Kinh nghiệm ấy dần dần đợc tíchluỹ, không những giúp con ngời biết sử dụng cây cỏ để làm thức ăn mà cònbiết dùng làm thuốc chữa bệnh.. Trong cuộc sống, ngoài các cây cỏ thực vật đợc sử d
Trang 1Trêng §¹i häc Vinh Khoa Sinh häc
-lª thÞ kim quy
®iÒu tra vÒ c¸c loµi c©y thuèc trong
v-ên nhµ ë phv-êng BÕn Thuû, Thµnh phè Vinh
vµ x Nghi §øc, huyÖn Nghi Léc, tØnh NghÖ · Nghi §øc, huyÖn Nghi Léc, tØnh NghÖ
Trang 2Em gửi lời cảm ơn chân thành tới ban lãnh đạo và ngời dân phờngBến Thủy và xã Nghi Đức huyện Nghi Lộc đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuậnlợi cho em trong quá trình thực hiện đề tài này.
Qua đây cho phép em gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong tổThực Vật, các thầy cô giáo trong khoa Sinh học – Trờng Đại học Vinh;những ngời đã dẫn dắt chỉ bảo cho em trong suốt quá trình em ngồi trênghế trờng Đại học
Cho em gửi lời cảm ơn tới các bạn và ngời thân đã giúp đỡ, động viêncho em trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận này
Xin chân thành cảm ơn !
Vinh, ngày tháng năm 2006
Sinh viên
Lê Thị Kim Quy
Trang 3Danh lục các bảng biểu và biểu đồ
Bảng 6: Tính đa dạng các dạng thân cây thuốc thuộc 2 khu vực
Bảng7: So sánh tính dạng thân cây thuốc thuộc hai khu vực nghiên cứu
32Bảng 8 So sánh nguồn gốc của các loài cây thuộc hai khu vực nghiên
Bảng 9: Mục đích sử dụng của các loài cây thuộc hai khu cực nghiên cứu
35Bảng10: So sánh mục đích sử dụng các loài cây thuộc hai khu vực
Biểu đồ 1: So sánh các taxon họ, chi, loài ở hai khu vực nghiên cứu
31
Biểu đồ3: So sánh nguồn gốc của các loài cây thuốc hai khu vực
Biểu đồ4: So sánh mục đích sử dụng các loài cây ở hai khu vực
Trang 4Mục lục
Trang
1.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nớc trên thế giới
3
ChơngII: Đối tợng, nội dung, địa điểm, thời gian và phơng pháp nghiên
ChơngIII: Điều kiện tự nhiên và xã hội khu vực nghiên cứu 15
Trang 5Việc dùng thuốc trong nhân dân ta đã có từ lâu đời Từ thời nguyên thủy,
tổ tiên chúng ta trong lúc tìm kiếm thức ăn, có khi ăn phải chất độc phát sinhnôn mửa hoặc đi ngoài, hôn mê có khi chết ngời, do đó dần dần có nhận thứcphân biệt đợc vị nào ăn đợc, vị nào có độc Kinh nghiệm ấy dần dần đợc tíchluỹ, không những giúp con ngời biết sử dụng cây cỏ để làm thức ăn mà cònbiết dùng làm thuốc chữa bệnh Nh vậy, việc phát minh ra thuốc đã có từ lâu
đời, trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên, tìm tòi thức ăn mà có đợc
Song ngày nay, xã hội càng văn minh, môi trờng bị ô nhiễm, nhiều bệnhtật mới xuất hiện mà Y học hiện đại cũng trở nên bất lực Trong khi đó nhiều
Trang 6cây cỏ thực vật lại có thể sử dụng làm thuốc để điều trị chữa bệnh Thực tế đãchứng minh nhiều cây cỏ thực vật có tác dụng chữa trị nhiều bệnh rất hiệunghiệm nh các bệnh thông thờng, mãn tính (cảm sốt, ho, bong gân, một sốbệnh về đờng tiêu hoá, ngoài da…) Ngoài ra còn có một số bệnh nan y hay) Ngoài ra còn có một số bệnh nan y haycấp tính cũng có tác dụng chữa trị rất tốt Có nhiều bài thuốc dân tộc đợc sửdụng dới nhiều hình thức kết hợp với nhau một cách hài hoà (uống, xoa, rịt…) Ngoài ra còn có một số bệnh nan y hay).Bên cạnh việc sử dụng thuốc theo kinh nghiệm cổ truyền, khoa học đã chứngminh cơ sở khoa học của những cây thuốc qua phân tích hóa học, tác dụngkháng khuẩn, sát trùng không gây tác dụng phụ nh các loại thuốc Tây Chínhvì vậy, hiện nay nhiều nớc trên thế giới, nhất là các nớc tiên tiến đang có xu h-ớng quay lại tìm hiểu cây cỏ để sử dụng chữa bệnh cho con ngời
Trong cuộc sống, ngoài các cây cỏ thực vật đợc sử dụng làm thuốc theokinh nghiệm cổ truyền của cha ông ta thì các loại cây rau, cây hoa quả, các câymọc dại không chỉ là một loại thực phẩm dùng ăn hàng ngày mà đặc biệt làtrong hầu hết các loại đó còn có công dụng (ít hoặc nhiều) trong việc phòng trịbệnh Tuy nhiên, việc khai thác các loại rau, hoa quả, kể cả trong ăn uống vàtrị liệu có đạt hiệu quả cao hay không còn tuỳ thuộc vào sự hiểu biết và phơngpháp sử dụng của mỗi ngời
Xuất phát từ lý do trên mà chúng tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu cácloài cây (trồng làm rau, ăn quả, cây ảnh và một số cây mọc dại) có trong vờn
60 hộ gia đình ngẫu nhiên đợc chọn để nghiên cứu Do thời gian, điều kiện cònhạn chế nên chúng tôi không thể nghiên cứu hết tất cả các loài cây tồn tạitrong vờn các hộ gia đình phờng Bến Thủy - Thành phố Vinh và xã Nghi Đức,huyện Nghi Lộc - tỉnh Nghệ An; nhất là những loài cây mọc dại hay trồngtrong vờn ở khu vực điều tra nghiên cứu Từ đó chúng tôi mong muốn gópphần nhỏ bé của mình vào việc điều tra nghiên cứu, phân loại các loại câythuốc cũng nh mức độ sử dụng cây thuốc của ngời dân ở hai khu vực nghiêncứu
Mục tiêu của đề tài:
- Điều tra thành phần loài các loài cây có khả năng làm thuốc tại 2 khuvực nghiên cứu là Phờng Bến Thủy (Vinh) và xã Nghi Đức (Nghi Lộc)
Trang 7- Tìm hiểu nguồn gốc, mục đích và sự quan tâm về các loài cây làm thuốccủa ngời dân tại khu vực nghiên cứu.
