Danh mục các bảng Trang Bảng 1: Tỷ trọng đầu tư cho giáo dục trong tổng chi ngân sách Nhà nước 64 Bảng 2: Tần suất tổ chức các hoạt động văn hóa trong trường có liên quan đến giáo dục
Trang 1VIỆN VĂN HểA NGHỆ THUẬT VIỆT NAM
-
Lê Cao Thắng
hoạt động giáo dục giá trị văn hóa truyền thống
cho sinh viên hiện nay
(qua Khảo sát một số trường đại học ở Hà Nội)
Chuyên ngành : Văn hóa học
Mã số : 62 31 06 40
Luận án Tiến sĩ Văn hóa học
Người hướng dẫn khoa học: pgs.ts nguyễn duy bắc
Hà Nội - 2013
Trang 2Lêi Cam ®oan
T«i xin cam ®oan luËn ¸n lµ do t«i viÕt vµ cha c«ng bè C¸c cø liÖu nªu ra trong luËn ¸n lµ trung thùc, kh¸ch quan T«i xin hoµn toµn chÞu tr¸ch nhiÖm vÒ lêi cam ®oan cña m×nh
Hµ Néi, ngµy th¸ng n¨m 2013
Nghiªn cøu sinh
Lª Cao Th¾ng
Trang 3Chương 1: những vấn đề lý luận về giá trị và giá trị văn
1.1 Quan niệm về giá trị và giá trị văn hoá 16 1.2 Truyền thống dân tộc và các giá trị văn hoá truyền thống của
1.3 Giáo dục các giá trị văn hoá truyền thống cho sinh viên Việt Nam 38 Chương 2: thực trạng hoạt động giáo dục các giá trị
2.1 Các nhân tố tác động đến việc giáo dục giá trị văn hóa truyền
2.2 Thực trạng hoạt động của các chủ thể giáo dục trong công tác
giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên 62 2.3 Về ý thức, thái độ của sinh viên trong việc kế thừa và phát huy
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nâng cao
hiệu quả giáo dục giá trị văn hoá truyền
3.1 Dự báo tình hình sinh viên trong thời gian tới 130 3.2 Phương hướng giáo dục giá trị văn hoá truyền thống cho sinh
3.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá
trị văn hóa truyền thống cho sinh viên hiện nay 143
Trang 4Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
BCH : Ban Chấp hành CLB : Câu lạc bộ CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNTB : Chủ nghĩa tư bản
TTCKCM : Tuyên truyền ca khúc cách mạng XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 5Danh mục các bảng
Trang
Bảng 1: Tỷ trọng đầu tư cho giáo dục trong tổng chi ngân sách Nhà nước 64
Bảng 2: Tần suất tổ chức các hoạt động văn hóa trong trường có liên quan
đến giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên 81
Bảng 3: Các hoạt động nhà trường đã tổ chức 82
Bảng 4: Vai trò của gia đình trong việc giáo dục sinh viên 96
Bảng 5: Số liệu về công tác phát triển đảng viên mới là sinh viên (từ
Bảng 6: Thống kê kết quả học tập của sinh viên loại suất sắc, giỏi,
Bảng 7: Số liệu tổng hợp kết quả giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu
Bảng 8: Những đức tính tốt của sinh viên hiện nay được biểu hiện 111
Bảng 9: Thống kê về kỷ luật sinh viên vì phạm tội, ma tuý, tệ nạn xã hội 122
Trang 6Mở ĐầU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội càng phát triển hiện đại, con người càng phải hiểu sâu những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc mình Bởi lẽ sức sống của một dân tộc chính là nhờ các yếu tố nội sinh, trong đó những giá trị văn hoá truyền thống
là yếu tố nội sinh quan trọng nhất, một động lực thúc đẩy sự phát triển KT-XH không chỉ trong hiện tại mà cả tương lai Đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá
và hội nhập quốc tế hiện nay thì vấn đề giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống càng trở nên bức thiết
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã để lại nhiều truyền thống vô cùng quý giá
Đó là truyền thống yêu nước; truyền thống đoàn kết cộng đồng; truyền thống nhân ái, khoan dung; truyền thống hiếu học “tôn sư trọng đạo” và nhiều truyền thống tốt đẹp khác Những giá trị văn hóa truyền thống quý giá của dân tộc đã tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam Nhờ các giá trị văn hóa truyền thống mà dân tộc Việt Nam đã luôn đứng vững và trường tồn trong suốt chiều dài lịch sử Những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc cần được giáo dục,
được truyền bá sâu rộng trong xã hội
Tính đến năm học 2011 - 2012 cả nước có 419 trường đại học và cao
đẳng với tổng số hơn 2,2 triệu sinh viên Đây là nguồn nhân lực quý giá của
đất nước bởi sinh viên là những người có tri thức, trẻ trung, năng động, nhiệt tình và có hoài bão lớn Lực lượng này có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến
sự phát triển KT-XH của đất nước trước mắt cũng như lâu dài
Do đặc điểm tâm lý lứa tuổi, thanh niên sinh viên rất nhạy cảm với cái mới, cái tiến bộ, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của những tác động từ bên ngoài Bởi vậy những thay đổi về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội ở nước
ta trong những năm qua, nhất là quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập quốc tế, đã tạo nên những biến động trong đời sống tinh thần thế hệ trẻ
Trang 7Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường đã nảy sinh những ảnh hưởng tiêu cực đến một bộ phận không nhỏ người dân, trong
đó có sinh viên, làm thay đổi các quan điểm của họ về giá trị truyền thống của dân tộc: “Tệ sùng bái nước ngoài, coi thường giá trị văn hoá dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ, đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc đang diễn ra trong xã hội ta hiện nay” [35, tr.15] Trong những năm gần đây trong một bộ phận thế hệ trẻ đã nổi lên hiện tượng đáng lo ngại
là sự sa sút về phẩm chất, đạo đức, chạy theo những giá trị vật chất đơn thuần, tư tưởng sùng bái nước ngoài, coi thường hoặc lãng quên các giá trị truyền thống của dân tộc Trong một bộ phận thế hệ trẻ cũng đã xuất hiện quan niệm dân tộc hẹp hòi, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc Nguy hiểm hơn, một số thế lực xấu, thù địch ở nước ngoài đã lợi dụng toàn cầu hóa làm công cụ để truyền bá,
áp đặt văn hóa, tư tưởng của họ, thực hiện âm mưu chiến lược "diễn biến hòa bình" mà đối tượng chúng nhằm vào đầu tiên là thế hệ, trẻ nhất là học sinh, sinh viên Những thay đổi đáng lo ngại trong thế hệ trẻ có phần do mặt trái của toàn cầu hóa, nhưng cơ bản là do những yếu kém của chúng ta trong việc giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống và cách mạng cho hệ trẻ chưa tương xứng với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng
Trước tình hình này, việc giáo dục các giá trị văn hoá truyền thống tốt
đẹp của dân tộc cho sinh viên cần được đặt ra một cách cấp thiết Chọn vấn đề
“Hoạt động giáo dục giá trị văn hoá truyền thống cho sinh viên hiện nay (qua khảo sát một số trường đại học ở Hà Nội)" làm đề tài luận án, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận về giá trị, giá trị văn hoá, về các giá trị văn hóa truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam, về thực trạng và giải pháp đẩy mạnh các hoạt động giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống nhằm hình thành và hoàn thiện phẩm chất, đức tính tốt đẹp cho sinh viên nước ta trong bối cảnh đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế hiện nay
Trang 82 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, giáo dục lịch sử văn hóa và giá trị văn hoá truyền thống dân tộc cho thế hệ trẻ là vấn đề được
Đảng, Nhà nước và xã hội ta rất quan tâm Có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước đã đề cập đến, ở các mức độ khác nhau, vấn đề mà đề tài luận án nghiên cứu:
Thứ nhất, nghiên cứu về giá trị, giá trị văn hóa, về các giá trị văn hóa
truyền thống của dân tộc Việt Nam Các công trình của Trần Văn Giàu: Giá
trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam (1980); Phan Huy Lê - Vũ
Minh Giang: Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay (1994, 1996); Huỳnh Khái Vinh: Giá trị văn hóa truyền thống (2000); Hoàng Vinh:
Những vấn đề văn hóa trong lịch sử truyền thống dân tộc Việt Nam (2002);
Hồ Sĩ Quý: Về giá trị và giá trị châu á (2005) v.v đã nêu rõ các quan niệm
về “giá trị”, “giá trị văn hóa”, “giá trị xã hội”, “bảng giá trị”, “hệ thống giá
trị”, “chuẩn giá trị văn hóa” Theo các tác giả, có các giá trị truyền thống và
các giá trị mới hình thành do những điều kiện kinh tế - chính trị mới chi phối
Đối lập với “giá trị” là “phản giá trị” - đi ngược lại các giá trị văn hóa, phản lại các giá trị chân, thiện, mỹ Các công trình nói trên cũng đã phân tích lịch
sử quá trình hình thành, phát triển và nội dung các giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam trong mối quan hệ với bản sắc văn hóa dân tộc, chỉ rõ các mặt tích cực cần kế thừa, phát huy và mặt hạn chế, lỗi thời cần khắc phục, xóa bỏ
Thứ hai, nghiên cứu khai thác các giá trị văn hóa truyền thống trong bối
cảnh đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Các công trình của
Phan Huy Lê - Vũ Minh Giang: Các giá trị truyền thống và con người Việt
