Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới tình hình trên là việcmôi trường nuôi bị suy thoái do hầu hết các hộ nuôi đều sử dụng cá tạp làmthức ăn chính để nuôi cá biển và vấn đề nảy
Trang 1Ở Việt Nam mặc dù có diện tích biển khá lớn nhưng phải đến những nămcuối thập kỉ 90, đặc biệt là sau năm 2000 thì nuôi cá biển mới bắt đầu phát triển.Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Chương trình phát triển nuôi trồng thủy sảnđến năm 2010 với mục tiêu “ đảm bảo an ninh lương thực và tạo nguồn nguyênliệu cho xuất khẩu” Phấn đấu đến năm 2010 đưa sản lượng nuôi cá biển nuôicủa Việt Nam đạt 200.000 tấn, với 40.000 lồng, và đưa diện tích mặt nước sửdụng trong việc nuôi trồng lên 40.000 ha, với các đối tượng nuôi chính như: cá
Song, cá Vược, cá Cam và đặc biệt là cá Giò (Rachycentron canadum)[1] Tuy
nhiên kim ngạch xuất khẩu cá biển của Việt Nam không đạt được mục tiêu đề
ra, theo số liệu thống kê thì sản lượng cá biển nuôi chỉ đạt 3.500 tấn, đạt khoảng
8 % mục tiêu đề ra cho năm 2005, và khoảng 28.000 tấn chỉ đạt khoảng 14 %mục tiêu đề ra cho năm 2010[1]
Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới tình hình trên là việcmôi trường nuôi bị suy thoái do hầu hết các hộ nuôi đều sử dụng cá tạp làmthức ăn chính để nuôi cá biển và vấn đề nảy sinh ở đây là hệ số thức ăn của cácloài cá biển khi sử dụng cá tạp là quá cao, và chính điều này đã gây ảnh hưởngkhông nhỏ dến chất lượng môi trường biển, riêng đối với cá Giò (
Trang 2Rachycentron canadum) giao động từ 8 – 10 ( Huy, 2002), trong khi đó hệ số
này khi sử dụng thức ăn công nghiêp chỉ đạt từ 1,02 – 1,8 tùy theo cỡ cá ( Su và
ctv, 2000), nhưng hiện nay, việc sử dụng thức ăn công nghiệp gặp rất nhiềunhững rào cản, cả từ phía các hộ nuôi và phía các nhà máy sản xuất thức ăn
Xuất phát từ thực tế nói trên, tôi xin tiến hành đề tài: “ Điều tra xác định những rào cản của việc sử dụng thức ăn công nghiệp nuôi cá Giò
( Rachycentron canadum), tại Hải Phòng, Hưng Yên và Bắc Ninh”
Đề tài nghiên cứu này là một trong những nội dung nghiên cứu của Dự
án hợp tác quốc tế “ Nâng cao tính bền vững trong chế biến và sử dụng thức
ăn cho nuôi trồng hải sản tại Việt Nam và Ôxtrâylia” do chính phủ Ôxtrâylia
tài trợ và triển khai từ tháng 4 năm 2010 đến tháng 4 năm 2015
Mục tiêu của đề tài :
- Xác định những rào cản của việc sử dụng thức ăn công nghiệp đối với
cá Giò ở quy mô hộ nuôi và các nhà máy sản xuất thức ăn
- Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện việc sử dụng thức ăn côngnghiệp, góp phần cho việc sử dụng thức ăn công nghiệp cho cá Giò một cách cóhiệu quả
Nội dung nghiên cứu:
- Điều tra xác định những rào cản về việc chấp nhận việc sử dụng thức ăncông nghiệp đối với mức độ người nuôi
- Điều tra xác định những rào cản về việc chấp nhận việc sử dụng thức ăncông nghiệp đối với múc độ các nhà máy sản xuất thức ăn
Trang 3CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nuôi cá biển, sản xuất TĂCN và hiện trạng sử dụng cá tạp làm thức ăn cho cá biển trên thế giới
