1.1. Các khái niệm chung 1.1.1. Thị trường lao động Phát triển từ khái niệm trong tác phẩm của Adam Smith viết năm 1862 (thị trường là không gian trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ), có tác giả lập luận nếu coi sức lao động là hàng hóa hoặc nếu coi lao động là dịch vụ thì bản chất của khái niệm này như sau: Thị trường lao động là nơi diễn ra sự trao đổi hàng hóa sức lao động hoặc dịch vụ lao động giữa một bên là người sử dụng lao động và một bên là người lao động. Thị trường lao động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quá trình để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công. Tuy diễn đạt khác nhau, nhưng các quan niệm trên đều thống nhất với nhau ở những nội dung cơ bản: Thị trường lao động là thị trường trong đó có người cần bán sức lao động, cung cấp dịch vụ lao động (người lao động); có người cần mua sức lao động (người sử dụng lao động); có các yếu tố cung cầu lao động, giá cả sức lao động (tiền công, tiền lương). Thị trường là phạm trù thuộc kinh tế học, ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của sản xuất hàng hóa, khi chưa có nền sản xuất hàng hóa thì chưa có các loại thị trường. Kinh tế hàng hóa là hình thái tổ chức kinh tế, trong đó diễn ra quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa. Trong quá trình trao đổi đó, theo nghĩa thông thường thì “thị trường là nơi mua bán hàng hóa, là nơi gặp gỡ để tiến hành mua bán giữa người bán và người mua”. Thị trường lao động của Việt Nam hiện nay phụ thuộc vào cơ cấu dân số, chất lượng nguồn lao động như trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, cơ cấu ngành nghề. 1.1.2. Cung lao động Cung lao động được hiểu là một bộ phần dân số tiềm năng, bao gồm những người có đủ khả năng thể lực và trí lực làm việc, chưa tính đến các đặc điểm về3 tuổi tác và giới tính. Cung lao động chính là tổng số lượng lao động đang tham gia và sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động ở những thời điểm nhất định, phụ thuộc vào tốc độ tăng nguồn lao động, sự biến động của cầu lao động, trình độ đào tạo hướng nghiệp, dạy nghề và tiền lương (tiền công) trên thị trường lao động. Thực chất, cung lao động là sức lao động mà người lao động tự nguyện đưa ra để trao đổi trên thị trường. Cung lao động còn được được hiểu là số lượng lao động đang tham gia và sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động ở những thời điểm nhất định. Cung lao động phụ thuộc vào tốc độ tăng nguồn lao động, sự biến động về cầu lao động, trình độ đào tạo hướng nghiệp – dạy nghề và tiền lương (tiền công) trên thị trường lao động. Trong điều kiện giả thiết các yếu tố khác tác động tới cung lao động không thay đổi (cố định các yếu tố khác), nếu người lao động theo một đơn vị lao động càng cao thì khả năng và tính sẵn sàng cho doanh nghiệp thuê thêm lao động của họ càng cao vì khả năng kiếm thêm thu nhập từ việc cung ứng sức lao động cho doanh nghiệp sẽ tăng lên. Ngược lại, nếu mức tiền công trả cho một đơn vị lao động càng thấp thì khả năng và tính sẵn sàng cho doanh nghiệp thuê thêm lao động của người lao động càng thấp. Quy luật này đối với cung lao động cũng tương tự với quy luật cung hàng hóa hay dịch vụ trên thị trường hàng hóa. Cung cầu lao động có quan hệ ràng buộc với nhau, dựa vào nhau để tồn tại. Sự tác động lẫn nhau của hai chủ thề này quyết định tính cạnh tranh của thị trường: khi bên cung sức lao động lớn hơn nhu cầu về loại hàng hoa này, thì bên mua ở vào địa vị có lợi hơn trên thị trường lao động (thị trường của bên mua). Ngược lại, nếu cầu về sức lao động trên thị trường lớn hơn cung thì người bán sẽ có lợi hơn, có nhiều cơ hội hơn để lựa chọn công việc, giá cả sức lao động vì thế có thể được nâng cao (thị trường của bên bán). Bên cạnh đó, cũng như bất kỳ mọi dạng thị trường khác, thị trường lao động còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác, trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tới động thái phát triển của thị trường này
Trang 1BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
-*** -
TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: KINH TẾ NGUỒN NHÂN LỰC
ĐỀ TÀI: ĐẶC ĐIỂM CUNG LAO ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CUNG LAO ĐỘNG NGÀNH DỊCH VỤ THỜI GIAN TỚI
TẠI VIỆT NAM
Trang 2
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
1.1 Các khái niệm chung 2
1.1.1 Thị trường lao động 2
1.1.2 Cung lao động 2
1.2 Các nhân tố chung ảnh hưởng đến cung lao động 3
1.3 Ảnh hưởng cung lao động ở Việt Nam do quy mô lao động và quy mô dân số lớn 5
CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM CUNG LAO ĐỘNG NGÀNH DỊCH VỤ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 8
2.1 Toàn cảnh ngành Dịch vụ 8
2.1.1 Thị trường Dịch vụ Việt Nam 8
2.1.2 Quy mô nguồn nhân lực ngành dịch vụ du lịch 10
2.2 Thực trạng cung lao động ngành Dịch vụ Việt Nam hiện nay 11
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁT TRIỂN PHÁT TRIỂN CUNG LAO ĐỘNG NGÀNH DỊCH VỤ TRONG THỜI GIAN SẮP TỚI Ở VIỆT NAM 15
3.1 Các thành tựu chung 15
3.2 Định hướng và giải pháp phát triển cung lao động ngành Dịch vụ: 17
3.3 Đề xuất cho Doanh nghiệp 18
3.3.1 Xây dựng văn hóa doanh nghiệp 18
3.3.2 Thương hiệu nhà tuyển dụng xây dựng trên nền tảng giá trị văn hóa 19
3.3.3 Tối ưu hóa đa dạng kênh tuyển dụng 19
TỔNG KẾT 20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Tại Việt Nam hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì nhu cầu về các dịch vụ ngày càng tăng lên Bao gồm 3 nhóm ngành: Dịch vụ tiêu dùng: thương nghiệp, dịch vụ sửa chữa, khách sạn, nhà hàng, dịch vụ cá nhân và cộng đồng; dịch vụ sản xuất: giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, tài chính, tín dụng, kinh doanh tài sản, tư vấn; dịch vụ công cộng: khoa học công nghệ, giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, quản lí nhà nước, đoàn thể và bảo hiểm xã hội Khi kinh tế càng phát triển thì dịch vụ càng trở nên đa dạng
Ngày nay dịch vụ có vị trí ngành càng lớn trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, tỷ trọng của các dịch vụ trong cơ cấu GDP ngày càng tăng ở mỗi quốc gia phát triển và chậm phát triển (các nước phát triển tỷ trọng dịch vụ chiếm tới 66 – 68%, có nước trên 70%, các nước chậm phát triển, trong đó có Việt Nam tỷ lệ từ
36 – 42% trong GDP) Ðây được xem là thời điểm “vàng” để ngành dịch vụ tại Việt Nam phát triển vượt bậc Tuy nhiên, thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao và chiến lược giữ chân nhân tài chưa đạt hiệu quả tại các doanh nghiệp, chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước về ngành dịch vụ vẫn còn là những thách thức tồn đọng tại Việt Nam Theo khảo sát, gần ½ nhóm ứng viên quan sát và cho biết doanh nghiệp họ luôn trong tình trạng thiếu nhân sự, 70% ý kiến của nhà tuyển dụng cho biết nguyên nhân chính là do khan hiếm nguồn ứng viên đạt yêu cầu Trách nhiệm của Nhà nước là tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách hành động vĩ mô cụ thể đưa ra những giải pháp phát triển cung lao động ngành dịch vụ tại Việt Nam nói chung Nhưng đối với xã hội dân sự việc tham gia của cộng đồng các doanh nghiệp, các nhà khoa học, các nhóm lợi ích có liên quan khác cũng rất cần thiết Do vậy, em lựa chọn đề tài: “Đặc điểm cung lao động ngành Dịch vụ, giải pháp phát triển cung lao động ngành Dịch vụ thời gian tới tại Việt Nam”
Trang 4CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Các khái niệm chung
1.1.1 Thị trường lao động
Phát triển từ khái niệm trong tác phẩm của Adam Smith viết năm 1862 (thị trường là không gian trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ), có tác giả lập luận nếu coi sức lao động là hàng hóa hoặc nếu coi lao động là dịch vụ thì bản chất của khái niệm này như sau: Thị trường lao động là nơi diễn ra sự trao đổi hàng hóa sức lao động hoặc dịch vụ lao động giữa một bên là người sử dụng lao động và một bên
là người lao động
Thị trường lao động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quá trình để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công Tuy diễn đạt khác nhau, nhưng các quan niệm trên đều thống nhất với nhau ở những nội dung cơ bản: Thị trường lao động là thị trường trong đó có người cần bán sức lao động, cung cấp dịch vụ lao động (người lao động); có người cần mua sức lao động (người sử dụng lao động); có các yếu
tố cung- cầu lao động, giá cả sức lao động (tiền công, tiền lương)
Thị trường là phạm trù thuộc kinh tế học, ra đời và phát triển gắn liền với
sự phát triển của sản xuất hàng hóa, khi chưa có nền sản xuất hàng hóa thì chưa
có các loại thị trường Kinh tế hàng hóa là hình thái tổ chức kinh tế, trong đó diễn
ra quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa Trong quá trình trao đổi đó, theo nghĩa thông thường thì “thị trường là nơi mua bán hàng hóa, là nơi gặp gỡ để tiến hành mua bán giữa người bán và người mua”
Thị trường lao động của Việt Nam hiện nay phụ thuộc vào cơ cấu dân số, chất lượng nguồn lao động như trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, cơ cấu ngành nghề
1.1.2 Cung lao động
Cung lao động được hiểu là một bộ phần dân số tiềm năng, bao gồm những người có đủ khả năng thể lực và trí lực làm việc, chưa tính đến các đặc điểm về
Trang 5tuổi tác và giới tính Cung lao động chính là tổng số lượng lao động đang tham gia và sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động ở những thời điểm nhất định, phụ thuộc vào tốc độ tăng nguồn lao động, sự biến động của cầu lao động, trình
độ đào tạo hướng nghiệp, dạy nghề và tiền lương (tiền công) trên thị trường lao động Thực chất, cung lao động là sức lao động mà người lao động tự nguyện đưa
ra để trao đổi trên thị trường Cung lao động còn được được hiểu là số lượng lao động đang tham gia và sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động ở những thời điểm nhất định Cung lao động phụ thuộc vào tốc độ tăng nguồn lao động, sự biến động về cầu lao động, trình độ đào tạo hướng nghiệp – dạy nghề và tiền lương (tiền công) trên thị trường lao động
Trong điều kiện giả thiết các yếu tố khác tác động tới cung lao động không thay đổi (cố định các yếu tố khác), nếu người lao động theo một đơn vị lao động càng cao thì khả năng và tính sẵn sàng cho doanh nghiệp thuê thêm lao động của
họ càng cao vì khả năng kiếm thêm thu nhập từ việc cung ứng sức lao động cho doanh nghiệp sẽ tăng lên Ngược lại, nếu mức tiền công trả cho một đơn vị lao động càng thấp thì khả năng và tính sẵn sàng cho doanh nghiệp thuê thêm lao động của người lao động càng thấp Quy luật này đối với cung lao động cũng tương tự với quy luật cung hàng hóa hay dịch vụ trên thị trường hàng hóa
Cung cầu lao động có quan hệ ràng buộc với nhau, dựa vào nhau để tồn tại
Sự tác động lẫn nhau của hai chủ thề này quyết định tính cạnh tranh của thị trường: khi bên cung sức lao động lớn hơn nhu cầu về loại hàng hoa này, thì bên mua ở vào địa vị có lợi hơn trên thị trường lao động (thị trường của bên mua) Ngược lại, nếu cầu về sức lao động trên thị trường lớn hơn cung thì người bán sẽ
có lợi hơn, có nhiều cơ hội hơn để lựa chọn công việc, giá cả sức lao động vì thế
có thể được nâng cao (thị trường của bên bán) Bên cạnh đó, cũng như bất kỳ mọi dạng thị trường khác, thị trường lao động còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác, trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tới động thái phát triển của thị trường này
1.2 Các nhân tố chung ảnh hưởng đến cung lao động
Trang 6Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến cung lao động của người lao động, trong đó có một số nhân tố cơ bản sau đây:
thiết cố định thì khi mức tiền công trả cho một đơn vị lao động càng cao, khả năng và tính sẵn sàng cung ứng sức lao động của người lao động càng lớn và ngược lại
thù là có nhu cầu lao động thực sự ngay cả khi họ không có những ấp lực kinh tế hay những áp lực xã hội đáng kể Từ đặc điểm này, con người vẫn có thể sẵn sàng cung ứng sức lao động của mình ngay cả khi tiền công thấp thậm chí không có
cho doanh nghiệp trong nhiều trường hợp phụ thuộc vào các ấp lực tâm lí xã hội
Dư luận xã hội thường lên án những người có sức lao động mà không lao động, điều đó đã tác động vào tâm lí con người tạo nên khả năng và tính sẵn sàng cung ứng sức lao dộng ngay cả khi họ không có những áp lực kinh tế đáng kể
về mặt lượng lẫn mặt chất Để thỏa mãn những nhu cầu ấy, con người phải có thu nhập và cần có thu nhập ngày càng nhiều để không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thường xuyên mà còn cần đáp ứng cả nhu cầu dự trữ đề phòng rủi ro trong cuộc sống hằng ngày Các áp lực kinh tế đã khiến con người phải lao động Tùy theo mức độ tác đông của áp lực kinh tế mà khả năng và tính sẵn sàng cung ứng sức lao động của người lao động khác nhau Áp lực kinh tế càng lớn thì khả năng cung ứng sức lao động càng cao và ngược lại
sự hoặc có những áp lực tâm lí xã hội hay áp lực kinh tế đến đâu họ cũng không thể lao động trong toàn bộ thời gian mà không có nghỉ ngơi để tái sản xuất sức lao động, để vui chơi giải trí hay chăm sóc gia đình Điều đó ảnh hưởng đến khả năng cung ứng sức lao động cho doanh nghiệp
Trang 7- Các nhân tố khác: Ngoài các nhân tố nói trên, ảnh hưởng tới cung lao động
còn có nhiều nhân tố khác có thể ví dụ như thời tiết, khí hậu, điều kiện lao động, môi trường lao động,…
Từ đó có thể thấy rằng các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến cung lao động là: quy mô và tốc độ tăng dân số; quy định pháp lý về độ tuổi lao động; tỷ trọng
cư dân trong độ tuổi lao động và tỷ lệ tham gia vào lực lượng lao động; tỷ lệ tham gia của lực lượng lao động vào thị trường lao động; tình trạng tự nhiên của người lao động; các phẩm chất cá nhân về học vấn, trình độ tay nghề, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người lao động, và một số các chỉ số khác
1.3 Ảnh hưởng cung lao động ở Việt Nam do quy mô lao động và quy
mô dân số lớn Việt Nam là nước có quy mô dân số lớn, tháp dân số tương đối trẻ và bắt đầu bước vào thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” với nguồn nhân lực dồi dào nhất từ trước đến nay Việt Nam là nước có quy mô dân số lớn, tháp dân số tương đối trẻ
và bắt đầu bước vào thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” với nguồn nhân lực dồi dào
nhất từ trước đến nay
Tính đến 1/4/2011, dân số Việt Nam là 87.610.947 người, trong đó dân số thành thị hiếm 30,6%, dân số nông thôn chiếm 69,4%; nam có 43.347.731 người (chiếm 49,5%), nữ có 4.263.216 người (chiếm 50,5%) Vùng Đồng Bằng Sông Hồng có quy mô dân số lớn hất, tiếp đến là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung; Tây Nguyên là vùng có quy mô dân số ít nhất LLLĐ tập trung chủ yếu ở
3 vùng là Đồng Bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Miền Trung và Đồng Bằng Sông Cửu Long Như vậy, khu vực nông thôn và ba vùng kinh tế - xã hội này là những nơi cần có các chương trình khai thác nguồn lực lao động, đào tạo nghề và tạo việc làm trong những năm tới Tỷ lệ tham gia LLLĐ của dân số
từ 15 tuổi trở lên là 76,5% Tỷ lệ tham gia LLLĐ chênh lệch đáng kể giữa nam
và nữ (81,3% của nam so với 72,0% của nữ), và không đồng đều giữa các vùng
Trang 8LLLĐ trong độ tuổi lao động: nam từ 15-60 tuổi, nữ từ 15-55 tuổi LLLĐ bao gồm những người đang có việc làm và những người thất nghiệp Tính đến thời điểm 1/7/2011, Việt Nam có 51.326 nghìn người từ 15 tuổi trở lên thuộc LLLĐ, chiếm 58,4% tổng dân số, trong đó nữ 48,3% và nam chiếm 51,7% LLLĐ chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn (71,5%)
Kết quả TĐT năm 2019 cho thấy tỷ trọng dân số từ 15-64 tuổi chiếm 68,0% (giảm 1,1 điểm phần trăm so với năm 2009), tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi và từ
65 tuổi trở lên chiếm lần lượt là 24,3% và 7,7% Như vậy, Việt Nam đang trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” khi mà cứ một người phụ thuộc thì có hai người trong độ tuổi lao động Dự báo đến khoảng năm 2040, Việt Nam sẽ kết thúc thời
kỳ “cơ cấu dân số vàng”
Mặc dù thời kỳ cơ cấu dân số vàng tạo ra nhiều thuận lợi, thế mạnh song cũng đặt ra không ít những khó khăn, thách thức cần phải giải quyết Ngoài các vấn đề về nâng cao trình độ kỹ năng của người lao động để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động nhất là trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ 4.0, kết nối cung cầu thị trường lao động thì việc giảm bớt áp lực về thiếu việc làm, trật tự, an ninh xã hội cần tiếp tục được quan tâm
Tại Việt Nam, do sự biến đổi về cơ cấu tuổi của dân số theo xu hướng tỷ trọng của trẻ em dưới 15 tuổi giảm và tỷ trọng của dân số từ 60 tuổi trở lên tăng
đã làm cho chỉ số già hóa có xu hướng tăng lên nhanh chóng trong hai thập kỷ qua: Chỉ số già hóa năm 2019 là 48,8%, tăng 13,3 điểm phần trăm so với năm
2009 và tăng hơn hai lần so với năm 1999 Chỉ số già hóa có xu hướng tiếp tục tăng lên trong những năm sắp tới Như vậy, vấn đề già hóa đang đặt ra thách thức cho Việt Nam khi tốc độ già hóa nhanh trong bối cảnh nước ta vẫn là một quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp Vì vậy, cần có những chính sách để đảm bảo thích ứng với già hóa dân số Trong đó, cải thiện công tác chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi và hệ thống an sinh xã hội, chính sách lao động cho người cao tuổi nhưng vẫn đang tham gia hoạt động kinh tế giúp giải quyết các vấn đề về xã
Trang 9hội, nâng cao mức sống, góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất hàng hóa, dịch vụ, tăng quy mô sản xuất
Kết quả TĐT năm 2019 cho thấy, tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên đã từng kết hôn là 77,5% Trong đó, dân số đang có vợ/chồng chiếm 69,2%, dân số đã ly hôn hoặc ly thân chiếm 2,1%; xấp xỉ 70% nam giới từ 15 tuổi trở lên hiện đang có vợ
và 68,5% phụ nữ từ 15 tuổi trở lên hiện đang có chồng Nam giới kết hôn muộn hơn nữ giới
Bên cạnh đó, phát triển kinh tế trong 10 năm qua cũng phần nào tác động tới xu hướng kết hôn Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên chưa vợ/chồng năm 2019 giảm 4,3 điểm phần trăm so với năm 2009, tương ứng là 22,5% và 26,8% Tuy nhiên, tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên ly hôn hoặc ly thân tăng nhẹ so với năm 2009, tương ứng là 2,1% và 1,4%
Kết quả TĐT năm 2019 cho thấy, thanh niên ở khu vực nông thôn có xu hướng kết hôn sớm hơn ở thành thị, thể hiện qua tỷ lệ dân số nhóm 15-19 tuổi đã từng kết hôn ở khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị 4,1 điểm phần trăm (tương ứng là 6,7% và 2,6%)
Kết quả Tổng điều tra năm 2019 cho thấy, tuổi kết hôn trung bình lần đầu
là 25,2 tuổi, tăng 0,7 tuổi so với năm 2009 Trong đó, tuổi kết hôn trung bình của nam giới cao hơn nữ giới 4,1 tuổi (tương ứng là 27,2 tuổi và 23,1 tuổi) Tuổi kết
hôn lần đầu ở thành thị cao hơn nông thôn đối với cả nam giới và nữ giới
Trang 10CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM CUNG LAO ĐỘNG NGÀNH DỊCH VỤ TẠI
VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Toàn cảnh ngành Dịch vụ
2.1.1 Thị trường Dịch vụ Việt Nam
Ngành công nghiệp dịch vụ một ngành đang rất phát triển ở nước các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Xu hướng những năm hiện nay ngành dịch
vụ được nhà nước quan tâm đặc biệt bởi nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngày càng tăng Theo Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2015 và 5 năm 2011 - 2015; phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2016 - 2020 và năm 2016 của Chính phủ tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII, ngày 20-10-2015, tăng trưởng GDP năm 2015 ước đạt hơn 6,5%, cao nhất trong 5 năm qua, vượt kế hoạch đề ra (6,2%); bình quân 5 năm đạt khoảng 5,9%/năm, trong đó công nghiệp, xây dựng tăng 6,74%/năm, nông lâm thủy sản tăng 3,01%/năm, dịch vụ tăng 6,31%/năm Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng từ 79,42% năm 2010 lên 82,5% năm 2015 Tỷ trọng dịch vụ trong GDP đạt khoảng 44% vào năm 2015
Đóng góp của ngành dịch vụ vào tăng trưởng ngày càng tăng; đã tập trung phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng, lợi thế, có hàm lượng khoa học, công nghệ cao như công nghệ thông tin, truyền thông, logistics, hàng không, tài chính, ngân hàng, du lịch, thương mại điện tử Mạng lưới thương mại và dịch vụ phát triển mạnh trên phạm vi cả nước, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Ngành du lịch tiếp tục được cơ cấu lại theo hướng nâng cao chất lượng dịch
vụ, tập trung đầu tư cơ sở vật chất và phát triển đa dạng các sản phẩm, nhất là tại các vùng du lịch trọng điểm Khách quốc tế năm 2015 đạt khoảng 7,9 triệu lượt, gấp gần 1,6 lần so với năm 2010 Mở rộng miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và công dân của nhiều nước để khuyến khích phát triển thương mại, đầu tư và du lịch
Mạng lưới và cơ cấu đào tạo hợp lý hơn; quy mô, chất lượng và sự công bằng trong tiếp cận giáo dục được cải thiện Ứng dụng khoa học và đổi mới công
Trang 11nghệ có bước tiến bộ, nhất là trong các lĩnh vực nông nghiệp, thông tin truyền thông, y tế, xây dựng Thị trường khoa học công nghệ có bước phát triển, giá trị giao dịch tăng 13,5%/năm Số lượng sáng chế và các giải pháp hữu ích đăng ký bảo hộ gấp gần 2,2 lần so với giai đoạn 2006 - 2010 Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2015 tăng 19 bậc so với năm 2010
Dịch vụ lưu trú và ăn uống đã được ILO xác định là một tiểu ngành của nền kinh tế mà rất có khả năng chứng kiến sự sụt giảm mạnh về sản lượng do cuộc khủng hoảng COVID-19 Ngành du lịch là ngành thâm dụng lao động và sử dụng hang triệu lao động bị trả lương thấp và tay nghề kém, phần lớn trong số họ
là phụ nữ Ở nhiều quốc gia, những người lao động hiện phải đối mặt với việc giảm giờ làm một cách mạnh mẽ và nghiêm trọng, giảm lương đáng kể và có nguy cơ mất việc làm Hầu như tất cả các doanh nghiệp trong tiểu ngành cung cấp dịch vụ lưu trú và thực phẩm, dù là doanh nghiệp có quy mô lớn hay nhỏ, có khả năng phải đấu tranh để trụ lại MSMEs, chiếm một phần lớn trong ngành du lịch, đặc biệt dễ bị tổn thương Thật vậy, chi phí phát sinh do cuộc khủng hoảng COVID-19, bao gồm cả những chi phí liên quan đến các biện pháp phòng ngừa
và thay đổi quy trình làm việc, có thể cao hơn nhiều đối với các doanh nghiệp, vì các nguồn lực thường bị hạn chế và những khó khăn mà họ thường gặp phải khi
cố gắng tiếp cận nguồn vốn
Nhìn chung, sự phát triển dịch vụ còn nhiều hạn chế, có tốc độ tăng thấp hơn giai đoạn trước Các ngành dịch vụ thâm dụng tri thức, khoa học và công nghệ phát triển còn chậm Các ngành dịch vụ mang tính chất "động lực" hay
"huyết mạch", có hàm lượng tri thức cao, như tài chính-tín dụng, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong GDP của toàn nền kinh tế Hệ thống phân phối còn nhiều bất cập, chi phí trung gian lớn, chưa kết nối thông suốt, hiệu quả và chưa bảo đảm hài hoà lợi ích giữa các khâu
từ sản xuất đến tiêu thụ; chất lượng dịch vụ còn thấp, tính chuyên nghiệp chưa cao Các dịch vụ khoa học và công nghệ chưa thực sự gắn kết với nhu cầu và hoạt