Nam hiện nay (1994, 1996); Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Huyên: Giá trị truyền thống trước thách thức của toàn cầu hóa (2002); Ngô Đức Thịnh
Trang 9(chủ biên): Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
Việt Nam trong đổi mới và hội nhập (2010); Cù Huy Chử: Kế thừa giá trị truyền thống văn hoá dân tộc trong xây dựng nền văn hoá nghệ thuật Việt Nam (1995); Đỗ Huy: Xây dựng môi trường văn hoá ở nước ta hiện nay từ góc nhìn giá trị học (2001); Nguyễn Duy Bắc: Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam (2008); Nguyễn
Văn Lý: Kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình
chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay (2000); Võ Văn
Thắng: Kế thừa và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống trong việc xây
dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay (2005) đã phân tích sâu sắc các giá trị
văn hóa truyền thống dân tộc, chỉ rõ các thời cơ và thách thức của nó trong bối cảnh toàn cầu hóa hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay
Thứ ba, nghiên cứu về giáo dục giá trị văn hóa truyền thống dân tộc nhằm
xây dựng lối sống văn hoá cho thanh niên, sinh viên Các công trình của Lê Thị
Hoài Thanh: Quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong giáo dục
đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay (2003); Đặng Quang Thành: Xây dựng lối sống có văn hoá cho thanh niên thành phố Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa (2005); Nguyễn Thị Phương
Hồng: Phát huy tính tích cực của thanh niên, học sinh, sinh viên nhằm đáp ứng
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (1996); Nguyễn Đình Đức: Những yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến tư tưởng chính trị của sinh viên - thực trạng và giải pháp (1996); Hà Văn Phan: Tìm hiểu thực trạng, phương hướng và những giải pháp giáo dục nhân cách cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng trong điều kiện hiện nay (2000) đã tập trung phân tích đặc điểm,
những nhân tố tác động đến chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống của thanh niên, sinh viên, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục sinh viên, xây dựng môi trường văn hoá trong các trường đại học, cao đẳng
Trang 10Thứ tư, nghiên cứu xây dựng đạo đức, lối sống và đời sống văn hoá
lành mạnh ở thủ đô Hà Nội nói chung và ở các trường đại học ở Hà Nội
nói riêng Các công trình của Nguyễn Viết Chức: Xây dựng tư tưởng, đạo
đức, lối sống và đời sống văn hoá ở Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (2001); Ban cán sự Đảng
Đại học Hà Nội: Vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng môi trường
văn hoá ở các trường đại học, cao đẳng Hà Nội (2001); Nguyễn Xuân
Phương: Vai trò của trí thức Thủ đô Hà Nội trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước (2004) đã đề cập đến tầm quan trọng và sự
cần thiết của việc xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hoá ở Thủ đô Hà Nội, phân tích xu hướng phát triển của đội ngũ trí thức Thủ đô Hà Nội trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và những vấn đề đặt ra cần giải quyết
Mặc dù các vấn đề có liên quan đến đề tài khá phong phú nhưng cho
đến nay vẫn còn chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu “Hoạt động
giáo dục giá trị văn hoá truyền thống cho sinh viên hiện nay (qua khảo sát một số trường đại học ở Hà Nội)” Việc nghiên cứu thực trạng đời sống văn
hoá tinh thần của sinh viên và giáo dục các giá trị văn hoá truyền thống tốt
đẹp cho thanh niên, đặc biệt là sinh viên vẫn còn là một khoảng trống Các công trình nói trên mới chỉ tập trung vào việc xác định giá trị của văn hóa truyền thống nói chung, chưa cho thấy rõ mối liên hệ cụ thể giữa văn hóa truyền thống với sự phát triển của sinh viên hiện nay; chưa chỉ ra được các giải pháp nhìn từ góc độ nhu cầu phát triển của học sinh sinh viên, về mối quan hệ chặt chẽ giữa văn hóa truyền thống với thế hệ trẻ hôm nay; thiếu những đề xuất mang tính kỹ thuật, các mô hình thực hành nhằm chuyển giao giá trị văn hóa truyền thống đến sinh viên
Trang 11Hơn lúc nào hết sinh viên hiện nay cần phải được giáo dục truyền thống dân tộc, kế thừa phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, chuyển từ động lực tinh thần trong chống ngoại xâm sang động lực tinh thần trong xây dựng kinh
tế, khắc phục nghèo nàn, lạc hậu, từng bước vươn lên tiến kịp các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về giá trị, giá trị văn hóa truyền thống dân tộc và khảo sát đánh giá thực trạng giáo dục các giá trị văn hoá truyền thống cho sinh viên ở các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục sinh viên nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên hiện nay nhằm xây dựng đội ngũ sinh viên phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, góp phần vào việc thực hiện chiến lược con người, phát triển giáo dục – đào tạo, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài có các nhiệm vụ là:
- Làm rõ quan niệm về giá trị và giá trị văn hoá, giá trị văn hóa truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc; phân tích vai trò của việc giáo dục các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc đối với sinh viên hiện nay
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng việc giáo dục các giá trị văn hoá truyền thống cho sinh viên ở một số trường đại học trên địa bàn Hà Nội trong những năm qua
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục các giá trị văn hoá truyền thống cho sinh viên trong thời gian tới
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các giá trị văn hóa truyền thống và việc giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên
Trang 124.2 Khách thể nghiên cứu
Sinh viên trong 11 trường đại học trên địa bàn Hà Nội
4.3 Phạm vi nghiên cứu
4.3.1 Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu và phân tích
những giá trị văn hóa truyền thống cơ bản của dân tộc và việc giáo dục những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc cho sinh viên Luận án đánh giá hoạt
động của các chủ thể giáo dục trong công tác giáo dục giá trị văn hoá truyền thống cho sinh viên, đánh giá về ý thức, thái độ của sinh viên trong việc kế thừa và phát huy giá trị văn hoá truyền thống
4.3.2 Phạm vi không gian: Luận án tiến hành điều tra, khảo sát tại một
số trường đại học trên địa bàn Thành phố Hà Nội, bao gồm:
- Khối trường kinh tế - kỹ thuật: Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học kinh tế quốc dân, Đại học Mỏ - Địa chất, Đại học Nông nghiệp I, Đại học Kiến trúc HN
- Khối trường xã hội và nhân văn: Đại học Khoa học xã hội và nhân văn,
Đại học văn hóa HN, Đại học Công đoàn Việt Nam; Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội, Trường Đại học Dân lập Đông Đô và Học viện Kỹ thuật quân sự
4.3.3 Phạm vi thời gian: từ năm 1998, sau khi có Nghị quyết Hội nghị
lần thứ năm, BCH Trung ương khóa VIII đến nay (2012)
5 Giả thuyết nghiên cứu
- Các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc còn chưa được nhận thức đầy
đủ, toàn diện, thậm chí còn không ít những nhận thức lệch lạc trong một bộ phận sinh viên
- Việc giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên là yêu cầu cấp thiết nhưng chưa được tổ chức một cách có ý thức tự giác cao từ các cơ quan quản lý và các nhà trường
- Việc tiếp nhận, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc của sinh viên trong đời sống vẫn còn nhiều hạn chế, bị động; vai trò
Trang 13của các nhà trường và các thiết chế văn hóa xã hội khác trong việc giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên vẫn còn mờ nhạt, chưa trở thành thiết chế văn hóa - xã hội quan trọng cho sinh viên
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -
Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
về văn hóa, về giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bồi dưỡng, giáo dục thanh niên, sinh viên
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Việc tìm hiểu, phân tích các công trình của các nhà khoa học đi trước
về các vấn đề: giá trị, giá trị văn hóa, các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam; về giáo dục giá trị văn hóa truyền thống dân tộc cho thanh niên, sinh viên; về xây dựng đạo đức, lối sống và đời sống văn hoá lành mạnh ở các trường đại học hiện nay… đã làm rõ tổng quan vấn đề nghiên cứu và nhận ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu của luận án
6.2.2 Phương pháp điều tra xã hội học
Việc phỏng vấn bằng Bảng hỏi cấu trúc, người phỏng vấn sẽ trả lời các câu hỏi theo một bảng hỏi đã được thiết kế sẵn Nguồn thông tin thu thập được