Trên thế giới, trước áp lực của việc gia tăng dân số, việc khai thác quámức nguồn lợi thủy sản, cùng với đó là nhu cầu hàng thủy sản chất lượng caocũng gia tăng, điều đó đã tạo ra áp lực cho ngành nuôi trồng thủy sản, nhưngmặt khác cũng tạo ra cơ hội phát triển cho ngành NTTS nói chung và đối vớingành nuôi biển nói riêng trong đó có nuôi cá biển
Trước những thách thức trên cùng với sự phát triển khá “ lịch sử” củamình, ngành nuôi cá biển đang thực sự được phát triển Tính đến cuối thế kỉ 20,ngành nuôi biển của thế giới đã đưa vào nuôi trên 300 loài cá, tôm và nhuyễnthể Nuôi biển phát triển nhanh chóng trong 2 thập kỉ cuối của thế kỉ 20, một sốnước trên thế giới đã sớm chú trọng phát triển nuôi biển.[13]
Riêng đối với cá biển, theo các dự báo đã được công bố, sẽ phát triểnnhanh và đạt tới sản lượng từ 3,5 - 4 triệu tấn vào năm 2010
Các đối tượng nuôi quan trọng nhất vẫn là cá Hồi biển, ước đạt sản lượngkhoảng 2 triệu tấn vào năm 2010, trong đó riêng Nauy đã công bố sẽ đạt 1 triệutấn, Chi Lê là khoảng 0,5 triệu tấn
Cá Tuyết sẽ là đối tượng được đặc biệt chú ý Nhiều kế hoạch to lớn pháttriển nuôi cá Tuyết Đại Tây Dương đã được vạch ra Na Uy, Anh, Canađa sẽ
đi đầu trong lĩnh vực này Người ta hy vọng chỉ cần khoảng 10 năm sẽ đạt đượcsản lượng cá tuyết nuôi tới 1 triệu tấn/năm
Trang 4Hiện nay, Nauy vẫn đang được xem là một trong những nước phát triểnnghề nuôi cá biển mạnh của thế giới, cả về công nghệ nuôi lẫn sản lượng nuôi.Nauy phát triển nuôi cá biển từ những năm 60 trở về trước, lúc đó Nauy chỉ cómột số trang trại nuôi cá nước ngọt Nuôi biển chỉ mới được bắt đầu từ nhữngnăm cuối của thập kỉ 60 Trải qua quá trình hình thành và phát triển, Nauy đãđạt được sự phát triển về nuôi trồng hải sản như ngày nay, với sản lượng 35.000tấn cá các loại thì tới năm 2008 sản lượng cá biển nuôi của Nauy đã lên tới800.000 tấn.[10]
Bảng 1.1 Số lượng một số loài cá nuôi tại Nauy trong vài thập kỉ gần
ở khu vực Đông Á , Đông Nam Á và Địa Trung Hải Sản lượng của nhóm cánày ước tính đạt 0,5 ¸ 0,6 triệu tấn vào năm 2010
Cá Bơn cũng đang là đối tượng được quan tâm không chỉ ở khu vựcĐông Á (Hàn Quốc, Nhật Bản) mà còn ở các nước Tây Âu
Trang 5Cá Ngừ đại dương cũng là đối tượng được quan tâm nhiều ở Nhật Bản,Ôxtrâylia, Đài Loan, Tây Ban Nha
Người ta còn hy vọng nuôi cá Ngừ sẽ trở thành lĩnh vực nuôi cá biểnquan trọng trong tương lai
Riêng đối với Nhật Bản, nghề nuôi biển đã có lịch sử phát triển khoảngtrên 200 năm, được bắt đầu bằng việc lưu giữ một số loài như cá Trích, cáTrổng… trong các lồng tre, lồng gỗ đơn giản Đến nay, công nghệ nuôi biểncùng với các công nghệ như công nghệ thức ăn, công nghệ sản xuất giống cũngđược chú trọng phát triển và thu được nhiều thành tựu Chỉ tính riêng sản lượng
cá Cam nuôi đã tăng từ 2.579 tấn trong năm 1976 lên 30.774 tấn năm 1968.Năm 1997, Nhật Bản đã có 1.724 trang trại nuôi cá Cam với 15.898 lồng, đạtsản lượng 138.000 tấn ( Takashima & Arimoto, 2000)[10]
Bảng 1.2 Sản lượng cá Cam tại Nhật Bản ( Furukawa, 1970)
