Các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự là những phương châm, định hướng chi phối tất cả hoặc một số các hoạt động tố tụng hình sự, được các văn bản pháp luật ghi nhận. Quy định của bộ luật tố tụng hình sự về các nguyên tắc không chỉ được xem như một loại quy phạm pháp luật, mà còn là những quy phạm cơ bản nhất, mang tính chỉ đạo và ràng buộc chặt chẽ. Những quy định này có ý nghĩa quyết định đối với việc xác lập và thực hiện các hoạt động tố tụng hình sự, các quan hệ tố tụng hình sự cũng như đối với các hình thức và phương thức thực hiện những hoạt động và quan hệ tố tụng đó. Một trong những nguyên tắc cơ bản pháp luật tố tụng hình sự là nguyên tắc suy đoán vô tội. Đây là một nguyên tắc về bảo đảm quyền con người. Hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội là một người sẽ không bị coi là có tội nếu không bị kết án bởi một Tòa án hợp pháp. Nguyên tắc này đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948. Ở Việt Nam, nguyên tắc suy đoán vô tội được cam kết thực hiện thông qua sự kiện nước ta gia nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 24091982. Trên cơ sở tôn trọng và bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền công dân trong tiến trình xây dựng Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung 2001, đặc biệt là tại Điều 31 Hiến pháp năm 2013 đã chính thức ghi nhận những nội dung chủ yếu của nguyên tắc suy đoán vô tội. Mặc khác, nguyên tắc này cũng được ghi nhận tại Bộ luật Tố tụng hình sự 1988 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Trên cơ sở quy định tại Khoản 1 Điều 31 của Hiến pháp 2013 và phát triển dựa theo nguyên tắc cũ quy định tại điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đã quy định nguyên tắc này tại Điều 13, đồng thời có những sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm cụ thể hóa đầy đủ yêu cầu của nguyên tắc suy đoán vô tội. Có thể thấy, trong những năm qua, nguyên tắc suy đoán vô tội luôn nhận được sự quan tâm và trở thành yêu cầu bức thiết trong hoạt động xây dựng pháp luật cũng như trong hoạt động thực tiễn.
Trang 1MỤC LỤC
A Mở đầu 2
B Nội dung 3
I Khái quát chung về nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật tố tụng hình sự 3
II Nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật tố tụng hình sự 2015 6 III Một số giải pháp nhằm đảm bảo việc thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội 7
C Kết luận 10
Trang 2Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam A.Mở đầu
Các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự là những phương châm, định hướng chi phối tất cả hoặc một số các hoạt động tố tụng hình sự, được các văn bản pháp luật ghi nhận Quy định của bộ luật tố tụng hình sự về các nguyên tắc không chỉ được xem như một loại quy phạm pháp luật, mà còn là những quy phạm cơ bản nhất, mang tính chỉ đạo và ràng buộc chặt chẽ Những quy định này có ý nghĩa quyết định đối với việc xác lập và thực hiện các hoạt động tố tụng hình sự, các quan hệ tố tụng hình sự cũng như đối với các hình thức và phương thức thực hiện những hoạt động và quan hệ tố tụng đó
Một trong những nguyên tắc cơ bản pháp luật tố tụng hình sự là nguyên tắc suy đoán vô tội Đây là một nguyên tắc về bảo đảm quyền con người Hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội là một người
sẽ không bị coi là có tội nếu không bị kết án bởi một Tòa án hợp pháp Nguyên tắc này đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948 Ở Việt Nam, nguyên tắc suy đoán vô tội được cam kết thực hiện thông qua sự kiện nước ta gia nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự
và chính trị ngày 24/09/1982 Trên cơ sở tôn trọng và bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền công dân trong tiến trình xây dựng Hiến pháp năm
1992, sửa đổi bổ sung 2001, đặc biệt là tại Điều 31 Hiến pháp năm 2013 đã chính thức ghi nhận những nội dung chủ yếu của nguyên tắc suy đoán vô tội Mặc khác, nguyên tắc này cũng được ghi nhận tại Bộ luật Tố tụng hình sự 1988
