Đó cũng chính là nguồn động lực thúcđẩy tôi đến với đề tài "Đạo đức Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó tớinhân cách cá nhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam".. Đề tài "Đạo đức Phật
Trang 11 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Phật giáo là một tôn giáo thế giới có nguồn gốc ở Ấn Độ Ra đời
từ thế kỉ VI tcn với nội dung cơ bản là triết lý nhân sinh về nỗi khổ củacon người và cách tu luyện để diệt khổ và giải thoát Cốt lõi của triết lý
đó là "Tứ diệu đế" Về đạo đức, Phật giáo chủ trương bình đẳng giữacác tầng lớp xã hội và đề cao lòng từ bi bác ái
Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ thế kỉ I Suốt hơn 2000năm qua của lịch sử của dân tộc, Phật giáo ở Việt Nam có nhiều thăngtrầm Nhưng nhìn chung, Phật giáo có đóng góp không nhỏ trong bảo vệ
và xây dựng Tổ quốc, và là thành tố quan trọng chung dựng nên nềnvăn hoá Việt Nam
Dưới sự tác động của nền kinh tế cơ chế thị trường, Việt Nam đã
có thêm những nguồn lực mới, kích thích sự phát triển năng lực sángtạo của cá nhân, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước Tuynhiên bên cạnh những mặt tích cực đó, thì nền kinh tế thị trường cũng
có những tác động xấu tới việc hình thành nhân cách của cá nhân, biểuhiện ra đó chính là sự xuống cấp về mặt đạo đức của một số thanh thiếuniên, cán bộ nhà nước Trong nền kinh tế thị trường, những yếu tố nhưlương tâm, danh dự đã bị mờ nhạt, những hành vi phạm pháp, coithường kỷ cương phép nước, tham nhũng, không ngừng gia tăng Cácyếu tố đó đã làm xói mòn những nét đẹp truyền thống đạo đức của dântộc ta, tạo ra các yếu tố phản giá trị của chuẩn mực đạo đức mới Tronggiai đoạn hiện nay, với nền kinh tế thị trường, triết lý nhà Phật có ảnhhưởng không nhỏ trong đời sống xã hội Việt Nam
Vì thế, việc làm rõ những giá trị đạo đức trong Phật giáo và sự
Trang 2trong nền kinh tế thị trường cũng là một trong những nhu cầu cần thiết
có ý nghĩa định hướng, hoàn thiện nhân cách của cá nhân trong nềnkinh tế thị trường ở Việt Nam Đó cũng chính là nguồn động lực thúcđẩy tôi đến với đề tài "Đạo đức Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó tớinhân cách cá nhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam"
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI.
Phật giáo là đề tài khiến không ít người quan tâm Ở Việt Nam đã
có không ít công trình nghiên cứu về Phật giáo Nhiều công trình có ýnghĩa như: "Pháp giáo nhà Phật", "Lịch sử nhà Phật" của Đoàn TrungCòn; "Phật giáo Việt Nam với cộng đồng dân tộc"của Lê Cung; "Phậtgiáo với văn hoá Việt Nam" của Nguyễn Duy Hinh"; "Thích ca mâu niPhật" của Tinh Vân Đại Sư; ; "Lược khảo Phật giáo sử lược Việt Nam"của Vân Thanh; "Lịch sử Phật giáo Việt Nam" của Nguyễn Tài Thư;
Ở Đại học Huế cũng có khá nhiều tác giả nghiên cứu về Phật giáonhư: Trần Cao Phong với "Phật giáo Huế với việc hình thành nhân cáchcon người Huế"; Hoàng Ngọc Vĩnh với "Nhân sinh quan Phật giáo Huếqua góc nhìn của lịch sử triết học", "Nét riêng Phật giáo Huế", "Hồ ChíMinh với Phật giáo", "Chùa Huế với đời sống văn hóa tinh thần conngười Huế"; Phạm Thị Xê với "Phật giáo Huế với vấn đề chính trị";
Ngoài ra, cũng đã có một số công trình nghiên cứu khoa học cấptrường về Phật giáo đã nghiệm thu của một số cán bộ giảng dạy và sinhviên Triết học trường Đại học Khoa học Huế, một số luận văn của sinhviên Giáo dục Chính trị trường Đại học Sư phạm Huế
Mỗi một công trình Phật giáo là một cách khai thác riêng, vớinhững góc độ khác nhau Đề tài "Đạo đức Phật giáo và sự ảnh hưởngcủa nó tới nhân cách cá nhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam"
là sự kế thừa một số thành tựu, kết quả nghiên cứu về đề tài Phật giáonói chung và đạo đức Phật giáo nói riêng, kết hợp với những tri thức vàkhả năng hiện có, luận văn chỉ là bước đầu của sự tìm hiểu nghiên cứu,tóm lược một số khía cạnh của đạo đức Phật giáo và sự ảnh hưởng của