Trang 6Trong các nước tiến hành nuôi cá Giò thì Đài Loan luôn là nước đứng đầu vềsản xuất con giống và nuôi cá Giò thương phẩm, theo số liệu thống kê thì ĐàiLoan chiếm 80% tổng số lồng nuôi biển Tổng sản lượng cá Giò năm 1999 là1.800 tấn đến năm 2001 đã tăng lên 3.000 tấn, riêng năm 2002 sản lượng có suygiảm đi do sự bùng phát dịch bệnh.[24]
Thức ăn được sử dụng cho việc nuôi cá biển ở hầu hết các nước trên thếgiới đã là thức ăn công nghiệp Tuy nhiên, theo một cuộc điều tra trên toàn cầukéo dài từ tháng 12/2006 đến tháng 10/2007 về việc sử dụng bột cá và dầu cátrong thành phần các thức ăn nuôi trồng thủy sản bằng bảng câu hỏi phỏng vấngửi tới 800 nhà sản xuất thức ăn, nông dân, nhà nghiên cứu, các chuyên gia vềnghề cá và những người làm các công việc có liên quan ở trên 50 quốc gia thìviệc sử dụng bột cá và dầu cá trong thành phần các thức ăn nuôi trồng thủy sản
đã và đang gặp phải một số khó khăn
Trên cơ sở của các phản hồi nhận được, có thể ước lượng được rằngtrong năm 2006, lãnh vực nuôi trồng thủy sản đã tiêu thụ khoảng 3.724 ngàn tấnbột cá (chiếm 68,2% tổng lượng bột cá sản xuất trên toàn cầu vào năm 2006) và
835 ngàn tấn dầu cá (chiếm 88,5% tổng lượng dầu cá sản xuất được năm 2006)hoặc là tương đương với khoảng 16,6 triệu tấn cá tạp (khi sử dụng cá tạp tươilàm bột cá thì còn khoảng 22,5% và dùng để trích dầu cá thì còn khỏang 5%)với tỷ lệ trung bình giữa cá đầu vào (tính bằng lượng cá tạp tươi đánh bắt ngoàibiển) và đầu ra (sản phẩm thủy sản thu hoạch) là 0,7[19]
Do đó, việc sử dụng và sản xuất thức ăn công nghiệp cho việc nuôi cábiển đang là vấn đề nan giải của hầu hết các nước có ngành công nghiệp nuôi cá
Trang 7biển phát triển trên thế giới, nhằm hạn chế việc sử dụng bột cá làm nguyên liệuchính cho việc sản xuất thức ăn công nghiệp.
1.2Tình hình nuôi cá biển, sản xuất TĂCN và hiện trạng sử dụng cá tạp làm thức ăn cho cá biển tại Việt Nam
Nuôi cá biển thực sự chưa phát triển ở Việt Nam, các vùng nuôi hiện naychỉ chủ yếu là nuôi nâng cấp, giống bắt từ tự nhiên, cho ăn cá tạp và bán khi cóngười mua Một số khu vực như Quảng Ninh, Phú Yên, Khánh Hòa, tuy đã pháttriển nuôi nhưng chủ yếu vẫn nhỏ lẻ, chưa tạo ra được một lượng đáng kể vềsản phẩm của bất cứ loài nào.[1]
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn được xem là nước đứng “ hàng thứ 3” trên thếgiới về sản xuất giống và nuôi cá Giò[17] Những năm gần đây, bên cạnh cácđối tượng nuôi biển nói chung thì cá biển cũng đang được xem là một trongnhững loài mang lại giá trị kinh tế cao, với những loài nuôi chủ yếu như cáSong, cá Vược, cá Giò… theo số liệu thống kê chưa đầy đủ thì trong năm 2009sản lượng nuôi biển ước đạt khoảng 15.000 tấn, riêng đối với cá Giò là 2.600tấn, với ưu điểm là loài nuôi có tốc độ tăng trưởng nhanh, từ cá giống cỡ 30 g
có thể đạt 6 – 8 kg sau 1 năm nuôi ( Su và ctv, 2000), cá Giò đang là đối tươngnuôi có sức hút với người nuôi
Ở các tỉnh Đồng bằng và Ven biển Bắc Bộ (ĐB và VBBB), cá biển chủyếu nuôi trong lồng, tập trung ở các tỉnh Quảng Ninh, Nam Định, Thanh Hóavới tổng số 13.058 lồng, sản lượng 8.845 tấn cá các loại Đối tượng nuôi chủyếu vẫn là cá Giò, cá Song, cá Vược… Theo số liệu thống kê, ĐB và VBBB chỉ
