145 2.3.1 Những mặt đã đạt được của kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay .... Trong các loại thông tin được cung cấp trên th
Trang 1NguyÔn thÞ mü
Hoµn thiÖn kiÓm to¸n b¸o c¸o tµi chÝnh
cña c¸c c«ng ty niªm yÕt trªn thÞ tr−êng chøng
kho¸n viÖt nam
Chuyªn ngµnh: kÕ to¸n (kÕ to¸n, kiÓm to¸n vµ ph©n tÝch)
M· sè: 62.34.30.01
Ng−êi h−íng dÉn khoa häc:
1 gs.ts nguyÔn quang quynh
2 ts NguyÔn thÞ ph−¬ng hoa
Hµ néi, n¨m 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực Những kết quả trong luận án chưa từng được công bố trong bất
cứ một công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Mỹ
Trang 3
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU vi
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 8 1.1 Thị trường chứng khoán và công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán với quản lý 8
1.1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán 8
1.1.2 Công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán 10
1.2 Lý luận chung về kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán 19
1.2.1 Đặc điểm chung kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán 19
1.2.2 Qui trình kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán 32
1.2.3 Kiểm toán một số phần hành đặc trưng trong kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết 44
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 70
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 71
2.1 Đặc điểm thị trường chứng khoán Việt Nam và công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam với kiểm toán báo cáo tài chính 71
2.1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam 71
Trang 42.1.2 Công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 73
2.2 Tình hình kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 77
2.2.1 Đặc điểm chung về kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 77 2.2.2 Tình hình thực hiện quy trình kiểm toán báo cáo tài chính trong các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 87 2.2.3 Tình hình thực hiện kiểm toán khoản mục vốn đầu tư của chủ sở hữu, khoản mục lợi nhuận và báo cáo tài chính hợp nhất trong kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết 131
2.3 Đánh giá chung thực trạng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 145
2.3.1 Những mặt đã đạt được của kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay 145 2.3.2 Những mặt hạn chế của kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay 147 2.3.3 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 154
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 164 CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 166 3.1 Sự cần thiết và phương hướng hoàn thiện kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 166
3.1.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 166 3.1.2 Phương hướng hoàn thiện kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 175
Trang 53.2 Giải pháp hoàn thiện kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết
trên thị trường chứng khoán Việt Nam 187
3.2.1 Hoàn thiện cơ sở pháp lý liên quan kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 187
3.2.2 Hoàn thiện nội dung và phương pháp kiểm toán trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 190
3.2.3 Hoàn thiện kiểm toán các phần hành đặc thù trong kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 201
3.2.4 Hoàn thiện việc kiểm soát chất lượng cuộc kiểm toán và xây dựng văn hóa doanh nghiệp của công ty kiểm toán 202
3.2.5 Nâng cao chất lượng kiểm toán viên đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế 203
3.2.6 Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của các công ty niêm yết trong quan hệ hoàn thiện kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán 209
3.2.7 Hoàn thiện đối tượng kiểm toán trong quan hệ hoàn thiện và nâng cao chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trượng chứng khoán 214
3.3 Các kiến nghị thực hiện các giải pháp hoàn thiện kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 218
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 221
KẾT LUẬN CHUNG 222
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ 224
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 225
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
A&C : Công ty Kiểm toán và Kế toán
AASC : Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán BCTC : Báo cáo tài chính
CTKT : Công ty kiểm toán
CTNY : Công ty niêm yết
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
HĐQT : Hội đồng quản trị
HTKSNB : Hệ thống kiểm soát nội bộ
KSNB : Kiểm soát nội bộ
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
TTCK : Thị trường chứng khoán
UBCK : Ủy ban chứng khoán
VCSH : Vốn chủ sở hữu
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
BẢNG BIỂU:
Bảng 1.1: Bảng tổng hợp VCSH 48
Bảng 1.2: KSNB và thử nghiệm kiểm soát đối với khoản mục lợi nhuận 51
Bảng 1.3: Mức vốn hóa và số cổ phần do công chúng nắm giữ của TTCK Singapore 57
Bảng 1.4: Yêu cầu về tài chính trên TTCK NASDAQ – Mỹ 58
Bảng 1.5: Yêu cầu về số cổ đông, giá trị thị trường của cổ phiếu trên TTCK Nasdaq 59
Bảng 1.6: 09 yếu tố kiểm tra chất lượng – TTCK Mỹ 66
Bảng 2.1: Số liệu thống kê về số chứng khoán trên Sàn giao dịch Chứng khoán Thành phồ Hồ Chí Minh 74
Bảng 2.2: Số liệu thống kê về số chứng khoán trên Sàn giao dịch Chứng khoán Hà Nội 75 Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu phát triển năm 2010 của kiểm toán độc lập Việt Nam 79
Bảng 2.4 : Kết quả gửi phiếu điều tra 87
Bảng 2.5: Quy trình kiểm toán BCTC của các CTNY tại BIG FOUR 92
Bảng 2.6: Câu hỏi về tính độc lập của KTV với khách hàng 105
Bảng 2.7: Bảng phê duyệt tiếp tục cung cấp dịch vụ cho khách hàng 106
Bảng 2.8: Bảng tính toán mức trọng yếu tại Công ty ABC 107
Bảng 2.9: Thử nghiệm kiểm soát đối với phần hành mua hàng nhập kho của Công ty CP ABC 107
Bảng 2.10 : Trích giấy tờ làm việc số 4313 - Thử nghiệm kiểm soát
HTKSNB đối với HTK tại Công ty ABC 108
Bảng 2.11: Trích giấy tờ làm việc số 5441 - Test compilation 109
Bảng 2.12: Trích giấy tờ làm việc Số 5445 - Kiểm tra nhập HTK 110
Bảng 2.13: Trích giấy tờ làm việc Số 5447 - Bảng tổng hợp 110
giá trị HTK sau kiểm toán 110
Bảng 2.14: Bảng tính mức trọng yếu của E&Y 111
Bảng 2.15 : Các giao dịch trọng yếu của khách hàng XYZ 111
Bảng 2.16 : Bảng đánh giá rủi ro kiểm toán thích hợp 112
Bảng2.17: Kết quả thực hiện thử nghiệm kiểm soát 113
Trang 8Bảng 2.18: Bảng thu thập số liệu phát sinh với các tài khoản doanh thu của
công ty XYZ trong năm 2010 115
Bảng 2.19: Bảng đối chiếu số liệu giữa tài khoản kế toán và sổ theo dõi với các khoản doanh thu năm 2010 của công ty XYZ 116
Bảng 2.20: Đánh giá mức trọng yếu ban đầu chung cho cho các CTNY 119
Bảng 2.21: Bảng xác định mức trọng yếu ban đầu do KTV Công ty AASC thực hiện tại khách hàng KDC 123
Bảng 2.22: Trích bảng phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục do KTV Công ty AASC thực hiện tại khách hàng KDC 124
Bảng 2.23: GTLV tổng hợp phát sinh TK 222 125
Bảng 2.24: GTLV kiểm tra chi tiết phát sinh TK 222 125
Bảng 2.25: Các câu hỏi liên quan đến việc tiếp tục cung cấp dịch vụ 126
Bảng 2.26: Đánh giá mức trọng yếu tại khách hàng CDK 127
Bảng 2.27: Đánh giá rủi ro 128
và các phương pháp đối với rủi ro được đánh giá 128
Bảng 2.28: Trích giấy làm việc BB1 tại ABC 129
Bảng 2.29: So sánh quy trình kiểm toán giữa hai nhóm công ty kiểm toán 130
Bảng 2.30: Phân loại các điều chỉnh trên BCTC các CTNY cho năm tài chính 2010 156
Bảng 2.31 : Nhóm 5 CTNY có mức chệnh lệch tăng lợi nhuân sau kiểm toán cao nhất 157
Bảng 2.32: Nhóm 5 CTNY có mức chệnh lệch giảm lợi nhuận sau kiểm toán cao nhất 157
Bảng 2.33: So sánh Chuẩn mực Kế toán Việt Nam với IAS/IFRS 162
Bảng 3.1: Quá trình phát triển của TTCK Việt Nam qua 10 năm hoạt động - Số lượng các công ty tham gia TTCK 168
Bảng 3.2: Quá trình phát triển của TTCK Việt Nam qua 10 năm hoạt động - giá trị giao dịch và vốn hóa thị trường 168
Bảng 3.3: KTV vi phạm năm 2010 và không được hành nghề năm 2011 172
Trang 9Bảng 3.4: Danh sách các CTKT và KTV được chấp thuận kiểm toán cho các tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứng khoán năm
2011 (cho năm tài chính 2010) 174
Bảng 3.5 : Doanh thu của BIG FOUR toàn cầu qua 4 năm 180
Bảng 3.6: Bốn chỉ tiêu tổ chức hoạt động chủ yếu của các CTKT năm 2010 181
Bảng 3.7: Thủ tục kiểm toán theo hướng tiếp cận trên cơ sở rủi ro 193
Bảng 3.8: Cơ cấu giao dịch cổ phiếu của nhà đầu tư nước ngoài 216
SƠ ĐỒ:
Sơ đồ 1.1: TTCK trong hệ thống thị trường tài chính 9
Sơ đồ 1.2 Các phần hành kiểm toán cơ bản của kiểm toán BCTC 22
Sơ đồ 1.3: Quy trình kiểm toán BCTC – kinh nghiệm thế giới 64
Sơ đồ 2.1: Tóm tắt cơ sở pháp lý trực tiếp cho hoạt động kiểm toán BCTC các CTNY tại Việt Nam 86
