1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bài tập nhóm MÔN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

21 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 215,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các bên đương sự trong các cuộc tranh chấp, mà việc kéo dài các cuộc tranh chấp ấy có thể đe dọa đến hoà bình và an ninh quốc tế, trước hết, phải cố gắng tìm cách giải quyết tranh chấp b

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

KHOA LUẬT – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

BỘ MÔN : CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

BÀI TẬP NHÓM

Giảng viên : Đào Thị Thu Hường

Sinh viên: Đào Thị Thanh Huyền – 18061154 Dương Thị Oanh – 18061153

Ngô Minh Thùy Dương – 18061032

Vũ Thị Hương – 18061028

Nguyễn Thị Huyền Dịu - 18061253

Trang 2

BÀI TẬP NHÓM

Câu 1 Phân tích các biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế được ghi nhận tại

Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc Theo nhóm a/c, biện pháp nào quan trọng

nhất? Tại sao?

Trong quá trình cùng tồn tại, hợp tác và đấu tranh để phát triển của các quốc gia,

việc các tranh chấp phát sinh, tồn tại giữa họ là điều tất yếu Trong bối cảnh toàn cầu hoá,

khi các mối quan hệ hợp tác lệ thuộc giữa các quốc gia ngày càng trở lên phổ biến, sâu

sắc thì nguy cơ phát sinh các tranh chấp giữa họ cũng ngày càng trở lên thường trực Tính

chất và quy mô của các tranh chấp do vậy cũng phức tạp và rộng lớn hơn Và vấn đề giải

quyết các tranh chấp quốc tế trước hết và chủ yếu thuộc về thẩm quyền của chính các chủ

thể của Luật quốc tế, trên nguyên tắc bình đẳng và tự nguyện Luật quốc tế không có

những quy định có tính chất bắt buộc đối với các quốc gia trong việc lựa chọn phương

thức, thủ tục hay cách thức cụ thể để giải quyết một tranh chấp quốc tế Tuy nhiên, khi

tồn tại một tranh chấp, các quốc gia có liên quan có nghĩa vụ giải quyết tranh chấp đó

bằng biện pháp hoà bình.

Như vậy, để đồng thời đảm bảo tính khái quát và cụ thể ở mức độ cần thiết trong

xem xét các biện pháp hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế, Luật quốc tế đã đề cập đến

Trang 3

ba nhóm các biện pháp cơ bản: Nhóm thứ nhất bao gồm các biện pháp mang tính ngoại giao, phi tư pháp; Nhóm thứ hai bao gồm các biện pháp xét xử của trọng tài hay toà án; Nhóm thứ ba bao gồm các biện pháp thông qua cơ chế của tổ chức quốc tế

Ta có thể thấy cụ thể hơn , Điều 33 được nêu rõ trong Hiến chương Liên hợpquốc như sau:

Điều 33:

1 Các bên đương sự trong các cuộc tranh chấp, mà việc kéo dài các cuộc tranh chấp ấy có thể đe dọa đến hoà bình và an ninh quốc tế, trước hết, phải cố gắng tìm cách giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán, điều tra, trung gian, hoà giải, trọng tài, toà án, sử dụng những tổ chức hoặc những điều ước khu vực, hoặc bằng các biện pháp hoà bình khác tùy theo sự lựa chọn của mình;

2 Hội đồng bảo an, nếu thấy cần thiết, sẽ yêu cầu các đương sự giải quyết tranh chấp của họ bằng các biện pháp nói trên.

Điều 33 của Hiến chương cũng phần nào khái quát được tất cả những biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế

Sau đây nhóm em sẽ phân tích cụ thể những biện pháp trên:

CÁC BIỆN PHÁP MANG TÍNH NGOẠI GIAO, PHI TƯ PHÁP

là hạn chế được ảnh hưởng, tác động của bên thứ ba vào quan hệ tranh chấp

 Pháp luật quốc tế không có quy định cụ thể về thủ tục, cách thức đàm phán giải quyết tranh chấp Quyết định về các vấn đề này hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên, tuỳ thuộc vào bối cảnh của từng tranh chấp cụ thể Tuy nhiên,