có 38.850 ha về diện tích chỉ chiếm 3% tổng diện tích cả nước nhưng chiếm tới87% sản lượng với 8.845 tấn[14]
Trang 8Ở các tỉnh miền Trung, nuôi cá biển ở các tỉnh Trung Bộ chưa nhiều, mới
có một số nơi như Nghệ An, Đà Nẵng, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, BìnhThuận vẫn các loài nuôi chủ yếu như cá Song, cá Giò, cá Vược… Việc nuôi
cá lồng vẫn chủ yếu thu gom giống từ tự nhiên, cho ăn bằng cá tạp, sản lượngchưa được nhiều Tại Nghệ An đang phát triển nuôi cá Giò bằng lồng kiểuNauy, có khả năng chống đỡ bão biển tốt, cá biển cũng bắt đầu được nuôi trong
ao nước mặn, ở Khánh Hòa ( 80 ha), Phú Yên( 25 ha) Tuy vậy, nuôi cá biểnvẫn chưa hoàn toàn chủ động được giống, thức ăn và hơn nhất là việc tiêu thụsản phẩm có nhiều khó khăn, nên nghề nuôi cá biển chưa thực sự phát triểntương xứng với tiềm năng mặt nước biển hiện có.[17]
Các tỉnh Nam Bộ, sản lượng cá biển năm 2005 đạt 232 tấn, chiếm 0,1%tổng sản lượng của cả nước với 166 ha chiếm 0,1 % tổng diện tích của cả nước,đến năm 2006 sản lượng nuôi đã lên tới 373 tấn chiếm 0,14% tổng sản lượngcủa cả nước vẫn chỉ chiếm 0,1 % tổng diện tích nuôi cá biển của cả nước.[15]
Với sự phát triển còn yếu như vậy nên hầu hết các nhà máy đều sản xuấtthức ăn cho các đối tượng chủ lực như cá Tra, tôm nước lợ là chủ yếu Theothống kê năm 2005, cả nước có 38 cơ sở sản xuất thức ăn nuôi trồng thuỷ sản,sản lượng ước tính đạt 410.000 tấn, đáp ứng khoảng 42 % nhu cầu, còn lại phảinhập khẩu và sử dụng thức ăn tự chế biến, nhưng tới tháng 12 năm 2009 thì cảnước đã có tới 106 nhà máy sản xuất thức ăn phục vụ nuôi trồng thuỷ sản, trong
đó sản xuất thức ăn cá Tra là 88 cơ sở, tôm Sú là 63 cơ sở, tôm Thẻ là 28, cá Rôphi là 65, tôm Càng xanh là 11, các cơ sở có công suất lớn, sản xuất thức ăn đađối tượng chủ yếu là các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài và tập trungchủ yếu ở các tỉnh phía Nam, trong đó đối với tôm nước lợ các nhà máy trong
Trang 9nước chỉ sản xuất được 1.920.000 tấn ( chiếm 77,3 %), nhập khẩu 435.000 tấn(chiếm 17,5%) và 129.000 tấn là thức ăn tự chế biến ( chiếm 5,2 %), đối với cátra thì các nhà máy trong nước sản xuất được 1.650.000 tấn ( chiếm 78.6%),nhập khẩu 80.000 tấn (3.8 %), thức ăn tự chế khoảng 370.000 tấn ( chiếm17,6%)[4]
Bảng 1.3 Tổng hợp tình hình sản xuất thức ăn thuỷ sản từ 2005 đến
Nguồn: Báo cáo các tình hình và số liệu tổng hợp Danh mục
Mặt khác nhu cầu nguyên liệu sản xuất thức ăn thuỷ sản của nước tatương đối lớn, lượng nguyên liệu trong nước không đủ đáp ứng nhu cầu của sảnxuất trong nước Nguyên liệu nhập khẩu chủ yếu là các loại khoáng, acid amin,enzyme, dầu cá, dầu mực, bột gan mực, bột cá, bột đậu nành, cám mỳ… Lượngbột cá chủ yếu nhập khẩu từ Peru, Chi lê, Trung Quốc.[4]
Lượng bột ngô nhập khẩu khoảng 800.000 tấn, cám gạo, cám mỳ khoảng500.000 – 600.000 tấn, lượng bột cá năm 2008 khoảng 154.000 tấn.[4]