là toàn bộ các câu trả lời đã được mã hóa từ các câu hỏi trong bảng hỏi 1000
đối tượng được phỏng vấn là sinh viên từ năm thứ nhất đến năm thứ năm tại các trường đại học trên địa bàn Hà Nội Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi rất cần thiết cho việc lượng hóa thông tin về vấn đề nghiên cứu Nguồn thông tin thu từ phương pháp này được sử dụng làm tư liệu chính cho quá trình phân tích
6.2.3 Phương pháp quan sát
Quan sát đời sống sinh viên ở các trường đại học trên địa bàn Hà Nội trong quá trình học tập, rèn luyện, giao tiếp, ứng xử, để biết thêm những thông tin về cuộc sống thực tại của họ và nhất là thái độ ứng xử của họ đối với giá trị di sản văn hóa dân tộc
Trang 146.2.4 Phương pháp nghiên cứu văn hóa học
Tập hợp các phương thức, thao tác nghiên cứu của văn hóa học để phân tích các vấn đề về lý luận văn hóa (về giá trị, giá trị văn hóa truyền thống, )
và thực tiễn hoạt động giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên
6.2.5 Phương pháp so sánh - lịch sử
Đối chiếu, so sánh các giá trị văn hóa truyền thống trong mối liên hệ với các giá trị văn hóa hiện đại trên cơ sở đó xác định những giá trị văn hóa cần được giáo dục cho sinh viên
6.2.6 Phương pháp xử lý thông tin khoa học xã hội bằng chương trình SPSS
Phương pháp này được sử dụng để tính tần suất và một số tương quan của nguồn thông tin thu được từ bảng hỏi
7 Những kết quả và đóng góp mới của luận án
Luận án có những kết quả và đóng góp cơ bản là:
- Hệ thống hoá, khái quát hoá các vấn đề lý luận về giá trị, giá trị văn hoá, giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam, trên cơ sở đó xác định những giá trị văn hóa truyền thống cần được giáo dục cho sinh viên hiện nay
- Xác định rõ vị trí của sinh viên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, khẳng định vai trò to lớn của việc giáo dục giá trị văn hóa truyền thống dân tộc nhằm phát huy tối đa sức mạnh nội sinh của dân tộc, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc nhằm phát triển toàn diện sinh viên Việt Nam trong bối cảnh
đổi mới và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay
- Phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên của các trường Đại học trên địa bàn Hà Nội Việc phân tích và đánh giá đã chỉ rõ những ưu điểm cũng như những hạn chế của việc giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên hiện nay nhằm xây dựng đội ngũ sinh viên phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, góp phần vào việc thực hiện chiến lược con người, phát triển giáo dục – đào
Trang 15tạo, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các
tổ chức và cá nhân tiến hành các hoạt động nghiên cứu và giảng dạy về văn hóa truyền thống và giáo dục văn hóa truyền thống dân tộc cho thanh niên sinh viên
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu (10 trang), kết luận (4 trang) và danh mục tài liệu tham khảo (8 trang), phụ lục (22 trang), luận án gồm 3 chương chính
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giá trị và giá trị văn hóa truyền
thống của dân tộc (37 trang)
Chương 2: Thực trạng hoạt động giáo dục các giá trị văn hóa truyền
thống cho sinh viên hiện nay (83 trang)
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt
động giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên (46 trang)
Trang 16Chương 1 NHữNG VấN Đề Lý LUậN Về GIá TRị
Và GIá TRị VĂN HOá TRUYềN THốNG CủA DÂN TộC
1.1 Quan niệm về giá trị và giá trị văn hoá
1.1.1 Quan niệm về giá trị
Các nhà nghiên cứu trong nước và thế giới đã đề xuất nhiều quan niệm
về giá trị Theo nhà nghiên cứu V.P Tugarinov (Liên Xô):
Giá trị là những khách thể, những hiện tượng và những thuộc tính của chúng, những cái cần thiết cho con người (tất yếu, có lợi, hứng thú ) của một xã hội hay một nhóm nào đó cũng như một cá nhân riêng lẻ, với tư cách là phương tiện thoả mãn những nhu cầu
và lợi ích của họ, đồng thời cũng là những tư tưởng và những ý định với tư cách là chuẩn mực, mục đích hay lý tưởng [95, tr.13]
Còn nhà nghiên cứu M.M.Rozentan (Liên Xô) cho rằng:
Giá trị - những định nghĩa về mặt xã hội của khách thể trong thế giới chung quanh, nhằm nêu bật tác dụng tích cực hoặc tiêu cực của các khách thể ấy đối với con người và xã hội (cái lợi, thiện và
ác, cái đẹp, cái xấu nằm trong những hiện tượng của đời sống xã hội hoặc tự nhiên) [95, tr.14]
Nhà nghiên cứu John Maciology (Hoa Kỳ) lại quan niệm:
Giá trị là những quy chuẩn mà qua đó một thành viên của một nền văn hoá xác định điều gì là đáng mong muốn, điều gì không đáng mong muốn, điều gì là tốt hay dở, điều gì là đẹp hay xấu [95, tr.14]
Nhà nghiên cứu Trần Trọng Thuỷ xác định:
Giá trị là một hiện tượng xã hội điển hình, biểu thị các sự vật, hiện tượng, các thuộc tính và quan hệ của hiện thực, các tư tưởng chuẩn
Trang 17mực, mục đích, lí tưởng, các hiện tượng của tự nhiên và xã hội được con người tạo ra hoặc không được con người tạo ra, nhưng đều phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội và phát triển cá nhân con người [95, tr.13] Nhà nghiên cứu Lê Đức Phúc quan niệm:
Giá trị là cái có ý nghĩa đối với xã hội, tập thể và cá nhân, phản ánh mối quan hệ chủ thể - khách thể được đánh giá xuất phát từ điều kiện lịch sử, xã hội thực tế và phụ thuộc vào trình độ phát triển nhân cách Khi đã được nhận thức, đánh giá, lựa chọn, giá trị trở thành động lực thúc đẩy con người theo một xu hướng nhất định [95, tr.14] Nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh xác nhận:
Giá trị là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của con người về bất cứ một hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những cái đó là cần, là tốt, là hay, là đẹp, nói theo cách của các nhà triết học phương Tây một thời, đó chính là những cái được con người cho là chân, thiện, mỹ, giúp khẳng định và nâng cao bản chất người Một khi những nhận thức giá trị ấy đã hình thành và
định hình thì nó chi phối cách suy nghĩ, niềm tin, hành vi, tình cảm của con người [93, tr.22]
Như vậy, các quan niệm về giá trị rất đa dạng, một số nhà nghiên cứu coi giá trị như là những động cơ và nhu cầu cơ bản của con người; một số nhà nghiên cứu khác coi giá trị là khuynh hướng, định hướng ẩn đằng sau nhu cầu
và động cơ, hoặc giá trị là những hoạt động có thể đo được chứ không phải là
xu hướng Dù khá đa dạng nhưng các quan niệm về giá trị đều cho thấy những nhận thức chung, cơ bản là:
Giá trị luôn mang tính khách quan - nghĩa là sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi của giá trị nào đó không phụ thuộc vào ý thức của con người (là chủ thể trong mối quan hệ với sự vật, hiện tượng) mà nó phụ thuộc vào sự xuất hiện,
sự tồn tại hay mất đi một nhu cầu nào đó của con người Hay nói cách khác,
Trang 18giá trị chỉ có thể tồn tại trong mối liên hệ với nhu cầu của con người Tuỳ theo việc con người có hay không có nhu cầu nào đó mà một sự vật hay hiện tượng
đối với con người là có giá trị hay không có giá trị
Giá trị được tạo nên bởi thực tế của lịch sử xã hội và thực tiễn là tiêu chuẩn của mọi giá trị Giá trị được xem như là phương tiện thoả mãn nhu cầu, lợi ích của con người, vì mục đích tiến bộ xã hội và phát triển của từng cá nhân Khi đã nhận thức một cách đầy đủ nhất các giá trị trở thành những tiêu chuẩn cho sự đánh giá, ưa thích và sự lựa chọn
Mỗi giá trị phải được đo bằng những thước đo nhất định Các thước đo giá trị đã ra đời trong quá trình con người hoàn thiện công cụ lao động của mình Thước đo giá trị có thể hình dung như mức độ chi phí cơ bắp và tinh thần mà cộng đồng thừa nhận Đó là thước đo cơ bản hoặc là chiều đo cơ bản với mọi kích thước mang giá trị Vì vậy, một hiện tượng nào đó được thẩm
định về mặt giá trị trước hết nó phải được đánh giá Do đó, khái niệm giá trị về bản chất có mối quan hệ với cách đánh giá Và dùng thước đo lao động xã hội
đánh giá nó sẽ mang ý nghĩa khách quan
Tuy nhiên, muốn đánh giá được thì phải thông qua một quan hệ nhận thức nào đó của con người Do vậy, giá trị có mối quan hệ giữa chủ quan và khách quan Các mối quan hệ chủ quan - khách quan gồm có các quan hệ cá nhân với hiện thực và quan hệ cộng đồng với hiện thực Vì thế có giá trị được
đo bằng một thước đo riêng của cá nhân và có giá trị được đo bằng thước đo chung của cộng đồng Việc hình thành các thước đo giá trị một cách khách quan là một yếu tố quan trọng của cách tiếp cận giá trị học mácxít
Giá trị là một lĩnh vực rất phức tạp, nó đã trở thành đối tượng của một khoa học về giá trị gọi là giá trị học
Giá trị học có nguồn gốc từ trong triết học cổ đại, nhưng mãi đến giữa thế kỷ XIX trở đi nó mới tách ra khỏi triết học để trở thành một khoa học Đối tượng nghiên cứu của nó là những giá trị, nhất là những giá trị tinh thần
