1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam

12 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 39,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giai đoạn hiện nay, việc hội nhập, mở rộng quan hệ hợp tác đã trở thành nhu cầu nội tại không thể thiếu giữa các quốc gia trên thế giới. Cùng với việc mở rộng và phát triển quan hệ quốc tế, đã và đang xuất hiện nhiều tranh chấp trong lĩnh vực dân sự, thương mại, lao động, hôn nhân gia đình… có yếu tố nước ngoài. Nhiều vụ án đã được Tòa án nước ngoài giải quyết và yêu cầu được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên đương sự. Vì vậy, việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài nói chung cũng như trình tự, thủ tục thực hiện hoạt động này đã dần trở thành một nội dung quan trọng, một thủ tục đặc biệt trong hoạt động tố tụng dân sự.

Trang 1

Mở đầu

Trong giai đoạn hiện nay, việc hội nhập, mở rộng quan hệ hợp tác đã trở thành nhu cầu nội tại không thể thiếu giữa các quốc gia trên thế giới Cùng với việc mở rộng và phát triển quan hệ quốc tế,

đã và đang xuất hiện nhiều tranh chấp trong lĩnh vực dân sự, thương mại, lao động, hôn nhân gia đình… có yếu tố nước ngoài Nhiều vụ án đã được Tòa án nước ngoài giải quyết và yêu cầu được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên đương sự

Vì vậy, việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài nói chung cũng như trình tự, thủ tục thực hiện hoạt động này đã dần trở thành một nội dung quan trọng, một thủ tục đặc biệt trong hoạt động tố tụng dân sự

Nội dung

1 Khái quát chung về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoại tại Việt Nam

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

Khác với Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi, bổ sung 2011, Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành (có hiệu lực từ ngày 01/01/2017) không có quy định riêng về định nghĩa của bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

Tuy nhiên, căn cứ vào Khoản 1 Điều 342 BLTTDS 2004 và Khoản 1 Điều 423 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, không có sự thay đổi về khái niệm bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài Như vậy, có thể thấy bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là Bản án, quyết định về dân sự hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình

sự, hành chính của Tòa án nước ngoài và quyết định dân sự khác của Tòa án nước ngoài mà theo pháp luật Việt Nam được coi là bản án, quyết định dân sự

1.1.2 Khái niệm công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án

Trong lĩnh vực tố tụng dân sự quốc tế, bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài chính là kết quả giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài bằng phương thức tư pháp do cơ quan tư pháp nước ngoài thực hiện Để đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự, bản án, quyết định dân sự của Tòa án một nước phải được công nhận và cho thi hành ở một quốc gia khác

Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự tòa án nước ngoài được xem là một thủ tục tố tụng đặc biệt, đây là việc tòa án một nước thừa nhận hiệu lực pháp lý của bản án, quyết định dân

sự của nước khác và cho phép thi hành trên lãnh thổ quốc gia mình bản án, quyết định dân sự đó

1.2 Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN tại Việt Nam

1.2.1 Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN tại Việt Nam trong trường hợp có điều ước quốc tế

Trang 2

Tính đến nay, Việt Nam đã ký kết 18 hiệp định điều chỉnh hợp tác quốc tế song phương về việc tương trợ tư pháp về dân sự, trong đó có quy định về yêu cầu công nhận và cho thi hành bản, quyết định dân sự của Tòa án các nước đã ký kết trên lãnh thổ của nhau, bao gồm

1) HĐTTTP và pháp lý về dân sự, gia đình và hình sự giữa CHXHCN Việt Nam và CHDC Đức ký ngày 12/12/1980 (Hết hiệu lực ngày 16/4/1994)

2) HĐTTTP và pháp lý về dân sự, gia đình và hình sự giữa CHXHCN Việt Nam và CHXHCN Xô Viết kỳ ngày 10/12/1981 (Nga kế thừa )

3) HĐTTTP và pháp lý về dân sự và hình sự giữa CHXHCN Việt Nam và CHXHCN Tiệp khắc ký ngày 12/10/1982 (Séc và Slovakia kế thừa )

4) HĐTTTP và pháp lý về dân sự, gia đình, lao động và hình sự giữa CHXHCN Việt Nam và CHXHCN Cu Ba ký ngày 30/11/1984

