kế hệ thống thông tin kế toán phục vụ quản trị DN, với mong muốn nghiên cứu sâu về hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN XDCTGTVT nhằm đưa ra những đề xuất góp phần hoàn thiện hệ
Trang 1-0 -
NGUYỄN THỊ THANH HẢI
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG THUỘC
BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - NĂM 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-0 -
NGUYỄN THỊ THANH HẢI
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ
HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG THUỘC
BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
Chuyên ngành : Kế toán (Kế toán, kiểm toán và phân tích)
Mã số : 62.34.30.01.KT
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Nghiêm Văn Lợi
2 TS Phạm Thị Thủy
HÀ NỘI - NĂM 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận án này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Hải
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HQKD TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XDCGT 23
1.1 Vai trò của đánh giá HQKD trong DN 23
1.1.1 HQKD và đánh giá HQKD 23
1.1.2 Vai trò của đánh giá HQKD trong các DN 28
1.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD ………… 30
1.2.1 Nguyên tắc xây dựng các chỉ tiêu đánh giá HQKD 30
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của DN 38
1.2.3 Đặc điểm kinh doanh của DN XDCTGT ảnh hưởng đến chỉ tiêu đánh giá HQKD
40 1.2.4 Các mô hình đánh giá HQKD của DN ……… 42
Kết luận chương 1 65
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HQKD TRONG CÁC DN XDCTGT THUỘC BỘ GTVT ………… 67
2.1 Tổng quan về các DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT ………… 67
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển ……… 67
2.1.2 Mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh 72
2.1.3 Lĩnh vực kinh doanh ……… 75
Trang 52.1.4 Tổ chức bộ máy kế toán và hệ thống kế toán tại các DN
XDCTGT thuộc Bộ GTVT ……… 78
2.2 Thực trạng hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của các DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT 81
2.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá HQKD của DN theo quy định của Chính phủ ……… 84
2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả khác ……… 88
2.3 Nhận xét về hệ thống các chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT 100
2.3.1 Ưu điểm ……… 100
2.3.2 Tồn tại ……… 101
Kết luận chương 2 104
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HQKD TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XDCTGT THUỘC BỘ GTVT 105
3.1 Định hướng phát triển ngành GTVT 105
3.2 Sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT 109
3.3 Quan điểm hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT 111
3.4 Yêu cầu và nguyên tắc hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của các DN XDCTGT 114
3.4.1 Yêu cầu của hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của DN XDCTGT 114
3.4.2 Nguyên tắc hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của DN XDCTGT 116
3.5 Sử dụng bảng điểm cân bằng để hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT 118
3.5.1 Tầm nhìn, sứ mệnh và chiến lược kinh doanh của các DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT 119
Trang 63.5.2 Xây dựng bảng điểm cần bằng áp dụng trong các DN
XDCTGT 120
3.5.3 Xây dựng các chỉ tiêu đánh giá HQKD cho các bộ phận chủ yếu trong DN 137
3.6 Những điều kiện cần thiết để thực hiện giải pháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT 141
3.6.1 Về phía DN 141
3.6.2 Về phía Nhà nước 142
Kết luận chương 3 142
KẾT LUẬN 143
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG
BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Mục tiêu, chỉ tiêu và biện pháp của bảng điểm cân bằng … 64 Bảng 2.1 Cơ cấu các đối tượng tham gia trả lời phiếu khảo sát …… 81 Bảng 2.2 Số lượng lao động trong các DN tham gia khảo sát ……… 82 Bảng 2.3 Loại hình các DN tham gia khảo sát ……… 82 Bảng 2.4 Vốn điều lệ của các DN tham gia khảo sát …… 82 Bảng 2.5 Thời gian hoạt động của các DN tham gia khảo sát ……… 83 Bảng 2.6 Tình hình sử dụng các chỉ tiêu đánh giá HQKD theo Quyết định số 224/2006/QĐ-TTg ngày 06/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ trong các DN được khảo sát ……… 87 Bảng 2.7 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời ……… 89
Bảng 2.8 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ……… 90 Bảng 2.9 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn vay ………… 91 Bảng 2.10 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng chi phí ………… 93 Bảng 2.11 Sự hài lòng của các quyết định khen thưởng, bổ nhiệm dựa trên kết quả của hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của DN …… 97 Bảng 2.12 Mối quan hệ giữa hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD với những khía cạnh quan trọng quyết định sự thành công của DN …… 98
Trang 8Bảng 2.13 Nhu cầu hoàn thiện một hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của DN ……… 99 Bảng 2.14 Nhu cầu gắn kết hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD với chiến lược và những khía cạnh quan trọng có ảnh hưởng quyết định đến sự thành công của DN ……… 100 Bảng 3.1 Các chỉ tiêu phản ánh khía cạnh tài chính trong mối quan
hệ với các khía cạnh khách hàng, quy trình nội bộ, nhận thức và phát
triển ……… 133 Bảng 3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của Phòng kỹ
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Mô hình tháp hệ số tài chính ……… 43
Sơ đồ 1.2 Mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trong mô hình Dupont …… 44
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của TCT Công trình giao thông 4 ……… 73
Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức của một CTCP công trình giao thông … 75
Sơ đồ 2.3 Quy trình kinh doanh của các DN XDCTGT ……… 77
Sơ đồ 2.4 Tổ chức bộ máy kế toán của các DN XDCTGT ……… 78
Sơ đồ 2.5 Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán trên máy vi
Sơ đồ 2.8 Tác dụng của hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh
doanh hỗ trợ đánh giá thực hiện chiến lược của DN …… 99
Sơ đồ 3.1: Bảng điểm cân bằng đề xuất cho DN XDCTGT ……… 136
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình ma trận đánh giá HQKD của Keegan, Eiler và
Hình 1.2 Mô hình Kim tự tháp của Lynch và Cross ……… 54
Hình 1.3 Mô hình kết quả và yếu tố quyết định của Fitzgerald …… 55
Hình 1.4 Mô hình Đầu vào - Quy trình - Đầu ra - Kết quả của Brown 56
Hình 1.5 Mô hình câu hỏi đánh giá HQKD (Performance
Measurement Questionnaire) ……… 57
Hình 1.6 Mô hình Lăng kính hiệu suất (The Performance Prism) … 58
Hình 1.7 Mô hình bảng điểm cân bằng của Kaplan và Norton …… 62
Trang 11DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BOT Xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
HĐQT Hội đồng quản trị HQKD Hiệu quả kinh doanh
ROA Tỷ suất sinh lời của tài sản ROE Tỷ sinh lời của vốn chủ sở hữu ROS Tỷ suất lợi nhuận thuần
TCCB Tổ chức cán bộ
TNHH Trách nhiệm hữu hạn TSCÐ Tài sản cố định
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Trong điều kiện cạnh tranh và nguồn lực ngày càng khan hiếm, để đứng vững trên thị trường và không ngừng phát triển, DN cần phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của mình Muốn sử dụng hiệu quả các nguồn lực có hạn,
DN cần phải đánh giá được hiệu quả sử dụng các nguồn lực Nói cách khác,
DN phải đánh giá đúng đắn HQKD của DN
Đánh giá HQKD có vai trò quan trọng trong quản trị DN Theo Zairi:
“đánh giá HQKD như là máu của DN, nếu thiếu nó thì không thể ra được quyết định” [1996:35] Hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD tin cậy và phù hợp không chỉ giúp cho DN đánh giá đúng đắn HQKD mà còn tạo động lực để động viên mỗi bộ phận, cá nhân trong DN hoạt động có hiệu quả nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của DN Hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD không chỉ cung cấp thông tin về tình hình thực hiện các mục tiêu ngắn hạn mà còn cho phép DN dự đoán khả năng thực hiện mục tiêu chiến lược, cung cấp thông tin về những cải thiện cần thiết trong quy trình kinh doanh nội bộ để đạt được mục tiêu chiến lược
