1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ PHÙ HỢP TRONG CÁC QUY ĐỊNH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VIỆT NAM VỚI CAM KẾT QUỐC TẾ VỀ MÔI TRƯỜNG MÀ VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN

14 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 36,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề bảo vệ môi trường luôn là một trong những yếu tố quan trọng của chính sách kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, là một trong ba trụ cột của phát triển bền vững. Pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam đã sử dụng nhiều công cụ, thực hiện những biện pháp khác nhau để giải quyết tình trạng môi trường bị ô nhiễm, trong đó biện pháp pháp lý là công cụ được sử dụng chủ yếu và được đánh giá hiệu quả nhất. Tuy nhiên, xuất phát từ tình hình kinh tế xã hội nước ta, pháp luật bảo vệ môi trường nói chung cũng như pháp luật bảo vệ môi trường không khí nói riêng đều là một bộ phận được quan tâm muộn. Ngày nay, Việt Nam là một quốc gia đang phát triển và bắt đầu phát triển mạnh về công nghiệp ở các tỉnh, thành phố lớn. Lượng chất thải do công nghiệp tích tụ, khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam ngày càng trầm trọng. Bên cạnh đó, việc không thể giới hạn không khí trong phạm vi nhất định khiến vấn đề ngăn ngừa ô nhiễm không khí không chỉ là vấn đề bức thiết trong một quốc gia mà còn là một vấn đề mang tính toàn cầu, nhất là các vấn đề liên quan đến tầng ozon, ô nhiễm tầng khí quyển, hiệu ứng nhà kính. Trước tình hình đó, vấn đề bảo vệ môi trường không khí bắt đầu được quan tâm một cách đúng đắn, đồng thời đòi hỏi phải nâng cao hợp tác quốc tế về giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường không khí. Việc tham gia các cam kết quốc tế về môi trường đem lại nhiều cơ hội cho Việt Nam, được cộng đồng quốc tế giúp đỡ, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoàn thiện hơn nữa pháp luật bảo vệ môi trường không khí, hỗ trợ tài chính và khoa học kĩ thuật. Tuy nhiên, đây cũng sẽ là thách thức đối với Việt Nam nếu không thể đáp ứng được những điều kiện cần thiết về khoa học kĩ thuật, nhân lực, tài chính…

Trang 1

‘MỤC LỤC

A Mở đầu 2

B Nội dung 3

I Khái quát chung về môi trường không khí và pháp luật môi trường không khí 3

II Đánh giá mức độ phù hợp trong các quy định Bảo vệ môi trường với cam kết quốc tế về môi trường mà Việt Nam là thành viên 4 III Một số phương hướng hoàn thiện các quy định Bảo vệ môi trường không khí phù hợp cam kết quốc tế về môi trường

mà Việt Nam là thành viên và thực tiễn nước ta 12

C Kết luận 13



Trang 2

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ PHÙ HỢP TRONG CÁC QUY ĐỊNH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VIỆT NAM VỚI CAM KẾT QUỐC TẾ

VỀ MÔI TRƯỜNG MÀ VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN

A.MỞ ĐẦU

Vấn đề bảo vệ môi trường luôn là một trong những yếu tố quan trọng của chính sách kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, là một trong ba trụ cột của phát triển bền vững Pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam đã sử dụng nhiều công

cụ, thực hiện những biện pháp khác nhau để giải quyết tình trạng môi trường bị

ô nhiễm, trong đó biện pháp pháp lý là công cụ được sử dụng chủ yếu và được đánh giá hiệu quả nhất Tuy nhiên, xuất phát từ tình hình kinh tế - xã hội nước

ta, pháp luật bảo vệ môi trường nói chung cũng như pháp luật bảo vệ môi trường không khí nói riêng đều là một bộ phận được quan tâm muộn Ngày nay, Việt Nam là một quốc gia đang phát triển và bắt đầu phát triển mạnh về công nghiệp