5) HĐTTTP và pháp lý về dân sự, gia đình và hình sự giữa CHXHCN Việt Nam và CHND Hunggari ký ngày 18/11/1985

6) HĐTTTP và pháp lý về dân sự, gia đình và hình sự giữa CHXHCN Việt Nam và CHND Bunggari ký ngày 3/10/1986

7) HĐTTTP và pháp lý về dân sự, gia đình và hình sự giữa CHXHCN Việt Nam và CH BaLan ký ngày 23/3/1993

8) HĐTTTP và pháp lý về dân sự và hình sự giữa CHXHCN Việt Nam và CHDCND Lào ký ngày 6/7/1998

9) HĐTTTP và pháp lý về dân sự và hình sự giữa CHXHCN Việt Nam và Liên Bang Nga ký ngày 25/8/1998 ( thay thế cho hiệp định năm 1981 với Liên xô cũ, có hiệu lực từ 27/8/2012 )

10) HĐTTTP và pháp lý về dân sự và hình sự giữa CHXHCN Việt Nam và CHDCND Trung Hoa

ký ngày 19/10/1998

11) HĐTTTP và pháp lý về dân sự giữa CHXHCN Việt Nam và Cộng hòa Pháp ký ngày 22/4/1999 12) HĐTTTP và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa CHXHCN Việt Nam và nước Cộng hào Ucraina ký ngày 06/4/2000

13) HĐTTTP và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa CHXHCN Việt Nam và Mông Cổ ký ngày 17/4/2000

14) HĐTTTP và pháp lý về dân sự và hình sự giữa CHXHCN Việt Nam và CH Bêlarut ký ngày 14/9/2000

15) HĐTTTP và pháp lý về dân sự và hình sự giữa CHXHCN Việt Nam và CHDCND Triều Tiên

ký ngày 3/5/2002

16) HĐTTP trong lĩnh vực dân sự và thương mại giữa CHXHCN Việt Nam và Đài Loan Trung Quốc ký ngày 12/4/2010

Trang 3

17) HĐTTP trong lĩnh vực dân sự và thương mại giữa CHXHCN Việt Nam và An-giê-ri ký ngày 14/4/2010

18) HĐTTTP về các vấn đề dân sự giữa CHXHCN Việt Nam và Kazakhstan ngày 31/10/2011 (chưa có hiệu lực)

Điểm chung của tất cả các hiệp định song phương này đều có quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN Chế định công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của nước ngoài trong các hiệp định tương trợ tư pháp thường bao gồm các nội dung: phạm vi công nhận và thi hành, điều kiện công nhận và thi hành, nội dung đơn yêu cầu công nhận và thi hành, thủ tục công nhận và thi hành, việc chuyển tiền và tài sản để đảm bảo quyết định Chẳng hạn: Trong HĐTTTP

và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa CHXHCN Việt Nam và Mông Cổ ký ngày 17/4/2000

có các quy định về công nhận các vấn đề không mang tính chất tài sản (điều 42), công nhận và thi hành các vấn đề mang tính chất tài sản (điều 43), đơn xin công nhận và thi hành quyết định (điều 44), trình

tự công nhận và thi hành quyết định (điều 46), thi hành quyết định(điều 48); HĐTTTP và pháp lý về dân sự và hình sự giữa CHXHCN Việt Nam và CH Bêlarut ký ngày 14/9/2000 có các quy định công nhận và thi hành quyết định của tòa án (điều 57), điều kiện công nhận và cho thi hành bản án quyết định của tòa án (điều 58), thủ tục công nhận và thi hành bản án quyết định của tòa án (điều 60)…

Như vậy trong trường hợp “công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN” mà nước đó có ký kết hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam thì phải thực hiện theo Hiệp định đó

1.3.2 Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của TANN tại Việt Nam trong trường hợp không có điều ước quốc tế:

Trong trường hợp không có điều ước quốc tế, và không áp dụng nguyên tắc có đi có lại, việc công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định của tòa án nước ngoài hiện nay được điều chỉnh trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 với các nội dung: các nguyên tắc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài tại Việt Nam, thẩm quyền xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài tại Việt nam, thủ tục và trình tự công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các bản án, quyết định đó… (quy định từ điều 423 đến điều 443) Trong phạm vi đề tài này, nhóm tiến hành phân tích về thủ tục trình tự công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài tại Việt Nam