Trong hơn hai thập kỷ qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu đo lường và đánh giá HQKD Nói về vai trò của hệ thống chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả trong DN, R Kaplan và D Norton cho rằng “Đo lường như thế nào thì nhận được như thế” và “Hệ thống đo lường hiệu quả có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của các nhà quản trị và người lao động (Kaplan và Norton, 1992) Hai ông cho rằng cũng chỉ ra hạn chế của
hệ thống đo lường và đánh giá hiệu quả chỉ dựa trên các thước đo với các số liệu tài chính có thể dẫn đến những sai lầm [45] Các công trình nghiên cứu
Trang 13trong gần 20 năm trở lại đây cũng cho thấy quan điểm về đánh giá HQKD trên thế giới đã có những thay đổi đáng kể Trước đây người ta chỉ chú ý đến HQKD ngắn hạn thì ngày nay, các DN chú ý nhiều hơn đến đánh giá HQKD dài hạn (Schiemann & Lingle, 1999) Các chỉ tiêu đánh giá HQKD cũng có nhiều thay đổi, nếu như trước đây các DN sử dụng các chỉ tiêu tài chính là chủ yếu thì trong những năm gần đây xu hướng kết hợp các chỉ tiêu tài chính với các chỉ tiêu phi tài chính để đánh giá HQKD của DN ngày càng phổ biến (Kaplan và Norton, 1992)
Nền kinh tế nước ta chuyển sang hoạt động theo cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã hơn 20 năm Tuy nhiên, các DN Việt Nam, đặc biệt các DN nhà nước vẫn bị ảnh hưởng nặng nề của thức quản lý
DN theo cơ chế tập trung Trong hơn 20 năm qua, mặc dù cơ chế quản lý kinh
tế đã thay đổi, môi trường kinh doanh và phương pháp quản trị, v.v đã có nhiều thay đổi những hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD vẫn chưa có những thay đổi tương ứng Các chỉ tiêu đánh giá HQKD của DN lệ thuộc chủ yếu vào các số liệu tài chính, không gắn với thị trường và chiến lược của DN Cũng trong gần 20 năm qua, ở nước ta cũng chưa có nhiều các công trình nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD và ảnh hưởng của nó đến hoạt động kết quả của DN
Hoạt động trong nền kinh tế thị trường, để đứng vững và thắng thế trước các đối thủ cạnh tranh, các DN cần phải có chiến lược và mọi hoạt động của DN cần phải tập trung vào thực hiện chiến lược Để thực hiện thành công chiến lược, các DN cần phải có hệ thống đánh giá HQKD phù hợp với chiến lược Hệ thống đánh giá này không chỉ giúp cho các nhà quản trị đánh giá được liệu DN có thực hiện thành công chiến lược hay không mà còn phải giúp cho DN huy động được mọi nguồn lực tập trung vào thực hiện chiến lược, tránh tập trung quá mức vào các mục tiêu ngắn hạn
Trang 14Để đánh giá đúng đắn HQKD, các DN cần phải sử dụng các chỉ tiêu đánh giá HQKD tin cậy và phù hợp để đo lường HQKD Kế toán, đặc biệt là
kế toán quản trị có vai trò thiết lập và cung cấp thông tin phục vụ cho quản trị
DN Thiết kế hệ thống chỉ tiêu đánh giá phù hợp để giúp các nhà quản trị có thể đánh giá đúng đắn HQKD của DN, đồng thời huy động mọi nguồn lực vào thực hiện thành công chiến lược của DN là một trong những nhiệm vụ của kế toán
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, do vậy GTVT đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước Khẳng định vai trò quan trọng của hệ thống GTVT, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã nhấn mạnh: “GTVT là khâu quan trọng nhất của kết cấu hạ tầng’’ và “GTVT phải đi trước một bước để đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân’ Nói đến sự phát triển của ngành GTVT không thể không kể đến sự đóng góp của các DN XDCTGT bởi chính sự hoạt động có hiệu quả của các DN này đã mang lại những thành tích đáng kể cho ngành giao thông Cũng giống như các DN trong các ngành khác, các DN XDCTGT luôn quan tâm tới HQKD vì đó là sự sống còn của DN Tuy nhiên, qua thực tế nghiên cứu, hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của các DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT còn nhiều bất cập Hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong hầu hết các DN XDCTGTVT vẫn là các chỉ tiêu tài chính dựa trên các số liệu kế toán Các chỉ tiêu đánh giá HQKD đều tập trung vào các chỉ tiêu ngắn hạn Các DN chưa xây dựng được hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của các DN chưa gắn với chiến lược [Neely, 2007] Với hệ thống đánh giá HQKD hiện tại, các DN XDCTGT sẽ khó để thực hiện thành công chiến lược và có thể đứng vững trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt
Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của hệ thống chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh trong các DN và chức năng của kế toán trong việc thiết
Trang 15kế hệ thống thông tin kế toán phục vụ quản trị DN, với mong muốn nghiên cứu sâu về hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN XDCTGTVT nhằm đưa ra những đề xuất góp phần hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá
HQKD trong các DN này, tác giả chọn đề tài: “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu
đ ánh giá hiệu quả kinh doanh trong các DN xây dựng công trình giao thông thuộc Bộ Giao thông vận tải” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ
của mình
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu để đạt được các mục đích sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về HQKD và xu hướng
đánh giá HQKD của DN theo yêu cầu hội nhập và phát triển
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD
trong các DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT hiện nay
- Đề xuất hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN
XDCTGT, giúp cho các DN này có thể đánh giá đúng đắn HQKD đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển trong điều kiện toàn cầu hóa
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận về HQKD và hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD Luận án cũng nghiên cứu thực trạng hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD và phương hướng hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT Do hạn chế về thời gian
và khả năng nên luận án không nghiên cứu hiệu quả xã hội
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong các DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT Các DN này tập trung chủ yếu ở 7 tổng công ty, gồm: Tổng công ty XDCTGT 1; Tổng công ty XDCTGT 4; Tổng công ty XDCTGT 5;
Trang 16Tổng công ty XDCTGT 6; Tổng công ty XDCTGT 8; Tổng công ty xây dựng Thăng Long và Tổng công ty xây dựng đường thủy Tác giả không khảo sát
và đánh giá hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD ở các DN kinh doanh đa ngành nghề hoặc kinh doanh các ngành không phải là XDCTGT thuộc 7 tổng công
ty ở trên Danh sách các DN được khảo sát được trình bày tại phụ lục 01
Trong quá trình thu thập thông tin để phục vụ cho đề tài nghiên cứu của luận án, do hạn chế về thời gian và khả năng thu thập dữ liệu nên kết quả khảo sát thu được khá khiêm tốn Trong tổng số 150 phiếu khảo sát gửi đi, tác giả luận án chỉ thu về được 84 phiếu khảo sát được trả lời Tuy nhiên, không phải tất cả các câu hỏi trên các phiếu khảo sát đều được trả lời một cách đúng đắn Thông qua các câu hỏi trên phiếu khảo sát tác giả đã loại trừ các câu trả lời có sự mâu thuẫn để có thể đưa ra kết quả khảo sát tương đối tin cậy nhằm đánh giá được thực trạng sử dụng các chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN XDCTGT
Kết quả khảo sát sau khi loại trừ các kết quả bất hợp lý được tổng hợp
và xử lý để làm cơ sở đánh giá thực trạng hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của các DN XDCTGT
4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở xác định được mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu Các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:
- Quan điểm và xu hướng đánh giá HQKD trong các DN hiện nay? Các
mô hình đánh giá HQKD đã và đang được áp dụng trong các DN hiện nay?