để sử dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp khác, chẳng hạn biện pháp xét

xử, thì đàm phán có thể được coi là một giai đoạn bắt buộc Trong trường hợp đàm phán là một giai đoạn bắt buộc để giải quyết tranh chấp, nghĩa vụ đàm phán không đồng nghĩa với nghĩa vụ phải đạt đến một kết quả nhất định Tiêu chí quyết định để đánh giá việc thực hiện nghĩa vụ đàm phán chỉ là thái độ thiện chí của mối bên.

 Kết quả của đàm phán sau khi được cơ quan có thẩm quyền của mỗi bên xác nhận, chấp nhận sẽ có giá trị pháp lý ràng buộc đối với các bên

Trang 4

 Bên trung gian có vai trò trong việc truyền đạt thông tin, quan điểm của các bên tranh chấp với nhau, đưa ra những sáng kiến, kiến nghị giúp các bên thu hẹp khoảng cách tranh chấp Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, ý kiến của bên trung gian không có giá trị ràng buộc đối với các bên tranh chấp Trong quá trình đóng vai trò trung gian, bên trung gian có nghĩa vụ hành xử trên nguyên tắc trung thực, trung lập Mặt khác, bên trung gian cũng có nghĩa vụ bảo mật các thông tin có được khi tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của các bên tranh chấp.

Uỷ ban điều tra

 Uỷ ban điều tra cũng là một hình thức tham gia của bên thứ ba vào quá trình giải quyết một tranh chấp quốc tế

 Uỷ ban điều tra không có vai trò trực tiếp trong việc tìm kiếm các giải pháp cho cuộc trách chấp, mà chỉ giới hạn ở việc tìm kiếm, xác định những sự kiện, tình huống khách quan là nguyên nhân hay bối cảnh của tranh chấpCác kết quả làm việc của Uỷ ban điều tra được thể hiện trong một báo cáo gửi cho các bên tranh chấp và không có giá trị ràng buộc đối với các bên

Uỷ ban hoà giải

 Việc sử dụng uỷ ban hoà giải để giải quyết tranh chấp quốc tế là một thực tiễn lâu đời trong quan hệ quốc tế

 Trong số các biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua con đường ngoại giao

có sự tham gia của bên thứ ba thì biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua uỷ ban hoà giải có tính thể chế nhiều nhất, thể hiện vai trò của bên thứ ba rõ nét nhất

Trang 5

 Nhiệm vụ của uỷ ban hoà giải là xem xét toàn bộ các khía cạnh của vụ tranh chấp, bao gồm cả các khía cạnh thực tiễn và khía cạnh pháp lý, trên cơ sở đó đưa ra giải pháp có tính khuyến nghị đối với vụ tranh chấp cho các bên

 Về cơ chế hoạt động, uỷ ban hoà giải có những điểm tương đồng với một cơ quan xét xử, chẳng hạn đảm bảo sự đối chất, tranh tụng giữa các bên, xem xét

vụ tranh chấp cả dưới góc độ sự kiện và góc độ pháp lý Giải pháp mà uỷ ban kiến nghị đối với vụ tranh chấp không có giá trị bắt buộc đối với các bên

CÁC BIỆN PHÁP XÉT XỬ CỦA TRỌNG TÀI HAY TÒA ÁN

Khác với các biện pháp giải quyết tranh chấp bằng con đường ngoại giao, các biện pháp giải quyết tranh chấp bằng con đường xét xử luôn đem lại kết quả là một phán quyết của

cơ quan xét xử có giá trị pháp lý ràng buộc đối với các bên tranh chấp.