Trang 8Chơng 1 Tổng quan tài liệu
1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nớc trên thế giới
Con ngời từ buổi sơ khai đi tìm kiếm thức ăn đã tiếp xúc với cỏ câychim thú Thông qua việc sử dụng cây cỏ làm thức ăn mà con ngời đã tìm đợcnhiều nguồn thực phẩm từ thực vật Những kinh nghiệm ấy đã đợc tích luỹ gópphần vào việc sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn từ thiên nhiên
Bởi vậy, vấn đề dân tộc Thực vật học đã đợc hình thành ngay từ khi xuấthiện con ngời Từ những kinh nghiệm đó dần dần đã hình thành một khoa họcgọi là Dân tộc Thực vật học Nó nghiên cứu mối quan hệ giữa các dân tộc khácnhau và với các loài cây cỏ phục vụ cho cuộc sống của họ Trong sự phát triểncủa loài ngời mỗi dân tộc, quốc gia đều có những nền Y học cổ truyền riêng,việc tìm nguồn thức ăn, nớc uống với cây thuốc chỉ là một và các kinh nghiệmdân gian đợc nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự phát triểncủa mỗi quốc gia đó
Từ xa xa, vào năm 3216 hoặc 3080 tr.CN thần nông (vị thần nôngnghiệp của ngời Việt cổ trồng lúa nớc…) Ngoài ra còn có một số bệnh nan y hay) là ngời đã su tập và ghi chép nên 365
vị thuốc độc rất có giá trị trong cuốn sách “Mục lục thảo mộc” hay “Thầnnông bản thảo” một bộ sách thuốc cổ nhất của Đông Y [8] còn từ thời cổ xa,
các chiến binh La Mã đã biết dùng dịch cây lô hội (Aloe barbadensis) để rửa
vết thơng, vết loét…) Ngoài ra còn có một số bệnh nan y hay chóng lành sẹo [13] Cây lô hội (Aloe barbadensis) cũng
đợc ngời Sumeri dùng lá để làm thuốc tẩy xổ, ngời xa đã viết nó bằng hình nềntrên phiến đất nung và hiện nay tìm thấy di tích đó ở thành phố Nippur có niên
đại 2000 năm tr.CN Vào 1550 tr.CN ngời Ai Cập cổ đại đã ghi trên giấy sậy
về cách sử dụng cây lô hội đơn thuần hoặc phối hợp với nhiều thảo dợc thành
12 dạng tế bào chế khác nhau dùng chữa nhiều bệnh bên trong và bên ngoài.Khoảng 50 năm tr.CN Cellsius, một thầy thuốc Hy Lạp đã sử dụng nhựa lô hộilàm thuốc tẩy xổ mà ngày nay khoa học đã chứng minh là dịch cây có tác dụngliền sẹo thông qua khả năng kích thích tổ chức hạt và tăng nhanh quá trìnhbiểu mô hóa [12], [20]
Theo kinh nghiệm của ngời cổ Hy Lạp và La Mã, quả óc chó (Juglans
regia) để chữa vết loét, vết thơng lâu ngày không liền sẹo còn cây mùi tây
Trang 9(Coriandum officinale) để đắp vết thơng cho mau lành Cũng từ lâu ngời Haiti
ở (Dominic-Trung Mỹ) thờng dùng cây cỏ lào (Chromolaena odorata) dùng
làm thuốc chữa các vết thơng bị nhiễm khuẩn hay cầm máu, áp xe, nhức răng,vết loét lâu ngày không liền sẹo [28]
Ngay đầu thế kỷ II ở Trung Quốc, ngời ta đã biết dùng cây thuốc lá các
loài cây cỏ để chữa bệnh nh: sử dụng nớc chè (Thea sinensis) đặc để rửa vết
thơng và tắm ghẻ Còn theo Fujiki (Nhật Bản) cùng các nhà khoa học ở Việnhàn lâm Hoàng Gia Anh thì chè xanh (Thea sinensis) còn ngăn chặn sự phát triểncủa các loại ung th gan, dạ dày, nhờ chất Gallat epigallocatechine [28], [27]
Mới đây trong nghiên cứu của các nhà khoa học đã kết luận rằngCatechin trong chè xanh cha lên men có hoạt chất tác dụng làm giảm lipittrong máu và làm giảm bệnh tim do Cholesterol quá cao [12]
Hoặc dùng rễ cây cốt khí củ (Pygonum cuspidatum) vỏ rễ cây táo tàu (Zizyphus jujuba) để chữa vết thơng, mà ngày nay khoa học đã chứng minh là
chúng có tanin ở các nớc Nga, Đức, Trung Quốc…) Ngoài ra còn có một số bệnh nan y hay đã dùng cây mã đề
(Plantago major) sắc nớc hoặc giã lá tơi đắp chữa trị vết thơng, viêm tiết niệu, sỏi thận Bột papain lấy từ mủ cây đu đủ (Carica papaya) để kích thích tổ chức
hạt ở các vết thơng phát triển hay ở Cu Ba ngời ta đã dùng bột papain lấy từ mủ
cây đu đủ (Carica papaya) để kích thích tổ chức hạt ở các vết thơng phát triển
[8], [9], [27]
Theo đông y Trung Quốc cây lấu núi (Psychotria rubra) dùng toàn thân
quả nhỏ làm thuốc chữa gãy xơng, tiêu sng, rửa mụn nhọt độc rất hay Ngải
cứu (Artemisia vulgaris) đợc dùng để trị thổ huyết, trực tràng xuất huyết, tử
cung xuất huyết, đau bụng …) Ngoài ra còn có một số bệnh nan y hay Tỏi đợc dùng để chữa bệnh đau màng óc, xơ
