Chính vì điều này, văn hóa của Hy Lạp được phát triển một cách đa dạng, tạo điều kiện để tư duy con người có dịp bay bổng, để thoả sức sáng tạo ra những giá trị triết học có ý nghĩa vô c
Trang 1Chương 1: Sơ lược về lịch sử và triết học Hy Lạp cổ đại 1.1/ Đất nước Hy Lạp cổ đại:
1.1.1/ Điều kiện tự nhiên:
Hy Lạp cổ đại so với Hy Lạp ngày nay rộng lớn hơn nhiều, bao gồm miền nam bán đảo Balkans thuộc Châu Âu, nhiều đảo thuộc biển Égée và miền ven biển của phía tây Tiểu Á Nếu nhìn trên bản đồ thì Hy Lạp cổ đại giống như một bàn tay chìa các ngón ra biển Địa trung hải Phía nam là hòn đảo Crète, ngàn năm trước Tây lịch đó là nơi khởi đầu của văn minh nhân loại Về phía đông là lãnh thổ thuộc về Á châu tuy ngày nay có vẻ lạc hậu nhưng dưới thời Platon là một lãnh thổ rất trù phú với một nền thương mại, kỹ nghệ cực thịnh và một nền văn hoá phong phú Về phía tây là nước Ý giống như một toà lâu đài ở giữa biển, các đảo Sicile và nước Y-pha-nho (Tây Ban Nha) Về phía bắc là những xứ man
rợ như Thessaly, Épirus và Macédonie
Với khí hậu ấm áp, trong lành, thiên nhiên đẹp đẽ muôn màu, Hy lạp có
vị trí địa lý rất thuận lợi cho việc phát triển, mở rộng bang giao, tiếp nhận nhiều giá trị văn hoá Vùng lục địa Trung bộ có nhiều dãy núi ngang dọc và những đồng bằng trù phú với những thành phố quan trọng như Athènes - cửa ngõ của Hy lạp
để giao thiệp với các quốc gia thuộc vùng Á châu, thu nhận những sản phNm và ánh sáng văn hoá từ bên ngoài với một hải cảng rất tiện lợi là hải cảng Pirus Vùng Nam bộ là bán đảo Péloponnèse với nhiều đồng bằng rộng lớn phì nhiêu thuận lợi cho việc trồng trọt Vùng bờ biển phía đông của bán đảo Balkans thì khúc khủy tạo nên nhiều vịnh, hải cảng thuận lợi cho ngành hàng hải phát triển Các đảo trên biển Égée là nơi trung chuyển cho việc đi lại, buôn bán giữa Hy Lạp với các nước ở Tiểu Á và Bắc Phi Còn vùng ven biển Tiểu Á là đầu mối thông thương giữa Hy Lạp và các nước phương Đông
Về địa hình, Hy Lạp bị chia cắt và cô lập bởi những chướng ngại thiên nhiên Đất liền thì có nhiều núi đồi, bờ biển đâu đâu cũng có những vịnh nhỏ và những mỏm đá trồi ra Sự đi lại và liên lạc khó khăn nên mỗi vùng đã tự phát triển lấy nền kinh tế, tự thành lập lấy nền hành chánh chính trị, tự phát huy tôn
Trang 2giáo, văn hoá và ngôn ngữ của mình Chính vì điều này, văn hóa của Hy Lạp được phát triển một cách đa dạng, tạo điều kiện để tư duy con người có dịp bay bổng, để thoả sức sáng tạo ra những giá trị triết học có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại
Có thể nói, Hy Lạp đã hội tụ đủ các yếu tố thiên thời, địa lợi để trở thành một quốc gia chiếm hữu nô lệ có một nền công - thương nghiệp phát triển, một nền văn hóa tinh thần phong phú đa dạng trong thời kỳ cổ đại này
1.1.2/ Kinh tế - chính trị - xã hội:
1.1.2.1/ Các thời kỳ phát triển
Lịch sử Hy Lạp cổ đại trải qua 4 thời kỳ:
• Thời kỳ Crète – Mycens (đầu TK III - TK XII TCN): Dựa trên công cụ