- Thực trạng hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT và ảnh hưởng của nó đến HQKD của DN? Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT đã đáp ứng yêu cầu quản trị ngắn hạn và dài hạn (chiến lược) của các DN này như thế nào?
Trang 17- Hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT cần được hoàn thiện như thế nào để đáp ứng yêu cầu quản trị ngắn hạn
và dài hạn (chiến lược) của DN?
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
5.1 Thiết kế nghiên cứu
Xuất phát từ các câu hỏi nghiên cứu của luận án, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Nghiên cứu lý thuyết: Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, internet, các bài báo, sách in và sách điện tử, v.v để nghiên cứu các vấn đề
lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu và xu hướng phát triển của hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD đang được các DN ở một số nước phát triển áp dụng trong thời gian vừa qua
Nghiên cứu thực trạng: Mục đích nghiên cứu để trả lời các câu hỏi liên quan đến thực trạng hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN XDCTGT đã đáp ứng yêu cầu quản trị DN trong ngắn hạn, dài hạn và thực hiện mục tiêu chiến lược như thế nào; sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của DN Để trả lời cho các câu hỏi này tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính như phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn qua điện thoại các nhà quản trị và các nhân viên kế toán của một số DN, trực tiếp khảo sát tại DN và sử dụng phiếu khảo sát
Phiếu khảo sát được gửi đến các DN bằng thư điện tử, đường bưu điện
và gặp mặt trực tiếp để phỏng vấn và gửi phiếu khảo sát Các câu hỏi trong phiếu khảo sát được chia thành 4 nhóm (phụ lục số 02):
Nhóm 1: Các thông tin chung về DN gồm 7 câu hỏi đầu tiên
Trang 18Nhóm 2: Tình hình sử dụng các chỉ tiêu đánh giá DN theo Quyết định
số 224/2006/QĐ-TTg ngày 06/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ gồm 8 câu hỏi Sở dĩ tác giả phải đưa ra câu hỏi cho phần này là vì phần lớn các DN XDCTGT trong phạm vi nghiên cứu của luận án đều thuộc sở hữu Nhà nước hoặc CTCP mà Nhà nước chiếm cổ phần chi phối Theo quy định hiện hành của Chính phủ, các DN thuộc sở hữu Nhà nước đều phải sử dụng các chỉ tiêu đánh giá HQKD theo quy định tại Quyết định này
Nhóm 3: Tình hình sử dụng các chỉ tiêu đánh giá HQKD phục vụ cho quản trị DN gồm 2 câu hỏi với các chỉ tiêu đánh giá HQKD đang được sử dụng phổ biến trong các DN và các chỉ tiêu chưa được nêu trong bảng này
Nhóm 4: Đánh giá tác dụng và sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT, tác giả sử dụng 8 câu hỏi trong đó có 5 câu hỏi về tác dụng của hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD đang sử dụng đối với quản trị DN và 3 câu hỏi về sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN này
Số lượng phiếu khảo sát được tác giả gửi đi là 150 phiếu nhưng chỉ nhận được 84 phiếu trả lời thuộc 41 DN Đối tượng trả lời là các giám đốc
DN, kế toán trưởng và một số người là cán bộ quản lý các phòng ban, nhân viên kế toán và đội trưởng các đội thi công
Cùng với phiếu khảo sát, tác giả đã trực tiếp khảo sát thực tế tại một số
DN trên địa bàn Hà Nội Tại DN, tác giả thông qua các tài liệu kế toán là các báo cáo tài chính và các báo cáo thường niên để tìm hiểu thực tế các chỉ tiêu đánh giá HQKD được sử dụng trong các DN Các cuộc phỏng vấn sâu các nhà quản trị, kế toán trưởng và đội trưởng thi công được thực hiện để đánh giá sự hài lòng của họ đối với các chỉ tiêu đánh giá HQKD trong phục vụ quản trị
DN, làm cơ sở cho các quyết định khen thưởng, bổ nhiệm và sự cần thiết phải
Trang 19hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN được phỏng vấn Các câu hỏi phỏng vấn trực tiếp hoặc qua điện thoại được đưa ra dựa trên các câu hỏi trên phiếu khảo sát với các đề nghị người được phỏng vấn trả lời rõ hơn hoặc đưa ra minh chứng cho những câu trả lời của mình Kết quả phỏng vấn được tác giả ghi vào sổ tay để tổng hợp dưa ra các kết luận về thực trạng
hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN XDCTGTVT
Cùng với nghiên cứu thực trạng hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT, tác giả còn nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của các DN này như hình thức sở hữu, tỷ lệ vốn của nhà nước trong DN, tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, nhận thức của các nhà quản trị về vai trò tầm quan trọng của hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong DN, hiểu biết của các nhà quản trị về xu hướng đánh giá HQKD trên thế giới, v.v
- Sự hài lòng của các quản trị đối với kết quả đánh giá HQKD từ hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD hiện tại đang được sử dụng trong các DN
- Tác động của các chỉ tiêu đánh giá đến hoạt động của các bộ phận trong DN
Trang 20- Nhu cầu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD phục vụ cho quản trị DN cũng được thu thập thông qua các buổi phỏng vấn sâu này
Do hạn chế về thời gian và điều kiện đi lại nên số buổi phỏng vấn sâu chỉ thực hiện được 07 người, trong đó có 02 giám đốc công ty và 03 trưởng phòng và 02 người là kế toán trưởng DN
Kết quả khảo sát được xử lý, tính theo tỷ lệ để phản ánh và rút ra các kết luận liên quan đến thực trạng sử dụng các chỉ tiêu đánh giá HQKD của các DN XDCTGT và ý kiến của các cá nhân được phỏng vấn về nhu cầu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của các DN này
Các phương pháp kỹ thuật được sử dụng để nghiên cứu, thu thập, phân tích và xử lý số liệu và tài liệu được tác giả sử dụng như sau:
Các phương pháp thu thập và xử lý số liệu, tài liệu: phương pháp điều tra, phương pháp phân tổ, phương pháp tỷ lệ, v.v Số liệu thu được từ các phiếu khảo sát được tác giả tính toán theo tỷ lệ để đánh giá tình hình sử dụng các chỉ tiêu cũng như sự hài lòng của các nhà quản trị đối với kết quả đánh giá HQKD từ hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiện tại của DN
Các phương pháp sử dụng để trình bày kết quả nghiên cứu: phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn giải, v.v
5.3 Hạn chế của phương pháp nghiên cứu
Vấn đề đánh giá HQKD chưa được coi trọng ở Việt Nam Trong phần lớn các DN, các nhà quản trị DN chỉ coi chúng là những chỉ tiêu để báo cáo thành tích mà không coi chúng là công cụ để quản trị DN Nhận thức này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng khảo sát của luận án Bên cạnh đó, việc không thể thực hiện được việc kiểm định kết quả trả lời của những người
Trang 21được khảo sát cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng khảo sát Kết quả trả lời các câu hỏi khảo sát mang tính chủ quan và phụ thuộc rất lớn vào nhận thức và hiểu biết về vai trò, tầm quan trọng của hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN và xu hướng sử dụng những chỉ tiêu này trên thế giới
Một hạn chế nữa là sự hiểu biết về chiến lược cũng như vai trò và tầm quan trọng của chiến lược trong hoạt động của DN Đối với nhiều nhà quản trị