nó tới nhân cách cá nhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam chứ
Trang 3không phải là tất cả những gì về đạo đức Phật giáo và triết học Phậtgiáo
3 MỤC ĐÍCH NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
Chọn "Đạo đức Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó tới nhân cách
cá nhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam" làm đề tài nghiên cứucủa mình, tác giả nhằm mục đích nêu lên những giá trị tích cực và tiêucực của đạo đức Phật giáo, và ảnh hưởng của nó tới nhân cách cá nhântrong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu của đề tài, nhiệm vụ đặt
ra của luận văn là phải nêu ra được một cách khái quát chung về lịch sửPhật giáo ở Việt Nam, những nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo vàảnh hưởng của nó đối với việc hình thành nhân cách cá nhân trong nềnkinh tế thị trường ở Việt Nam
4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Cơ sở lý luận và phương pháp luận của đề tài chủ yếu dựa trên thếgiới quan và phương pháp luận biện chứng duy vật và các quan điểmcủa chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm củaĐảng và Nhà nước ta về tôn giáo để nghiên cứu giá trị đạo đức Phậtgiáo và sự tác động của nó tới nhân cách cá nhân trong nền kinh tế thịtrường ở Việt Nam Đồng thời vận dụng các phương pháp cụ thể như:Phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, khái quát hoá để giải quuyếtvấn đề đặt ra
nỗ lực và khả năng hiện có khi thực hiện đề tài, tôi hy vọng luận văncủa mình sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm tới vấn
Trang 4đề đạo đức Phật giáo và ý nghĩa của nó tới việc hình thành nhân cách cánhân trong nền kinh tế thị trường
6 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của
đề tài "Đạo đức Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó tới nhân cách cánhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam" gồm có 2 chương , 5 tiết:
Chương 1: Những nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo
1.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của Phật giáo
1.2 Một số nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo
Chương 2: Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đối với nhân cách cá nhân trongnền kinh tế thị trường ở Việt Nam
2.1 Quan niệm về cá nhân và nhân cách của triết học Mác-Lênin.2.2 Về kinh tế thị trường
2.3 Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đối với nhân cách cá nhân trong
nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Phần II: NỘI DUNG Chương 1 : NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO
1.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của Phật giáo
Trang 51.1.1 Khái quát sự hình thành phát triển của Phật giáo thế giới.
Phật giáo là một trào lưu triết học-tôn giáo xuất hiện vào khoảngthế kỉ VI ở miền bắc Ấn Độ, phía nam dãy Hymalay hùng vĩ, vùng biêngiới giữa Ấn Độ và Nê Pan lúc bây giờ
Ra đời trong làn sóng ngự trị của đạo Bà-la-môn và chế độ phânbiệt đẳng cấp khắc nghiệt, đạo Phật với triết lý đạo đức sâu sắc đã trởthành một trong những ngọn cờ trong phong trào tự do và bình đẳng ở
Ấn Độ đương thời
"Phật" theo tiếng Phạn là Boddho, có nghĩa là đấng giác ngộ sángsuốt và giác ngộ người khác (giác giả giác tha) "Phật" theo Phật giáo làbậc thánh nhân thấu suốt hết thảy mọi lẽ của tạo hoá và có thể chỉ bảocho ta giải thoát khỏi luật luân hồi sinh tử
Đạo Phật được xây dựng trên cơ sở của cuộc đời và tư tưởng triết lýcủa Thích Ca Mâu Ni
Thích Ca Mâu Ni tên thật là Tất Đạt Đà họ là Cù Đàm(Gâumáiddhattha) là con trai của vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và Hoànghậu Mâyâ, thuộc dòng họ sakya, kinh đô là thành Ca-Ti-La-Vệ(kapillaratha), thuộc xứ Nêpaltherai Đông Bắc Ấn Độ Khi đã giác ngộ,người ta gọi ngài là Thích Ca Mâu Ni (Sakiyamuni), sinh ngày 15 tháng
