Những hạn chế, yếu kém đó thể hiện ở việc dạy và học môn GDCD cha đợc quan tâm, đầu t đúng mức, còn mang tính hình thức, đủ chơng trình; trong quá trình dạy học, mục tiêu, nhiệm vụ của m
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
=====================
Lê thị tân
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MễN giáo dục
công dân THEO HƯỚNG NÂNG CAO TÍNH THỐNG NHẤT GIỮA Lí
LUẬN VÀ THỰC TIỄN Ở TRƯỜNG THPT CẦM BÁ THƯỚC – THƯỜNG XUÂN – THANH HểA
Chuyên ngành: Lý luận và phơng pháp giáo dục bộ môn chính trị
Trang 2A Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Mục tiêu giáo dục của nhà trờng phổ thông là hình thành và phát triểnnhân cách tốt đẹp cho thế hệ trẻ Đó sẽ là những công dân tơng lai, những ngờilao động mới phát triển hài hoà trên tất cả các mặt đức dục, trí dục, mỹ dục, thểdục, lao động Những ngời sẽ xây dựng đất nớc ngày càng giàu đẹp hơn, nângcao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, góp phần đa đất nớc đạt đợc mụctiêu: “Dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Để hình thành và phát triển đợc những con ngời nh vậy, bậc giáo dục phổthông phải có chơng trình, nội dung giáo dục phù hợp với đối tợng, điều kiện,hoàn cảnh của đất nớc, phù hợp với sự phát triển của thời đại Yêu cầu đó đợcquán triệt ở tất cả nội dung, chơng trình giáo dục trong nhà trờng nói chung vàtrờng THPT nói riêng Trong hệ thống các môn học đợc giảng dạy ở trờngTHPT, giáo dục công dân là môn học thuộc khoa học xã hội Cùng với các mônhọc khác nó góp phần hình thành và phát triển nhân cách, năng lực, các phẩmchất đạo đức cho học sinh Đặc biệt, với vị trí của mình, môn GDCD trực tiếpgiúp học sinh hình thành nhân cách, những phẩm chất chính trị, t tởng đạo đức,
đào tạo học sinh thành những ngời lao động mới có thế giới quan khoa học, nhânsinh quan tiến bộ, có đời sống đạo đức trong sáng, có ý thức, trách nhiệm cao với
Tổ quốc, gia đình và bản thân
Nh vậy, môn GDCD có nhiệm vụ quan trọng trong việc hình thành conngời mới XHCN Nhng trên thực tế vì nhiều lý do khác nhau, quá trình dạy vàhọc môn GDCD còn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém, bất hợp lý, cha tơng xứngvới vị trí, nhiệm vụ của bộ môn Những hạn chế, yếu kém đó thể hiện ở việc dạy
và học môn GDCD cha đợc quan tâm, đầu t đúng mức, còn mang tính hình thức,
đủ chơng trình; trong quá trình dạy học, mục tiêu, nhiệm vụ của môn học cha đạt
đợc làm ảnh hởng đến việc thực hiện mục tiêu chung của giáo dục; đặc biệt,trong dạy học, một số nguyên tắc quan trọng của bộ môn cha đợc đảm bảo Cụthể đó là nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, còn có khuynh hớngtách rời giữa lý luận với thực tiễn và thực tiễn với lý luận, cha kết hợp đợc “học
đi đôi với hành” Những hạn chế đó đã làm ảnh hởng không nhỏ đến chất lợngdạy và học môn GDCD ở trờng THPT, gây ra ở ngời học tâm lý chán nản, coi th-ờng môn học, không thấy đợc vị trí, vai trò quan trọng của bộ môn Thực trạngtrên của việc dạy và học môn GDCD tồn tại ở hầu hết các trờng THPT, trong đó,
có trờng THPT Cầm Bá Thớc - Thờng Xuân - Thanh hoá
Trang 3Một trong những nguyên nhân chính của thực trạng đó là do sự yếu kém,chậm đổi mới của PPDH Hiện nay, nền giáo dục nớc ta đang tiến hành đổi mớimột cách đồng bộ, toàn diện trong đó, đổi mới PPDH đợc coi là khâu trung tâm.Quá trình đó đã, đang diễn ra và bớc đầu thu đợc những kết quả khả quan chothấy hớng đi của chúng ta là đúng đắn và phù hợp Là một giáo viên trực tiếpgiảng dạy bộ môn, nắm bắt đợc thực trạng môn học, xu thế vận động và pháttriển chung của ngành, tôi thấy cần thiết cần phải có những giải pháp khắc phụctình trạng trên nhằm nâng cao chất lợng dạy và học đảm bảo nhiệm vụ, mục tiêucủa bộ môn, của ngành, bắt kịp với sự phát triển của thời đại Với những lý do
trên, chúng tôi chọn đề tài: Đổi mới phơng pháp dạy học môn giáo dục công dân
theo hớng nâng cao tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở trờng trung học phổ thông Cầm Bá Thớc - Thờng Xuân - Thanh Hoá.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Giáo dục và đào tạo là một lĩnh vực quan trọng, đợc nhiều quốc gia trênthế giới coi là “chiếc chìa khoá của sự tăng trởng và phát triển bền vững” của xãhội Chính vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục nhằm xây dựngmột nền giáo dục hợp lý, tiến tiến đáp ứng những yêu cầu phát triển của thời đại
Trên thế giới, chúng ta có thể kể một số tác phẩm nh:“ Giáo dục vì cuộc sống
sáng tạo”của T Makiguchi (Nhật Bản), NXB Giáo dục, 1999, đã nêu lên quá
trình phát triển của giáo dục, tơng ứng với nó là sự thay đổi vai trò của ngời thầy
trong quá trình giáo dục, dạy học; “Các phơng pháp giáo dục hiệu quả” của
Robert J.Marzano - Debra J pickring - Jane Epollck, NXB Giáo dục, 1997, bàn
về tầm quan trọng của PPDH, các phơng pháp giáo dục hiệu quả và cách lựa
chọn nó nh thế nào trong giảng dạy “Cải cách giáo dục trong thế giới ngày
nay: Các xu hớng toàn cầu hoá và khu vực” do Mai Chi dịch, NXB Thông tin xã
hội, 1997, có nội dung đề cập đến tầm quan trọng của giáo dục trong sự tồn tại
và phát triển của xã hội, những thay đổi và xu hớng phát triển của xã hội hiện
đại, từ đó giáo dục cũng phải có những cải cách, đổi mới cho phù hợp với sự pháttriển đó
Đối với nớc ta, giáo dục và đào tạo đợc xác định là “quốc sách hàng đầu”.Trong những năm qua, bên cạnh những thành tựu đóng góp cho sự phát triển củaxã hội, nền giáo dục nớc ta đang còn tồn tại nhiều yếu kém, hạn chế, cha làmtròn nhiệm vụ và đáp ứng đợc yêu cầu phát triển của đất nớc Để khắc phục đợcthực trạng đó, giáo dục nớc ta đang tiến hành đổi mới Xuất phát từ nhu cầu của
Trang 4thực tiễn, đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục và đổi mới PPDH ra
đời Chúng ta có thể nêu một số tác phẩm nh: “Phơng pháp dạy học truyền thống
và đổi mới” của Thái Duy Tuyên, NXB Giáo dục, 2008, đề cập đến PPDH hiện
đại và cơ sở của nó; hệ thống PPDH hiện đại và cách vận dụng nó trong giảng
dạy; những vấn đề cấp thiết của giáo dục hiện nay “Đổi mới phơng pháp dạy
học, chơng trình và sách giáo khoa” của Trần Bá Hoành, NXB Đại học s phạm,
2007, có nội dung đề cập đến những vấn đề chung của các môn học ở trờng
THPT; đề cập đến công cuộc đổi mới PPDH hiện nay “Dạy và học môn GDCD
ở trờng THPT: những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Văn C - Nguyễn
Duy Niên, NXB Đại học s phạm, 2007, đề cập đến những vấn đề lý luận chungcủa việc dạy và học môn GDCD ở trờng THPT, nghiên cứu và trao đổi về PPDH
nhằm nâng cao hiệu quả, chất lợng dạy và học môn GDCD “Đổi mới PPDH
môn đạo đức và môn GDCD” của Nguyễn Nghĩa Dân, NXB Giáo dục, 1999, có
nội dung đề cập đến PPDH tích cực và tác dụng của nó khi đợc vận dụng vàotrong quá trình dạy học, thiết kế một số bài dạy cụ thể theo hớng sử dụng nhóm
PPDH tích cực “Góp phần dạy tốt học tốt môn GDCD ở trờng THPT” của
Nguyễn Đăng Bằng (chủ biên), NXB Giáo dục, 2001, có nội dung hệ thống vàkhái quát những vấn đề lý luận chung về phơng pháp giảng dạy bộ môn GDCD ởtrờng THPT, gợi ý và hớng dẫn chi tiết cho các bài giảng tiêu biểu trong chơng
trình GDCD ở trờng THPT “ Về vấn đề giáo dục và đào tạo” của cố thủ tớng
Phạm Văn Đồng, NXB Chính trị Quốc gia, 1999, tác phẩm bàn về giáo dục làquốc sách hàng đầu, những suy nghĩ về giáo dục và đào tạo và một số vấn đề cầnquan tâm đến giáo dục đại học ở nớc ta hiện nay Ngoài ra, còn có nhiều côngtrình khác nghiên cứu về giáo dục
Những công trình nghiên cứu trên đã góp phần tạo ra một hệ thống lý luậnlàm cơ sở cho qúa trình đổi mới giáo dục ở nớc ta hiện nay Tuy nhiên, cho đến
nay, cha có công trình nào nghiên cứu, đề cập trực tiếp đến vấn đề: Nâng cao
tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy môn giáo dục công dân Đây không những là một nguyên tắc dạy học quan trọng của môn GDCD
mà còn là nguyên tắc dạy và học của tất cả các môn học khác Thực tế cho thấy,bằng việc đổi mới phơng pháp dạy học có thể nâng cao tính thống nhất giữa lýluận và thực tiễn trong giảng dạy môn giáo dục công dân ở trờng trung học phổthông góp phần đảm bảo mục tiêu, nhiệm vụ của môn học nâng cao chất lợnggiáo dục, hạn chế những yếu kém hiện nay của môn học
Trang 53 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng dạy học môn GDCD ở trờng THPT CầmBá Thớc - Thờng Xuân - Thanh Hoá, chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằmgóp phần đổi mới PPDH môn GDCD theo hớng nâng cao tính thống nhất giữa lýluận và thực tiễn, khẳng định nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn lànguyên tắc dạy học quan trọng của môn GDCD
Ngoài ra, luận văn còn là công trình nghiên cứu khoa học đợc thực hiệnnhằm hoàn thành khoá học của bản thân
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài có nhiệm vụ tìm hiểu thực trạng dạy học và tiến hành thực nghiệm
đổi mới PPDH môn GDCD theo hớng nâng cao tính thống nhất giữa lý luận vàthực tiễn tại trờng THPT Cầm Bá Thớc - Thờng Xuân - Thanh Hoá, trên cơ sở đó
để đa ra những giải pháp nhằm phát huy vai trò, tác dụng và góp phần khắc phụcnhững hạn chế của môn học tại trờng
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu và giải quyết một số nội dung của vấn đề
đổi mới PPDH môn GDCD nhằm nâng cao tính thống nhất giữa lý luận và thựctiễn ở trờng trung học phổ thông Cầm Bá Thớc - Thờng Xuân - Thanh Hoá
Đề tài có thể làm tài liệu cho công tác giảng dạy môn GDCD tại trờngTHPT Cầm Bá Thớc và một số trờng THPT khác
7 Kết cấu của luận văn
Trang 6Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luậnvăn gồm có hai chơng.