Trang 10Bột cá nhập khẩu chủ yếu sử dụng để sản xuất thức ăn cho tôm do cóhàm lượng đạm cao và chất lượng ổn định hơn bột cá trong nước, hàm lượngdinh dưỡng đối với bột cá nhập khẩu từ 65 – 67 % độ đạm, trong khi đó bột cátrong nước dao động từ 55 – 62 độ đạm, do đó chủ yếu sử dụng để sản xuấtthức ăn cho cá Tra và cá Rô phi Khoảng 85 % lượng bột cá sử dụng sản xuấtthức ăn cá Tra, cá Rô phi là bột cá trong nước.[4]
Riêng đối với ngành nuôi biển, một thực trạng dễ thấy là việc sử dụng cátạp làm thức ăn chính cho cá biển hầu hết ở các khu vực nuôi trong cả nước
Ở ĐB và VBBB thức ăn sử dụng chủ yếu là cá tạp tươi sống dễ gây ảnhhưởng môi trường và làm cho dịch bệnh phát triển Nuôi cá biển đang dừng lại
ở quy mô nhỏ lẻ nên chưa tạo ra vùng sản xuất nguyên liệu cho xuất khẩu vàchưa khai thác hết tiềm năng diện tích eo vịnh và biển mở
Bảng 1.4 Lượng cá tạp ước tính sử dụng trong NTTS năm 2003 Loài
Sản lượng (tấn)
Trong khi đó, giá cá tạp liên tục tăng trong 3 – 5 năm qua, từ năm 1999 –
2003, chúng thay đổi theo vùng và mùa vụ, nhưng tăng lên khoảng gấp đôitrong những năm 2001 – 2003 Giá cá tạp dùng để nuôi cá Mú khoảng 1.000 –3.000 vnđ/ kg, giá cá cơm dung nuôi cá Mú và Tôm hùm khoảng 3.000 – 6.000vnđ/ kg.[2]
Trang 111.3 Tình hình nuôi cá biển và hiện trạng sử dụng cá tạp làm thức ăn cho cá biển tại Hải Phòng
Hải phòng là một trong những địa phương phát triển nuôi cá biển sớmhơn các địa phương khác trong cả nước, số lồng bè nuôi tăng từ 35 bè với 150lồng, đạt sản lượng 18 tấn năm 1999 lên 531 bè với 7697 lồng, sản lượng 1.956tấn năm 2006, đạt 47.850 tỷ đồng với năng xuất 250 kg/ lồng, giải quyết đượcviệc làm cho hàng nghìn lao động.[7] Tuy vậy, nuôi cá lồng trên biển mới chỉphát triển ở quy mô nhỏ, phương thức nuôi đơn giản, chủ yếu vẫn thu gomgiống ngoài tự nhiên , thức ăn là cá tạp tươi sống, do vậy dễ gây ô nhiễm môitrường và dịch bệnh, dẫn tới hiệu quả nuôi chưa đựơc cao
Trong đó, Cát Bà - một trong những huyện có nghề nuôi hải sản mạnhnhất ở Hải Phòng, tuy chỉ mới phát triển trong hơn một thập kỉ vừa qua nhưng
đã cho thấy những sự thành công đáng ghi nhận, mang lại nhiều lợi ích đáng kểtrong lĩnh vực kinh tế, an sinh xã hội Số hộ ngư dân chuyển nghề từ đánh bắt,khai thác tự nhiên sang nuôi cá lồng có thu nhập cao ngày một tăng, bên cạnhviệc phát triển kinh tế, chuyển đổi nghề còn kéo theo sự gia tăng về số lượng
bè và lồng nuôi Năm sau luôn cao hơn hơn năm trước,; từ 316 bè với 4.237 ôlồng, sản lượng nuôi đạt trên 1.000 tấn/ năm trong năm 1999 đến cuối năm
Trang 122009 575 10.500
Nguồn: phòng NN&PTNT huyện Cát Bà, năm 2009
Song song với những yếu tố tích cực của nghề nuôi cá lồng trên biển tạiCát Bà là chuyển đổi cơ cấu nghề từ khai thác, đánh bắt tự nhiên sang chăn nuôithủy sản trên biển, đối tượng nuôi đa dạng, mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể,giải quyết công ăn việc làm cho ngư dân, song cũng cần phải đề cập đến không
ít những khó khăn đang tồn tại và những nguy cơ sẽ xảy ra trong tương lai , đó