và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 Trên cơ sở quy định tại Khoản 1 Điều 31 của Hiến pháp 2013 và phát triển dựa theo nguyên tắc cũ quy định tại điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đã quy định nguyên tắc này tại Điều 13, đồng thời có những sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm cụ thể hóa đầy đủ yêu cầu của nguyên tắc suy đoán vô tội Có thể thấy, trong những năm qua, nguyên tắc suy đoán vô tội luôn nhận được sự quan tâm và trở thành
Trang 3yêu cầu bức thiết trong hoạt động xây dựng pháp luật cũng như trong hoạt động thực tiễn
B NỘI DUNG
I Khái quát chung về nguyên tắc Suy đoán vô tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
Suy đoán vô tội là nguyên tắc quan trọng , có tính chất nền tảng, chi phối nhiều nguyên tắc khác của Tố tụng hình sự Dựa trên tinh thần của Hiến pháp
2013, nguyên tắc suy đoán vô tội phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản sau: Thứ nhất, toàn bộ quá trình chứng minh tội phạm phải tiến hành một cách chặt chẽ
theo trình tự, thủ tục do luật định; phải bảo đảm đầy đủ và thuận lợi nhất những
điều kiện để người bị buộc tội có thể thực hiện được quyền bào chữa Thứ hai,
chừng nào chưa có bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì người bị buộc tội vẫn chưa bị coi là người phạm tội; nghiêm cấm các cơ quan tố tụng đối xử
với họ như người phạm tội Thứ ba, quá trình tiến hành tố tụng, nếu đã áp dụng
đầy đủ các biện pháp cần thiết mà vẫn không đủ căn cứ để chứng minh tội phạm thì phải giải quyết theo hướng có lợi cho người bị buộc tội
Từ đó, nguyên tắc suy đoán vô tội được thể hiện ở những nội dung sau:
Thứ nhất, không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án
có hiệu lực pháp luật Đây là nguyên tắc “Tội không được chứng minh, đồng nghĩa với sự vô tội được chứng minh” Việc chứng minh đó phải được tiến hành theo một trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định Quá trình chứng minh từ khi có tố giác, tin báo về tội phạm và thông qua các thủ tục khởi
tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành các hoạt động điều tra, kết thúc điều tra đề nghị truy tố, truy tố bằng bản cáo trạng và tiến hành xét xử công khai tại phiên tòa Người bị tình nghi, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình mà nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng Một người chỉ có thể bị coi là có tội khi có bản án kết tội của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật Như vậy, nếu chưa có bản án kết tội của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật thì người bị buộc tội vẫn được coi là người chưa có tội Cơ
Trang 4quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không được đối xử với bị can, bị cáo như người có tội, kể cả trường hợp họ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc như tạm giam
Thứ hai, Toà án là cơ quan duy nhất có quyền ra bản án kết tội và áp
dụng hình phạt đối với bị cáo khi có căn cứ theo quy định của pháp luật Tòa án
là cơ quan xét xử duy nhất Quyết định của Tòa án được đặc trưng ở tính dứt điểm của nó Chính bản án của Tòa án xác định người bị coi là có tội là người phạm tội hay vô tội Điều này được thể hiện rõ nét ở khoản 4 điều 326 Bộ luật
Tố tụng hình sự 2015: “Nếu có căn cứ xác định bị cáo không có tội thì Hội đồng xét xử tuyên bị cáo không có tội” Trong trường hợp có căn cứ xác định một người có tội, thì Tòa án cũng chính là cơ quan có thẩm quyền đưa ra các chế tài
áp dụng dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm
Thứ ba, mọi nghi ngờ trong quá trình chứng minh tội phạm của người bị
tình nghi, bị can, bị cáo nếu không được loại trừ theo trình tự, thủ tục do Bộ luật
Tố tụng hình sự quy định thì được giải thích có lợi cho người bị tình nghi, bị can, bị cáo Nguyên tắc suy đoán vô tội phải dựa trên những chứng cứ xác thực, không được tồn tại bất cứ sự nghi ngờ nào Mọi sự nghi ngờ đối với người bị bắt giữ, bị can, bị cáo đều phải được kiểm tra, chứng minh và làm rõ Khi không đủ
và không thể làm sáng tỏ những sự nghi ngờ đó theo trình tự, thủ tục được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thì mọi hoài nghi về lỗi của người bị buộc tội cần được giải thích theo hướng có lời cho người đó Đây chính là quy tắc giải quyết nghi ngờ về lỗi Bởi mục đích của pháp luật tố tụng hình sự hướng đến chính là tội phạm phải được phát hiện và xử lý theo quy định của pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm Trong thực tế, vẫn thường xảy ra tình huống các chứng cứ buộc tội không rõ ràng, cả hai khả năng làm oan người vô tội và bỏ lọt người phạm tội song song tồn tại và cơ quan tiến hành tố tụng không thể khắc phục được Riêng trường hợp này, nguyên tắc suy đoán vô tội phải thực hiên theo hướng “thà bỏ lọt tội phạm còn hơn làm oan người vô tội”
Trang 5Điều này phản ánh bản chất nhân đạo, pháp quyền của tố tụng hình sự Việt Nam
Ngoài ra, nguyên tắc suy đoán vô tội còn có mối quan hệ chặt chẽ đối với nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa và nguyên tắc tranh tụng Đối với nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa, nếu người bị buộc tội đã bị coi là có tội ngay từ trước khi có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì việc thực hiện quyền bào chữa của họ chỉ còn là hình thức Sự có mặt của người bào chữa và việc đảm bảo quyền bào chữa là cơ sở quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ịch chính đáng của người bị buộc tội, hạn chế tình trạng suy diễn, thu thập chứng cứ chứng minh theo hướng buộc tội người bị coi là có tội của cơ quan tiến hành tố tụng Đối với nguyên tắc tranh tụng, nếu bị coi là người phạm tội ngay từ đầu thì quyền tranh tụng cũng chỉ còn là hư quyền Quá trình tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố cho đến xét xử đều chưa cho phép khẳng định một người có tội thì mới
có thể tồn tại một sự tranh tụng bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội Có thể thấy, nguyên tắc suy đoán vô tội là cơ sở cho việc tranh tụng và ngược lại, nguyên tắc tranh tụng đảm bảo cho việc thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội hiệu quả hơn
Như vậy, nguyên tắc suy đoán vô tội có ý nghĩa hết sức quan trọng trong pháp luật Tố tụng hình sự, là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền tố tụng thực hiện
đúng đắn, khách quan các hành vi tố tụng, thể hiện như sau: Thứ nhất, nguyên
tắc suy đoán vô tội đề cao việc bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, thể hiện sự tiến bộ và nhân đạo của nhà nước ta Nguyên tắc này bảo vệ lợi ích của người bị truy cứu trách nhiệm hình sự: cơ quan tố tụng phải suy đoán theo hướng ngược lại khi không chứng minh được hành vi phạm tội Như vậy, nguyên tắc này đã đem đến sự cân bằng trong hoạt động tố tụng hình sự giữa
một bên là Nhà nước và bên kia yếu thế hơn là người bị buộc tội; Thứ hai,
nguyên tắc suy đoán vô tội đáp ứng yêu cầu chứng minh Đồng thời, khắc phục định kiến của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đối với người bị buộc tội khi cho rằng họ là người phạm tội mà chỉ thu thập những chứng cứ buộc tội
Trang 6hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự mà bỏ qua những chứng cứ, chứng minh theo hướng ngược lại Bởi nếu chỉ chứng minh theo hướng suy đoán có tội thì rất dễ dẫn đến những sai lầm trong việc xác định người phạm tội, dẫn đến tình trạng oan sai chà đạp lên quyền con người và những hậu quả không thể bù đắp
II Nguyên tắc suy đoán vô tội trong bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
Về nội dung nguyên tắc Suy đoán vô tội đã được quy định trước đó tại Điều 9 và Điều 10 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, pháp luật Tố tụng hình sự lúc đó chưa ghi nhận nội dung rất quan trọng đã được nhiều nước thừa nhận từ rất lâu: quy tắc nghi ngờ về lỗi Do thiếu sót về nội dung này mà cơ quan tiến hành tố tụng khó tránh khỏi việc giải thích và áp dụng pháp luật theo hướng bất lợi cho bị can, bị cáo Đây là lí do Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định đầy đủ nguyên tắc Suy đoán vô tội tại Điều 13: “…Khi không đủ và không thể làm sáng
tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội” Bên cạnh đó, việc thay đổi quy định về chủ thể có quyền được suy đoán vô tội là bất cứ người nào tại Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 thành “người bị buộc tội” tại Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đã xác định
cụ thể chủ thể của nguyên tắc Suy đoán vô tội
Ngoài quy định cụ thể hóa đầy đủ nguyên tắc suy đoán vô tội tại Điều 13,
Bộ luật Tố tụng hình sự cũng quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục tố tụng và khẳng định nguyên tắc “Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật quy định (Điều 7); Quy định những chế tài áp dụng trong trường hợp vi phạm thủ tục
tố tụng, chẳng hạn như tuyên bố tính vô hiệu của chứng cứ trong quá trình thu thập vi phạm thủ tục luật định (Điều 87), trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung (Điều 236 và Điều 280), hủy bản án để điểu tra lại hoặc xét xử lại (Điều 358,370,388); Khẳng định rõ trong từng giai đoạn tố tụng, nếu đã hết thời hạn luật định mà không thể hoặc không đủ chứng chứng minh tội phạm thì phải kết
Trang 7luận họ vô tội, khôi phục và bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội (Điều 230, 248, 326)
Như vậy, nguyên tắc Suy đoán vô tội được đảm bảo xuyên suốt qua các chế định khác nhau: chế định về quyền của người bị tình nghi, bị can, bị cáo, người bào chữa; chế định về chứng minh, chứng cứ; chế định về các biện pháp ngăn chặn; và trong các giai đoạn của tố tụng hình sự bao gồm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Dưới đây là một số quy định liên quan đến nguyên tắc Suy đoán
vô tội trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Pháp luật Tố tụng hình sự 2003 không quy định cụ thể nhưng đã mặc nhiên thừa nhận quyền im lặng của người
bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Kế thừa tư tưởng đó, Bộ luật tố tụng hình
sự 2015 tại các Điều 58, 59, 60, 61 đều có quy định người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đều không buộc phải đưa ra lời khai chống lại mình hoặc buộc phải nhận mình có tội Đồng thời, người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình (Điều 15); Điều 126 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định: “Khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi
tố bị can”; Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đã quy định cụ thể hơn, không chỉ quy định việc khởi tố vụ án khi đã xác định dấu hiệu tội phạm mà còn quy định cụ thể các căc cứ để xác định dấu hiệu tội phạm tại Điều 143, qua đó nhằm ngăn ngừa tình trạng khởi tố tràn lan; Trong giai đoạn truy tố, Bộ luật Tố tụng hình sự
2015 cũng quy định quyền hạn, trách nhiệm và thủ tục truy tố người bị buộc tội của phía Viện kiểm sát một cách khách quan, triệt để, đảm bảo nguyên tắc Suy đoán vô tội;…
III.Một số giải pháp nhằm đảm bảo việc thực hiện nguyên tắc Suy đoán
vô tội:
Cần thiết thực hiện một số các giải pháp sau để đảm bảo việc thực hiện nguyên tắc Suy đoán vô tội đạt được hiệu quả nhất định:
Thứ nhất, hoàn thiện các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự nhằm
đảm bảo nguyên tắc Suy đoán vô tội phải đảm bảo những yêu cầu sau: Đảm bảo
Trang 8tính thống nhất giữa pháp luật Hình sự, pháp luật Tố tụng hình sự và các ngành luật có liên quan; Kế thừa truyền thống pháp lý, những ưu điểm, thành tựu đã đạt được của những quy định pháp luật cũ; Tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trên thế giới sao cho phù hợp với thực tiễn nước ta cũng như đáp ứng được xu thế phát triển xã hội và yêu cầu hội nhập quốc tế Bên cạnh đó, các giải pháp đặt ra để hoàn thiện các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự phải chú trọng phương diện tôn trọng và bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác
Thứ hai, thực hiện cải cách tư pháp, từng bước nâng cao chất lượng hoạt