2 Trình tự, thủ tục công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự 2015

2.1 Nguyên tắc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài tại Việt Nam:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 423 BLTTDS 2015, có thể thấy cơ sở pháp lý để Tòa án Việt Nam xem xét công nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài là các điều ước quốc tế mà nước đó và Việt Nam là thành viên hoặc dựa trên nguyên tắc có đi có lại hoặc trên cơ sở pháp luật Việt Nam

Trang 4

Ví dụ 1: Dựa trên cơ sở Điều ước quốc tế Ngày 11/3/2009 chị Nguyền Thị Huệ có đăng kí kết

hôn với anh Su Chia Lin quốc tịch Đài Loan (TQ) tai UBND thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Giấy chứng nhận đăng kí kết hôn của anh chị có giá trị pháp lý ngày 29/3/2004 Do cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, chưa có con chung và thường xuyên bất đồng ý kiến, hai vợ chồng đã đồng ý cùng nhau thỏa thuận ly hôn Ngày 16/2/2011, chị Nguyễn Thị Huệ và anh Su Chia Lin đã cùng nhau tiến hành ly hôn tại cơ quan đăng kí hộ tịch làm thủ tục ly hôn Bản thỏa thuận ly hôn này đã được người làm chứng và chủ nhiệm cơ quan hộ tịch thị trấn Bắc Cảng, huyện Văn Lâm, Đài Loan (TQ) công nhận thỏa thuận tự nguyện ly hôn căn cứ vào Đ1050 Luật dân sự ĐL (TQ) Chị Huệ đã được Sở sự vụ

hộ tịch cấp giấy chứng nhận cam kết thực sự ly hôn ngày 3/3/2011 Ngày 17/4/2011, chị Huệ làm đơn gửi Bộ tư pháp xin công nhận và thi hành tại VN quyết định ly hôn của Sở sự vụ hành chính ĐL (TQ) Sau khi nghiên cứu và kiểm tra hồ sơ, ngày 23/4/2011 BTP chuyển hồ sơ cho TAND tỉnh Vĩnh phúc xin công nhận và cho thi hành tại VN quyết định công nhận thỏa thuận ly hôn của Sở sự vụ hành chính

ĐL (TQ) giữa chị Nguyễn Thị Huệ và anh Su Chia Lin Việt Nam và Đài Loan đã kí thỏa thuận tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại ngày 12/4/2010, có hiệu lực ngày 2/12/2011 và Điều

19 của thỏa thuận này quy định: Theo các điều kiện được nêu trong Thỏa thuận này, một Bên phải công nhận và cho thi hành trên lãnh thổ của Bên mình bản án, quyết định sau đây đã được Bên kia tuyên: a) Bản án và quyết định dân sự, bao gồm nhưng không giới hạn với bản án và quyết định của Tòa án về các vấn đề thương mại, lao động, hôn nhân, gia đình và các bản án, quyết định khác được nêu trong Thỏa thuận này Chính vì vậy TAND tỉnh Vĩnh Phúc đã công nhận và cho thi hành tại VN quyết định công nhận thỏa thuận ly hôn của Sở sự vụ hành chính ĐL (TQ) giữa chị Nguyễn Thị Huệ và anh Su Chia Lin

Ví dụ 2: Dựa trên nguyên tắc có đi có lại Về trường hợp ly hôn giành quyền nuôi con giữa Lý

Hương và Tony Lam mà cô đã kể vào buổi trước Chúng ta có thể thấy cô Hương là công dân Việt Nam nên việc Tòa TP.HCM thụ lý, xét xử vụ án ly hôn của cô là đúng thẩm quyền; nội dung bản án giao cháu Princess Lam (quốc tịch Mỹ, con gái của cô) cho cô nuôi dưỡng có hiệu lực thi hành trên lãnh thổ Việt Nam Còn ông Tony Lam (quốc tịch Mỹ) gửi đơn ly hôn tại tòa án Mỹ và tòa án Mỹ ra án lệnh giao cho ông giám hộ tạm thời đối với cháu Princess Lam cũng thuộc thẩm quyền hợp pháp của tòa án Mỹ Án lệnh này có hiệu lực thi hành tại Mỹ Trong trường hợp này, giữa Mỹ và Việt Nam không ký hiệp định tương trọ tư pháp thì giải quyết theo nguyên tắc có đi có lại Tức là ở vụ việc này,