đồng thau, ở vùng Crète – Mycens đã hình thành nên các nhà nước hùng mạnh Năm 1194 - 1184 TCN, Mycens đã tấn công và tiêu diệt thành Troie ở Tiểu Á, nhưng sau đó, người Dorien với vũ khí bằng sắt đã tiến xuống và tiêu diệt các quốc gia ở Crète – Mycens
• Thời kỳ Homère (TK XI-IX TCN): Đây là thời kỳ Hy Lạp cổ đại bước vào
xã hội chiếm hữu nô lệ với sự xuất hiện và nhanh chóng khẳng định của chế độ
sở hữu tư nhân kéo theo sự phân hóa giàu nghèo, sự ra đời và xung đột giai cấp diễn ra mạnh mẽ
• Thời kỳ thành bang (TK VIII–VI TCN): Đây là thời kỳ quan trọng nhất
trong lịch sử Hy Lạp cổ đại Lúc bấy giờ đồ sắt được dùng phổ biến, năng suất lao động tăng nhanh, sản phNm thặng dư dồi dào, chế độ sở hữu tư nhân được củng cố, xã hội bị phân hóa thành hai giai cấp xung đột Đất nước cũng bị phân chia thành nhiều nước nhỏ, mỗi nước lấy một thành phố làm trung tâm Các cuộc chiến tranh giành quyền lực giữa các thành bang đNy Hy Lạp vào hoàn cảnh rối ren Sparte và Athènes là hai thành bang hùng mạnh nhất thời kỳ này
• Thời kỳ Macédoine: Năm 337 TCN, vua Philip II của xứ Macédoine quyết
định tấn công Ba Tư Đến năm 325 TCN, Alexandre – con của vua Philip II - đã chinh phục cả một vùng rộng lớn Ba Tư, Tây Ấn, Bắc Phi và lập nên đế quốc
Trang 3Macédoine đóng đô ở Babilon Nhưng do tranh giành quyền lực, sang thế kỷ III TCN, đế quốc này bị chia thành 3 nước lớn (Macédoine - Hy Lạp, Ai Cập và Xini) và vài nước nhỏ Vào lúc này, La Mã đã trở thành một đế quốc hùng mạnh Năm 168 TCN, Macédoine bị La Mã tiêu diệt, Hy Lạp bị nhập vào La
Mã Sau đó, đế quốc này chinh phục dần các quốc gia phương Đông khác
1.1.2.2/ Nền văn minh Hy Lạp cổ đại
Vào khoảng TK VI TCN, xã hội Hy Lạp bắt đầu có sự phân hoá với hai giai cấp chủ yếu là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ Trong đó, giai cấp nô lệ có
số lượng đông đảo và là lực lượng sản xuất chủ yếu trong xã hội Giai cấp chủ nô chỉ chiếm số lượng nhỏ và cũng phân hóa thành chủ nô quý tộc và chủ nô dân chủ Chủ nô quý tộc gắn liền với sản xuất nông nghiệp, bảo thủ và chuyên chế Chủ nô dân chủ gắn liền với công thương nghiệp, tiến bộ hơn, thường đề xuất những chủ trương dân chủ chống lại chủ nô quý tộc
Đến thời kỳ thành bang, chế độ chiếm hữu nô lệ đã phát triển tới hình thức cao, tạo cơ sở cho sự phân công xã hội, tách lao động trí óc khỏi lao động chân tay Điều này thúc đNy sự hình thành tầng lớp tri thức biết xây dựng và sử dụng hiệu quả tư duy lý luận để nghiên cứu triết học, khoa học và sáng tạo văn học nghệ thuật Hơn nữa, do nhu cầu buôn bán, trao đổi hàng hóa và qua cuộc chiến tranh Hy Lạp - Ba Tư, nền văn hoá Hy Lạp - La Mã đã kế thừa được nhiều thành tựu văn hoá của phương Đông Tất cả những tiền đề này đã tạo điều kiện cho Hy Lạp phát triển rực rỡ trên nhiều lĩnh vực:
• Về văn học, người Hy Lạp đã để lại một kho tàng văn học thần thoại rất phong phú, những tập thơ chứa chan tình cảm, những vở kịch hấp dẫn, phản ánh cuộc sống sôi động, lao động bền bỉ, cuộc đấu tranh kiên cường chống lại những lực lượng tự nhiên, xã hội của người Hy Lạp cổ đại