động mạch, huyết áp cao, ung th, viêm đờng ruột [8]
Y học dân tộc Bungari, “Đất nớc của hoa hồng” đã coi hoa hồng là một
vị thuốc chữa đợc nhiều bệnh, ngời ta đã dùng cỏ hoa, lá, rễ để làm thuốc tanhuyết ứ và bệnh phù thũng Ngày nay ngời ta đã chứng minh rằng trong cànhhoa hồng có chứa một lợng tanin, glucosid, tinh dầu đáng kể Tinh dầu nàykhông chỉ để chế nớc hoa mà còn đợc dùng để chữa nhiều bệnh Nhân dân ấn
Độ dùng lá cây ba chẽ (Desmodium triangulare) sao vàng sắc đặc để chữa kiết
lỵ và tiêu chảy Có những loài cây mọc hoang mà nơi nào đó cũng sẵn nh cây
Trang 10bồ cu vẽ (Breynia fruticosa) đồng bào Philippin dùng lá sắc cho phụ nữ sau khi
đẻ uống hoặc lấy dã nhỏ vắt nớc cốt cho trẻ uống trị sổ mũi, đau họng, ho gà[18]
Bên cạnh phơng thức dùng cây thuốc theo Y học cổ truyền, nh dùngthuốc thang, thuốc cao, thuốc bột, sắc uống xoa bóp hay chờm đến nay vẫn đ-
ợc dùng, từ lâu ngời ta còn đi sâu nghiên cứu tìm hiểu xem cơ chế nào và hợpchất hóa học nào có trong cây cỏ dại có tác dụng chữa mọi bệnh
Theo Anon, 1982 hiện đang biết ít cấu trúc của các hợp chất hóa học tựnhiên đợc chiết từ cây cỏ để làm thuốc hoặc từ đó tổng hợp nên những loàithuốc mới có hiệu lực chữa bệnh cao [19] Tokin, Klein, Penneys, đã côngnhận rằng hầu hết cây cỏ đều có tính kháng sinh đó là một trong các yếu tốmiễn dịch tự nhiên, tác dụng kháng khuẩn là do các hợp chất tự nhiên hay gặpnh: các chất Phenolic, antoxyan…) Ngoài ra còn có một số bệnh nan y hay ví dụ nh từ cây Aloe vera Theo Gotthall
(1950) đã phân lập đợc chất Glycosid barbaloin có tác dụng với vi khuẩn lao
ngời và tác dụng với Baccilus subtilic đã chiết từ kim ngân hoa (Lonicera sp.),
một hoạt chất có tác dụng với các loài vi khuẩn gây bệnh tả lị, mụn nhọt Ngời
ta cũng đã chiết đợc becberin từ cây hoàng liên (Coptis chinensis) Theo
Gillver (1946) thì Becberin có tác dụng chữa bệnh đờng ruột và kiềm chế một
số giống vi khuẩn làm hại cây cối Theo Lebedev thì có nhận xét Becberin có
tác dụng đối với tụ cầu, trực khuẩn lao hay trong nhiều loài ba gạc (Rauwolfia
sp.) chiết đợc chất resecpin, serpentin làm thuốc hạ huyết áp, Vincistin đợc
chiết suất từ cây dừa cạn (Catharanthus sp.) có tác dụng hạ huyết áp vừa làm
thuốc ung th máu [25]
Gần đây theo thông tin từ trung tâm thơng mại quốc tế cho biết, mức độ
sử dụng cây thuốc từ các nớc công nghiệp ngày càng cao Riêng về cây thuốc
đợc nhập khẩu vào các nớc này từ năm 1976 đến năm 1980 đã tăng lên từ 355triệu US$ lên 551 triệu US$ Tổng giá trị về thuốc nguồn gốc từ thực vật trênthị trờng Âu-Mỹ và Nhật Bản vào năm 1983 là hơn 43 tỷ US$ Trung Quốc làquốc gia đông dân nhất thế giới, lại có truyền thống sử dụng cây thuốc theo Yhọc cổ truyền mỗi năm đã dùng tới 70.000 tấn dợc liệu (theo số liệu củaWHO), sản phẩm thuốc Y học dân tộc ở quốc nội và thơng mại hoá của TrungQuốc đã đạt giá trị hơn 1,7 tỷ US$ vào năm 1986 [25]
Trang 11Điều này chứng tỏ rằng ở các nớc công nghiệp phát triển cây thuốc phục
vụ cho nền Y học cổ truyền cũng phát triển mạnh, cây thuốc là loài cây kinh
tế, nó cung cấp nhiều loài thuốc dân tộc và thuốc hiện đại trong việc bảo vệ,chăm sóc sức khỏe con ngời Song hiện nay đã có báo động về sự thu hẹp đáng
kể đa dạng sinh học (ĐDSH) mà trong đó có cả cây thuốc do các hoạt độngnhất định của con ngời (công ớc ĐDSH.1992) Nhiều loài động - thực vật trênthế giới đã vĩnh viễn mất đi hoặc đang bị đe dọa gay gắt về khả năng sống sótcủa chúng T liệu từ IUCN cho biết trong số 43.000 loài thực vật mà tổ chứcnày có thông tin có tới 30.000 loài thực vật coi nh đơng nhiên có nhiều loài
cây làm thuốc nh: ở Bănglađét loài củ nâu (Dioscorea spp.) trớc kia dễ kiếm nay đã trở nên hiếm hoi ở Trung Quốc một số loài (Fritillaria cirrhosa) vốn
mọc tự nhiên ở nhiều nơi, do khai thác quá mức mà từ chỗ đã khai thác tới300.000 tấn trong những năm 50, nay đều đã bị giảm sút thậm chí hầu hết chúng
đã phải trồng lại Đặc biệt, một số những cây thuốc dân tộc quý hiếm do bị khaithác nhiều, hiện đều lâm vào tình trạng có nguy cơ tuyệt chủng [25]