4 năm 563 mất năm 483 tcn, tính theo âm lịch (có sách ghi niên đại củangài là 623 - 548 tcn và ngày sinh là 08 tháng 04)
Theo truyền thuyết Phật có 547 tiền kiếp trước khi đầu thai làm contrai vua Sakya Trong những tiền kiếp trước dù là những con người hay lànhững con vật thì ông đều đầy lòng từ, bi, hỉ, xả, sẵn sàng hy sinh vì đồngloại Kiếp gần nhất của ông là voi trắng sáu ngà
Khi mới sinh ra, Phật có 32 dị tướng, 82 đặc điểm phi thường.Trong đó có việc khi vừa mới sinh ra đã đi được 7 bước và đã được tiênđoán sẽ trở thành hoàng đế trị vì thiên hạ, nếu không cũng là đức Phậtcứu nhân độ thế
Trang 6Để tránh việc Tất Đạt Đa đi tu như các vị đạo sĩ tiên đoán, vuacha đặt ra các thứ vui chơi, tạo ra cuộc sống xa hoa, lộng lẫy, đêm ngày
có các ca công vũ nữ hầu hạ để hoàng tử quên đi những suy tư và việc
tu hành Đồng thời, nhà vua cũng đã cưới vợ sớm cho Tất Đạt Đà
Trong 13 năm, sau ngày hôn lễ Tất Đạt Đa hoàn toàn sống mộtcuộc sống vương giả Mặc dù sống trong giàu sang, quyền quý với sựyêu chiều của vua cha và người vợ trẻ, nhưng như sự tiền định, hoàng
tử luôn lo nghĩ về sự khổ của sinh, lão, bệnh, tử và những phiền nãocủa bụi trần ô trược Nửa dêm ngày mùng 7 tháng 2, hoàng tử lặng lẽrời cung ra đi tìm chân lý Lúc ấy Tất Đạt Đa vừa tròn 29 tuổi và đã cómột con trai tên là La Hầu La (Rahula)
Siddhatha đi khắp nơi học đạo, và đã lần lượt học học hầu hết cácđạo, nhưng nhận thấy không đạo nào giúp ngài nhận thấy chân lý caothượng Ngài tự mình vào ẩn trong rừng sâu, trải qua sáu năm cùng vớinăm đạo sĩ thuộc nhóm Kiều Trần Như thực hành phép tu khổ hạnh épxác đến kiệt sức nhưng vẫn không tìm ra chính đạo
Sau đó ngài đã vượt qua cám dỗ của Ma Vương và sự xa lánhnghi kỵ của những người đồng tu, chọn và kiên trì theo con đường tuluyện trung đạo Trải qua kinh nghiệm đời sống và tu luyện, Tất Đạt Đa
đã nhận thấy rằng: tu khổ hạnh chỉ làm giảm tinh thần và trí tuệ, còn lốisống lợi dưỡng vật chất thì chỉ làm chậm trễ sự tiến bộ của đạo đức vàtâm trí Đó là hai thái cực cần tránh
Trong kinh "Chuyển pháp luân (Dhammacakkappavatanasutta)đức Phật nói: Hỡi các tỳ khưu, có hai cực đoan (anta) mà người xuấtgia (pabbjitena) phải tránh Đó là hai cực đoan nào? Một đắm mìnhtrong dục lạc (Kâmasukhallikanuyoya) thấp hèn thô bỉ, phàm tục khôngxứng đáng phẩm hạnh của bậc thánh nhân, là vô ích Hai là thiết thagắn bó với lối tu khổ hạnh ép xác (Attakilamathatuyoya) là đau khổkhông xứng đáng với phẩm hạnh của bậc thánh nhân, và cũng không íchlợi
Trang 7Này các tỳ khưu, Như Lai đã từ bỏ cả hai cực đoan ấy và tìm ra(chứng ngộ) con đường trung đạo (Majjhimâpatipadâ hay MadhyaPratipada) là con đường khiến ta thấy (Cakkhu), biết (nâna) và đưa đến
an tịnh (Vupasamaya) trí tuệ cao siêu (abhinnâya) giác ngộ(Sambodhâya) và Niết Bàn"[1; tr231]
Sau 48 ngày đêm nhập định dưới gốc cây bồ đề, Ngài đã đắc quảthành đấng toàn giác, thành Phật Nhận thức rõ căn nguyên sinh thành,biến hoá của vũ trụ vạn vật, tìm ra nguồn gốc của nỗi khổ và từ đó chỉ
ra được phương pháp để diệt trừ nỗi khổ cho chúng sinh Tất Đạt Đa trởthành Phật Thích Ca Mâu Ni (còn gọi là đức Phật (buddha), đức ThếTôn (bhagavâ) hay Như Lai (Tathâgata)), khi đó Ngài vừa tròn 35 tuổi
Sau khi đắc đạo, Thích Ca Mâu Ni quyết định đi thuyết pháp,truyền đạo của mình, giác ngộ cho chúng sinh Nhưng theo đức Phật,người chỉ vạch ra cho ta con đường và phương pháp mà ta có thể nươngtheo đó để nỗ lực tu luyện, giác ngộ và tự giải thoát chứ không nên dựavào ai khác Đó mới là cách thức và là chỗ dựa tốt nhất "Các con phải
tự nỗ lực, các đấng Như Lai chỉ là đạo sư dạy cho con đường giác ngộ",
và " hãy tự xem mình là hải đảo của mình, không nên tìm nương tựa nơi