Trang 19Nhiệm vụ của giá trị học là nghiên cứu bản chất và quy luật của giá trị nói chung, mối quan hệ giữa giá trị và đánh giá, phân loại và hệ thống hoá các giá trị, xác định đặc điểm của từng loại giá trị Khái niệm “giá trị” trong giá trị học phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất để phân biệt với khái niệm “giá trị” của kinh tế chính trị học Theo giá trị học thì không riêng gì hàng hoá mới có giá trị Bất cứ sự vật hay hiện tượng nào, chỉ cần nó có khả năng thoả mãn một nhu cầu nào đó của con người, thì nó cũng được con người coi là “có giá trị” Nếu không thì nó sẽ là “vô giá trị”, “phản giá trị”
Có hai loại giá trị: giá trị vật chất (thoả mãn những nhu cầu vật chất) và giá trị tinh thần (thoả mãn những nhu cầu tinh thần) Trong các giá trị tinh thần, người ta thường nói đến giá trị khoa học (cái chân lý), giá trị chính trị (cái chính nghĩa, cái cách mạng), giá trị pháp luật (cái hợp pháp), giá trị đạo
đức (cái thiện, cái tốt), giá trị thẩm mỹ (cái đẹp)
Như vậy giá trị là tồn tại khách quan Các vật, các tư tưởng mang giá trị, các bậc thang giá trị, các kiểu giá trị không phụ thuộc vào cá nhân người này hay người khác Tuy nhiên mỗi giá trị chỉ biểu hiện thông qua đánh giá và thể hiện tính có ích trong cải biến thực tiễn
Đánh giá bao giờ cũng dựa vào một hệ chuẩn mực nhất định Hệ chuẩn mực này chính là giá trị gốc của một vật, một hiện tượng, một tư tưởng mang giá trị Chuẩn mực là các quy định chung về các quan hệ đồng thuận của một nhóm người, của một giai cấp, của một cộng đồng dân tộc Có các chuẩn mực của cộng đồng về phương diện này hay phương diện khác Nó chỉ đạo và đề ra nguyên tắc có thể chấp nhận được hay không thể chấp nhận được Các chuẩn mực này gắn với rất nhiều yếu tố khác nhau như: thế giới quan, trình độ dân trí, hệ tư tưởng Trong lịch sử phát triển của con người hàng vạn năm, sự phong phú của các hoạt động thực tiễn đã tạo ra nhiều hệ chuẩn, nhiều loại hình chuẩn mực và nhiều cấp độ của chuẩn mực khác nhau Có hệ chuẩn cho các giá trị sử dụng, có hệ chuẩn cho các giá trị đạo đức, có hệ chuẩn cho các
Trang 20giá trị thẩm mỹ Có hệ chuẩn mực cho các giá trị vật chất và cho các giá trị tinh thần Các hệ chuẩn mực đều có ba đặc tính: kìm hãm, cho phép, định hướng
Như vậy, các chuẩn mực không chỉ chi phối các hành vi bên ngoài, mà còn là tiêu chuẩn của các hoạt động xúc cảm, tư tưởng của tự ý thức về cái
đúng, cái sai, cái phải, cái trái, cái biết ơn, và cái không biết ơn, cái nên làm
và không nên làm Các chuẩn mực này đan kết và ràng buộc mọi hoạt động của con người
Trên bình diện khác, người ta có thể chia các lĩnh vực giá trị thành giá trị kinh tế, giá trị chính trị, giá trị xã hội ở một bình diện khác nữa có thể xác
định các giá trị khoa học, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ, giá trị tôn giáo, giá trị văn hoá, giá trị lịch sử Vì thế, chuẩn mực định hướng các giá trị trong xã hội là vô cùng phong phú
Chuẩn mực là sự áp dụng cụ thể vào các giá trị - giá trị có tính khái quát hơn chuẩn mực Giá trị không quy định cụ thể cho những tình huống cụ thể Các giá trị có ảnh hưởng sâu sắc đến nội dung chuẩn mực Một trong những biểu hiện của giá trị là sự lựa chọn, sự chấp nhận, sự ủng hộ và không ủng hộ Các lựa chọn và các chấp nhận này phản ánh các giá trị khác nhau Nếu các giá trị cộng đồng được ưu tiên thì hệ chuẩn của nó sẽ cụ thể hoá giá trị đó
Qua xem xét các quan niệm về giá trị ở trên, có thể xác định rằng: Giá
trị là những cái thuộc về sự vật, hiện tượng và những thuộc tính của chúng mà
có ý nghĩa đối với xã hội, một nhóm người và cá nhân, với tư cách là phương tiện thoả mãn những nhu cầu và lợi ích, đồng thời biểu thị niềm tin của con người về những mục đích và phương thức ứng xử lý tưởng Như vậy, giá trị ở
đây được hiểu theo nghĩa là:
Các đặc tính của sự vật, hiện tượng tồn tại một cách khách quan không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người, xuất hiện trong phạm vi tồn tại mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể trong quá trình hoạt động
Là cái có ý nghĩa đối với con người (chủ thể) và là đối tượng của nhu cầu, lợi ích
Trang 21Đối với ý thức, nó đóng vai trò định hướng, điều chỉnh trong quan hệ thực tiễn của con người đối với sự vật, hiện tượng Hay nói cách khác, các giá trị khi được nhận thức trở thành cái có ý nghĩa, biểu thị với tư cách là mục
đích và phương thức ứng xử lý tưởng được chủ thể đặt ra trong quá trình hoạt
động thực tiễn
1.1.2 Quan niệm về giá trị văn hoá
Hoạt động sáng tạo là thành tố quan trọng tạo nên các giá trị văn hoá khoa học, nghệ thuật, chứa đựng các giá trị nhân văn Sáng tạo là sức sống, là nhịp đập, là quả tim của mỗi nền văn hoá nên nó được coi là giá trị gốc Lôgic vận động lạc quan của lịch sử chính là lôgic của sự sáng tạo và đó cũng là trung tâm của các giá trị văn hoá
Các hoạt động sáng tạo của cá nhân chỉ trở thành thành tố văn hoá của xã hội khi chúng tham gia vào các định chuẩn và hệ thống giá trị của xã hội Lao động là nội dung cơ bản tạo nên các hoạt động sáng tạo Tuy nhiên các chuẩn mực và các hệ thống giá trị văn hoá không lấy lao động cụ thể làm thước đo Lần đầu tiên trong lịch sử các học thuyết về chuẩn mực và giá trị, Mác đã coi lao động trừu tượng mới tạo nên bản chất của các chuẩn mực và các giá trị Các hoạt động sáng tạo của mỗi cá nhân phải được xã hội hoá, phải
được đo bằng các quan hệ xã hội mới có ý nghĩa văn hoá thực sự Như vậy các sáng tạo có ý nghĩa văn hoá phải đáp ứng các lợi ích rộng hơn lao động cụ thể
đã được đối tượng hoá Các hoạt động sáng tạo không thể có giá trị nếu nó tự
Trang 22làm Đó là các ràng buộc xã hội đã trở thành quy tắc chung về ứng xử xã hội Khuyến cáo mọi người chấp nhận hay không chấp nhận Những ràng buộc này gọi là những chuẩn mực văn hoá Chuẩn mực đề ra những nguyên tắc đan kết
ở chiều sâu trong các quan hệ xã hội tạo nên những định hướng cho mọi quan
hệ văn hoá Các chuẩn mực này có thể là tập quán tạo ra các thói quen một cách tự giác của một cộng đồng văn hoá nhất định Các tập quán này ít đòi hỏi
sự tuân thủ nghiêm ngặt và phạm vi hoạt động của nó cũng không rộng
Các tập quán nếu trở thành phong tục thì các ứng xử văn hoá phải tuân thủ mạnh mẽ hơn Việc vi phạm các phong tục có thể gây nên những chấn
động, những cú sốc văn hoá bởi nó gắn bó rất sâu với các giá trị tinh thần của xã hội Phong tục con cái phải chăm sóc bố mẹ, trai gái thành hôn với nhau phải được dòng họ hai bên thừa nhận nếu vi phạm nó có thể làm xôn xao dư luận xã hội Có nhiều phong tục đã biến thành luật pháp Luật pháp là các chuẩn mực cứng của một nền văn hoá Được phép làm hay không được phép làm có ý nghĩa rất quan trọng với sự sáng tạo văn hoá
Trong mỗi nền văn hoá thường có những hệ thống chuẩn mực cùng phát huy tác dụng đan kết các hoạt động văn hoá của con người Đó là hệ thống các chuẩn mực trong lao động, hệ thống các chuẩn mực trong giao tiếp, hệ thống các chuẩn mực tư tưởng, đạo đức, tín ngưỡng, tôn giáo Các hệ thống chuẩn mực này bao chứa những định chuẩn quy định tính thông tin, tính kiểm soát trong các lĩnh vực cơ bản của đời sống tinh thần của xã hội tạo thành các chuẩn mực về đạo đức, các chuẩn mực pháp luật, các chuẩn mực thẩm mỹ và trí tuệ
Với tư cách là một thành tố văn hoá xã hội, các hệ chuẩn mực có sự
điều chỉnh các loại lợi ích, có loại lợi ích chung và có cả các loại lợi ích nhóm Thông thường trong mỗi xã hội có hai loại hệ chuẩn mực: hệ chuẩn mực từ trên xuống và hệ chuẩn mực từ dưới lên Sự tương tác xã hội của hai loại hệ chuẩn mực này có khi gặp gỡ nhau, có khi mâu thuẫn quyết liệt Sự chống đối
Trang 23hay hoà hợp giữa các hệ thống chuẩn mực không nhất thiết là từ dưới lên hay
từ trên xuống Bản chất của sự không thuần nhất trong hệ chuẩn mực là do sự phản ánh các lợi ích khác nhau trong các quá trình phát triển lịch sử của mỗi xã hội Sự vận động của các tính không thuần nhất đến một giới hạn chín muồi hoặc khi xã hội có những biến động lớn làm xuất hiện các chuẩn mực mới Nền văn hoá có sự điều chỉnh lớn hay nhỏ tuỳ ở mức độ va chạm giữa các chuẩn mực hoặc tính hợp lý hay không hợp lý của bản thân hệ thống chuẩn mực
Với tư cách là những thành tố văn hoá của xã hội, các chuẩn mực đan kết, điều chỉnh các hoạt động văn hoá, gìn giữ bản sắc dân tộc, tạo tính ưu trội của các tầng lớp, các giai cấp, ràng buộc các thế hệ, xác định hoạt động giới tính, chi phối các hoạt động nghề nghiệp
Chuẩn mực là sự áp dụng cụ thể các giá trị vào đời sống xã hội Giá trị với tư cách là thành tố quan trọng của các quan hệ văn hoá là vì các hoạt động nhận thức, ứng xử, sáng tạo được đánh giá bởi cộng đồng Giá trị thông qua