Nguyên nhân gây nên sự suy thoái nghiêm trọng này chính là do khaithác quá mức của con ngời hay môi trờng sống của chúng bị suy thoái Điều
đáng chú ý ở đây là các vùng rừng nhiệt đới và á nhiệt đới, nơi có nhiều câythuốc quý cũng đồng thời cũng là nơi có nhiều loài thực vật bị đe dọa nhất.Chính vì vậy, bảo vệ tài nguyên thực vật trớc hết là bảo vệ rừng, nơi sống củanhiều loài kinh tế nh cây thuốc đã trở thành mối quan tâm của nhiều quốc giacũng nh các tổ chức quốc tế nh IUCN, WWF, UNEP, FAO…) Ngoài ra còn có một số bệnh nan y hay
Trong vài chục năm trở lại đây, với mục đích khuyến cáo và định hớngcho công tác bảo tồn, ủy ban về sự sống sót của các loài (SSC) thuộc IUCN đã
cố gắng không mệt mỏi để thu thập thông tin nhằm xác lập nên danh mục gọi
là sách đỏ để thông qua chơng trình bảo tồn của Liên Hợp Quốc Vấn đề bảotồn cây thuốc đã đợc nhấn mạnh nh là những đối tợng chủ yếu cần u tiên Vìvậy, từ năm 1986 IUCN và WWF đã cộng tác với chính phủ Srilanca thực hiệnmột dự án tổng thể về bảo tồn cây thuốc, bao gồm điều tra thu nhập thông tin
về sử dụng cây thuốc của dân chúng ở nhiều địa phơng Trên cơ sở xây dựngchơng trình quốc gia về bảo tồn và phát triển cây thuốc Theo O.Averel vấn đềbảo tồn cây thuốc ở các quốc gia chính là sự nhận biết và bảo tồn giá trị sử
Trang 12dụng chúng trong Y học dân tộc Vì thế, việc bảo tồn cây thuốc trong giai
đoạn hiện nay đợc đặt ra khẩn thiết [25]
Hớng tới thế kỷ XXI, ngời ta nhận thấy rằng còn nhiều loại bệnh tật vàtriệu chứng nh: bệnh về tế bào, ung th, AIDS…) Ngoài ra còn có một số bệnh nan y hay cần phải tiếp tục tìm kiếm cácloại thuốc điều trị từ thực vật để phục vụ cho mục đích sức khỏe của con ng ời,cho sự hng thịnh của nớc nhà và sự phát triển không ngừng của xã hội, đểchống lại các bệnh nan y thì sự cần thiết là phải kết hợp giữa Đông-Tây Y,giữa Y học hiện đại với kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc Chính từnhững kinh nghiệm cổ truyền thống đó là chìa khóa để nhân loại khám phá ranhững loài thuốc có ích trong tơng lai Cho nên việc khai thác kết hợp với bảotồn các loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng Các nớc trên thế giới đang h-ớng về thực hiện chơng trình quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triểncây thuốc
2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam
Phơng châm kết hợp Đông y và Tây y của Đảng và ngành Y tế đề ra đòihỏi chúng ta phải vừa áp dụng những kinh nghiệm chữa bệnh của ông cha tabằng thuốc nam, vừa tiến hành nghiên cứu, không đợi nghiên cứu xong rồi mới
sử dụng vì những kinh nghiệm chữa bệnh của ông cha ta đã đợc thực tế chứngminh trên ngời thực, bệnh thực từ bao đời nay
Những kinh nghiệm đó thờng chỉ đợc truyền miệng từ ngời này quangời khác, qua mỗi ngời lại thay đổi một ít, có khi bị dấu giếm, xuyên tạc dongời có kinh nghiệm muốn giữ độc quyền cho nên trong công tác điều tra sutầm các bài thuốc cũng nh khi áp dụng những kinh nghiệm của nhân dân thìvấn đề quan trọng là phải biết phân biệt kinh nghiệm thực sự và kinh nghiệm
đã bị xuyên tạc, thần bí hoá Qua quá trình phát triển của dân tộc, các kinhnghiệm dân gian quí báu đó đã dần đúc kết thành những cuốn sách có giá trị
và lu truyền rộng rãi trong nhân dân ta Đặc biệt từ xa xa đồng bào các dân tộcViệt Nam đã có truyền thống sử dụng nguồn tài nguyên cây cỏ sẵn có để làmthuốc chữa trị bệnh cứu ngời
Theo Lê Trần Đức (1980, 1990, 1995) qua các văn tự hán nôm còn sótlại, đã xác định từ thời các Vua Hùng Vơng dựng nớc (2400 năm tr.CN), trong
Trang 13nhân dân ta đã biết dùng cây cỏ để chữa bệnh Cùng với sự phát triển của lịch
sử, nền Y học dân tộc và vốn kinh nghiệm dùng cây thuốc trong dân gian càngphát triển, gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của các danh y nổi tiếng đơng thời[14]
Đời nhà Lý (1010-1224) nhà s Nguyễn Minh Không tức Nguyễn ChiThành đã dùng nhiều cây cỏ chữa bệnh cho dân và cho nhà vua, nên đợc tấnphong “Quốc s triều Lý” [14]
Đến đời nhà Trần (1225-1399) có sự kiện Phạm Ngũ Lão đã thu thậpthống kê trồng một vờn thuốc lớn để chữa bệnh cho quân sỹ, tên núi gọi là