ở các tỉnh, thành phố lớn Lượng chất thải do công nghiệp tích tụ, khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam ngày càng trầm trọng Bên cạnh đó, việc không thể giới hạn không khí trong phạm vi nhất định khiến vấn đề ngăn ngừa ô nhiễm không khí không chỉ là vấn đề bức thiết trong một quốc gia mà còn là một vấn đề mang tính toàn cầu, nhất là các vấn đề liên quan đến tầng ozon, ô nhiễm tầng khí quyển, hiệu ứng nhà kính Trước tình hình đó, vấn đề bảo vệ môi trường không khí bắt đầu được quan tâm một cách đúng đắn, đồng thời đòi hỏi phải nâng cao hợp tác quốc tế về giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường không khí Việc tham gia các cam kết quốc tế về môi trường đem lại nhiều cơ hội cho Việt Nam, được cộng đồng quốc tế giúp đỡ, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoàn thiện hơn nữa pháp luật bảo vệ môi trường không khí, hỗ trợ tài chính

và khoa học kĩ thuật Tuy nhiên, đây cũng sẽ là thách thức đối với Việt Nam nếu không thể đáp ứng được những điều kiện cần thiết về khoa học kĩ thuật, nhân lực, tài chính…

Trang 3

Xuất phát từ những vấn đề đã nói đến, nhóm 6 sẽ tiến hành đánh giá mức

độ phù hợp trong các quy định Bảo vệ môi trường không khí Việt Nam với các cam kết về quốc tế mà nước ta là thành viên

B NỘI DUNG

I Khái quát chung về môi trường không khí và pháp luật bảo vệ môi trường không khí:

Môi trường không khí là hỗn hợp các khí bao bọc xung quanh Trái đất, có nhiệm vụ duy trì và bảo vệ sự sống trên Trái đất, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự sinh tồn Đó là hỗn hợp các khí gồm có Nite chiếm 78,9%, Oxy chiếm 20,59%, Acgong chiếm 0,93%, đioxit cacbon chiếm 0,32% và một số khí hiếm khác như Nêon, Heli, Mêtan, Kripton Nếu trong môi trường không khí này có lẫn một số loại chất khí khác có thể gây ảnh hưởng đến đời sống của sinh vật thì môi trường không khí đó bị ô nhiễm

Khoản 8 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp quy chuẩn

kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người

và sinh vật” Theo đó, trên phương diện pháp lí, ô nhiễm môi trường không khí được hiểu là sự thay đổi lớn trong thành phần của không khí vượt ra ngoài quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và tiêu chuẩn môi trường, tác động tiêu cực đến cuộc sống của con người và sinh vật

Có thể thấy, ô nhiễm môi trường không khí do nhiều tác nhân khác nhau gây ra Các nguồn ô nhiễm không khí vừa xuất phát từ tự nhiên, vừa do hoạt động của con người gây ra Con người và môi trường luôn được đặt trong một mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau Con người muốn bảo vệ cuộc sống của mình thì trước hết phải bảo vệ môi trường

Tuy nhiên, để thực hiện có hiệu quả việc bảo vệ môi trường, cần thiết phải

có sự phối hợp đồng bộ giữa mọi cá nhân trong xã hội Và để có được sự đồng

bộ đó thì nhất thiết phải thông qua sự tổ chức và quản lý của Nhà nước Nhà nước sử dụng pháp luật như là một công cụ chủ yếu đảm bảo việc bảo vệ môi

Trang 4

trường Luật Bảo vệ môi trường là một ngành luật độc lập, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực bảo vệ môi trường sinh thái và quản lý môi trường sinh thái Pháp luật bảo vệ môi trường nói chung và pháp luật bảo vệ môi trường không khí nói riêng quy định các quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện khi khai thác và sử dụng các yếu tố của môi trường; các chế tài hình sự, kinh tế, hành chính để buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện đầy

đủ các đòi hỏi của pháp luật khi khai thác và sử dụng các yếu tố của môi trường; quy định những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức bảo vệ môi trường; giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc bảo vệ môi trường Trong đó, Nhà nước còn quy định một hệ thống tiêu chuẩn môi trường không khí Đây vừa là công cụ kỹ thuật, vừa là công cụ pháp lý giúp cho Nhà nước quản lý môi trường không khí một cách hiệu quả Hệ thống tiêu chuẩn môi trường không khí của Việt Nam hiện nay gồm hai tiêu chuẩn chính: Tiêu chuẩn chất lượng môi trường không khí và tiêu chuẩn về khí thải Mặc dù vậy, tình trạng ô nhiễm không khí vẫn còn xu hướng trầm trọng hơn khiến cho bảo vệ môi trường không khí không còn là vấn đề riêng của một quốc gia nào đó, mà đã trở thành một vấn đề mang tính toàn cầu Trước tình hình ô nhiễm môi trường không khí ngày càng nghiêm trọng, nhà nước ta cũng đã ban hành các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường không khí Đồng thời, hợp tác chặt chẽ, thực hiện các cam kết quốc tế và tận dụng sự giúp đỡ của các nước trên thế giới nhằm đảm bảo việc thực thi pháp luật bảo vệ môi trường không khí sao cho phù hợp với thực tiễn cũng như các cam kết quốc tế về môi trường mà Việt Nam là thành viên