Sơ đồ 2.2: Quy trình kiểm toán BCTC do kiểm toán độc lập tiến hành – Chương trình kiểm toán mẫu 89
Sơ đồ 2.3: Quy trình kiểm toán BCTC của các CTNY - các CTKT không thuộc nhóm BIG FOUR 118
Sơ đồ 3.1: Cấu trúc tổ chức bộ máy của CTNY 211
Sơ đồ 3.2: Cơ cấu tổ chức ban kiểm soát 212
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp (DN) muốn tồn tại, phát triển cần xác định đúng đắn các nguồn lực kinh tế đang nắm giữ cũng như xu hướng phát triển của thị trường từ đó đưa ra các các quyết định kinh doanh phù hợp đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Một trong các điều kiện để DN thực hiện mục tiêu đó là phát triển thị trường vốn một cách đáng tin cậy và bền vững Hiện nay, DN có rất nhiều lựa chọn nhằm mở rộng thị trường vốn trong đó thông qua thị trường chúng khoán (TTCK) với sự tham gia của các nhà đầu tư trong và ngoài nước là kênh thu hút vốn tiềm năng, hiệu quả
Yêu cầu về vốn thúc đẩy thị trường vốn không ngừng phát triển Từ đó, sự ra đời của TTCK là một tất yếu khách quan, khi các tổ chức tài chính trung gian đã có trước đây không thể đảm nhận tốt vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế TTCK là một thị trường cao cấp, hoạt động của thị trường có những yêu cầu rất khác biệt so với các thị trường truyền thống như thị trường hàng hoá dịch vụ, thị trường lao động …: Hàng hoá lưu thông, mua, bán trên thị trường là chứng khoán Đây là các công cụ chu chuyển vốn của nền kinh tế, những hoạt động kinh doanh trên TTCK dựa vào thông tin là chính, lấy niềm tin làm cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của thị trường Trong các loại thông tin được cung cấp trên thị trường, thông tin kế toán được cung cấp dưới dạng các báo cáo tài chính (BCTC) là những thông tin có vai trò quan trọng đặc biệt: Nó có ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ cung – cầu chứng khoán, là động lực cho quyết định mua vào, bán ra của nhà đầu tư trên thị trường sau khi phân tích các BCTC được công bố Mặt khác đứng trên phương diện vĩ mô nền kinh tế, những thông tin kế toán của các công ty niêm yết (CTNY) cũng phần nào nói lên tình hình chung của toàn nền kinh tế, tình hình sức khoẻ tài chính quốc gia
Chính vì những lý do trên, yêu cầu đầu tiên của TTCK là phải xây dựng được một hệ thống thông tin tài chính có chất lượng, một mạng lưới công bố thông
Trang 11tin hiện đại và rộng khắp không chỉ nhằm công bố thông tin có chất lượng cao, mà còn phải truyền thông tin nhanh chóng, kịp thời, đồng thời phải làm cho các chủ thể hoạt động kinh doanh trên thị trường có quyền bình đẳng trong việc tiếp nhận thông tin Một trong những yếu tố góp phần đảm bảo thông tin công bố của các CTNY được tin cậy là thông qua hoạt động kiểm toán BCTC của các CTNY
TTCK Việt Nam trong những năm gần đây đã có sự biến đổi mạnh mẽ cả về
số lượng và chất lượng Với sự tham gia của rất nhiều CTNY và sự ra đời của hàng trăm công ty chứng khoán đã thể hiện nhu cầu TTCK Việt Nam phát triển vượt bậc Cùng với sự phát triển trên, minh bạch hóa thông tin tài chính của các CTNY đang trở thành nhu cầu cấp bách đối với những người sử dụng Tuy nhiên độ tin cậy của thông tin được cung cấp là điều quan tâm chủ yếu của các cơ quan quản lý nhà nước
và các nhà đầu tư Để góp phần đảm bảo tính trung thực, hợp lý và hợp pháp của thông tin được công khai của các tổ chức niêm yết trên TTCK, Nhà nước Việt Nam yêu cầu các CTNY trên TTCK Việt Nam phải bắt buộc kiểm toán BCTC hàng năm
do kiểm toán độc lập thực hiện
Hiện nay, TTCK Việt Nam còn non trẻ và có rất nhiều biến động phức tạp: Số lượng các CTNY ngày càng gia tăng, hàng hóa trên TTCK đa dạng, phong phú và phức tạp Bên cạnh đó, việc thu hút và mở rộng thị trường vốn của các CTNY còn rất nhiều khó khăn do các nguyên nhân khách quan và chủ quan: Đối với Nhà nước, việc quản lý vĩ mô đối với TTCK còn bất cập cả về chính sách và thực thi chính sách; Các CTNY (người gọi vốn) chưa chủ động nắm bắt thị trường nhất là nhu cầu
và mong muốn của nhà đầu tư; Với các nhà đầu tư, việc phân tích thị trường và tình hình tài chính của các CTNY chưa hiệu quả cùng với tâm lý dè dặt, e ngại đã cản trở họ rất nhiều trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn của mình Nhằm đảm bảo cho thị trường hoạt động lành mạnh, phát triển và đảm bảo quyền lợi, trách nhiệm của các chủ thể tham gia TTCK, việc cung cấp thông tin về tình hình tài chính của các CTNY phải trung thực, hợp lý và hợp pháp là rất cấp bách Tuy nhiên, hiện nay việc kiểm toán BCTC của các CTNY còn nhiều bất cập cả về lý luận và thực tiễn Trong tình hình đó và với xu hướng hội nhập kinh tế thế giới nói chung và trong
Trang 12lĩnh vực kiểm toán nói riêng càng đòi hỏi việc cụ thể hóa lý luận về kiểm toán BCTC các CTNY và nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán
Nhận thức được tính cấp bách nêu trên, Tác giả mạnh dạn đi vào nghiên cứu
Luận án với Đề tài “ Hoàn thiện kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”
2 Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu của Luận án là nghiên cứu cụ thể hóa lý luận chung của kiểm toán vào kiểm toán BCTC của các CTNY kết hợp với đánh giá thực trạng công tác kiểm toán BCTC các CTNY trên TTCK Việt Nam để đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện kiểm toán BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam, góp phần hoàn thiện và nâng cao chất lượng kiểm toán nói chung tại Việt Nam hiện nay Luận án nghiên cứu cụ thể hóa lý luận chung về TTCK, hoạt động của CTNY trên TTCK, Luận án nghiên cứu phát triển lý luận về kiểm toán BCTC của các CTNY cùng kinh nghiệm của các nước có thể áp dụng vào Việt Nam Trên cơ sở
đó, Luận án phân tích thực trạng kiểm toán BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam, đánh giá những mặt đã đạt được, những tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế trong kiểm toán BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam Từ nghiên cứu lý luận và thực tế đó, Tác giả nêu ra các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện kiểm toán BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu, Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận kiểm toán BCTC
của các DN từ đó đi sâu vào kiểm toán BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam CTNY được Tác giả nghiên cứu trong Đề tài là công ty cổ phần – công ty được quyền phát hành cổ phiếu và trái phiếu ra thị trường chứng khoán
Về phạm vi nghiên cứu, Đề tài tập trung vào kiểm toán BCTC của các CTNY
(công ty cổ phần) trên TTCK do các công ty kiểm toán (CTKT) độc lập thực hiện trong quan hệ với bộ phận kiểm toán nội bộ cùng việc quản lý rủi ro của các CTNY Trong mối quan hệ đó, Luận án cũng chú trọng đến quan hệ giữa kiểm toán BCTC
Trang 13năm với việc soát xét BCTC giữa kỳ như một nội dung quan trọng trong quá trình nghiên cứu trọng yếu và rủi ro kiểm toán BCTC Tất nhiên, vấn đề tổ chức soát xét BCTC cần được nghiên cứu qua một đề tài riêng Trong quan hệ, Tác giả trực tiếp khảo sát thực tế tại một số CTKT độc lập như: Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính
Kế toán và Kiểm toán (AASC), CTKT Deloitte Việt Nam; CTKT AVA, CTKT Nhân Việt, CTKT và Tư vấn Sài Gòn (A&C) - Chi nhánh Hà Nội…
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Đề tài vận dụng các phương pháp chung như thu nhận thông tin, tổng hợp, phân tích, thống kê
từ đó đưa ra luận cứ cơ bản về kiểm toán BCTC của các CTNY trên TTCK Kết hợp lý luận với thực tiễn, kết hợp cả nghiên cứu định tính với nghiên cứu định lượng Cụ thể, trên cơ sở những kiến thức đã tích lũy được về kiểm toán BCTC của các CTNY trên TTCK, kết hợp với việc tham khảo các tài liệu trong và ngoài nước
về lĩnh vực này, Tác giả phân tích và tổng hợp để hoàn thành lý luận chung về kiểm toán BCTC của các CTNY trên TTCK
Trong nghiên cứu thực tiễn, Đề tài vận dụng các phương pháp cụ thể như điều tra, tổng hợp, phân tích thực trạng kiểm toán BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam Từ nghiên cứu về lý luận và thực tiễn đó, Luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện kiểm toán BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam Cụ thể, Luận án kết
hợp chọn mẫu chủ thể kiểm toán với khách thể kiểm toán: Với khách thể kiểm toán
(CTNY): Tác giả phân loại CTNY theo sàn chứng khoán và quy mô vốn của các
CTNY; Với chủ thể kiểm toán (CTKT): Tác giả chọn mẫu điển hình qua uy tín và
quy mô của các CTKT ( nhóm big four và nhóm còn lại)
Về phương pháp thu thập số liệu: Tác giả kết hợp nhiều phương pháp như trực
tiếp tham gia kiểm toán với một số CTKT tại một số khách hàng là các CTNY; phát phiếu điều tra; phỏng vấn trực tiếp; sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp
Về phương pháp phân tích số liệu: Tác giả tiến hành phân tích và xác định mức
độ ảnh hưởng của các nhân tố tới chất lượng kiểm toán để từ đó tạo cơ sở đề xuất giải