ở Việt Nam, chiến lược là những gì to tát, xa vời và khó thực hiện Trong hoạt động, các nhà quản trị DN thường quan tâm đến mục tiêu trước mắt và những
gì được đánh giá để quyền lợi của họ không bị ảnh hưởng Do hạn chế về nhận thức nên khó có thể kiểm định được kết quả trả lời các câu hỏi liên quan đến chiến lược Đây cũng là hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng luận án
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Về mặt lý luận: hệ thống hóa và hoàn thiện lý luận về HQKD và hệ
thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của DN nói chung và DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT nói riêng gắn với việc thực hiện chiến lược kinh doanh nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của DN trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế
- Về nghiên cứu thực tế: luận án xem xét, đánh giá thực trạng hệ thống
các chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT; từ đó, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của hệ thống các chỉ tiêu đánh giá HQKD của các DN này Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực tế, luận án sẽ đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các
DN XDCTGT thuộc Bộ GTVT theo yêu cầu hội nhập và phát triển kinh tế
7 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU
Nhà quản trị DN có ba chức năng cơ bản là lập kế hoạch, kiểm soát và đánh giá hiệu quả Để thực hiện tốt chức năng đánh giá HQKD cần phải có các chỉ tiêu đánh giá HQKD phù hợp Hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD cần
Trang 22phải được quan tâm thường xuyên nhằm bổ sung, chỉnh sửa cho hoàn thiện và phù hợp với những thay đổi của môi trường kinh doanh, phương pháp quản trị
và đặc biệt là chiến lược của DN HQKD và đánh giá HQKD là vấn đề đang được quan tâm ở cả trong và ngoài nước trong nhiều năm trở lại đây
7.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước
Ở trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về HQKD Trong số các công trình này, có một số công trình tiêu biểu sau:
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang trước đây đã bảo vệ luận án tiến sỹ “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các DN xây dựng ở Việt Nam” (2002) Trong luận án này, tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã nghiên cứu thực trạng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các DN xây dựng và đề xuất hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính cho các DN này Mặc dù đạt được những thành công trong đề xuất hoàn thiện chỉ tiêu phân tích tài chính cho các DN xây dựng nhưng khía cạnh nghiên cứu của luận án tập trung vào phân tích tài chính Nội dung của luận án chưa đề cập đến đánh giá hiệu quả cũng như những tác động của hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD đối với hoạt động của DN và phương hướng hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong DN
Luận án tiến sỹ: “Phân tích HQKD trong các DN khai thác khoáng sản Việt Nam” (2008) của tác giả Nguyễn Thị Mai Hương thực hiện tại trường Đại học Kinh tế quốc dân năm 2008 Trong luận án của mình, tác giả Nguyễn Thị Mai Hương đã nghiên cứu thực trạng và đề xuất các biện pháp hoàn thiện các chỉ tiêu và phương pháp phân tích HQKD trong các DN khai thác khoáng sản ở Miền Trung Tương tự như tác giả Nguyễn Ngọc Quang, trong luận án của mình, tác giả Nguyễn Thị Mai Hương chỉ tập trung nghiên cứu và phân tích các chỉ tiêu đánh giá HQKD và các nhân tố ảnh hưởng đến HQKD của
Trang 23DN dưới góc độ hiệu quả tài chính trong ngắn hạn mà chưa đánh giá dưới góc
độ quản trị chiến lược và thực hiện mục tiêu chiến lược Các đề xuất của tác giả luận án tập trung vào hoàn thiện nội dung và phân tích HQKD để giúp cho
DN đánh giá đúng đắn HQKD của mình
Luận án tiến sỹ “Hoàn thiện phân tích HQKD trong các DN chế biến
gỗ xuất khẩu khu vực Nam Trung Bộ” của tác giả Đỗ Huyền Trang thực hiện tại trường Đại học Kinh tế quốc dân năm 2012 Trong luận án của mình, tác giả Đỗ Huyền Trang đã nghiên cứu và phân tích thực trạng phân tích HQKD của các DN chế biến gỗ xuất khẩu ở Khu vực Nam Trung Bộ Nội dung luận
án của tác giả chỉ tập trung vào nghiên cứu và đề xuất hoàn thiện phương pháp và chỉ tiêu phân tích HQKD ngắn hạn, chưa đề cập đến phân tích HQKD dài hạn và hoàn thiện các chỉ tiêu đánh giá HQKD dài hạn
Ngoài các luận án tiến sỹ, một số luận văn thạc sỹ và luận văn cử nhân cũng đề cập đến đề tài phân tích HQKD và các giải pháp nâng cao HQKD của các DN Tiêu biểu như luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Khắc Hán (2005) nghiên cứu đề tài: “Phân tích hiệu quả sử dụng vốn và các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các công ty xăng dầu Việt Nam” Luận văn thạc
sỹ của tác giả Lê Thị Bích Thủy (2005) với đề tài: “Phân tích HQKD trong các DN sản xuất than thuộc TCT Than Việt Nam”, v.v
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến HQKD tập trung chủ yếu theo 2 nhóm đề tài:
Nhóm thứ nhất là các đề tài phân tích tình trạng tài chính và HQKD của các DN dựa trên phân tích các chỉ tiêu đánh giá HQKD từ các báo cáo tài chính của các DN để đánh giá thực trạng HQKD, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao HQKD của các DN được nghiên cứu
Trang 24Nhóm thứ hai là các đề tài nghiên cứu hoàn thiện phân tích tình trạng tài chính và HQKD của các DN Theo hướng này, các đề tài nghiên cứu đều tập trung đánh giá thực trạng phân tích HQKD của các DN hiện nay trên các khía cạnh: tài liệu sử dụng cho phân tích, phương pháp phân tích và nội dung (các chỉ tiêu) phân tích HQKD Từ thực trạng phân tích HQKD của các DN, các tác giả nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện phương pháp, nội dung phân tích và nâng cao chất lượng của tài liệu sử dụng cho phân tích HQKD Tiêu biểu cho nhóm đề tài này là các công trình nghiên cứu của các tác giả sau:
“Phân tích HQKD tại Công ty TNHH Tân Bảo Vũ” của Nguyễn Thị Nhất Linh (Đại học Kinh tế quốc dân, 2008) nghiên cứu và đánh giá thực trạng phân tích HQKD của Công ty TNHH Tân Bảo Vũ
Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện phân tích HQKD tại TCT Tài Nguyên và Môi Trường Việt Nam” của học viên cao học Vương Thị Thu Hiền (Đại học Kinh tế quốc dân, 2010) nghiên cứu nội dung và phương pháp phân tích HQKD của TCT Tài nguyên và Môi trường Việt Nam
“Hoàn thiện phân tích HQKD ở công ty Viễn Thông Hà Nội” của học viên cao học Nguyễn Thị Phương Trang (Đại học Kinh tế quốc dân, 2010) Trong luận văn của mình, tác giả đã nghiên cứu thực trạng phân tích HQKD của công ty Viễn thông Hà Nội để đề xuất các giải pháp hoàn thiện phân tích HQKD ở công ty này Trong số các giải pháp đề xuất, tác giả có đề xuất hoàn thiện các chỉ tiêu phân tích HQKD của Công ty Viễn thông Hà Nội
“Phân tích HQKD tại công ty TNHH Hoàng Thủy” của Nguyễn Thị