• Về nghệ thuật, đã để lại các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa có giá trị như đền Parthénon của nhà điêu khắc Phidias Về kiến trúc, có tượng thần
Vệ nữ (Venus) của Praxiten Về hội hoạ, có bức Marathon trong chiến tranh
Hy Lạp - Ba Tư …
Trang 4• Về luật pháp, đã sớm xây dựng một nền pháp luật và được thực hiện khá nghiêm tại thành bang Athènes
• Về khoa học tự nhiên, những thành tựu toán học, thiên văn, vật lý… được các nhà khoa học tên tuổi như Thalès, Pythagore, Héraclite, Euclide, Archimède, Hippocrate sớm phát hiện ra Đặc biệt, người Hy Lạp cổ đại đã để lại một di sản triết học vô cùng đồ sộ và sâu sắc
Nhìn chung, nền văn minh Hy Lạp cổ đại đã tạo một tiền đề vững vàng cho sự phát triển của nền triết học cổ Hy Lạp nói riêng và cho cả nền văn minh
phương Tây nói chung Như Engels đã nhận xét “không có cơ sở văn minh Hy
Lạp và đế quốc La Mã thì không có Châu Âu hiện đại được”
1.2/ Triết học Hy Lạp cổ đại:
1.2.1/ Đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại:
Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời trong bối cảnh diễn ra sự chuyển biến lâu dài và sâu sắc các quan hệ xã hội và được coi là đỉnh cao của nền văn minh cổ đại, là một trong những điểm xuất phát của lịch sử triết học thế giới Nền triết học này có những đặc điểm sau:
• Triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai cấp chủ nô thống trị Nó là công cụ lý luận để giai cấp này duy trì trật tự xã hội, củng cố vai trò thống trị của mình
• Trong triết học Hy Lạp cổ đại có sự phân chia và đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái duy vật - duy tâm, biện chứng - siêu hình, vô thần - hữu thần
• Triết học Hy Lạp cổ đại gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau nhằm xây dựng bức tranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong
nó Tuy nhiên, do trình độ tư duy lý luận còn thấp, nên khoa học tự nhiên thời kỳ này chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích để đi sâu vào bản chất sự vật
• Triết học Hy Lạp cổ đại đã xây dựng nên phép biện chứng chất phác Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại nghiên cứu phép biện chứng để nâng cao nghệ thuật
Trang 5hùng biện, để bảo vệ quan điểm triết học của mình, để tìm ra chân lý Họ đã phát hiện ra nhiều yếu tố của phép biện chứng, nhưng chưa trình bày chúng như một
1.2.2/ Các giai đoạn phát triển của triết học:
Triết học Hy Lạp cổ đại phát triển qua 3 thời kỳ sau:
• Triết học thời kỳ tiền Socrate (thời kỳ sơ khai, TKVI TCN): Đây là thời
kỳ chế độ chiếm hữu nô lệ mới hình thành Do sự phát triển của sản xuất, thế giới quan cũ có tính chất tôn giáo, thần thoại dần dần nhường chỗ cho những hiểu biết khoa học về con người, về vũ trụ Triết học với tư cách là một khoa học bao quát mọi tri thức ra đời, gồm 4 trường phái: Milet, Héraclite, Pythagore và Elée Các quan điểm của các triết gia thời kỳ này chủ yếu tập trung vào lý giải các vấn thế giới quan và bản thể luận Dù còn ở mức độ sơ khai, song triết học thời kỳ này đã có tính hệ thống và sự phân cực trong quá trình giải đáp các vấn đề chung
