (của Pháp bắt dânmua uống) Các chợ đều có bán rượu ngang do dân quanh vùng nấu Chínhquyền thực dân cấm rượu ngang (để chỉ bán rượu Ty) và gọi rượu ngang làrượu lậu (tức không được phép bán và uống) song dân làng chỉ dùng rượungang chứ không tự nguyện dùng rượu Ty
Phụ nữ Hậu Lộc xưa đi chợ chủ yếu tính toán để mua “đồng chè, đồng
thuốc, đồng trầu, đồng cau” cũng có khi “đồng quà tấm bánh” song không
phổ biến Còn rượu ngang thì khi nào có giỗ chạp, khách khứa mới mua chứkhông thường xuyên
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, trong cuộc kháng chiến chống Pháp,chống Mỹ, suốt thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa từ 1960 đến năm 1990, HậuLộc vẫn thiếu lương thực, cái đói luôn đe dọa Tập tục ăn uống so với trước kiakhông mấy thay đổi Sinh hoạt ăn uống được mở rộng từ gia đình ra tập thể:
Trang 40tập thể tổ đổi công, tập thể hợp tác xã cũng từ đây cách nấu nướng ăn uốngcũng dần dần có sự thay đổi Cho đến nay, lương thực, thực phẩm dồi dào,trong ăn uống đã có sự chuyển biến theo xu hướng cầu kỳ, ngon và bổ, có thể
mở ra một thời kỳ mới trong tập tục ăn uống ở Hậu Lộc, thời kỳ ăn uống theonếp sống công nghiệp hóa
1.2.3 Nhà ở
Nhà ở của người dân ven biển Hậu Lộc cũng như phần nhiều nhà ở củangười dân làm nghề biển ở Thanh Hóa trước đây thường được dựng rất thấp đểtránh gió bão Chỉ cao (từ nền đất đến đòn ngang xà) khoảng 2,4m đến 2,6m.Nền nhà cũng rất thấp, chỉ nhỉnh hơn mặt bằng của đất ở từ 10cm đến 20cm
Đa số nhà cửa, kèo, cột, đòn tay, rui, mè, mái lợp đều bằng tranh tre nứa lá.Nhà thường có ba gian hoặc hai gian hai chái, được ngăn ra làm hai phần; mộtphần buồng để chứa đồ đạc, một phần làm nhà ngoài dùng để sinh hoạt, tiếpkhách Hầu hết, mỗi gian bề rộng theo chiều dọc nhà là năm thước ta (mỗithước là hai gang tay, chừng 40 phân), bề sâu từ đằng trước đến đằng sau nhà
là tám, chín thước
Nguyên liệu làm nhà: toàn bằng tre bương đục lỗ, luồn giằng nhau vững
chắc với những con sỏ cài giữ và núc lại bằng mây hoặc lạt tre, không phảiđóng một cái đanh sắt nào
Khá giả đôi chút thường làm nhà gỗ nhỏ bào trơn đóng bén, cột khoát tưkhoát năm (đường kính dưới 20 phân tây), hai mái bằng đòn tay bương, dui,
mè bằng tre luồng, lợp rạ, lợp cỏ cây hay lá gồi, đôi khi cũng lợp ngói
Giàu có chuộng nhà ngói cây mít, hoặc “tứ thiết” là bốn thứ gỗ được ví
với sắt (lim, trai, sến, táu) với ý niệm vĩnh cửu Loại nhà này không nhiều, mỗilàng độ năm bảy nhà, thường đời ông cha truyền lại cho con cháu và thường lànhà của các chức dịch hay các trưởng tộc thuộc các dòng họ lớn Trên nữa làdinh thự quy mô, đồ sộ của các vị khoa bảng, hưu quan cao cấp ở một số làng
có truyền thống học hành, võ nghiệp lâu đời