Hồng Điệp (Đại học Thương Mại, 2009) nghiên cứu thực trạng phân tích HQKD của công ty TNHH Hoàng Thủy, v.v
Trang 25“Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích HQKD và phương hướng nâng cao HQKD tại Viện máy và công cụ nông nghiệp” Đây là một trong những đề tài gần với đề tài nghiên cứu trong luận án của tác giả
Các công trình nghiên cứu thuộc nhóm này có các đặc điểm sau:
- Các nghiên cứu đều dựa trên các số liệu tài chính được thu thập từ các
báo cáo tài chính của các DN Các tác giả chưa sử dụng các chỉ tiêu phi tài chính để đánh giá HQKD của các DN
- Việc đánh giá HQKD mới chỉ tập trung vào đánh giá HQKD ngắn hạn
theo kỳ lập báo cáo (1 năm), chưa có các đánh giá HQKD dài hạn (HQKD chiến lược)
- Các công trình nghiên cứu chỉ tập trung đánh giá HQKD của toàn
DN, chưa đánh giá HQKD của từng bộ phận trong DN Hạn chế của việc đánh giá này là chưa chỉ ra được các nguyên nhân cụ thể ảnh hưởng đến HQKD của DN để có các giải pháp phù hợp
- Các nghiên cứu mới chỉ được thực hiện trên góc độ phân tích các chỉ tiêu đánh giá HQKD, chưa có các công trình nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD để giúp cho các nhà quản trị có thể kiểm soát và đánh giá đúng đắn HQKD của các DN
7.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, trong hàng chục năm qua đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong DN Do hạn chế về khả năng tiếp cận nên trong phạm vi luận án của mình, tác giả chỉ xin nêu một
số công trình tiêu biểu mà tác giả đã được nghiên cứu và tiếp cận trong quá trình nghiên cứu phục vụ cho thực hiện đề tài luận án như sau:
Trang 26Bài báo “Integrated Performance Measurement Systems: A Development Guide” của các tác giả Bititci US, Carrie AS, McDevitt LG trên
tạp chí International Journal of Operations and Production Management, vol
17 số 6 do Nhà xuất bản MCB University Press xuất bản tháng 5 - 6 năm
1997 (trang 522 - 535) Trong bài báo này, các tác giả đã nêu lên vai trò quan
trọng của hệ thống chỉ tiêu đánh giá trong quá trình đánh giá HQKD của DN, các mô hình liên kết các chỉ tiêu ở các khía cạnh khác nhau của quá trình kinh doanh và đề xuất các mô hình tham khảo để đánh giá HQKD như các mô hình
của châu Âu (The European Model for Business Excellence - EFQM, 1995);
mô hình Business Classification Model của Puttick và Hill (1993); mô hình Systems Classification Model của Ginzberg và mô hình Performance Measures Classification Model của Dixon, Nanni and Vollmann (1990)
Cuốn sách “Creating Shareholder Value” của tác giả Alfred Rappaport
do Nhà xuất bản Free Press xuất bản lần thứ 2 năm 1998 cung cấp cho các nhà quản trị và cổ đông các kiến thức cần thiết liên quan đến lập kế hoạch kinh doanh, đánh giá HQKD và chính sách tiền lương trong DN, v.v Vấn
đề đánh giá HQKD trong DN được tác giả nhấn mạnh qua việc trả lời ba câu hỏi: (1) Hệ thống đánh giá HQKD như thế nào là phù hợp với DN (What is the most appropriate measure of performance) (2) Giới hạn mục tiêu của các chỉ tiêu đánh giá HQKD là bao nhiêu (What is the most appropriate target level of performance) và (3) làm thế nào để kết nối khen thưởng với các chỉ tiêu đánh giá HQKD của DN (How should rewards be linked to performance)
Bài báo “Linking knowledge management strategy to business performance in construction organizations” của các tác giả Herbert
S.Robinson, Patricia M.Carrillo, Chimay J.Anumba và Ahmed
M.Al-Ghassani từ trường đại học Tổng hợp Loughborough Vương quốc Anh đăng trong tài liệu hội thảo hàng năm tổ chức lần thứ 17 tại trường đại học Tổng
Trang 27hợp Salford tháng 9 năm 2001 và tạp chí Researchers in Construction Management số 1 năm 2002 (các trang từ 577 đến 586) đã phân tích mối quan
hệ giữa quản trị chiến lược với hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các công ty xây dựng ở Anh
Bài báo “Performance implications of strategic performance measurement in financial services firms” được đăng trên tập san Accounting,
Organizations and Society số 28 năm 2003 (từ trang 715 đến 741) của các tác giả Christopher D Ittner, David F Larcker và Taylor Randall đến từ trường Đại học Tổng hợp Pennsylvania và trường Đại học Tổng hợp Utah (Mỹ) đã giới thiệu về hệ thống đánh giá HQKD chiến lược trong các DN dịch vụ tài chính ở Mỹ
Cuốn sách “Performance measurement and management control: superior organizational performance” do NXB Elsevier Ltd ấn hành năm
2004 tập hợp một số bài viết của các tác giả liên quan đến vai trò của hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD, ảnh hưởng của hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD và
mô hình xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong DN
Bài báo "Performance measurement and organzational effectivenes: bridging the gap" của PGS Jean Francois Henri, khoa Kế toán trường Đại học
Tổng hợp Laval, Québec, Canada đăng trên tạp chí Managerial Finance số 30 năm 2004 đã nghiên cứu về mối quan hệ và khoảng cách giữa các chỉ tiêu đánh giá HQKD và DN hiệu quả Trong bài viết của mình, tác giả đã trình bày các
mô hình lý thuyết về DN hiệu quả và các mô hình đánh giá HQKD của DN Tác giả đã chỉ ra những khoảng cách giữa hệ thống đánh giá HQKD với mô hình DN hiệu quả đồng thời đề xuất giải pháp thu hẹp khoảng cách giữa chúng
Bài báo “Performance efficiency evaluation of the Taiwan’s shipping
industry: an application of data envelopment analysis” của các tác giả Wen -
Trang 28Cheng Lin, Chin - Feng Liu (Prof.), Ching - Wu Chu (Prof.) đăng trên tạp chí
Proceedings of the Eastern Asia Society for Transportation Studies, số 5 năm
2005 (các trang 467 - 476) giới thiệu về hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
gồm các chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính áp dụng trong ngành công nghiệp vận tải biển của Đài Loan
Cuốn sách “Key Management Ratios: The clearest guide to the critical numbers that drive your business” (2006) của tác giả Ciaran Walsh viết về
các chỉ tiêu quan trọng sử dụng cho quản trị DN Trong cuốn sách này, tác giả nhấn mạnh đến các chỉ tiêu đánh giá HQKD như: doanh lợi vốn chủ sở hữu, doanh lợi tổng tài chính, doanh lợi vốn đầu tư Tác giả cũng đưa ra tiêu chuẩn
để đánh giá HQKD của DN trên các chỉ tiêu trên
Cuốn sách “Performance measurement and management” của
Malcolm Smith do Nhà xuất bản Sage phát hành năm 2005 nói về vai trò của
kế toán quản trị chiến lược và các phương án đánh giá HQKD của DN tại chương 3 “Performance Measurement and Analysis”
Bài báo “Measurement of corporate performance through balanced scorecard: an overview” của các tác giả Samir Ghosh và Subrata Mukherjee
giảng viên Đại học Vidyasagar đăng trên tạp chí “Vidyasagar University Journal of Commerce” số 11, tháng 3 năm 2006 phân tích các ưu điểm khi sử dụng Bảng điểm cân bằng để đánh giá HQKD của DN
Bài báo “Performance Measurement: Questions for Tomorrow” của