• Triết học thời kỳ Socrate (thời kỳ cực thịnh, bắt đầu từ TKV TCN): Đây
là thời kỳ chế độ chiếm hữu nô lệ phát triển đến hình thức cao và cũng là thời
kỳ phồn vinh của triết học cổ đại Hy Lạp Thời kỳ này, đối tượng nghiên cứu của triết học được mở rộng sang các vấn đề về kết cấu của vật chất, nhận thức luận và đời sống chính trị Trong đó, kết cấu của vật chất là vấn đề trung tâm của nhiều trường phái triết học Các đại biểu nổi tiếng của thời kỳ này gồm Démocrite, Platon và Aristote
• Triết học thời kỳ Hy Lạp hoá: Đây là thời kỳ khủng hoảng và suy vong của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp - La Mã Văn hóa thời kỳ này là sự hòa
Trang 6quyện giữa văn hóa Hy lạp, La Mã và văn hóa phương đông Triết học thời này cũng có sự biến đổi to lớn: các triết gia không muốn bàn (cũng như không đủ sức bàn) đến những vấn đề bản thể luận mà chỉ tập trung vào các vấn đề đạo đức cá nhân và cuộc sống đời thường Các học thuyết bớt tính lý luận thuần túy, tăng chất dung dị, phàm tục, đời thường Tư tưởng của các triết gia thời kỳ này phản ánh sâu sắc sự biến đổi, khủng hoảng của xã hội
*** Tóm lại, sự ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại là một tất yếu - đó là kết quả nội sinh của cả một dân tộc, một thời đại Dù còn khá mộc mạc, thô sơ nhưng triết học thời kỳ này đã bao chứa mầm mống của tất cả các thế giới quan sau này Đặc biệt, cuộc đấu tranh của hai nhà tư tưởng lớn Démocrite và Platon
đã phản ánh cuộc đấu tranh của CN duy vật và duy tâm trong giai đoạn sơ khai
Chương 2: Quan điểm triết học của Démocrite và Platon 2.1/ Quan điểm triết học của Démocrite:
2.1.1/ Tiểu sử
Démocrite (460-370 TCN) sinh tại Abdère, thuộc xứ Thrace, là miền đất thuộc một phần của nước Hy Lạp và nước Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, phía Nam nước Bulgari Ông xuất thân trong một gia đình chủ nô dân chủ Ông đã đi du lịch rất nhiều nơi như Ai Cập, Ba Tư, Ấn Độ,… nên đã có dịp tiếp xúc với nhiều nền văn hoá và am hiểu nhiều lĩnh vực như toán học, vật lý học,
sinh vật học, mỹ học, ngôn ngữ học và âm nhạc v.v
Démocrite là học trò giỏi của Leucippe - người sáng lập ra Thuyết nguyên
tử Ông đã phát triển học thuyết này lên một trình độ cao hơn và chặt chẽ hơn, như Aristote đã viết: “Ngoài Démocrite ra, hầu như chưa có ai nghiên cứu một cách cặn kẽ về một vấn đề gì Démocrite hầu như đã suy nghĩ đến tất cả mọi
thứ”
Có thể nói, với khoảng 70 tác phNm nghiên cứu về các lĩnh vực khoa học, Démocrite là đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy vật và là nhà bác học khoa học đầu tiên của thởi cổ đại
Trang 72.1.2/ Quan điểm triết học
“chúng bay lượn như những hạt bụi li ti mà ta thường nhìn thấy dưới nắng sớm”, “chúng va chạm nhau, đNy nhau, rồi lại xoắn vào nhau, tan hợp hợp tan theo những trình tự nhất định, tạo ra những hướng vận động khác nhau”) Các nguyên tử chỉ khác nhau về hình thức, kích thước, vị trí và trình tự kết hợp của chúng Đây là những đặc tính cố hữu, bản chất của nguyên tử Còn những tính chất khác như âm thanh, mùi vị, màu sắc… thì không phải đặc tính cố hữu