Trang 14pháp hoàn thiện kiểm toán BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam Để có dữ liệu
đó, Tác giả tiến hành điều tra và thu thập qua các phương pháp cụ thể sau:
Một là, tham gia thực hiện một số cuộc kiểm toán BCTC của các CTNY trên
TTCK Việt Nam tại một số CTKT độc lập của Việt Nam;
Hai là, khảo sát thực tế và nghiên cứu hồ sơ kiểm toán của một số CTKT;
Ba là, xây dựng “Bảng hỏi” và gửi tới các CTKT Việt Nam còn lại Với mỗi
công ty, Tác giả gửi từ 2 đến 3 phiếu tới đối tượng thu thập ý kiến là thành viên ban
GĐ (GĐ) và kiểm toán viên (KTV) Việc sử dụng bảng hỏi này cho phép thu thập được số liệu trên phạm vi rộng;
Bốn là, cùng với việc tìm hiểu thông tin qua “Bảng hỏi”, Tác giả trực tiếp gặp
và phỏng vấn các thành viên ban GĐ và KTV của các CTKT nhằm tìm hiểu sâu hơn
về thực tế kiểm toán BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam
Sau khi đã có được thông tin về thực trạng kiểm toán BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam, Tác giả sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp để có được những đặc điểm chung và những điểm khác biệt Từ phân tích đó, Luận án khái quát những ưu điểm và nhược điểm nổi bật nhất trong thực tế kiểm toán BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam
Trên cơ sở tổng hợp lý luận chung, kết hợp với phân tích thực trạng kiểm toán BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam, Tác giả đề xuất những giải pháp và các kiến nghị hoàn thiện kiểm toán BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán, tạo niềm tin cho những người quan tâm, góp phần đẩy mạnh sự phát triển của TTCK Việt Nam hiện nay
5 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về kiểm toán nói chung và kiểm toán BCTC nói riêng: Một số luận án tiến sĩ nghiên cứu vềkiểm toán và kiểm
toán BCTC như: “Giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán độc lập tại Việt Nam” (Ngô Đức Long,2002); “Hoàn thiện tổ chức kiểm toán BCTC DN ở Việt Nam” (Đoàn Thị Ngọc Trai, 2003); “Hoàn thiện kiểm toán BCTC các công ty xây lắp của
các tổ chức kiểm toán độc lập” (Phạm Tiến Hưng,2009); Trong các luận án đó: Tác
Trang 15giả Ngô Đức Long đi vào nghiên cứu hoạt động kiểm toán độc lập nói chung để từ
đó nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán độc lập trong những thời kỳ mới phát triển ( Ngô Đức Long, 2002); Tác giả Đoàn Thị Ngọc Trai nghiên cứu khái quát chung
về kiểm toán BCTC trong các DN Việt Nam qua việc tiếp cận về qui trình kiểm toán chung, về bộ máy kiểm toán, về tổ chức xây dựng chuẩn mực kiểm toán; Ngoài
ra, Tác giả cũng tìm hiểu cụ thể về qui trình kiểm toán tại CTKT Việt Nam (VACO), Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC), CTKT
và Kế toán (AAC) và tại Kiểm toán Nhà nước; Tác giả Phạm Tiến Hưng nghiên cứu chuyên sâu về kiểm toán BCTC các DN xây lắp tại Việt Nam qua lý luận và những đặc điểm chung về BCTC các DN xây lắp cũng như qui trình kiểm toán, đối tượng kiểm toán, phương pháp kiểm toán, kiểm soát chất lượng qua khảo sát thực tế tại một số CTKT độc lập Việt Nam để từ đó tổng hợp thực tiễn về qui trình kiểm toán, đối tượng kiểm toán, phương pháp kiểm toán và kiểm soát chất lượng
Bên cạnh các công trình nghiên cứu chung về kiểm toán BCTC đó, một số
luận án tiến sĩ khác nghiên cứu về TTCK và hệ thống kế toán DN như: Hoàn thiện
hệ thống kế toán DN trong điều kiện TTCK Việt Nam đang đi vào hoạt động
(Nguyễn Xuân Hưng, 2004); Phát triển TTCK Việt Nam đến 2020 (Trần Thị Mộng Tuyết,2008); Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ kế toán, kiểm
toán - thực trạng và giải pháp (Trần Thị Kim Anh, 2008); Hoạt động tài chính của các DN công nghiệp trên TTCK ở Việt Nam (Nguyễn Thị Loan,2009); Trong các
luận án đó: Tác giả Nguyễn Xuân Hưng qua việc nhìn nhận những bất cập trong hệ thống kế toán DN khi TTCK đi vào hoạt động và phát triển để đề xuất giải pháp hoàn thiện chúng; Tác giả Trần Thị Mộng Tuyết qua việc nghiên cứu về hoạt động của TTCK và thực trạng phát triển TTCK Việt Nam hiện nay về chủ thể tham gia, các chứng khoán niêm yết và thực trạng hoạt động của TTCK Việt Nam để đưa ra định hướng cùng các giải pháp phát triển TTCK đến năm 2020; Tác giả Trần Thị Kim Anh chủ yếu nghiên cứu về hệ thống pháp lý đối với hoạt động dịch vụ kế toán
và kiểm toán của Việt Nam hiện nay trong quan hệ với qui định chung của Tổ chức Thương Mại quốc tế (WTO) để đáp ứng yêu cầu hội nhập về dịch vụ kế toán, kiểm
Trang 16toán trong kinh tế quốc tế; Tác giả Nguyễn Thị Loan nghiên cứu về hoạt động tài chính các DN công nghiệp thông qua việc phân tích về quá trình cổ phần hóa các
DN nhà nước, về phương pháp định giá, giá trị DN khi phát hành cổ phiếu ra công chúng, về hoạt động phát hành chứng khoán, trả cổ tức, trái tức, về hoạt động đầu tư kinh doanh chứng khoán của các DN công nghiệp trên TTCK Việt Nam từ đó vận dụng mô hình SWOT để đánh giá hoạt động tài chính của các DN này trên TTCK Ngoài ra có một số bài báo trên các tạp chí chuyên ngành của các tác giả như :
Báo cáo kiểm toán CTNY đạt yêu cầu (Bùi Văn Mai – Mạnh Bôn, Báo Đầu tư
Chứng khoán Số 314, 2005); Từ góc nhìn kiểm toán – Thử tìm hiểu nguyên nhân
TTCK Việt Nam liên tục điều chỉnh giảm (Lê Quang Bính, Tạp chí Kiểm toán, Số
3,2008); Một số vấn đề công tác kế toán tài chính tại các CTNY trên TTCK Việt
Nam ( Hoàng Thị Việt Hà, Tạp chí Nghiên cứu Khoa học Kiểm toán Số 17, 2009)
hoặc một số đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước như: Giải pháp phát triển kiểm toán
độc lập ở Việt Nam đến năm 2015(GS.TS Ngô Thế Chi – CN Bùi Văn Mai, 2006); Nâng cao năng lực cạnh tranh của các CTKT độc lập ở Việt Nam hiện nay (PGS.TS
Đoàn Xuân Tiên,2008)… Các tác giả trên đã khái quát trên khía cạnh tổ chức kiểm toán độc lập, kiểm toán BCTC các CTNY tại Việt Nam hiện nay
Như vậy, có thể thấy chưa có nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam về kiểm toán BCTC các CTNY trên TTCK Việt Nam Vì vậy, việc đi sâu vào nghiên cứu về kiểm toán BCTC của các CTNY trên TTCK hiện nay mang tính thời sự cấp bách
6 Kết cấu của Luận án
Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, Luận án gồm 3 chương sau:
Chương 1: Lý luận chung về kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm
yết trên thị trường chứng khoán;
Chương 2: Thực trạng kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên
thị trường chứng khoán Việt Nam;
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện kiểm toán báo cáo tài chính
của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 171.1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán
TTCK là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ dài hạn cho các DN, các dự án đầu tư, các tổ chức kinh tế và nhà nước để phát triển sản xuất, tăng cường kinh tế Đây là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành và ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp Do vậy, TTCK là nơi các chứng khoán được phát hành và trao đổi
Về mặt pháp lý, theo Luật Sửa đổi, Bổ sung một số điều trong Luật Chứng khoán Việt Nam: “Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng
khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử
bao gồm các loại: Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; Hợp đồng góp vốn đầu tư; Các loại chứng khoán khác do
Bộ Tài chính quy định.” [60, tr.1]
Từ đó, TTCK có các đặc trưng sau:
Một là, TTCK xuất hiện khi có các chứng khoán được phát hành và trao đổi;
Hai là, TTCK là thị trường vốn trung và dài hạn;
Ba là, TTCK là thị trường mà ở đó không có sự can thiệp, độc đoán hay cưỡng chế
về giá cả Giá mua bán trên TTCK hoàn toán do cung cầu quyết định;
Trang 18Bốn là, TTCK là hình thức phát triển cao của nền sản xuất hàng hóa, thị trường này
chỉ tồn tại và phát triển trong cơ chế kinh tế thị trường
Cấu trúc của TTCK được thể hiện qua Sơ đồ 01.1:
Sơ đồ 1.1: TTCK trong hệ thống thị trường tài chính
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
TTCK có nhiều loại nên cần phân loại TTCK theo từng tiêu chí khác nhau:
Thứ nhất, Căn cứ vào quá trình lưu thông chứng khoán, có thể phân chia
TTCK thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp Thị trường sơ cấp là nơi phát
hành lần đầu chứng khoán ra công chúng, tạo vốn cho đơn vị phát hành và chỉ tạo ra
phương tiện huy động vốn Thị trường thứ cấp là nơi diễn ra các hoạt động mua bán
những chứng khoán đã được phát hành thông qua thị trường sơ cấp Những loại chứng khoán này có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên TTCK thứ cấp với nhiều giá cả cáo thấp khác nhau Thị trường thứ cấp không ảnh hưởng tới nguồn vốn cả các tổ chức đã phát hành ra chứng khoán đó nhưng nó giúp tạo nên một yếu
tố quan trọng cơ bản của việc mua bán chứng khoán, đó là tính thanh khoản
Thứ hai, Căn cứ vào phương thức giao dịch, TTCK bao gồm thị trường tập