các tác giả Umit Bititci, Viktor Dörfler, Sai Nudurupati1 (Đại học Tổng hợp Strathclyde, Glasgow, UK), Patrizia Garengo (Đại học Tổng hợp Padova, Italy) đăng trên tạp chí Nghiên cứu SIOM Research Paper Series số 05 tháng 10/2009 của Đại học Glasgow, giới thiệu về xu hướng phát triển hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của các DN trên thế giới trong điều kiện toàn cầu hóa
Trang 29Luận án tiến sỹ: "Measuring Performance in Small and Medium Enterprises in the Information & Communication Technology Industries" của
tác giả Donglin Wu bảo vệ tại trường Quản trị kinh doanh thuộc trường Đại học RMIT tháng 2 năm 2009 Trong luận án của mình, Wu nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến thành công của các DN quy mô vừa và nhỏ trong lĩnh vực tin học viễn thông của Australia để đề xuất hệ thống đánh giá HQKD khung cho các DN này
Luận văn thạc sỹ: "Proposal of a Performance Measurement System for
e-commerce SMEs in Denmark" của Ana Carolina Rossi (2012) nghiên cứu
đặc điểm hoạt động và thực trạng hệ thống đánh giá HQKD của các DN thương mại điện tử quy mô vừa và nhỏ ở Đan Mạch để đề xuất sử dụng hệ thống đánh giá hiệu quả trên cơ ở phân tích các mô hình đánh giá HQKD đang được các DN áp dụng hiện nay
Bài báo "Competitive strategy, performance measurement and organizational performance: empirical study in Thai listed companies" của
hai tác giả Luliya Teeratansirikool và and Sununta Siengthai từ Viện công nghệ châu Á (AIT) tại hội thảo “Proceedings of 16th International Business Research Conference” tổ chức tại Dubai tháng 4 năm 2012 nghiên cứu về mối quan hệ giữa chiến lược cạnh tranh với các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả và HQKD của 561 công ty niêm yết tại Thái Lan
Trong các công trình nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu (thước đo) đánh giá HQKD của DN đặc biệt phải kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả Robert Kaplan, giáo sư kế toán của đại học Harvard và Dawid Norton, giám đốc điều hành của Công ty Nolan Norton về hệ thống đánh giá HQKD chiến lược bằng Bảng điểm cân bằng (Balanced Scorecard) Điển hình trong các công trình nghiên cứu của các tác giả này là các bài báo và cuốn sách sau:
Trang 30- Cuốn sách "The balanced scorecard: Translating strategy into action"
do nhà xuất bản của Đại học Harvard phát hành năm 1996 Trong cuốn sách này, các tác giả đã trình bày những hạn chế của hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD chỉ dựa trên các chỉ tiêu tài chính và sự cần thiết phải bổ sung các chỉ tiêu phi tài chính trong hệ thống đánh giá Các tác giả đề xuất xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD theo mô hình bảng điểm cân bằng bao gồm các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính liên hệ với nhau theo quan hệ nhân quả
để diễn giải chiến lược thành các mục tiêu hoạt động cụ thể trên các khía cạnh: tài chính, khách hàng, quy trình kinh doanh nội bộ, nhận thức và phát triển Trong cuốn sách này các tác giả cũng đi sâu phân tích và trình bày vai trò quan trọng của mỗi khía cạnh đối với sự thực hiện thành công chiến lược của DN và cách thức xây dựng bảng điểm cân bằng để diễn giải chiến lược kinh doanh của DN
- Bài báo "Transforming the balanced scorecard from performance
measurement to strategic management" đăng trên tạp chí Accounting
Horizons số 15 năm 2001 (trang 87 - 104)
- Bài báo “The Balanced Scorecard: Measures That Drive Performance”,
trên tạp chí Harvard Business Review, số tháng 1, 2 năm 1992 (pp 71 - 79)
Thông qua cuốn sách và các bài báo trên, các tác giả cho rằng: hệ thống đánh giá hiệu quả phụ thuộc quá nhiều vào các chỉ tiêu tài chính có thể dẫn đến sai lầm của các nhà quản trị khi đánh giá HQKD của DN và có thể thúc đẩy các hành vi bất lợi cho DN Chẳng hạn nhà quản trị có thể từ chối cơ hội đầu tư cần thiết cho sự phát triển của DN nhưng lại làm cho tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư của bộ phận do anh ta quản lý bị giảm đi Để có được lợi nhuận cao, nhà quản trị có thể tận dụng công suất máy móc thiết bị để sản xuất nhiều sản phẩm nhằm hạ giá thành Tuy nhiên, sản xuất nhiều nhưng
Trang 31không bán được sẽ làm cho hàng tồn kho nhiều lên dẫn đến nhu cầu tăng vốn
và làm phát sinh chi phí lưu kho, v.v từ đó có thể làm giảm HQKD của DN Trên cơ sở phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện thành công chiến lược của DN, các tác giả cho rằng trong hệ thống các chỉ tiêu đánh giá HQKD của DN cần chứa đựng các chỉ tiêu phản ánh những nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến việc thực hiện thành công chiến lược Các yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến việc thực hiện thành công chiến lược thường bao gồm: chất lượng nhân viên, quy trình kinh doanh nội bộ, sự hài lòng của khách hàng, v.v Từ các phân tích của mình, các tác giả đề xuất sử dụng hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD gồm các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự thực hiện thành công chiến lược kinh doanh của DN được liên kết với nhau theo quan hệ nhân quả gọi là "Bảng điểm cân bằng" Công trình nghiên cứu của các tác giả này đã mở đầu cho các nghiên cứu sau
đó về hệ thống đánh giá HQKD trong các DN cụ thể và mở rộng sang các lĩnh vực khác như trong các tổ chức phi lợi nhuận, các cơ quan công quyền, v.v
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài gần đây đều tập trung vào các nội dung sau:
- Chỉ ra những hạn chế của hệ thống đánh giá truyền thống chỉ dựa vào các chỉ tiêu tài chính không còn phù hợp trong điều kiện cạnh tranh cùng với vai trò ngày càng tăng của các tài sản vô hình đối với thành công của DN
- Đánh giá vai trò ngày càng quan trọng của hệ thống chỉ tiêu đánh giá
HQKD trong DN và vai trò ngày càng quan trọng cũng như sự cần thiết của các chỉ tiêu phi tài chính với việc thực hiện thành công chiến lược của DN
- Đưa ra các đề xuất xây dựng hệ thống đánh giá gắn với mục tiêu
chiến lược của DN bao gồm các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, các chỉ tiêu
Trang 32ngắn hạn gắn với các chỉ tiêu dài hạn và mục tiêu chiến lược, v.v liên hệ chặt chẽ với nhau trong hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
- Đánh giá HQKD gắn với mục tiêu thực hiện chiến lược, đánh giá tác động của các nhân tố tới việc thực hiện thành công chiến lược
Từ nghiên cứu các công trình ở trong và ngoài nước nêu trên, tác giả rút ra các kết luận sau:
- Các công trình nghiên cứu trong nước chưa nhận thấy tầm quan trọng
của việc sử dụng các chỉ tiêu phi tài chính để đánh giá HQKD của các DN và việc đánh giá mới tập trung vào ngắn hạn, chưa có các chỉ tiêu đánh giá dài hạn, gắn với chiến lược
Một hạn chế nữa của các công trình nghiên cứu trong nước là mới chỉ tập trung đánh giá HQKD của toàn DN, chưa đánh giá HQKD của từng bộ phận trong DN Các nghiên cứu này mới chỉ được thực hiện trên góc độ phân tích các chỉ tiêu đánh giá HQKD, chưa có các công trình nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD để giúp cho các nhà quản trị có thể kiểm soát và đánh giá đúng đắn HQKD của các DN