mà do giác quan của con người đem lại Do đó, mọi vật thể thực ra đều do sự kết hợp giữa các nguyên tử, tính đa dạng của sự vật là do hình thức, cấu tạo, trật tự kết hợp, tư thế của những nguyên tử được kết hợp quy định
• Chân không là khoảng không gian trống rỗng mà nguyên tử tồn tại Với Démocrite, chân không cũng cần thiết như nguyên tử, nhờ nó nguyên tử mới vận động được Khác với nguyên tử có kích thước, hình dáng, chân không thì
vô hạn và không có hình dáng Trong chân không có hằng hà sa số những nguyên tử vận động theo nhiều hướng, khi tản ra, khi tụ lại Khi tụ vào một điểm nào đó, chúng va chạm vào nhau tạo thành một cơn xoáy tròn (cơn lốc nguyên tử) Cơn lốc này đNy những nguyên tử nhỏ, nhẹ ra ngoài chu vi, còn những nguyên tử to, nặng quy vào tâm, nhờ đó các hành tinh, kể cả trái đất được hình thành
Những phán đoán trên đây về nguyên tử tuy còn nhiều điểm hạn chế nhưng nó đã khẳng định bản chất của thế giới là vật chất, vũ trụ là vô cùng, vô tận Hơn nữa, mặc dù Démocrite chưa giải thích được nguyên nhân của vận động, nhưng ông đã gắn liền vận động với nguyên tử, và nó cũng vô cùng, vô tận
Trang 8như nguyên tử Đó là một đóng góp hết sức quan trọng đối với sự phát triển của khoa học tự nhiên và triết học duy vật
2.1.2.2/ Tất yếu và ngẫu nhiên:
Démocrite chủ trương quan điểm quyết định luận (thừa nhận sự ràng buộc theo luật nhân quả và tính quy luật của các hiện tượng tự nhiên) gần như định mệnh luận Ông nhận định: không một sự vật nào sinh ra một cách vô nguyên cớ
mà tất cả đều tuân theo mối quan hệ nhân quả và tính tất yếu Con người cho một hiện tượng nào đó là ngẫu nhiên, vì họ lười suy nghĩ, không muốn truy tìm nguyên nhân của nó Do đó, Démocrite đã loại ra khỏi đời sống cái ngẫu nhiên -
số mệnh mang tính chất tôn giáo - thần thoại (không phản bác khái niệm ngẫu nhiên) Từ góc độ triết lý ngẫu nhiên, theo Démocrite, là cái gì đó xảy ra không theo tự nhiên, khác với tất yếu là cái tồn tại theo tự nhiên
Tuy nhiên, trong quan niệm về tất yếu của Démocrite có sự lầm lẫn cơ bản Thay vì xem tính nhân quả như cơ sở của tính tất yếu, thì ông lại quy tính tất yếu về tính nhân quả Nhưng không phải nguyên nhân nào cũng tất yếu dẫn đến kết quả nấy Trong thực tế để đạt được một kết quả nào đó cần hội đủ những điều kiện tương ứng Thông thường mỗi kết quả có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân sinh ra, và ngược lại Mối liên hệ nhân quả, do vậy, không đơn giản Càng ít ảnh hưởng của điều kiện, hoàn cảnh, thì nguyên nhân sinh ra kết quả càng gắn nhiều hơn với tính tất yếu, càng ít đi vai trò của ngẫu nhiên
Hơn nữa, mọi nguyên tử đều giống nhau về chất, bản thân chúng không
có mùi vị, màu sắc, âm thanh và không trông thấy được Bởi vậy, những cảm giác này chỉ là chủ quan của con người Theo ông, muốn nhận thức được nguyên