Mỹ công nhận bản án của Việt Nam thì ở vụ việc tương tự khác, Việt Nam sẽ công nhận hiệu lực bản

án của Mỹ Trong vụ cô Hương, để được công nhận bản án của Việt Nam tại Mỹ thì đương sự có thể đề nghị cơ quan tư pháp Việt Nam (thông qua Bộ Ngoại giao, Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ) gửi đơn cho

cơ quan tư pháp Mỹ đề nghị công nhận bản án của Việt Nam tại Mỹ Nếu tòa án Mỹ đồng ý thì bản án của Việt Nam mới được công nhận và có hiệu lực thi hành tại Mỹ Nếu họ không chấp nhận thì rơi vào trường hợp song án, không ai công nhận bản án của ai, bản án của quốc gia nào chỉ được thực hiện trên

Trang 5

lãnh thổ quốc gia đó Và trên thực tế, chúng ta thấy rằng nguyên tắc có đi có lại đã không được áp dụng

ở đây

Ví dụ 3: Trên cơ sở pháp luật Việt Nam Trường hợp này, nhóm sẽ đưa ra diễn biến vụ việc

cụ thể và phân tích các giai đoạn trình tự thủ tục công nhận và cho thi hành bản án trong quá trình nhóm trình bày đề tài sau khi kết thúc phần lý thuyết.

Về nguyên tắc, bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành Đối với bản án, quyết định dân sự của Tòa

án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu công nhận thì đương nhiên được công nhận tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trừ bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình theo quy định tại Khoản 2 Điều 431 BLTTDS 2015 luôn được đương nhiên công nhận nếu không có yêu cầu thi hành và không có đơn yêu cầu công nhận tại Việt Nam Tuy nhiên, có những bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài mặc dù đã đáp ứng đầy đủ những nguyên tắc trên nhưng vẫn không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 439 BLTTDS 2015

2.2 Trình tự, thủ tục công nhận và cho thi hành bản án quyết định của tòa án nước ngoài 2.2.1 Giai đoạn 1: Nộp đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án quyết định của Tòa

án nước ngoài

Cơ sở pháp lý: Quyền yêu cầu công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết

định dân sự của tòa án nước ngoài (Điều 425), Thời hiệu yêu cầu công nhận và cho thi hành (Điều 432), Đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành (Đ433), giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu (Đ434), Chuyển hồ sơ cho Tòa án (Đ435)

Quyền yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài tại Việt Nam được dành cho người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ nếu cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc cơ quan, tổ chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài có tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu

Đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài (sau đây gọi tắt là đơn yêu cầu) phải đảm bảo các nội dung chính quy định tại khoản 1 điều 433

và gửi kèm theo đơn là các giấy tờ, tài liệu theo quy định tại Điều 434 Trong đó, nếu đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu kèm theo bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt và được công chứng, chứng thực hợp pháp

Đồng thời, người nộp đơn phải tuân thủ thời hiệu yêu cầu công nhận và cho thi hành tại điều 432, đây là quy định mới trong BLTTDS hiện hành Theo đó, người được thi hành, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn yêu cầu trong thời hạn là 3 năm kể từ ngày bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài có hiệu lực pháp luật Trường hợp

Trang 6

người làm đơn chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể gửi đơn đúng thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn gửi đơn Như vậy, kết thúc thời hạn này thì sẽ không còn quyền yêu cầu Đây là quy định mới trong BLTTDS 2015, việc quy định về thời hiệu này nhằm đảm bảo sự

ổn định của quan hệ dân sự trong trường hợp này, giảm bớt khó khăn cho tòa án trong việc thụ lý yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài tại Việt Nam, nhất là khi vụ việc dân sự đã xảy ra quá lâu Đồng thời nâng cao ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật, khuyến khích các bên đương sự tích cực, chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, nhất là khi không còn thời hiệu thì dù thực tế đương sự có yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài thì tòa án cũng không còn cơ sở pháp lý để giải quyết yêu cầu đó

Đơn yêu cầu phải được gửi đến Tòa án có thẩm quyền theo quy định tại Bộ luật này hoặc Bộ Tư pháp theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước có Tòa án

đã ra bản án, quyết định cùng là thành viên Trong trường hợp Bộ Tư pháp nhận đơn yêu cầu và giấy

tờ, tài liệu kèm theo theo quy định của Bộ luật này, Bộ tư pháp phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ Theo Điều 435, 37, 39 BLTTDS 2015, tòa án có thẩm quyền xét đơn yêu cầu là tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi người phải thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài cư trú, làm việc nếu người phải thi hành án là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành án có trụ sở nếu người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài

So với quy định tại BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung 2011, việc quy định thêm việc nộp đơn yêu cầu tại Tòa án có thẩm quyền và rút ngắn thời hạn mà Bộ Tư Pháp phải chuyển đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu liên quan kèm theo cho Tòa án trong trường hợp nộp đơn yêu cầu tại Bộ Tư pháp đã tạo điều kiện cho việc giải quyết vụ việc được nhanh chóng, và đảm bảo quyền lợi cho người yêu cầu

2.2.2 Giai đoạn 2: Xét đơn yêu cầu

Cơ sở pháp lý: Thụ lý hồ sơ (Đ436), Chuẩn bị xét đơn yêu cầu (Đ437), phiên họp xét đơn yêu

cầu (Đ438), gửi quyết định của Tòa án (Đ441)

Thụ lý hồ sơ (Đ436)

Theo quy định tại Điều 346 BLTTDS 2015, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Bộ Tư pháp chuyển đến hoặc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu kèm theo do người có yêu cầu gửi đến, Tòa án phải thục hiện các thủ tục nhận vã xử lý đơn yêu cầu Nếu không thuộc một trong các trường hợp phải trả lại đơn yêu cầu quy định tại K1 Đ364 BLTTDS2015 thì Tòa án xem xét, thụ lý hồ sơ và thông báo đã thụ lý đơn yêu cầu theo thời hạn quy định tại Đ365 BLTTDS2015 cho người có đơn yêu cầu, người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ tại Việt Nam, Viện kiểm sát cùng cấp và Bộ Tư pháp Xét quy định tại Điều 367 BLTTDS 2004 quy định trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Bộ Tư pháp chuyển đến, Tòa án phải

Trang 7

hoàn thành việc xem xét, thụ lý và thông báo thụ lý đơn yêu cầu Có thể thấy, BLTTDS 2015 đã kéo dài thời hạn thêm 2 ngày, quy định này góp phần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho Tòa án có đủ thời gian cần thiết để xem xét, kiểm tra hồ sơ kỹ lưỡng, tránh sai sót khi quyết định thụ lý đơn yêu cầu

Chuẩn bị xét đơn yêu cầu (Đ437)

Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án có quyền:

- Yêu cầu người được thi hành giải thích những điểm chưa rõ trong đơn;

- Yêu cầu Tòa án nước ngoài đã ra bản án, quyết định giải thích những điểm chưa rõ trong hồ sơ Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý Trong thời hạn này, tuỳ từng trường hợp theo quy định của pháp luật mà Tòa án ra một trong các quyết định:

- Tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu;

- Đình chỉ việc xét đơn yêu cầu;

- Mở phiên họp xét đơn yêu cầu

Trường hợp Tòa án yêu cầu giải thích thì thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu được kéo dài không quá 2 tháng

Tòa án phải mở phiên họp trong vòng một tháng kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp xét đơn yêu cầu Đồng thời Tòa án phải chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu trong thời hạn 15 ngày trước ngày mở phiên họp; hết thời hạn này, Viện kiểm sát phải gửi trả lại hồ sơ cho Tòa án để mở phiên họp xét đơn yêu cầu

Phiên họp xét xử đơn yêu cầu (Điều 438)

Việc xét đơn yêu cầu được tiến hành tại phiên họp do một hội đồng xét đơn bao gồm ba Thẩm phán, trong đó có một Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa theo sự phân công của Chánh án Tòa án Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp tham gia phiên họp; trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp Phiên họp được tiến hành với sự có mặt của người được thi hành, người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ; nếu một trong những người này vắng mặt lần thứ nhất thì phải hoãn phiên họp

Tuy nhiên, việc xét đơn yêu cầu vẫn được tiến hành trong 2 trường hợp: người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người phải thi hành; hoặc người đại diện hợp pháp của họ có đơn yêu cầu Tòa án xét đơn vắng mặt hoặc người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt

Hội đồng ra quyết định đình chỉ việc xét đơn nếu người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt hoặc khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 437 của Bộ luật này

Một điểm cần lưu ý đó là theo khoản 4 Điều 438, tại phiên họp, theo nguyên tắc thừa nhận rộng rãi tại các nước, Hội đồng xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án không được xét xử lại vụ án mà chỉ được kiểm tra, đối chiếu bản án, quyết định dân sự của Tòa

Trang 8

án nước ngoài, các giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu với quy định của Bộ luật này và các quy định khác liên quan của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên Có nghĩa là chỉ xem xét các thủ tục về mặt tố tụng của việc tuyên bản án, quyết định đó và không xem xét về mặt nội dung Sau khi xem xét đơn yêu cầu, các giấy tờ, tài liệu kèm theo, nghe ý kiến của người được triệu tập, của Kiểm sát viên, Hội đồng thảo luận và quyết định theo đa số Hội đồng có quyền ra quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; hoặc quyết định không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài (nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại Đ439 Bộ luật này)

Gửi quyết định của TA (điều 441)

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định công nhận và cho thi hành bản án, TA phải gửi quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài cho đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, Bộ tư pháp và VKS cùng cấp Việc gửi quyết định của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài được thực hiện theo các phương thức như: đường ngoại giao, đường dịch vụ bưu chính, thực hiện qua văn phòng đại diện (quy định tại k1 Đ474 BLTTDS 2015)

Xét quy định tại Điều 357, BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung 2011, có thể thấy BLTTDS hiện hành

đã quy định cụ thể hơn về thời hạn gửi quyết định của Tòa án, đồng thời thay đổi căn bản phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự tại nước ngoài thay vì chỉ quy định “được gửi thông qua Bộ tư pháp” nhằm đa dạng hóa các phương thức tống đạt, thông báo truyền thống, tạo điều kiện thuận lợi, đảm bảo sự linh hoạt, hiệu quả, rút ngắn thời gian tống đạt, thông báo các quyết định của Tòa án cho các đương sự tại nước ngoài

2.2.3 Giai đoạn 3: Xét kháng cáo, kháng nghị

Cơ sở pháp lý: Bảo đảm quyền kháng cáo, kháng nghị (Đ426), Kháng cáo kháng nghị (Đ442),

Xét kháng cáo kháng nghị (Đ443)

Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao xét lại theo quy định của Bộ luật này

Thời hạn kháng cáo là 07 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ xét đơn yêu cầu và 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài; trường hợp đương sự, người đại diện hợp pháp của họ không có mặt tại phiên họp xét đơn yêu cầu thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được quyết định đó Đơn kháng cáo phải nêu rõ lý do và yêu cầu kháng cáo

Trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho đương sự, người đại diện hợp pháp của họ không thể kháng cáo trong thời hạn nêu trên thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn kháng cáo

Trang 9

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao

có quyền kháng nghị quyết định tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu, quyết định công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài của Tòa án Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là 07 ngày, của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được quyết định

Tòa án nhân dân cấp cao xét quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được hồ sơ; trường hợp cần phải yêu cầu giải thích theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 437 của Bộ luật này thì thời hạn này được kéo dài, nhưng không quá 02 tháng Thành phần Hội đồng xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị gồm ba Thẩm phán, trong đó một Thẩm phán làm chủ tọa theo sự phân công của Chánh Tòa án nhân dân cấp cao

Phiên họp xét lại quyết định bị kháng cáo, kháng nghị được tiến hành như phiên họp xét đơn yêu cầu quy định tại Điều 438 của Bộ luật này Quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định và có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này

BLTTDS hiện hành quy định cụ thể hơn về thời hạn kháng cáo, kháng nghị; quy định việc xét quyết định của tòa án nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng cáo, kháng nghị thuộc quyền hạn của tòa án nhân dân cấp cao Đồng thời quy định Hội đồng xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị được quyền ra các quyết định: tạm đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị; đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị; hủy quyết định của tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm; hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và đình chỉ xét đơn yêu cầu khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 5 điều 437 của Bộ luật này Việc quy định quyền hạn cho tòa án nhân dân cấp cao trong trường hợp này là hoàn toàn phù hợp và thống nhất với các quy định có liên quan tại Bộ luật này và Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014