II Đánh giá mức độ phù hợp trong các quy định Bảo vệ môi trường không khí Việt Nam với cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên:

1 Quy định Bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam:

Như đã đề cập, một trong các biện pháp bảo vệ môi trường cơ bản

là biện pháp pháp lý Không ai có thể phủ nhận vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường Vì vậy, Nhà nước luôn ban hành, sửa đổi và bổ sung trong các văn bản

Trang 5

quy phạm pháp luật để đáp ứng ngày một tốt hơn những đòi hỏi của hoạt động bảo vệ môi trường không khí Sau đây là một số các quy định bảo vệ pháp luật không khí mà nhóm đã tìm hiểu được:

1 Điều 62, 63, 64 Luật Bảo vệ môi trường 2014

2 Điều 15,16 – Nghị định 179/2013/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường

3 Thông tư số 32/2013/TT-BTNMT ngày 25/10/2013 quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đã ban hành QCVN 05:2013/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh

4 Thông tư số 30/2009/TT-BGTVT ngày 19/11/2009 quy định kĩ thuật quốc gia về khí thải xe môtô, gắn máy sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu mới, đã ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe môtô, xe gắn máy sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu mới (QCVN 04:2009/BGTVT)

5 Thông tư số 16/2009/TT-BTNMT ngày 07/10/2009 quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường, ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số chất độc hại trong không khí xung quanh (QCVN: 06/2009/BTNMT)

6 Thông tư số 25/2009/TT-BTNMT ngày 26/11/2009 quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường, ban hành các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ (QCVN 19: 2009/BTNMT); về khí thải công nghiệp đối với một số chất hữu cơ (QCVN 20: 2009/BTNMT); về khí thải công nghiệp sản xuất phân bón hóa học (QCVN21: 2009/BTNMT); về khí thải công nghiệp nhiệt điện (QCVN 22: 2009/BTNMT);

về khí thải công nghiệp sản xuất xi măng (QCVN 23: 2009/BTNMT)

7 Thông tư số 42/2010/TT-BTNMT ngày 29/12/2010 quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường, ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp lọc hóa dầu đối với bụi và các chất vô cơ

Trang 6

Như vậy, trong các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đã nhắc đến, chỉ có hai quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng môi trường không khí xung quanh

Đó là QCVN 05: 2013/BTNMT và QCVN 06: 2009/BTNMT, còn các quy chuẩn còn lại để kiểm soát nồng độ chất vô cơ, hữu cơ và bụi trong thành phần khí thảy công nghiệp trước khi thải vào môi trường không khí xung quanh

2 Các cam kết quốc tế về môi trường không khí mà Việt Nam là thành viên:

Hiện nay, có khoảng 300 công ước quốc tế về bảo vệ môi trường Trong đó, Việt Nam đã tham gia một số các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường không khí sau đây:

 Công ước Viên 1985, Công ước về bảo vệ tầng ozon (26/04/1994):

 Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozon

1987 (26/01/1984)

 Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu

1992 (16/11/1994)

 Nghị định thư Kyoto 1997

a Công ước Viên 1985, Công ước về bảo vệ tầng ozon (26/04/1994) và Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozon 1987:

Ngày 22/03/1985, các quốc gia đã cùng nhau kí kết một văn bản thỏa thuận về trách nhiệm của các nước trong việc giảm phát thải các chất có hại đến sự bình ổn của tầng ozon Nhằm thực hiện Công ước một cách có hiệu quả,

2 năm sau, Nghị định Montreal 1987 về các chất làm suy giảm tầng ozon đã được ban hành Nghị định thư đã quy định nhiều điều khoản nhằm xác định các biện pháp cần thiết để các bên tham gia hạn chế và kiểm soát việc sản xuất, tiêu thụ các chất làm suy giảm tầng ozon Việt Nam trở thành thành viên chính thức

Trang 7

phê chuẩn và tham gia Công ước Viên về Bảo vệ tầng Ozon và Nghị định thư Montreal từ tháng 1 năm 1994

b Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu 1992: Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu là một hiệp ước quốc tế về môi trường được đàm phán tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường và phát triển, diễn ra tại Rio de Janeiro vào tháng 6 năm 1992 Công ước này là “Cam kết của các quốc gia nhằm vạch ra khuôn khổ cho hoạt động kiểm soát và cắt giảm phát thải khí nhà kính nhằm ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển để ngăn chặn các tác động nguy hiểm của nó tới hệ thống khí hậu” Là nước đang phát triển, Việt Nam cần phải thực hiện nghĩa vụ như nhưng quốc gia thuộc Phụ lục I: Thứ nhất, Việt Nam sẽ không ngừng điều tra nhằm hạn chế nguồn phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính trong phạm vi quốc gia, xây dựng các chương trình khu vực, quốc gia về biến đổi khí hậu, đưa vấn đề khí hậu vào các chính sách, vào các hoạt động quốc gia về xã hội, kinh tế và môi trường; Thứ hai, Việt Nam có nghĩa vụ hợp tác với các quốc gia trên thế giới về biến đổi khí hậu

c Nghị định thư Kyoto 1997:

Nghị định thư Kyoto là một thỏa thuận về cắt giảm lượng kí thải gây hiệu ứng nhà kính, gắn liền với chương trình Khung Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCC) Nghị định thư buộc các nước tham gia phải cam kết đạt được các mục tiêu về thải khí nhà kính được xác định cụ thể cho từng nước Nghị định thư được hoàn tất và mở ký vào ngày 11/12/1997 tại Kyoto, Nhật Bản

và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 16/02/2005 Việt Nam ký Nghị định thư vào ngày 03/12/1998 và phê chuẩn vào ngày 25/09/2002

Việc gia nhập cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường không khí góp phần giúp Việt Nam hoàn thiện được hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường Mặc dù, việc ban hành và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường không khí trên thực tế không thể tránh khỏi một số vướng mắc Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể phủ nhận được sự nỗ lực của Nhà nước ta trong

Trang 8

công tác hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường không khí nhằm đảm bảo hoạt động bảo vệ môi trường không khí thật sự đạt được hiệu quả

3 Đánh giá mức độ phù hợp trong các quy định Bảo vệ môi trường không khí Việt Nam với cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên:

Một trong các giải pháp quan trọng trong các chiến lược, kế hoạch hành động quốc gia về môi trường là hợp tác quốc tế về môi trường Nhà nước

ta đã tiến hành ký kết và triển khai hiệu quả các điều ước song phương, đa phương và kế hoạch hành động đã ký kết với các quốc gia, vùng lãnh thổ và tổ chức trong lĩnh vực này Các cam kết quốc tế này chính là những căn cứ, cơ sở

để Nhà nước ta tiến hành sửa đổi, bổ sung những quy định pháp luật bảo vệ môi trường không khí trước đây và xây dựng những quy định pháp luật mới sao cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam và thế giới Mặc dù, những quy định Bảo vệ môi trường không khí càng về sau càng phù hợp với những cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số điểm chưa thích hợp giữa quy định pháp luật Việt Nam với cam kết quốc tế đó Điều này khiến cho việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường không khí hiện nay vẫn còn những hạn chế nhất định, chưa đạt được hiệu quả cao

Về mức độ phù hợp:

Thứ nhất, giữa những quy đinh bảo vệ môi trường không khí và những quy định trong các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập có những điểm phù hợp Như đã đề cập, con người và môi trường có mối quan hệ không thể tách rời, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ an toàn cuộc sống của con người

Từ việc nhận thức được vấn đề này mà các quy định pháp luật Việt Nam cũng như các điều ước quốc tế về môi trường mà Việt Nam là thành viến đều hướng tới con người, đồng thời hướng đến hoàn thiên một trong ba trụ cột của mục tiêu phát triển bền vững, đó là vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường không khí nói riêng Trong đó, các vấn đề được tất cả các bên quan tâm

Trang 9

nhiều nhất đó là chống biến đổi khí hậu và ngăn ngừa sự phá hoại tầng ozon Hai vấn đề này đều được pháp luật bảo vệ môi trường không khí và cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên điều chỉnh và quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Đó đều là những văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao và phạm vi điều chỉnh rộng lớn, chẳng hạn: Công ước Viên về bảo vệ tầng ozon 1985, Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu 1982, Luật bảo vệ môi trường…