trung và thị trường phi tập trung Thị trường tập trung là thị trường có tổ chức,
trong đó các chứng khoán giao dịch mua bán tại một nơi gọi là Sở Giao dịch chứng
Thị trường tài chính
Thị trường tài chính ngắn hạn
( thị trường tiền tệ) Thị trường tài chính dài hạn ( thị trường vốn)
Thị trường tín dụng dài hạn
Thị trường cầm cố
Thị trường chứng khoán
Trang 19khoán hay Trung tâm giao dịch chứng khoán Thị trường phi tập trung bao gồm thị
trường không qua quầy (OTC) và thị trường giao dich “trao tay” (thị trường thứ ba)
Thứ ba, Căn cứ vào kỳ hạn giao dịch, TTCK bao gồm thị trường trao ngay,
thị trường giao dịch kỳ hạn và thị trường giao dịch tương lai Thị trường trao ngay
là thị trường mà việc giao dịch mua bán chứng khoán theo giá thỏa thuận khi ký hợp đồng, nhưng thanh toán và giao nhận chứng khoán sẽ diễn ra tiếp theo sau đó
một hoặc hai ngày Thị trường giao dịch kỳ hạn là thị trường mà việc giao dịch mua
bán chứng khoán theo giá thỏa thuận khi ký hợp đồng, nhưng thanh toán và giao nhận chứng khoán sẽ diễn ra sau khoảng thời gian nhất định theo qui định trọng hợp
đồng Thị trường giao dịch tương lai là thị trường mà việc mua bán chứng khoán
theo loại hợp đồng định sẵn, giá cả được thực hiện trong ngày giao dịch nhưng việc thanh toán và giao nhận chứng khoán sẽ diễn ra trong một kỳ hạn nhất định trong tương lai
Như vậy, nói một cách khách quan, đầy đủ và phù hợp với hoạt động thực tế của TTCK thì TTCK là nơi mà ở đó người ta mua bán, chuyển nhượng và trao đổi chứng khoán với mục đích kiếm lời
1.1.2 Công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (Tập 1), công ty là DN do nhiều thành viên cùng góp vốn cùng chia lợi nhuận hoặc cùng chịu lỗ, tương ứng với phần vốn góp [29] Theo Từ điển Luật học, công ty là sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng một sự kiện pháp lí nhằm tiến hành các hoạt động để đạt được mục tiêu chung nào đó [66]
Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, khái niệm về “công ty” được áp dụng không hoàn toàn giống nhau Ở Pháp, công ty (La socie’te’, La compagnie) được hiểu là “tổ chức của những người góp chung vốn và chung hoạt động nhằm mang lại những lợi ích hoặc lợi nhuận về kinh tế”[90] Tại Mỹ, theo Luật Công ty của hầu hết các bang
ở Mỹ, công ty (company, corporation) được hiểu là một thực thể được hình thành bởi một sự kiện pháp lý, được nhà nước (chính quyền bang) thừa nhận và cấp phép, thành lập chủ yếu nhằm tiến hành các hoạt động kinh doanh [22, tr.6] Tại Việt
Trang 20Nam, Theo Điều 4, Luật DN của Việt Nam - năm 2005, công ty là các tổ chức kinh
tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của luật pháp nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh [58]
Như vậy, công ty được hiểu là một tổ chức của một hoặc nhiều cá nhân, pháp
nhân tiến hành hoạt động kinh doanh theo luật pháp và mục tiêu chung
Các loại hình công ty thường có những đặc điểm sau:
Một là, Công ty là sự liên kết của cá nhân hoặc pháp nhân Kết quả của sự liên
kết này tạo ra một tổ chức được pháp luật thừa nhận;
Hai là, Việc hình thành công ty là một sự kiện pháp luật Theo đó, sự kiện
được nảy sinh trong thực tế và được pháp luật làm phát sinh thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật nhất định;
Ba là, Công ty phải có tên gọi riêng Tên công ty được đặt theo các qui định cụ
thể của luật pháp từng quốc gia;
Bốn là, Công ty phải có tài sản do các chủ sở hữu đóng góp và các chủ sở hữu
có quyền đối với phần vốn góp của mình trong công ty Đa phần các loại công ty đều có sự độc lập giữa tài sản của công ty và các chủ sở hữu về quyền cũng như nghĩa vụ Tỷ lệ vốn góp của các chủ sở hữu trong công ty thường là căn cứ xác định quyền hạn và trách nhiệm của họ trong công ty;
Năm là, Công ty phải tự chịu trách nhiệm về tài sản cũng như nghĩa vụ nợ phải
trả theo qui định từng quốc gia;
Sáu là, Mục tiêu chính của công ty là hoạt động kinh doanh với mục đích kiếm lời; Tuy nhiên, tùy theo từng loại công ty khác nhau, những đặc điểm trên cũng
được thể hiện khác nhau Theo Từ điển Luật học, Công ty cổ phần là công ty, trong
đó vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau, nhỏ nhất gọi là cổ phần [66] Theo Điều 77 – Luật DN Việt Nam, công ty cổ phần là DN, trong đó: “Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm
Trang 21vi số vốn đã góp vào DN; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác” [58]
Có rất nhiều loại công ty cổ phần Tùy vào cơ cấu tổ chức có thể có: công
ty hoạt động riêng lẻ, độc lập và công ty hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh doanh (mô hình công ty mẹ-công ty con) Công ty hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh doanh
Đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần:
Một là, Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận
đăng kí kinh doanh, chịu trách nhiệm trước các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi giá trị tài sản của công ty;
Hai là, Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
Công ty cổ phần phải có cổ phiếu phổ thông và có thể phát hành cổ phiếu ưu đãi các loại như cổ phiếu ưu đãi cổ tức, cổ phiếu ưu đãi hoàn lại, cổ phiếu ưu đãi biểu quyết, cổ phiếu ưu đãi khác do điều lệ công ty quy định Cổ phần được chuyển nhượng tự do, trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng Trong 3 năm đầu, kể từ ngày công ty được đăng kí kinh doanh cổ phần phổ thông của cổ động sáng lập chỉ được chuyển nhượng cho người ngoài nếu được sự chấp thuận của đại hội cổ đông;
Ba là, cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân với số lượng tối thiểu là 3 và không
hạn chế số lượng tối đa;
Bốn là, công ty được quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn
trong công chúng
Như vậy, công ty cổ phần là loại hình DN được xây dựng trên mối quan hệ về
đầu tư vốn giữa các cá nhân, các tổ chức với sự đa dạng của các chủ sở hữu và cùng mục tiêu kinh doanh chung Vì vậy, để đảm bảo sự công bằng giữa các chủ sở hữu
và công khai minh bạch các thông tin, nhu cầu kiểm toán nói chung và kiểm toán BCTC nói riêng là rất cần thiết và có tác dụng thiết thực
Khi nền kinh tế thị trường phát triển, sự ra đời của TTCK đã hình thành rất nhiều mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia TTCK Các chủ thể tham gia TTCK
Trang 22tập trung thường bao gồm: Uỷ ban chứng khoán quốc gia; sở giao dịch chứng khoán; các tổ chức phát hành chứng khoán; các nhà đầu tư chứng khoán; các định chế tài chính trung gian
Theo Từ điển Thuật ngữ thị trường chứng khoán Anh – Việt (Dictionary of stock market), Nhà phát hành chứng khoán là thực thể pháp lý có quyền phát hành
và phân phối chứng khoán [67]
Theo Luật Sửa đổi, Bổ sung một số điều trong Luật Chứng khoán Việt Nam, tổ chức phát hành là tổ chức thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng [60]
Như vậy, tổ chức phát hành là các tổ chức cần vốn thông qua TTCK Tổ chức
phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hóa của TTCK – trên TTCK
Tổ chức phát hành chứng khoán bao gồm: Chính phủ - phát hành tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu đầu tư; Chính quyền địa phương – phát hành trái phiếu để tài trợ cho các dự án, nhu cầu chi tiêu của chính quyền địa phương; các công ty cổ phần – phát hành cổ phiếu và trái phiếu của công ty; các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và công ty TNHH – phát hành trái phiếu DN; Các quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ - phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư
Các tổ chức phát hành chứng khoán tiến hành chào bán chứng khoán lần đầu qua thị trường sơ cấp nhằm tăng vốn phục vụ cho việc tài trợ các dự án, mục tiêu hoạt động của tổ chức phát hành Sau đó, chứng khoán đã được phát hành được giao dịch, mua bán, trao đổi trên thị trường thứ cấp Hình thức chào bán chứng khoán ra công chúng bao gồm chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng, chào bán thêm
cổ phần hoặc quyền mua cổ phần ra công chúng và các hình thức khác Chứng khoán có thể được giao dịch trên thị trường giao dịch tập trung (thông qua Sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán) và thị trường phi tập trung Các tổ chức phát hành tiến hành niêm yết chứng khoán là việc công bố chứng khoán đủ tiêu chuẩn được giao dịch tại thị trường giao dịch tập trung Theo Điều 6
– Luật Chứng khoán Việt Nam, niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán
có đủ điều kiện vào giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán [59]
Trang 23Theo Từ điển Thuật ngữ thị trường chứng khoán Anh – Việt (Dictionary of stock market), CTNY là công ty có các cổ phần được ghi trên thị trường chính của
sở giao dịch chứng khoán [67]
Như vậy, CTNY là một tổ chức phát hành chứng khoán trên TTCK tập trung; là công ty cổ phần tiến hành phát hành chứng khoán trên TTCK tập trung nhằm huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty; là công ty
có chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu) được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán
CTNY được quyền phát hành chứng khoán dưới dạng cổ phiếu và trái phiếu ra
công chúng Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của CTNY Trái phiếu là loại chứng
khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn
nợ của tổ chức phát hành
Cổ phiếu gồm có hai loại cơ bản là cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi Cổ
phiếu thường là loại cổ phiếu thông dụng nhất Cổ phiếu này không có thời gian đáo
hạn, thể hiện quyền sở hữu vĩnh viễn đối với công ty Cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường chính là chủ sở hữu của công ty, có quyền tham gia kiểm soát và điều khiển các công việc của công ty Cổ phiếu thường không quy định mức cổ tức tối đa hay tối thiểu mà cổ đông được nhận Tỉ lệ cũng như hình thức chi trả cổ tức cho cổ đông tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động và chính sách của công ty, do HĐQT quyết định Như vậy, thu nhập mà cổ phiếu thường mang lại cho cổ đông là thu nhập không cố định Đó có thể là mức lợi tức cao nhưng đồng nghĩa với việc chấp nhận mức rủi ro cao Khi công ty phải thanh lý tài sản, cổ đông thường chỉ được nhận những gì còn lại sau khi công ty trang trải xong tất cả các nghĩa vụ như thuế, nợ và cổ phiếu ưu đãi Các công ty thường cố gắng duy trì tỉ lệ nợ/vốn cổ phần để giữ vững khả năng thanh toán, củng cố uy tín tài chính Khi tỉ lệ này ở mức thấp, nếu cần vốn thì các công ty thường lựa chọn cách phát hành trái phiếu tức là tăng nợ mà không tăng vốn
cổ phần Nếu tỉ lệ này ở mức cao, công ty phải tránh tăng thêm tỉ lệ nợ/vốn cổ phần
và chọn cách phát hành cổ phiếu Thông thường nếu công ty dự kiến trong vài năm
Trang 24tới lợi nhuận của công ty có thể tăng ổn định thì họ không muốn huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu thường mới bởi các cổ đông cũ muốn giành quyền kiểm soát và quyền hưởng lợi nhuận Cũng có trường hợp công ty phát hành thêm cổ phiếu khi giá của cổ phiếu tăng trên TTCK Giá cổ phiếu tăng lên là một dấu hiệu
có nhiều cơ hội đầu tư và mở rộng công ty Cổ phiếu ưu đãi là công cụ tạo vốn
trung gian giữa cổ phiếu thường với trái phiếu Trong điều kiện bình thường, cổ đông ưu đãi sẽ nhận được lượng cổ tức cố định theo tỉ lệ ấn định Trong trường hợp công ty không có đủ lợi nhuận để trả theo tỉ lệ đó, công ty sẽ trả theo khả năng có thể, và một khi cổ đông ưu đãi chưa được trả cổ tức thì cổ đông thường cũng chưa được trả Thông thường trong tổng số vốn huy động thì cổ phiếu ưu đãi chỉ chiếm một tỉ trọng nhỏ Tuy nhiên trong một số trường hợp việc sử dụng cổ phiếu ưu đãi lại tỏ ra thích hợp Đó là khi công ty vừa muốn tăng VCSH, đồng thời lại không muốn san sẻ quyền lãnh đạo Tuy nhiên, khi tình hình tài chính của công ty đang gặp khó khăn thì việc trả lãi thường xuyên và cố định cũng là điều bất lợi Cổ phiếu
ưu đãi là công cụ tài trợ lưỡng tính (giữa cổ phiếu thường và trái phiếu) Hiếm khi
cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi có quyền bỏ phiếu đầy đủ Khi mà tình hình tài chính của công ty gặp khó khăn thì công ty có thể hoãn trả lợi tức cho cổ phiếu ưu đãi trong một thời gian nhất định Nếu quá thời gian này, cổ đông của những cổ phiếu đó có thể bỏ phiếu Khác với chi phí lãi vay được giảm trừ khi tính thuế thu nhập DN, cổ tức không được tính vào chi phí hợp lý mà lấy từ lợi nhuận sau thuế Tuy nhiên, điều kiện ưu đãi của cổ phiếu ưu đãi đã làm giảm rủi ro, có thể tăng tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư và giảm chi phí huy động vốn đối với nhà phát hành Như vậy, công ty sẽ phát hành cổ phiếu ưu đãi khi mà công ty muốn tăng VCSH, chống lại được sự phá sản của công ty nhưng lại không muốn san sẻ quyền lãnh đạo Nói cách khác công ty phát hành cổ phiếu ưu đãi khi sử dụng cổ phiếu thường
và trái phiếu là bất lợi
Để trở thành CTNY trên TTCK cần phải có các tiêu chuẩn hay điều kiện
cụ thể tùy thuộc vào qui định của từng sở giao dịch trên từng quốc gia Thông
Trang 25thường, các CTNY cần đảm bảo cả hai loại tiêu chuẩn : tiêu chuẩn định tính và tiêu chuẩn định lượng
Nhóm tiêu chuẩn định tính: Triển vọng phát triển của tổ chức phát hành; tính
khả thi của phương án sử dụng vốn huy động được từ đợt phát hành; nhận xét của KTV về BCTC của công ty; lợi ích kinh tế mang lại của công ty đối với nền kinh tế quốc dân; việc thực hiện công tác công bố thông tin;…
Nhóm tiêu chuẩn định lượng: Thời gian hoạt động - công ty phải có thời gian
hoạt động liên tục trong một số năm nhất định tính đến thời điểm niêm yết; quy mô vốn - công ty cần có số vốn góp vốn cổ đông mức độ nhất định đủ lớn để tạo cơ sở tiềm lực tài chính mạnh; phân phối quyền sở hữu cổ phần - công ty cần có số lượng
cổ đông nhất định để đảm bảo khả năng hoàn tệ của cổ phiếu được niêm yết; hiệu quả hoạt động - công ty phải có lợi nhuận trong một số năm tính đến thời điểm niêm yết
Cơ sở pháp lý đối với CTNY trên TTCK
Niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán có đủ tiêu chuẩn vào đăng
ký và giao dịch tại thị trường giao dịch tập trung Để được niêm yết trên thị trường, công ty xin niêm yết phải đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Khi
đã có chứng khoán được niêm yết trên thị trường, CTNY cũng phải tuân thủ một số yêu cầu như nghĩa vụ công bố thông tin, BCTC phải được kiểm toán… để đảm bảo TTCK hoạt động hiệu quả Tất cả những điều kiện, yêu cầu, quy định đó đối với CTNY thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật như luật DN, luật chứng khoán, ngoài
ra còn có các văn bản liên quan đến các ngành nghề đặc thù của CTNY như luật bảo hiểm xã hội…Cụ thể:
Một là, các sắc luật về DN là cơ sở pháp lý đảm bảo sự hoạt động của các DN
nói chung và CTNY nói riêng tuân thủ qui định;
Hai là, luật chứng khoán là văn bản pháp luật quy định những vấn đề chung
nhất về chứng khoán và TTCK, tạo khuôn khổ pháp lý cao cho hoạt động của TTCK Luật chứng khoán có phạm vi điều chỉnh cả thị trường phát hành cũng như thị trường giao dịch, đồng thời điều chỉnh hoạt động của các thành viên tham gia thị
Trang 26trường tạo điều kiện cho thị trường phát triển nhanh và ổn định, bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khi tham gia kinh doanh, đầu tư vào TTCK;
Ba là, các sắc luật trong ngành nghề cụ thể của CTNY;
Bốn là, các văn bản pháp lý khác gồm các văn bản pháp quy khác mang tính
chất hướng dẫn, quy định chi tiết cụ thể hơn các nội dung trong luật DN, luật chứng khoán hoặc những vấn đề mà các sắc luật khác chưa điều chỉnh
Những lợi thế của niêm yết đối với các CTNY: Đối với các CTNY, khi chứng
khoán được chính thức niêm yết và giao dịch trên TTCK sẽ đem lại nhiều lợi thế, cụ thể:
Một là, dễ dàng huy động vốn, CTNY sẽ có sự tín nhiệm của các nhà đầu tư
hơn các công ty không niêm yết nên việc huy động vốn thuận lợi hơn;
Hai là, củng cố và nâng cao uy tín của công ty với công chứng và các đối tác
kinh doanh;
Ba là, nâng cao tính thanh khoản cho chứng khoán công ty: Khi chứng khoán
được niêm yết đồng nghĩa việc đạt được ưu tín đối với thị trường nên tính thanh khoản nâng cao, phạm vi chấp nhận các quan hệ tài chính khác được mở rộng;
Bốn là, được hưởng ưu đãi của nhà nước: các CTNY có thể nhận được ưu đãi
về thị trường, về tín dụng, về thuế …từ phía nhà nước
Những bất lợi của niêm yết đối với CTNY: Bên cạnh những lợi thế trên, các
CTNY khi tham gia vào TTCK phải chấp nhận những bất lợi sau:
Một là, Nộp phí niêm yết; Đây sẽ là khoản chi phí không nhỏ với các CTNY; Hai là, Nghĩa vụ công khai; Các CTNY phải có nghĩa vụ cung cấp các thông
tin liên quan tới các hoạt động kinh doanh – tài chính của công ty đến các nhà đầu
tư trên thị trường dẫn đến những bí quyết, bí mật công nghệ, kinh nghiệm quản lý, chiến lược kinh doanh bị ảnh hưởng đáng kể Ngoài ra, việc công khai thông tin cũng đòi hỏi trách nhiệm của công ty với nhà đầu tư cao hơn;
Ba là, Những cản trở trong việc sáp nhập, thâu tóm của công ty; Khi niêm yết,
quyền biểu quyết của các cổ đông chủ chốt sẽ chia sẻ cho các cổ đông khác và sẽ gây trở ngại cho việc đưa ra các quyết định của các cổ đông chủ chốt
Trang 27Như vậy, đặc điểm của CTNY ảnh hưởng tới kiểm toán được xem xét trên một số khía cạnh chủ yếu:
Thứ nhất, CTNY là loại công ty cổ phần, chịu trách nhiệm trước các khoản nợ
và nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi giá trị tài sản của công ty; Vốn điều lệ
được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Các cổ đông là các tổ chức
và các cá nhân sở hữu cổ phần của công ty
Thứ hai, CTNY được quyền phát hành chứng khoán dưới hai dạng là cổ phiếu
và trái phiếu ra công chúng; chứng khoán của CTNY được niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán và việc mua bán, trao đổi trên