Chơng 1: Cơ cở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới PPDH môn GDCD theo hớng nâng cao tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Chơng 2: Thực nghiệm dạy học và một số giải pháp nhằm đổi mới PPDH môn GCDD theo hớng nâng cao tính thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn ở trờng THPT Cầm Bá Thớc - Thờng xuân - Thanh Hoá
B Nội dung
Chơng 1
Cơ cở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới
phơng pháp dạy học môn giáo dục công dân theo hớng nâng cao tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn 1.1 Lý luận chung về phơng pháp dạy học
1.1.1 Khái niệm phơng pháp
Khái niệm phơng pháp xuất phát từ thuật ngữ Hy Lạp cổ “methodes” có
nghĩa là con đờng nghiên cứu, cách thức làm việc Phơng pháp là một công cụ
Trang 7quan trọng để tìm hiểu, ngiên cứu và cải tạo thế giới Vì vậy, cho đến nay, cónhiều định nghĩa khác nhau về phơng pháp.
Theo từ điển Triết học năm 1986, NXB Tiến bộ thì: “Phơng pháp là cáchthức để đạt tới mục tiêu là hoạt động đợc sắp xếp theo một trật tự nhất định” [27,458]
Từ điển tiếng Việt 2002, NXB Đà Nẵng thì cho rằng: “Phơng pháp là cáchthức nghiên cứu hiện tợng của tự nhiên và đời sống xã hội; phơng pháp là hệthống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động nào đó” [26,793]
Trong cuốn Triết học tập 3 - dùng cho cao học và nghiên cứu sinh - địnhnghĩa: “Phơng pháp là hệ thống khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức
và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục đích nhất định” [6, 29]
Theo Lênin: “Trong nhận thức đang tìm tòi, phơng pháp cũng là công cụ,
là một thủ đoạn đứng về phía chủ quan, qua thủ đoạn đó nó có quan hệ với kháchthể” [30,237]
Qua các định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu: “Phơng pháp là con đờng,
là cách thức để tới mục đích, để tới sự nhận thức sự vật khách quan Phơng pháp
là tổng hợp những thủ thuật, thao tác để đạt tới mục đích nhận thức” [11, 11]
Phơng pháp là phạm trù gắn với hoạt động có ý thức của con ngời, phản
ánh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con ngời Nó đợc ví nh là
“ngọn đèn” soi đờng, dẫn lối cho các hoạt động của con ngời.Vì vậy, phơngpháp là yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại trong hoạt
động nhận thức, hoạt động cải tạo thực tiễn của con ngời
Tuy nhiên, phơng pháp không phải là những nguyên tắc có sẵn, bất biến
mà nó phụ thuộc vào đối tợng đặt ra Chủ thể phải nghiên cứu đối tợng và mục
đích cần đạt tới một cách khách quan, phải vạch rõ tính chất, chỉ tiêu, số lợng,chất lợng từ đó nhận thức rõ quy luật của nó Trên cơ sở đó, chủ thể mới xác
định đợc phải nghiên cứu và hành động nh thế nào, cần sử dụng phơng tiện công
cụ và biện pháp gì cho thích hợp Nghĩa là khi xác định phơng pháp chỉ tuân theomột lôgic nhất định, tuỳ thuộc vào lôgic của đối tợng Nh vậy, phơng pháp bắtnguồn từ thực tiễn, phản ánh những quy luật khách quan của đối tợng nghiêncứu Sức mạnh của phơng pháp trong khi phản ánh đúng đắn những quy luậtkhách quan, nó đem lại cho khoa học và thực tiễn một công cụ có hiệu quả đểnghiên cứu và cải tạo thế giới
1.1.2 Khái niệm phơng pháp dạy học
Trang 8Phơng pháp có nhiều loại và nhiều cấp độ khác nhau: Phơng pháp đặc thù
và phơng pháp chung; phơng pháp luận và phơng pháp thực tiễn ở đây, chúng taxét đến PPDH PPDH là phơng pháp riêng của chuyên ngành s phạm Cũng nhcác phơng pháp khác, PPDH không đợc rút ra từ ý muốn chủ quan của con ngời
mà bị quy định bởi nội dung, tri thức của môn học, hay nói cách khác, PPDH
đ-ợc quy định bởi nội dung của quá trình dạy học Trong quá trình giảng dạy, ngờigiáo viên phải căn cứ vào nội dung, đặc điểm tri thức của từng môn, từng bài học
cụ thể để lựa chọn những PPDH phù hợp
PPDH là một yếu tố quan trọng của quá trình dạy học, vì vậy, nó đ ợc cácnhà giáo dục quan tâm nghiên cứu và đa ra nhiều cách định nghĩa khác nhau.Chúng ta có thể liệt kê một vài định nghĩa về PPDH nh sau:
Theo nhà giáo dục học Iu.K.Babanxki thì: “PPDH là cách thức tơng tácgiữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dỡng, giáo dục và phát triểntrong quá trình dạy học” [25,38]
Định nghĩa khác lại cho rằng: “PPDH là tổ hợp những thao tác tự giácliên tiếp đợc xắp xếp theo một trình tự hợp lý, hợp quy luật khách quan mà chủthể tác động lên đối tợng nhằm tìm hiểu và cải biến nó” [17,12]
Tóm lại, “PPDH là những hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên
và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục đích dạy học
đã đề ra” [5,10]
Qua các định nghĩa trên ta thấy, PPDH quyết định đến sự thành công củaquá trình dạy học Cùng một nội dung nh nhau, nhng bài học có đem lại kết quảtốt hay không, có làm cho học sinh yêu thích những vấn đề đã học và có biết vậndụng chúng một cách năng động, sáng tạo để giải quyết các vấn đề bức xúc củacuộc sống hay không phần lớn phụ thuộc vào PPDH mà ngời thầy lựa chọn trongquá trình dạy học
1.1.3 Cơ sở lý luận của phơng pháp dạy học môn giáo dục công dân
Dạy học là một bộ phận của quá trình giáo dục Nó đợc coi là sự tác độngqua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội những kinhnghiệm lịch sử xã hội loài ngời (kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo) để phát triển nhữngnăng lực và phẩm chất của ngời học theo mục đích giáo dục Nh vậy, dạy học làquá trình truyền đạt, tiếp thu tri thức giữa thầy và trò Đây là hai hoạt động nhng
là hai hoạt động của một quá trình, giữa chúng có mối quan hệ tác động qua lạilẫn nhau Để hiểu mối quan hệ đó, trớc hết, chúng ta xét mặt hoạt động thứ nhất:Hoạt động dạy
Trang 9“Hoạt động dạy là hoạt động của giáo viên tổ chức, điều khiển, hớng dẫnhoạt động của ngời học nhằm giúp họ lĩnh hội đợc nền văn hoá xã hội, tạo ra sựphát triển về tâm lý, hình thành nhân cách” [28, 100].
Làm thế nào để đạt đợc mục đích trên? Riêng bản thân ngời học không thể
tự mình biến năng lực của loài ngời thành năng lực của bản thân Sự lĩnh hội nềnvăn hoá xã hội phải thông qua quá trình hớng dẫn, giúp đỡ của ngời khác Đểquá trình đó diễn ra một cách có hiệu quả cần phải đợc thông qua hoạt động củagiáo viên với một hệ thống trờng, lớp mang tính khoa học, ổn định Trong hoạt
động dạy của mình, “ngời giáo viên không làm nhiệm vụ sáng tạo ra tri thức mới(vì các tri thức này đã đợc nhân loại tìm ra), cũng không làm nhiệm vụ tái tạo lạitri thức cũ” [28;101,102] Ngời giáo viên với hệ thống kiến thức và kỹ năng sphạm cần thiết có nhiệm vụ tổ chức, hớng dẫn và điều khiển ngời học tiếp cậnvới những tri thức của loài ngời, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho ngời học Nhvậy, khi tiến hành hoạt động dạy, ngời thầy giáo không nhằm phát triển chínhmình mà nhằm tái tạo và phát triển nền văn hoá ở ngời học
Mặt hoạt động thứ hai của quá trình dạy học là hoạt động học Hoạt độnghọc là hoạt động đặc thù của con ngời đợc điều khiển bởi mục đích tự giác lĩnhhội tri thức mới, hình thành kỹ năng, kỹ xảo cần thiết Học là một khái niệm t-
ơng đối rộng Con ngời có thể học bằng nhiều con đờng khác nhau Tuy nhiên,
nh trên đã phân tích, để việc tiếp thu kinh nghiệm, tri thức của nhân loại ở ngờihọc đợc diễn ra một cách khoa học, phù hợp với quy luật nhận thức thì hoạt độnghọc phải đợc diễn ra dới sự hớng dẫn, điều khiển, tổ chức của nhà s phạm thôngqua hệ thống giáo dục quốc dân Việc học nh vậy đợc coi là con đờng học tậpchính thống của xã hội hiện nay
Hai hoạt động dạy - học đợc tiến hành do hai chủ thể khác nhau (thầy vàtrò), thực hiện hai chức năng khác nhau (tổ chức và lĩnh hội), nhng lại có quan
hệ gắn bó chặt chẽ qua lại, không thể tách rời Hoạt động dạy diễn ra là để tổchức và điều khiển hoạt động học, hoạt động học chỉ có ý nghĩa đầy đủ của nókhi đợc diễn ra dới sự tổ chức và điều khiển của hoạt động dạy Với ý nghĩa đó,hoạt động dạy và hoạt động học hợp thành một quá trình dạy - học, trong đó, ng-
ời dạy thực hiện chức năng tổ chức, điều khiển, hớng dẫn ngời học, ngời họchoạt động tích cực để lĩnh hội những kinh nghiệm, tri thức đã đợc tích luỹ, biếnnhững kinh nghiệm, tri thức của xã hội thành những kinh nghiệm, tri thức củabản thân
Trang 10Trong quá trình dạy của giáo viên và học của học sinh có sự tác động qualại làm bộc lộ nhiều đặc điểm s phạm buộc các nhà khoa học s phạm phải nghiêncứu và tìm cách giải quyết Quá trình s phạm đó mang tính xã hội sâu sắc, phứctạp với nhiều mối quan hệ tác động qua lại đan xen lẫn nhau nhằm mục đíchcuối cùng là “thực hiện cơ chế di sản xã hội đảm bảo sự tồn tại và phát triển củaloài ngời”
Bản chất của quá trình dạy học là sự truyền thụ và lĩnh hội tri thức, kỹnăng, kỹ xảo nghĩa là liên quan đến vấn đề nhận thức của con ngời Quá trìnhnhận thức của con ngời diễn ra tơng đối phức tạp và đã đợc triết học mác xít kháiquát lên thành quy luật: “Từ trực quan sinh động đến t duy trừu tợng, rồi từ t duytrừu tợng đến thực tiễn” [1,345] Tuy nhiên, quá trình nhận thức, tiếp nhận và xử
lý thông tin khoa học của học sinh không chỉ tuân theo quy luật nhận thức củatriết học mác xít mà nó còn phụ thuộc vào quá trình chuyển giao thông tin giữagiáo viên và học sinh; phụ thuộc vào quy luật t duy, tâm sinh lý của học sinh ýthức đợc tầm quan trọng của vấn đề, các nhà nghiên cứu tâm lý học và tâm lýhọc s phạm đã kế thừa lý luận nhận thức mác xít và kết quả nghiên cứu về quyluật t duy của con ngời ở một số lĩnh vực khoa học cụ thể, từ đó đi sâu nghiêncứu quy luật t duy, tâm lý của học sinh ở từng giai đoạn, khái quát thành quyluật nhận thức riêng của từng lứa tuổi, phục vụ cho quá trình dạy học
Từ những nghiên cứu chung và riêng trên, tâm lý học lứa tuổi và tâm lýhọc s phạm đã rút ra những quy luật chung của sự phát triển theo lứa tuổi, nhữngnhân tố chỉ đạo sự phát triển nhân cách theo lứa tuổi, rút ra những quy luật lĩnhhội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong quá trình giáo dục và dạy học để xây dựngmột chơng trình giáo dục hợp lý bao gồm: Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung giáodục Căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung giáo dục chung, các môn họcthể tiến hành xây dựng cho mình những mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung dạy họcriêng phù hợp với đặc điểm của từng môn
Nh ta đã biết: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh pháttriển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, các kỹ năng cơ bản, pháttriển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con ng-
ời Việt Nam XHCN, xây dựng t cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho họcsinh tiếp tục học lên và đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc” [21,20]
Từ mục tiêu chung, mục tiêu của giáo dục THPT đợc xác định nh sau:
“Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển kết quả
Trang 11của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểubiết thông thờng về kỹ thuật và hớng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cánhân để lựa chọn hớng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng trung cấp, họcnghề hoặc đi vào cuộc sống” [21; 20, 21].