“Sơn Dợc” hiện vẫn còn di tích để lại một quả đồi thuộc xã Hng Đạo, huyệnChí Linh, tỉnh Hải Dơng Vào thế kỷ XIV có vị danh y nổi tiếng là Tuệ Tĩnh-
đợc coi là bậc danh y kỳ tài trong lịch sử y học nớc ta, là “Vị thánh thuốcnam”, tên thực là Nguyễn Bá Tĩnh, Ông đã biên soạn bộ “Nam dợc thần hiệu”gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốcthực vật và 3932 phơng thuốc đơn giản để trị 184 chứng bệnh của 10 khoa lâmsàng cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị Tuệ Tĩnh còn viết cuốn “Hồng nghĩagiác tự y th” gồm 2 bài hán nôm phú, tóm tắt công dụng của 130 loài câythuốc cùng 13 đơn thuốc và cách trị cho 37 chứng sốt khác nhau Sau Tuệ Tĩnh
ở thế kỷ XVIII có Lê Hữu Trác tự Hải Thợng Lãn Ông, đã kế thừa “Nam dợcthần hiệu” của Tuệ Tĩnh và bổ sung thêm 329 vị thuốc nam nữa, làm nên bộ
“Linh nam bản thảo”[4], [2]
Đến thế kỷ XIX có thêm một số công trình nữa về cây thuốc nh: “Namdợc” và “Nam dợc chỉ danh truyền” của Nguyễn Quang Tuân ghi chép về 500
vị thuốc nam kinh nghiệm “Nam dợc tập nghiệm quốc âm” của Nguyễn QuangLợng “Nam thiên thức bảo toàn th” của Lê Đức Huệ, “Ng tiều y thuật vấn đáp”của Nguyễn Đình Chiểu [14]
Một vài trích dẫn trên đây dù rằng còn khiếm khuyết nhiều, song phầnnào đã nói lên truyền thống của ông cha ta từ xa xa đã biết thu thập, đúc rútkinh nghiệm và sử dụng hàng trăm loài cây cỏ sẵn có để làm thuốc Đơngnhiên cũng cần lu ý cùng với mối giao lu giữa các triều đại phong kiến, việc sửdụng cây thuốc ở nớc ta còn chịu ảnh hởng của nền Y học cổ truyền của TrungQuốc
Trang 14Thời Pháp thuộc, việc nghiên cứu về cây thuốc vẫn đợc phát triển Một
số nhà thực vật ngời Pháp đã dày công thu thập, biên soạn bộ “Thực vật chí đạicơng Đông Dơng”, trong đó đã ghi nhận nhiều loài thực vật bậc cao dùng làmthuốc Ngay sau khi hoà bình lập lại ở Miền Bắc (1954) và giải phóng MiềnNam, thống nhất đất nớc (1975), nhà nớc ta đã có nhiều nỗ lực, quan tâm đếncông tác điều tra nghiên cứu nguồn tài nguyên dợc liệu ở Việt Nam, phục vụcho yêu cầu bảo vệ sức khoẻ cho toàn dân và xuất khẩu
Ngày 27/12/1955, trong th của chủ tịch Hồ Chí Minh gửi hội nghị ngành
y tế, Ngời đã đề ra đờng lối xây dựng nền Y học Việt Nam khoa học, dân tộc
và đại chúng, dựa trên sự kết hợp giữa Y học cổ truyền của dân tộc với Y họchiện đại [28]
Trong giai đoạn này có nhiều công trình có giá trị, điển hình là bộ
“Những cây thuốc và vị thuốc Y học Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi, ông đã kiêntrì thu thập nghiên cứu về cây thuốc Việt Nam trong suốt mấy chục năm vàcông trình đã đợc tái bản nhiều lần Lần tái bản thứ 7 gần đây (1995) đã giớithiệu 792 loài thực vật dùng làm thuốc [18]
Theo kết quả điều tra dợc liệu của Viện Dợc liệu- Bộ Y tế ở Miền Bắc từ1961-1972 đã công bố danh lục 1.114 loài thực vật dùng làm thuốc Kết quả
điều tra dợc liệu ở Miền Mam (1977-1985) đã phát hiện 1.119 loài cây thuốc.Tổng hợp số cây thuốc đã biết trên cả nớc (đến 1985) là 1.863 loài và dới loàiphân bố rộng trong 1.033 chi, 263 họ, 101 bộ, 17 lớp, 11 ngành thực vật, trong
đó có 1.675 loài cây thuốc thuộc thực vật bậc cao Từ năm 1985 đến nay, trongquá trình tiếp tục điều tra nghiên cứu, thu thập bổ sung cho “Danh lục câythuốc Việt Nam” hiện đã lên tới trên 2.000 loài đang đợc hoàn tất để sớm công
bố [11], [27]
Đề cập tới cây thuốc trong hệ thực vật Việt Nam, Võ Văn Chi đã thống
kê ở Miền Bắc 1.360 loài cây thuốc, thuộc 192 họ cây hạt kín Đến năm 1991trong một báo cáo tham gia hội thảo quốc gia về cây thuốc lần thứ hai tổ chức
ở thành phố HCM, tác giả cho biết đã tập hợp ở Việt Nam đợc 2.280 loài câythuốc, phân bố trong 1.136 chi, 254 họ và 8 ngành thực vật bậc cao có mạch.Con số này cũng gần tơng đồng với những t liệu tiêu bản đã thống kê đợc ởViện Dợc liệu gần đây [9]
Trang 15Ngoài ra, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về cây thuốc Việt Namcủa một số tác giả khác nh: Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chơng nh “Sổ tay câythuốc Việt Nam” (1980) và “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam” (1993).