cơ sở qui luật cung cầu; Số lượng cổ đông của CTNY khá phức tạp về số lượng và thay đổi theo từng thời điểm nên rất khó kiểm soát;
Thứ ba, việc huy động vốn của CTNY có thể được tiến hành theo nhiều hình
thức đa dạng và mang lại hiệu quả cao: thông qua vay vốn ngân hàng và TTCK;
Thứ tư, việc công khai hóa thông tin nói chung và thông tin tài chính nói riêng
của CTNY phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định về chế độ tài chính kế toán và quy định của TTCK Tùy thuộc quy định của từng sàn chứng khoán quốc gia, việc quy định về nội dung thông tin công khai hóa, thời gian công khai của các CTNY sẽ có những điểm cụ thể khác nhau nhưng thường có các nội dung sau: BCTC quý, BCTC bán niên đã được soát xét bởi CTKT được chấp thuận, BCTC năm đã được kiểm toán bởi CTKT được chấp thuận; giải trình về tình hình biến động lợi nhuận bất thường; báo cáo về biến động vốn chủ sở hữu (khi tăng vốn điều lệ…); biên bản họp đại hội đồng cổ đông, HĐQT, ban GĐ; các chiến lược, phương án kinh doanh chủ yếu của CTNY; công bố các thông tin bất thường ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của công ty (tùy thuộc từng quy định của sàn chứng khoán); công bố về các giao dịch nội bộ, cổ đông chiến lược, người đại diện pháp luật, người được ủy quyền công bố thông tin; công bố thông tin về quản trị công ty …
Thứ năm, khi niêm yết chứng khoán trên TTCK, số lượng và trình độ người
quan tâm đến thông tin tài chính của CTNY rất lớn và phức tạp: những người tham
Trang 28gia mua bán chứng khoán sẽ phải xem xét, đánh giá và sử dụng thông tin tài chính nhiều hơn, đa dạng hơn và phức tạp hơn
Thứ sáu, hoạt động của CTNY sẽ được quản lý chặt chẽ từ nhiều hệ thống
pháp luật trong và ngoài công ty Các CTNY phải xây dựng và thực hiện KSNB rất chặt chẽ các hoạt động trong công ty để đảm bảo hiệu quả kinh doanh và kỳ vọng của các cổ đông và các nhà đầu tư trên TTCK Ngoài ra, CTNY còn phải chịu sự kiểm soát rất chặt chẽ từ bên ngoài như từ UBCK, từ các sở giao dịch chứng khoán,
từ cơ quan thuế và các nhà đầu tư Chính điều này tạo nên áp lực rất lớn trong quản
lý và hoạt động của CTNY và các nhà quản lý của công ty
Thứ bảy, Đặc điểm hoạt động kinh doanh của các CTNY rất phức tạp và
phong phú Các CTNY có thể tham gia vào nhiều loại hoạt động kinh doanh (mô hình tập đoàn, tổng công ty) dẫn đến rủi ro trong hoạt động kinh doanh, rủi ro trong quản lý rất cao
1.2 Lý luận chung về kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
1.2.1 Đặc điểm chung kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
1.2.1.1 Khái quát chung về kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán được hiểu chung là “ hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về thực
trạng hoạt động cần được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ do các KTV có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực” [62, tr.37]
Từ đó, có thể thấy rõ vai trò cơ bản của kiểm toán trong nền kinh tế thị trường
là đảm bảo các thông tin đúng đắn, trung thực, khách quan giúp những người sử dụng thông tin có niềm tin trong việc đưa ra các quyết định của mình Ngoài ra, kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ, củng cố nề nếp hoạt động và góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý
Trang 29Hoạt động kiểm toán trong nền kinh tế thị trường phát triển rất đa dạng và phong phú Tùy theo từng tiêu chí phân loại cụ thể, kiểm toán được phân ra thành các
loại kiểm toán cụ thể khác nhau Theo đối tượng cụ thể, kiểm toán có thể phân thành kiểm toán (báo cáo) tài chính, kiểm toán hoạt động và kiểm toán liên kết; Theo lĩnh
vực cụ thể của kiểm toán kiểm toán có thể phân thành kiểm toán thông tin, kiểm
toán qui tắc (tuân thủ), kiểm toán hiệu năng và kiểm toán hiệu quả; Theo phương
pháp áp dụng trong kiểm toán, kiểm toán có thể phân thành kiểm toán chứng từ và
kiểm toán ngoài chứng từ; Theo quan hệ giữa chủ thể với khách thể kiểm toán, kiểm toán có thể phân thành nội kiểm và ngoại kiểm; Theo phạm vi tiến hành kiểm toán,
kiểm toán có thể phân thành kiểm toán toàn diện và kiểm toán chọn điểm (điển
hình); Theo tính chu kỳ của kiểm toán, kiểm toán có thể phân thành kiểm toán thường kỳ, kiểm toán định kỳ và kiểm toán bất thường (đột xuất); Theo quan hệ về
thời điểm kiểm toán với thời điểm thực hiện nghiệp vụ, kiểm toán có thể phân thành
kiểm toán trước, kiểm toán hiện hành và kiểm toán sau; Theo tổ chức bộ máy kiểm
toán, kiểm toán có thể phân thành kiểm toán nhà nước, kiểm toán độc lập và kiểm
toán nội bộ; Theo quan hệ pháp lý của kiểm toán, kiểm toán có thể phân thành kiểm toán bắt buộc và kiểm toán tự nguyện; Theo tính chất và phạm vi của kiểm toán,
kiểm toán có thể phân thành kiểm toán ngân sách và tài sản công, kiểm toán dự án
và các công trình, kiểm toán các đơn vị dự toán…
Như vậy, kiểm toán BCTC là loại hình kiểm toán cụ thể khi phân loại theo đối tượng kiểm toán cụ thể Kiểm toán tài chính vẫn chứa đựng nhưng đặc trưng chung của hoạt động kiểm toán như chức năng, chủ thể kiểm toán, khách thể kiểm toán
Từ đó, có thể khái quát về kiểm toán tài chính như sau:
“Kiểm toán BCTC là xác minh và bày tỏ ý kiến về BCTC của các đơn vị do các KTV có đủ năng lực và trình độ chuyên môn tương xứng thực hiện theo hệ thống pháp lý có hiệu lực”
Kiểm toán BCTC là loại hình kiểm toán cụ thể khi phân loại theo đối tượng
cụ thể nên cần nghiên cứu một số đặc trưng cơ bản sau:
Trang 30Thứ nhất, đối tượng kiểm toán là hệ thống BCTC BCTC là hệ thống báo
cáo bằng văn bản được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn vị Cụ thể, các nguyên tắc chung khi lập BCTC:
Một là, khái niệm DN hoạt động liên tục: BCTC phải được lập dựa trên giả
định DN hoạt động liên tục trong tương lai (nhà quản lý phải đánh giá và dự đoán tối thiểu trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính);
Hai là, khái niệm cơ sở dồn tích: Theo đó, các giao dịch và sự kiện được
ghi nhận theo thời điểm phát sinh, không căn cứ vào số thực thu, thực chi và được ghi nhận vào sổ kế toán và BCTC của các kỳ kế toán liên quan;
Ba là, nguyên tắc nhất quán: Việc trình bày và phân loại các khoản mục
trong BCTC phải nhất quán từ niên độ này sang niên độ khác trừ khi có thay đổi đáng kể về mặt bản chất của các hoạt động;
Bốn là, nguyên tắc trọng yếu: Từng khoản mục trọng yếu phải được trình
bày riêng biệt trong BCTC Các khoản mục không trọng yếu thì không phải trình bày riêng rẽ mà được tập hợp váo những khoản mục có cùng tính chất hoặc chức năng;
Năm là, nguyên tắc bù trừ: Các khoản mục tài sản và nợ phải trả, doanh
thu và chi phí trình bày trên BCTC không được bù trừ trừ khi có chuẩn mực
kế toán khác qui định hoặc cho phép bù trừ;
Sáu là, nguyên tắc có thể so sánh được: Số liệu trên BCTC phải được
trình bày tương ứng với các thông tin kỳ trước để có thể so sánh được Cụ thể, các nguyên tắc chung khi lập BCTC:
Thứ hai, cách thức tiếp cận đối tượng kiểm toán nói chung trong kiểm toán BCTC
có thể tiếp cận theo khoản mục và tiếp cận theo chu trình Tiếp cận theo khoản mục là cách tiếp cận trực tiếp từng khoản mục hoặc nhóm khoản mục theo sự phân chia trong
Trang 31BCTC Tiếp cận theo chu trình là cách tiếp cận nhóm khoản mục theo mối quan hệ giữa các khoản mục trong quá trình tuần hoàn vốn của DN (Sơ đồ 1.2)
Sơ đồ 1.2 Các phần hành kiểm toán cơ bản của kiểm toán BCTC
(Nguồn: Giáo trình Kiểm toán tài chính – [63, tr.12])
Với mỗi loại đối tượng cụ thể trên (khoản mục hoặc chu trình), KTV tiếp cận
theo hai cách: tiếp cận theo hệ thống và tiếp cận theo rủi ro Cách tiếp cận theo hệ
thống là cách tiếp cận truyền thống mang tính chuẩn tắc Theo đó các KTV căn cứ
vào chuẩn mực với các trình tự, hướng dẫn cụ thể để thực hiện công việc kiểm toán
Cách tiếp cận theo rủi ro là cách tiếp cận gắn với quản lý hiện đại theo rủi ro của
các hoạt động được kiểm toán (đối tượng kiểm toán cụ thể);
Thứ ba, phương pháp kiểm toán được sử dụng trong kiểm toán BCTC thường
là thử nghiệm cơ bản và thử nghiệm tuân thủ Thử nghiệm cơ bản là phương pháp
rà soát lại các thông tin biểu hiện bằng tiền được phản ánh trên các bảng tổng hợp trên cơ sở sử dụng cả phương pháp kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ Thử nghiệm tuân thủ là phương pháp dựa vào kết quả của hệ thống KSNB khi hệ thông này tồn tại bằng chứng có hiệu lực Các thử nghiệm này được cụ thể hóa thành các trắc nghiệm kiểm toán như trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm phân tích và trắc nghiệm trực tiếp số dư
Thứ tư, mục tiêu kiểm toán BCTC là " đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận,
có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không Mục tiêu kiểm toán tài chính còn giúp cho đơn vị được
Vốn bằng tiền
Bán hàng và thu
tiền
Tiếp nhận và hoàn trả
Mua hàng và thanh toán và nhân viên Tiền lương
Hàng tồn kho