động của cơ quan tư pháp, đặc biệt trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, khắc phục tình trạng oan sai, làm mất lòng tin của nhân dân đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Thứ ba, đảm bảo các quy định về trình tự, thủ tục tố tụng nhằm đảm bảo
việc thực hiện nguyên tắc Suy đoán vô tội phải rõ ràng, cụ thể, dễ áp dụng, tránh
vi phạm, nhất là các quy định có liên quan đến việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, các biện pháp điều tra, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, kháng cáo, kháng nghị; quyền hạn của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án Việc xét xử tại các cấp xét xử phải công khai, minh bạch, tạo điều kiện tối đa cho việc kiểm tra, giám sát hoạt động xét xử của Tòa án
Thứ tư, các cơ quan tiến hành tố tụng phải nắm rõ các quy định của pháp
luật Tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật liên quan Đảm bảo luôn luôn tuân theo nguyên tắc Suy đoán vô tội trong quá trình áp dụng và thực hiện quy định pháp luật Tố tụng dân sự, nhất là cơ quan điều tra phải tiến hành thu thập các chứng cứ chứng minh vô tội song song với các chứng cứ chứng minh buộc tội Các tình tiết chứng cứ có trong vụ án phải được kiểm tra, đánh gia một cách khách quan, toàn diện trên cơ sở quy định của pháp luật Đồng thời, phải kiểm tra, đánh giá mỗi chứng cứ thu thập được trong mối tương quan đối với các chứng cứ còn lại để xác định tính hợp pháp, tính xác thực liên quan đến vụ án, mức độ phản ánh chính xác của chứng cứ đối với vấn đề phải chứng minh Từ
Trang 9đó, giải quyết đúng đắn các vụ án hình sự, không lặp đi lặp lại lỗi mà các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gặp phải: Không chú ý đến các tình tiết có lợi cho người bị buộc tội, chỉ tập trung chứng minh người đó phạm tội và phải chịu trách nhiệm cho hành vi vi phạm đó, dẫn đến tình trạng oan sai vẫn còn đang tồn tại Chỉ khi không để lại bất cứ sự nghi ngờ hay mâu thuẫn nào thì khi
đó mới có đủ căn cứ, cơ sở để buộc tội người bị coi là có tội Như vậy, trước khi
có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án, người bị buộc tội phải luôn được đảm bảo các quyền lợi như một công dân bình thường
Thứ năm, điều chỉnh hợp lí chế định biện pháp ngăn chặn trong Tố tụng
hình sự Việc quy định biện pháp này nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án Tuy nhiên, quy định này có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng: trong một số trường hợp, cơ quan tiến hành tố tụng lạm dụng biện pháp ngăn chặn vi phạm quyền con người Các biện pháp ngăn chặn thực chất đều là những biện pháp tạm thời hạn chế quyền tự do cá nhân của người bị buộc tội Vì vậy, cần phải hạn chế căn cứ áp dụng các biện pháp này để phù hợp với Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, với
xu thế mở rộng, phát huy dân chủ, tôn trọng quyền công dân, quyền con người
và nguyên tắc Suy đoán vô tội trong luật Tố tụng hình sự
C KẾT LUẬN
Có thể nhận định rằng, Suy đoán vô tội là một nguyên tắc tiến bộ bảo đảm quan trọng cho việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân, là lá chắc quan trọng và vững chắc nhằm phòng ngừa, ngăn chặn những vi phạm từ phía cơ quan tố tụng cũng như đặt ra yêu cầu cao hơn cho cơ quan có thẩm quyển tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc chứng minh tội phạm Việc không ngừng hoàn thiện các quy định của pháp luật và thực hiện đồng thời kết hợp hiệu quả các giải pháp khác, đảm bảo tính thống nhất từ Hiến pháp, Bộ luật hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và những văn bản pháp luật liên quan khác là vấn đề hết sức cần thiết nhằm phòng chống oan sai, tôn trọng và
Trang 10bảo vệ quyền con người cũng như đề cao trách nhiệm của các cơ quan có thầm quyền tiến hành tố tụng, để công dân vẫn được đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng do Hiến pháp và pháp luật quy định cho đến khi có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án