Năm 1994, trong công trình nghiên cứu cây thuốc Lâm Lơng
Sơn-Hà Sơn Bình, Nguyễn Nghĩa Thìn đã giới thiệu 112 loài thuộc 50 họ
Bên cạnh ý nghĩa sử dụng cây thuốc trong Y học dân tộc, theo kết quảnghiên cứu của: Nguyễn Văn Đàn, Nguyễn Việt Tựu (1986), Trịnh Gia Ân,Phạm Đình Sửu (1971, 1979), Lê Tùng Châu (1991) Nguồn cây thuốc ở ViệtNam đã có nhiều triển vọng, là nguyên liệu cho công nghiệp dợc, chiết suấtcác hợp chất tự nhiên để làm thuốc Chỉ tính trong vòng hơn mời năm trở lại
đây đã có 701 loài cây thuốc đợc điều tra tính kháng khuẩn và một số loài câythuốc chính thức đợc đa vào sản xuất thuốc đại trà nh: thanh hao, vằng đắng,sừng dê…) Ngoài ra còn có một số bệnh nan y hay[20]
Tóm lại, kinh nghiệm dùng các loài cây cỏ để chữa bệnh của đồng bào
ta là phong phú, đa dạng Đây là kết quả của một quá trình nghiên cứu lâu dài
từ thế kỷ này sang thế kỷ khác của cả dân tộc ta, thậm chí họ phải đổ cả máu
để đúc kết thành kinh nghiệm truyền thống đáng quý Chính vì vậy, thế hệ
t-ơng lai phải biết gìn giữ, bảo vệ phát huy truyền thống của đồng bào dân tộc,
sử dụng một cách hiệu quả, khoa học giúp cho việc lựa chọn nghiên cứu vàphát triển chúng trong tơng lai
3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Nghệ An
Gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu và công bố về cây thuốc vàbài thuốc của đồng bào các dân tộc ở Nghệ An của một số tác giả nh Đỗ TấtLợi, Đỗ Huy Bích, Võ Văn Chi và một số nhà đông y địa phơng Một số cuốnsách viết riêng về cây thuốc và các bài thuốc ở Nghệ Tĩnh, nh kinh nghiệmchữa bệnh của Đông y Nghệ Tĩnh (1978) của Hội Đông y Nghệ Tĩnh giới thiệucác bài thuốc chữa bệnh, nhiều căn bệnh phổ biến đợc mọi ngời quan tâm
Một công trình nghiên cứu có hệ thống của Tô Vơng Phúc (1996) “Điềutra cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng chúng của đồng bào dân tộc Thái xãYên Khê - Con Cuông, Nghệ An đã thống kê đợc 223 loài cây thuốc thuộc 81
họ, với 113 loài thuốc chữa 29 nhóm bệnh Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị
Trang 16Hạnh, Ngô Trực Nhã (2001) đã xuất bản cuốn “Thực vật học dân tộc-câythuốc của đồng bào dân tộc Thái, Con Cuông - Nghệ An” trong đó đã thống kê
đợc 551 cây thuốc của 361 chi, 120 họ [23], [27]
Ngoài ra, có một số công trình nghiên cứu khác về cây thuốc nh “Đadạng cây thuốc dân tộc các huyện Tây bắc tỉnh Nghệ An” của Đặng QuangChâu và cộng sự ( 2001), các đề tài thạc sỹ về cây thuốc của Nguyễn Thị KimChi (2002), Bùi Hồng Hải (2003), Lơng Hoài Nam (2003),…) Ngoài ra còn có một số bệnh nan y hay[4], [5], [6]
Tóm lại, để bảo tồn nguồn gen cây thuốc quý hiếm cũng nh tiến tới sửdụng một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên cây thuốc cần phải tiến hànhnhiều nghiên cứu hơn nữa, trong đó việc thống kê, t liệu hóa các cây thuốc, bàithuốc của đồng bào các dân tộc là công việc cần thiết và cấp bách hiện nay.Một mặt có thể lu giữ và truyền bá các kinh nghiệm cổ truyền của cha ông,mặt khác là cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo nhằm sử dụng có hiệu quảcây thuốc cũng nh tìm ra các hoạt chất mới có khả năng chữa các bệnh nan y
Đây là kết quả của cả một qúa trình nghiên cứu tìm tòi, qua đó góp phần vàoviệc bảo tồn nguồn tài nguyên quý hiếm của nớc nhà, giữ lại cho thế hệ tơnglai, đồng thời phát huy nền Y học cổ truyền Việt Nam
Trang 17Chơng II Đối tợng, nội dung, địa điểm, thời gian
và phơng pháp nghiên cứu
1 Đối tợng nghiên cứu
Các cây trồng và mọc hoang trong vờn nhà có thể sử dụng làm thuốc.