- Các công trình nghiên cứu của nước ngoài đã chỉ ra được những hạn
chế của hệ thống đánh giá truyền thống nếu chỉ dựa vào các chỉ tiêu tài chính, đồng thời các công trình này cũng đã đánh giá vai trò ngày càng quan trọng cũng như sự cần thiết của các chỉ tiêu phi tài chính đối với việc thực hiện thành công chiến lược của DN
- Mặc dù chỉ rõ tầm quan trọng của các chỉ tiêu phi tài chính nhưng các
công trình nghiên cứu của nước ngoài không phủ nhận vai trò của các chỉ tiêu tài chính, ngược lại còn khẳng định mối liên hệ chặt chẽ của hai nhóm chỉ tiêu này trong hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD
Trang 33Xuất phát từ thực trạng chung của hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD của các DN Việt Nam nói chung và của các DN XDCTGT nói riêng, tác giả
đã lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh
doanh trong các DN xây dựng công trình giao thông thuộc Bộ Giao thông vận tải” cho luận án tiến sĩ của mình
8 NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo v.v… nội dung của luận án được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các
Trang 34CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG
1.1 VAI TRÒ CỦA ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1 Hiệu quả kinh doanh và đánh giá hiệu quả kinh doanh
1.1.1.1 Các quan điểm về hiệu quả kinh doanh
Theo Luật DN 2005, hoạt động kinh doanh là: “Việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” [23]
Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt và của cải của xã hội ngày càng khan hiếm, vấn đề đánh giá HQKD và tìm các biện pháp nâng cao HQKD được các DN và các nhà kinh tế quan tâm từ lâu HQKD là một khái niệm rộng, được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào từng cá nhân trong những hoàn cảnh cụ thể
HQKD thường được hiểu là việc sử dụng ít nguồn lực kinh tế nhất để đạt được mục tiêu mong muốn hoặc đạt được nhiều lợi ích nhất từ việc sử dụng một
số nguồn lực nhất định trong kinh doanh Phần lớn các nhà kinh tế đều cho rằng HQKD phải gắn với mục tiêu kinh tế cụ thể Đại diện cho quan điểm này là nhà
kinh tế học người Anh Paul A Sammuelson Theo ông: “Hiệu quả là sử dụng
một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu mong muốn của con người” [24]
Trang 35Một số nhà kinh tế học khác cho rằng những thành tựu, thành tích hoặc kết quả công việc mang lại sẽ phản ánh HQKD bởi vì chúng cung cấp mối liên kết chặt chẽ với các mục tiêu chiến lược của tổ chức Ở góc độ khác, HQKD được hiểu là một phạm trù kinh tế phức tạp, phản ánh trình độ sử dụng chi phí để tạo ra kết quả mong muốn Theo quan điểm của kinh tế vi mô:
“HQKD là một phạm trù kinh tế, là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp Đánh giá HQKD chính là quá trình so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu về với mục đích đã được đặt ra và dựa trên cơ sở giải quyết các vấn đề cơ bản của nền kinh tế này: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai?” [11]
Có thể khái quát HQKD là những kết quả đạt được gắn với những mục tiêu xác định với chi phí ít nhất trong khoảng thời gian ngắn nhất Điều này đồng nghĩa với việc một tổ chức sẽ đạt được HQKD cao khi khả năng tăng trưởng lớn, mang lại nguồn tích lũy lớn Lebas và Euske đưa ra khái niệm về HQKD là “làm những gì ngày hôm nay để dẫn đến kết quả đo được giá trị vào
ngày mai” [53, tr 66] Đây là thực tế vẫn diễn ra, đòi hỏi các DN muốn đạt
được các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tốt, phải tính đến việc đầu tư gì cho hiện tại để mang lại lợi ích lâu dài cho tương lai Ở Việt Nam, HQKD được coi là một phạm trù kinh tế phản ánh việc sử dụng nguồn lực để đạt được mục tiêu
cụ thể của DN trong kinh doanh Nguồn lực của các DN không phải vô hạn,
do đó, sử dụng nguồn lực hữu hạn như thế nào để mang lại HQKD cao nhất, hay nói khác đi, hiệu quả càng lớn khi chi phí bỏ ra càng ít mà kết quả thu về càng nhiều đã và đang là bài toán mà tất cả các DN vẫn tìm lời giải
Một điều cần lưu ý, việc đánh giá HQKD có thể dựa vào một số các chỉ tiêu nhưng các chỉ tiêu này phải được đặt trong quá trình vận động, tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh thì việc đánh giá mới chính xác, toàn diện Có thể lý giải điều này là do mỗi DN có một cách sử dụng các yếu tố đầu vào khác nhau, thậm chí nếu cùng một DN nhưng trong các thời kỳ khác nhau thì
Trang 36việc sử dụng các yếu tồ đầu vào cũng không giống nhau Vậy, khi đánh giá HQKD, cần thiết phải xem xét trong không gian và thời gian cụ thể bởi không một quá trình sản xuất kinh doanh nào lại tồn tại riêng lẻ, độc lập hoàn toàn mà luôn có mối liên hệ với các sự vật hiện tượng xung quanh
Nói về HQKD của các DN, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII ghi rõ: “lấy suất sinh lợi của tiền vốn là tiêu chuẩn chủ yếu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các DN kinh doanh, lấy kết quả thực hiện các chính sách xã hội làm tiêu chuẩn chủ yếu đánh giá hiệu quả của DN” [9] Theo quan điểm từ nghị quyết của Đại hội Đảng, HQKD của các DN gồm cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Mục tiêu chủ yếu của các DN là lợi nhuận, các DN sẽ dùng mọi biện pháp để đạt được mục tiêu đã đề ra Trong quá trình phấn đấu để thu được lợi nhuận, DN có thể vô tình làm ảnh hưởng đến các DN khác hoặc ảnh hưởng tới môi trường chung của toàn xã hội Các tác giả PGS TS Nguyễn Sỹ Thịnh, PGS TS Lê Sỹ Thiệp, và PGS TS Nguyễn Kế Tuấn cho rằng: “Hiệu quả lao động xã hội được xác định bằng cách so sánh đại lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng chi phí lao động xã hội” [25, tr 19]
Đồng nhất với quan điểm trên, một số tác giả cũng quan niệm HQKD gồm cả hiệu quả tài chính và hiệu quả xã hội Theo TS Ngô Quang Huấn (Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh): HQKD bao gồm cả hiệu quả tài chính và hiệu quả xã hội, do vậy khi đánh giá HQKD cần phải xem xét các chỉ tiêu này [15] Hiệu quả tài chính chỉ là một phần của HQKD Hiệu quả tài chính chỉ tập trung phản ánh các nguồn lực tài chính của DN được sử dụng như thế nào trong khi HQKD xem xét toàn bộ các mặt của hoạt động kinh doanh như tổ chức đầu vào (cung ứng vật tư, tuyển dụng nhân lực, mua sắm thiết bị), vận hành (sản xuất sản phẩm), tổ chức đầu ra (quảng cáo giới thiệu, phân phối sản phẩm, thực hiện các dịch vụ sau bán hàng), v.v
Trang 37Bên cạnh các quan điểm trên, khi nói đến HQKD người ta thường hay đồng nhất HQKD với hiệu quả kinh tế GS.TS Ngô Đình Giao cho rằng: hiệu quả kinh tế của nền sản xuất XHCN cuối cùng được thể hiện ở trình độ tăng lợi ích kinh tế của xã hội và sự phát triển toàn diện của các thành viên trong