Để đạt đợc mục tiêu trên, nhà trờng phổ thông phải có chơng trình, nộidung giáo dục, giáo dỡng phù hợp với đất nớc, con ngời Việt Nam Yêu cầukhách quan đó đợc quán triệt trong tất cả chơng trình và nội dung học tập củatoàn bộ các môn học trong nhà trờng nói chung, bậc phổ thông trung học nóiriêng Từ năm học 1990 - 1991, chúng ta xác định môn GDCD là môn khoa họcxã hội bắt buộc trong nhà trờng phổ thông trung học có vị trí, nhiệm vụ và mụctiêu riêng dạy học riêng
Môn GDCD đợc xác định là môn học có vị trí thông thờng xếp cùng loại,ngang hàng với các môn học khác trong hệ thống các môn học của bậc phổthông; bên cạch đó, nó còn có vị trí đặc biệt do nhiệm vụ, vai trò và đặc điểm trithức của bộ môn quy định
Từ mục tiêu chung của giáo dục và mục tiêu của bậc THPT, môn GDCDhớng vào ba mục tiêu chính: Trang bị tri thức công dân trên các lĩnh vực chínhtrị, t tởng, kinh tế, đạo đức, pháp luật; hình thành ý thức công dân, ý thức quyền
và nghĩa vụ Giáo dục tinh thần trách nhiệm, tình cảm lành mạnh của ngời côngdân; rèn luyện hành vi, thói quen, ý thức, tình cảm, đạo đức phù hợp với chuẩnmực xã hội, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức đã tích luỹ giải quyết nhữngvấn đề trong cuộc sống
Để thực hiện đợc những mục tiêu trên của môn học, tuỳ vào từng giai
đoạn lịch sử, nhiệm vụ của môn GDCD đợc xác định rõ ràng, cụ thể Trong giai
đoạn hiện nay, môn GDCD có bốn nhiệm vụ chính cần phải thực hiện:
Thứ nhất, môn GDCD có nhiệm vụ trang bị cho học sinh một hệ thống tri
thức khoa học cơ bản, phổ thông, thiết thực, hiện đại theo quy định của chơngtrình về thế giới quan Mác - Lênin, lý luận về CNTB, CNXH, về thời đại, về đạo
đức, về pháp luật, về đờng lối chính sách của Đảng và Nhà nớc Từ đó giúp họcsinh nhận thức đúng đắn về sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Những trithức này giúp học sinh có thêm điều kiện để học tốt các môn học khác, đặc biệt
là giúp học sinh rèn luyện t tởng đạo đức
Thứ hai, trên cơ sở những tri thức khoa học, môn GDCD bớc đầu có nhiệm
vụ hình thành và phát triển ở học sinh thế giới quan khoa học, nhân sinh quan
Trang 12cách mạng, các phẩm chất đạo đức của ngời công dân, ngời lao động mới, củng
cố niềm tin vào lý tởng cộng sản chủ nghĩa, vào sự lãnh đạo của Đảng, khôngngừng động viên tính tích cực của học sinh trong học tập, tu dỡng, và hoạt độngthực tiễn
Thứ ba, từng bớc hình thành cho học sinh thói quen, kỹ năng vận dụng
những tri thức đã học vào cuộc sống học tập, lao động sinh hoạt Giúp các em cónhững định hớng về chính trị, t tởng, đạo đức trong các hoạt động xã hội và trongcuộc sống
Thứ t, bồi dỡng cho học sinh cơ sở ban đầu về phơng pháp t duy biện
chứng, về các mối quan hệ giữa các sự vật hiện tợng trong tự nhiên và trong xãhội; biết phân tích đánh giá các hiện tợng xã hội theo quan điểm khoa học, tiếnbộ; ủng hộ cái mới, đấu tranh chống cái sai, lỗi thời, tiêu cực
Đó là những nhiệm vụ cụ thể của môn GDCD trong giai đoạn hiện nay.Nhận thức đúng đắn và đầy đủ những nhiệm vụ trên sẽ giúp giáo viên tránh đợcnhững sai lầm nh tầm thờng hoá, đơn giản hoá tri thức khoa học của bộ môn,tách rời lý luận với thực tiễn Thực hiện tốt các nhiệm vụ trên sẽ góp phần đắclực vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục ở trờng THPT, đồng thời là cơ sở để xâydựng nội dung và PPDH của bộ môn
Xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ của môn học, nội dung môn GDCD ởTHPT đợc xác định thành năm phần với những nội dung chính nh sau:
Phần thứ nhất: Công dân với việc hình thành thế giới quan, phơng pháp
luận khoa học Gồm một số nội dung chủ yếu của triết học nhằm trang bị chohọc sinh những cơ sở ban đầu về thế giới quan, phơng pháp luận trong cuộc sống
và là căn cứ lý luận cho các phần sau
Phần thứ hai: Công dân với đạo đức, là tập hợp những giá trị đạo đức của
ngời Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Đây là sự phát triển nối tiếp phần đạo
đức của môn GDCD Trung học cơ sở Những chuẩn mực đạo đức cho học sinh
đã học ở các lớp dới đợc nâng lên thành những giá trị đạo đức, t tởng, chính trị,lối sống của ngời Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH, nhằm giúp học sinh giải quyếthợp lý, có hiệu quả các mối quan hệ xã hội
Phần thứ ba: Công dân với kinh tế: Cung cấp cho học sinh những hiểu
biết tối thiểu, cơ bản về phơng hớng phát triển kinh tế Trên cơ sở đó, giúp họcsinh có thể xác định đợc phơng hớng học tập, lựa chọn ngành nghề hoặc các lĩnhvực hoạt động khác sau khi ra trờng
Trang 13Phần thứ t: Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội Giúp cho học sinh
những hiểu biết cơ bản về chính trị - xã hội để họ có thể xác định đợc tráchnhiệm công dân đối với việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Phần thứ năm: Công dân với Pháp luật: Phát triển nối tiếp phần Pháp luật
môn GDCD Trung học cơ sở, cung cấp những hiểu biết cơ bản về bản chất, vaitrò và vị trí của Pháp luật nhằm giúp học sinh có thể chủ động, tự giác điều chỉnhhành vi của cá nhân và đánh giá đợc hành vi của ngời khác theo quyền hạn vànghĩa vụ của công dân trong giai đoạn xây dựng Nhà nớc pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam
Ngoài những bài học chính trong sách giáo khoa, chơng trình còn dànhmột số thời gian cho các hoạt động thực hành, ngoại khoá, các vấn đề gắn vớitình hình địa phơng, giáo viên cần căn cứ vào tình hình chính trị - xã hội ở địaphơng, các chủ trơng, chính sách mới, các cuộc vận động chính trị - xã hội lớncủa Đảng và Nhà nớc để tổ chức thực hiện nhằm phục vụ mục tiêu, nhiệm vụ củamôn học
Năm phần trong chơng trình trên đây có quan hệ chặt chẽ với nhau, đồngthời có quan hệ với chơng trình môn GDCD Trung học cơ sở theo nguyên tắctích hợp, đồng tâm và phát triển
Trong quá trình dạy học môn GDCD, để lựa chọn đợc những PPDH manglại hiệu quả cao, giáo viên cần phải dựa vào nhiều yếu tố khác nhau nh: Mụctiêu, nhiệm vụ chung của quá trình dạy học; mục tiêu, nhiệm vụ riêng của mônhọc và đặc biệt, giáo viên phải căn cứ trực tiếp vào nội dung cụ thể của bộ môn
để xác đinh, lựa chọn PPDH phù hợp
1.1.4 Sự cần thiết phải đổi mới phơng pháp dạy học môn giáo dục công dân ở trờng trung học phổ thông
1.1.4.1 Đổi mới phơng pháp dạy học là xu hớng chung của giáo dục hiện nay
Trong mọi lĩnh vực hoạt động của con ngời, nhận thức đúng đắn nội dung,
đặc điểm, xu thế vận động và phát triển của thời đại để có những điều chỉnh,chính sách phát triển phù hợp là một đòi hỏi khách quan V.I Lênin đã từngnhấn mạnh: “Chỉ trên cơ sở hiểu đúng thời đại chúng ta mới có thể định ra đúng
đắn sách lợc của chúng ta” [19, 199]
Đặc điểm quan trọng và sâu sắc nhất của xã hội hiện đại là cuộc cáchmạng khoa học - công nghệ đang tiếp tục phát triển với những bớc nhảy vọttrong thế kỷ XXI, đa thế giới từ nền văn minh công nghiệp sang nền văn minhthông tin, sản sinh ra một khối lợng kiến thức đồ sộ, cung cấp cho nhân loại một
Trang 14khối lợng khổng lồ của cải, tinh thần làm thay đổi bộ mặt xã hội Bên cạnh đó,toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế là một xu thế khách quan của xã hội hiện đại.