2 Nội dung nghiên cứu
*Tìm hiểu về các loài cây làm thuốc đợc trồng và mọc hoang trong vờnnhà và vai trò của chúng đối với ngời dân ở phờng Bến Thủy, thành phố Vinh
và xã Nghi Đức, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
*Lập danh lục các loài cây trồng và mọc hoang làm thuốc trong vờn nhàcủa ngời dân phơng Bến Thủy và xã Nghi Đức
*Thống kê các loài cây làm thuốc đã đợc trồng có mục đích sử dụng làmthuốc, làm rau, ăn quả và mọc hoang trong 2 khu vực nghiên cứu
*Đánh giá mức độ sử dụng các cây làm thuốc có trong vờn nhà của
ng-ời dân ở 2 khu vực nghiên cứu
*So sánh về: Thành phần loài, mức độ sử dụng các cây trong vờn làmthuốc của ngời dân ở trong 2 khu vực nghiên cứu
3 Địa điểm nghiên cứu
- Phờng Bến Thủy nằm ở phía Nam của thành phố Vinh, phía Đông của
đờng quốc lộ 1A
- Xã Nghi Đức thuộc huyện Nghi Lộc
4 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 9/2005 đến tháng 5/2006
- Tháng 9: Đọc tài liệu và làm đề cơng luận văn
- Điều tra và thu mẫu thực địa: Từ tháng 10/2005 - 01/2006
- Xử lý mẫu và xác định loài: Từ tháng 11/2005 - 02/2006
- Phân tích số liệu và thống kê kết quả: Từ tháng 02 - 03/2006
- Viết luận văn: Từ tháng 03/ 2006 - 04/ 2006
- Bảo vệ luận văn: Tháng 5/2006
5 Phơng pháp thu mẫu và xử lý mẫu
Theo phơng pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) và Hoàng Thị Sản(1998) [26], [24]
Trang 18a Nguyên tắc thu mẫu
Mỗi mẫu phải có đầy đủ các bộ phận nhất là cành, lá cùng với hoa và cảquả càng tốt (đối với cây lớn) hay cả cây (đối với thân thảo và dơng xỉ) Mỗicây lớn nên thu từ 3-5 mẫu, mẫu cây thảo cũng thu với số lợng tơng đơng Cácmẫu thu trên cùng 1 cây thì đánh cùng 1 số hiệu, thu đợt nào đánh số đợt đó.Khi thu mẫu phải ghi chép ngay những đặc điểm dễ nhận thấy ngoài thiênnhiên, nhất là các đặc điểm dễ mất khi khô quả màu sắc của hoa, quả…) Ngoài ra còn có một số bệnh nan y hay
Đeo số hiệu và ghi chép xong đặt 1 mẫu vào giữa tờ giấy báo và xếp vàocặp mắt cáo, đem về nhà mới xử lý mẫu
b Phơng pháp ép và xử lý mẫu khô
Xử lý mẫu ngay sau khi đem về nhà: Cắt tỉa lại cho đẹp, thay báo rồi lậtmột vài lá ngửa lên trên Nếu mẫu nào có hoa dùng mảnh báo nhỏ để ngăncách các hoa với nhau đề phòng khi khô sẽ dính vào nhau và dính vào báo
Xếp các mẫu vào cặp mắt cáo, không nên quá nhiều số mẫu có trongmột bộ cặp, nên từ 15-20 mẫu là vừa, nên đặt ngoài cùng 2 tờ báo tránh cáchằn của cặp mặt cáo lên mẫu, sau buộc chặt cặp bằng dây
Các bộ mẫu đợc phơi nắng hoặc sấy trên bếp than, hằng ngày phải thaybáo 3- 4 lần cho đến khi mẫu thật khô
6 Phơng pháp xác định tên cây
Chúng tôi chủ yếu sử dụng phơng pháp hình thái so sánh
* Sơ bộ xác định nhanh họ và chi ngoài thiên nhiên:
Công việc này chủ yếu đợc tiến hành ngay ở thực địa, dựa vào các đặc
điểm hình thái của cơ quan sinh dỡng (rễ, thân, lá) và cơ quan sinh sản (hoa,quả, hạt), dựa vào các tài liệu: “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” củaNguyễn Nghĩa Thìn; “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ởViệt Nam” của Nguyễn Tiến Bân [26], [1]
* Xác định tên khoa học:
Chúng tôi sử dụng các tài liệu định loại chính gồm:
“Cây cỏ Việt Nam” (3 tập) của Phạm Hoàng Hộ (1999); “Từ điển câythuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi (1999) và “1900 loài cây có ích ở Việt
Trang 19Nam” của Trần Đình Lý (1999); “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của
Đỗ Tất Lợi (2003) [16], [8], [18]
* Chỉnh lý tên khoa học:
Sau khi định loại, chúng tôi tiến hành kiểm tra và chỉnh lý tên khoa họctheo tài liệu ‘Từ điển cây thuốc Việt Nam’ của Võ Văn Chi, 1999 [8]
* Phơng pháp xây dựng danh lục:
Bậc họ trở xuống sắp xếp theo cách sắp xếp của Brummitt,1992 Cáctaxon bậc họ trở lên chúng tôi sử dụng hệ thống phân loại của Takhtajan (1981)
Trật tự các cột đợc sắp xết nh sau: Số thứ tự, tên khoa học, tên phổthông, dạng thân, bộ phận sử dụng, nguồn gốc, mức độ gặp, nơi gặp, côngdụng, cách dùng
7 Phơng pháp thu thập thông tin
a Quan sát
Phơng pháp quan sát (Observation) đợc sử dụng để quan sát thành phần
và số lợng cũng nh tình trạng của cây trồng trong vờn nhà các hộ dân trongkhu vực nghiên cứu