đánh giá mà có Giá trị thuộc về quyền lực của xã hội Giá trị văn hoá là những tư tưởng bao quát, được mọi người tin tưởng mạnh mẽ về cái gì là đúng
là sai, là thiện là ác, là đẹp là xấu, là hợp lý là phi lý, là mong muốn và không mong muốn Giá trị văn hoá có tính chất khái quát hơn chuẩn mực ở chỗ nó không quy định những ứng xử cụ thể cho những tình huống cụ thể Trong thực
tế cùng một giá trị có thể hỗ trợ một số chuẩn mực khác nhau, thậm chí xung
đột nhau Thí dụ, giá trị được nhân dân ta tin tưởng là tinh thần cộng đồng Tinh thần ấy được hỗ trợ bởi những chuẩn mực đạo đức yêu thương đoàn kết, song nó cũng được hỗ trợ bởi các chuẩn mực có tính địa phương
Theo nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh:
Giá trị văn hóa là yếu tố cốt lõi của văn hóa, nó được sáng tạo và kết tinh trong quá trình lịch sử của mỗi cộng đồng, tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội nhất định Giá trị văn hóa hướng đến thỏa mãn những nhu cầu và khát vọng của cộng đồng về những điều tốt
Trang 24đẹp (chân, thiện mỹ), từ đó bồi đắp và nâng cao bản chất Người Giá trị văn hóa luôn ẩn tàng trong bản sắc văn hóa, di sản văn hóa, biểu tượng, chuẩn mực văn hóa Chính vì vậy mà văn hóa thông qua hệ giá trị của nó góp phần điều tiết sự phát triển xã hội [93, tr.22 -23] Giá trị văn hoá là một hệ thống các quan hệ khách quan được quy định bởi thực tiễn lịch sử, bởi tính thông tin rộng rãi Giá trị văn hoá gắn với các lợi ích xã hội Các giá trị văn hoá đều biểu hiện các lợi ích của các lực lượng xã hội tiên tiến Các giá trị văn hoá tiên tiến luôn tạo ra các định hướng làm tăng trưởng cái đúng, cái tốt, cái đẹp Các giá trị văn hoá thông qua đánh giá mà
có, tuy nhiên đánh giá không tạo nên giá trị Nội dung khách quan của các giá trị do lao động đã được kết tinh và đã được xã hội hoá quy định Giá trị văn hoá có tính quy định về mặt lịch sử Có những giá trị lâu bền, có các giá trị một thời và có các giá trị muôn thưở, có những giá trị thật và có những giá trị giả Giá trị giả không đứng vững trước sự lựa chọn và thử thách của thời gian Thế giới văn hoá là thế giới các giá trị Lịch sử văn hoá là quá trình chiếm lĩnh những giá trị, tạo dựng các mô hình lý tưởng theo mục tiêu thoả mãn ngày càng cao các nhu cầu của con người
Biểu hiện rõ nét, quan trọng và tập trung nhất của các giá trị văn hoá trong xã hội là giá trị đạo đức và lối sống Đạo đức, lối sống là diện mạo cơ bản của mỗi nền văn hoá Mỗi nền văn hoá đều được hình thành bởi các quan
hệ đạo đức nhất định và cổ vũ cho một lối sống nhất định Trong các hệ chuẩn mực của xã hội thì các hệ chuẩn mực tạo nên diện mạo văn hoá xã hội cơ bản nhất là hệ chuẩn mực về đạo đức và lối sống Không có một nền văn hoá nào thiếu vắng hệ chuẩn điều chỉnh là các giá trị đạo đức và lối sống
Đạo đức đóng vai trò nền tảng trong mọi hoạt động văn hoá bởi vì cơ chế của nó là sự quan hệ giữa người này và người khác Đạo đức là một lĩnh vực của con người mà bản chất của nó là các hành vi, các mối quan tâm, những tình cảm được chia sẻ giữa người này và người khác theo những mục
Trang 25tiêu và tiêu chí nhất định liên quan đến toàn bộ trật tự và tự do phức tạp của cộng đồng Đạo đức của con người là năng lực phục vụ những người khác và xã hội một cách tự giác, tự nguyện và tự do Đặc trưng của đời sống con người
và bản thân tính người hoặc nhân phẩm là đạo đức
Đạo đức là phương thức xác lập mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân Các hành vi đạo đức gắn bó với các ý thức về sự tương quan giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng Mỗi hành vi
đạo đức được thực hiện do ý thức soi sáng, tình cảm mách bảo và nghị lực
về nguyên lý chung, tức khoa học là tài sản chung và mọi người đều thừa nhận thành tựu; chuẩn mực vô tư, không vụ lợi cá nhân Các chuẩn về sự không ngừng sáng tạo và tôn trọng tính khách quan
Giá trị văn hoá của mỗi cộng đồng, dân tộc, quốc gia bao giờ cũng tạo nên một hệ thống, có mối liên hệ và tác động hữu cơ với nhau Đó là hệ thống các giá trị văn hoá là hệ giá trị, hay bảng giá trị, thang giá trị văn hoá
1.2 Truyền thống dân tộc và các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam
Trang 26thống đơn vị Như vậy truyền thống có thể gắn liền với tất cả các loại hình thiết chế xã hội, tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Nhưng một thực tế là khi sử dụng thuật ngữ này không ít người thường đồng nhất truyền thống với lịch sử của một cộng đồng hay một lĩnh vực nào đó, cụ thể là thường đồng nhất truyền thống với những mặt, những khía cạnh tốt, tích cực trong lịch sử Thực ra truyền thống được hình thành trong quá trình lịch sử, có mối quan hệ máu thịt với lịch sử: Trong lịch sử có yếu tố truyền thống, còn truyền thống lại phản ánh mặt nào đó của lịch sử Nhưng giữa truyền thống và lịch sử có sự khác biệt Sự khác biệt đó chính là ở chiều sâu của tầm khái quát và ở thời
điểm hiện tồn của truyền thống
Trong Từ điển Bách khoa Xô Viết, truyền thống được hiểu là: “Những yếu
tố của di tồn văn hoá, xã hội truyền từ đời này qua đời khác và được lưu giữ trong các xã hội, giai cấp và nhóm xã hội trong một quá trình lâu dài” [96, tr.295]
Nhà nghiên cứu Trần Văn Giàu cho rằng: “Truyền thống là những đức tính hay những thói tục kéo dài nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử và hiện có nhiều tác dụng, tác dụng đó có thể tích cực, cũng có thể tiêu cực" [45, tr.50] Theo Nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng:
Truyền thống như một hệ thống tính cách, các thế ứng xử của một tập thể (một cộng đồng) được hình thành trong lịch sử, trong một môi trường tự nhiên và nhân văn nhất định, trở nên ổn định, có thể
được định chế hoá bằng luật hay bằng lệ và được trao truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác, để bảo đảm tính đồng nhất của một cộng
đồng [105, tr.28 - 29]
Như vậy theo nghĩa tổng quát nhất, truyền thống là những yếu tố của di tồn văn hoá, xã hội thể hiện trong chuẩn mực hành vi, tư tưởng, phong tục, tập quán, thói quen, lối sống và cách ứng xử của một cộng đồng người được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, được truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ lâu dài Như vậy, chúng ta có thể hiểu truyền thống là
Trang 27một hệ thống các tính cách, các thế ứng xử của một tập thể (một cộng đồng),
được hình thành, kết tinh phát triển trong lịch sử, được biến đổi, tích luỹ lại và
được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, chi phối suy nghĩ và hành
động của con người ở hiện tại và có thể ở tương lai
Trên cơ sở hiểu về truyền thống nói chung như trên, có thể hiểu truyền thống dân tộc là một hệ thống các tính cách, các thế ứng xử của cả một dân tộc được hình thành trong những điều kiện tự nhiên, xã hội và lịch sử nhất
định, được kết tinh, tích luỹ và lưu truyền qua các thế hệ, trong lịch sử của dân tộc, làm nên bản sắc dân tộc
Mỗi dân tộc đều có nét đặc sắc riêng của mình Cái riêng đó là bản sắc dân tộc Có thể nói bản sắc dân tộc là tổng thể những tính chất, tính cách,
đường nét, mầu sắc biểu hiện ở một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình, giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính đặc thù, tính thống nhất, tính nhất quán trong quá trình phát triển Nói đến bản sắc dân tộc là nói đến bản sắc văn hoá Phạm trù bản sắc văn hoá dân tộc là phạm trù cơ bản, có ý nghĩa quan trọng khi nói đến lịch sử tồn tại và phát triển của một dân tộc Bản sắc văn hoá dân tộc là cái rất riêng của mỗi quốc gia, là tiêu chí cơ bản, sâu xa
để phân biệt quốc gia, dân tộc này với quốc gia dân tộc khác
Truyền thống dân tộc là sự lắng đọng tự nhiên của “dòng sông" lịch sử, của “khí thiêng" sông núi từ những bản sắc văn hoá dân tộc, qua sự chưng cất của thời gian kết thành những giá trị truyền thống bền vững làm nên sức sống tồn tại và sức mạnh tinh thần tiềm ẩn của mỗi dân tộc, được lưu truyền và phát triển qua nhiều thế hệ bảo đảm tính đồng nhất của dân tộc
Truyền thống dân tộc không đồng nhất với tất cả những gì đã diễn ra
mà chỉ là những yếu tố được di tồn lại Nó tồn tại thông qua sự quy định các hành vi xã hội của con người Người ta có thể cảm nhận được truyền thống dân tộc thông qua "những yếu tố di tồn" như ở di tích lịch sử, di tích văn hoá;
ở phong tục, tập quán, lễ hội; ở những tác phẩm văn học, nghệ thuật; ở những
Trang 28làn điệu dân ca, vè và nhất là ở các hoạt động sống của cư dân trên các vùng, miền khác nhau Chính "những yếu tố di tồn " ấy đã khống chế các hành vi xã hội của con người, thể hiện cái hay, cái đẹp của lịch sử dân tộc, làm cho truyền thống dân tộc có thể được lưu truyền lại, nối tiếp và phát triển