tu tại gia, và hạng thứ tư: là Ưu Bà Di (Upasaki) gồm những người đàn
Trang 8những giáo lý nhà Phật của mình cho tôn giả Ma-Ha-Ca Diếp vị đệ tửtối cao của Ngài
Sau khi Thích Ca Mâu Ni qua đời, những triết lý của người tiếptục được các đệ tử của Ngài không ngừng thuyết pháp, giúp cho Phậtgiáo ngày càng ăn sâu vào trong đời sống của nhân nhân
Từ khi ra đời cho đến nay, để hoàn thiện những tư tưởng củamình Phật giáo đã tiến hành 4 lần đại hội :
Lần thứ nhất: được tổ chức sau khi Phật tịnh khoảng 100 ngày
(khoảng thế kỉ thứ V tcn) do Đại Ca Diếp triệu tập và làm chủ toạ Tạiđại hội này, Annada kể lại lời Phạt dạy và những giáo lý Ưu Bà Ly kểlại lời Phật nói về giới luật tu hành, Đại Ca Diếp kể lại những lời luậngiải của Phật về giáo lý và giới luật Như vậy tam tạng của Phật giáo(kinh, luật, luận) đã được khởi soạn từ đây nhưng chưa được in bằngvăn tự
Lần thứ hai: được tiến hành vào thế kỉ IV tcn Đại hội này chủ
yếu giải quyết những vấn đề bất đồng về việc thực hành giới luật, vàluận giải kinh điển Đại hội này đánh dấu cho việc tách Phật giáo thànhhai phái Đại Chủng Bộ và Thượng Toạ Bộ
Lần thứ ba: được tiến hành vào thế kỉ III tcn, do vua Asoka đứng
ra triệu tập Tại Đại hội này tam tạng đã được ghi thành văn bản với haithứ tiếng Sanskrit và Paly Sau Đại hội được sự bảo trợ của vua Asoka,các tăng đoàn được thành lập và bắt đầu truyền bá đạo Phật ra nướcngoài
Lần thứ tư: được tiến hành dưới triều vua Kaniska (125-150scn).
Đại hội này đã hoàn chỉnh "kinh điển" của Phật giáo và tồn tại cho đếnnay Từ Đại hội này Phật giáo chính thức chia làm hai phái lớn ĐạiThừa và Tiểu Thừa
Tiểu thừa: có nghĩa là cổ xe nhỏ, phái này chủ trương ai tu thì tự
độ lấy mình Kinh sách ban đầu chủ yếu viết bằng tiếng Paly và chủ yếutruyền về phía Nam Ấn Độ ở Xrilanca, Lào, Thái lan, Campuchia, MiếnĐiện nên còn gọi là Nam Tông, phái này "chấp hữu"
Trang 9Tiểu thừa có hai phái lớn là: phái "Nhất thiết hữu độ"(savatyvada) tập trung nghiên cứu phạm trù thời gian Phái "Kinh bộ"(sautramtica) xây dựng lý thuyết về "Tính chốc lát" Về sau Tiểu Thừacòn nhiều phái khác như: Câu Xá Tông, Thành Thực Tông, LuậtTông.v.v
Đại Thừa: có nghĩa là cổ xe lớn, phái này không chỉ giác ngộ cho
mình mà còn giác ngộ cho mọi người Kinh sách thường viết bằng tiếngSanskrit và phát triển mạnh về phía Bắc Ấn như: NêPan, Tây Tạng,Mông Cổ, Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam nên còn gọi là Bắc tông.Phái này "chấp không" (không luận)
Đại thừa có hai phái lớn: phái Trung Luận (Madhimica) do sưLong Thọ lập ra ở thế kỉ II scn Phái Trung Luận chủ yếu truyền tụngcác kinh Hoa Nghiêm, Trung Luận, Thập Nhị Môn Luận, Thập TrụLuận; Phái Du Già (yoyacara) do hai anh em Vô Trước (Asangha) vàThân Thế (Vasubhandha) sáng lập ở thế kỉ IVscn Kinh sách truyềntụng của hai phái này thường là Du Gìa Sư Địa Luận (duy thức luận ),Đại thừa luận, Kim cuơng bát nhã luận Về sau Đại Thừa còn có tôngphái khác như Pháp Tướng Tông, Tam Luận Tông, Hoa Nghiêm Tông,Mật Tông (Chân ngôn tông), Thiền Tông, Thịnh Độ Tông
Từ thế kỉ III tcn cho đến thế kỉ VI scn, Phật giáo phát triển thànhtôn giáo chiếm địa vị độc tôn ở Ấn Độ Về sau do sự phát triển và cạnhtranh của đạo Hindu và Hồi giáo Phật giáo dần dần bị suy yếu ở Ấn Độ.Đến thời cận đại Phật giáo phát triển nhanh ở nhiều nước nhất là ở khuvực Đông Nam Á Ngày nay Phật giáo có mặt hầu hết năm châu và làmột trong những tôn giáo lớn nhất trên thế giới (đứng thứ hai sau CôngGiáo)
1.1.2 Khái lược về quá trình du nhập và phát triển Phật giáo ở Việt Nam
Phật giáo bắt đầu du nhập vào Việt Nam trong thời kì nước ta bịgiặc phương bắc xâm lược Nhưng Phật giáo không đến Việt Nam theo
Trang 10gót chân xâm lược mà qua những bước chân thăm dò của những ngườicầu đạo và hành đạo Ấn Độ, Trung Quốc.