b Phỏng vấn
Phơng pháp phỏng vấn linh động (Flaxible Interview) với bản gợi ýchuẩn bị trớc (Check-list) sử dụng trên đối tợng là các hộ đợc chọn ngẫu nhiên
để tìm hiểu mục đích của các cây trồng trong vờn nhà và mức độ sử dụng của
họ đối với các cây làm thuốc
8 Phơng pháp xử lý và phân tích số liệu
Các số liệu sẽ đợc nhập vào Excel để thống kê số lợng loài, số loài đợc
sử dụng, mức độ phụ thuộc vào diện tích vờn và so sánh giữa 2 khu vực nghiêncứu
Trang 20Chơng III Điều kiện tự nhiên và xã Nghi Đức, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ hội
khu vực nghiên cứu
1 Điều kiện tự nhiên
1.1 Địa lý, địa hình, đất đai
a) Nghi Đức
Nghi Đức là một xã nằm ở phía nam của huyện Nghi Lộc, cách trungtâm thành phố Vinh 6 km Phía Nam giáp xã Hng Lộc, phía tây giáp xã NghiPhú, phía bắc giáp xã Nghi Ân, phía đông giáp xã Nghi Phong và một phần
đông nam giáp xã Nghi Thái, Nghi Lộc) đây là cầu nối giữa hai trung tâm kinh
tế xã hội của tỉnh là thành phố Vinh và thị xã Cửa Lò
Là một xã thuộc vùng đồng bằng đất cát ven biển, nên địa hình của xã
ơng đối bằng phẳng Do vậy hệ thống giao thông nông thôn đợc quy hoạch
t-ơng đối hoàn chỉnh, do đó thuận lợi cho việc giao lu nắm bắt thông tin kịpthời Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã: 565,03 ha Trong đó đất nông nghiệp324,59 ha, đất ở là 28,62 ha, đất chuyên dùng 87,03 ha, đất cha sử dụng 88,04
ha, đất trồng cây hàng năm là 290,5 ha, phi nông nghiệp 152,40 ha
b) Phờng Bến Thuỷ
Phờng Bến Thủy nằm ở phía nam thành phố Vinh và phía đông của ờng quốc lộ 1A là đoạn đờng cuối cùng của trung tâm thành phố Vinh, phíabắc giáp tỉnh Hà Tĩnh qua dòng sông Lam, phía đông nam một phần giáp ph-ờng Hng Dũng, một phần xen lẫn với phờng Trờng Thi thành phố Vinh Tổngdiện tích đất tự nhiên của toàn phờng là 292,18 ha Trong đó đất nông nghiệp
đ-là 14,35 ha, đất ở đ-là 71,45 ha đất chuyên dùng đ-là 36,83 ha, đất nông nghiệphàng năm là 24,63 ha, đất phi nông nghiệp 241,212 ha
là 0.2 0C Tổng lợng ma trong năm là 1610,9 mm- độ ẩm trung bình 84%
Trang 21Chính vì vậy hai khu vực (nghiên cứu) cũng chịu ảnh hởng của điềukiện thời tiết (khí hậu) của tỉnh Nghệ An và điều kiện khí hậu ở hai khu vựcnghiên cứu thể hiện qua hai bảng số liệu sau:
Nguồn: Trạm khí tợng thủy văn thành phố Vinh.
1.3 Điều kiện kinh tế, xã hội
a Nghi Đức
Dân c Nghi Đức đợc chia thành 12 xóm theo cụm dân c, trong đó có 2xóm giáo dân (có 1 xóm giáo dân toàn tòng) và 10 xóm chủ yếu là ngời lơng.Tổng số xã Nghi Đức cho đến năm 2004-2005 gồm 1.130 hộ gia đình Qua
điều tra tìm hiểu xã Nghi Đức là một xã thuần nông, chủ yếu ngời dân nơi đây
là sản xuât nông nghiệp Vì vậy thu nhập bình quân trên đầu ngời là tơng đốithấp: với hộ giàu trên 400.000 (đồng)/1 ngời, còn hộ nghèo dới 120.000(đồng)/1 ngời Nhìn chung xu hớng phân hoá giàu nghèo không đáng kể,không có tình trạng ngời dân không có ruộng làm phải đi làm thuê Do vị trí
địa lý nên phần nào chi phối mức độ hiểu biết của ngời dân nơi đây, song sựchênh lệch dân trí trong toàn xã không cao
b Bến Thủy
Phờng Bến Thủy gồm 12 khối dân c, nhng các cụm dân c ở phờng Bến Thủytập chung chủ yếu là lơng giáo chỉ có phần ít là tôn giáo Tổng số các hộ dânPhờng Bến Thủy bao gồm 12.864 hộ dân, đây là phờng tập trung đông dân cvới nhiều thành phần khác nhau (tri thức, thơng nghiệp, nông nghiệp ) nên xuhớng phân hóa giàu nghèo là tơng đối lớn
Trang 22Chơng IV Kết quả nghiên cứu
1 Sự đa dạng các taxon cây thuốc của phờng Bến Thủy và xã Nghi Đức
Qua thời gian điều tra, thu thập các loài cây thuộc hai khu vực nghiên cứutrên chúng tôi đã thống kê đợc 183 loài, 148 chi của 66 họ thuộc 3 ngành thựcvật bậc cao là Lycopodiophyta, Pinophyta và Magnoliophyta và xây dựng bảngdanh lục thành phần loài cây thuốc đợc thể hiện ở bảng 2
Trong bảng danh lục đợc trình bày nh sau:
Nơi gặp: 1- phờng Bến Thủy (TP.Vinh)
2 - xã Nghi Đức, huỵện Nghi lộc
Cột 1: Số thứ tựCột 2: Tên khoa họcCột 3: Tên phổ thôngCột 4: Dạng thânCột 5: Bộ phận sử dụng
Cột 6: Nguồn gốcCột 7: Nơi gặpCột 8: Công dụngCột 9: Cách dùng