2.3.4 Giai đoạn 4: Thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài Đ427

Kết thúc thời hạn kháng cáo và thời hạn kháng nghị mà đương sự, người đại diện hợp pháp của họ không kháng cáo hoặc Viện kiếm sát có thẩm quyền không kháng nghị thì bản án, quyết định có hiệu lực thi hành

Theo quy định tại Điều 427 BLTTDS 2015, Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam có hiệu lực pháp luật như bản án, quyết định dân sự của Tòa án Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật và được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không được Tòa án Việt Nam công nhận thì không có hiệu lực pháp luật tại Việt Nam trừ trường hợp đương nhiên được công nhận theo quy định của Bộ luật này

Kết luận

Trang 10

Vấn đề công nhận và cho thi hành bản án của tòa án nước ngoài tại Việt Nam là một thủ tục đặc biệt trong tố tụng dân sự quốc tế Việc giải quyết thỏa đáng vấn đề công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài nói chung, và đảm bảo thực hiện trình tự thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài nói riêng luôn là một vấn đề phức tạp và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bảo vệ quyền và lợi ích cho các bên đương sự khi tham gia vào quan hệ dân sự quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng quan hệ giao lưu hợp tác quốc tế

Ví dụ 3 Năm 1992, công ty TNHH Choongnam Spninning (Hàn Quốc) hợp tác với công ty dệt

Việt Thắng (Việt Nam) thành lập công ty liên doanh Choongnam Việt Thắng Tháng 3/1998, Công ty Choongnam Spninning chuyển nhượng 35% vốn trong liên doanh này cho Công ty Yonho, sau đó Công ty Yonho chuyển nhượng cho Công ty TNHH E&T (công ty Yonho và E&T đều của Hàn Quốc) Năm 2002, Choongnam Spinning làm thủ tục phá sản tại Hàn Quốc Tòa án sơ thẩm Hàn Quốc đã phán quyết việc chuyển nhượng vốn giữa Choongnam Spinning với Yonho, giữa Yonho với Công ty TNHH E&T là nhằm tẩu tán tài sản nên vô hiệu theo pháp luật Hàn Quốc và buộc Công ty TNHH E&T phải trả lại phần lãi cùng phần góp vốn cho Choongnam Spinning Đồng thời, Tòa án sơ thẩm Dae Cheon Hàn Quốc không chấp nhận thủ tục phá sản của Choongnam Spinning Tuy nhiên, Công ty TNHH E&T đã kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm nhưng kết quả vẫn không thay đổi Tại bản án phúc thẩm số 2004 Na 10655 ngày 30-9-2005 của Tòa phúc thẩm Dae Cheon, Hàn Quốc đã buộc Công ty TNHH E&T Hàn Quốc phải trả lãi cùng phần vốn góp cho Công ty TNHH Choongnam Spninning, Hàn Quốc

Ngày 14/06/2007, TAND TPHCM thụ lý hồ sơ số 349/KTST Ngày 19/11/2007, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp công khai theo Quyết định mở phiên họp xét đơn yêu cầu số 349/QĐXX-KT ngày 30/10/2007 để xét yêu cầu công nhận bản án dân sự của Tòa án Hàn Quốc cho thi hành tại Việt Nam, gồm:

Bên yêu cầu: Công ty TNHH Choongnam Sprinning (Hàn Quốc)

Địa chỉ: 980-1, Bangbac-2dong, Seocho-gu, Seoul, Hàn Quốc

Bên phải thi hành: Công ty TNHH E & T (Hàn Quốc)

Địa chỉ: 517-4, Dae-heung-dong, Chung-gu, Dae-jeon, Hàn Quốc

Bên liên quan: Công ty TNHH Choongnam Việt Thắng (Việt Nam)

Địa chỉ: 127 Linh Trung, huyện Thủ Đức, thành phố Hồ chí Minh, Việt Nam

Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã ra quyết định công nhận và cho thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật của tòa án Hàn Quốc tại Việt Nam Công ty TNHH E&T Hàn Quốc kháng cáo vì cho rằng Choongnam Spinning đã không đính kèm các văn bản hồ sơ khi yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết vụ việc Tại phiên phúc thẩm, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh nhận định Choongnam Spinning đã nộp đầy đủ hồ sơ đính kèm khi yêu

Ngày đăng: 08/10/2021, 21:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w