Đây vừa là quá trình hợp tác để phát triển, vừa là sự cạnh tranh quyết liệt giữacác quốc gia Xã hội ngày nay có những bớc phát triển vợt bậc nhng trong lòng
nó luôn tiềm ẩn nguy cơ xuất hiện khủng hoảng
Nắm bắt đợc xu thế vận động và phát triển của thời đại Các quốc gia đều
đã có những điều chỉnh, thay đổi trong chính sách và các chiến lợc phát triển củamình với mục đích nhằm tận dụng tốt các thời cơ, cơ hội phát triển do thế giớimới mang lại Trong sự thay đổi chính sách phát triển của các quốc gia, chúng tathấy đều có sự u tiên, đầu t phát triển cho giáo dục, coi giáo dục là yếu tố đảmbảo cho sự phát triển bền vững của xã hội Sự u tiên phát triển này hoàn toàn phùhợp với đặc điểm mới của thời đại lấy con ngời làm động lực và mục đích của sựphát triển Sự thay đổi về chính sách phát triển đó đã mang lại nhiều thành cônglớn cho các quốc gia trên thế giới Đây có thể coi là một bài học cho các nớckhác noi theo
Việt Nam là một trong những nớc nghèo của thế giới Sau chiến tranh,chúng ta đã bắt tay ngay vào công cuộc hàn gắn vết thơng chiến tranh, khôi phục
và xây dựng lại đất nớc Để vực dậy nền kinh tế, chúng ta đã tiến hành đổi mới
từ 1986 Từ 1986 đến nay, nền kinh tế của đất nớc đã ra khỏi khủng hoảng và
b-ớc đầu có tích luỹ Xã hội đã đi vào thế ổn định và phát triển Nhng “tụt hậu” vẫn
đợc coi là nguy cơ thờng trực của quốc gia Các yếu tố để đảm bảo cho sự pháttriển bền vững vẫn còn thiếu hụt đáng kể Cụ thể, đó là yếu tố con ngời mớiXHCN Hiện nay, ở tất cả các ngành, lĩnh vực, lực lợng lao động có trình độ, taynghề cao còn quá mỏng, cha đáp ứng đợc yêu cầu phát triển cơ bản của đất nớc.Nhà nớc còn phải thuê ở bên ngoài một lực lợng lớn lao động có tay nghề cao,
điều đó làm ảnh hởng đến kinh tế, chính trị, xã hội và tốc độ phát triển của đất ớc
n-Để có đợc “những con ngời XHCN” - lực lợng lao động mới - đáp ứng yêucầu của quá trình CNH, HĐH của đất nớc hiện nay là nhiệm vụ của nhiều ngành,lĩnh vực, của toàn bộ xã hội trong đó nhiệm vụ chính đợc xác định thuộc vềngành giáo dục
Nhận thức rõ đợc xu thế phát triển của thế giới và tầm quan trọng của việc
đầu t phát triển con ngời, Đảng và Nhà nớc ta đã xác định: “Giáo dục và đào tạo
là quốc sách hàng đầu” Nhà nớc phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đàotạo nhân lực, bồi dỡng nhân tài Trong những năm qua, nền giáo dục nớc ta đã
Trang 15đạt đợc những thành tựu nhất định đáp ứng một phần nhu cầu đổi mới của đất
n-ớc Bên cạnh đó, giáo dục nớc ta còn tồn tại nhiều yếu kém, hạn chế Sự yếu kémcủa giáo dục thể hiện ở nhiều mặt, trong đó, điển hình là ở chất lợng đào tạo và
đạo đức của học sinh Chất lợng đào tạo của chúng ta cha đáp ứng đợc nhữngyêu cầu phát triển hiện nay của đất nớc cũng nh mong muốn hiểu biết và rènluyện của ngời học Đặc biệt, vấn đề đạo đức học đờng đang là hồi chuông cảnhbáo của ngành và của toàn xã hội: “Đặc biệt đáng lo ngại là trong một bộ phậnhọc sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lý tởng, theo lốisống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tơng lai của bản thân và
đất nớc” [10,29]
Sự yếu kém trên do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan mang lại.Qua nghiên cứu, khảo sát tình hình chúng ta xác định đợc một trong nhữngnguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do sự chậm đổi mới của ngành, đặc biệt
là ở khâu PPDH Hiện nay, tình hình thế giới và trong nớc đã có rất nhiều thay
đổi yêu cầu nền giáo dục nớc ta phải có sự cải cách to lớn để bắt kịp với sự pháttriển đó Trong tơng lai nền giáo dục nớc nhà có đáp ứng đợc yêu cầu đổi mớicủa đất nớc hay không phụ thuộc phần lớn vào quá trình đổi mới hiện nay củagiáo dục Cải cách giáo dục là yêu cầu cấp thiết, là việc làm thờng xuyên của cácquốc gia phát triển và đang phát triển Từ năm 1945 đến 1980 của thế kỷ XX,nền giáo dục nớc ta tiến hành 4 cuộc cải cách chính thức Cuộc cải cách đầu tiêndiễn ra vào năm 1945, ngay sau khi giành đợc độc lập, với chơng trình Việt ngữhoá giáo trình của tất cả các bậc học Cuộc cải cách lần hai diễn ra vào năm
1950 chuyển từ hệ tú tài phân ban cũ sang hệ phổ thông 9 năm Sau khi hoà bìnhlập lại (năm 1956), chúng ta tiến hành cuộc cải cách lần ba chuyển từ hệ phổthông 9 năm sang hệ phổ thông 10 năm với chơng trình và sách giáo khoa cáccấp giống Liên Xô cũ Sau khi thống nhất đất nớc, chúng ta tiến hành cuộc cảicách lần thứ t để thống nhất chơng trình 12 năm (1980) Nh vậy, mỗi lần nềngiáo dục nớc ta tiến hành cải cách đều có mục đích rõ ràng Từ thực trạng củagiáo dục nớc ta hiện nay, mục đích của cuộc cải cách giáo dục lần này là nhằm
đổi mới PPDH, chuyển từ sử dụng nhóm PPDH truyền thống mang nặng tính lýtruyết, giáo điều là chính sang sử dụng những PPDH phát huy đợc tính tích cực,
tự giác, sáng tạo của học sinh, rèn luyện những kỹ năng thực hành cho ngời học,khắc phục những yếu kém, hạn chế của nền giáo dục hiện nay
Phơng pháp đợc coi là “con đờng” là “cách thức” để đạt tới mục đích
Ph-ơng pháp sai thì tất yếu sẽ không đa lại kết quả hoạt động nh mong muốn Hơn
Trang 16thế nữa, phơng pháp đợc quy định bởi nội dung Hiện nay, nội dung dạy học
đang dần đợc thay đổi kéo theo phơng pháp cũng phải có sự thay đổi Bên cạnh
đó, mục tiêu đào tạo của chúng ta cũng đã có sự điều chỉnh cho phù hợp vớinhiệm vụ, yêu cầu mới của đất nớc, vì vậy, PPDH cũng phải thay đổi theo Điềunày không chỉ đợc nói đến ở sách vở mà đã đợc chứng minh thông qua các hoạt
động thực tiễn của giáo dục: “Với mục tiêu nhân cách tiếp nhận truyền thụ đạo
đức, nghề nghiệp, phơng pháp giáo dục của xã hội nông nghiệp, tiền công nghiệp
là phơng pháp giáo điều với đặc trng cơ bản là thầy dạy có tính chất truyền thụ,
áp đặt và trò học theo lối thụ động tiếp thu Với mục tiêu nhân cách lao động đápứng yêu cầu của nền cơ khí công nghiệp, phơng pháp giáo dục của xã hội côngnghiệp là phơng pháp cổ truyền với đặc trng cơ bản là thầy dạy trò học và vai tròcủa trò đợc phát huy bằng cách thầy phát vấn học sinh, sử dụng các dụng cụ trựcquan, các phơng tiện nghe nhìn Với mục tiêu nhân cách lao động của xã hộikiến thức là quyền lực thì phơng pháp giáo dục là phơng pháp tích cực với đặc tr-
ng cơ bản: Học sinh là trung tâm của các quan hệ giáo dục còn giáo viên đóngvai trò là ngời tổ chức, hớng dẫn trên con đờng đi tìm chân lý” [10; 10, 11]
Nhận thấy sự yếu kém trong khâu PPDH, các nhà nghiên cứu giáo dụctrong và ngoài nớc, những ngời quan tâm đến nền giáo dục nớc nhà đã tốn khánhiều công sức, giấy mực để bàn cải về vấn đề đổi mới PPDH, tìm ra những giảipháp cho PPDH ở Việt Nam Đây cũng đợc coi là vấn đề nóng của ngành, của xãhội hiện nay
Định hớng đổi mới PPDH đã đợc đặt ra từ cuộc cải cách giáo dục lần thứ
t của thế kỷ trớc (1980), nhng cho đến nay sự chuyển biến trong việc sử dụngPPDH ở các trờng phổ thông vẫn cha có sự thay đổi nhiều, phổ biến vẫn là nhữngPPDH truyền thống với cách dạy thầy đọc, trò chép, thầy giảng, trò nghe, thuyếttrình xen kẽ vấn đáp, tái hiện, biểu diễn, minh hoạ Với “con đờng”, “cách thức”trồng ngời nh trên, các PPDH truyền thống đã tạo ra một lớp ngời thụ động, kémnăng động, sáng tạo, có tính ỷ lại, ngồi chờ, thiếu kỹ năng, khả năng giải quyếtnhững vấn đề thực tiễn
Xét cả về mặt khách quan và mặt chủ quan, chúng ta có nhiều lý do đểtiến hành đổi mới PPDH Hay nói cách khác, đổi mới PPDH là xu hớng chungcủa giáo dục hiện nay Định hớng đổi mới PPDH đã đợc xác định trong nghịquyết trung ơng 4 khoá VII (1- 1993), nghị quyết trung ơng 2 khoá VIII(12-1996) đợc thể chế hoá trong luật giáo dục (2005), đợc cụ thể hoá trong các chỉthị của Bộ giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 14 (4- 1999)
Trang 17Khoản 2, Điều 28, Luật Giáo dục, 2008 ghi rõ: “Phơng pháp giáo dục phổthông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phùhợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dỡng phơng pháp tự học, khảnăng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [21,30].
Nh vậy, đổi mới PPDH là nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,sáng tạo, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào giải quyết những tình huốngtrong học tập và trong cuộc sống cho học sinh; chú trọng hình thành các nănglực, phơng pháp và kỹ năng lao động khoa học, học để đáp ứng những yêu cầucủa cuộc sống hiện tại và tơng lai, những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bảnthân học sinh và cho sự phát triển của xã hội Đổi mới PPDH là xu hớng, yêu cầuchung của ngành giáo dục, nó đợc triển khai cụ thể đến từng môn học, trong đó
có môn GDCD
1.1.4.2 Đổi mới phơng pháp dạy học môn giáo dục công dân ở bậc trung học phổ thông hiện nay là một tất yếu
GDCD là một môn học bắt buộc trong chơng trình giáo dục THPT, nó có
vị trí, nội dung giảng dạy, mục tiêu, nhiệm vụ và phơng pháp riêng Từ khi đợc
đa vào giảng dạy ở các trờng phổ thông, môn GDCD đã góp phần đào tạo các thế
hệ học sinh thành những ngời lao động mới XHCN đáp ứng nguồn nhân lực choquá trình CNH, HĐH đất nớc Với những thành quả đạt đợc, GDCD trở thànhmôn học quan trọng không thể thay thế
Xã hội luôn vận động và phát triển, nhng từ 1980 đến nay, môn GDCD
ch-a có sự thch-ay đổi, điều chỉnh lớn nào cho phù hợp với sự phát triển đó Nội dungsách giáo khoa GDCD từ khi ra đời cho đến nay ít có sự thay đổi, về cơ bản, nóvẫn đợc giữ nguyên Cùng với nội dung sách giáo khoa cũ, trong quá trình dạyhọc, PPDH truyền thống vẫn là nhóm phơng pháp đợc các giáo viên GDCD sửdụng nhiều nhất, cách dạy học “chay” theo kiểu thầy đọc, trò chép, thầy giảng,trò nghe vẫn là cách dạy phổ biến tại các lớp học Thực tế đó đã tạo nên sự yếukém của môn học, góp phần tạo ra một lớp ngời thụ động, lỗi thời trong xã hộimới Yếu kém lớn nhất, bao trùm toàn bộ môn GDCD hiện nay là chất lợng của
bộ môn không đợc đảm bảo, từ đó nẩy sinh ra nhiều vấn đề khác cần phải giảiquyết Bên cạch đó, do ảnh hởng từ mặt trái của nền kinh tế thị trờng, một bộphận không nhỏ học sinh, sinh viên có những biểu hiện, lối sống ngoại lai làmbăng hoại những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Sự du nhập ồ
ạt các nền văn hoá từ bên ngoài vào đã làm ảnh hởng xấu đến đạo đức học đờng
Trang 18Đạo đức học đờng trở thành một vấn đề “nóng” của xã hội, điều này đã đợc xác
định trong văn kiện hội nghị lần thứ hai BCHTƯ Đảng khoá VIII: “ Đặc biệt
đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái đạo đức,
mờ nhạt về lý tởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệpvì tơng lai của bản thân và đất nớc” [12,8]
Tình trạng suy thoái đạo đức của một bộ phận học sinh, sinh viên đặt racho xã hội và ngành giáo dục một nhiệm vụ đó là phải nhanh chóng có nhữngbiện pháp, giải pháp điều chỉnh kịp thời những suy nghĩ, nhận thức, biểu hiện
đạo đức của học sinh, sinh viên đi đúng quỹ đạo đạo đức XHCN Bằng nhiềukênh khác nhau, trong đó, chủ yếu là thông qua con đờng học tập, chúng ta đã cónhững biện pháp tiến hành điều chỉnh thực trạng đó Giáo dục đạo đức là nhiệm
vụ của tất cả các môn học ở bậc THPT, trong đó đợc xác định là nhiệm vụ chủyếu của môn GDCD Tuy nhiên, thực trạng dạy và học môn GDCD hiện nay cha
đạt đợc nhiệm vụ trên Quá trình dạy học môn GDCD ở các trờng THPT cần phải
đợc đổi mới trên nhiều phơng diện khác nhau, có nh vậy mới thực hiện tốt nhiệm
vụ của môn học
Cùng với các môn học khác trong chơng trình giáo dục phổ thông, mônGDCD đang đợc tiến hành đổi mới Nội dung, mục tiêu, nhiệm vụ của môn học
đang có những điều chỉnh, thay đổi nhằm bắt kịp với sự phát triển của thời đại
Đáp ứng yêu cầu mới của xã hội, quá trình dạy và học môn GDCD hiện naykhông chỉ dừng lại ở việc truyền thụ và tiếp thu tri thức ở mặt lý thuyết, mà còn
đi sâu phân tích những giá trị thực tiễn của môn học, tăng cờng rèn luyện kỹnăng, kỹ xảo, khả năng vận dụng kiến thức của môn học vào giải quyết các tìnhhuống trong đời sống thực tiễn cho học sinh
Làm thế nào để truyền tải đợc nội dung mới của môn học? Thực hiện đợcmục tiêu, nhiệm vụ mới của bộ môn? điều này phụ thuộc phần lớn vào phơngpháp truyền đạt của giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy môn GDCD Từ trớc
đến nay, những PPDH đợc các giáo viên nói chung và giáo viên GDCD nói riênglựa chọn, sử dụng phần lớn là nhóm PPDH truyền thống nghiêng nhiều về sửdụng lời nói, mang nặng tính lý thuyết Hiện nay, nhóm PPDH này không còn đ-
ợc sử dụng phổ biến nh trớc đây, vì bản thân nó bộc lộ nhiều hạn chế so với cácPPDH tích cực Để truyền đạt đợc những nội dung mới của môn học, đòi hỏigiáo viên phải thay đổi cách thức giảng dạy, chuyển từ sử dụng nhóm PPDHtruyền thống là chủ yếu sang sử dụng những PPDH mới, hiện đại có khả năngnâng cao tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của môn GDCD
Trang 19Bên cạnh những thay đổi về nội dung, nhiệm vụ của chơng trình mônGDCD, vị trí của ngời học cũng có sự thay đổi Học sinh hiện nay đợc coi là yếu
tố “trung tâm” của quá trình dạy học, các em không còn là những ngời thụ độngtrong quá trình tìm hiểu và tiếp thu tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, các em lànhững ngời chủ động, tích cực, tự giác tham gia vào quá tình học tập của bảnthân Tuy nhiên, để phát huy đợc vị trí, vai trò mới của ngời học, ngời dạy phải
có sự điều chỉnh, thay đổi về việc sử dụng PPDH Những PPDH trớc đây khônglàm đợc nhiệm vụ trên, nó chỉ làm nổi bật đợc vị trí, vai trò của ngời thầy.Những PPDH mới hiện nay có đặc điểm chung là phát huy tính tích cực, tự giác,chủ động, sáng tạo của ngời học, đặt học sinh vào vị trí trung tâm của quá trìnhdạy học (chính vì đặc điểm chung đó mà những PPDH mới đợc gọi chung lànhóm PPDH tích cực) Trong xu thế dạy học hiện nay, các giáo viên đangchuyển dần từ sử dụng những PPDH truyền thống là chủ yếu sang sử dụngnhững PPDH tích cực nhằm phát huy vị trí, vai trò mới của học sinh và phù hợpvới sự thay đổi của nội dung, nhiệm vụ dạy học hiện nay
GDCD là môn học có đặc điểm tri thức mang tính khái quát, trừu tợngcao Phân tích chơng trình môn GDCD ta thấy nó tập trung khá nhiều phân môn,chứa đựng kiến thức của các môn khoa học khác nhau Với PPDH truyền thống,giáo viên chỉ có thể dừng lại truyền tải nội dung môn học ở mức độ lý thuyết, ch-
a nâng cao đợc tính thực tiễn của bài giảng, cha giúp học sinh vận dụng kiếnthức môn học vào thực tiễn cuộc sống Cần phải có sự kết hợp, bổ sung giữaPPDH truyền thống và PPDH tích cực để đảm bảo đợc tính thống nhất giữa lýluận và thực tiễn trong quá trình dạy và học môn GDCD
GDCD đợc xác định là môn học bắt buộc của chơng trình giáo dụcphổ thông, có mục tiêu, nhiệm vụ, vị trí riêng nhng trong suy nghĩ của một bộphận giáo viên, các nhà quản lý giáo dục, học sinh, phụ huynh vẫn cho rằngGDCD là môn học phụ Suy nghĩ đó đã làm ảnh hởng đến chất lợng dạy và họccủa bộ môn Nó cũng là một lý do khiến cho một bộ phận giáo viên và một sốcấp quản lý giáo dục cho rằng chỉ cần dạy và học môn GDCD để đảm bảo chơngtrình, không cần phải đầu t, đổi mới hay cải cách Để thay đổi những suy nghĩtrên, các cấp quản lý giáo dục, giáo viên môn GDCD cần phải có những thay đổi
về nhận thức, tích cực tham gia vào quá trình đổi mới PPDH hiện nay, góp phầnkhắc phục những yếu kém và phát huy thế mạnh của môn học, xoá bỏ suy nghĩlệch lạc về môn GDCD đang tồn tại nh hiện nay
Trang 20Nền giáo dục nớc ta trong những năm gần đây còn tồn tại nhiều vấn đềcần phải giải quyết nh: Mục tiêu, nhiệm vụ chung của ngành cha đợc thực hiện
đầy đủ, chất lợng giáo dục yếu kém Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạngtrên trong đó nguyên nhân chính là do sự yếu kém của khâu PPDH Nhằm khắcphục tình trạng trên, nền giáo dục nớc ta đang tiến hành đổi mới, trong đó xác
định đổi mới PPDH là khâu trung tâm
Từ những lý do trên, chúng ta thấy đổi mới PPDH môn GDCD ở trờngTHPT hiện nay là một tất yếu Tuy nhiên, quá trình đổi mới đó phải tuân theonhững nguyên tắc nhất định, một trong những nguyên tắc đó là đảm bảo đợctính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của bộ môn
1.2 Tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thể hiện trong môn học GDCD
1.2.1 Nguyên lý thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong triết học Mác - Lênin.
Sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nộidung cơ bản của triết học Mác - Lênin Trớc khi tìm hiểu mối quan hệ biệnchứng giữa lý luận và thực tiễn, chúng ta cần làm rõ hai khái niệm: Thực tiễn làgì? lý luận là gì?
Theo triết học Mác- Lênin: “Thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục
đích mang tính lịch sử - xã hội của con ngời nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội”[1,347]
Thực tiễn là một phạm trù triết học cơ bản của lý luận nhận thức mác xít
Nó cũng là phạm trù triết học xuyên suốt toàn bộ lý luận của chủ nghĩa Mác.Các nhà duy vật trớc Mác đã có công lao lớn trong việc phát triển thế giới quanduy vật, đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, thuyết không thể biết Nh-
ng lý luận của họ còn nhiều khuyết điểm, trong đó khuyết điểm lớn nhất làkhông thấy đợc hoạt động có tính chất lịch sử - xã hội đối với nhận thức Bêncạnh đó, các nhà duy tâm đã thấy đợc mặt năng động, sáng tạo trong hoạt độngcủa con ngời nhng lại phát triển lên một cách trừu tợng, thái quá Vì vậy, chủnghĩa duy tâm cũng chỉ hiểu thực tiễn nh là hoạt động tinh thần chứ không hiểu
nó nh là hoạt động hiện thực, hoạt động vật chất cảm tính của con ngời Kế thừanhững yếu tố hợp lý và khắc phục những thiếu sót trong quan điểm của các nhàtriết học trớc mình về thực tiễn, C Mác và Ph Ăngghen đã đem lại một quan
điểm đúng đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò của nó đói với nhận thức cũng
nh đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội
Trang 21Hoạt động thực tiễn là động bản chất của con ngời, nó đợc coi là phơngthức tồn tại cơ bản của con ngời, là phơng thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan
hệ giữa con ngời và thế giới Thực tiễn bao gồm ba dạng hoạt động cụ thể: Hoạt
động sản xuất vật chất; hoạt động chính trị - xã hội; hoạt động thực nghiệm khoahọc Trong đó, hoạt động sản xuất vật chất là dạng hoạt động thực tiễn đầu tiên,cơ bản, quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội Thực tiễn còn có vai tròquan trọng đối với nhận thức, thể hiện thực tiễn là cơ sở, mục đích, động lực và
là tiêu chuẩn của chân lý
Nếu chỉ dừng lại ở các hoạt động thực tiễn thì những hiểu biết, kinhnghiệm mà con ngời có đợc thông qua hoạt động thực tiễn sẽ không có giá trị,vai trò gì đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội Thông qua quá trình hoạt
động thực tiễn, những tri thức, kinh ngiệm của con ngời đợc khái quát lên thành
lý luận và truyền lại cho thế hệ sau
Lý luận chính là “hệ thống những tri thức đợc khái quát từ thực tiễn, phản
ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế giới khách quan Lýluận đợc hình thành không phải bên ngoài thực tiễn mà trong mối liên hệ vớithực tiễn” [6,58]
Nh vậy, lý luận đợc hình thành từ kinh nghiệm, trên cơ sở tổng kết kinhnghiệm, nhng lý luận không hình thành một cách tự phát từ kinh nghiệm vàkhông phải mọi lý luận đều trực tiếp xuất phát từ kinh nghiệm Do tính độc lập t-
ơng đối của nó, lý luận có thể đi trớc kinh nghiệm
Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ với nhau, đó cũng là nội dungcủa nguyên lý thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
Theo từ điển triết học: “Lý luận và thực tiễn là những phạm trù triết học đểchỉ mặt tinh thần và vật chất của một quá trình lịch sử xã hội thống nhất củanhận thức và sự cải tạo tự nhiên và xã hội” [27,342] Lý luận và thực tiễn ở trongmột thể thống nhất gắn bó, cái này sẽ không tồn tại nếu không có cái kia và ngợclại Trong mối quan hệ đó, thực tiễn luôn giữ vai trò quyết định, vai trò đó thểhiện ở chỗ thực tiễn là cơ sở, mục đích, và động lực chủ yếu, trực tiếp của nhậnthức Thông qua hoạt động thực tiễn, con ngời buộc thế giới phải bộc lộ nhữngthuộc tính, những quy luật để cho con ngời nhận thức chúng Do đó, có thể nói,thực tiễn cung cấp những tài liệu cho nhận thức, cho lý luận Cũng thông quahoạt động thực tiễn của mình, con ngời biến đổi cả thế giới và cũng biến đổi luôncả bản thân mình, con ngời ngày càng đi sâu khám phá, nhận thức thế giới Thực
Trang 22tiễn còn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phơng hớng phát triển của nhận thức, của lýluận.
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức lý luận còn thể hiện ở chỗ: thựctiễn là tiêu chuẩn của chân lý Con ngời tác động vào thế giới, nhận thức và kháiquát những nhận thức lên thành lý luận, bản thân lý luận lại quay về phục vụ cáchoạt động thực tiễn của con ngời và thông qua thực tiễn kiểm nghiệm để xácnhận tính đúng sai của tri thức đó Cũng cần phải hiểu tiêu chuẩn chân lý mộtcách biện chứng, tiêu chuẩn này vừa có tính tuyệt đối lại vừa có tính tơng đối.Tránh cách nhìn nhận quá cứng nhắc làm ảnh hởng đến vai trò của lý luận đốivới hoạt động của con ngời
Bên cạnh vai trò quyết định của thực tiễn, lý luận cũng có vai trò, vị trínhất định, thể hiện ở chỗ: Lý luận tác động trở lại thực tiễn, góp phần làm biến
đổi thực tiễn thông qua hoạt động của con ngời Nó đợc coi là “kim chỉ nam”cho hành động, soi đờng, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Lênin viết “không có lý luậncách mạng thì cũng không có phong trào cách mạng” [31,30], một khi đã thâmnhập vào quần chúng, lý luận biến thành sức mạnh vật chất to lớn Nhng, cũngkhông nên cờng điệu qúa vai trò của lý luận mà phải luôn đặt nó trong mối quan
hệ với thực tiễn, phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Hồ Chí Minh viết: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cănbản của chủ nghĩa Mác - Lênin Thực tiễn không có lý luận hớng dẫn thì thànhthực tiễn mù quáng, lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”[1,496]
Qua sự phân tích trên chúng ta thấy, nguyên lý thống nhất giữa lý luận vàthực tiễn không chỉ là một nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin mà nócòn chi phối đến hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới của con ngời Trong quátrình giáo dục, nguyên lý này có mặt ở hầu hết các khâu GDCD là môn học cónội dung liên quan đến triế học Mác - Lênin, các vấn đề kinh tế - xã hội, vì vậy,nguyên lý thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc hoạt động quantrọng của bộ môn Điều đó đợc thể hiện ở nguyên tắc xây dựng nội dung mônhọc; nguyên tắc dạy học của môn GDCD và mục đích, nhiệm vụ của bộ môn
1.2.2 Nội dung môn học đợc xây dựng dựa trên nguyên tắc thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn
Kho tàng tri thức khoa học của con ngời ngày càng phong phú và đa dạng,
nó có vai trò to lớn trong sự tồn tại và phát triển của xã hội loài ngời Ngày nay,các môn khoa học ra đời ngày càng nhiều, trình độ nghiên cứu khoa học của con
Trang 23ngời phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu Để cho các thế hệ sau nắm bắt,tiếp thu những kinh nghiệm, tri thức của nhân loại một cách dễ dàng, chúng ta đãtiến hành xây dựng một hệ thống giáo dục với nội dung giảng dạy hợp lý và khoahọc Tuy nhiên, hoạt động giáo dục đợc coi là một hoạt động đặc biệt của xã hội,vì vậy, việc xây dựng chơng trình dạy học không thể diễn ra một cách tuỳ tiện
mà phải tuân theo những nguyên tắc nhất định Nhng nguyên tắc là gì? vì sao lạiphải tuân theo nguyên tắc?
Nguyên tắc đợc hiểu nh là điểm chủ yếu đầu tiên, là luận điểm cơ bản, là
điểm xuất phát, là tiền đề của một lý luận nào đó Trên cơ sở của nguyên tắc,toàn bộ lý luận đợc xây dựng theo một hệ thống xác định chặt chẽ Nguyên tắcchỉ đạo toàn bộ quá trình xây dựng lý luận Nguyên tắc bao gồm những yêu cầubuộc con ngời phải tuân theo khi vận dụng nó vào hoạt động thực tiễn và hoạt
động nhận thức Tuân theo những yêu cầu bắt buộc của nguyên tắc, con ngời sẽ
đạt đợc hiệu quả cao trong hoạt động của mình Ngợc lại, nếu không tuân theo
mà phá bỏ những nguyên tắc đó, chúng ta sẽ dễ dàng phạm phải những sai lầmkhi xây dựng lý luận và vận dụng lý luận vào thực tiễn
Mặc dù đợc con ngời khái quát lên từ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn củabản thân, nhng nguyên tắc bao giờ cũng mang tính khách quan Nguyên tắc phản
ảnh tính phổ biến, cái có quy luật của một quá trình nào đó, nguyên tắc có thể
đ-ợc xây dựng dựa trên cơ sở của một quy luật, cũng có thể đđ-ợc xây dựng trên cơ
sở một tập hợp quy luật Tuy nhiên, giữa nguyên tắc và quy luật không có sự
đồng nhất hoàn toàn Quy luật là vốn có của hiện thực khách quan, biểu thị cácmối quan hệ và quạn hệ phổ biến, bản chất, bền vững của sự vật hiện tợng Cònnguyên tắc chỉ tồn tại khi xác lập đợc mối quan hệ giữa chủ thể và khách thểtrong một quá trình hoạt động cụ thể, nhất định nào đó
Tóm lại, nguyên tắc là cái mà chúng ta phải tuân theo để đạt kết quả caotrong mọi hoạt động Khi xây dựng chơng trình, nội dung học tập cho học sinh,các nhà giáo dục cũng phải dựa trên những nguyên tắc nhất định Ngoài nhữngnguyên tắc xây dựng chơng trình chung cho tất cả các môn học, bản thân mỗimôn học cũng có những nguyên tắc riêng
Đối với môn GDCD, thông qua hoạt động dạy và học của bộ môn, các nhànghiên cứu giáo dục đã khái quát và đa ra một hệ thống các nguyên tắc cần phải
đảm bảo khi xây dựng nội dung môn học Cụ thể, đó là những nguyên tắc sau:
Thứ nhất, môn GDCD ở bậc THPT phải có tính kế thức và phát triển kết
quả giáo dục và dạy học của môn đạo đức và môn GDCD ở các bậc học trớc
Trang 24Thứ hai, môn GDCD ở bậc THPT phải góp phần thực hiện mục tiêu giáo
dục ở THPT; góp phần củng cố, phát triển ở học sinh lý tởng sống cao đẹp,những phẩm chất và năng lực cơ bản của ngời Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH
Thứ ba, môn GDCD ở bậc THPT phải là một hệ thống kiến thức về nhiều
lĩnh vực, giúp học sinh có đủ những hiểu biết cơ bản để hình thành thế giới quan,nhân sinh quan khoa học, góp phần giúp học sinh có cơ sở lý luận giải quyếtnhững vấn đề thực tế của cuộc sống
Thứ t, môn GDCD phải đợc xây dựng phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lý
lứa tuổi học sinh Mục tiêu, nội dung và PPDH môn GDCD phải phù hợp với lứatuổi học sinh ở bậc THPT, phải căn cứ vào lối sống và vốn hiểu biết về tự nhiên,xã hội của các em; phải phát huy tối đa tiềm năng và ý thức trách nhiệm của họcsinh trong quá trình học tập và rèn luyện
Thứ năm, khi xây dựng chơng trình môn GDCD phải coi trọng nguyên tắc
hoạt động, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Trong hệ thống các nguyên tắc trên, nguyên tắc thực tiễn đợc coi là quantrọng nhất để xây dựng nội dung môn GDCD hiện nay Có sự đề cao nh vậy là vì
đây là môn học có nhiệm vụ đào tạo học sinh thành những ngời lao động mớicho xã hội, tham gia vào quá trình xây dựng và phát triển đất nớc Trong khi đó,tiêu chí của ngời lao động mới hiện nay đã có sự điều chỉnh, thay đổi Bên cạchviệc thông thạo chuyên môn về mặt lý thuyết, ngời lao động phải nắm vững vàthành thạo các kỹ năng thực hành Những tri thức mà học sinh đợc truyền đạt,tiếp thu phải có giá trị thực tiễn, giúp học sinh vận dụng và giải quyết đợc cáctình huống trong học tập và trong cuộc sống Những thay đổi này đòi hỏi nộidung môn học không chỉ dừng lại ở tính hàn lâm, lý thuyết mà cần phải tăng c-ờng, nâng cao tính thực tiễn cho học sinh Vì vậy, khi xây dựng nội dung chơngtrình của môn GDCD, chúng ta không thể coi nhẹ nguyên tắc thống nhất giữa lýluận với thực tiễn
Bên cạnh đó, môn học có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những hiểubiết phổ thông về một số lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế, trang bị cho học sinhnhững phẩm chất, giá trị đạo đức của dân tộc, nếu chỉ dừng lại ở mặt lý thuyết
mà không có đợc giá trị thực tiễn, không có sự thống nhất giữa lý luận và thựctiễn thì trong quá trình học tập, học sinh sẽ khó tiếp thu, ghi nhớ và vận dungchúng vào thực tiễn biến chúng từ những cái “của sách vở” thành những cái “củabản thân”, nh vậy, giá trị, tác dụng của môn học sẽ không đợc phát huy
Trang 25Bản thân môn GDCD là một môn học xã hội, đặc điểm của những tri thứcxã hội đều mang tính lý luận, khái quát hoá, trừu tợng hoá cao Trong khi lựachọn những tri thức đó để đa vào giảng dạy, nếu chúng ta không tuân theonguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thì cũng sẽ sa vào hệ quả chung
là tạo ra sự nhàm chán, khó tiếp thu, khó vận dụng ở ngời học
Tuân theo nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn khi xây dựngnội dung dạy học môn GDCD vừa là quy định của ngành vừa là yêu cầu kháchquan Nguyên tắc này không chỉ chi phối đến quá trình xây dựng nội dung dạyhọc của bộ môn mà còn là nguyên tắc cơ bản trong quá trình dạy học mônGDCD ở bậc THPT
1.2.3 Đảm bảo tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cơ bản trong giảng dạy môn giáo dục công dân
Nguyên tắc không chỉ dừng lại ở việc chỉ đạo quá trình xây dựng lý luận
mà còn chỉ đạo cả quá trình vận dụng lý luận đó vào thực tiễn Thông qua hoạt
động dạy và học, các nhà giáo dục đã rút ra một hệ thống các nguyên tắc dạyhọc cơ bản và yêu cầu giáo viên trong quá trình giảng dạy cần phải đảm bảo,thựchiện
Ngoài những nguyên tắc dạy học chung, tuỳ thuộc vào đặc điểm riêng củatừng môn học để có thêm một hoặc vài nguyên tắc Đối với môn GDCD, hiệnnay, các nhà giáo dục đã khái quát đợc năm nguyên tắc cơ bản Đó là nhữngnguyên tắc sau: Nguyên tắc tính khoa học; nguyên tắc tính Đảng; nguyên tắctính vừa sức; nguyên tắc phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh và nguyêntắc tính thực tiễn
Với hệ thống các nguyên tắc trên, yêu cầu trong quá trình giảng dạyGDCD, giáo viên bộ môn phải nhận thức đúng đắn và đảm bảo tuân theo đầy đủ,nhằm mục đích thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ đề ra của môn học nói riêng vàcủa giáo dục nói chung
Trong các nguyên tắc trên, đảm bảo tính thống nhất giữa lý luận và thựctiễn trong giảng dạy môn GDCD là một nguyên tắc dạy học cơ bản của môn học(gọi tắt là nguyên tắc tính thực tiễn) Nó đợc coi là cơ bản là vì đây là nguyêntắc quan trọng để xây dựng chơng trình dạy học, xác định mục tiêu, nhiệm vụcủa môn GDCD, từ đó, nguyên tắc này chi phối đến quá trình dạy học trên thực
tế của bộ môn
Do đặc điểm tri thức của môn GDCD mang tính lý luận, khái quát cao, là
sự tích hợp tri thức của nhiều phân môn Những tri thức này có nguồn gốc và giá
Trang 26trị thực tiễn phong phú, đa dạng Trong quá trình dạy học, giáo viên phải chỉ ra
đợc nguồn gốc và giá trị thực tiễn đó, nâng cao tính thống nhất giữa lý luận vàthực tiễn, giúp học sinh thấy đợc ý nghĩa thiết thực khi học môn GDCD, khơidậy ở các em niềm tin, sự yêu thích đối với môn học
GDCD là môn học thuộc khoa học xã hội, nếu chỉ dừng lại ở việc cungcấp tri thức cho học sinh về mặt lý thuyết thì sẽ rơi vào tình trạng “lý thuyếtsuông”, không có giá trị thực tế, ngời học sẽ thấy nhàm chán, không có hứng thútham gia vào quá trình học tập Vì vậy, cần gắn liền những tri thức của môn họcvới thực tiễn sinh động, giúp học sinh thấy đợc những tri thức của môn GDCDkhông chỉ là những khái niệm, phạm trù, quy luật, đờng lối, chính sách khô khan
mà chúng còn có những giá trị, ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, tác động trực tiếp đếncuộc sống của mỗi cá nhân trong xã hội
GDCD có nhiệm vụ chính là hớng tới việc đào tạo học sinh trở thànhnhững ngời lao động với những phẩm chất và kỹ năng lao động cần thiết thamgia vào quá trình CNH, HĐH hiện nay của đất nớc.Yêu cầu này đòi hỏi phải có
sự thống nhất giữa lý thuyết và thực hành ngay trong quá trình học tập và rènluyện của học sinh khi các em còn ngồi trên ghế nhà trờng, tạo ra cho các emmột nền tảng vững chắc để trở thành ngời lao động mới tham gia vào quá trìnhxây dựng đất nớc
Từ những lý do trên, trong quá trình giảng dạy, ngời giáo viên phải chú ý
đảm bảo, thực hiện đầy đủ các nguyên tắc dạy học của bộ môn trong đó, giáoviên cần phải đề cao nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, luôn bámsát thực tiền, nâng cao chất lợng của bộ môn, đáp ứng yêu cầu của ngời học vàcủa đất nớc
1.2.4 Đổi mới phơng pháp dạy học môn giáo dục công dân nhằm nâng cao tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy giáo dục công dân ở trờng trung học phổ thông
Nh ta đã phân tích ở các phần trớc, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận vàthực tiễn có vai trò quan trọng chi phối đến việc xây dựng chơng trình môn học,
là nguyên tắc cơ bản của quá trình dạy học môn GDCD Trên thực tế, quá trìnhdạy và học GDCD hiện nay đang có xu hớng tách rời giữa lý luận với thực tiễn,cha gắn liền đợc “ học đi đôi với hành”, nguyên tắc dạy học đảm bảo sự thốngnhất giữa lý luận với thực tiễn cha đợc thực hiện, thể hiện ở việc dạy và học củagiáo viên và học sinh mới chỉ dừng lại ở mức độ truyền đạt và tiếp thu lý thuyết,coi nhẹ yếu tố thực hành, cha coi trọng việc rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo cần
Trang 27thiết của ngời lao động mới, vì vậy, học sinh thiếu kỹ năng vận dụng tri thức vàogiải quyết các vấn đề của học tập và của cuộc sống Trong khi đó, nguyên tắcnày lại là nguyên tắc quan trọng của môn GDCD, việc không đảm bảo nó trongquá trình dạy học làm ảnh hởng trực tiếp đến chất lợng cuối cùng của bộ môn.
Trên thực tế, có một số giáo viên, các nhà quản lý giáo dục cho rằng,môn GDCD chỉ là “môn học phụ”, có cho đủ chơng trình Vì vậy, môn học này
ít nhận đợc sự quan tâm, đầu t đúng mức từ phía các nhà quản lý, các giáo viên
và thiếu tính tự giác, tích cực tham gia học tập của học sinh Quá trình dạy họccủa bộ môn chủ yếu diễn ra theo lối học “chay”, thầy đọc, trò chép, thầy giảng,trò nghe Dạy để đảm bảo chơng trình, học mang tính chất đối phó Hệ quả củacách dạy và học trên ngày càng đợc bộc lộ rõ thể hiện ở sự xuống cấp về đạo đứccủa một bộ phận lớn thanh niên, học sinh; khả năng nhìn nhận, phân tích và giảiquyết các tình huống xẩy ra trong học tập và trong cuộc sống của học sinh lêchlạc, yếu kém; chất lợng bộ môn thấp Nguyên nhân chính của thực trạng trên là
do trong quá trình dạy học, giáo viên bộ môn chủ yếu sử dụng PPDH truyềnthống, không đảm bảo đợc tính thực tiễn trong quá trình dạy học, chỉ mới dừnglại ở việc truyền đạt và tiếp thu lý thuyết Môn học không có tính thực tiễn sẽlàm mất đi giá trị của nó Để thay đổi suy nghĩ “môn học phụ”, phát huy vai trò,
vị trí của bộ môn, đổi mới PPDH môn GDCD nâng cao tính thực tiễn của mônhọc là việc làm cần thiết, phải đợc tiến hành
Với PPDH mới, giáo viên có thể chỉ ra các nguốn gốc thực tiễn của trithức môn học, giá trị thực tiễn của các tri thức đó, kết hợp với việc tăng cờng cáchoạt động ngoại khoá, các tiết thực hành để thông qua đó giúp các em tiếp cậnvới thực tiễn cuộc sống, có điều kiện vận dụng những tri thức đã học vào thựctiễn, kiểm nghiệm tính đúng, sai của nó và giải quyết những tình huống trongcuộc sống Thông qua hoạt động ngoại khoá, các tiết thực hành, học sinh còn đ-
ợc tiếp cận, làm quen với các kỹ năng của ngời lao động
Hiện nay, bên cạnh nhóm PPDH truyền thống, PPDH đã đợc bổ sungthêm những phơng pháp mới, cho phép giáo viên có nhiều lựa chọn khác nhauphù hợp với quá trình dạy học Để nâng cao sự thống nhất giữa lý luận và thựctiễn, trong quá trình giảng dạy, ngời giáo viên phải lựa chọn những PPDH trong
đó đề cao tính thực tiễn Cụ thể là những phơng pháp nh: Phơng pháp đàm thoại,phơng pháp thảo luận nhóm, phơng pháp nêu vấn đề, phơng pháp trực quan kếthợp với các hoạt động ngoại khoá tìm hiểu về tình hình kinh tế, chính trị, xã hộicủa địa phơng, đất nớc
Trang 28Đặc trng chủ yếu của những PPDH trên là giáo viên nêu ra những câu hỏi,những vấn đề, những tình huống cho học sinh Những vấn đề và tình huống này
có liên quan đến nội dung bài học và gần gũi với thực tiễn cuộc sống của họcsinh, đặc điểm đó tạo điều kiện cho hoc sinh dễ dàng tiếp cận và giải quyết Bêncạnh đó, những phơng pháp này giúp học sinh hình thành và rèn luỵện những kỹnăng, kỹ xảo, vận dụng lý luận vào thực tiễn, các em biết phát hiện và giải quyếtcác vấn đề nảy sinh trong học tập và cuộc sống
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc xuyên suốt trong quátrình giảng dạy môn GDCD Nhng, trong quá trình dạy học môn GDCD nguyêntắc dạy học này đang bị tách rời dẫn đến không đảm bảo đợc mục tiêu, nhiệm vụcủa môn học, làm giảm giá trị và không khẳng định đợc vị trí, vai trò của bộmôn trong nhà trờng THPT
1.3 Thực trạng của việc dạy và học môn GDCD ở trờng trung học phổ thông Cầm Bá Thớc
Trong những năm qua, với kết quả đạt đợc môn GDCD đã có những đónggóp nhất định cho sự phát triển của nền giáo dục nớc nhà, góp phần đào tạo họcsinh thành những ngời lao động mới đáp ứng cho công cuộc đổi mới, xây dựng
đất nớc Bên cạnh những thành tích đã đạt đợc, quá trình dạy và học môn GDCD
ở các trờng THPT còn tồn tại nhiều vấn đề cần phải đợc khắc phục nh: Suy nghĩ
cho rằng GDCD là môn phụ; quá trình dạy và học môn GDCD cha đợc quan tâm
đến chất lợng thực sự của môn học, việc dạy và học mới chỉ dừng lại ở việctruyền đạt và tiếp thu lý thuyết, tính thực tiễn trong các tiết dạy GDCD còn quáít; những nguyên tắc dạy học quan trọng của bộ môn cha đợc đảm bảo thực hiện
Cũng trong thực trạng chung đó, quá trình dạy và học môn GDCD ở TrờngTHPT Cầm Bá Thớc còn có nhiều vấn đề cần phải giải quyết Về hoạt động dạy,hiện nay, trờng có 6 giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy môn GDCD Đội ngũgiáo viên GDCD của trờng đều là những ngời đợc đào tạo qua các trờng đại học
s phạm, có trình độ chuyên môn và những kỹ năng s phạm cần thiết để thực hiệnnhiệm vụ của mình Tuy nhiên, trong quá trình công tác tại trờng, vì nhiều lý dokhác nhau, các giáo viên cha thực sự quan tâm, nâng cao trình độ của bản thân,
điều đó đợc thể hiện qua bảng thống kê sau:
Bảng 1: Thống kê đội ngũ giáo viên GDCD của trờng THPT Cầm Bá Thớc
Số lợng Chuyên Trình độ Trình độ Giáo viên Thâm Thâm
Trang 29ngành (đại học) sau đại
01 giáo viên đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp tỉnh, điều đó cho thấy, giáo viêncha có ý thức phấn đấu, nâng cao trình độ, rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ, phục vụcho quá trình dạy học
Bên cạnh đó, quá trình giảng dạy môn GDCD ở trờng Cầm Bá Thớc còntồn tại nhiều vấn đề cần phải giải quyết nh: mang tính hình thức, môn học chathực sự nhận đợc sự quan tâm đầu t từ phía nhà trờng và đội ngũ giáo viênGDCD Giáo viên chỉ mới dừng lại ở việc dạy để đảm bảo chơng trình, cha chú ýphát huy vai trò, vị trí của bộ môn, cha quan tâm đến chất lợng thực sự của mônhọc Trong quá trình giảng dạy, những nguyên tắc của môn GDCD cha đợc giáoviên chú ý tuân theo, đặc biệt là nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễncủa môn học Giáo viên bộ môn mới chỉ dừng lại ở việc truyền đạt nội dung kiếnthức ở mặt lý thuyết, các hoạt động ngoại khoá và những hình thức dạy họcnhằm nâng cao tính thực tiễn của bài học cha đợc chú ý thực hiện hoặc đã đợcthực hiện nhng còn quá ít Cùng với những hạn chế đó, PPDH chủ yếu đợc cácgiáo viên GDCD ở trờng Cầm Bá Thớc áp dụng là nhóm PPDH truyền thốngnghiêng về sử dụng lời nói, thuyết trình Hiện nay, nền giáo dục nớc ta đang tiếnhành đổi mới PPDH, nhng, quá trình đổi mới PPDH ở trờng Cầm Bá Thớc nóichung và trong giảng dạy môn GDCD nói riêng còn chậm, cha diễn ra đồng bộ
Thực trạng của hoạt động dạy nh trên đã ảnh hởng không nhỏ đến hoạt
động học của học sinh Giáo viên dạy mang tính chất hình thức, học sinh họcmang tính chất đối phó đủ điểm, đủ môn, đủ điều kiện thi tốt nghiệp Tại các kỳthi học sinh giỏi do trờng, tỉnh tổ chức, học sinh chỉ tham gia khi có sự bắt buộccủa giáo viên và nhà trờng, các em cho rằng, GDCD chỉ là môn học phụ, khôngcần thiết phải là học sinh giỏi môn GDCD, không cần phải đầu t trí tuệ, thờigian, công sức cho môn học này Vì vậy, trong quá trình dạy không có sự thamgia tích cực từ phía ngời học, dẫn đến, kết quả đạt đợc tại các kỳ thi học sinh giỏicha cao
Trang 30Bảng 2: Tổng kết xếp loại học lực môn GDCD của học sinh trờng THPT Cầm Bá Thớc năm học 2008 - 2009
Tổng số
học sinh
Xếp loại Loại giỏi Loại khá Loại TB Loại yếu Loại kém
khích
Nhìn vào kết quả xếp loại học lực của học sinh ở bảng hai và số học sinh
đạt giải học sinh giỏi cấp tỉnh môn GDCD ở bảng ba chúng ta thấy, chất lợngdạy và học môn GDCD của trờng THPT Cầm Bá Thớc còn thấp Tỷ lệ học sinh
đạt loại giỏi còn quá ít, cả trờng trong năm học 2008 - 2009 chỉ đạt 15 em, trongkhi đó, tỷ lệ học sinh ở mức yếu, kém còn quá nhiều (loại yếu: 172 em; loạikém: 62 em), số học sinh đạt giải tại kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh qua một sốnăm học còn khiêm tốn, cha có giải cao.Với kết quả học tập nh trên cho thấy,chất lợng dạy học môn GDCD ở trờng còn thấp, hoạt động dạy và học mônGDCD ở trờng THPT Cầm Bá Thớc cần phải có những giải pháp, đổi mới để cảithiện, nâng cao chất lợng dạy và học của bộ môn
Kết luận chơng 1
Do đặc thù của môn học, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễnchi phối và đợc thể hiện trong nhiều khâu của bộ môn (chi phối quá trình xâydựng nội dung chơng trình, mục tiêu, nhiệm vụ của môn hoc; là nguyên tắc quantrọng của quá trình dạy học) Mặc dù có vị trí, vai trò quan trọng nh vậy nhngtrong quá trình dạy học môn GDCD hiện nay nguyên tắc này không đợc đảm
Trang 31bảo thực hiện, còn thiếu tính thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, tách rời giữa
lý luận với thực tiễn Thực trạng đó đã tạo ra sự yếu kém trong chất lợng giảngdạy của môn GDCD
Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích thực trạng của việc dạy vàhọc môn GDCD nói chung và ở trờng THPT Cầm Bá Thớc nói riêng, cho thấyquá trình dạy và học môn GDCD ở bậc THPT còn có nhiều hạn chế Có nhiềunguyên nhân dẫn đến thực trạng trên trong đó nguyên nhân chính là chậm đổimới PPDH làm giảm tính thực tiễn trong các bài học GDCD Để khắc phục tìnhtrạng trên, chúng ta phải tiến hành đổi mới PPDH Đổi mới PPDH môn GDCD lànhằm mục đích nâng cao tính thống nhất giữa lý luận với thực tiễn đảm bảo chấtlợng dạy học, thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của bộ môn
Chơng 2 thực nghiệm dạy học và một số giải pháp đổi mới PPDh môn GDCD theo hớng nâng cao tính thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn ở trờng THPT Cầm Bá Thớc - Thờng xuân - Thanh Hoá
2.1 Vài nét về trờng THPT Cầm Bá Thớc
Trang 32Nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân, ngày 15 - 11
- 1965 trờng phổ thông cấp III Thờng Xuân đợc thành lập theo quyết định số292/QĐ - VX của chủ tịch uỷ ban hành chính tỉnh Thanh Hoá Khi mới thànhlập, trờng chỉ có một lớp 8 với 50 học sinh ghép với trờng cấp II Thờng Xuân
đóng ở làng Nhân, xã Xuân Mỹ Đến nay, trờng có 44 lớp với 2046 học sinhtrong đó có 780 học sinh là con em dân tộc với tổng số là 88 giáo viên Bắt đầu
từ năm học 1975 - 1976, trờng chuyển địa điểm về đóng tại trị trấn Thờng Xuân,huyện Thờng Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Từ khi ra đời cho đến hiện nay, trờng đã trải qua nhiều giai đoạn pháttriển, căn cứ vào đặc điểm của từng thời kỳ, chúng ta có thể chia làm hai giai
đoạn chính: Trong chiến tranh và sau chiến tranh Giai đoạn trong chiến tranh
đ-ợc tính từ khi thành lập cho đến 1976 Đây là giai đoạn trờng phải giải quyếtnhiều khó khăn nh: thiếu giáo viên, thiếu cơ cở vật chất Mặc dù vậy, hoạt độngdạy học ở trờng vẫn đợc diễn ra và có những bớc phát triển nhất định thể hiện,sau một năm thành lập (1967 - 1968), trờng đã có đầy đủ ba khối lớp với 2 lớp 8,2lớp 9, 1 lớp 10 Bên cạnh đó, trong những năm này, nhà trờng thờng xuyên đatiễn các học sinh, giáo viên lên đờng tòng quân chi viện cho miền nam
Năm 1975, đất nớc thống nhất, cả nớc bớc vào công cuộc hàn gắn vết
th-ơng chiến tranh, xây dựng đất nớc Trờng THPT Cầm Bá Thớc cũng chuyển sanggiai đoạn mới, giai đoạn phát triển về mọi mặt của trờng Để phục vụ cho nhữngnhiệm mới của trờng Từ 1975 - 1979, trờng tiến hành bổ sung, xây dựng vàhoàn thiện mặt cơ sở vật chất, nhà trờng đẩy mạnh phong trào “dạy tốt, học tốt”,
bổ sung đầy đủ đội ngũ giáo viên, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ chogiáo viên, đáp ứng nhu cầu học tập của ngời dân địa phơng Những thành tíchtrong giảng dạy và học tập của trờng đạt đợc ngày càng cao nh: Tỷ lệ đậu tốtnghiệp của trờng tơng đối cao (đạt 95% - 98% từ năm học 2001 - 2006); có họcsinh đạt giải tại các kỳ thi lớn nh: em Hà Thị Hồng đạt giải ba chung kết cuộc thi
âm vang xứ thanh, em Lê Thi Thu Huyền lọt và vòng thi quý đờng lên đỉnholimpia; số học sinh giỏi tỉnh, số học sinh đạt học sinh khá giỏi ngày càngcao.Trờng đạt đợc nhiều danh hiệu khác nhau: Trờng đạt danh hiệu là trờng tiêntiến trong nhiều năm liên tục (1980 đến nay); đợc thủ tớng chính phủ tặng bằngkhen, chủ tịch nớc tặng thởng huân chơng lao động hạng ba
Bên cạnh những thành tích, hoạt động giáo dục của trờng THPT Cầm BáThớc còn tồn tại một số vấn đề (chung của giáo dục hiện nay và riêng của trờng)cần phải đợc xem xét và giải quyết
Trang 33Giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, việc thành lập trờng cấp III ThờngXuân là một quyết định đúng đắn nhằm đáp ứng nguyện vọng của nhân dân.Hơn 40 năm qua, trờng đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp giáo dục củatoàn xã hội Kế thừa truyền thống đó, thầy, trò trờng Cầm Bá Thớc không ngừngphấn đấu, cống hiến cho sự nghiệp giáo dục của xã hội
2.2 Vị trí, vai trò của môn GDCD ở trờng THPT Cầm Bá Thớc
Nh ta đã phân tích ở chơng 1, GDCD là môn học vừa có vị trí thông thờngvừa có vị trí đặc biệt Mỗi vị trí, nó đều có vai trò và nhiệm vụ tơng ứng Ngoài
ra, vị trí, vai trò đó còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa
ph-ơng nơi các trờng phổ thông đóng Trờng THPT Cầm Bá Thớc đóng ở huyện ờng Xuân - Thanh Hoá, dựa vào đặc điểm, tình hình của địa phơng, Ban giámhiệu nhà trờng đã xác định vị trí, vai trò cụ thể cho từng môn học Đối với mônGDCD, ban giám hiệu nhà trờng xác định: Môn GDCD ở trờng THPT Cầm BáThớc có vị trí, vai trò đặc biệt trong việc giáo dục t tởng, đạo đức và những phẩmchất chính trị cho học sinh, là môn học trực tiếp giúp các em trở thành những ng-
Th-ời lao động mới XHCN
Từ việc xác định vị trí, vai trò môn GDCD của ban giám hiệu nhà trờng, tổ
bộ môn đã triển khai thành những nhiệm vụ, vai trò cụ thể của môn học:
Thứ nhất: Môn GDCD ở trơng THPT Cầm Bá Thớc là môn học có vai trò
chính trong việc cung cấp những tri thức giúp học sinh hình thành thế giới quan,phơng pháp luận khoa học Do điều kiện về địa lý, kinh tế xã hội quy định, họcsinh ở đây ít có điều kiện tham gia các hoạt động xã hội, tiếp thu và nắm bắtnhững thông tin mới Thông qua hoạt động dạy và học môn GDCD giúp các emnhìn nhận và đánh giá các sự kiện, hiện tợng xã hội
Thứ hai: Môn GDCD có vai trò chính trong việc cung cấp những tri thức,
hiểu biết về các vấn đề kinh tế, chính trị - xã hội cho học sinh Để trở thành ng ờilao động mới, học sinh cần phải có nền tảng, vốn hiểu biết cơ bản về các vấn đềcủa xã hội Thông qua học môn GDCD các em sẽ có vốn hiểu biết đó Đối vớihọc sinh của huyện Thờng Xuân - Thanh hoá, để đảm bảo đợc nhiệm vụ này củamôn học, giáo viên GDCD ở trờng THPT Cầm Bá Thớc giúp học sinh hạn chếnhững thiếu hụt do khách quan mang lại bằng cách thu thập và cung cấp thêmcho học sinh những tri thức, thông tin mới của xã hội mà sách giáo khoa ch a kịp
bổ sung
Thứ ba: Môn GDCD giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo; khả
năng vận dụng và giải quyết các vấn đề của xã hội