Trang 32kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất thông tin tài chính của đơn vị " [5]
Như vậy, kiểm toán BCTC gắn chặt với các mục tiêu về độ tin cậy của các thông tin và mức tuân thủ các quy tắc hơn là tính hiệu quả của các hoạt động và hiệu năng quản lý
Thứ năm, cơ sở pháp lý đối với chủ thể kiểm toán
Một là, luật kiểm toán là cơ sở pháp lý cao nhất ở mỗi quốc gia về hoạt động
kiểm toán, tuy nhiên luật kiểm toán có thể được cụ thể hóa theo từng bộ máy: Luật kiểm toán Nhà nước, luật kiểm toán độc lập Luật kiểm toán độc lập hoặc luật kế toán viên công chứng là văn bản có giá trị pháp lý cao quy định về nghề kiểm toán độc lập, KTV hành nghề, điều kiện thành lập và hoạt động của CTKT Luật cũng quy định về hoạt động kiểm toán độc lập bao gồm quy trình kiểm toán, báo cáo kiểm toán và hồ sơ kiểm toán Cũng như cơ sở pháp lý đối với đối tượng kiểm toán
và khách thể kiểm toán, cơ sở pháp lý đối với chủ thể kiểm toán còn bao gồm nhiều văn bản pháp quy khác hướng dẫn, quy định chi tiết hơn các vấn đề về kiểm toán độc lập, nhưng không được trái với các quy định trong văn bản luật;
Hai là, hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA) và hệ thống chuẩn mực
kiểm toán được chấp nhận (GAAS) là những qui định mang tính hướng dẫn và yêu cầu KTV phải tuân thủ khi tiến hành kiểm toán Từ đó tùy từng quốc gia sẽ triển khai hệ thống chuẩn mực kiểm toán của riêng từng quốc gia trên nền tảng qui định quốc tế trên Chuẩn mực kiểm toán là những quy định và hướng dẫn về các nguyên tắc và thủ tục kiểm toán làm cơ sở để KTV và DN kiểm toán thực hiện kiểm toán và làm cơ sở kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán Chuẩn mực kiểm toán của nhiều nước đã được xây dựng từ đầu thế kỷ 20 dưới một hình thức sơ khai là những
ấn phẩm hướng dẫn về các thủ tục kiểm toán do tổ chức nghề nghiệp ban hành Đến năm 1948, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) ban hành các chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận phổ biến (GAAS) Sau đó, chuẩn mực kiểm toán của các quốc gia khác cũng lần lượt ra đời như Úc (1951), Đức (1964), Pháp (1971), Anh (1980)…;
Trang 33Ba là, các quy tắc đạo đức nghề nghiệp kiểm toán, các quy tắc này đòi hỏi các
KTV khi thực hiện hoạt động kiểm toán phải đảm bảo yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp như trung thực, cẩn trọng và độc lập Sau này, trong quá trình hoạt động và phát triển mỗi quốc gia còn xây dựng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cụ thể và các vản bản pháp lý khác; Đặc biệt là Đạo luật Sarbanes-Oxley ra đời năm 2002 tại Mỹ, sau sau bài học rất lớn trong nghề nghiệp – CTKT Authur Andenxen ( trong nhóm big five về kiểm toán) phá sản sau những dính líu đến việc một số DN Mỹ trốn thuế Đây là những quy định, hướng dẫn về nguyên tắc, các tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp làm cơ sở để đánh giá đạo đức nghề nghiệp KTV và CTKT;
Bốn là, các văn bản qui định cụ thể như hướng dẫn, qui trình hoặc các cẩm
nang hướng dẫn nghề nghiệp kiểm toán nhằm giúp cho người thực hiện hiểu rõ và
cụ thể hơn các qui định nêu trên
1.2.1.2 Đối tượng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
BCTC là báo cáo phản ánh các thông tin kinh tế tài chính cơ bản của một đơn
vị trong một kỳ nhất định và được lập theo các nguyên tắc, chuẩn mực chung BCTC cung cấp cho những người sử dụng những thông tin hữu ích về tình hình kinh tế, tài chính giúp cho họ đưa ra các quyết định đúng đắn trong kinh doanh Thông qua BCTC, những người sử dụng đánh giá về tình hình tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, lợi nhuận, dòng tiền luân chuyển, khả năng sinh lời…
Cơ sở pháp lý đối với BCTC của các CTNY
BCTC là bản báo cáo tổng hợp về tình hình tài chính của DN, được lập trên cơ
sở các quy định, chuẩn mực, chế độ kế toán Bởi vậy, BCTC chịu sự chi phối trực tiếp của hệ thống các văn bản pháp luật về kế toán từ sắc luật về kế toán qua các nghị định và thông tư hướng dẫn, hệ thống chuẩn mực kế toán và các văn bản pháp lý
khác Việc lập và trình bày BCTC của các CTNY thường tuân thủ các qui định sau:
Một là, các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao quy định những vấn đề
chung nhất của kế toán như nội dung công tác kế toán, tổ chức bộ máy kế toán,… nhằm điều chỉnh hoạt động kế toán của mọi thành phần kinh tế và mọi lĩnh vực hoạt
Trang 34động Ngoài sắc luật cụ thể ra, còn có những văn bản dưới luật quy định chi tiết hơn cho những điều khoản trong luật;
Hai là, Chuẩn mực kế toán hoặc chuẩn mực BCTC Quốc tế (IFRS) (bao gồm
cả chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IAS) đã ban hành và còn hiệu lực) gồm những quy định do Hội đồng Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) nghiên cứu và ban hành làm
cơ sở cho việc lập BCTC và giải thích các thông tin trình bày trên BCTC Chuẩn mực BCTC Quốc tế quy định việc ghi nhận, xác định giá trị và trình bày thông tin
về các giao dịch hay sự kiện quan trọng trên BCTC cho mục đích chung cũng như trong các ngành cụ thể Mỗi quốc gia, tùy vào đặc điểm kinh tế, có những chuẩn mực kế toán của riêng mình hoặc áp dụng Chuẩn mực BCTC Quốc tế;
Ba là, các văn bản qui định cụ thể như qui trình, hướng dẫn hoặc các cẩm nang
hướng dẫn nghề nghiệp kế toán giúp người thực hiện hiểu rõ và cụ thể hơn các qui định trên
BCTC của các CTNY vẫn phải đáp ứng nhưng yêu cầu cơ bản của BCTC
DN thông thường về nguyên tắc tuân thủ, về cách lập, về cơ sở lập, về mẫu biểu, về loại báo cáo, về thời gian nộp báo cáo…
Bên cạnh đó, những đặc điểm hoạt động của CTNY dẫn tới những đặc điểm riêng BCTC của các CTNY:
Một là, số lượng và trình độ của những người quan tâm đến thông tin trên
BCTC của các CTNY rất đa dạng và phức tạp dẫn đến độ tin cậy BCTC của các CTNY rất cao;
Hai là, do CTNY tham gia nhiều các ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh khác
nhau nên các thông tin trình bày trên BCTC cũng như kết cấu các bộ phận đặc thù trên BCTC của các CTNY khác nhau theo ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh đó;
Ba là, CTNY là công ty cổ phần niêm yết chứng khoán trên TTCK dẫn đến số
lượng cổ đông của công ty rất lớn đồng thời biến động liên tục Vì vậy, việc theo dõi và phản ánh các nghiệp vụ chi tiết về VCSH theo đối tượng cụ thể trên sổ sách
kế toán rất khó khăn;
Trang 35Bốn là, một số chỉ tiêu tài chính chỉ xuất hiện trên sổ sách kế toán và BCTC
các công ty cổ phần nói chung và CTNY nói riêng như: Trên bảng cân đối kế toán: chỉ tiêu “thặng dư vốn cổ phần”, chỉ tiêu “cổ phiếu quỹ”; Trên Báo cáo kết quả kinh doanh: chỉ tiêu “lãi cơ bản trên một cổ phiếu”; Trên thuyết minh BCTC: một số nội dung đặc thù trên báo cáo tăng giảm VCSH…;
Năm là, các CTNY có rất nhiều cổ đông và thay đổi liên tục nên sẽ ảnh hưởng
tới việc điều hành công ty (ví dụ khi có thay đổi cổ đông chiến lược hoặc cổ đông lớn…), đồng thời việc phân phối lợi nhuận vì vậy cũng phức tạp theo Bản thân CTNY là công ty đối vốn nên việc phân phối lợi nhuận thường xác định theo tỷ lệ góp vốn của các chủ sở hữu (trừ khi điều lệ công ty có qui định khác) Do vậy, khi phân phối lợi nhuận, các CTNY phải công khai thời điểm hưởng cổ tức cùng tỷ lệ
và cách thức hưởng cổ tức công khai trong đại hội đồng cổ đông và trên các phương tiện thông tin đại chúng Chính vì vậy, việc theo dõi và ghi nhận phân phối lợi nhuận trên sổ sách kế toán và BCTC cũng rất khó khăn;
Sáu là, các CTNY thường có qui mô lớn và thường hoạt động đa ngành nghề,
dịch vụ; tham gia vào nhiều lĩnh vực kinh doanh có nhiều rủi ro nhất là lĩnh vực đầu
tư tài chính Bởi vậy, trong các CTNY luôn tồn tại nhiều mối quan hệ tài chính phức tạp nên việc theo dõi và xác định các bên liên quan hoặc khi hợp nhất BCTC rất khó khăn;
Bảy là, cũng do người quan tâm đến thông tin trên BCTC của các CTNY có số
lượng lớn và tính đa dạng nên BCTC phải đảm bảo các quy định của TTCK Cụ thể: thông tin BCTC phải công bố theo từng quý và thời gian công bố thông tin nghiêm ngặt hơn so với các DN thông thường; BCTC của CTNY phải kiểm toán hàng năm (thậm chí soát xét hàng quí hoặc giữa kỳ) và CTKT phải có sự chấp thuận của cơ quan quản lý (UBCK); BCTC của CTNY phải được lập trên cơ sở tuân thủ chuẩn mực kế toán hoặc các chuẩn mực lập BCTC đối với các CTNY; Tuy nhiên, mỗi TTCK cụ thể đều có những quy định cụ thể về BCTC của các CTNY Những quy định cụ thể này sẽ được nêu ở Mục 1.3 của Luận án
Trang 36Qua việc phân tích những đặc điểm CTNY và BCTC của CTNY, Tác giả rút ra một số so sánh về hoạt động CTNY và BCTC của các CTNY với công ty không niêm yết (Phụ lục số 01)
Những đặc điểm của BCTC của các CTNY trên TTCK nêu trên ảnh hưởng rất lớn đến kiểm toán BCTC của các CTNY Cụ thể:
Một là, ảnh hưởng đến việc lập kế hoạch kiểm toán: việc tìm hiểu về khách thể