là tình trạng hầu hết người nuôi cá biển sử dụng cá tạp tuơi sống làm thức ănchính cho việc nuôi cá biển, hiện nay thì Cát Bà đang sử dụng 100% thức ăncho cá biển là cá tạp được khai thác từ các nguồn dùng cho chăn nuôi
Căn cứ vào số liệu thống kê thực tế về số lượng lồng bè nuôi cá, và theotính toán sơ bộ mức độ tiêu thụ cá mồi sử dụng làm thức ăn cho cá con, củ thểlượng cá được sử dụng vào nuôi lồng bè tại Cát Bà đựơc trình bày ở bảng 1.6
Bảng 1.6 Lượng cá tạp được sử dụng cho các giai đoạn phát triển
của cá trong năm 2009 tại Hải Phòng
Giai đoạn
( g/ con) Số lồng
Tổng trọng lượng cá ( kg)
lượng thức ăn theo
% trọng luợng cá ( %/ ngày)
Luợng thức ăn cho ăn hàng ngày ( kg/ngày)
Trang 131.4 Đặc điểm sinh học của cá Giò
Trang 14Giống : Rachycentron
Loài : Rachycentron canadum (Linnaeus, 1766)
Tên tiếng anh: Black Kingfish hoặc Cobia
Tên tiếng việt: Cá Giò hoặc cá Bớp
1.4.2 Đặc điểm hình thái và phân bố
Cá Giò là loài cá có kích thước lớn, dài, cơ thể thon hình dạng như quảngư lôi với đầu dài, bẹp Mắt cá nhỏ, mồm rộng Hàm dưới nhô ra hơn hàmtrên, da mịn với những vảy rất nhỏ Đặc điểm đặc trưng nhất là vây lưng đầutiên có 7 – 9 gai ngắn, nhọn, tách riêng không được nối với nhau bằng màng.Vây lưng thứ hai dài với phần trước nhô lên Vây đuôi tròn, cụt ở cá nhỏ vàhình lưỡi liềm ở cá trưởng thành với thuỳ trên dài hơn thuỳ dưới Vây ngựcnhọn Phần gốc đuôi hậu môn bên dưới đỉnh vây lưng thứ hai [11]
Cơ thể có màu nâu tối đến bạc, xám nhạt hai bên và trắng xám đến bạcbên dưới, với hai sọc hẹp, tối kéo dài từ mõm tới tận vây đuôi Những sọc tốinày được chắn bên trên và bên dưới bởi những dường màu nhạt hơn Cá Giònhỏ có những đường tối ở hai bên, có xu hướng trở nên tối hơn khi cá trưởngthành Hầu hết vây có màu nâu đậm, với những điểm xám ở vây hậu môn vàvây đuôi.[11]
Cá Giò có những hàng răng ở hai hàm, trên vòm miệng và lưỡi
Trang 15Hình 1.1 Hình thái ngoài của cá Giò
Cá giò phân bố rộng rãi gần như trên toàn thế giới, ở vùng biển nhiệtđới, cận nhiệt đới, vùng biển ấm và ôn đới ngoại trừ phía đông Thái BìnhDương (Briggs 1960; Shaffer and Nakamura 1989) Cá giò phân bố ở cả Ấn
Độ Dương và phía Tây Thái Bình Dương Chúng phân bố từ Hokkaido – NhậtBản đến Úc và Đông Ấn (Bianchi 1985, Fourmanoir 1957, Grant 1972,Hatchell 1954, Jordan and Seal 1906, La Monte 1952, Lindberg vàKrasyukova 1971, Relyea 1981, Veno 1965)
1.4.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá Giò thuộc loại cá dữ, ăn thịt động vật, thức ăn tự nhiên gồm cua, tôm,
ốc và các loại cá con Ngoài tự nhiên, cá Giò nhỏ ăn thức ăn đầu tiên là độngvật đáy như cá, cua và động vật chân đầu (Shaffer and Nakamura, 1989), trong
đó ưa thích nhất là cua, vì thế cá Giò còn có tên là “ kẻ ăn thịt cua” crebeater.Khi bắt mồi, chúng thường dìm các con mồi của chúng xuống sâu Chúngthường bơi theo đoàn từ 3 – 100 con, săn mồi trong khi di cư ở vùng nước nôngdọc theo bờ [11]
Trang 16Cá Giò mới nở có giọt dầu nằm ở phần sau của noãn hoàng Chất sắc tốphân bố trên toàn cơ thể Ấu trùng cá lớn nhanh, 12 giờ sau khi nở, cá đạt 4mm.