tử và chân không, tức là muốn nhận thức bản chất của sự vật, con người ta không
Trang 9được dừng lại ở cảm giác, mà phải biết quy nạp, so sánh, phán đoán, tức là phải đNy tới nhận thức lý tính Do đó, ông chia nhận thức làm hai dạng:
• Nhận thức "mờ tối" (nhận thức cảm tính): là dạng nhận thức thông qua cảm giác do các giác quan đem lại
• Nhận thức “trí tuệ” (nhận thức lý tính): là dạng nhận thức thông qua những phán đoán logic, dạng nhận thức này đem lại kết quả đáng tin cậy
Có thể thấy, mặt tích cực trong quan điểm nhận thức của Démocrite là ở chỗ: ông coi đối tượng của nhận thức là thế giới khách quan Tuy chưa nhận thức được sự chuyển hoá giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, nhưng ông đã thấy được vị trí của từng dạng nhận thức, đặc biệt là nhận thức lý tính
2.1.2.4/ Quan điểm về con người và đạo đức:
Démocrite đã thể hiện tư tưởng tiến bộ khi đứng trên lập trường vô thần
và xây dựng học thuyết về tiến bộ lịch sử tự thân của loài người từ trạng thái thú vật sang trạng thái văn minh Ông cho rằng sự sống và con người không phải do thần thánh tạo ra mà là kết quả của quá trình biến đổi của chính tự nhiên, được phát sinh từ những vật thể Nm ướt dưới tác động của nhiệt độ, còn tôn giáo là sản phNm lịch sử, xuất hiện do nỗi sợ hãi của con người trước các hiện tượng bí hiểm của tự nhiên Thực ra thần linh chỉ là những ngẫu tượng Nếu có thần linh thì đó
là lý trí con người đã được thần linh hoá Mối quan hệ thần linh - tự nhiên - con người được Démocrite rút xuống chỉ còn là mối quan hệ tự nhiên - con người, trong đó con người từ chỗ bắt chước giới tự nhiên đã dần dần tạo ra thiên nhiên cho mình, tức xã hội loài người Đồng thời, trong quá trình phát triển, xuất phát
từ nhu cầu, con người đã học cách sống chung với nhau, hợp tác, giúp đỡ nhau, truyền thụ kinh nghiệm và khiến thức từ thế hệ này sang thế hệ khác, và ngôn ngữ cũng theo đó mà ra đời Tuy nhiên, quan niệm về nguồn gốc loài người của Démocrite về cơ bản vẫn còn duy tâm Theo ông, linh hồn không phải là cái siêu vật chất, mà là cái bản nguyên bằng lửa trong cơ thể; nó cũng được cấu tạo từ các nguyên tử hình cầu nhẹ, và nóng tạo nên Khi người ta chết, linh hồn sẽ không còn; chúng rời thể xác và tồn tại như những nguyên tử khác
Trang 10Về vấn đề đạo đức, quan điểm của Démocrite thể hiện ý chí của giai cấp chủ nô, nhưng cũng hàm chứa nhiều điểm có giá trị:
• Ông đánh giá cao lòng nhân ái, tình bạn Con người không thể sống thiếu bạn bè, nhưng một người bạn thông minh vẫn tốt hơn nhiều người bạn ngu đần, một người bạn chân chính đáng giá hơn ngàn người bạn giả dối Bạn tốt là người xuất hiện khi được mời trong những ngày vui, chủ động đến trong những ngày đầy thử thách, bạn xấu là người đặt tiền bạc lên trên hết Ai không có bạn thì đó là người xấu, vì không biết yêu ai, không ai yêu mình
• Con người thiện, theo Démocrite, trước hết phải là con người sống có đức hạnh Để phân biệt Thiện - Ác, Démocrite nêu ra những cách ngôn như “nhận