kiểm toán cẩn trọng hơn để nhận biết những rủi ro tiềm ẩn khi thiết kế thủ tục kiểm toán, đánh giá mức trọng yếu thập hơn, lựa chọn rủi ro kiểm toán mong muốn thấp hơn; việc thiết kế các thủ tục kiểm toán sâu hơn, chi tiết và cụ thể hơn; thời gian kiểm toán dài hơn và chi phí kiểm toán cao hơn;
Hai là, ảnh hưởng đến thực hiện kiểm toán: các KTV tiến hành thận trọng và
chi tiết Việc chọn mẫu kiểm toán, thực hiện các kỹ thuật kiểm toán… đòi hỏi các KTV phải trách nhiệm hơn
Ba là, ảnh hưởng đến việc tổng hợp và lập báo cáo kiểm toán (BCKT) Các
KTV cần lựa chọn dạng ý kiến kiểm toán thích hợp và thận trọng hơn nhiều Đồng thời, các dạng ý kiến còn bị tác động từ yêu cầu của UBCK bên cạnh quy định nghề nghiệp kiểm toán
Bốn là, ảnh hưởng đến trách nhiệm KTV Các KTV khi tiến hành kiểm toán
BCTC của các CTNY đòi hỏi có trách nhiệm cao hơn và rủi ro nghề nghiệp cao hơn nên cần áp dụng cơ chế giám sát chặt chẽ hơn bên cạnh đó còn phải có những chia
sẻ rủi ro trong nghề nghiệp như mua bảo hiểm nghề nghiệp…
Năm là, các KTV phải tiến hành soát xét BCTC bán niên hoặc quý của các
CTNY trên TTCK theo yêu cầu của UBCK từng quốc gia nhằm giúp cho cơ quan quản lý hoặc các nhà đầu tư yên tâm khi sử dụng thông tin BCTC giữa niên độ của CTNY
Trang 371.2.1.3 Phương pháp tiếp cận kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Phương pháp tiếp cận kiểm toán khi kiểm toán BCTC của các CTNY là phương pháp tiếp cận dựa trên rủi ro (rủi ro kinh doanh của CTNY) và phương pháp tiếp cận dựa trên hệ thống (HTKSNB của CTNY)
Phương pháp tiếp cận kiểm toán BCTC của các CTNY dựa trên rủi ro bao gồm
Bước 3: Phát hành ý kiến kiểm toán phù hợp dựa trên kết quả kiểm toán (giai đoạn tổng hợp và lập báo cáo)
Với việc áp dụng phương pháp tiếp cận theo rủi ro, KTV phải hiểu về các rủi
ro mà khách hàng đang gặp phải bên cạnh những hiểu biết về rủi ro tác động đến việc xử lý và ghi chép các nghiệp vụ Để xem xét các rủi ro của khách hàng, KTV cần có những hiểu biết về chiến lược kinh doanh, về các kế hoạch của khách hàng nhằm đối phó với những thay đổi trong môi trường kinh doanh Việc tập trung tìm hiểu các rủi ro kinh doanh của khách hàng dẫn đến việc tiếp cận kiểm toán hệ thống
và mang tính chiến lược hơn KTV sẽ không còn tập trung vào các nghiệp vụ thường xuyên dựa trên giả định rằng các nghiệp vụ này thường được kiểm soát chặt chẽ bởi hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng Thay vào đó, KTV tập trung kiểm tra các nghiệp vụ bất thường, những ước tính kế toán và các đánh giá của nhà quản lý vì đây là những vấn đề có thể tạo nên các sai lệch trọng yếu trên BCTC Đối với hoạt động CTNY và đặc điểm BCTC của các CTNY, phương pháp tiếp cận này rất ưu việt Với những rủi ro rất lớn từ hoạt động của CTNY: Là loại công ty nhận được sự quan tâm, chú ý của các nhà đầu tư, cơ quan nhà nước…; Là loại công ty có rất nhiều chủ sở hữu, lĩnh vực hoạt động đa dạng và quy mô hoạt
Trang 38động khá lớn; Là loại công ty đòi hỏi tinh minh bạch thông tin rất cao…Điều này đòi hỏi KTV khi tiến hành kiểm toán BCTC của các CTNY phải thực hiện nhiều thủ tục đánh giá rủi ro trong cả ba giai đoạn kiểm toán Cụ thể:
Một là, đánh giá rủi ro trước khi chấp nhận khách hàng và ký kết hợp đồng
kiểm toán;
Hai là, đánh giá rủi ro cấp độ tổng thể BCTC thông qua tìm hiểu CTNY và
môi trường hoạt động;
Ba là, Đánh giá rủi ro trong thiết kế và thực hiện các hoạt động kiểm soát theo
chu trình kinh doanh và đánh giá rủi ro từng khoản mục;
Bốn là, Đánh giá rủi ro qua phân tích biến động các khoản mục;
Năm là, Đánh giá và kiểm soát rủi ro được phát hiện thông qua các thử
nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản đối với các khoản mục cụ thể và các thủ tục kiểm tra khác
Phương pháp tiếp cận kiểm toán BCTC của các CTNY dựa trên hệ thống là việc các KTV tiến hành đánh giá HTKSNB từ đó thiết kế, thực hiện các thủ tục kiểm toán và đưa ra ý kiến KTV Đối với đặc điểm hoạt động CTNY và BCTC của các CTNY, sự KSNB CTNY được thiết kế và thực hiện rất chặt chẽ Điều này rất thuận lợi cho việc tiếp cận kiểm toán dựa trên hệ thống Quy trình đánh giá HTKSNB được xác định theo bốn bước:
Bước1: Thu thập sự hiểu biết và mô tả về HTKSNB qua giấy tờ làm việc; Bước 2: Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát;
Bước 3: Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát;
Bước 4: Lập bảng tổng hợp đánh giá HTKSNB đối với từng khoản mục và chu trình Phương pháp tiếp cận kiểm toán theo HTKSNB dựa trên việc phân tích và đánh giá HTKSNB (tức là những kiểm tra thực hiện trong nội bộ CTNY) để định hướng kiểm toán HTKSNB CTNY được thiết lập bởi những người lãnh đạo nhằm giúp họ trong việc: kiểm soát CTNY và đảm bảo tính bền vững của nó Hệ thống bao gồm toàn bộ những phương tiện sau đây: các sơ đồ tổ chức - phân chia trách nhiệm giữa hoạt động sản xuất, lưu giữ, kế toán và kiểm tra; các phương pháp và
Trang 39thủ tục qui định hay cho phép bởi ban GĐ (hướng dẫn của người phụ trách, hướng dẫn thủ tục hành chính, chương trình thanh tra và kiểm tra…)
Các bước công việc tiến hành của KTV:
KTV bắt đầu công việc của mình bằng việc thu thập tối đa các thông tin về CTNY (các thông tin cơ bản của CTNY, các sản phẩm của nó, các kết quả, cấu trúc của vốn, ); kiểm tra sự hoạt động của KSNB
Từ tất cả các thông tin đó, KTV định hướng chương trình kiểm toán của mình KTV xác định những điểm yếu thể hiện trên thực tế của KSNB (bằng cách thực hiện một cuộc thăm dò kiểm tra) Nếu có tồn tại, KTV sẽ phải đánh giá ảnh hưởng thực sự của nó đến tính hiệu lực và độ tin cậy của thông tin kế toán do CTNY
KTV phải có được sự đảm bảo tối đa về chất lượng và tính toàn vẹn của thông tin kế toán do CTNY cung cấp Vì lẽ đó, KTV phải đảm bảo những điểm mạnh thể hiện bên ngoài của KSNB được vận hành một cách có hiệu quả trong cả năm (luôn tuân thủ HTKSNB)
Việc so sánh cụ thể về hai phương pháp tiếp cận kiểm toán được làm rõ trong Phụ lục số 02
1.2.1.4 Mục tiêu kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết
Kiểm toán BCTC đảm bảo cho người sử dụng những thông tin trung thực, hợp
lý về tình hình tài chính của đơn vị được kiểm toán để đưa ra các quyết định đúng
đắn Chính vì vậy, mục tiêu kiểm toán BCTC là “đảm bảo về mức độ trung thực mà
các BCTC phản ánh tính hình tài chính, về kết quả hoạt động và sự lưu chuyển dòng tiền mặt theo các nguyên tắc kế toán đã được thừa nhận” [2, tr.106]
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 200 cũng đã nêu rõ mục tiêu kiểm toán BCTC là việc KTV đưa ra ý kiến về sự tuân thủ các qui định, nguyên tắc khi lập BCTC cũng như sự trung thực và hợp lý xét trên khía cạnh trọng yếu [5]
Như vậy, mục tiêu tổng quát của kiểm toán BCTC của các CTNY là đưa ra ý kiến xác nhận việc lập và trình bày BCTC của các CTNY trên cơ sở chuẩn mực,
Trang 40chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận, các quy định của UBCK và mức tuân thủ pháp luật liên quan cùng mức trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của việc phản ánh thông tin trên BCTC
Đặc thù trong hoạt động của CTNY dẫn đến số lượng và tính đa dạng của người quan tâm đền thông tin tài chính cũng như tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin tài chính rất cao Do vậy, mục tiêu kiểm toán BCTC của các CTNY cần được cụ thể hóa mục tiêu khái quát nêu trên, đảm bảo chất lượng kiểm toán BCTC của các CTNY Cụ thể:
Mục tiêu hiệu lực là hướng xác minh tính có thật của số tiền ghi trên các
khoản mục trong BCTC của các CTNY trong quan hệ với tính đúng đắn về nội dung kinh tế của khoản mục qua các nghiệp vụ, các bộ phận cấu thành khoản mục
đó Mục tiêu hiệu lực còn được hiểu là mục tiêu có thật với ý nghĩa xác minh khả năng khai khống của số tiền trên các khoản mục và các nghiệp vụ;
Mục tiêu trọn vẹn là hướng xác minh sự đầy đủ về thành phần (nội dung) cấu
thành số tiền ghi trên các khoản mục, các nghiệp vụ, tài sản và vốn được ghi trên BCTC của các CTNY Mục tiêu này còn được hiểu là mục tiêu đầy đủ (xác minh khả năng khai thiếu về số tiền, về tài sản hoặc các nghiệp vụ, giao dịch đã xẩy ra);
Mục tiêu quyền và nghĩa vụ là hướng xác minh về quyền sở hữu (hoặc sử
dụng lâu dài và được luật định thừa nhận) của tài sản và nghĩa vụ pháp lý (hoặc hợp đồng dài hạn) của các khoản nợ và vốn được phản ánh trên BCTC của các CTNY
Cụ thể là việc xác minh về quyền đối với tài sản của các CTNY và nghĩa vụ thanh toán đối với nợ phải trả cũng như nghĩa vụ bảo toàn, phát triển VCSH của các CTNY trên BCTC;
Mục tiêu định giá là hướng xác minh vào cách thức và kết quả biểu hiện tài
sản và các hoạt động (chi phí, chiết khấu, thu nhập ) thành tiền Thực chất mục tiêu hướng tới xác minh về tính đúng đắn của các con số qua các phương pháp tính giá tại CTNY được thể hiện trên BCTC;
Mục tiêu phân loại là hướng soát xét lại việc xác định các bộ phận, nghiệp vụ
được đưa vào tài khoản, công việc sắp xếp các tài khoản trong BCTC của các