Ấu trùng cá Giò nói chung có sức sống cao hơn và khả năng chống chịu tốt hơn
ấu trùng các loài cá biển khác Ấu trùng 3 ngày tuổi có thể dài 5,1 mm và bắtmồi thụ động Thức ăn khi ấy chỉ là Rotifer và Nauplius của Copepoda Nămngày tuổi, miệng và mắt cá phát triển cho phép tự bắt mồi Cá có một đường sọcvàng nhạt kéo dài dọc theo thân cá Ở ngày thứ 6, ấu trùng dài 6,8 mm, ănCopepoda trưởng thành [11] Cá bắt đầu biến thái ở ngày thứ 10 – 11 Màu của
ấu trùng thay đổi dần từ đỏ sang nâu tối tới đen, với những vân lưng thay đổiđến màu xanh tối Vây cá bắt đầu có màu và có sọc xuất hiện ở lưng Thời gianbiến thái ngắn chỉ kéo dài 1 ngày Sau đó, ấu trùng có xu hướng nằm dưới đáy
bể Sau 30 ngày, cá có hình dạng như cá trưởng thành với 2 đường sọc chạy dọc
cơ thể
1.4.4 Đặc điểm sinh trưởng
Cá Giò là loài có tốc độ tăng trưởng nhanh, ấu trùng mới nở có chiều dài1,4 mm, sau 45 ngày tuổi đạt 9 – 10 cm ( Wheerler, 1975) Cá Giò có thể đạtđến kích thước 20 – 47 inch ( 50 – 120 cm), kích thước tối đa là 79 inch ( 200cm) ( Wheerler)
Về khối lượng, cá Giò sau 20 ngày tuổi đạt khối lượng 0,2 g, 45 ngàytuổi đạt 2 – 5 g, tới 75 ngày tuổi đạt 3 – 8 g [21], trong môi trường tự nhiên cáGiò có thê đạt khối lượng 3 – 4 kg sau năm và 8 – 10 kg sau 2 năm [22]
Chúng lớn rất nhanh và có tuổi thọ vừa phải Cá Giò già nhất được tìmthấy ở vịnh Mexico là 9 tuổi với cá đực và 11 tuổi cho cá cái, trong khi ở ngoàikhơi Bắc Carolina là 14 tuổi cho cá cái và 13 tuổi cho cá đực
Trang 171.4.5 Đặc điểm sinh sản
Cá Giò là loài phân tính, cá đực trưởng thành có kích thước nhỏ hơn cácái Cá cái thành thục sau 3 tuổi, cá đực sau 2 tuổi ở vùng vịnh Chesapeake( Wheerler, 1975) Ở những vùng khác trên thế giới cá có thể thành thục sớmhơn Ở Đài Loan, cá Giò một tuổi đã sẵn sàng thành thục và có thể sinh sản tốt
ở 1,5 tuổi (Liao, 2001) Sức sinh sản tốt nhất của con cái khi đạt 100 – 125 cm
là 1,9 – 5,4 triệu trứng Các nghiên cứu của Biesiot et al (1994) đã chỉ ra rằngsinh sản chỉ xảy ra trong mùa xuân và mùa hè, đỉnh sinh sản là vào giữa tháng
5 và tháng 6 (Lotz et al, 1996) Dữ liệu ở một số tiểu bang nằm dọc theo vịnhMexico cũng cho kết quả tương tự và xác định cá Giò có mùa sinh sản kéo dài
từ tháng 4 đến đầu tháng 10
Phía Bắc Đài Loan, mùa sinh sản của cá Giò từ tháng 2 tới tháng 5, sau
đó kéo dài tới tháng 10 ( Liao, 2001) Nhiệt độ thích hợp cho sinh sản là 24 – 29
0C, thích hợp nhất là từ 24 – 26 0C Vào mùa xuân, hoạt động sinh sản diễn ratrong vòng 5 giờ sáng các ngày nắng Trong suốt mùa hè, khi thời gian banngày được kéo dài, hoạt động đẻ đôi khi sẽ chậm lại đến 6 – 7 giờ tối
Lượng trứng đẻ từ 1,5 – 2 triệu trứng Vào mùa sinh sản, chỉ số tuyếnsinh dục của cá cái có khối lượng cơ thể 14,5 kg chiếm từ 8,1 – 9,2 % khốilượng cơ thể.[12]
CHƯƠNG II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các hộ nuôi cá lồng bè tại vùng biển Cát Bà – Hải Phòng
Trang 18- Các nhà máy sản xuất thức ăn thuỷ sản ở một số tỉnh miền Bắc cỡ vừa
và nhỏ, 100% vốn trong nước
- Cá Giò ( Rachycentrum canadum) đang được tiến hành nuôi trong lồng
tại vùng biển Cát Bà – Hải Phòng
2.2 Vật liệu nghiên cứu
- Bộ phiếu điều tra
- Bút, giấy, thuyền, máy ảnh …
2.3 Phuơng pháp nghiên cứu
2.3.1 Sơ đồ khối nghiên cứu
“ Điều tra xác định những rào cản của việc sử dụng thức ăn công
Trang 19Hình 2.1 Sơ đồ khối nghiên cứu