Trọng tài quốc tế

 Trọng tài quốc tế là một thiết chế giải quyết tranh chấp quốc tế mà thẩm quyền

được xác lập trên cơ sở thoả thuận, thông qua thủ tục xét xử để đưa ra một phán quyết có giá trị pháp lý ràng buộc đối với các bên tranh chấp

 Thẩm quyền của trọng tài quốc tế : Thẩm quyền của trọng tài quốc tế xuất phát từ

sự thoả thuận của các bên tranh chấp.

 Cách thức tổ chức của trọng tài quốc tế : Trọng tài quốc tế có hai hình thức tổ

chức là trọng tài vụ việc và trọng tài thường trực.

- Trọng tài vụ việc, việc lựa chọn trọng tài viên, thành lập hội đồng trọng tài, xác định các quy định tố tụng trọng tài hoàn toàn phụ thuộc vào sự thoả thuận của các bên.

- Trọng tài thường trực, các vấn đề này được quy định trước trong điều lệ, quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài.

 Thiết chế trọng tài quốc tế thường trực tiêu biểu nhất là Toà trọng tài thường trực

có trụ sở tại Lahaye, được thành lập và hoạt động trên cơ sở Công ước Lahaye năm 1899 và Công ước Lahaye I năm 1907 Một thiết chế trọng tài quốc tế thường trực khác là Toà trọng tài quốc tế về Luật biển.

Tố tụng và giá trị phán quyết của trọng tài quốc tế

- Các quy tắc tố tụng của trọng tài quốc tế hoàn toàn do các quốc gia tranh chấp quyết định nếu đó là một hội đồng trọng tài vụ việc.

- Về nguyên tắc, các phán quyết của trọng tài quốc tế có giá trị chung thẩm Trong một số trường hợp, có thể có những thủ tục tố tụng đặc biệt cho phép

Trang 6

các bên yêu cầu trọng tài giải thích, làm rõ những điểm trong phán quyết hoặc chỉnh sửa những lỗi kỹ thuật, tính toán trong phán quyết

- Phán quyết của trọng tài quốc tế chỉ có hiệu lực ràng buộc đối với các bên trong tranh chấp đã chấp nhận thẩm quyền của trọng tài

Toà án công lý quốc tế của Liên hợp quốc

Toà án công lý quốc tế của Liên hợp quốc (ICJ) là một trong 6 cơ quan chính của Liên hợp quốc Toà án có tiền thân là Toà án công lý quốc tế thường trực

Tổ chức của Toà án

- Toà án bao gồm 15 thẩm phán độc lập, được bầu bởi Đại hội đồng Liên hợp quốc trên cơ sở kiến nghị của Hội đồng bảo an, với nhiệm kỳ 9 năm có thể tái nhiệm Việc bầu thẩm phán được tiến hành ba năm một lần nhằm thay đổi 1/3 thành phần của Toà án Thành phần của Toà án đảm bảo không có quá 1 thẩm phán có cùng quốc tịch của một nước

- Toà án có ban thư ký đứng đầu là Chánh thư ký Ban thư ký của toà có trách nhiệm thực hiện các hoạt động có tính hành chính, tác nghiệp tư pháp của Toà.

 Thẩm quyền của Toà án

- Hai chức năng này là: chức năng xét xử và chức năng đưa ra các kết luận tư

vấn pháp luật.

 Quy tắc tố tụng của Toà án

- Thủ tục tố tụng của Toà án được quy định rất chặt chẽ, thể hiện trong Quy

chế (chương 3) và Nội quy của Toà án.

- Việc giải quyết một vụ việc trước Toà được tiến hành qua hai giai đoạn tố

tụng: giai đoạn tố tụng viết và giai đoạn tranh tụng trước toà.

- Trong quá trình giải quyết vụ tranh chấp, Toà án có quyền hạn quyết định

khá lớn liên quan đến các vấn đề tố tụng

Phán quyết của Toà án

- Quyết định của Toà án chỉ có giá trị bắt buộc đối với các bên trong vụ tranh

chấp và có hiệu lực chung thẩm (điều 59, 60 Quy chế).