1.2.2 Các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam
Các giá trị văn hoá truyền thống là một bộ phận trong hệ giá trị tinh thần của dân tộc được sản sinh ra trong lịch sử dân tộc, được các thế hệ tiếp nối kế thừa và phát triển, trở thành cốt lõi nền tảng văn hoá tinh thần của xã hội Nói đến các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc ta là nói đến đặc thù của văn hóa Việt Nam với những bản sắc đậm đà, tốt đẹp đã hình thành và
được bảo lưu cho đến ngày nay
Các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc hình thành gắn với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam trải qua hàng ngàn năm lịch sử Đó là kết quả và
là động lực to lớn của quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước của dân tộc mang đậm nét đặc thù của sự phát triển xã hội trong lịch sử Việt Nam Đó còn là kết quả của quá trình tiếp thu sáng tạo tinh hoa văn hoá của nhân loại để bồi đắp thêm cho những giá trị văn hoá vốn có của mình, nhất là khi có sự du nhập của chủ nghĩa Mác - Lênin, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh
Từ lâu, việc nghiên cứu để xác định các giá trị văn hoá truyền thống đã
được nhiều nhà khoa học quan tâm Nhà nghiên cứu Nguyễn Hồng Phong cho rằng, tính cách dân tộc gần như là tất cả nội dung của giá trị văn hoá truyền thống, bao gồm: “tính tập thể - cộng đồng; trọng đạo đức; cần kiệm; giản dị; thực tiễn; tinh thần yêu nước bất khuất và lòng yêu chuộng hoà bình, nhân
đạo, lạc quan” [84, tr.453, 454] Nhà nghiên cứu Trần Văn Giàu nhấn mạnh các giá trị văn hoá đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam là: “yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa” [45, tr.94] Nhà nghiên cứu Vũ Khiêu cho rằng, trong những truyền thống quý báu của dân tộc
Trang 29ta nổi bật nhất là truyền thống văn hoá đạo đức, là: “lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết, lao động cần cù và sáng tạo; tinh thần nhân đạo, lòng yêu thương và quý trọng con người, trong đó yêu nước là bậc thang cao nhất trong
hệ thống giá trị đạo đức của dân tộc” [63, tr.74, 86]
Những giá trị văn hoá tinh thần truyền thống dân tộc cũng được đề cập
đến trong một số văn kiện của Đảng, Nhà nước và trước tác của Chủ tịch Hồ
Chí Minh Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị khóa VII về một số định hướng lớn
trong công tác tư tưởng hiện nay, nêu rõ: "Những giá trị văn hoá truyền thống
vững bền của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý "thương người như thể thương thân", đức tính cần cù, vượt khó, sáng tạo trong lao động Đó là nền tảng và sức mạnh tinh thần to lớn để nhân dân ta xây dựng một xã hội phát triển, tiến bộ, công bằng, nhân ái" [15, tr.56] Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá
VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống [34, tr.56]
Từ những nhận định trên có thể rút ra một số nhận xét sau:
Một là, trong hệ thống giá trị văn hoá tinh thần truyền thống của dân
tộc ta, giá trị đạo đức chiếm vị trí nổi bật Vì vậy, khi đề cập đến các giá trị văn hoá tinh thần truyền thống hầu hết các ý kiến đều nhấn mạnh đến giá trị
đạo đức
Trang 30Hai là, trong các giá trị văn hoá truyền thống, chủ nghĩa yêu nước được
khẳng định là giá trị cốt lõi, giá trị định hướng các giá trị khác
Ba là, những giá trị phổ biến của con người Việt Nam như tinh thần
đoàn kết, ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung; trọng nghĩa tình đạo lý;
đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, tinh thần lạc quan cũng được đề cập và coi đó là những giá trị văn hoá truyền thống quý báu của dân tộc ta
Dựa vào tiêu chí xác định giá trị, giá trị văn hoá và từ quan điểm của
Đảng ta cũng như của các nhà khoa học, có thể khẳng định các giá trị văn hoá truyền thống tổng quát của dân tộc ta bao gồm: truyền thống yêu nước; truyền thống nhân ái, khoan dung; truyền thống đoàn kết, ý thức cộng đồng; truyền thống yêu lao động cần cù tiết kiệm; truyền thống hiếu học - tôn sư trọng đạo;
đức tính khiêm tốn, giản dị, trung thực, thuỷ chung, lạc quan v.v
1.2.2.1 Truyền thống yêu nước
Trong hệ thống giá trị văn hoá truyền thống dân tộc, chủ nghĩa yêu nước là "tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giá trị", là "động lực tình cảm lớn nhất của đời sống dân tộc, đồng thời là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức của dân tộc ta" [45, tr.94]
Chủ nghĩa yêu nước là tình yêu đối với đất nước, lòng trung thành với
Tổ quốc biểu hiện ở khát vọng và hành động tích cực để phục vụ và đem lại nhiều lợi ích cho Tổ quốc và nhân dân
Yêu nước là tình cảm thiêng liêng của nhân dân ta từ xưa đến nay Lòng yêu nước có nguồn gốc sâu xa từ ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình
- làng xã - Tổ quốc Yêu nước là đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, là chăm lo xây dựng quê hương, đất nước sẵn sàng chống đô hộ và xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Đối với mỗi người, lòng yêu nước phát triển từ những tình cảm bình dị và gần gũi đối với những người ruột thịt, dần dần phát triển thành tình cảm gắn bó với làng xóm, quê hương và cao hơn hết là tình yêu Tổ quốc, lòng
tự hào dân tộc
Trang 31Yêu nước đối với nhân dân ta trước hết là chăm lo xây dựng đất nước về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá để tạo sức mạnh bên trong bảo vệ cho sự tồn tại và phát triển của dân tộc Và chính lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần dân tộc sâu sắc đã giúp nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi
kẻ thù xâm lược
Trong quan niệm phổ biến của nhân dân ta, lợi ích của Tổ quốc bao giờ cũng lớn hơn lợi ích của cá nhân, quyền lợi của gia đình, dòng họ, ngai vàng của vua chúa Kẻ nào vì lợi ích cá nhân mà làm tổn hại đến lợi ích dân tộc đều
bị nhân dân trừng trị bằng nhiều cách và lịch sử đời đời lên án
Còn những người có công với sự nghiệp dựng và giữ nước đều được nhân dân đặc biệt kính trọng và tỏ lòng biết ơn sâu sắc Nhiều đền thờ, miếu mạo đặt ở nơi trang trọng, trải khắp đất nước đã ghi lại bao chiến tích lẫy lừng của ông cha ta, thể hiện tình cảm sâu sắc của nhân dân với những người đã xả thân vì dân, vì nước Nó có sức mạnh giáo dục và cổ vũ lòng yêu nước, tinh thần dân tộc của các thế hệ người Việt Nam từ xưa đến nay
Chủ nghĩa yêu nước là "sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam
từ cổ đại đến hiện đại", là "dòng chủ lưu của đời sống Việt Nam, trở thành một dạng triết lý xã hội và nhân sinh trong tâm hồn Việt Nam" [45, tr.94] Nó
là tiêu chí cơ bản và phổ biến để đánh giá tính đúng đắn trong đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền cũng như hành vi của từng cá nhân
1.2.2.2 Truyền thống nhân ái, khoan dung
Lòng thương yêu con người của cha ông ta có nguồn gốc sâu xa từ sinh hoạt trong công xã nông thôn, chế độ ruộng công, làng cùng họ từ thời cộng
đồng nguyên thuỷ và được củng cố, phát triển qua quá trình chung lưng khai phá giang sơn, giữ gìn đất nước
Tình thương yêu con người của dân tộc Việt Nam thấm đượm trong các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, được phát triển trong quan hệ giữa gia đình và làng xóm và mở rộng ra cả cộng đồng dân tộc Lấy tình
Trang 32thương yêu làm cơ sở cho cách xử thế ở đời là triết lý sống của người Việt Nam - khen ngợi hết lời những tấm gương vì nghĩa cả và lên án mạnh mẽ những kẻ ác nhân, ác đức cũng từ đó mà ra Người Việt Nam coi trọng tình nghĩa hơn lễ nghĩa Trong gia đình, thương yêu là một tình cảm tự nhiên như cha mẹ thương yêu con cái và con cái khi đã trưởng thành phải có trách nhiệm chăm sóc cha mẹ khi già yếu Vợ chồng là những người chủ yếu xây dựng tổ
ấm gia đình, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi nên ăn ở với nhau phải như "bát nước
đầy", không hề nghĩ đến chuyện thiệt hơn Anh em trong nhà phải "như thể chân tay", coi "anh thuận, em hoà, là nhà có phúc" Đối với người dưng thì phải biết giúp đỡ khi họ gặp khó khăn hoạn nạn, bênh vực kẻ yếu với thái độ vô tư khi họ bị kẻ mạnh áp bức Mỗi người đồng cảm với nỗi đau của người khác, sẵn sàng "nhường cơm sẻ áo" cho nhau với tinh thần "lá lành đùm lá rách", "lá rách ít đùm lá rách nhiều" Tư tưởng "thương người như thể thương thân" ấy được nhân dân ta tôn trọng giữ gìn và chuyển giao qua các thế hệ, trở thành một truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta
Trong cuộc sống, người Việt Nam coi trọng sự dung hoà "chín bỏ làm mười" để tạo nên sự gắn bó lâu dài, nhất là với hàng xóm láng giềng "tối lửa, tắt