Theo các nhà nghiên cứu mới đã chứng minh rằng, Phật giáo từ Ấn Độ
đã du nhập vào nước ta khá sớm và Luy Lâu (nay thuộc vùng Dâu, ThuậnThành, Bắc Ninh ) ở thế kỉ I đã là một trung tâm Phật giáo lớn Trung tâm này,sau khi phong kiến Trung Quốc xâm lược thống trị nước ta nó được làm trụ sởcủa chính quyền trung ương đô hộ Trong những bước đầu tiên Phật giáo ViệtNam chỉ mới bắt rễ vào mảnh đất dân tộc mà chưa đâm chồi nảy lộc Mãi vềsau, khi phái đoàn hành đạo Tì - Ni - Đa- Lưu - Chi người Ấn Độ (vào khoảng580) và phái đoàn Vô Ngôn Thông người Trung Hoa (vào khoảng 820) sanghành đạo ở Việt Nam thì Phật giáo mới thành sinh khí bền vững Hai đoàn nàytrở thành hai thiền tông nhất nhì ở Việt Nam Kế đó là những phái thiền tôngTrung Hoa khác như phái Thảo Đường, phái Lâm Tế, phái Tào Động, Phậtgiáo Trung Quốc đến sau, nhưng để lại dấu ấn sâu sắc hơn trong đời sống vănhóa Việt Nam
Trong thời kì đầu của thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc,Phật giáo đã nảy mầm bắt rễ ở Việt Nam, kết hợp chặt chẽ với tínngưỡng bản địa để phát triển Phật giáo Việt Nam lúc này còn tràn sangmiền Nam Trung Hoa Đây cũng chính là thời kì Việt Nam giao lưu vớihai dòng văn hoá Phật giáo Ấn Độ và Trung Quốc để làm giàu cho nềnvăn hoá đất Việt
Sau khi du nhập là thời kì phát triển của Phật giáo Việt Nam Thời
kì này, vai trò vận động của các tăng lữ mà cụ thể là các thiền sư trở nênquan trọng và cấp thiết Vào thế kỉ thứ X, dưới triều đại nhà Đinh, thiền
sư Ngô Chân Lưu đã tiến hành cuộc vận động tuyên truyền về ý tự chủcủa quốc gia sự tồn vong của dân tộc cho các thiền sư và đã đạt đượcnhững thành tựu to lớn Ngô Chân Lưu cũng đã từng giúp vua trị nước, cóvai trò quan trọng trong quốc dân, từng được phong "Khuông Việt ĐạiSư" nghĩa là thiền sư có công giúp đỡ nước Việt
Dưới triều tiền Lê, có nhà sư Pháp Thuận tài giỏi một lòng phục
Trang 11tốn là làm người lái đò ra đón viên sứ tàu Tàu Lý Giác ở chùa SáchGiang Chính những vần thơ ứng đáp của ngài với sứ tàu đã làm rạngdanh quốc thể Việt Nam
Trong những năm triều Lê suy tàn, thiền sư Vạn Hạnh đã nhận thứcđược hướng đi tất yếu của dân tộc nên đã trực tiếp dấn thân vào cơ nghiệpchính trị quốc gia, thiết lập nên triều Lý một triều đại huy hoàng của lịch
sử Việt Nam Cơ nhiệp chính trị triều Lý vừa sáng chói với những chiếncông phá Tống, bình Chiêm, vừa thấm nhuần tính chất từ hỉ, nhân đạo.Tinh thần Bi, Trí, Dũng của Phật giáo đã thấm sâu vào huyết mạch củadân tộc Chưa bao giờ lịch sử của đất nước, vai trò của những thiền sư lạitrở nên quan trọng như thế Triều đại huy hoàng này đánh dấu nền tự chủthật sự của dân tộc, mà thiền sư Vạn Hạnh là người tác tạo và bồi đắp ýthức hệ dân tộc, giúp động lực ưu thắng, đưa dân tộc lên đà trổi vượt.Đường hướng phục vụ dân tộc và đạo pháp của những thiền sư: VanHạnh, Khánh Vân, Ngộ Ấn Viên Chiếu, Khổ Đầu là một đường hướngnhập thế tươi đẹp Đạo Phật không bị nhìn ngắm như là một triết thuyết biquan yếm thế cầu lấy giác ngộ cho cá nhân mà đã nhập thế toàn diện vàođời sống cộng đồng dân tộc và nhân dân Đây chính là thời huy hoàngkhông phải được nhìn qua hiện tượng tôn sùng Phật giáo, qua các con sốhơn 300 ngôi chùa được tạo lập, qua các công trình tác tạo "An Nam tứkhí", qua việc cấp điệp độ tăng chúng, v.v, mà chính là thành tựu viênmãn của cuộc vận động Phật giáo đối với nền tự chủ và xây dựng đấtnước
Từ vị thế sáng chói triều Lý, Phật giáo Việt Nam lên đến tột đỉnhrực rỡ dưới triều đại nhà Trần: tinh thần dân tộc càng được hun đúc vàtôi luyện bền vững Sức mạnh của dân tộc nhỏ bé khiêm tốn khi đươngđầu với thế lực ngoại xâm bạo tàn đã được chứng tỏ Ở thời kì này,ngay đến các vua cũng thiết tha cầu đạo
Cả cuộc đời của Trần Thái Tông Trần Thái Tông, ông đã phấn đấu cho
Trang 12Nam" Kế thừa tâm huyết của Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông đã phát triểnPhật giáo, đưa Phật giáo Việt Nam đến đỉnh cao Tinh hoa của Phật học thời kìnày kết tụ từ các thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đườngvới văn hóa Việt Nam thành hệ phái thiền Trúc Lâm Yên Tử Triều đại nàynghi nhận một nhân vật kì vĩ của Phật giáo Việt Nam và lịch sử dân tộc ViệtNam: Tuệ Trung Thượng Sỹ Bên con đường thiền sư đạt đạo phóng dật, TuệTrung Thượng Sĩ còn là một thi sĩ, nhất là một võ tướng uy dũng truyền thống.Cuốn sách "Tuệ Trung Thượng Sĩ ngũ lục" do vua Trần Nhân Tông viết đã vẽlại cốt cách và tinh thần của một đại sư hào sảng, phóng dật Thái độ sống bìnhthường của ngài đã vượt thoát khỏi lớp vỏ chấp trước:
"Những câu đối đáp tức khắc, những bài thơ thiền thập được nghilại cho thấy Tuệ Trung Thượng Sĩ đi từ lẽ sắc không quanh co huyền ảocủa bát nhã, hay lẽ duy tâm rực rỡ ngàn trùng, từ suy tư đến nhập thế,tất cả đều nhất quán đều chứng tỏ Tuệ Trung Thượng Sĩ đã khai thácđến cùng, sống trọn vẹn với một lý: tự mình thành chân như, lại đemchân như hoá cuộc đời với tinh thần vô ngã" [11; tr47]
Năm 1314 vua Trần Anh Tông cũng từ bỏ ngôi vàng như vua chaTrần Nhân Tông mà tầm sự an lạc ở cửa Thiền; hoàng hậu với cung Phitheo gương thiện tín của nhà vua mà vào chùa, mỗi người thích huyếtviết hộ vua một Tạng Kinh Thế ngôi vua cha là Anh Tông, vua TrầnMinh Tôn (1314-1329), trong khi trị quốc 15 năm, có cất chùa, đúctượng Phật, hồi ấy có nơi tăng đồ lên đến 15.000 người
Nhìn chung dưới triều đại nhà Trần, đó là thời kì viên mãn củaPhật giáo Tất cả những tinh hoa của Phật giáo đã nhập thế trong tinhthần người Việt cũng như trong nếp sống xã hội Việt Nam Khôngnhững từ thi văn thấm nhuần đạo vị của các nhà tri thức, hay tinh thần
vô ngã và uy dũng của các võ tướng cũng như toàn dân biểu lộ qua cuộc
đề kháng chống quân xâm lược Nguyên, hay qua lòng nhân đạo của mộtkiện tướng khiêm nhà ngoại giao bác ngữ Trần Nhật Duật, mà ngay đếnnhững tầng lớp dân giã quê mùa cũng tưng bừng phấn khởi, tin yêu vàodân tộc và đạo pháp
Trang 13Đến thời hậu Lê, trong hai thế kỉ thứ mười bảy và mười tám, thìđạo Phật không còn chiếm địa vị độc tôn như thời nhà Trần Vì lúc bấygiờ xứ sở không còn bình an, trong nước chúa Trịnh và chúa Nguyễntrang hùng nên việc tu trì có bề duy tâm nhiều hơn Tuy vậy, thời nàycũng có những vị đại đức có thanh danh Giả như ngài Hương Hải màtục goi là "Tố Cầu" Đỗ cử nhân hồi mười chín tuổi, Ngài được bổ chứctri phủ trấn nhậm ở phủ Triệu Đến năm 25 tuổi, ngài treo ấn từ quan vàxuất gia nhập đạo, thọ giáo với hai bậc sư có danh trong thời là ngàiViên Cảnh và ngài Đại Thân Viên Giác Ngài có vào tỉnh Thuận Hoá
mà khuyến tu Số đệ tử quy của ngài rất đông
Thấy dân chúng rất sùng thượng và nghe theo ngài, chúa Nguyễn đemlòng nghi kỵ đối với ngài Vì vậy mà đại sư Hương Hải trở về Bắc Năm
1683, Ngài tới Nam Sơn và ở tu tại chùa Nguyệt Đường Trong những khirảnh rỗi, Ngài có nhiều bài kệ ý nghĩa rất thâm vi Trong thời ấy, cũng cómột nhà sư khác rất có danh về tạng Luật Ấy là sư Như Đức ở chùa Lâu
- Đồng, huyện Đông Triệu
Khi nhà Lê suy, nhà Nguyễn thịnh, các chúa Trịnh - Nguyễn phântranh, nên chẳng tiện trông nom và hộ trợ ngôi tam bảo Tuy vậy, mấychúa cũng sùng mộ đạo Phật Nhiều vị thọ phép quy y, thờ một nhà sưlàm thầy và họ lấy pháp danh Các vua Nguyễn cũng hằng kính Phật,trọng Tăng Vua Tự Đức thường đi viếng mấy cảnh chùa, mỗi nơi Ngàiđến, Ngài đều có cảm hứng sinh thơ Và sử ký đời vua đều có chép vềPhật giáo, mấy nhà soạn luật cũng nhắc nhở đến luôn
Luật Hồng Đức soạn xong những năm 1470-1497, giới luật GiaLong có nhiều đoạn nói rõ Phật giáo, nhận là một đạo chính đáng củadân
Đến thế kỉ XIX, đạo Phật vẫn còn thịnh, nhưng bắt đầu từ khimất quyền độc lập, ở dưới thống trị của thực dân Tây phương, thì tìnhhình Phật giáo ngày một suy yếu đi Vua chẳng có quyền, còn thực dân
đè nén Phật giáo Nhiều vị Tăng không giữ đạo nghiêm trang theo sở
Trang 14sai lạc, dầu cho Tăng chúng thất học và thất nghiêm, chứ lòng đạo củadân không thể phai Lắm người chưa từng đi chùa, không từng thờ nhàTăng, trình sự ước nguyện của mình lên Phật, nhưng họ vẫn giữ từ tâmsinh hoạt thanh bạch theo lời Phật dạy, coi kinh tầm lý, bố thí cho kẻnghèo và biết Phật - là tâm, người ta không để cái tâm bị nhiễm nhữngđiều dục vọng, những trần cảnh quanh của mình
Hiện nay, dẫu còn những hạn chế nhất định, những tiêu cực nhấtđịnh, như một số bộ phận Phật giáo đã bị bọn phản động nước ngoài lôikéo tỏ ra bất mãn đã phủ định đóng góp của Phật giáo, xuyên tạc cáchmạng, song Phật giáo Việt Nam nói chung vẫn gần gũi, gắn bó với dântộc, gắn bó với cách mạng, với sự nghiệp đổi mới đất nước, thực hiệntốt mục tiêu tốt đời đẹp đạo, đó là những đóng góp mà Đảng, nhà nước