2.3.2 Xây dựng bộ câu hỏi điều tra
- Xây dựng 2 bộ câu hỏi điều tra, chứa đựng các thông tin chi tiết đếntình hình sử dụng và sản xuất thức ăn công nghiệp ở các địa điểm điều tra, 1 bộ
Điều tra thu thập
số liệu sơ cấp
Xử lí thông tin, kết quả điều tra, phỏng vấn
Kết quả điều tra
Thu thập số liệu
thứ cấp
Lập bộ câu hỏiđiều tra
Trang 20câu hỏi phỏng vấn 5 nhà máy sản xuất thức ăn công nghiệp tại Hải Phòng, BắcNinh,Hưng Yên, 1 bộ câu hỏi phỏng vấn 31 hộ nuôi cá lồng tại vùng biển Cát
Bà – Hải Phòng
- Bộ câu hỏi được chia làm 3 phần chính, phần 1 gồm các câu hỏi vềnhững thông tin chung của các đối tượng điều tra, phần 2 gồm các câu hỏi liênquan tới hoạt động của các đối tượng điều tra, phần 3 gồm các ý kiến, nguyệnvọng của các đối tượng điều tra, bộ câu hỏi được xây dựng bao gồm các câu hỏi
mở và đóng Các câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu, dùng các từ thông dụng
- Kiểm tra sơ bộ tập câu hỏi soạn sẵn để thống nhất và đưa ra một bộ câuhỏi cuối cùng
2.3.3 Phương pháp điều tra
- Xác định tuyến điều tra, điều tra nhà máy được thực hiện tại 5 nhà máy
có sản xuất thức ăn thuỷ sản được lựa chọn ngẫu nhiên ở phía Bắc Điều tra các
hộ nuôi tại 2 địa điểm gần bờ ( Bến Bèo), vùng vịnh ( tập trung xung quanh bècủa Viện NCNTTS I, các hộ được phỏng vấn cũng được lựa chọn ngầu nhiên(địa điểm gần bờ 10 hộ, địa điểm vùng vịnh 21 hộ) để tiến hành phỏng vấn
- Đối tượng điều tra đối với nhà máy là các nhà máy vừa và nhỏ có 100
% vốn trong nước ở các thành phố Hải Phòng, Hưng Yên, Bắc Ninh, các hộnuôi tại Cát Bà – Hải Phòng bao gồm các hộ nuôi lẻ, tự phát và các bè nuôi có
sự đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp những người quản lí, những ngườichịu trách nhiệm của các nhà máy cũng như các bè nuôi, phỏng vấn qua cácnhân viên đối với các nhà máy
2.3.4 Phương pháp thu thập số liệu
Trang 21- Thu thập số liệu thứ cấp thông qua việc khai thác mạng Internet và cácbáo cáo tổng kết các dự án, đề tài tại các hội nghị trong nước về thức ăn chonuôi cá biển.
- Thu thập số liệu sơ cấp thông qua khảo sát, phỏng vấn trực tiếp 31 hộnuôi lồng tại Cát Bà - Hải Phòng, và 5 nhà máy sản xuất thức ăn tại Hải Phòng,Bắc Ninh, Hưng Yên, bằng bộ câu hỏi soạn sẵn ( có mẫu kèm theo tại phụ lục)
và các giá trị thống kê khác
2.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Đề tài được tiến hành tại Cát Bà - Hải Phòng, Viện Nghiên cứu nuôitrồng thủy sản I – Từ Sơn – Bắc Ninh và một số nhà máy tại các tỉnh phía Bắc (Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Phòng)
- Thời gian tiến hành đề tài: từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2011
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN3.1 Kết quả điều tra tại các nhà máy sản xuất thức ăn
3.1.1 Thông tin chung về nhà máy
Trang 22Hầu hết các nhà máy sản xuất thức ăn trong quá trình điều tra đều có thờigian sản xuất tại Việt Nam trung bình từ 5 – 9 năm, chỉ riêng đối với công tyHưng Phát là có thời gian hoạt động ít nhất ( 1 năm), và hầu hết là với công suấtnhỏ ( 0,5 – 4 tấn/ h) Các nhà máy này đều sử dụng phương thức dùng hơi nước
để ép đùn viên thức ăn, và chỉ dùng với một hệ thống ép đùn viên thức ăn chạytrong nhà máy, riêng có trung tâm sản xuất thức ăn tại Viện nghiên cứu là sảnxuất thức ăn theo phương thức ép đùn, và cũng chỉ dùng một hệ thống (Bảng3.1)
Bảng 3.1 Thông tin chung về nhà máy