đèn có nhau” Vì giàu lòng thương yêu con người nên khi bị chà đạp, nhân dân ta luôn sẵn sàng đứng lên đấu tranh giành lấy quyền sống cho mình Trong suốt trường kỳ lịch sử, dân tộc ta luôn đứng trước nguy cơ bị xâm lược và đồng hoá Vì vậy, nhân dân ta hiểu rất rõ quyền sống của mình gắn với vận mệnh của Tổ quốc và dân tộc Đạo làm người của nhân dân ta trước hết là yêu nước và dám xả thân vì nước Con người yêu nước và con người thương dân gắn bó chặt chẽ với nhau Yêu nước và cứu nước là để đem lại quyền sống trong độc lập tự do của con người Thương yêu con người trước hết là yêu nước và cứu nước Nước không có độc lập thì nhân dân không thể có tự do, hạnh phúc Chống áp bức, bất công, thần quyền, quân quyền, đả kích những ràng buộc khắt khe của đạo đức phong kiến là để đem lại quyền sống chân chính của con người
Trang 33Lòng thương yêu con người truyền thống của dân tộc ta còn bao hàm cả lòng vị tha với những kẻ lầm đường lạc lối, biết lập công chuộc tội, trở về với chính nghĩa và "mở đường hiếu sinh" với kẻ thù một khi chúng đã bị thất bại
Lòng thương yêu con người truyền thống của dân tộc ta là cơ sở của lòng yêu chuộng hoà bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc Trong quan hệ bang giao với các nước láng giềng, nhân dân ta bao giờ cũng trọng tình hoà hiếu, cố gắng tránh xảy ra những xung đột dẫn đến cảnh "máu chảy, đầu rơi", tận dụng mọi cơ hội để giải quyết hoà bình các cuộc xung đột giữa nước mình với các quốc gia láng giềng, cho dù nguyên nhân là từ phía kẻ thù bên ngoài Lòng thương yêu con người truyền thống của dân tộc ta thấm nhuần tinh thần lạc quan, tin tưởng ở sức mạnh của con người và sự thắng lợi của chính nghĩa với phi nghĩa, của cái đẹp, cái thiện, cái đúng với cái xấu, cái ác, cái sai Đó là nguồn lực tinh thần to lớn giúp nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn thử thách, từng bước vươn lên làm chủ cuộc sống của mình
Lòng thương người là một trong những truyền thống rất đáng tự hào của dân tộc ta Nó gắn liền với tinh thần chiến đấu anh dũng chống ngoại xâm cứu dân, cứu nước, chống lại mọi bất công, chà đạp lên cuộc sống con người Nó thấm nhuần tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau giữa người và người trong sản xuất, đấu tranh xã hội, trong sinh hoạt thường ngày và lòng yêu chuộng hoà bình, hữu nghị giữa các dân tộc, lạc quan tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân và tiền đồ tươi sáng của dân tộc
1.2.2.3 Truyền thống đoàn kết, ý thức cộng đồng
ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết là nhân tố tinh thần hợp thành
động lực thúc đẩy quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam
Tinh thần đoàn kết bắt nguồn từ chủ nghĩa yêu nước và biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước Nhờ đoàn kết cha ông ta đã tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả cộng đồng dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đoàn kết là điều kiện tất yếu để bảo tồn dân tộc, nhất là khi đất nước có giặc ngoại xâm Đoàn
Trang 34kết đã giúp nhân dân ta vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên, phát triển sản xuất để phục vụ đời sống của mình Từ kinh nghiệm thực tế, cha
ông ta nhận thức sâu sắc rằng: "một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại thành hòn núi cao" Tinh thần đoàn kết toàn dân là nguồn sức mạnh lớn lao để nhân dân ta đánh thắng mọi thế lực ngoại xâm
Lịch sử dân tộc ta cho thấy rằng, đứng trước các thế lực ngoại xâm mà không thực hiện đoàn kết toàn dân, để cho mầm chia rẽ làm suy yếu đất nước thì sự nghiệp giữ nước sẽ thất bại Thất bại của nhà Hồ trong cuộc kháng chiến chống quân Minh đầu thế kỷ XV là một trường hợp tiêu biểu
Thấy rõ vai trò của yếu tố đoàn kết, cha ông ta luôn có ý thức chống chính sách chia rẽ của các thế lực ngoại bang và xu hướng cát cứ của các thế lực phong kiến địa phương Từ chính sách dùng người Việt đánh người Việt của các thế lực phong kiến phương Bắc đến chính sách chia rẽ của thực dân Pháp,
đế quốc Mỹ đã lần lượt bị thất bại trước sức mạnh đoàn kết của nhân dân ta
Chính sách "chia để trị" của bọn thực dân Pháp như chia rẽ giữa ba miền Bắc, Trung, Nam, chia rẽ các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, chia rẽ giữa người theo đạo và không theo đạo cũng như âm mưu chia cắt hai miền Nam - Bắc của đế quốc Mỹ đã lần lượt bị thất bại trước sức mạnh
đoàn kết triệu người như một của nhân dân ta
Khuynh hướng phân quyền, cát cứ xuất phát từ lợi ích hẹp hòi của các thế lực phong kiến địa phương Nó đi ngược lại xu thế phát triển của lịch sử dân tộc Trong lịch sử nước ta, khuynh hướng này có lúc trỗi dậy khá mạnh, gây ra bao cảnh đau thương cho nhân dân ta nhưng không thể phá hoại tinh thần đoàn kết, ý chí thống nhất đất nước mà lịch sử hàng nghìn năm chung sức
đấu tranh dựng nước và giữ nước đã tạo nên trong tư tưởng, tình cảm của người dân Việt Nam
Với ý thức cộng đồng, người Việt Nam hiện đặt lợi ích Tổ quốc cao hơn lợi ích gia đình, dòng tộc ý thức cộng đồng là sự thống nhất cao độ giữa chủ
Trang 35nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo, yêu thương con người Đây là một
điểm tựa tinh thần vững chắc, một động lực mạnh mẽ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công" Trước lúc đi xa, Người còn khẳng
định: "Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của nhân dân ta" và yêu cầu mỗi cán bộ đảng viên: " cần phải giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình"
1.2.2.4 Truyền thống yêu lao động, cần cù, tiết kiệm
Cần kiệm là một giá trị văn hóa đạo đức có từ bao đời của dân tộc ta Cần kiệm là biểu hiện thái độ của con người, dân tộc Việt Nam trong hoạt
động sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cũng như các mặt hoạt động khác Trong hoàn cảnh có nhiều thiên tai, địch hoạ, nhờ đức tính cần cù và tiết kiệm mà nhân dân ta đã vượt qua mọi khó khăn, trở ngại để từng bước tự khẳng định mình trên con đường phát triển của dân tộc
Trải qua bao đời, ý thức đề cao lao động, chống thói lười biếng đã ăn sâu vào trong tiềm thức của người Việt Nam Thấu hiểu giá trị của sự kết hợp sức lao động và đất đai, người Việt Nam chú trọng giáo dục, động viên, giúp
đỡ nhau trong sản xuất, làm cho "tấc đất" có thể trở thành "tấc vàng" Lao
động cần cù là nguồn gốc của mọi của cải và hạnh phúc: "năng nhặt chặt bị",
"kiến tha lâu cũng đầy tổ", "bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu"
Yêu quý lao động, người Việt Nam cũng tỏ thái độ phê phán thói lười biếng "ăn no lại nằm" Họ ý thức rất rõ thói ăn không ngồi rồi là nguồn gốc của tội lỗi: "nhàn cư vi bất thiện" Người Việt Nam đánh giá phẩm chất đạo
đức của con người cao hơn cái dáng vẻ bên ngoài: "cái nết đánh chết cái đẹp"
mà cái nết thể hiện rõ nhất ở sự chăm chỉ, khéo léo của con người Trong một
số trường hợp, sự cần cù còn để bù đắp những khiếm khuyết về trí tuệ của con người: "cần cù bù thông minh" Cần cù gắn liền với tiết kiệm Cần mà không
Trang 36kiệm thì cuộc sống bấp bênh do "làm đồng nào xào đồng nấy" Còn kiệm mà không cần là vô nghĩa vì lấy gì mà kiệm Từ kinh nghiệm của mình, người Việt Nam thấy rằng: "khi có mà không ăn dè, đến khi ăn dè chẳng có mà ăn" Vì vậy, trong cuộc sống không nên "vung tay quá trán", nghĩa là phải biết tiết kiệm Trong nhiều trường hợp, tiết kiệm còn được đặt lên trên nhiều thứ khác:
"buôn tàu bán bè không bằng ăn dè hà tiện" Tiết kiệm còn có nghĩa là khéo léo sắp xếp cuộc sống, tránh những lãng phí không cần thiết
Rất cần kiệm trong đời sống của cá nhân và gia đình nhưng người Việt Nam cũng hào phóng trong quan hệ với họ hàng, làng xóm, họ tỏ thái độ phê phán thói bủn xỉn, keo kiệt: “của mình thì giữ bo bo, của người thì để cho bò nó ăn"
Tâm lý cần kiệm có từ nhân dân lao động và cũng được thể hiện ở một
số trí thức yêu nước Chẳng hạn Nguyễn Trãi quan niệm với người làm quan thì cần kiệm là đức tính không thể thiếu được Đó là phải chăm lo những công việc ích nước, lợi dân, chống tiêu xài lãng phí như xây dựng nhiều cung điện,
mở nhiều yến tiệc và các nghi lễ phiền phức khác làm tốn kém thì giờ, tiền bạc của nhân dân và của cải của đất nước
Cần cù và tiết kiệm là một giá trị đạo đức truyền thống có từ bao đời của nhân dân ta Nó vừa là điều kiện đảm bảo nhu cầu sống của con người, vừa là
sự thể hiện ý thức trách nhiệm của người Việt Nam trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của mình Tất cả những thành quả vật chất và tinh thần mà ông cha ta
để lại cho đến ngày nay đều gắn liền với truyền thống cần kiệm đó
1.2.2.5 Truyền thống hiếu học, "tôn sư trọng đạo"