ra người trung thực và người không trung thực không nên chỉ căn cứ vào việc làm của họ, mà tỏ tường cả ý muốn của họ”, “con người tốt không làm điều phi nghĩa ngay cả trong ý nghĩ ”, “chính trong bất hạnh ta cần trung thành hơn với nghĩa vụ thiêng liêng”
• Đạo đức theo Démocrite đạt được không bằng cưỡng chế, mà bằng thuyết phục với những chứng lý của trí tuệ, bằng giáo dục, hoc vấn Giáo dục tốt nhất
là giáo dục trong môi trường gia đình, tấm gương tốt nhất là người cha Giáo dục không dành cho tất cả, cũng như sự cao thượng chỉ dành cho những ai biết
và hướng đến nó Giáo dục thống nhất với học vấn
• Trình độ học vấn là thứ trang sức cho người hạnh phúc, là chốn nương thân của kẻ bất hạnh Để có học vấn cần hội đủ ba điều kiện: năng lực thiên phú, rèn luyện và thời gian “Sự cao thượng được đem đến bằng con đường học tập và cái giá của những nỗ lực phi thường, còn cái xuNn ngốc thì tự nó hiện diện, tìm kiếm không mấy khó khăn”.
• Triết lý đạo đức của Démocrite xây dựng mẫu người hiền nhân, tương tự như mẫu người quân tử trong triết học Nho giáo phương Đông Ông đánh giá cao trung dung và điều độ trong thái độ sống: “hãy sử dụng mọi thứ vừa đủ”,
“chớ vì khao khát biết tất cả mà tỏ ra ngu dốt trước tất cả” Nếu đạt được những điều ấy, con người sẽ có khoái cảm tinh thần, sự tự do
Trang 112.1.2.5/ Quan điểm chính trị - xã hội
Démocrite đứng trên lập trường của chủ nô dân chủ, bảo vệ nền dân chủ Athènes, xem nó như hình thức cai trị ưu việt nhất thời ấy Ông cho rằng “cái nghèo trong chế độ dân chủ cũng quý hơn cái hạnh phúc của công dân dưới thời quân chủ y như là tự do quý hơn nô lệ” Nhưng do xuất thân từ tầng lớp chủ nô nên ông chỉ đề cập đến dân chủ của chủ nô và công dân tự do, còn nô lệ phải biết tuân theo người chủ
*** Tóm lại, triết học Démocrite là sự kế thừa và phát triển lên một trình
độ cao các quan điểm duy vật (của trường phái Milet) và tư tưởng biện chứng
(của Héraclite) trước đó
2.2/ Quan điểm triết học của Platon:
2.2.1 Tiểu sử:
Platon (427-347 TCN) chào đời tại Athènes, Hy Lạp Ông xuất thân trong một gia đình quý phái Cha của Platon tên là Ariston dòng dõi Codros, vị vua cuối cùng của thành Athènes và được coi là con cháu của thần Poseidon Mẹ của Platon là Perictione có họ hàng với Solon, nhà luật học lừng danh của Hy Lạp Platon được đặt tên của ông nội là Aristocles vào ngày Thứ Sáu sau khi chào đời, còn Platon là biệt hiệu, có lẽ vì vóc người to lớn hoặc vì vầng trán cao rộng
Năm 18 tuổi, Platon đã theo học với các triết gia và các nhà ngụy biện Từ năm 20 tuổi, Platon theo học Socrates cho đến năm 28 tuổi thì Socrates bị kết án
tử hình vì tội hoạt động chống lại chế độ dân chủ chủ nô Lúc này, Platon rời Athènes và đi chu du khắp nơi Trong thời gian này, ông đã nghiên cứu Toán Học với Theodorus, trao đổi tư tưởng với Archytas, làm quen với một số nhà sáng lập ra vài trường phái học thuật như Pythagore, Heraclite, Eleatic