- Về nguyên tắc, chính các quốc gia là những chủ thể đảm bảo thực hiện

phán quyết của Toà án Việc một quốc gia từ chối thi hành phán quyết có hiệu lực của Toà án được coi là một hành vi vi phạm cam kết quốc tế và làm phát sinh trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia Đặc biệt, theo quy định của Hiến chương Liên hợp quốc, trong trường hợp một bên không thi hành, bên kia có quyền yêu cầu Hội đồng bảo an xem xét, quyết định đưa ra những khuyến nghị hoặc các biện pháp thích hợp để buộc thi hành quyết

định đó Điều 94 của Hiến chương quy định cụ thể.

Trang 7

- Phán quyết của Toà án chỉ có giá trị đối với vụ việc được giải quyết và chỉ

có hiệu lực đối với các bên tranh chấp.

Toà án công lý châu Âu

- Toà án công lý châu Âu, hay còn gọi là Toà án công lý của các Cộng đồng châu Âu là một thiết chế tài phán quốc tế đặc thù.

- Toà án công lý châu Âu là một thiết chế tư pháp đặc biệt, vừa mang những đặc điểm của một toà án quốc tế, vừa mang những đặc điểm của một toà án quốc gia liên bang.

- Toà án công lý châu Âu có ba chức năng chính: Đảm báo tính hợp pháp của các văn bản pháp luật của các cơ quan của Liên minh châu Âu; Đảm bảo sự tuân thủ pháp luật cộng đồng châu Âu từ phía các nước thành viên; Giải thích pháp luật cộng đồng châu Âu theo yêu cầu của các Toà án các quốc gia thành viên.

- Toà án công lý châu Âu bao gồm 3 thiết chế xét xử là Toà công lý, Toà sơ thẩm và Toà hành chính công Tổ chức, thành phần, thẩm quyền và trình tự tố tụng của Toà án được quy định cụ thể cho mỗi toà này.

Cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức thương mại thế giới

 Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO là một trong những cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế được sử dụng nhiều nhất, được đánh giá là thành công và có ảnh hưởng nhất trong lĩnh vực giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia.

 Mục tiêu, nguyên tắc của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO: Tạo môi

trường pháp lý minh bạch cho hoạt động thương mại quốc tế; Đảm bảo sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các nước thành viên trên cơ sở pháp luật quốc

tế và các luật lệ của WTO.

Cơ quan giải quyết tranh chấp : là Đại hội đồng của WTO khi nhóm họp nhằm

giải quyết tranh chấp Thành phần Đại hội đồng WTO bao gồm đại diện ở cấp đại sứ của tất cả các nước thành viên DSB là cơ quan duy nhất có quyền thành lập

Nhóm chuyên gia :

Trang 8

- Nhóm chuyên gia được thành lập bởi DSB cho từng vụ tranh chấp và tự

giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ

- Nhóm chuyên gia có nhiệm vụ xem xét, đánh giá khách quan các vấn đề

tranh chấp cả trên bình diện sự kiện và pháp lý

Cơ quan phúc thẩm:

- Cơ quan phúc thẩm (AB) là một cơ quan thường trực được thành lập mới

từ Vòng đàm phán Uruguay

- Thẩm quyền của AB chỉ giới hạn ở xem xét vấn đề áp dụng pháp luật của

Nhóm công tác trong báo cáo AB có quyền giữ nguyên, bác bỏ hay sửa đổi các kết luận của Nhóm công tác trong bản báo cáo.

Cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN

 Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập trên cơ sở Tuyên bố Bangkok (Thái Lan) ngày 8 tháng 8 năm 1967 Hiện nay ASEAN

có 10 thành viên là Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Land, Việt Nam Cơ chế tổ chức, hoạt động, lĩnh vực hợp tác của ASEAN được phát triển, hoàn thiện từng bước qua nhiều thời kỳ

 Sự hình thành và phát triển của cơ chế giải quyết tranh chấp tại của ASEAN luôn đi cùng với sự hình thành và phát triển của ASEAN.