Là một trong những truyền thống quý giá của dân tộc ta Ông cha ta thường nói: “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, “Nhân bất học, bất tri lý”, “Nửa bụng chữ hơn hũ vàng đầy” Truyền thống hiếu học đã tạo ra nhiều vùng “đất học” nổi tiếng Câu đối “Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai, khoai cả bữa; Ông đồ, cha đồ, cháu đồ, đồ cả nhà” cho thấy sự nỗ lực, quyết tâm vươn lên bằng con
đường học hành của người dân xứ Nghệ nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung Đó cũng là nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam
Trang 37Việt Nam là một dân tộc luôn đề cao vai trò của giáo dục đối với việc xây dựng và bảo vệ đất nước Lê Quý Đôn, nhà bác học lớn của dân tộc đã nhận thấy các yếu tố dẫn tới họa mất nước, trong đó có hai yếu tố thuộc lĩnh vực giáo dục Đó là “trò không trọng thầy”, “sĩ phu ngoảnh mặt” Từ đó ông
đã đi đến kết luận “phi trí bất hưng”
Ngoài những giá trị chủ yếu trên còn có những đức tính phổ biến hợp thành hệ thống giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc như: Lòng dũng cảm, tinh thần bất khuất, tính khiêm tốn, giản dị, trung thực, thuỷ chung, lạc quan Lòng yêu quý anh hùng, học tập và noi theo những tấm gương đạo đức, lòng yêu thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái
Những giá trị văn hóa truyền thống ấy đã hình thành nên bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Bản sắc văn hóa dân tộc là các giá trị đặc trưng tiêu biểu phản ánh diện mạo, cốt cách, phẩm chất và bản lĩnh riêng của mỗi nền văn hóa, là dấu hiệu cơ bản để phân biệt nền văn hóa của dân tộc này với dân tộc khác Bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện tập trung trong truyền thống dân tộc Truyền thống văn hóa là các giá trị do lịch sử truyền lại, được các thế
hệ sau kế thừa, khai thác và phát huy trong thời đại của họ, tạo nên sự tiếp nối của lịch sử văn hóa Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng Việt Nam được vun đắp nên qua lịch
sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Bản sắc văn hóa dân tộc
là cơ sở để liên kết xã hội và liên kết các thế hệ, tạo nên sức mạnh tinh thần của dân tộc Vì vậy, bản sắc văn hóa dân tộc vừa được coi là “căn cước”, vừa
được coi là “bộ gien” di truyền văn hóa dân tộc
Đứng trước thời kỳ bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ
và sự tác động của xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, các quốc gia, các dân tộc, nhất là các nước đang phát triển đều ý thức sâu sắc về bảo vệ, giữ gìn các giá trị đa dạng của văn hóa dân tộc, chống nguy cơ đồng hóa, “phương Tây hóa”, “Mỹ hóa” Vì vậy, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trở thành
Trang 38yêu cầu khách quan và là mục tiêu của việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam hiện nay Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trước hết cần bảo vệ và phát huy truyền thống yêu nước và đại đoàn kết dân tộc, khẳng định ý chí và bản lĩnh của con người Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đồng thời bảo vệ và phát huy các tài sản văn hóa vật thể và phi vật thể, các giá trị tinh hoa của văn hóa dân tộc, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh để làm
động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước trong thời kỳ mới
1.3 Giáo dục các giá trị văn hoá truyền thống cho sinh viên Việt Nam
Theo cuốn Từ điển Giáo dục học, thì giáo dục là: "Hoạt động hướng tới
con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội" [97, tr.105]
Hoạt động giáo dục là hoạt động có tổ chức, có kế hoạch và có mục
đích nhằm đào tạo ra những con người có phẩm chất phù hợp với yêu cầu phát triển ở từng giai đoạn cụ thể của lịch sử Việc chăm lo phát triển giáo dục, phát triển nguồn lực con người là một nội dung quan trọng của sự phát triển xã hội Hoạt động giáo dục được tiến hành bởi các các chủ thể giáo dục chủ yếu
là gia đình, nhà trường, các tổ chức chính trị xã hội
Giáo dục giá trị văn hóa truyền thống là hoạt động của các chủ thể giáo dục nhằm truyền bá những giá trị văn hóa truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc nhằm nâng cao tri thức, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho các thế hệ con người và dân tộc
1.3.1 Vị trí và vai trò của sinh viên trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc
Sinh viên là nhóm xã hội đặc biệt gồm những thanh niên xuất thân từ các giai cấp và tầng lớp khác nhau, có quá trình học tập, chuẩn bị nghề nghiệp
Trang 39chuyên môn ở các trường đại học và cao đẳng Đa số sinh viên ở giai đoạn 2 của tuổi thanh niên (từ 18 - 25 tuổi) đang trưởng thành về mọi mặt
Thanh niên sinh viên là lứa tuổi đang phát triển và trưởng thành về mọi mặt: thể chất và tinh thần, nhu cầu tình cảm và lý trí, về khả năng và năng lực, tư duy năng động và tính sáng tạo hướng tới sự phát triển hài hòa hoàn thiện nhân cách Sự phát triển về tâm lý, nhu cầu, tình cảm, trí tuệ và nhân cách ở
độ tuổi sinh viên rất phong phú và mạnh mẽ, tuy vẫn có độ chênh lệch (mâu thuẫn và khác biệt) giữa phát triển sinh lý và tâm lý, giữa con người tự nhiên
và con người xã hội
Nếu xét từ một cá nhân đến một nhóm và một cộng đồng thì sinh viên
là một cấp độ mới của sự phát triển toàn diện về nhân cách Đó là lứa tuổi
đang nhập cuộc và khẳng định mình trong xã hội Họ cũng là lớp người chịu
sự tác động và ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế - xã hội, trong đó nhân tố truyền thống thì ít, mà cách tân thì nhiều Đặc điểm tuổi thanh niên hiện nay
đối với quá khứ, dễ có cách nhìn nhận và đánh giá theo cảm tính, thậm chí là phiến diện cực đoan; đối với hiện tại, họ có điều kiện tiếp xúc trực tiếp, thẩm
định và tiếp thu nhanh các giá trị của xã hội hiện đại, có xu hướng "bứt ra" các giới hạn truyền thống để gia nhập và thích ứng với yêu cầu của thời cuộc; còn
đối với tương lai họ lại thường dễ hy vọng say mê, lý tưởng hoá cuộc sống, nhưng cũng dễ thất vọng dẫn đến hoài nghi, chán nản
Sinh viên hiện nay có nhiều điều kiện để tiếp nhận thông tin mới, tri thức mới có điều kiện để phát triển trí tuệ và phát minh sáng kiến Tuy nhiên,
ở lứa tuổi thanh niên, họ còn có hạn chế nhất định do thiếu kinh nghiệm, chưa từng trải Do đó, bên cạnh những đặc điểm tích cực như táo bạo, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dũng cảm và hăng say thì vẫn còn biểu hiện tính bồng bột, nôn nóng, dễ hoang mang, dao động, nhẹ dạ, cả tin, tiếp nhận thông tin ít chọn lọc, tạo nên yếu tố tiêu cực trong cuộc sống
Đứng trên quan điểm khoa học, chúng ta phải thừa nhận rằng nét nổi bật của sinh viên là thời kỳ nhân cách đang hoàn thiện, thể chất, tinh thần và
Trang 40trí tuệ, nhân cách và phẩm chất công dân phát triển, lý tưởng và niềm tin đạo
đức tốt đẹp, từng bước được hình thành và đang đi vào thế ổn định
Sinh viên là bộ phận ưu tú trong thanh niên Xét về mặt trình độ học vấn, sinh viên là những người tiêu biểu đang được đầu tư, được giáo dục đào tạo ở giai đoạn cuối cùng trong nhà trường một cách hệ thống Đây là nguồn lực con người lao động trí tuệ, có chuyên môn sâu, là lực lượng ưu tú về học vấn trong thanh niên
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vị trí, vai trò to lớn và quyết định của thanh niên, tin tưởng vào khả năng cách mạng của thanh niên đối với đất nước và nhiều lần nhấn mạnh thanh niên tiêu biểu cho sự phát triển tương lai của đất nước, là người tiếp sức cho cách mạng Gắn thanh niên với vận mệnh của lịch sử, Người khẳng định rằng: "Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên", muốn "hồi sinh" dân tộc trước hết phải
"hồi sinh" thanh niên, họ chính là lực lượng "tiếp sức cách mạng, kế tục cách mạng" [67, tr.185]
Tổng kết lý luận và kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh cách mạng trong lịch
sử dân tộc, kế thừa và phát huy quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam rất coi trọng và đánh giá cao vai trò của thanh niên Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư BCH Trung ương (Khoá VII) khẳng
định thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, có tiềm năng hùng hậu kế thừa tinh hoa truyền thống của dân tộc và những thành quả của cách mạng [32, tr.80]
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng và Nhà nước ta
đã xác định, từ nay đến năm 2020 ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp Thực chất của CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động KT - XH từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến lao động đã được đào tạo với các công nghệ tiên tiến hiện đại với năng suất lao động - xã hội cao, tạo nền tảng vững chắc cho quá trình xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta