1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Độc thoại nội tâm trong tiểu thuyết y kawabata (qua khảo sát người đẹp say ngủ và tiếng rền của núi)

93 613 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Độc Thoại Nội Tâm Trong Tiểu Thuyết Y.Kawabata (Qua Khảo Sát Người Đẹp Say Ngủ Và Tiếng Rền Của Núi)
Tác giả Trần Thị Lê
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Hạnh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn Học Nước Ngoài
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 349 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu các sáng tác của Y.Kawabata không chỉ để thấy đợc vẻ đẹp truyền thống Nhật Bản trong văn phẩm của ông mà còn thấy đợc sựtiếp nhận những hình thức thể hiện mới mẻ, độc đáo của

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn - -

khoá luận tốt nghiệp

độc thoại nội tâm trong tiểu thuyết Y.kawabata (Qua khảo sát ngời đẹp say ngủ và tiếng rền của núi )

Chuyên ngành: văn học nớc ngoài

Giáo viên hớng dẫn: PGS TS Nguyễn Văn Hạnh

Sinh viên thực hiện: Trần Thị Lê

Lớp: 47A - Ngữ văn

Vinh - 2010

Trang 2

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tiếp cận và nghiên cứu văn học từ phơng diện thi pháp biểu hiện

và góc độ tự sự học là một hớng nghiên cứu còn rất mới mẻ và có nhiềutiềm năng Nội dung trong tác phẩm phải đợc suy ra từ hình thức, đó là

“hình thức mang tính nội dung” (Trần Đình Sử) Nghiên cứu tiếp cận tácphẩm văn học theo hớng thi pháp học nghĩa là nghiêng về nghiên cứu hìnhthức nghệ thuật của tác phẩm Một trong những đối tợng nghiên cứu của thipháp học là giọng kể, ngôi kể, ngời trần thuật Đối với văn học hiện đại trênthế giới hiện nay, điểm nhìn tâm lý tức là điểm nhìn bên trong, chủ quan đ-

ợc quan tâm nghiên cứu rất phổ biến

Tự sự học vốn là một chi nhánh của thi pháp học hiện đại, hiểu theonghĩa rộng là nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề có liênquan hoặc nói cách khác là nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật trần thuật củavăn bản tự sự nhằm tìm một cách khác Lý thuyết tự sự ngày nay đã cungcấp một bộ công cụ cơ bản nhất, sắc bén nhất giúp chúng ta có thể đi sâunghiên cứu về văn học “Lý thuyết tự sự sẽ cho ta thấy không chỉ là kỹ thuậttrần thuật của các thể loại, các nhà văn mà còn cho thấy cả truyền thốngvăn hoá ở sau đó và từ đó cho thấy u điểm và chỗ yếu của truyền thống vănhọc, để từ đó ta nhìn lại vấn đề văn học sử dân tộc một cách tỉnh táo và sâusắc” [29; 20,T1] Vì lẽ đó chúng tôi đã chọn hớng tiếp cận này để nghiêncứu độc thoại nội tâm trong tiểu thuyết Y.Kawabata

1.2 Lối viết độc thoại nội tâm và kỹ thuật dòng ý thức, một mặt chochúng ta thấy đợc ảnh hởng của thời đại đến các sáng tác của nhà văn mặtkhác thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách viết của chính nhà văn đó Nghệthuật độc thoại nội tâm giúp ngời đọc và tác giả nhập cảm trọn vẹn vàonhân vật Môtlêva đã có cái nhìn khá sắc sảo: “Sự sống đích thực của nhâncách chỉ có thể tìm hiểu bằng cách thâm nhập vào nó dới dạng đối thoại,một sự đối thoại mà cá nhân tự nó sẽ bộc lộ bản thân một cách tự do để đáplại” [30]

Nghiên cứu độc thoại nội tâm và thủ pháp dòng ý thức trong sáng táccủa Y.Kawabata ta sẽ thấu thị đợc mối quan hệ Đông - Tây và ảnh hởngcủa nghệ thuật phơng Tây hiện đại trong sáng tác của ông Vì vậy, đây làmột việc làm cần thiết

Trang 3

1.3 Văn học Nhật Bản xuất hiện ở nớc ta trong khoảng một thế kỷ (từnhững năm đầu thế kỷ XX đến nay) nhng việc nghiên cứu nền văn học nàymới hơn 50 năm đặc biệt là những thập niên cuối thế kỷ XX đầu thế kỷXXI Cùng với việc dịch thuật là công tác nghiên cứu nhằm thẩm định và

định hớng những giá trị tác phẩm ngày càng đợc chú trọng Y.Kawabata

đ-ợc nghiên cứu ở Việt Nam với số lợng sách và các bài nghiên cứu nhiềunhất trong số những công trình nghiên cứu về văn hoá văn học Nhật Bản

Ông là nhà văn lớn của Nhật Bản nói riêng và của thế kỷ XX nói chung Lànhà tiểu thuyết với tài năng phân tích tâm lý nhân vật bậc thầy Ông đã đợcViện Hàn lâm Thuỵ Điển vinh danh năm 1968 với bộ ba tiểu thuyết xuất

sắc: Xứ tuyết, Cố đô và Ngàn cánh hạc Ngoài ra ông còn những tiểu thuyết: Tiếng rền của núi, Ngời đẹp say ngủ, Đẹp và buồn đã đợc dịch sang

tiếng Việt Nghiên cứu các sáng tác của Y.Kawabata không chỉ để thấy đợc

vẻ đẹp truyền thống Nhật Bản trong văn phẩm của ông mà còn thấy đợc sựtiếp nhận những hình thức thể hiện mới mẻ, độc đáo của kỹ thuật viết vănphơng Tây hiện đại Độc thoại nội tâm là một hình thức tiêu biểu

Các sáng tác của Y.Kawabata luôn là một ẩn số đối với ngời nghiêncứu và bạn đọc Ông đợc xem nh đại diện cho tâm hồn ngời Nhật: mỹ cảm,yêu chuộng cái đẹp Ngời Nhật vừa truyền thống nhng cũng rất hiện đại.Những chuẩn tắc, những suy t quy định triết triết lý sống và thị hiếu thẩm

mỹ của ngời Nhật Vì vậy, sáng tác của Y.Kawabata bao giờ cũng là một ẩn

dụ về triết lý nhân sinh Sáng tác của ông mang đậm màu sắc suy t Vì thế,nghiên cứu những dòng độc thoại nội tâm trong sáng tác của Y.Kawabata

sẽ góp phần giải mã những triết lý sống của ngời Nhật

1.4 Trong nhà trờng phổ thông, Y.Kawabata là đại diện tiêu biểu đầu

tiên đợc đa vào chơng trình sách giáo khoa với tác phẩm Thuỷ Nguyệt Đây

là tác phẩm đợc chọn hoàn toàn phù hợp về phơng diện nội dung và nghệthuật biểu hiện Tác phẩm thể hiện sự tiếp thu một cách sáng tạo nghệ thuậtphơng Tây hiện đại về phơng diện phân tích tâm lý nhân vật - đó là nghệthuật độc thoại nội tâm và thủ pháp đồng hiện Do đó khi nghiên cứu đề tàinày chúng tôi mong muốn đa ra một cái nhìn khái quát hơn về nghệ thuật

độc thoại nội tâm góp phần vào việc tiếp cận, giải mã tác phẩm

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Việc nghiên cứu Y.Kawabata ở nớc ta diễn ra khá muộn muộn.Các bài nghiên cứu ít nhiều đã mang tính chất khám phá về tác giả, tác

Trang 4

phẩm và một số bài đã tìm hiểu về thi pháp nghệ thuật nhng mới chỉ lànhững cái nhìn mang tính phác thảo.

Năm 1969, Tạp chí Văn Sài Gòn cho đăng bài Y.Kawabata - cuộc đời

và sự nghiệp của Vũ Th Thanh, Mai Chơng Đức với bài Y.Kawabata - nhà văn Nhật Bản đầu tiên đợc giải thởng Nobel Có thể nói đây là hai bài viết

đầu tiên về nhà văn lớn Y.Kawabata đã cung cấp cho ngời đọc và các nhànghiên cứu một số kiến thức nhất định về cuộc đời và sự nghiệp của hiện t-ợng văn học độc đáo này

Nếu nhà văn hóa Hữu Ngọc với cuốn Dạo chơi vờn văn Nhật Bản

(Nxb Giáo dục, 1992) đa ngời đọc “chu du” một vòng trong thế giới thơ văn

Nhật Bản từ cổ đến hiện đại thì Lu Đức Trung với chuyên luận Y.Kawabata

- cuộc đời và tác phẩm (Nxb Giáo dục, 1997) đã giới thiệu khá đầy đủ về

cuộc đời và các sáng tác chính của Y.Kawabata trên cả ba thể loại: tiểuthuyết, truyện ngắn và truyện ngắn trong lòng bàn tay Có thể nói đây làchuyên luận đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu phân tích khá sâu về tác giảY.Kawabata trên một số phơng diện Sau khi tìm hiểu t tởng, cuộc đời vàtác phẩm, những yếu tố thời đại có ảnh hởng đến con đờng nghệ thuật củaY.Kawabata và một số yếu tố khác, tác giả chuyên luận đã nêu bật phongcách đặc sắc của Y.Kawabata là “chất trữ tình sâu lắng, nỗi buồn êm dịu”

đợc Y.Kawabata kế thừa từ trong dòng văn học “nữ tính” của thời đạiHeian

Nghiên cứu về những vấn đề về tác giả, tác phẩm xuất hiện sớm nhất là

bài Chân dung Y.Kawabata -giải văn chơng Nobel 1968 của Đào Hữu Dũng (Tạp chí Văn miền Nam, số 9/1969), Y.Kawabata - cuộc đời và sự

nghiệp của Vũ Th Thanh và Y.Kawabata dới nhãn quan phơng Tây của Chu

Sĩ Hạnh (Tạp chí Văn miền Nam, số 140/1969) Nếu tác giả Vũ Th Thanhnhấn mạnh thứ văn chơng hoa mỹ, nghệ thuật sử dụng ngôn từ, hình ảnh vàchất thơ tronng văn xuôi Y.Kawabata thì ở bài nghiên cứu của mình, ĐàoHữu Dũng đã cho rằng Y.Kawabata “đã làm cho cả thế giới biết cái vẻ đẹptợng trng sức sống tổ quốc mình” Năm 2002, Nxb Khoa học xã hội cho

đăng bài Từ Murasaki đến Y.Kawabata của Hà Thanh Vân trong cuốn Văn

hoá, văn học - từ một góc nhìn là một cái nhìn vừa mang tính tổng thể và cụ

thể về Y.Kawabata trong dòng chảy của văn học Nhật Bản thời quá khứ màtiêu biểu là Murasaki Shikibu Bài viết đã đề cập đến sự hài hoà giữa Đông

và Tây trong sáng tác Y.Kawabata Hà Thanh Vân viết: “Phục sinh những

Trang 5

truyền thống cũ tốt đẹp trong sự dung hoà với thế giới hiện tại Tác phẩmcủa ông là một sự kết hợp hài hoà giữa phơng Đông và phơng Tây”.

Tác giả Đào Thị Thu Hằng cũng là ngời nghiên cứu khá sâu sắc vềcuộc đời và nghệ thuật biểu hiện trong sáng tác của Kawabata Trớc hết đó

là cuốn sách đã đợc xuất bản năm 2007- Văn hoá Nhật Bản và Yasunari

Kawabata công trình nghiên cứu này đã đề xuất một hớng nghiên cứu mới

về Y.Kawabata Tác giả đã đặt sáng tác của Y.Kawabata trong dòng chảycủa văn học truyền thống Nhật Bản để khẳng định sự tiếp thu và cách tâncủa nhà văn đối với văn học Nhật Bản Chuyên luận đi sâu vào nghệ thuật

kể chuyện - hớng tiếp cận từ góc độ tự sự học, tác giả khẳng định đó là

“nghệ thuật kể chuyện vừa mang tính dân tộc vừa mang tính quốc tế Đợc

đánh giá cao bởi thi pháp chân không và những nguyên lý thẩm mỹ độc đáo

do tiếp thu Thiền Tông trong thơ Haiku, trong th họa, trong văn chơng cổ

điển, Y.Kawabata cũng đợc so sánh với Hemingway… đặc biệt là nghệ đặc biệt là nghệthuật kể chuyện độc đáo với thủ pháp tảng băng trôi” Cũng tơng tự nhận

định này, sau này có ngời nói Y.Kawabata là Hemingway của Nhật Bản.Hai nhà văn đã có sự gặp gỡ chính trong nghệ thuật tự sự, nghệ thuật độcthoại nội tâm

Trong một bài viết khác, Yasunari Kawabata giữa dòng chảy Đông

-Tây, tác giả Đào Thị Thu Hằng đã khẳng định: những tác phẩm của nhà văn

vừa mang những đặc điểm của phơng Đông vừa đan cài những yếu tố phơng

Tây hiện đại Trong bài tác giả viết: “Thực tế, Y.Kawabata không phải là

một nhà văn hoàn toàn theo chủ nghĩa hiện đại nhng điểm lại toàn bộ hệthống tác phẩm của ông, chúng ta có thể khẳng định, chủ nghĩa hiện đại vàvăn học nớc ngoài đã có ảnh hởng không nhỏ tới văn phong Y.Kawabata

Có thể nhận thấy một số biểu hiện tiêu biểu nh hệ thống nhân vật, chi tiếtliên truyện, sử dụng nhiều độc thoại nội tâm dòng ý thức… đặc biệt là nghệ” hay “Ngời đẹp say ngủ là một tác phẩm đợc giới văn học phơng Tây u chuộng và đánh giá

cao do khi viết Y.Kawabata đã sử dụng có hiệu quả một số kỹ thuật của chủnghĩa hiện đại” Đây là một số nhận định mang tính khái quát

Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra đóng góp to lớn

của nhà văn từ góc nhìn loại hình tác phẩm Trong bài Đặc điểm truyện

ngắn Y.Kawabata, nhìn từ góc độ thi pháp của Hà Văn Lỡng là một cách tiếp

cận mang tính khái quát khảo sát truyện ngắn Y.Kawabata trên các bình diện

nh xây dựng cốt truyện, thi pháp chân không và thi pháp chiếc gơng soi… đặc biệt là nghệ

Trong bài Truyện ngắn trong lòng bàn tay - cái nhìn thẩm mỹ trong suốt của

Trang 6

Trần Thu Hằng (đăng trên http: //www.evan.com.vn 2007) đã phân tích một

số nghệ thuật độc đáo của thể loại này và khẳng định “truyện ngắn tronglòng bàn tay của Y.Kawabata là một chỉnh thể thẩm mỹ thống nhất trong

suốt” Cũng ở thể loại này, TS Nguyễn Thị Mai Liên có bài Chởng chi tiểu

thuyết của Y.Kawabata thể loại tự sự độc đáo in trong cuốn Tự sự học một số vấn đề lý luận và lịch sử (Nxb Đại học S phạm, 8/2008).

-ở thể loại tiểu thuyết, tác giả Lu Đức Trung đã nêu ra những đặc điểm

thi pháp tiểu thuyết Y.Kawabata trong bài Thi pháp tiểu thuyết của

Y.Kawabata - nhà văn lớn Nhật Bản (Tạp chí Văn học, số 9/1999) Bài viết

đã nhấn mạnh những yếu tố thuộc về đặc trng thi pháp của tiểu thuyếtY.Kawabata nh thi pháp chân không, thi pháp thơ Haiku, kết cấu, cốt truyện

thể hiện trong một số tác phẩm tiêu biểu: Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô.

Đặc biệt đã có rất nhiều tác giả tập trung nghiên cứu một cách sâu sắc

về cái đẹp đợc biểu hiện trong sáng tác của Y.Kawabata Nhà nghiên cứu

phê bình văn học Nhật Chiêu trong một số bài viết nh: Thế giới

Y.Kawabata (hay là cái đẹp: hình và bóng), Y.Kawabata và thẩm mỹ của Chiếc gơng soi đã chỉ ra đặc điểm của cái đẹp và nghệ thuật sử dụng chiếc

gơng soi trong tác phẩm của Y.Kawabata Mà theo chúng tôi, thủ phápchiếc gơng soi cũng là một hình thức để chiếu vào nội tâm của nhân vật

Khơng Việt Hà có bài Mỹ học Kawabata Yasunari (Tạp chí Văn học,

số 6/2000) ngoài việc khám phá cái đẹp trong sáng tác của Y.Kawabata cònchỉ ra “nhiều sáng tác của Y.Kawabata chịu ảnh hởng của nền văn họcthuộc châu Âu đơng thời bao gồm chủ nghĩa ấn tợng Pháp qua đại diệnMarcel Proust (1871-1922), thủ pháp dòng ý thức trong sáng tác của JamesJoyce (1882-1931), và lý thuyết phân tâm học của S.Freud (1856-1939)”.Bài viết đã gợi ý cho chúng tôi nghiên cứu về thủ pháp dòng ý thức - mộthình thức cực đoan của độc thoại nội tâm Thời gian đó trên Tạp chí Sông

Hơng cho đăng bài Y.Kawabata - ngời lữ khách u sầu đi tìm cái đẹp của Lê

Thị Hờng (số 154/12/2001) Tác giả chỉ ra quan niệm thẩm mỹ truyềnthống trong thế giới nghệ thuật của Y.Kawabata đó là quan niệm vẻ đẹpgắn với nỗi buồn, tình yêu và thiên nhiên, sắc đẹp và nữ tính trở thành cảmhứng chủ đạo trong sáng tác của ông Gần đây nhất, tại Hội thảo cấp quốcgia Y.Kawabata trong nhà trờng (17/12/2009, Đại học S phạm Hà Nội) có

30 bản tham luận về Y.Kawabata trong đó có bài Mỹ học Kawabata

Yasunari của Trần Tố Loan đã khái quát những quan niệm thẩm mỹ của

Y.Kawabata: cái đẹp là tự nhiên, nguyên sơ là nỗi buồn, là “thẩm mỹ của

Trang 7

chiếc gơng soi” và hài hoà giữa truyền thống và hiện đại Tác giả cũngchỉ ramột số biểu hiệncủa cái đẹp trong sáng tác của Y.Kawabata.

Cùng với việc nghiên cứu cái đẹp, chiếm số lợng lớn là các bài nghiêncứu về yếu tố huyền ảo nh một thủ pháp nghệ thuật để phản ánh và khaithác chiều sâu tâm lý nhân vật đợc Y.Kawabata thể hiện trong hầu hết sángtác của mình Đào Thị Thu Hằng nêu ra sự giống và khác nhau giữa yếu tố

huyền ảo trong sáng tác của Y.Kawabata và G.G.Marquez qua bài Yếu tố

huyền ảo trong tác phẩm của Y.Kawabata và G.G.Marquez (Tạp chí châu

Mỹ ngày nay, số 9/2005) Hà Văn Lỡng trong bài Yếu tố kỳ ảo trong một số

sáng tác của Y.Kawabata nhìn từ phơng thức biểu hiện đã chỉ ra chiếc mặt

nạ, những giấc mơ, các sự vật siêu thực là những biểu hiện của cái kỳ ảotrong sáng tác của nhà văn

Phân tích những thủ pháp tơng phản trong truyện Ngời đẹp say ngủ của

Y.Kawabata, tác giả Khơng Việt Hà chỉ ra sự tơng phản về không gian thời gian, hình thức - nội tâm, già - trẻ… đặc biệt là nghệ Tác giả Hà Văn Lỡng tiếp tục đivào khảo sát các loại thời gian, không gian biểu hiện khác nhau và vai trò

-của nó đối với các yếu tố nghệ thuật trong Ngời đẹp say ngủ cùng với các bài viết Giải mã tác phẩm Ngời đẹp say ngủ (từ chủ đề cứu thế) của Trần Lê Bảo và Biểu tợng cơ thể nữ trong Ngời đẹp say ngủ của Y.Kawabata của

Ngô Thị Thanh là những tiền đề ban đầu làm cơ sở cho chúng tôi nghiêncứu độc thoại nội tâm trong tác phẩm này

2.2 Bên cạnh những bài nghiên cứu, sách, chuyên luận của các tác giảViệt Nam về Y.Kawabata có thể điểm lại một số sách và bài của các tác giảnớc ngoài về hiện tợng văn học độc đáo này Là một nhà văn hiện đại lớncủa nền văn học thế kỷ XX những tác phẩm của Y.Kawabata đợc dịch vàgiới thiệu ở nhiều nớc trên thế giới Tổ chức quốc tế UNESCO đã có chủ tr-

ơng kêu gọi và dịch tác phẩm của nhà văn ra nhiều thứ tiếng để giới thiệurộng rãi với bạn đọc Năm 1971, ở Nga xuất hiện tuyển tập tác phẩm của

Y.Kawabata với nhan đề Y.Kawabata - sinh ra bởi vẻ đẹp nớc Nhật (Nxb

Matxcơva) Sau đó đến năm 1975, Nxb này tiếp tục cho ra cuốn

Y.Kawabata - sự tồn tại và khám phá cái đẹp, từng có cả tình yêu và lòng căm thù Nhờ đó các độc giả ở Nga có dịp tiếp xúc với nhà văn xuất sắc này

và các dịch giả Việt Nam cũng có điều kiện dịch thuật tác phẩm của ông từtiếng Nga sang tiếng Việt

Năm 1968, Y.Kawabata là ngời phơng Đông thứ hai sau R.Tagor nhận

giải thởng Nobel văn chơng Trong diễn từ nhận giải Nobel - Y.Kawabata,

Trang 8

tiếng tăm của ông đã vợt xa khỏi biên giới Nhật Bản của Viện Hàn lâm

Thuỵ Điển đã có cái nhìn phác thảo về cuộc đời và một số đặc điểm nộidung, nghệ thuật trong sáng tác của Y.Kawabata Trong đó bài diễn văn do

TS Andes Osterling đọc khái quát một số nét về phong cách viết của nhàvăn là cơ sở cho việc tìm hiểu độc thoại nội tâm trong sáng tác củaY.Kawabata Ông viết “với t cách là nhà văn, ông đã truyền đạt một nhậnthức văn hoá có tính thẩm mỹ và đạo đức cao bằng một phong cách nghệthuật độc đáo do đó đóng góp vào cầu nối Đông - Tây theo cách của ông… đặc biệt là nghệChúng ta vẫn nhận thẩy ở Y.Kawabata một số sự tơng đồng về khí chất vớicác nhà văn châu Âu trong thời đại chúng ta… đặc biệt là nghệ Lời khen tặng của Viện Hànlâm Thuỵ Điển nhắc đến nghệ thuật tự sự điêu luyện của ngài, một nghệthuật tự sự biểu đạt một cách tinh tế cái yếu tính của tâm thức Nhật Bản”.Các nhà nghiên cứu, phê bình trên thế giới luôn dành nhiều sự quan tâm

cho nhà văn lớn Y.Kawabata Công trình Y.Kawabata - con mắt nhìn thấu

cái đẹp của N.T.Phedorenco đã thể hiện một sự đánh giá mang tính khoa học

và mở ra nhiều vấn đề lý thú cho những ngời nghiên cứu Sau khi đọc xong

tiểu thuyết Ngời đẹp say ngủ, nhà văn Côlômbia, G.G.Marquez đã viết bài ca

ngợi và xem đó là một trong những kiệt tác của thế giới thế kỷ XX Chính

ông cũng thú nhận đã học đợc rất nhiều từ bút pháp của Y.Kawabata đồngthời từ đây G.G.Marquez mới thực sự chú ý đến văn học Nhật Bản

Nhìn chung những công trình dịch thuật và nghiên cứu về Y.Kawabata đãgiới thiệu cho công chúng bạn đọc một cách đầy đủ và hệ thống toàn bộnhững sáng tác của nhà văn Các bài viết đã tập trung làm rõ những vấn đề lớn

về tác giả, các vấn đề cụ thể về tác phẩm và thi pháp thể loại, chỉ ra đợc tàinăng nghệ thuật đặc sắc của Y.Kawabata, có ý nghĩa định hớng tiếp nhận cho

độc giả nớc ta đối với tác phẩm của nhà văn nói riêng và văn học Nhật Bản nóichung Tuy nhiên những công trình nghiên cứu chỉ mới mang tính chất vỡ vạc,nhỏ lẻ Nhiều vấn đề thuộc nội dung và nghệ thuật sáng tác của nhà văn vẫncha đợc đề cập đến hoặc phân tích lý giải cha sâu sắc

Nghệ thuật độc thoại nội tâm và hình thức cực đoan của nó là thủ phápdòng ý thức chỉ mới đợc nói qua khi các tác giả đề cập đến ảnh hởng củaphơng Tây đến các sáng tác của nhà văn mà cha đi sâu nghiên cứu nó mộtcách kỹ lỡng cũng nh cha chỉ ra đợc vai trò của nó trong việc khám pháchiều sâu tâm lý nhân vật Vì lẽ đó nghệ thuật độc thoại nội tâm trong sángtác của Y.Kawabata là vấn đề cần phải đợc nghiên cứu một cách hệ thống

và có chiều sâu hơn nữa

Trang 9

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nh tên gọi đề tài, mục đích của đề tài là nghiên cứu về độc thoạinội tâm trong tiểu thuyết Y.Kawabata Đây là một thủ pháp nghệ thuật độc

đáo làm nên phong cách của nhà văn

3.2 Với mục đích đó đề tài có nhiệm vụ

Thứ nhất, khảo sát, giải mã tác phẩm để thấy đợc nghệ thuật độc thoạinội tâm trong sáng tác của Y.Kawabata

Thứ hai, đi sâu tìm hiểu vai trò của độc thoại nội tâm trong việc khámphá tâm lý nhân vật

Thứ ba, trong cái nhìn đối sánh, để khám phá mối tơng quan giữa độcthoại nội tâm và thủ pháp dòng ý thức

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tợng nghiên cứu của đề tài là độc thoại nội tâm trong tiểuthuyết Y.Kawabata

4.2 Y.Kawabata có 14 tiểu thuyết, hiện nay đã đợc dịch ở Việt Nam 6

tiểu thuyết: Xứ tuyết, Cố đô, Ngàn cánh hạc, Tiếng rền của núi, Đẹp và

buồn, Ngời đẹp say ngủ Tuy nhiên trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ

đi vào khảo sát hai tiểu thuyết Tiếng rền của núi và Ngời đẹp say ngủ

5 Phơng pháp nghiên cứu

Tìm hiểu độc thoại nội tâm trong tiểu thuyết Y.Kawabata là một vấn

đề thuộc lĩnh vực tự sự học cho nên phơng pháp tổng quan của chúng tôi làsoi xét tác phẩm từ góc nhìn tự sự học

Để thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng những phơng pháp cụ thể là phântích, tổng hợp, khảo sát, so sánh và thống kê để thấy đợc tần suất xuất hiệncủa các dạng thức độc thoại nội tâm

6 Cấu trúc khoá luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khoá luận gồm ba chơng

Chơng 1 Tiếng rền của núi và Ngời đẹp say ngủ trên hành trình sáng

tạo của Y.Kawabata

Chơng 2 Độc thoại nội tâm với việc khắc họa tâm lý nhân vật

Chơng 3 Độc thoại nội tâm và thủ pháp dòng ý thức

Trang 10

Chơng 1

Ngời đẹp say ngủ và Tiếng rền của núi

trên hành trình sáng tạo của Y.Kawabata

1.1 Y.Kawabata và thời đại phục hng Nhật Bản

1.1.1 Y.Kawabata- chiếc gơng soi trên đỉnh cô đơn

Hào quang từ giải Nobel văn học đầu tiên mang về cho đất nớc NhậtBản đã làm rạng danh tên tuổi của Yasunari Kawabata phần nào xua tannhững hoài nghi còn lại trong giới nghiên cứu và phê bình văn học về giá trịtác phẩm của ông

Là một hiện tợng văn học độc đáo, con ngời Kawabata in dấu trên tấtcả các sáng tác của ông Đó luôn là một sự băn khoăn, khơi sâu cảm hứngkhám phá, giải mã của tất cả những nhà nghiên cứu và độc giả yêu mến tácphẩm của Y.Kawabata

Xuyên suốt trong toàn bộ tác phẩm của Kawabata là cảm thức cô đơn,

sụ ám ảnh của nỗi buồn, tuổi già và cái chết Sáng tác của ông phản chiếumột con ngời cô đơn trong hành trình đi tìm cái đẹp, tìm về với các giá trịtruyền thống dân tộc Mishik Yukio đã phong tặng Y.Kawabata là “Vĩnhviễn lữ nhân” (Eien no ta bi bi to) Nhng nếu nhà văn đã tự nguyện làm mộtlữ nhân lang thang thì định mệnh cuộc đời lại chọn ông là một du khách usầu Nỗi buồn triền miên đeo đuổi suốt cuộc đời của Y.Kawabata và để lạidấu ấn sâu sắc trong toàn bộ sáng tác của nh văn Các tác phẩm củaà văn Các tác phẩm củaKawabata chứa đầy các tình cảm cô đơn, các nỗi ám ảnh vì cõi chết, t tởng

bi quan này có lẽ bắt nguồn từ kinh nghiệm bi thơng của tác giả lúc còn trẻ

- một tuổi trẻ cô đơn

Yasunari Kawabata chào đời ngày 4/6/1899 ở một làng quê gần thànhphố Osaka trong một gia đình thầy thuốc nhng có đam mê văn chơng Thếnhng quãng thời gian yên bình không đợc bao lâu, ông đã phải trải qua mộttuổi thơ đầy mất mát, đau thơng: cha mẹ của Y.Kawabata lần lợt qua đời tr-

ớc khi đứa con trai yếu ớt của họ lên bốn tuổi Dờng nh cha đủ, những cáitang khác dồn dập kéo qua: bà ngoại mất khi Kawabata lên 7 và chị gáimất khi nhà văn lên 9 tuổi Sau đó Kawabata chỉ còn lại một ngời thân duynhất trên đời là ông ngoại, một bệnh nhân mù loà Và rồi vành tang trắng,

ông lại phải đội trên đầu khi ngời ông bỏ lại cậu một mình trên cõi đời.Năm Y.Kawabata tròn 16 tuổi,cái chết của ngời ông để lại trong tim cậu bé

mồ côi một nỗi đau thơng phiền muộn, một vết thơng lòng suốt đời không

Trang 11

thể hàn gắn Những cái tang liên tục của ngời thân trong gia đình dờng nhtạo nên nơi Kawabata một “ vết thơng tâm linh” để lại ngấn tích sâu đậm

trong tác phẩm của ông Tác phẩm đầu tay Nhật ký tuổi 16 xuất bản năm

1925, ấn tợng của một thiếu niên trớc cái chết của ngời thân vẫn còn rõ nét.Những ngày cuối cùng khốn khổ của một ngời già yếu mù loà, cuộc sốngcô độc của một thiếu niên nhỏ bé đối diện với sinh ly tử biệt đợc phản ánhmột cách chân thực

Dờng nh số phận cuộc đời đã chọn Y.Kawabata để giáng xuống nhữngmất mát và cô đơn Khi trởng thành, năm 20 tuổi, Kawabata lại đánh mấtmột ngời mà ông hết lòng yêu thơng, một thiếu nữ 15 tuổi mà ông gọi làChio Y.Kawabata đã cùng nàng hứa hôn khi còn là sinh viên năm thứ haicủa đại học nhng khi mọi việc chuẩn bị xong, nàng thiếu nữ bất ngờ từ hôn

mà không một lời giải thích Chỉ một lá th nhỏ chối từ hôn ớc nhng đãkhiến chàng trai Kawabata nhiều mơ mộng, tại thời điểm đó, gục ngã hoàntoàn, thiên đờng tình yêu đầu đời đã sụp đổ Sự tan vỡ của tình yêu đầu đời,trải nghiệm những đau thơng đổ vỡ của một Nhật Bản bại trận và chứngkiến những cái chết của những ngời bạn thân thiết đã để lại trong con ngờicủa Y.Kawabata một vết thơng lòng, một vết chàm không bao giờ lặn mà

nó thờng xuyên hiện rõ trong tác phẩm của ông Con ngời côi cútY.Kawabata chỉ còn biết tựa mình vào năng lực sáng tạo phong kín vết th-

ơng tâm hồn của mình bằng cuộc tìm kiếm mê mải cái đẹp trong cuộc đời

Trong thiên tuỳ bút Đời tôi nh một nhà văn (Bungeku teki jijoden),

Kawabata gợi lại những kỷ niệm tang tóc đã ghi dấu trên tâm hồn mình:

“Không bao giờ tôi trút đợc ám ảnh rằng mình là một ngời lang thang u sầu.Luôn mơ mộng, tuy rằng chẳng bao giờ chìm đắm hoàn toàn trong mơ, màvẫn luôn thức tỉnh giữa khi mơ”

Thế nhng con ngời có tuổi thơ đầy đau thơng mất mát và quãng đờicòn lại đầy thành tựu ấy lại tìm đến cái chết trong sự cô đơn Ngày16/4/1972 nhà văn đáng kính Kawabata ra đi trong một căn phòng đầy khí

ga bên bờ biển Kamakura Sự ra đi của Y.Kawabata đã làm cho cả nớc Nhật

và những độc giả trên thế giới bàng hoàng, không thể giải thích Bởi vì, hơn

ai hết Kawabata là ngời tỏ ra rất bất bình trớc những cái chết bằng tự sát

Trong tác phẩm Con mắt mạt kỳ (The eyes of the dying), Kawabata đã từng

nói: “Cho dù một ngời có thể chán ghét thế giới này đến thế nào, thì tự sátcũng không phải là một hình thức của khai sáng, cho dù có thể đáng khâmphục thì ngời tự sát còn lâu mới tới đợc cõi niết bàn” Ngay cả khi về với

Trang 12

bên kia thế giới, Y.Kawabata vẫn chỉ là một lữ nhân cô độc, lặng lẽ và khóhiểu Ngời ta không hiểu vì sao con ngời đáng kính ấy lại chọn cách kếtthúc cuộc đời thành công mang nặng dấu ấn bất hạnh từ tuổi thơ nh vậy.Phải chăng “ngời lữ khách mải miết đi tìm cái đẹp” đang bắt đầu khởi hànhcho một chuyến đi đến vùng đất mới.

Các nhà nghiên cứu cho rằng: Ngời Nhật không có “triết lý sống” màchỉ có “triết lý chết” Họ tôn thờ cái chết theo kiểu của Samurai, trân trọngthanh kiếm thép và hoa anh đào bởi tất cả đều là biểu tợng cho một cái chết

đẹp, cái chết danh dự Hoa anh đào - quốc hoa của đất nớc Nhật Bản rụngkhi đang phô sắc đẹp nhất Cái đẹp của hoa anh đào dù rất mong manh,ngắn ngủi nhng đằng sau đó là nét biểu trng cho một cái chết cao cả, đẹp

đẽ Trong tiểu thuyết Tiếng rền của núi, Kawabata cũng nói đến cái chết

khi con ngời ta đang ở trong giai đoạn đẹp nhất: “Con ngời ta cần phải ra

đi, trong lúc còn đợc yêu mến Vì thế chúng tôi rời bỏ thế giới này trongtình thơng yêu của gia đình và của vô vàn bạn hữu cùng các bậc đồngnghiệp, đồng niên” [19; 495] Họ ra đi bởi vì “muốn đợc nhớ đến trong ký

ức của các cháu nh một ngời ông và một ngời bà tốt” [19; 495] Phải chăngY.Kawabata đã lựa chọn cho mình một cái chết mang đậm màu sắc NhậtBản, con ngời Nhật Bản

Trong sự cô đơn của cuộc đời, Kawabata luôn là ngời tìm về với mỹcảm truyền thống Nhật Bản Điều này đợc phản chiếu rất rõ trong các sángtác của Y.Kawabata từ truyện ngắn, truyện ngắn trong lòng bàn tay cho đến

đỉnh cao là tiểu thuyết Cái đẹp gắn bó với bản chất sáng tạo của con ngời,gắn với quá trình hoàn thiện, hoàn mỹ của con nguời Đối với Y.Kawabata,

vẻ đẹp nh là một kinh nghiệm tâm linh Ông nói: “Tôi khám phá, nhờ ánhnắng ban mai, vẻ đẹp của ly cốc dùng uống rợu, phơi ngoài hiên lữ quán.Tôi nhìn thấy vẻ đẹp này tận tờng Tôi bắt gặp vẻ đẹp ấy lần đầu tiên, tôicho rằng mình cha nhìn thấy nơi đâu Không phải loại gặp gỡ này là thiếutính của thơ văn cũng nh đời sống con ngời hay sao?” Không phải ngẫunhiên mà Y.Kawabata đợc mệnh danh là một lữ khách suốt cuộc mải mêtìm kiếm cái đẹp Phơng Đông, cùng với văn hoá truyền thống đã nuôi dỡngtâm hồn Kawabata, tới đẫm trang văn của ông bằng một tinh thần an nhiên

tự tại, bằng cảm thức tôn vinh cái đẹp bình dị, sâu lắng, thâm trầm… đặc biệt là nghệ Trongnhững sáng tác hay nhất của các tác giả cổ điển, Y.Kawabata luôn bị hấpdẫn bởi sự cao vợi của những t tởng thẩm mĩ, ý tởng về một vẻ đẹp có nộidung, tầm quan trọng không gì vợt nổi của nó trong đời sống con ngời và

Trang 13

trong nghệ thuật luôn luôn quyến rũ nhà văn, ám ảnh tâm trí ông, theo với ýthức của ông trong toàn bộ hành trình sáng tạo Con đờng nhà văn đi tìmkiếm cái đẹp vì thế đợc nâng lên thành “đạo” Cho nên, các tác phẩm của

ông đã thể hiện sự nhạy cảm tinh tế của ngời nghệ sỹ và tâm hồn Nhật Bảntrong nỗi khát khao cái đẹp tinh thần thuần khiết hớng tới vẻ đẹp truyềnthống và đấu tranh cho những giá trị tinh thần mang đậm bản sắc phơng

Đông Trong tâm thức đi tìm cái đẹp truyền thống đã mất, Y.Kawabata đãxây dựng thành công mẫu hình nhân vật khát khao đi tìm cái đẹp tinh thầnthuần khiết: Đó là Shimamura trong hành trình đến với xứ tuyết xa xôi, đó

là nhân vật Singo trong Tiếng rền của núi khắc khoải tìm về vẻ đẹp xa cũ

nơi ngời chị gái của bà Yaxuco, là ông già Eguchi khi đến ngôi nhà củanhững ngời đẹp say ngủ để tìm lại tuổi xuân đã mất Dờng nh trong mỗinhân vật đều thể hiện cốt cách con ngời Y.Kawabata: trầm t, chiêm nghiệmtrong nỗi buồn để tìm đến “vẻ đẹp mong manh và ngôn ngữ, hình ảnh ubuồn của hiện hữu trong cuộc sống của thiên nhên và thân phận con ngời”[19; 958]

Nỗi buồn thơng, cô đơn trong hành trình đi tìm cái đẹp truyền thống đãlàm nên phong cách nghệ thuật của nhà văn và đâu đó phản ánh cốt cáchcon ngời Y.Kawabata

1.1.2 Thời đại phục hng Nhật Bản và Kawabata.

Y.Kawabata (1899- 1972) trởng thành và sáng tác văn chơng trong giai

đoạn nớc Nhật có nhiều thay đổi lớn Những năm cuối thế kỷ XIX- đầu thế

kỷ XX, t tởng duy tân của Minh Trị Thiên Hoàng đã thổi một luồng gió mớivào Nhật Bản Tinh thần “học hỏi phơng Tây, đuổi kịp phơng Tây, vợt lênphơng Tây” đã mang đến nhiều biến chuyển đáng ngạc nhiên ở xứ sở PhùTang Nền kinh tế Nhật Bản phát triển vợt bậc Nhà thơ R Tagore khi đếnthăm Nhật Bản vào năm 1916 đã viết: “Châu á thức dậy khỏi giấc ngủ hàngthế kỷ, Nhật Bản nhờ những mối quan hệ và va chạm với phơng Tây đãchiếm một vị trí danh dự trên thế giới Bằng cách đó ngời Nhật đã chứng tỏrằng họ sống bằng hơi thở thời đại chứ không phải bằng những thần thoạihão huyền của quá khứ ”

Trong cuộc đời mình Y Kawabata đã chứng kiến hai cuộc chiến tranhthế giới, mà lần nào nớc Nhật cũng có liên quan Trong đại chiến thế giớilần thứ nhất (1914- 1918), Nhật bản muốn tham vọng bành trớng lãnh thổ

đã lao vào cuộc chiến và đẩy 23 nghìn sinh mạng nhân dân Nhật vô tội đếnchỗ chết Vết thơng chiến tranh vẫn đang âm ỉ đau nhức nhối thì trận động

Trang 14

đất ở Kanto lại cớp đi hơn 10 nghìn nhân mạng khiến đời sống nhân dân vôcùng khó khăn Hơn 20 năm sau, lại một lần nữa, nớc Nhật bị cuốn vào cơnlốc đại chiến thế giới lần thứ hai Cuối cuộc chiến, hai quả bom nguyên tửtrút xuống Hirosima và Nagasaki biến hai thành phố lớn này thành tro bụi

và cớp đi sinh mạng của ba nghìn ngời Một không gian tang tóc và đau

th-ơng bao trùm toàn bộ nớc Nhật Và từ đó Nhật bản hoàn toàn lệ thuộc vào

Mỹ, phải dựa vào Mỹ để khôi phục kinh tế

Y.Kawabata đã chứng kiến những thăng trầm của cuộc sống, đã đợcsống trong một nớc Nhật hoà bình, phồn thịnh cũng nh một nớc Nhật hoangtàn đổ nát sau chiến tranh Thời đại Y.Kawabata sống là thời đại của nhữngbiến cố to lớn đối với cả thế giới nói chung và nớc Nhật nói riêng Từ mộtnhà nớc bớc nhanh trên con đờng t bản chủ nghĩa rồi chuyển sang chủnghĩa quân phiệt, nớc Nhật đã khẳng định sức mạnh của mình Mặt khác sự

lệ thuộc vào Mỹ đã có ảnh hởng không nhỏ đến con ngời, xã hội Nhật Bản

Sự đổi mới về kinh tế đã tác động mạnh mẽ đến đời sống văn học nghệthuật Nhật T tởng triết học phơng Đông nay không còn là độc tôn trớcnhững luồng t tởng phơng Tây: Anh, Pháp, Mỹ đặc biệt là t tởng dân quyềncủa Rutxo Nhiều trờng phái ra đời làm nên một diện mạo đa sắc màu chovăn học Nhật Bản: Văn học Nhật cha bao giờ trẻ trung đến thế, phong phútáo bạo đến thế Một thời đại văn học mới đang thực sự khởi sắc, đang đơmhoa kết trái Văn học châu Âu đầu thế kỷ XX đã đa đến cho văn học Nhật,những nhà cầm bút chuyên nghiệp những kỹ thuật, phơng pháp sáng tác vôcùng mới lạ và có sức hấp dẫn đối với các nhà văn tân tiến Sức hút của nhucầu tìm hiểu, khám phá và thử nghiệm thật mãnh liệt, Y.Kawbata đã từngkhẳng định “tính chất mới” là tất cả và bày tỏ sự khó chịu trớc những cáchviết đã đợc công thức hoá: “Mắt chúng ta rực cháy khát khao đợc biếtnhững điều cha biết Những lời chào hỏi qua lại của chúng ta biểu hiệnniềm vui mừng ở chỗ hiện nay ta có thể tranh luận với nhau bất cứ điều gìmới Nếu một ngời kia nói, “good morning” (tiếng Anh, có nghĩa “xinchào”) và ngời kia trả lời “good morning” thì thật buồn chán Chúng ta đãhoàn toàn trở nên chán ngấy văn chơng vì nó không thay đổi nh mặt trờingày hôm nay vẵn mọc chính xác ở hớng đông nh ngày hôm qua” [14; 42]Nhng lối sống công nghiệp hoá cũng đã huỷ hoại không ít bản sắc vàtruyền thống văn hoá nớc Nhật Kunikida Doppo- một nhà văn xuất sắc củaNhật Bản bấy giờ đã đau buồn viết trong hồi ký: “Xã hội đầu độc và huỷhoại tâm hồn tôi Con ngời chỉ nhìn thấy những gì bề ngoài Còn cái đẹp

Trang 15

và chân lý bên trong tạo hoá không hề rung động anh ta” Y Kawabata đãsống và chứng kiến tất cả, ông đã lặng lẽ phát biểu quan niệm của mình, đã

âm thầm cứu vớt những giá trị truyền thống của dân tộc Và nó đã có mộtsức mạnh rất lớn trong việc thanh lọc tâm hồn, nâng đỡ các thế hệ ngờiNhật thời hậu chiến

1.2 Hành trình sáng tạo văn học của Y.Kawabata

1.2.1 Đến với văn học- định mệnh cuộc đời Y Kawabata

Hồi còn bé, Y.Kawabata vẵn mơ ớc vẽ tranh nhng đến tuổi 15, ôngthấy mình có tài viết hơn là vẽ nên quyết định chọn con đờng văn chơng

Đây có lẽ là duyên nợ của nhà văn đối với nghệ thuật ngôn từ Cùng với nỗikhát khao cái đẹp tinh thần thuần khiết, hấp lực của văn chơng đã thôi thúcnhà văn từ đam mê cầm cọ sang cầm bút Và mối lơng duyên này đã cho ra

đời những đứa con tinh thần - đó là sự nghiệp văn học đồ sộ và những thànhcông rực rỡ trong cuộc đời sáng tác của Y Kawabata

Tác phẩm đầu tay trong văn nghiệp của ông là Nhật ký tuổi 16 đợc viết

năm 1914 và đợc xuất bản 11 năm sau đó Cuốn nhật ký này chịu ảnh hởngcủa nền văn học cổ bên trong hàm chứa hy vọng của một đứa trẻ côi cúttrông mong ngời ông mù loà khỏi bệnh và một nỗi cay đắng của tang thơngmất mát

Thơ ca và truyện ngắn Y.Kawabata đợc ấn hành ngay từ lúc ông còn làhọc sinh trung học Tình yêu thơ ca nh tẩm vào từng trang văn của ông, đặcbiệt đối với loại “truyện ngắn trong lòng bàn tay” mà ông thích viết trongsuốt cuộc đời mình nh ông tự bạch: “Tuổi trẻ trong đời nhiều nhà văn thờngdành cho thơ ca; còn tôi, thay vì thơ ca tôi viết những tác phẩm nhỏ gọi làtruyện ngắn trong lòng bàn tay Hồn thơ những ngày trẻ tuổi của tôi sốngsót trong những câu chuyện ấy” Thời đi học, Y Kawabata thích đọc cáctác phẩm của Akutagawa Riunoske và các tác giả Nhật thuộc nhómSirakaba - là nhóm chủ trơng chống lại cái tầm thờng của chủ nghĩa tựnhiên và cố đi tìm những phơng tiện biểu hiện mới Và sau này, trongphong cách sáng tác của mình Y Kawabata chịu nhiều ảnh hởng củaChekhov và L.Tonstoi đặc biệt là trong cách xây dựng mô típ nhân vật lữkhách đi tìm cái đẹp, mô típ ngời phụ nữ trong trắng, cách kết thúc tácphẩm và nhất là nghệ thuật độc thoại nội tâm phân tích tâm lý nhân vật

Sau cuốn nhật ký là cuốn truyện có tên Đại hội Yasunari mô tả một nữ

diễn viên cỡi ngựa của một rạp xiếc với các ngời bạn của cô ta, trong đó cócác đối thoại ngắn mang nhiều ý nghĩa ẩn dụ khiến cho ngời đọc khó phân

Trang 16

biệt giữa giấc mơ và hiện thực Tác phẩm này dùng một thể văn mới của tr

-ờng phái Tân cảm giác với tính khách quan của tác giả, không can dự vào

nhân vật và tác phẩm đã khiến cho các nhà văn khác phải chú ý trong đó cóKikuchikan

Năm 1920, Y.Kawabata ghi danh vào khoa Văn, Đại học Tokyo Ôngnghiên cứu cả văn học Anh lẫn văn học Nhật Nhng cuối cùng ông tốtnghiệp (năm 1924) với đề tài về tiểu thuyết Nhật Ông tốt nghiệp chỉ vì cácgiáo s muốn cứu một tài tử vợt qua đợc địa ngục thi cử mà thôi Chẳng vìthế, giáo s Fujumura còn khuyến khích Y.Kawabata làm giảng viên ở hai tr-ờng đại học nhng ông đã từ chối

Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Y Kawabata gắn liền với quá trìnhtiếp nhận, đổi mới về cả kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá của Nhật bản.Những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, t tởng duy tân của Minh TrịThiên Hoàng đã thổi một luồng gió mới vào Nhật Bản - vốn đợc coi là “ốc

đảo” Sự phát triển về kinh tế đã làm thay đổi rất nhiều về diện mạo vănhọc T tởng triết học phơng Đông đặc biệt là Trung Quốc và ấn Độ đã ảnhhởng sâu đậm đến truyền thống văn hoá Nhật Bản nay không còn là luồng

t tởng độc tôn khi cơn lốc tự do dân chủ từ phơng Tây ào ạt vào quần đảoNhật Bản Nhiều trào lu trờng phái ra đời: chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa lãngmạn, chủ nghĩa tợng trng, chủ nghĩa tự nhiên đã làm nên một diện mạomới cho văn học Nhật Bản: trẻ trung, phong phú và táo bạo

Suốt những năm 20, Y Kawabata gắn bó với trờng phái Tân cảm giác,

một danh hiệu mà ngời ta thờng gọi nhóm nhà văn tập trung quanh tạp chí

Bungei jidai (Văn nghệ thời đại) trong đó quan trọng hơn cả là Yokomitsu

Riichi và Yasunari Kawabata Đây là một trào lu tìm kiếm những điểm khởihành mới, thoát li chủ nghĩa tự nhiên đang áp đảo văn chơng Nhật từ sauthế chiến thứ nhất: “ Đôi mắt chúng tôi, Kawabata viết, cháy lên niềm khátvọng vơn tới những biểu hiện của niềm vui đợc thảo luận với nhau những gì

đại, Y.Kawabata phục sinh văn xuôi Nhật Bản bằng cách đan dệt những yếu

Trang 17

tố có vẻ tơng phản nh cũ và mới, sống và chết, trinh bạch và nhục cảm, thực

và ảo, con ngời và ngoại vật Đúng nh lời ông tự bạch vào năm 1934: “Tôi

đã tiếp nhận lễ rửa tội nơi văn chơng phơng Tây hiện đại và tôi cũng đã bắtchớc nó, nhng chủ yếu tôi là một con ngời Đông phơng và suốt 15 năm quatôi cha từng đánh mất phong cách ấy của mình”

Trởng thành trong bối cảnh đất nớc, xã hội Nhật Bản có nhiều biến

động, nhiều luồng văn hoá t tởng xâm thực, Y.Kawabata ban đầu hăm hởvới những trào lu mới nhng rồi ông quay về với truyền thống văn hoá tốt

đẹp của dân tộc Con đờng đến với văn học của Kawabata là hành trình trăntrở, lựa chọn, tìm kiếm các giá trị cuộc sống, tìm đến đợc với cái đẹp Sángtác của Kawabata từ việc bắt chớc, học hỏi phơng Tây rồi tìm về truyềnthống dân tộc, Nhật Bản hoá các yếu tố bên ngoài, kết hợp hài hoà Đông -Tây là một hiện tợng có quy luật trong quá trình hiện đại hoá văn học ở khuvực Từ những sáng tác ban đầu chịu ảnh hởng của chủ nghĩa biểu hiện, chủnghĩa đa đa, t tởng của S.Freud, Marcel Praust, James Joyce ông đã quay

về truyền thống yêu cái đẹp trong văn học dân tộc, Nhật Bản hoá phơng Tây

để trở thành ngời cứu rỗi cái đẹp, phục hng văn xuôi Nhật Bản, kết tinh tduy thẩm mỹ và vẻ đẹp tâm hồn dân tộc Vì vậy, tuy Y.Kawabata khôngphải là tác giả mở đầu cho thời kỳ hiện đại của văn học Nhật Bản nhng ông

đợc xem là ngời đã góp phần hoàn thiện diện mạo nền văn học hiện đạiNhật Bản

Truyện ngắn quan trọng đầu tiên của Yasunari Kawabata là Vũ nữ xứ

Izu (1926) đã khiến cho nhiều độc giả phải chú ý Sau khi bị ngời tình nhỏ

tuổi bỏ rơi, Kawabata đã tới hòn đảo Izu vào mùa thu năm 1918, tham giavào đoàn hát lu động vì nhà văn có cảm tình với một vũ nữ trẻ trong đoàn

và những ca sĩ dạo này bị dân chúng địa phơng coi khinh, chẳng khác nào

kẻ ăn xin Tại nhiều làng mạc, ngời dân đã treo các bảng cảnh cáo: “Các kẻ

ăn xin và các ca sĩ dạo hãy tránh khỏi nơi đây” Vũ nữ Izu là câu chuyện

của một sinh viên cô đơn đi tìm niềm an ủi và tình bạn trong một đoàn hát

và tác phẩm chứa nhiều phân đoạn không có khúc đầu, khúc giữa hay khúc

đuôi Các chuyển tiếp đột ngột này mô tả các hình ảnh tơng phản giữa cái

đẹp và cái xấu Văn phong của Y.Kawabata trong tác phẩm này tơng tự nhcủa các nhà văn trong nhóm “ấn tợng” của Pháp sau thế chiến thứ nhất.Tình yêu giữa anh chàng sinh viên và cô vũ nữ là một thứ tình cảm nồng

ấm, nhẹ nhàng và hầu nh trong suốt, kết thúc là một cuộc chia tay nh giấcmộng tàn Tác phẩm mang một vẻ đẹp tơi mát, trong ngần nh “con suối tràn

Trang 18

đầy nớc sau trận ma, óng ánh dới mặt trời vào ngày mùa thu trong trẻo của

xứ Izu khi tiết trời vẫn còn ấm áp nh mùa xuân”[19; 16]

Sau cuộc động đất năm 1923 xảy ra tại thành phố Tokyo, YasunariKawabata đã đi lang thang trong nhiều khu phố nơi này, vào ban ngày cũng

nh ban đêm, tay cầm cuốn sổ ghi, quan sát những cảnh tàn phá của thiêntai, cảnh đau khổ của các nạn nhân Những xúc động đợc nhà văn mô tả

trong cuốn Băng đảng Asukusa (1929) Tác phẩm đợc đăng trên Nhật Báo

Asahi của Tokyo, mang lại danh tiếng cho nhà văn bởi vì qua tác phẩm, tácgiả không muốn mô tả khu phố Asakusa theo chiều hớng xã hội mà muốn

chia sẻ với độc giả các cảm xúc của các nhà văn Tân duy cảm.

Tác phẩm Cái kim, cái ly và con nhái của Y Kawabata xuất bản năm

1930 bị coi là chịu ảnh hởng của Jame Joyce khi tác phẩm Ulysses đợc dịch

ra tiếng Nhật năm 1930 Tác phẩm của Kawabata đã mô tả nội tâm củanhân vật Asako, ngời vợ đã làm nhiều điều sai trái vì ghen tuông khi tìmthấy một tấm hình đàn bà khác trong tủ hồ sơ của chồng và tác giả đã mô tả

sự liên hệ yêu - ghét trong tâm hồn của Asako theo cách phân tích củaFreud

Trong nhiều năm , Y.Kawabata đã từng theo đuổi một cuộc đời hoàntoàn riêng t nhng từ năm 1930, ông đã tham gia tích cực vào thế giới vănchơng Y.Kawabata ở trong nhóm chủ trơng của nhiều tạp chí, kể cả tạp chí

thế giới văn học Năm 1934, ông đợc chỉ định vào nhóm Hội thảo văn học.

Vào thời kỳ này Kawabata và Yokomitsu là hai nhà văn trẻ và nhóm hộithảo có ý định làm thăng tiến một phong trào “phục hng” trong giới nhà vănNhật Bản

Từ mùa xuân năm 1939, Kawataba viết những trang đầu của một tácphẩm rồi ra sẽ trở thành quốc bảo của văn học hiện đại Nhật bản mang tên

Xứ tuyết Mất 12 năm, tác phẩm mới hoàn tất Trong tác phẩm này, nhân vật

Shimamura từ Tokyo đáp tàu lên phơng Bắc xứ tuyết vì tình yêu với thiênnhiên mê hồn và con ngời trong sáng nơi đây Chàng đến 3 lần, qua cácmùa khác nhau: xuân, đông và thu Cái đẹp của tuyết, của các mùa và phụ

nữ luôn luôn lấp lánh qua từng trang văn đẹp nh thơ Xứ tuyết đánh dấu

nghệ thuật miêu tả tâm lý phụ nữ tuyệt diệu của Y Kawabata Nhà nghiêncứu Donald Kane đã nhận xét rằng: “Nếu ông không viết thêm một tácphẩm nào khác thì hình ảnh Komako sẽ vẫn mang lại cho ông danh tiếngcủa một chuyên gia tâm lý học về phụ nữ” [19; 1054] Vẻ đẹp hồi tởng vớicâu đầu “Qua một đờng hầm dài giữa hai vùng đất và thế là đã tới xứ tuyết”

Trang 19

[19; 221], tác phẩm Xứ tuyết là một trong ba tiểu thuyết đợc Viện hàn lâm

Thụy Điển xét để tặng giải Nobel văn chơng cho Y.Kawabata năm 1968 bởivì tác phẩm đã nói một câu chuyện thần tiên, h vô tại một nơi bên ngoài cácgiới hạn của đời sống thờng ngày Qua các ẩn dụ trong tác phẩm,Y.Kawabata đã làm cho độc giả cảm nhận đợc các sự thật sâu xa trong hoàn

cảnh của con ngời, một thứ “cố gắng vô ích” Xứ tuyết là cuốn tiểu thuyết đề

cập tới sự duyên dáng, hấp dẫn không những của ngời nghệ sĩ geisha màcủa giới phụ nữ Nhật Bản và mặc dù những nét vẻ mới lạ của văn chơng, tácphẩm này vẫn gần với các tác phẩm văn học thời kỳ Heian

Vào năm 1940, Y.Kawabata tham gia vào hội các nhà văn Nhật cùngvới các nhà văn danh tiếng nh Itoosei, Kishida Kunio, Yoko Mitsu Riichi,Hino Ashihei Trớc cảnh chiến tranh tàn phá, cảnh ngời dân điêu linhKawabata tin rằng mình phải duy trì các vẻ đẹp Nhật Bản, giống nh ẩn dụtrong lời thơ của thi sĩ danh tiếng Tufu: “Quốc gia đã bị thất bại nhng núisông vẫn còn”

Sau thế chiến thứ hai đứng trớc cảnh tang thơng của đất nớc,Y.Kawabata tuyên hứa rằng ông sẽ sống nh hồn thiêng sông núi và từ nay

ông sẽ chỉ viết những tác phẩm bi ca mà thôi

Lần lợt những khúc bi ca trong dạng tiểu thuyết ra đời: Danh thủ cờ

Gô, Tiếng rền của núi, Hồ, Cố đô, Cánh tay, Ngời đẹp say ngủ, Đẹp và buồn, Tóc dài Với các tác phẩm phảng phất một niềm bi ca đẹp đẽ,

Y.Kawabata dờng nh thắp sáng lại ngọn đèn huyền ảo nghìn xa bằng ánhlửa mới ánh lửa ấy dung hợp trong nó tính hiện đại sắc sảo với phong tháicô đọng của thơ Haiku, dòng ý thức đầy phức tạp của con ngời thế kỷ XXvới tinh thần trầm mặc của thiền tông Tác phẩm của Kawabata tạo nênmột nguồn cảm hứng lớn lao, thúc đẩy mọi ngời khám phá cái đẹp trong thếgiới quanh mình nh chính ông đã sáng tạo không ngừng để cứu vớt cái đẹp

ra khỏi trầm luân, dung tục

Tiểu thuyết Ngàn cánh hạc (1949) xuất hiện làm rạng danh tên tuổi

của Y.Kawabata, khẳng định tài năng phân tích tâm lý nhân vật của ông.Tiểu thuyết ca ngợi vẻ đẹp của trà đạo và của các nghi thức uống trà, bày tỏmột sự tiếc nuối khi lễ uống trà đã bị biến chất tới trình độ tầm thờng vì tínhthơng mại hoá Trong lễ uống trà, mỗi đồ vật đều mang các vẻ đẹp đặc biệt

và trên hết là vẻ đẹp thuần chất của ngời con gái quấn chiếc khăn quàng có

in hình một ngàn cánh hạc

Trang 20

Con đờng đến với văn chơng của Y Kawabata cũng là con đờng tìm về

những giá trị đẹp đẽ của truyền thống văn hoá Nhật Bản Tiểu thuyết Cố đô

nói lên đợc vẻ đẹp của thành phố Kyoto - vốn là thủ đô cũ của nớc Nhật vàcác truyền thống cổ và những phụ nữ Kyoto còn giữ đợc sự duyên dángkhông bị nền văn hoá phơng Tây làm biến chất

Ngoài tiểu thuyết, Y Kawabata còn sáng tác nhiều truyện ngắn và

“chởng chi tiểu thuyết” (truyện ngắn trong lòng bàn tay) Phơng diện nào

ông cũng có thành tựu đáng kể Tại Việt Nam, truyện ngắn và truyện ngắn

trong lòng bàn tay đợc dịch rất nhiều: Vũ nữ Izu, Về chim và thú, Trăng soi

đáy nớc, Tiếng gieo xúc xắc ban khuya, Cánh tay, Vịnh cánh cung, Cốt, Miền ánh sáng, Gơng mặt ngời chết, Điạ tang vơng bồ tát Oshin… đặc biệt là nghệ

Nhng có lẽ để lại dấu ấn đậm nét và đa lại hào quang chói sáng chovăn học Nhât Bản ở Y.Kawabata là thể loại tiểu thuyết với bộ ba tiểu thuyết

Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô đạt giải Nobel văn học năm 1968 và các

tiểu thuyết nổi tiếng gây sự chú ý nh: Tiếng rền của núi và Ngời đẹp say

ngủ sẽ đợc chúng tôi bàn đến ở phần sau của khoá luận.

Điểm qua hành trình đến với văn học của Kawabata, ông đã để lại một

sự nghiệp phong phú, đồ sộ và thành công trên nhiều thể loại Hành trình cô

đơn, gian khổ nhng thành công rực rỡ Điều này đã đợc minh chứng bằnggiải thởng Nobel đầu tiên trong văn học Nhật Bản - Y Kawabata Tiến sĩAnders Sterling trong lời giới thiệu giải Nobel văn chơng năm 1968 đã bày

tỏ lòng tôn kính đối với văn hào Kawabata: “Tha ông Kawabata Lời tuyêndơng của Viện Hàn lâm đã nhắc tới nghệ thuật tự sự bậc thầy của ông, bằng

sự nhạy cảm lớn lao, đã biểu hiện tinh tuý của tâm hồn Nhật Bản” [19;960] Cuộc đời ông là một lữ khách tận hiến tâm hồn cho cuộc tìm kiếm cái

đẹp Nhng dù ông đã ra đi thì cái đẹp mà ông đã sáng tạo vẫn còn đó và vơntới ngày mai

1.2.2 Văn chơng Y Kawabata - tác phẩm mở của ph“ ” ơng Đông

Tính chất mở của văn chơng Kawabata ở đây chúng tôi muốn nói đến

sự “khai thông mở cửa” một nền văn hoá văn học của đất nớc Nhật Bản - vốn

đợc coi là một “ốc đảo”, quần đảo khép kín Các tác phẩm của Y Kawabata

chính là Cánh cửa tâm hồn Nhật Bản đối với thế giới Thuỵ Khuê viết: “Từ

Murasaki đến Y Kawabata, trải dài 10 thế kỷ, chúng ta lại tìm thấy tâmhồn Nhật Bản trong Kawabata [19; 986 ] Các tác phẩm của Y Kawabata

dù ở bất kỳ thể loại nào mà ông thử nghiệm đều là những “mĩ th” đợc yêumến và trân trọng nh bất kỳ một báu vật nào trong di sản mà ông để lại cho

Trang 21

loài ngời Với giải thởng Nobel văn học 1968, Kawabata đã cùng vớiR.Tagor góp phần mở cánh cửa văn hoá t tởng phơng Đông vốn đợc coi làthần bí, khó hiểu đối với độc giả trên toàn thế giới Vì sao Y.Kawabata lạilàm đợc điều đó? Chúng ta sẽ lý giải bằng những đặc trng trong tác phẩmvăn học của ông.

Nhật Bản có một nền văn chơng vô cùng độc đáo Nằm trong khu vựcvăn hoá đồng văn nhng do tình thế địa lý, quá trình lịch sử mà Nhật bản đãxây dựng cho mình một nền văn hoá, văn học đậm đà bản sắc dân tộc vớinhững giá trị riêng chung bền vững Kawabata chính là ngời lữ khách miệtmài tìm kiếm, thanh lọc và chuyển tải những giá trị truyền thống văn hoácủa đất nớc, con ngời Nhật Bản “Trong quá trình tiếp nhận văn hoá, có thểnói nguồn mạch linh hồn của xứ Phù Tang chính là gốc rễ văn hoá bản địakết hợp với văn hoá Trung Quốc và ấn Độ Trong ba nền văn hoá lớn củaphơng Đông, nếu ấn Độ đợc coi là duy linh, Trung Quốc duy lý thì NhậtBản lại rất duy mĩ, duy tình Văn hoá Nhật thiên về tình cảm và cái đẹp.Chính vì vậy, dù không có những bộ kinh điển hay sử thi đồ sộ nh ấn Độhay hệ thống giáo lý nh Trung Quốc nhng văn chơng Nhật Bản vẫn rất hấpdẫn bởi sự gần gũi đời thờng” [14; 9] Đặc trng này đợc soi chiếu rất rõ trongsáng tác của Y Kawabata Các sáng tác của Y Kawabata đều tìm đến tôn thờcái đẹp Cái đẹp trong thơ văn nhật Bản đợc nâng lên thành đạo trong các bộmôn nghệ thuật: trà đạo, võ sĩ đạo, thần đạo, hoa đạo (nghệ thuật cắm hoaIkenana)… đặc biệt là nghệ Tôn thờ cái đẹp trong mọi khía cạnh của đời sống, lòng tôn sùng

ấy nhiều khi đi ngợc lại cả với những cấm kỵ của tôn giáo và luân lý Cũngvì thế mà trong một số tác phẩm của Y Kawabata bị phê phán, gây nhiều

tranh cãi, Ngời đẹp say ngủ - tiểu thuyết viết về ông già Eguchi đi tìm lại

cái đẹp của tuổi xuân đã mất nhng khi vừa mới ra đời bị kết án là “suy đồi

đạo đức” Nhng đằng sau màu sắc mang vẻ nhục dục ấy là sự nuối tiếc tuổixuân đã qua và ca ngợi cái đẹp thuần khiết, trinh trắng Những cô gái đangsay ngủ trần truồng theo truyền thống t tởng Trung – Nhật chính là do BồTát hoá thân

Văn hoá truyền thống Nhật Bản có rất nhiêu tiêu chí để khẳng địnhbản sắc thẩm mĩ trong đó các văn nghệ sỹ sử dụng bốn nguyên lý cơ bản đểtôn vinh cái đẹp, đó là Mono no Aware, Sabi, Wabi, và Yugen Đó là nhữngnguyên lý có nguồn gốc từ Thần đạo và Phật giáo Đối với ngời Nhật,chúng là một phần của cảm giác, là cái để cảm nhận bằng trực giác hơn lànăm giác quan thông thờng Trong sáng tác của các nhà văn hiện đại sau

Trang 22

này, Yasunari Kawabata là ngời kế thừa sâu sắc nhất những tinh thần ấy.Không thể phủ nhận Y.Kawabata là một nhà văn hiện đại với những kỹthuật tân tiến Âu Châu đơng thời, nhng ông mãi mãi là một nhà văn mangdòng máu thuần chủng á Đông nh ông từng khẳng định: “Về bản chất tôi

đích thực là ngời phơng Đông”

Tác phẩm của Kawabata thờng đợc ngợi ca là mang đậm chất thơ, nỗi

u buồn, với những vẻ đẹp nhuần nhị dễ đi vào lòng ngời Đó chính là vẻ đẹpcủa ngày thờng, là dấu ấn của thời gian, niềm tịch tĩnh mà ngời đọc có thểcảm nhận từ tác phẩm của ông Đó là không gian của niềm cô tịch, lànhững khung cảnh hùng vĩ mà yên tĩnh, bát ngát nhng thâm sâu, là những

đồ vật đã trải qua dãi dầu ma nắng, qua bao thời gian, bao tay ngời Nhữnghình ảnh, chi tiết điểm xuyết trong từng truyện ngắn, tiểu thuyết củaKawabata đem lại cho tác phẩm một sự lắng đọng, thâm trầm cần thiết vàtạo ra dấu ấn sáng tạo cá nhân đặc biệt của tác giả, “rất Nhật Bản” Đó là

những rừng bá hơng hùng vĩ (Tiếng rền của núi), là cây trà hoa quắt khổng

lồ trong khuôn viên đền Sabukidera (Ngời đẹp say ngủ ) “Cảm tởng đầu

tiên khi đợc Kawabata, là niềm tự hào thầm kín của ông về văn hoá Nhật.Một niềm tự hào không phô trơng nh khẩu hiệu, không chai cứng trongtrạng thái đông đặc bất biến mà toả rộng nh thứ hơng thơm thầm kín baotrùm không khí văn chơng nhng bất định cha thành hơng Thấm nhuần t t-ởng Tây phơng, nhng Kawabata không hề đem, không hề dùng hành lý Tâyhọc làm mẫu mực xây dựng nghệ thuật t tởng của mình Sau những say mê

đổi mới theo nhịp phơng Tây thời đầu khi mới bớc vào sáng tác, Kawabatatrở về nguồn cội, tìm đến ngời mẹ tiểu thuyết, và ông đã gặp lại tâm hồnNhật Bản” [19; 986]

Tâm hồn Nhật Bản ấy là “vẻ đẹp buồn thơng”, là “nỗi buồn sự vật” đợcdùng để “gợi tả vẻ đẹp tao nhã, nỗi buồn dịu dàng pha lẫn cảm xúc vô th-ờng của phật giáo” Khi đã là một nhà văn nổi tiếng, sau thất bại của Nhật ởthế chiến thứ hai, chính Y.Kawabata cũng đã tự bạch: “Từ sau thất bại, tôichìm vào nỗi buồn, một nỗi buồn ngự trị triền miên trong tâm thức ngờiNhật chúng tôi” Đây có phải là nỗi buồn chung cho tất cả ngời Nhật haychỉ là những xúc cảm của riêng nhà văn - một cách Kawabata diễn đạt sựrối bời mang tính bản thể - nỗi buồn của một ngời đã trởng thành nhng luônmang trong mình vết thơng của một đứa trẻ mồ côi, mất mát và cô đơn giữathế giới

Trang 23

Dù nỗi buồn có là gì đi nữa thì Kawabata cũng đã định hớng cho mìnhmột con đờng, rằng từ thời điểm chiến tranh kết thúc ông sẽ chỉ viết những

ca khúc bi thơng Và ông đã làm nh vậy, sáng tạo ra những trang văn vàoloại độc đáo và gây ấn tợng nhất của thế kỷ XX - là nhà văn lớn cuối cùnghoài niệm về một Nhật Bản xa xa và cổ kính Ngày nay, các nhà văn Nhậtdờng nh gần gũi hơn với độc giả phơng Tây, từ nhà văn đoạt giải Nobel năm

1994 Kenzaburro Oe đến cây bút mới nổi Haruki Murakami, họ mang quan

điểm, tham vọng, phong cách của những ngời theo chủ nghĩa quốc tế Họgần gũi với văn hóa bình dân, với Hollywood, với ngôn ngữ Mỹ và sự bùng

nổ của công nghệ mới Y.Kawabata thì khác, ảnh hởng bởi sự khổ hạnhtruyền thống và dáng vẻ mong manh nhỏ gọn của những vần thơ Haiku, ông

là một nhà tiểu họa hớng về những gì tinh tế, ông cô đọng sự vật trong khingời khác phóng to và giãn rộng nó ra Cũng giống nh Hemingway hoặcgần đây hơn là Kazuo Ishiguru - ngời từng thừa nhận những ảnh hởng củaKawabata tới tác phẩm của mình - ông dành ra không gian riêng cho những

điều không nói hết, hoặc không lý giải tờng tận Đọc ông cũng có nghĩa là

đồng sáng tạo.Y.Kawabata buộc ngời đọc phải diễn giải và tởng tợng, tự tômàu cho những khoảng trắng mà ông đã tạo ra trong câu chuyện Tiểuthuyết của Y Kawabata dờng nh không bao giờ có kết thúc đóng, mang đếncho ngời đọc kết cục bất ngờ, không nh mong đợi, không giải quyết vấn đềtheo những cách thức truyền thống

Quả thực, đọc văn Y Kawabata, ngời đọc tìm thấy một sự hòa điệu,

t-ơng giao với thi pháp chân không trong mỹ học thiền Chính Y.Kawabata

đã từng khẳng định: “tác phẩm của tôi thờng đợc miêu tả nh tác phẩm củachân không” [19; 1061] Cái chân không đó thờng thấy trong thơ Haiku,trong tranh thủy mặc, trong sân khấu Noh, trong vờn đá cảnh… đặc biệt là nghệ và đều khởinguồn từ mĩ học thiền Các văn phẩm của Y.Kawabata thờng bỏ qua sự cânbằng của kết cấu, bỏ qua sự thiết yếu của cốt truyện để thờng tỏa sáng bấtngờ trong từng chi tiết, trong vẻ điềm tĩnh, giản dị đến vô thờng của chuyện

kể Cũng vì thế, các nhân vật trong sáng tác của ông, dù đau đớn hay vuimừng thì thái độ, hành động cũng vẫn mang những thuộc tính cố hữu trongtâm hồn ngời Nhật - an nhiên đến vô thờng Nhật Chiêu cũng đã từng viết:

"Đó là tên một số chơng sách của Y.Kawabata Đọc lớt qua chúng, nghe

nh có ai đó đang nói về các đề tài của thơ Haiku Chúng chẳng chỉ định một

điều gì cả Chúng chỉ giới thiệu cho ta tiếp xúc với thiên nhiên, vạn vật

Trang 24

Việc còn lại chúng ta mở mắt mà nhìn, lắng tai mà nghe và trải lòng ra đón

đợi” [19; 1062 ]

Là một ngời Đông phơng, đọc văn Kawabata chúng ta có một niềm tựhào thầm kín, rằng phơng Đông chúng ta cũng có những nhà văn mở đờngcho một nền văn học “mở”, chúng ta có một nghệ thuật “mở” rất Đông ph-

ơng, chúng ta gặp lại hành trình t tởng phơng Đông trong một kỹ thuật viếttĩnh “sắc tức thị không, không tức thị sắc” Thụy Khuê viết: “VớiY.Kawabata, độc giả lạc đến một vùng đất lạ, đầy những nét cá biệt cònnguyên chất cốt Nhật Bản Riêng chúng ta, ngời đọc - không phải là ngờiNhật - bớc vào tác phẩm của Kawabata nh vào một hành tinh cha từng thămviếng bao giờ” [19; 988]

Không phải ngẫu nhiên mà Y.Kawabata đợc đánh giá là ngời “NhậtBản nhất” Bởi tác phẩm của ông đã kết tinh những tố chất đẹp nhất củatruyền thống văn chơng Nhật mà ngời ta tìm thấy trong các kiệt tác tiểuthuyết và tùy bút thời kỳ Heian (794- 1185), trong sân khấu Noh, trong thơHaiku… đặc biệt là nghệ Khởi nguồn từ truyền thống t tởng dòng máu Đông phơng, tâmhồn Nhật bản, từ dòng máu, từ thân xác, tâm hồn Nhật Bản ấy chảy vào đời

sống, qua những long mạch, xuyên qua nghệ thuật Gheisha trong Xứ tuyết, theo những bớc tàn tạ, phá sản của trà đạo trong Ngàn cánh hạc, tản mạn những mất mát, vụn rã của đời ngời trong Tiếng rền của núi, và cháy tan những đam mê muộn màng, tàn úa trong Ngời đẹp say ngủ… đặc biệt là nghệ Mỗi tinh cầu

là một cõi riêng chứa đựng tâm hồn Nhật Bản

Bút pháp của Y.Kawabata hết sức cô đọng Đó là một thủ pháp “bỏtrống” khiến cho các tác phẩm của ông đều thâm trầm và độc đáo Ôngdung hợp đợc khoảng trống trong nghệ thuật phơng Đông (thi ca, hội hoạ)với những thủ pháp của phơng Tây hiện đại Ngòi bút tài hoa của ông đãphục sinh văn xuôi Nhật Bản bằng cách đan dệt những yếu tố có vẻ tơngphản nh cũ và mới, sống và chết, thực và ảo, con ngời và ngoại vật… đặc biệt là nghệ Vàcũng bằng những sáng tác của mình Y.Kawabata lặng lẽ tạo dựng cho ngờiNhật niềm tin yêu vào những điều kỳ diệu đã từng làm nên bản sắc bao đờinay của ngời dân xứ sở mặt trời mọc Trong toàn bộ trớc tác của mình,Y.Kawabata luôn tôn vinh vẻ đẹp Nhật Bản, bằng cách này hay cách khác,gián tiếp hay trực tiếp, phủ định hay khẳng định thì điều cuối cùng mà ngời

ta cảm nhận đợc qua tác phẩm của ông là một thế giới lung linh màu sắccủa vẻ đẹp Nhật ở thiên nhiên, con ngời, lối sống, tình cảm và tâm hồn

Trang 25

Hơn bất cứ một tác phẩm nào, diễn từ nhận giải Nobel văn chơng 1968của Y.Kawabata chính là “cánh cửa tâm hồn Nhật Bản” đối với thế giới.Văn chơng của ông đã khai thông cánh cửa thâm trầm, thần bí của văn hoáNhật Bản, mỹ học Thiền, t tởng triết học phơng Đông.

1.2.3 Tiếng rền của núi và Ngời đẹp say ngủ

Y.Kawabata viết rất nhiều thể loại và ở thể loại nào cũng có thành tựu

đáng kể Song thể loại tiểu thuyết đã đa tên tuổi nhà văn lên đến đỉnh caotrong suốt cuộc đời cầm bút của mình Mỗi tiểu thuyết của Y.Kawabata làmột di sản văn hoá quý giá trong kho tàng văn hoá văn học Nhật Bản nóiriêng và thế giới nói chung Cha kể đến hàng loạt truyện ngắn trong lòngbàn tay và truyện ngắn, chỉ riêng hơn chục tiểu thuyết đã đợc xuất bản củaY.Kawabata đa đến cho ông một sự nghiệp văn chơng đồ sộ và thành côngrực rỡ Những cái tên tiểu thuyết của ông đợc ngời Nhật và độc giả yêu mến

Kawabata nhắc đến nh một niềm tự hào thầm kín mà thiêng liêng: Xứ tuyết (1947), Ngàn cánh hạc (1951), Tiếng rền của núi (1952), Đẹp và buồn (1960), Cố đô (1961)Ngời đẹp say ngủ (1969).

Còn một số cuốn tiểu thuyết đợc đánh giá cao nhng cha đợc dịch sang

tiếng việt nh: Hoàng đoàn ở Asakusa (Asakusa Kurenai dan, Theasakusa crim son gang, 1930), Cao thủ cờ Gô (Meijin, Master of go, 1954); Cái hồ

(Mizuumi, The lake, 1954)… đặc biệt là nghệ

Tiểu thuyết Y.Kawabata mang một vẻ đẹp tinh sạch, thuần khiết,nhuần nhị đến vô ngần, phảng phất một niềm bi ca đẹp đẽ Trong toàn bộtiểu thuyết của ông ta bắt gặp một Y.Kawabata trầm lặng, cô độc, chìm

đắm trong suy tởng và mải miết đi tìm những cái đẹp, thậm chí không phải

đi tìm mà nhìn vào, nhìn một cách tò mò và chăm chú để phát hiện ra cái

đẹp bên trong giá trị vĩnh hằng của đời sống và thân phận con ngời Trong

đời sống cũng nh trong văn chơng ta chỉ thấy một Kawabata thâm trầm vàvăn phong bình dị, và sâu lắng không có xung đột, mâu thuẫn, không có sựxô bồ của cuộc sống mà chỉ là nh một dòng chảy miên man của dòng suynghĩ, dòng ý thức về nhân thế, về con ngời Seidensticker nói: “Kawabata làmột tín đồ nhiệt thành của niềm lặng im” [19; 1073] và khi phân tích sáng

tác của Y.Kawabata trong cuốn Các nhà văn Nhật hiện đại, Anno Suekiti

nhận xét: “Mỗi lần đọc tác phẩm của Kawabata tôi lại cảm thấy các âmthành xung quanh tựa hồ lắng đi, không khí bỗng trở nên trong trẻo, còn tôithì hoà tan vào trong đó Tôi không biết có tác phẩm nào khác có sức tác

động mạnh mẽ đến nh thế không? Và sở dĩ có hiện tợng nh vậy bởi vì trong

Trang 26

các sáng tác của Y.Kawabata không có gì là vẩn đục hay dung tục… đặc biệt là nghệ” [19;1052].

Khởi nguồn từ mỹ học Thiền, cắm rễ từ t tởng triết học Nhật Bản,

ph-ơng Đông về cái “h vô”, “không tồn”, bằng một nghệ thuật điêu luyện, bútpháp tinh tuý ngng đọng thi pháp “chân không”, Kawabata đã đa tiểu thuyếtNhật Bản lên đến đỉnh cao của việc diễn tả thế giới nội tâm mơ hồ, bí ẩn,tinh vi của con ngời mà không quên phản ánh những đợt sóng ngầm xung

đột âm thầm mà dữ dội của thời đại

Tiểu thuyết của Kawabata dờng nh không có cốt truyện, không có khởi

đầu cũng không có kết thúc Tất cả chỉ là những mãng ký ức, cảm xúc vàtâm thức đan bện, kết nối, xâu chuỗi lại với nhau Con ngời trong tiểuthuyết của ông là những con ngời yêu thiên nhiên, giàu đức tận hiến, hi sinh

và mẫn cảm với cái đẹp: đó là Shimamura trong Xứ tuyết, Kikuzi trong

Ngàn cánh hạc, Sirgo trong Tiếng rền của núi, Ogi trong Đẹp và buồn,

Takichiro trong Cố đô và Eguchi trong Ngời đẹp say ngủ… đặc biệt là nghệ Họ luôn là ngờimang trong mình nỗi cô đơn trong bi khịch tinh thần, sự ám ảnh vê tuổi già

và cái chết và một nỗi khát khao cái đẹp tinh thần thuần khiết

Đỉnh cao trong toàn bộ đời văn của Y.Kawabata là bộ ba tiểu thuyết:

Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc và Cố đô đợc Viện Hàn lâm Thuỵ Điển trao giải

thởng Nobel năm 1968

Và thành công nổi bật nhất trong tiểu thuyết của ông là một biểu hiệnmột cách độc đáo, tinh tế thế giới tâm hồn của con ngời Nhật Bản sau chiếntranh trong cuộc sống xô bồ, ồn ã hiện đại bằng những kĩ thuật viết văn ph-

ơng Tây: độc thoại nội tâm và thủ pháp dòng ý thức mà tiêu biểu nhất là hai

tiểu thuyết: Tiếng rền của núi và Ngời đẹp say ngủ.

Tiếng rền của núi (1950 - 1952) là tiểu thuyết đợc viết ra bằng thế giới

cảm giác sâu sắc của Y.Kawabata Có thể nói đây là tiểu thuyết viết về cái

chết và những linh cảm về cái chết So với Xứ tuyết và Ngàn cánh hạc,

Tiếng rền của núi mở ra phong cách mới thứ ba trong nghệ thuật Kawabata.

Tiếng núi trần trụi là tiếng cuộc sống hằng ngày, không xó cốt truyện,

không tình tiết, không cả bút pháp h ảo nh trong Xứ tuyết, cũng không có những hình tợng phi thờng, tạc vào ký ức ngời đọc nh trong Ngàn cánh hạc,

Tiếng rền của núi là tiếng bên trong, tiếng ở dới, tiếng thì thầm rạn vỡ,

không thể nghe thấy trong cuộc sống hàng ngày ở đây là tiếng rạn vỡ củamột cá nhân, một gia đình nh tất cả mọi gia đình bình thờng khác trongcuộc sống tầm thờng gần nh vô vị, “không có gì để viết” nh Samuel Beckett

Trang 27

đã từng thốt lên Tiếng núi chính là bức thông điệp về một sự ám ảnh, sựdằn vặt bất an chống lại tuổi già một cách vô vọng ngay giữa những ngờithân yêu nhng trong một cuộc sống quá đỗi chông chênh và mong manh.

Đó là một cảnh “sống mòn” hay “chết mòn”

Nh hầu hết các tiểu thuyết khác của Y.Kawabata, Tiếng rền của núi cô

đọng trong hơn 200 trang Tính chất fragment, từng mảng trở thành yếu tốcấu trúc chính trong tác phẩm và cũng là thủ pháp lắp ghép của tiểu thuyếthiện đại với chủ đích đến gần sự thật hơn

Tiếng rền của núi, tuy đợc viết cùng thời với Ngàn cánh hạc nhng với một quan niệm khác, Ngàn cánh hạc Nếu Xứ tuyết và Ngàn cánh hạc chiếu

vào những chân dung phụ nữ, đặt trong bối cảnh xã hội Nhật Bản xa rờitruyền thống, là những tiếng xa gọi về hiện tại thì sơn âm là tiếng núi vọnglên từ lòng đất, không mang quá khứ hiện tại, bỏ cả bối cảnh xã hội để chỉgiữ lấy phần phi thời gian, chiếu thẳng vào nội tâm con ngời, một ngời đàn

ông: Ogata Singo Singo đã nghe thấy tiếng núi trong một nỗi sợ hãi mơ hồvì đó là lúc ông đối diện gần nhất với chính nỗi đau trong quá khứ, khaokhát trong hiện tại và cảm thức rõ rệt nhất sự cô đơn đến tuyệt đối trong gầnsuốt cuộc đời mình Trong sâu thẳm tâm cảm, Singo đi từ thất vọng này đếnthất vọng khác: từ mối tình đơn phơng với ngời chị gái của bà Yaxuco đếncảm thấy có lỗi trong cuộc sống riêng t của ngời con gái Fuxaco khônghạnh phúc và ngời con trai Suychi ngoại tình Niềm đồng cảm duy nhất mà

ông còn tìm thấy đợc ở cô con dâu Kikuko nhng đồng thời ông phải đau

đớn bất lực trớc sự dày vò mà chính con trai ông mang lại cho niềm hi vọngmong manh ấy Tình yêu mà ông dành cho Kikuko trong thực tại chính làmột cứu cánh cho tâm hồn ông trong những năm tháng tuổi già với mục

đích giảm nhẹ gánh nặng cô đơn nặng trĩu ngự trị trong ông suốt cả cuộc

đời Nhng ông không thể nào làm xao động cái mặt nớc hồ thu vốn đã yênbình trong trẻo trong tâm hồn Kikuko Singo vẫn phải sống trong bi kịchcủa khao khát tình yêu và tuyệt vọng

Sơn âm là tiếng vọng trong tâm hồn những lão ông cha đủ già để anphận và đã qua thời trẻ để có thể xây dung lại cuộc đời Sơn âm cũng làngọn đồi chôn những tạp âm chồng chất của cuộc sống bị dồn ép trong cõikhông nói đợc, không thể thổ lộ đợc của một kiếp ngời Chúng ta đã thấy

đôi mắt lạ lùng của Kawabata trong Xứ tuyết và Ngàn cánh hạc thì ở Tiếng

rền của núi là sự tinh nhạy của đôi tai Với độ nhạy cảm bất bình thờng,

suốt cuộc đời Singo đã nghe và cảm thấy âm thanh của cuộc sống xung

Trang 28

quanh, từ tiếng hạt dẻ rơi trong bữa tiệc cới, tiếng ngáy của ngời vợ đếntiếng sơng rơi trên lá… đặc biệt là nghệ ở độ nhạy cảm nh thế, cuộc sống tầm thờng sẽ cómột ý nghĩa khác thờng.

Cũng mang âm hởng triết lý, chiêm nghiệm, suy t ấy, bằng sức sángtạo và làm vệc không ngừng nghỉ cho tới tận những năm cuối đời, đến năm

70 tuổi (1969), Kawabata lại tiếp tục cho ra mắt độc giả kiệt tác Ngời đẹp

say ngủ, một tiểu thuyết ngắn nhng mang đậm phong cách hiện đại, ngời

phơng Tây coi đó là hiện tợng kì lạ của văn học Nhật Bản Một tác phẩmkhông có cốt truyện, chỉ là sự chắp nối rời rạc của nhiều mảng kí ức và hiệntại Câu chuyện về cuộc đời một ông già luôn đi tìm sự bất tử, níu kéo tuổithanh xuân đợc kể lại bằng văn phong dòng ý thức đã gây nên một cảm giácbất ngờ đầy ấn tợng nơi ngời đọc Những trinh nữ gợi lại cho ông già 70tuổi hình ảnh của những ngời phụ nữ đã đi qua đời ông ta, có thể đó là một

sự gặp gỡ vô tình, có thể đó là một sự say đắm

Không ở đâu trong các tác phẩm của mình những liên tởng của

Kawabata lại gợi lên đẹp đẽ, biểu lộ một cách rõ ràng hơn Ngời đẹp say

ngủ Tình yêu trong trắng, một đề tài quen thuộc, ở đây đã mang một sự

chua xót mới bởi thực tế là những ngời đàn ông nằm bên cạnh các cô gáikhác nhau không thể xâm phạm đến sự trinh trắng của họ Vậy nhng trong

sự đau xót ấy là niềm trân trọng, nâng niu, gìn giữ cái đẹp nh một điều bất

tử của cuộc đời Ông già Eguchi đến đây chỉ để ngắm nhìn vẻ đẹp của họ,cảm nhận sự trẻ trung và sức sống “của đàn bà” toả ra từ lứa tuổi họ, từ dathịt họ, từ những cô gái vô danh và không bao giờ nói một lời Họ nằm đó,say ngủ, bỏ qua hoàn toàn những thứ phù phiếm, tỏ vẻ của phụ nữ khi đangthức Đó là cái đẹp hài hoà, bản nguyên, đơn giản và cụ thể, ngời ta có thể

đụng chạm, nắm bắt và so sánh Những cô gái khoả thân ngủ mê là hiệnhữu của cái đẹp vừa gần gũi vừa xa xôi, nh một tấm gơng trinh bạch soichiếu, thấu suốt thế giới tâm hồn đầy khao khát nhng bất lực

Sự liên tởng chồng chéo và những giấc mơ, hai phơng sách quen thuộctrong văn phong Kawabata không chỉ cung cấp nhiều khoảng thời gian khácnhau cùng một lúc mà còn quy định sự phức tạp khiến câu chuyện chỉ vớimột ngời duy nhất nhng không hề đơn điệu

Có thể nói, Kawabata là một trong số ít các nhà văn chuyên nghiệp củaNhật Bản Toàn bộ thời gian ông đều giành cho miệt mài sáng tác Cuộc đời

và sự nghiệp của Kawabata luôn hớng đến tìm kiếm, cứu rỗi và tôn vinh cái

đẹp của hiện hữu Là một ngời chủ trơng không thoát khỏi văn học và mĩ

Trang 29

học dân tộc, đồng thời biết gắn kết những nét hài hoà đặc sắc của chúng vớinhững sáng tạo của riêng mình Mĩ học Kawabata ở nhiều phơng diện đãthể hiện tầm vóc khổng lồ của một ngời Nhật Bản đích thực, một ngời nghệ

sĩ sinh ra từ đẹp Nhật Bản, biết hội tụ và kết tinh để thăng hoa trên đầungòi bút Âm hởng thuần tuý và cốt cách con ngời Nhật Bản đợc soi chiếu

trên nhiều phơng diện trong cái “mĩ th” của ông trong đó tiêu biểu là Tiếng

rền của núi và Ngời đẹp say ngủ.

Trang 30

Chơng 2

Độc thoại nội tâm với việc khắc hoạ tâm lí nhân vật

2.1 Xung quanh vấn đề độc thoại nội tâm

2.1.1 Vài nét về tiểu thuyết tâm lí

Tiểu thuyết tâm lí là một dạng của thể loại tiểu thuyết trong loại hình

tự sự Sở dĩ chúng tôi tìm hiểu về tiểu thuyết tâm lí vì đây là cơ sở cho việcxuất hiện độc thoại nội tâm trong văn học

Tiểu thuyết tâm lí là một thuật ngữ văn học đợc nhiều nhà nghiên cứu

đề cập đến

Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc

Phi đồng chủ biên) định nghĩa: “Tiểu thuyết tâm lí là tiểu thuyết miêu tảcác trạng thái tâm lí, xây dựng thế giối nội tâm của con ngời, đặc biệt nhấnmạnh tới động cơ, hoàn cảnh và cốt truyện nội tại Cốt truyện nội tại thờngdựa trên cơ sở cốt truyện ngoại tại nhng lại thúc đẩy cốt truyện ngoại tạiphát triển Tiêủ thuyết tâm lí bất mãn với việc miêu tả sự việc bên ngoài,muốn đi sâu khám phá nguyên nhân bên trong” [13; 339]

Đối với loại tiểu thuyết này, việc xây dựng tính cách nhân vật đóng vaitrò cực kì quan trọng Cội nguồn của tiểu thuyết này là cách các nhà viếtkịch lấy tính cách nhân vật mà giải thích hành động của họ G.sô - xơ, ngời

Anh, là ngời viết tiểu thuyết tâm lí đầu tiên bằng văn vần Trong Hămlet,

Shakepeare đã tài tình phân tích xung đột, mâu thuẫn ngay trong tâm hồnHămlet: hoài nghi, bi quan, chán chờng trong sự cô độc

Tiểu thuyết tâm lí nhằm giải thích những hiện tợng tinh thần mà mắtthờng không nhìn thấy đợc Các nhà tiểu thuyết tâm lí Anh xuất hiện từgiữa thế kỉ XIX có thể kể đến: S.Đích- kenx, U.Thác - cơ - rây Các nhà tiểu

thuyết tâm lí Pháp cũng xuất hiện từ rất sớm Từ các Truyện hoa hồng kể về

những cảm xúc tình yêu từ khi nảy sinh, phát triển, đau khổ, vui sớng Tiểu

thuyết Công chúa Cơ- le- vơ của bà Lay- phay- ét (1634 - 1693), trong đó

tâm lí con ngời đợc bộc lộ sắc nét hơn qua sự quan sát bên ngoài hay tự thổ

lộ của đơng sự Rút - xô trong tác phẩm Lời sám hối, Nàng Êlôdơ mới và Sođơlốt đơlacơlốt (1741-1803) trong tác phẩm Mối quan hệ nguy hiểm tỏ ra

là nhà tâm lí học tài tình Các nhà văn Anh nh Ha- dai, Côn- rát hứng thúvới động cơ nội tâm và tác động của hoạt động nội tâm nhân vật H.giêmxơchú ý xây dựng thế giới nội tâm của nhân vật, chú trọng miêu tả phản ứngtâm lí của nhân vật đối với ngoại giới, là ngời sáng tạo ra tiểu thuyết tâm lí

Trang 31

hiện đại Đặc biệt là nhà tiểu thuyết Pháp M.pruxtơ đã đa ra một phơngpháp phân tích tâm lí mới: nắm bắt các kết cục của đời sống, tâm lí, khắchoạ các khoảnh khắc quan trọng nh kí ức, hồi ức, các trạng thái tiềm thức,vô thức, các giấc mơ Các nhà văn Gi.giôixơ và U.phốc - nơ lại sáng tạodạng tiểu thuyết tâm lí dựa trên cơ sở độc thoại nội tâm Tiểu thuyết tâm lí

là một dòng tâm lí có ảnh hởng rộng lớn của thế kỉ XX

ở phơng đông, có thể nói, tiểu thuyết Genji Monogatari (truyện Genji)

của Nhật Bản là tiểu thuyết tâm lí đầu tiên và kế đến có Hồng lâu mộng của

Tào Tuyết cần

Nhìn chung, khi đi sâu vào các trạng thái tâm lí, xây dựng thế giới nội tâmcủa con ngời, tiểu thuyết tâm lí cho phếp sử dụng nhiều độc thoại nội tâm

2.1.2 Tiểu thuyết tâm lí trong truyền thống văn học Nhật Bản

Nhật Bản có thể xếp vào hàng những quốc gia có nền tiểu thuyết hiện

đại đầu tiên trên thế giới Từ tiểu thuyết Genji Monogatari (nguyên thị vật

ngữ) đợc đánh giá là tiểu thuyết tâm lí đầu tiên của loài ngời

Năm 2000, báo chí Pháp đã kỉ niệm lần thứ 1000 tác phẩm truyện Genji một trong những kiệt tác mọi thời đại của nhân loại Đây là cuốn tiểu thuyết vĩ

-đại nhất của văn học Nhật Bản ra đời vào khoảng 1004 -1011 của nữ sĩ tài baMurasaki Shikibu (978-1014) Nhà nghiên cứu N.T.Phedorenko đã nhận xét:

“Genji Monogatari của Murasaki Shikibu là đỉnh cao của văn xuôi dân tộc,

là tài sản vô giá của nghệ thuật văn chơng Nhật, là mẫu mực ngôn ngữ hoànchỉnh nhất của thời kì cổ điển Chính trong tiểu thuyết này, ngôn ngữ Nhậtvới tính biểu cảm phi thờng của nó đã đạt tới đỉnh cao xứng đáng đợc xếpvào hàng những ngôn ngữ văn học phát triển nhất của thế giới” [19; 1047]

Truyện Genji là một tiểu thuyết h cấu trên nền xã hội Nhật thời đại

Heian Tác phẩm dày khoảng 3000 trang, chia làm 54 quyển, dàn trải trêndới 70 năm với 3 thế hệ gồm nhiều nhân vật viết về cuộc đời trầm nổi củachàng hoàng tử Genji Đây là cuốn hiện thực đầu tiên đi sâu vào đời sốngtình cảm và tâm lí con ngời với giọng văn đầy chất thơ, với những thức

động giác quan sâu xa giữa con ngời và vạn vật trong một tâm hồn đặc dịhoà hợp với thiên nhiên chỉ có thể tìm thấy trong các khu vờn Nhật bản.Trong tác phẩm, đã có nhiều đoạn nhân vật tự nói với chính mình Chẳng

hạn nhh bài thơ Đóng băng rồi là lời tự thán của Murasaki - nhân vật nữ

chính trong thiên tiểu thuyết

Đóng băng rồi nớc kia giữa đá

Trang 32

đành bỏ cuộc chơi nhng bóng trăng sáng thì trôi giữa trời.

Vầng trăng lãng du giữa trời là chàng Genji tài hoa và đào hoa, khe

n-ớc bất động giữa đá chính là nàng Murasaki bi cảm Mỗi tên nhân vật trongtruyện là một ẩn dụ cho tính cách, số phận và cuộc đời của chính nhân vật

đó Ukifune - tên một nữ nhân vật trong truyện, có nghĩa là con thuyền trôinổi, tên nàng cũng rất phù hợp với cuộc đời nàng vì Uki có nghĩa là u sầu.Nhân vật Ukifune cô đọng trong nàng những yếu tố đặc sắc nhất của toàn bộtiểu thuyết, của nghệ thuật d tình D tình, d vang, d vị, d hơng… đặc biệt là nghệlà những cáimơ hồ, bất định nhng có sức ám ảnh lớn lao Cái d tình đó vẫn thờng phảngphất màu sắc aware, một niềm bi cảm trớc cái đẹp và nỗi vô thờng mà thế

giới của Truyện Genji luôn luôn biểu đạt

Có thể nói Truyện Genji là “thánh th” của cái đẹp trong nền văn hoá

Nhật Bản Sự tôn thờ cái đẹp của thời Heian đợc thể hiện tinh tế và đa

ph-ơng trong tác phẩm này Trong thời Heian, mọi cuộc giải trí trò chơi đềubiến thành nghệ thuật Cả niềm vui và nỗi buồn cũng thế, phải biến thànhthơ ca - nếu không thì vô nghĩa

Truyện Genji thờng đợc xng tụng là tiểu thuyết tâm lí đầu tiên thế giới

(The worrld’s first psychological novel) Chữ “đầu tiên” sẽ không có nghĩagì nếu nh nó không phải là một kiệt tác Nếu nh ta biết rằng mãi đến cuốithế kỉ XVIII, các kiệt tác của tiểu thuyết tâm lí mới thực sự ra đời ở Trung

Quốc (Hồng lâu mộng, 1792) và châu Âu thì ta mới hiểu hết tầm quan trọng

của truyện Genji Virginia woolf đã từng lấy làm buồn rằng không có thiêntài Shakes peare trong nữ giới nhng ở Nhật nàng Murasaki thực sự là mộtShakes peare Sáng tác tiểu thuyết, nàng tinh tế và gợi cảm trong nữ tínhtuyệt vời của mình cũng nh Shakes peare mãnh liệt và rộng lớn trong namtính hùng vĩ của ông Chính nhà nghiên cứu Earl miner đã từng nhận định:

“Thế giới Genji đã diễn ra hơn 1000 năm trớc mà sao những nhục thân kiacòn ấm, những nụ cời kia còn tơi? Họ sống là do thiên tài sáng tạo của mộtphụ nữ, ngời mà thế giới quen gọi là Murasaki Shikibu - một ngời đàn bà cóthân thế vẫn còn mờ ảo sinh ra từ hơn 1000 năm trớc đã viết nên một tiểuthuyết không chỉ là vĩ đại nhất trong văn chơng Nhật, đó còn là một tiểuthuyết ở tầm mức phi thờng mà nhân loại không từng nhìn thấy ở bất kì nơi

đâu qua hàng bao thế kỉ”[7]

Trang 33

Đến thời kì thế kỉ XVII - nửa đầu thế kỉ XIX thờng đợc gọi là thời kì

Êdo hay Yêdo là thời kì Nhật Bản đóng cửa không giao thơng với t bản

ph-ơng Tây Nhng đây đồng thời cũng là thời kì tầng lớp thị dân đặc biệt là

th-ơng nhân và thị thành phát triển mạnh Trên cơ sở đó một nền văn chth-ơngmang chất men mới đã nở rộ Và thể loại tiểu thuyết tâm lí phát triển mạnh

với đại diện tiêu biểu là Xaikaku Ihara (1653-1724) với 16 tập Truyện về

cuộc đời phù du Ông đã đề cập đến những đề tài đơng thời và xây dựng

nhân vật đi sâu vào tâm lí con ngời: truyện tình say đắm, truyện huê tình,truyện chiến tranh, truyện giới buôn bán

Vào thời hiên đại - văn học thời Minh Trị, văn đàn mở rộng cửa đóngió Tây Đó là giai đoạn làm quen, bắt chớc và thể nghiệm Trong luồng t t-ởng mới nhiều nhà văn đâu tiên của giai đoạn mới xuất hiện Họ hớng vềphơng Tây, bỏ các đề tài truyền thống và chịu nhiều ảnh hởng từ lối viết ph-

ơng Tây Những đại diện u tú của thời kì đầu đã tiến sâu hơn vào nhữngphản ứng tâm lí của các nhân vật nh: Phutabalêi Simêi (1864- 1909) thờngmiêu tả những nhân vật bất mãn, hoang mang trớc thời cuộc; Môri ogai

(1862-1922) với truyện Vũ nữ miêu tả sự tan vỡ của mối tình giữa một

thanh niên Nhật và một cô gái Đức Tác phẩm này mở đầu cho thể loai tựtruyện tiểu thuyết hoá (tiểu thuyết về cái “tôi”) sẽ phát triển mạnh

Khi trào lu văn học, văn hoá phơng Tây du nhập ồ ạt vào nớc Nhật,truyền thống văn hoá Nhật Bản có nguy cơ bị mai một Những băn khoăn,day dứt do xung đột giữa mới và cũ, giữa Đông và Tây, giữa ý nghĩa sống

và chết đợc các nhà văn phản ánh rất rõ trong sáng tác của mình Trong số

đó phải kể đến Tanizaki Yunichiro (1886-1965), viết về những xung đột nộitâm giữa Đông và Tây; R.akutagaoa (1892-1927) đã cố gắng kết hợp vănhoá châu Âu và văn hoá Nhật trong các tác phẩm của mình Tác phẩm của

ông mang lại tiếng chuông độc đáo: trở về gốc truyện truyền thống nhngphân tích tâm lí hiện đại Một nhà văn nổi tiếng từ những năm 1905 - 1915,Siga Naoya (1883-1971), văn phong của ông kết hợp đợc cái đẹp của nhữngrung cảm và phân tích tâm lí rất tinh tế Trong tác phẩm của mình, ông th-ờng miêu tả rất tỉ mỉ, sâu sắc những ý nghĩ và tình cảm của con ngời trớcnhững sự việc bình thờng hàng ngày

Trong số những nhà văn nổi lên sau thời kì 1905 - 1915, phải kể đếnhai đại diện xuất sắc là Yôkôkamittr Riichi và Kawabata yasunari Họ đều

là những bậc thầy của tiểu thuyết tâm lí

Trang 34

Các sáng tác của các nhà văn nhất là từ sau cuộc cải cách Minh Trị

1868 đã bắt đầu quan tâm đến số phận con ngời, bi kịch cá nhân, đặc biệt làtâm trạng bi quan, thất vọng của con ngời trớc sự kéo dài dai dẳng cuả xung

đột hai luồng văn hoá Chủ đề này trở đi trở lại trong các sáng tác nghệthuật của Nhật Bản mà Y.kawabata là một hiện tợng tiêu biểu

Tiểu thuyết tâm lí thuờng đi sâu phân tích thể hện tâm trạng của cácnhân vật Có khi không chỉ dừng lại ở địa hạt tâm lí mà ngời ta còn tiến sâuhơn vào cõi sinh hoạt thầm kín nhất của ý thức, vào tới tận tiềm thức Vàtrong trờng hợp này, các nhà văn thờng để cho nhân vật của mình độc thoạinội tâm - đó là lúc con ngời tự bộc lộ mình rõ nhất

2.1.3 Độc thoại nội tâm - một đặc trng trong nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết

Con ngời luôn là nhân vật trung tâm của văn học mọi thời đại Để xâydựng và khắc hoạ nên tính cách nhân vật, các tác giả đã sử dụng nhũng biệnpháp, thủ pháp nghệ thuật nh: miêu tả chân dung, hành động, ngôn ngữ (đốithoại và độc thoại)… đặc biệt là nghệ Nếu so với các thủ pháp nghệ thuật ấy, thì “độc thoạinội tâm” xuất hiện cha lâu Sự ra đời của “độc thoại nội tâm” gắn liền vớiquá trình mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực, đem đến cho văn học nghệthuật một khả năng chiếm lĩnh hiện thực ở một chiều sâu mới mẻ Là mộtthủ pháp nghệ thuật cơ bản và hữu hiệu của miêu tả tâm lí, “độc thoại nộitâm” đã từng đợc đặc biệt chú trọng trong văn học phơng Tây cận hiện đạithế kỉ XIX và trở nên hoàn thiện ở thế kỉ XX với bậc thầy của nghệ thuậtnày là Giêm giôyx Độc thoại nội tâm cũng thu hút sự quan tâm nghiên cứucủa nhiều nhà khoa học Tuy nhiên, cho đến nay số lợng tài liệu nghiên cứu

về độc thoại nội tâm còn mỏng và cha có sự thống nhất về khái niệm Trêncơ sở tập hợp, chọn lựa những quan niệm về độc thoại nội tâm, chúng tôi cóthể chọn ra một khái niệm đợc cho là đầy đủ và chính xác nhất để làm cơ sở

lí luận cho việc nghiên cứu đề tài

2.1.3.1 Giới thuyết khái niệm độc thoại nội tâm

Độc thoại nội tâm là một thuật ngữ văn học đợc nhiều nhà nghiên cứu

đề cập đến và phát biểu thành định nghĩa ở một số tài liệu sau:

Căn cứ vào đối tợng hớng tới của lời nói, D.N.pospelop trong cuốn

Dẫn luận nghiên cứu văn học cho rằng: “Lời độc thoại là lời không nhằm

h-ớng tới ngời khác và tác động qua lại giữa ngời với ngời” Cũng tơng tự, các

tác giả cuốn Từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa: “Độc thoại nội tâm là lời

nhân vật trong tác phẩm văn học nghệ thuật tự nói với mình về bản thân

Trang 35

mình” Đây là một định nghĩa quá đơn giản và quá hẹp, chỉ đơn thuần làkhái niệm về ngôn ngữ Thực ra “độc thoại nội tâm” “không chỉ là sự trùnghợp giữa ngời phát và ngời nhận trong vai phát ngôn” Với t cách là một thủpháp nghệ thuật, “độc thoại nội tâm” đợc sử dụng linh hoạt mang những ýnghĩa và chức năng to lớn hơn nhiều.

Trong cuốn Lý luận văn học (tập 2) của Nxb Giáo dục năm 1987, tác

giả Trần Đình Sử đã chia ngôn ngữ tiểu thuyết ra làm hai loại gồm: lời giántiếp và lời trực tiếp và coi “độc thoại nội tâm” là dạng đặc biệt của lời trựctiếp: “Trong chức năng thể hiện nội tâm, lời trực tiếp hoặc là đợc thể hiệnqua các mẫu lời nói của một quá trình nội tâm hoặc là đợc thể hiện dới hìnhthức độc thoại nội tâm mở rộng… đặc biệt là nghệ Lời nội tâm là một dạng đặc biệt của lờitrực tiếp Nó ớc lệ vì thực chất nó không phải là lời giao tiếp, mặc dầu nhânvật có thể hớng tới ai đó, hoặc là lời đợc cấu tạo theo cách của lời tự nhiên.Lời nội tâm có thể là độc thoại hay đối thoại Trong văn học của các thế kỉtrớc, nó đợc xxây dựng theo mô hình lời trực tiếp tự nhiên khi mô tả nhânvật “nghĩ rằng” với những suy nghĩ khúc chiết… đặc biệt là nghệ Lời độc thoại đợc chỉ rabằng các từ: “Tự nhủ, thầm nghĩ” và không phải bao giờ cũng rành rọt màthờng rối ren, lộn xộn, chắp nối Đó là hình thức tái hiện tính tự phát củadòng ý thức và cảm xúc”

ở đây “độc thoại nội tâm” mới chỉ đợc coi là lời trực tiếp ở dạng đặcbiệt và chỉ ra bằng các dấu hiệu “tự nhủ, thầm nghĩ, nghĩ rằng” Tuy nhiên,

“độc thoại nội tâm” không chỉ là lời trực tiếp ở dạng đặc biệt và nó khôngbắt buộc phải đi kèm các từ nh là “tự nhủ, thầm nghĩ, nghĩ rằng” mà nhiềukhi nó xuất hiện trong tác phẩm một cách tự nhiên không cần phải cónhững lời dẫn đó

Còn Phan Cự Đệ trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (tập 1) lại chỉ

quan niệm “độc thoại nội tâm” chỉ là lời nửa trực tiếp khi ông chứng minh

bằng trờng hợp Chí phèo của Nam Cao: “Để cá biệt hoá tính cách, Nam

Cao còn cố gắng đi sâu vào đời sống tâm lí bên trong của Chí Phèo Trongcác nhà văn hiện thực phê phán, Nam Cao là một nhà văn thích sử dụng lối

độc thoại nội tâm Trong Chí Phèo có những đoạn độc thoại nội tâm rất

thành công: “Chí Phèo chẳng biết họ hàng ra sao… đặc biệt là nghệthôi dại gì mà vàomiệng cọp, hắn cứ đứng đây này, cứ lăn ra đây này, lại kêu toáng lên xemnào Nhng nghĩ ngợi một lúc hắn lại bảo: kêu lên cũng chẳng đợc nớc gì.Cùng lắm nó có giở quẻ hắn cũng chỉ đến đi ở tù ở tù thì hắn coi là thờng.Thôi cứ vào” Đoạn văn trên là đoạn lời nửa trực tiếp, có thể coi là một hình

Trang 36

thức của độc thoại nội tâm nhng sử dụng không nhiều và thực ra không phảitất cả những lời nửa trực tiếp đều là độc thoại nội tâm.

Các tác giả Từ điển thuật ngữ văn học đã hoàn toàn tách biệt lời độc

thoại nội tâm và lời nửa trực tiếp khi định nghĩa: “Độc thoại nội tâm là lờiphát ngôn của nhân vật tự nói với mình thể hiện trực tiếp quá trình tâm línội tâm, mô phỏng hoạt động, cảm xúc, suy nghĩ của con ngòi trong dòngchảy trực tiếp của nó” và “Lời nửa trực tiếp là biện pháp diễn đạt lời văn khilời của nhân vật có bề ngoài thuộc về tác giả nhng nội dung phong cách lạithuộc về nhân vật

Một sự phân biệt giữa lời nửa trực tiếp và lời độc thoại nội tâm nh trên

là cần thiết Tuy nhiên, có nhũng trờng hợp lời độc thoại nội tâm đợc biểuhiện dới dạng thức lời nửa trực tiếp Khi đó, lời nửa trực tiếp – loại câu màBakhtin gọi là “câu hàm ẩn nhiều chủ thể” (ngời trần thuật và nhân vật)phải “khoác giọng điệu và từ vựng của nhân vật” (dù chủ thể vẫn nhân danhchính thức là ngời trần thuật) nhằm thể hiện quá trình tâm lí nội tâm, môphỏng hoạt động cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật

Nhìn chung các quan niệm về độc thoại nội tâm đa ra trên đây đều chatrọn vẹn vì thế mà không có sự thống nhất

Tác giả Pôspelôp trong cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học (tập 2) T.Môtlêva trong bài Độc thoại nội tâm và dòng ý thức (Viện thông tin khoa

học xã hội) quan niệm về độc thoại nội tâm khá trọn vẹn và thống nhất Đặcbiệt là quan niệm của T.Môtlêva rất rõ ràng, chặt chẽ Bà định nghĩa: “Cókhi nó (độc thoại nội tâm) là diễn từ (lời) trực tiếp không diễn tả ra của cácnhân vật; hoặc là diễn từ của tác giả nhân danh mình mà nói, nhng lại mợn

từ vựng và giọng điệu của nhân vật; hoặc là đối thoại bên trong, ở đó giọngnói của nhân vật bị xẻ làm đôi thành hai giọng phân biệt và đối nghịch, nóxuất hiện dới hình thức một loạt những kết luận có thứ tự trớc sau hoặc cóthể chỉ là ý kiến mơ hồ và lộn xộn” [7; 21]

Nh vậy, ý kiến của T.Mơtlêva là một sự tổng hợp định nghĩa của Trần

Đình Sử, cho độc thoại nội tâm là lời trực tiếp đặc biệt, tức là: “Diễn từ trựctiếp không diễn tả ra của các nhân vật” và quan niệm của Phan Cự Đệ cho

độc thoại nội tâm là lời nửa trực tiếp, tức là: “Diễn từ của tác giả nói ra vớidanh nghĩa bản thân nhà văn nhng lại mợn từ ngữ và giọng điệu của nhânvật” T.Mơtlêva còn cho rằng cũng có khi độc thoại nội tâm ở dạng đốithoại nhng đó là “đối thoại bên trong”, nhân vật đối thoại với chính bản

Trang 37

thân mình và đối thoại với ngời thứ hai vắng mặt - đó cũng là xác định rõhơn thuật ngữ “đối thoại” mà Trần Đình Sử có nói qua.

Hiện nay, có những nhà lý luận coi độc thoại nội tâm đợc xác định vàgiới hạn bằng những câu văn lộn xộn, mơ hồ, thiếu lôgic, biểu hiện bằngdòng ý thức tự nhiên của con ngời Chẳng hạn nh quan niệm của một số nhà

lý luận phơng Tây: “Nó (độc thoại nội tâm) là tiếng nói của ý nghĩ đanghình thành bởi vậy có ảnh hởng đến cấu trúc câu văn và văn bản Đã đạt tớimột cách viết ngày càng mang tính điện tín ngắt quãng; sự đứt đoạn củadòng chảy ngôn từ: những gián đoạn thờng xuyên ám chỉ tình trạng thiếulời đáp lại”

Nhng đó chỉ là đặc điểm của độc thoại nội tâm của một số tác phẩmvăn học phơng Tây thế kỷ XX, khi mà: “Dòng ý thức là biểu hiện cực đoancủa độc thoại nội tâm trong tiểu thuyết thế kỷ XX” Trong thực tế, độc thoạinội tâm thờng thể hiện rõ dấu ấn của tính ớc lệ Khi suy nghĩ một điều gì

đó, con ngời thờng không thể hiện suy nghĩ của mình thành một hình thứcngữ pháp rõ rệt, những từ và câu trọn vẹn, còn nhà văn vì để dễ hiểu, bắtbuộc phải làm cho lời nói bên trong có một tính tổ chức chặt chẽ mà vốn nókhông có

Đặt trong sự đối chiếu các định nghĩa khác nhau, có thể thấy ý kiếncủa Motleva là hợp lý, đầy đủ hơn cả và rỏ ràng, bà đã tính dòng tâm t vàotrờng hợp thứ hai Bà đã có cái nhìn sâu sắc, cụ thể hơn khi tiếp cận kháiniệm “độc thoại nội tâm” trên phơng diện là thủ pháp nghệ thuật thể hiện ýnghĩ của nhân vật bởi: “ Sự sống đích thực của nhân cách chỉ có thể tìmhiểu bằng cách thâm nhập vào nó dới dạng đối thoại, một sự đối thoại màcá nhân tự nó sẽ bộc lộ bản thân một cách tự do để đáp lại”

Nh vậy, về cơ bản chúng tôi lấy định nghĩa của T.Mơtlêva làm cơ sở lýluận chính cho việc nghiên cứu, khảo sát đề tài trên cơ sở so sánh, thamkhảo với các tài liệu khác đã dẫn ở trên

2.1.3.2 Sự phân loại độc thoại nội tâm

Vốn là một thủ pháp nghệ thuật thể hiện đời sống tâm lý của nhân vật,trong khi đó độc thoại nội tâm của con ngời là một chỉnh thể phức hợp đadạng do đó độc thoại nội tâm đợc biểu hiện dới rất nhiều dạng thức

Qua những trích dẫn các ý kiến ở mục trên, chúng ta thấy:

Trần Đình Sử và Pospêlôp trong định nghĩa của mình đã chia độc thoạinội tâm thành hai loại: Lời độc thoại nội tâm cấu tạo theo kiểu ớc lệ và lời

Trang 38

độc thoại nội tâm cấu tạo theo cách của lời tự nhiên - hai loại này thờngxuyên đi kèm và bổ sung cho nhau.

Còn một số nhà nghiên cứu và sáng tác phơng Tây (chẳng hạn nh nhàviết văn xuôi Du ja drin) lại chỉ cho độc thoại nội tâm là một loại duy nhấtnhững câu văn không có dấu chấm phẩy, phá vỡ mọi quy tắc ngữ pháp, mơ

hồ hỗn độn nh chính dòng ý thức của con ngời

Sự phân loại để xác định rõ chủ thể phát ngôn của T.Mơtlêva rõ rànghơn, bà cho rằng độc thoại nội tâm gồm những dạng sau:

1 Dạng lời trực tiếp không diễn tả ra lời của các nhân vật

2 Dạng lời nửa trực tiếp: diễn từ của tác giả nói ra với danh nghĩa bảnthân nhà văn nhng lại dùng từ ngữ và cách nói năng của nhân vật

3 Dạng đối thoại nội tâm: tiếng nói bên trong của nhân vật bị xé làm

đôi thành hai giọng đối nghịch

Còn về hình thức tổ chức lời lẽ của độc thoại nội tâm, T.Mơtlêva cũngchia làm hai loại nh Pospêlôp và Trần Đình Sử

Giáo s Nguyễn Hải Hà trong Thi pháp tiểu thuyết L.Tônstôi, Nxb Giáo dục, 1992 khi khảo sát Chiến tranh và hoà bình, ông cho rằng: Độc thoại

nội tâm xuất hiện dới các dạng thức rất phong phú Ngoài ba dạng thức đã

đợc phân loại trong định nghĩa của T.Mơtlêva, L.Tônxtôi còn sử dụng độcthoại nội tâm là những lời độc thoại khi nhân vật nói to lên với mình vànhững ý nghĩ này của nhân vật thờng để trong ngoặc kép, độc thoại nội tâm

ở dạng tổng hợp: ở dạng này, nhà văn sử dụng xen kẽ lời trực tiếp, lời nửatrực tiếp, độc thoại, có khi kết hợp với cả nhật ký, chiêm bao… đặc biệt là nghệ

Từ những quan điểm phân loại trên, kết hợp với sự khảo sát tiểu thuyếtcủa Y.Kawabata chúng tôi kết luận về sự phân loại độc thoại nội tâm nh sau:

1 Độc thoại nội tâm ở dạng “thuần tuý”: là lời trực tiếp không diễn tả

ra lời của nhân vật

2 Những biến dạng của độc thoại nội tâm:

- Đối thoại nội tâm: là tiếng nói bên trong của nhân vật bị xé làm đôithành hai giọng đối nghịch

- Dạng lời độc thoại trực tiếp: nhân vật nói to lên với chính mình hoặcnhân vật nói với ngời khác song thực chất là lời nói “lòng tự nhủ lòng”

- Lời nửa trực tiếp: cố nhiên không phải tất cả các lời nửa trực tiếp đều

là độc thoại nội tâm Điều kiện để loại câu đợc coi là lời nửa trực tiếp trởthành độc thoại nội tâm là nó phải khoác giọng điệu và từ vựng của nhânvật, dù chủ thể vẫn nhân danh chính thức là ngời kể chuyện Nh vậy, giọng

Trang 39

nói của ngời kể chuyện phải hoà lẫn với giọng điệu của nhân vật ngay tạicái vỏ ngôn từ, Bakhtin gọi đó là “câu hàm ẩn nhiều chủ thể”, dạng câu “laighép” đặc biệt.

- Dạng tổng hợp: lời trực tiếp xen kẽ với lời nửa trực tiếp, có khi kếthợp với nhật ký (những ghi chép cho riêng mình) và những giấc chiêm bao(tâm trạng nhân vật căng thẳng tới cực độ, con ngời nh không đủ tỉnh táo đểsống trong thực tại)

Những dạng độc thoại nội tâm này xuất hiện không ít trong tiểu thuyết

Y.Kawabata đặc biệt là hai tiểu thuyết Tiếng rền của núi và Ngời đẹp say ngủ.

2.1.3.3 Tác dụng nghệ thuật của độc thoại nội tâm với tiểu thuyết hiện đại

Các nhà nghiên cứu đều khẳng định độc thoại nội tâm là một thủ phápnghệ thuật rất cần thiết và quan trọng trong văn học Đôtxtôiepxki khi nhận

định về tác phẩm Ngày cuối cùng của ngời bị kết án của V.Huy gô đã chỉ ra

phát kiến về thể loại mà V.Huy gô đã đạt đến trong kiệt tác này, ông chorằng sự tự khám phá qua một số hình thái lời tâm sự, lời thú tội đã giúp chotác phẩm của V.Huy gô, nhà văn tiêu biểu cho chủ nghĩa lãng mạn, đợccoi là là tác phẩm đạt tới mức độ cao của sự “hớng nội” và sự “hớng nội” đógiúp cho “tác phẩm viết vào đầu thế kỷ XIX này gần gũi với các tác phẩmhiện đại của thế kỷ XX”

Ni cu lin khi đánh giá vai trò của độc thoại nội tâm trong Truyện Kiều

cũng đồng nhất ý kiến của T.Mơtlêva cho rằng: “Độc thoại nội tâm là biệnpháp quan trọng cho phép nhà văn biểu hiện bản chất của nhân vật, những ýnghĩ, tình cảm mà không biểu lộ ra ngoài, thờng giấu kín đối với ngờingoài”

Đánh giá L.Tônxtôi ở đóng góp của ông trong việc thể hiện thủ phápnghệ thuật này, T.Mơtlêva viết: “L.tônxtôi đã nói về con ngời rất nhiều điều

mà những nhà văn đi trớc cha biết ở L.tônxtôi - nói nh T.Secnsepki - độcthoại nội tâm đãlà một công cụ cho phép thám hiểm những sự vận động bíhiểm nhất của đời sống tâm thần”

Mincônicônlôp, Khrapchencô và Bôritxuskôp cùng nhiều nhà nghiêncứu khác đều khẳng định hiệu quả đầu tiên của độc thoại nôi tâm là “phơngthức xác định tâm lý”, trong tác phẩm “việc sử dụng độc thoại nội tâm đợc

đa vào giây phút hoàn toàn cần thiết để diễn tả hiện thực khách quan và nhucầu tâm lý của con ngời”

Khi bàn đến hiện tợng văn học độc đáo Hêminhway, T.Mơtlêva còn đa

ra một hiệu quả khác của độc thoại nội tâm: “ở Hêminhway, nghệ thuật độc

Trang 40

thoại nội tâm rất độc đáo, phát triển đến mức cao và đợc sử dụng theo

ph-ơng hớng hiện thực chủ nghĩa, độc thoại nội tâm là một phph-ơng tiện để nhậnthức con ngời, bộc lộ những mối quan hệ của tác giả đối với con ngời”.Nhận xét về độc thoại nội tâm trong văn học thế kỷ XX, các nhà vănhiện đại chủ nghĩa cho rằng: “độc thoại nội tâm không những chỉ là mộttrong số nhiều phơng tiện thể hiện mà nó còn biểu hiện tất cả, không phảibao giờ nó cũng đợc sử dụng ở một hoàn cảnh nhất định mà thờng đợc đa rasớm hơn” Cho nên hiệu quả của độc thoại nội tâm rất lớn: “Đó là công cụchủ yếu của tiểu thuyết hiện đại mà nhờ nó, các dấu hiệu của ý thức vàtiềm thức đợc ghi lại chính ở độc thoại nội tâm và hiện nay, độc thoại nộitâm đã bị tuyệt đối hoá, choán hết mọi phơng diện tu từ học còn lại” [3;51]

Du ja drin cũng nhận định: “Cái mới của độc thoại nội tâm cốt ở chỗ

nó thể hiện những đợt sóng không ngừng của các t tởng nảy sinh trong tâmhồn con ngời ta theo trật tự kế tiếp của chúng… đặc biệt là nghệKhông thể nói rằng không

có sự lựa chọn, ở đây không tuân theo lôgic duy lý” Chính vì vậy, độc thoạinội tâm còn có vai trò rất lớn trong việc thay đổi cấu trúc của lối hành văntruyền thống, đóng góp vào văn học nghệ thuật hình thức mới, đó là những

“thể nghiệm văn chơng mới lạ” xem nh là một cách tân trong nghệ thuật.Trờng hợp Giêm Giôyx là một minh chứng tiêu biểu: ở Giêmx Giôyx, kĩthuật của dòng ý thức dựa trên một trò chơi kết hợp hình ảnh rất táo bạo vàmột sự khinh miệt hoàn toàn đối với các luật lệ ngữ pháp”

Nhiều nhà văn hiện đại chủ nghĩa còn coi độc thoại nội tâm là phơngthuốc vạn năng, là vũ khí không thể thay thế đợc cho công việc chiếm lĩnhvăn chơng của họ

Về hiệu quả của độc thoại nội tâm, các nhà nghiên cứu ngày nay còn

đặc biệt chú ý tới vai trò của nó trong việc “xác lập mối quan hệ mới vớingời đọc” Tức là thông qua độc thoại nội tâm, ngời đọc tự mình xem xét,

đánh giá và trực tiếp tham gia vào câu chuyện, tái tạo lại thực tại theo cáchcủa riêng mình: “phản ứng lại sự thao túng của điện ảnh, cái đang làm chovăn chơng thành ra vô tích sự, độc thoại nội tâm tham gia tạo nên một thái

độ tơng đối chủ nghĩa vốn là nét đặc trng của kĩ thuật miêu tả khách quanhành động bề ngoài của con ngời, trình bày thực tại một cách lờ mờ, xem

nh nhìn qua một chiếc kính lọc màu nào đó, nó buộc ngời đọc phải thamgia vào việc tái tạo thực tại ấy

Ngày đăng: 27/12/2013, 14:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoài Anh (2007), Xác và hồn của tiểu thuyết, biên khảo lý luận phê bình, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác và hồn của tiểu thuyết
Tác giả: Hoài Anh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2007
2. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2004
3. M.Bakhtin (1998), Những vấn đề thi pháp tiểu thuyết Đôtxtôiepxki, Trần Đình Sử - Lại Nguyên Ân - Vơng Trí Nhàn dịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp tiểu thuyết Đôtxtôiepxki
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
4. Trần Lê Bảo, Giải mã tác phẩm Ngời đẹp say ngủ của Y.Kawabata (từ chủ đề cứu thế), Nguồn Google Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải mã tác phẩm Ngời đẹp say ngủ của Y.Kawabata (từ chủ đề cứu thế
5. Nhật Chiêu (2000), Y.Kawabata và thẩm mỹ của chiếc gơng soi, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y.Kawabata và thẩm mỹ của chiếc gơng soi
Tác giả: Nhật Chiêu
Năm: 2000
6. Nhật Chiêu (2000), Thế giới Kawabata Yasunari (hay là cái đẹp: hình và bóng), Tạp chí văn học số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới Kawabata Yasunari (hay là cái đẹp: "hình và bóng
Tác giả: Nhật Chiêu
Năm: 2000
7. Nhật Chiêu (2001), Genji Monogatari - Kiệt tác văn học Nhật Bản , Tạp chí Văn học, số11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Genji Monogatari - Kiệt tác văn học Nhật Bản
Tác giả: Nhật Chiêu
Năm: 2001
8. Nguyễn Văn Dân (2004), Phơng pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
9. Vũ Cao Đàm (2005), Phơng pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2005
10. Đặng Anh Đào (1995), Đổi mới nghệ thuật phơng Tây hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật phơng Tây hiện đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
11. Khơng Việt Hà (2000), Mỹ học Kawabata Yasunari, Tạp chí Văn học, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học Kawabata Yasunari
Tác giả: Khơng Việt Hà
Năm: 2000
12. Khơng Việt Hà (2004), Thủ pháp tơng phản trong truyện Ngời đẹp say ngủ của Yasunari Kawabata, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ pháp tơng phản trong truyện Ngời đẹp say ngủ của Yasunari Kawabata
Tác giả: Khơng Việt Hà
Năm: 2004
13. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
14. Đào Thị Thu Hằng (2007), Văn hoá Nhật Bản và Yasunari Kawabata, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Nhật Bản và Yasunari Kawabata
Tác giả: Đào Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
15. Đào Thị Thu Hằng (2005), Yasunari Kawabata giữa dòng chảy Đông-Tây, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yasunari Kawabata giữa dòng chảy "Đông-Tây
Tác giả: Đào Thị Thu Hằng
Năm: 2005
16. Nguyễn Thái Hoà (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
17. Trịnh Lan Hơng (1999), Độc thoại nội tâm trong sáng tác trớc Cách mạng tháng Tám 1945 của Nam Cao, Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữvăn Đại học S phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độc thoại nội tâm trong sáng tác trớc Cách mạng tháng Tám 1945 của Nam Cao
Tác giả: Trịnh Lan Hơng
Năm: 1999
18. Lê Thị Hờng (2001), Kawabata Yasunari - ngời lữ khách u sầu đi tìm cái đẹp, Tạp chí Sông Hơng, số 154, nguồn Google Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kawabata Yasunari - ngời lữ khách u sầu đi tìm cái đẹp
Tác giả: Lê Thị Hờng
Năm: 2001
19. Yasunari Kawabata (2005), Tuyển tập tác phẩm, Nxb Lao động - Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông-Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: TuyÓn tập tác phẩm
Tác giả: Yasunari Kawabata
Nhà XB: Nxb Lao động - Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông-Tây
Năm: 2005
20. Nguyễn Thị Mai Liên (2005), Yasunari Kawabata - lữ khách muôn đời đi tìm cái đẹp, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yasunari Kawabata - lữ khách muôn "đời đi tìm cái đẹp
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Liên
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.2. Các hình thức độc thoại nội tâm khám phá chiều sâu tâm lí - Độc thoại nội tâm trong tiểu thuyết y kawabata (qua khảo sát người đẹp say ngủ và tiếng rền của núi)
2.2. Các hình thức độc thoại nội tâm khám phá chiều sâu tâm lí (Trang 106)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w