 Các quy định về giải quyết tranh chấp của ASEAN được quy định tập trung tại:

- Hiệp ước thân thiện và hợp tác trong khu vực Đông Nam Á được ký kết tại Bali tháng 2 năm 1976

- Nghị định thư về cơ chế giải quyết tranh chấp ký tại Manila (Philippines) ngày 20 tháng 11 năm 1996

- Trong Hiến chương ASEAN, các quy định về giải quyết tranh chấp nằm ở chương VIII (từ điều 22 đến điều 28)

- các nước thành viên có quyền sử dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp quy định tại điều 33(1) của Hiến chương Liên hợp quốc hoặc sử dụng bất kỳ một văn kiện quốc tế nào khác mà các nước là thành viên

để giải quyết tranh chấp giữa họ

Theo nhóm a/c, biện pháp nào quan trọng nhất? Tại sao?

Theo quan điểm của nhóm em, biện pháp đàm phán là biện pháp quan trọng nhất trong tất cả các biện pháp Bởi vì :

Trang 9

+ Đàm phán đóng vai trò rất quan trọng trong giải quyết tranh chấp quốc tế.Trong số các biện pháp giải quyết tranh chấp, đàm phán được áp dụng phổ biến và được biết đến từ rất sớm trong lịch sử quan hệ quốc tế và luôn chiếm vị trí hàng đầu trong số danh mục các biện pháp mà các chủ thể luật quốc tế áp dụng.

+ Trên thực tế, đàm phán trực tiếp không chỉ được sử dụng để giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể luật quốc tế mà còn là phương tiện được sử dụng để trao đổi thông tin, ý kiến về các vấn

đề khác nhau, thống nhất quan điểm, đường lối, ký kết các điều ước quốc tế Đàm phán có thể được tiến hành bởi đại diện chính thức của các bên hữu quan ở các cấp độ khác nhau, chẳng hạn như ở cấp cao nhất – Nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu chính phủ hoặc không chính thức

=> Một trong những ưu điểm lớn nhất của đàm phán là thứ 3 ( kể cả cộng đồng quốc tế ) cũng khó gây áp lực và can can thiệp vào quá trình giải quyết tranh chấp

+ Đàm phán có mối quan hệ mật thiết với các biện pháp giải quyết tranh chấp khác, chẳng hạn, đàm phán có thể chỉ là giai đoạn khởi đầu của một phương thức giải quyết tranh chấp khác hoặc đàm phán có thể là hệ quả của việc áp dụng các phương thức giải quyết tranh chấp khác So với các biện pháp giải quyết tranh chấp khác, đàm phán có rất nhiều ưu thế Ví dụ,đàm phán có thể được xúc tiến bất cứ lúc nào, không bị khống chế thời gian, đàm phán không chỉ giải quyết được loại bỏ sự nghi ngờ, sự bất đồng về ý chí Tính chất đó làm cho đàm phán thường được các bên lựa chọn để giải quyết hầu hết các loại tranh chấp.

=>Đàm phán là biện pháp quan trọng nhất.

Câu 2. Hãy lựa chọn biện pháp khả thi nhất cho Việt Nam trong việc giải quyết những tranh chấp mà Việt Nam đang phải đối diện với một số quốc gia khác trong khu vực Biển Đông hiện nay? Trong trường hợp sử dụng đàm phán (hay hòa giải…) không có kết quả, anh/chị sẽ chọn cơ quan tài phán quốc tế nào giải quyết

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông?

A, Tranh chấp về chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Quốc.

Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo trên các rạn san hô ở BiểnĐông.Các bằng chứng lịch sử và căn cứ pháp lý đều cho thấy rằng các Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu thật sự hai quần đảo này hàng trăm năm qua Nói chính xác là các Nhà nước Việt Nam trong lịch sử và cho tới nay đã thực thi chủ quyền ởđây ít ra từ thế kỷ XVII khi hai quần đảo chưa hề thuộc chủ quyền của bất cứ nướcnào Từ đó Việt Nam đã thực hiện việc xác lập và thực thi chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách liên tục và hòa bình Tuy nhiên,thực trạng tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và vị trí chiếm đóng của các bên đối với

2 quần đảo này vẫn đang diễn ra phức tạp và kéo dài suốt nhiều năm

1 Thực trạng

Trang 10

Ở quần đảo Hoàng Sa , Trung Quốc đã nhảy vào tranh chấp chủ quyền lãnh

thổ với Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ XX (năm 1909), mở đầu là sự kiện Đô đốc

Lý Chuẩn chỉ huy 3 pháo thuyền ra khu vực quần đảo Hoàng Sa, đổ bộ chớp

nhoáng lên đảo Phú Lâm, sau đó phải rút lui vì sự hiện diện của quân đội viễn chinh Pháp với tư cách là lực lượng được Chính quyền Pháp, đại diện cho nhà nước Việt Nam, giao nhiệm vụ bảo vệ, quản lý quần đảo này

Năm 1946, lợi dụng việc giải giáp quân đội Nhật Bản thua trận, chính quyền Trung Hoa Dân quốc đưa lực lượng ra chiếm đóng nhóm phía Đông Hoàng

Sa Khi Trung Hoa Dân quốc bị đuổi khỏi Hoa lục, họ phải rút luôn số quân đang chiêm đóng ở quần đảo Hoàng Sa

Năm 1956, lợi dụng tình hình quân đội Pháp phải rút khỏi Đông Dương theo quy định của Hiệp định Giơ ne vơ và trong khi chính quyền Nam Việt Nam chưa kịp tiếp quản quần đảo Hoàng Sa, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã đưa quân ra chiếm đóng nhóm phía Đông Hoàng Sa

Năm 1974, lợi dụng quân đội Việt Nam Cộng hòa đang trên đà sụp đổ, quân đội viễn chinh Mỹ buộc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa lại huy động lực lượng quân đội ra xâm chiếm nhóm phía Tây Hoàng Sa đang do quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ

Mọi hành động xâm lược bằng vũ lực nói trên của CHND Trung Hoa đều gặp phải sự chống trả quyết liệt của quân đội Việt Nam Cộng hòa và đều bị Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, với tư cách là chủ thể trong quan hệ quốc tế, đại diện choNhà nước Việt Nam quản lý phần lãnh thổ niềm Nam Việt Nam theo quy định của Hiệp định Geneve năm 1954, lên tiếng phản đối mạnh mẽ trên mặt trận đấu tranh ngoại giao và dư luận

Ở quần đảo Trường Sa, 7 bãi đá đã bị Trung Quốc ngang nhiên chiếm

đóng

Bãi đá Châu Viên nằm ở phía tây quần đảo Trường Sa của Việt Nam, bị Trung Quốc chiếm đóng từ năm 1988 Philippines cũng có tuyên bố chủ quyền với bãi đá này.Châu Viên bị Trung Quốc cải tạo chủ yếu trong hè năm 2014 Quá trìnhxây dựng các cơ sở, tòa nhà hiện vẫn tiếp tục.Diện tích phần đất nhân tạo trên bãi

đá Châu Viên được mở rộng tới 119.711 m2, tính đến ngày 14/3 Những công trìnhxuất hiện tại đây gồm kênh tiếp cận, đê chắn sóng, bãi đáp trực thăng, các tòa nhà

hỗ trợ, cơ sở quân sự, ăng ten liên lạc vệ tinh

Đá Chữ Thập nằm ở phía tây quần đảo Trường Sa của Việt Nam và cũng

bị Trung Quốc đánh chiếm năm 1988 Hoạt động cải tạo đất tại đây bắt đầu từ tháng 8/2014 Phần đất rộng dành cho xây dựng được hoàn thành vào tháng 1/2015

Ngày đăng: 08/10/2021, 17:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w