Thứ hai, sự phù hợp giữa pháp luật Việt Nam và các cam kết quốc

tế mà Việt Nam là thành viên còn thể hiện ở sự phối hợp của các cơ quan có thẩm quyền và pháp luật Việt Nam nhằm thực hiện những quy định tại các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập Chẳng hạn như trường hợp Nghị định thư Montreal ra đời nhằm hạn chế và chấm dứt việc sử dụng và sản xuất CFC cũng như các chất hóa học làm suy giảm tầng ozon khác để bảo vệ tầng khí quyển của Trái đất từ đó bảo vệ sự sống con người Với sự nỗ lực và hợp tác của các bộ ngành liên quan, từ tháng 01 năm 2010, Việt Nam đã loại trừ 500 tấn CFC Đồng thời, Cục Khí tượng Thủy văn và biến đổi khí hậu, với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới hoàn thành việc xây dựng dự án “Kế hoạch quản lý loại trừ các chất HCFC tại Việt Nam” theo cam kết tại nghị định thư Montreal, dựa trên cơ

sở thông tư số 47/2012/TTLT-BTC-BTNMT quy định về quản lý nhập khẩu, xuất khẩu và tạm nhập – tái xuất các chất làm suy giảm tầng ozon

Thứ ba, quy định Bảo vệ môi trường không khí và cam kết quốc tế

về môi trường có sự phù hợp trong những quy định của pháp luật về hợp tác, hỗ trợ về kinh nghiệm thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường không khí, khoa học

kỹ thuật cũng như nguồn nhân lực và tài chính Không thể phủ nhận mục đích chung của các cam kết quốc tế là hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau trong từng lĩnh vực Vấn đề mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường luôn không ngừng được chú trọng và được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật liên quan Trong

đó, vấn đề này đã được quy định cụ thể tại các Điều 156, 157, 158 Luật Bảo vệ

Trang 10

môi trường 2014, trực tiếp thể hiện đường lối và chủ trương của Đảng trong việc thúc đẩy hội nhập và hợp tác quốc tế về môi trường

Về những điểm chưa phù hợp:

Tuy các cơ quan nhà nước có thẩm quyền luôn chủ động tích cực trong việc thực hiện các quy định tại các cam kết quốc tế nhưng không phải lúc nào việc thi hành các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường không khí ở nước

ta đều mang lại kết quả tích cực

Mặc dù, các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia liên quan đến vấn đề môi trường đều được quy định phù hợp với các cam kết quốc tế Tuy nhiên, trên thực

tế, việc đảm bảo thực hiện chính xác các quy chuẩn kỹ thuật này vẫn tồn tại những khó khăn nhất định Sở dĩ tồn tại những khó khăn này bởi trình độ khoa học kỹ thuật nước ta vẫn còn hạn chế, chưa theo kịp trình độ phát triển của khá nhiều nước trên thế giới, đồng thời cũng đối mặt với vấn đề thiếu hụt nhân lực

có trình độ cao khiến cho việc kiểm tra, giám sát lượng khí thải ra môi trường cũng như đánh giá mức độ ô nhiễm không khí còn hạn chế

Hệ thống chính sách về bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn và tiến hành muộn hơn ở các nước khác Hệ thống chính sách này tuy đã đáp ứng yêu cầu về nội dung cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhưng vẫn không tránh khỏi sự chồng chéo và không rõ ràng, nhất là khi Việt Nam vẫn còn chưa thành lập bất cứ cơ quan riêng nào về bảo vệ môi trường Bên cạnh đó, sự lồng ghép các chính sách kế hoạch của từng ngành có liên quan đến việc thực hiện các điều ước cũng còn những hạn chế nhất định bởi những điều kiện khách quan về kinh tế xã hội của đất nước Việt Nam khó có thể cùng các quốc gia khác thực hiện nhưng cam kết quốc tế chỉ bởi

vì sự thiếu hụt về cơ sở vật chất kĩ thuật, nhất là các cam kết quốc tế quy định một số quy chuẩn kỹ thuật môi trường nằm ngoài phạm vi mà điều kiện của Việt Nam có thể tác động

Những văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường không khí vẫn còn nhiều hạn chế, như: quy định chưa cụ thể, bộc lộ những bất cập, gây

Ngày đăng: 08/10/2021, 21:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w