Năm 387, ông trở về Athènes và lập trường dạy học, gọi là Viện hàn lâm (Académie) - đây là trường Đại học tổng hợp đầu tiên ở châu Âu chuyên đào tạo
Trang 12các học viên đủ khả năng cai trị theo đúng Pháp Luật Và sau đó, trong suốt quãng đời còn lại của mình, Platon chỉ chú tâm vào việc truyền bá tri thức khoa học Ông đã để lại một di sản đồ sộ với tổng cộng gồm 35 tập đối thoại và 13 bức thư triết học còn lưu truyền tới ngày nay
2.2.2/ Quan điểm triết học
2.2.2.1/ Học thuyết về ý niệm
Platon chia thế giới thành hai loại: thế giới của những ý niệm và thế giới của những sự vật cảm tính Theo ông, thế giới của những ý niệm là tồn tại chân thực, vĩnh viễn, tuyệt đối, bất biến, nó là cơ sở tồn tại của thế giới các sự vật cảm tính Còn thế giới các sự vật cảm tính là tồn tại không chân thực, phụ thuộc vào thế giới của các ý niệm, nó là cái bóng của ý niệm
Bảng 2.1: So sánh thế giới ý niệm và thế giới khả giác
Thế giới ý niệm Thế giới khả giác
mà thôi.Như vậy, khi giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học, Platon
Trang 13cho rằng ý niệm là cái có trước, là nguyên nhân, là bản chất của sự vật Còn sự vật chỉ là cái có sau, là cái bắt chước, cái mô phỏng, là bản sao của ý niệm
2.2.2.2/ Lý luận về nhận thức
Theo ông, đối tượng của nhận thức không phải là các sự vật cảm tính khách quan bên ngoài, mà là thế giới ý niệm Mỗi sự vật đều có một ý niệm về nó; sự vật có thể mất đi, nhưng ý niệm về sự vật không bao giờ mất Ví dụ cái nhà có thể sụp đổ, hư nát, không còn là cái nhà, nhưng ý niệm về cái nhà (khái niệm nhà) thì không mất
Vậy bằng cách nào để có được nhận thức chân thực, đạt được chân lý? Bằng cách hồi tưởng lại những gì linh hồn đã trải qua Platon cho rằng nhận thức
là quá trình linh hồn tìm về với suối nguồn vĩnh cửu – thế giới lý tưởng của các ý niệm Linh hồn hồi tưởng lại những gì mình có được trước đây, nhưng quên đi vào thời điểm gia nhập vào thân xác của đứa trẻ vừa sinh ra, và quá trình hồi tưởng được thực hiện khi quan sát các sự vật, trong linh hồn sẽ xuất hiện ý niệm tương đồng hay khác biệt, giúp chủ thể so sánh chúng với nhau
2.2.2.3/ Quan điểm về con người và đạo đức:
Platon đã quan niệm một cách duy tâm, thần bí về linh hồn Theo ông, thể xác của con người là khả tử, được cấu tạo từ đất, nước, lửa và không khí, nó chỉ
là nơi trú ngụ tạm thời của linh hồn, là nô lệ của linh hồn Trong khi đó, linh hồn của con người là bất tử, là sản phNm của linh hồn vũ trụ được Thượng đế tạo ra
từ lâu và nó có chức năng vận hành thể xác, làm cho thể xác trở thành thể xác sống động
Platon đã phân chia linh hồn thành ba phần: phần hạ đẳng hay dục vọng, phần ý chí - suối nguồn phát sinh những đam mê, phần lý trí, hay tinh thần - phần duy nhất của linh hồn bất tử Theo ông, toàn bộ hoạt động của con người được chi phối bởi ba phần này của linh hồn Phần trội nhất tạo nên tính cách chung của cá nhân, nhưng không phải lúc nào cũng thể hiện đầy đủ trong công cuộc sống Người có lý trí không phải lúc nào cũng cư xử phù hợp với lý trí, người can đảm không phải lúc nào cũng can đảm…