xã hội đó dựa trên cơ sở khai thác và sử dụng đầy đủ, hợp lý và tiết kiệm các nguồn sản xuất của xã hội [12] TS Huỳnh Đức Lộng thì cho rằng hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội là phạm trù kinh tế phản ánh yêu cầu tiết kiệm thời gian lao động xã hội trong việc tạo ra kết quả hữu ích được xã hội công nhận Nó được biểu hiện bằng các chỉ tiêu đặc trưng, xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa các chỉ tiêu phản ánh kết quả đạt được về mặt kinh tế với chỉ tiêu phản ánh chi phí bỏ ra hoặc nguồn lực được huy động vào sản xuất [18]
Qua phân tích các quan điểm khác nhau về HQKD, tác giả rút ra kết
luận: Hiệu quả kinh doanh phản ánh kết quả sử dụng nguồn lực của DN để đạt được mục tiêu xác định với chi phí thấp nhất hoặc đạt được kết quả cao nhất với chi phí xác định
1.1.1.2 Đo lường và đánh giá hiệu quả kinh doanh
Đo lường HQKD là lượng hóa kết quả hoạt động kinh doanh của DN thành các chỉ tiêu cụ thể phục vụ cho đánh giá HQKD Quá trình đo lường được thực hiện dựa trên các trên các số liệu báo cáo liên quan đến kết quả của các hoạt động, DN tính toán để lượng hóa các kết quả hoạt động thành các chỉ tiêu cụ thể phục vụ cho đánh giá Có thể nói, đo lường và đánh giá HQKD là hai quá trình có quan hệ mật thiết không thể tách rời nhau và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhau Muốn đánh giá đúng đắn HQKD cần phải có các chỉ tiêu
đo lường HQKD phù hợp Ngược lại, các chỉ tiêu đo lường phụ thuộc vào mục đích đánh giá HQKD Chính vì vậy trong thực tế đo lường và đánh giá
Trang 38HQKD được coi là một quá trình Các chỉ tiêu đo lường HQKD đồng thời cũng được gọi là các chỉ tiêu đánh giá HQKD
Đánh giá HQKD quá trình so sánh giữa các chỉ tiêu đo lường HQKD với các tiêu chuẩn của nó để rút ra các kết luận về HQKD của DN Các tiêu chuẩn để so sánh có thể là chỉ tiêu của năm trước, chỉ tiêu kế hoạch hoặc tiêu chuẩn của ngành, v.v Khi đánh giá HQKD người ta thường so sánh giữa kết quả hoặc chi phí thực tế với gốc so sánh Gốc so sánh có thể là kết quả (chi phí) kinh doanh kế hoạch hoặc kết quả (chi phí) kinh doanh của kỳ trước Việc so sánh giữa thực tế với kế hoạch nhằm đánh giá tình hình thực hiện có đạt hay không so với kế hoạch đề ra So sánh giữa thực tế với kỳ trước nhằm đánh giá xu hướng biến động của các chỉ tiêu Bên cạnh đó, để đánh giá HQKD của DN mình, DN còn phải so sánh với các chỉ tiêu tương ứng của
DN cùng ngành và chỉ tiêu bình quân ngành tương ứng để biết được DN đang hoạt động hiệu quả như thế nào trong mối tương quan chung Khi so sánh có thể xảy ra các khả năng:
Trường hợp 1: Kết quả kinh doanh tốt hơn năm trước về trị số tuyệt đối hoặc tương đối với chi phí và thời gian không đổi Trường hợp này sẽ được coi là đạt được HQKD tốt hơn
Trường hợp 2: Kết quả kinh doanh tốt hơn đồng thời với tiết kiệm được chi phí và thời gian HQKD trong trường hợp này được đánh giá cao hơn trường hợp 1 vì DN tiết kiệm được cả chi phí và thời gian nhưng vẫn đạt được kết quả tốt hơn
Trường hợp 3: Kết quả kinh doanh như năm trước nhưng DN tiết kiệm được cả thời gian và chi phí hoặc chỉ một trong hai yếu tố này
Khi đánh giá HQKD, giá trị đồng tiền theo thời gian cũng có ảnh hưởng nhất định đến tính tin cậy của các chỉ tiêu đánh giá HQKD Lạm phát
Trang 39có thể làm cho các chỉ tiêu đánh giá HQKD tăng lên trong khi thực tế kết quả đạt được không tăng tương xứng Đối với chi phí, lạm phát cũng ảnh hưởng đến chi phí làm cho chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh thấp hơn thực tế Khi xác định các chỉ tiêu đánh giá HQKD cần phải chú ý loại trừ ảnh hưởng của các yếu tố này
Để đánh giá HQKD người ta phải đo lường được HQKD Đo lường HQKD là quá trình đánh giá kết quả đạt được so với mục tiêu định trước, bao gồm cả các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng Nói cách khác, đo lường là lượng hóa kết quả hoặc chi phí hoạt động theo những chỉ tiêu xác định
Mặc dù có những quan điểm khác nhau về HQKD nhưng khi nói về đánh giá HQKD, đa số mọi người đều thống nhất rằng đánh giá HQKD là so sánh giữa kết quả hữu ích thu được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Kết quả hữu ích ở đây có thể chỉ bao gồm hiệu quả kinh tế nhưng cũng có thể bao gồm cả hiệu quả xã hội
Việc đánh giá HQKD được thực hiện thông qua các chỉ tiêu đánh giá HQKD Các chỉ tiêu đánh giá HQKD có thể là các chỉ tiêu tương đối hoặc chỉ tiêu tuyệt đối Các chỉ tiêu tuyệt đối như giá trị sản lượng vượt kế hoạch, lợi nhuận vượt kế hoạch, doanh thu vượt kế hoạch, v.v Các chỉ tiêu tương đối như: tỷ suất sinh lời trên doanh thu, tỷ suất sinh lời trên tài sản, v.v
1.1.2 Vai trò của đánh giá HQKD trong các DN
Đánh giá HQKD là một trong 3 chức năng của nhà quản trị trong DN Thông qua đánh giá HQKD, nhà quản trị biết được DN đang hoạt động như thế nào, bộ phận, cá nhân nào hoạt động hiệu quả, bộ phận, cá nhân nào hoạt động chưa hiệu quả để có các điều chỉnh phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN Để đánh giá HQKD, các DN sử dụng hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD để giám sát và kiểm soát các hoạt động cụ thể, dự
Trang 40đoán tình trạng bên trong và bên ngoài DN trong tương lai để có các điều chỉnh về chiến lược phù hợp Đánh giá HQKD có vai trò quan trọng đối với
DN cả trong ngắn hạn và dài hạn Trong ngắn hạn, một DN không thể kiểm soát được các hoạt động của nó nếu như không có hệ thống đánh giá hiệu quả hữu hiệu Hệ thống đánh giá hiệu quả hữu hiệu không chỉ giúp các DN kiểm soát được các hoạt động của nó trong ngắn hạn mà còn tạo động lực, khuyến khích các hoạt động hiệu quả để giúp DN đạt được mục tiêu dài hạn Trong dài hạn, đánh giá HQKD có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến khả năng nâng cao tính cạnh tranh và thực hiện chiến lược của DN Một DN có chiến lược tốt nhưng hoạt động không hiệu quả thì không thể có khả năng cạnh tranh cao cũng như đạt được mục tiêu chiến lược Khi nói về tầm quan trọng của đánh giá HQKD trong DN nhiều ý kiến đều cho rằng hệ thống đánh giá HQKD có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động của DN và có vai trò quan trọng trong quản trị DN Kaplan (1992) cho rằng: “đánh giá cái gì thì nhận được cái đó” [45] Đồng tình với quan điểm này, Franceschini và cộng sự (2007) nhấn mạnh thêm: “bạn đánh giá (đo lường) cái gì thì nhận được cái đó, và bạn không thể quản lý được một hệ thống nếu như bạn không đo lường được nó” [39, tr.109] Thông qua đánh giá HQKD, DN biết được liệu có thực hiện được thành công chiến lược hay không Khẳng định vai trò của đánh giá HQKD với việc thực hiện thành công chiến lược của DN, Kaplan và Norton (1992) cho rằng:
“đánh giá HQKD là cơ sở để xác định mục tiêu chiến lược, cải tiến liên tục cũng như một phương tiện để thay đổi văn hóa” [45, tr 22] Hai ông (2001) cũng nhấn mạnh: “hệ thống đánh giá HQKD có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành
vi của mọi cá nhân bên trong và bên ngoài DN” [50, tr 22]
Trong hoạt động quản lý, nếu không dựa vào hệ thống đánh giá HQKD thì các nhà quản lý không có cách nào để đánh giá DN hoạt động có hiệu quả hay không Theo Schiemann và Lingle: “đánh giá là bước đầu của cải thiện, nếu