và nhân dân ta đã ghi nhận
1.2 Một số nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo
1.2.1 Biểu hiện trong "Tứ diệu đế".
"Tứ Diệu Đế" hay là thánh đế bốn chân lý cao thượng, chắc chắnhiển nhiên Tứ diệu đế gồm có: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế
Khổ đế (Dukkha satya): Đây là những chân lý chỉ ra những nỗi
khổ của chúng sinh.Theo triết lý Phật giáo, tất cả loài vật dù hữu tìnhhay vô tình trong thế giới đều ở trong khổ não Đức Phật chỉ ra tám nỗikhổ mà chúng sinh mắc phải: sinh (jàtar) là khổ, lão (jarà) là khổ, bệnh(vyàdhir) là khổ và tử (marana) là khổ, người thân yêu bị xa cách gọi là
ái biệt ly khổ (priya samprayoyra), cái oán ghét mà phải gặp là khổ gọi
là "Oán tăng hội khổ", điều cầu mong mà không được gọi là "Cầu bấtđắc khổ" (yadapicchan-parysamano nalabhatetad) chấp trược thân Ngũuẩn: sắc, tưởng, thụ, hành, thức, bị nó nung nấu khổ sở gọi là "Ngũ ẩmthịnh khổ" (sank-sepat-gancupàdara skandhà)
Trong kinh "Chuyển pháp luân" đức Phật nói: Hỡi này các TỳKhưu bây giờ đây là chân lý cao thượng về sự khổ (Dukkha àrya satya)sinh là khổ, già là khổ, chết là khổ, sống chung với người không ưu
Trang 15cũng là khổ, xa lìa những người thân yêu là khổ, cầu mong không được
là khổ", thủ ngũ uẩn khổ Tóm lại, đời là bể khổ
Tập đế (sammudaya satya): "Tập"nghĩa là tích tập, tập hợp góp
chứa Vậy do những gì tích tập góp chứa lại mà tạo ra nỗi khổ của conngười Theo triết lý Phật giáo nguyên nhân của nỗi khổ nằm trong trầntục, lòng ái dục Nhưng sở dĩ có ái dục là vì sự vô minh, từ cái mê lầmcủa con người do không nhận thức được bản chất của thế giới Conngười muốn tồn tại mãi, nhưng thực tại lại luôn biến dịch, con ngườimuốn trường tồn nhưng cuộc đời lại cứ luân chuyển không ngừng nghĩtheo quy trình: sinh - lão - bệnh - tử; hành - trụ - hoại - không; sanh -trụ - dị - diệt Vì thế, con người mới sinh ra lòng tham, lòng sân, lòng sichiếm đoạt để gây nên nỗi khổ triền miên của cuộc đời thập nhị nhânduyên là nguyên nhân cho cái tồn tại kéo dài không ngừng và liên tụctrong vòng quay vĩnh cửu
Mười hai nguyên nhân ấy là: vô minh, hành, thức, danh-sắc, lụcnhập, xúc, thụ, ái, hữu, sinh, lão - tử đều sinh khổ Duyên "lão - tử" vừa
là kết quả cuối cùng của một quá trình, nhưng cũng là nguyên nhân củavòng luân hồi mới từ vô minh của cuộc đời khác Tất cả 12 nguyênnhân này quan hệ ràng buộc lẫn nhau dẫn tới cay đắng của cuộc đời
Con người không hiểu được do nguyên nhân duyên chi phốikhiến cho "chư hành đều vô thường", "vạn pháp đều vô ngã ", nênngười ta lầm tưởng rằng cái gì cũng thường định, cái gì cũng của ta, có
ta, chấp ngã, tham dục, hành động chiếm đoạt tạo ra nỗi khổ triền miên(karma) từ kiếp này sang kiếp khác (samsara)
Trong kinh "Chuyển pháp luân", Đức Phật nói: "Bây giờ hỡi nàycác Tỳ Khưu, đây là chân lý cao thượngvề nguồn gốc của sự khổ(dukkha sammudaya arya satya) Chính ái dục là nguyên nhân của sự táisinh (ponabhavika), ái hợp với tâm thiết tha khao khát, bám víu cái nàycái kia (của cuộc đời) chính cái ái dục đeo víu cái nhục dục ngũ trần, áiđeo víu theo ý tưởng sinh tồn (bhavatanhâ): sinh ái luyến ái trong ýtưởng cho rằng vạn vật là trường tồn, vĩnh cửu và ái đeo víu theo ý
Trang 16tưởng không sinh tồn (vibhava-tanha): vô sinh ái, luyến ái trong ýtưởng cho rằng sau cái chết là hư vô
Kinh "Cú pháp" viết: "không có lửa nào như lửa tham, không cóngục tù nào như lòng sân, không có lưới nào như vô minh và không códòng sông nào như ái dục", "Do ái dục sinh ra phiền não, do dục ái sinh
ra sợ sệt Người đã hoàn toàn chấm dứt ái dục thì không còn phiền não,lại càng ít sợ sệt" [1; tr256]
Như vậy cội nguồn của khổ đau là ái dục, luyến ái bám víu và vôminh Ái dục là một năng lực tinh thần hết sức mạnh mẽ, là ngọn lửa
âm ỷ cháy trong lòng mọi người, luôn luôn ngủ ngầm bên trong chúngsinh Chính ái dục (thô kệch hay vi tế) làm cho ta đeo víu sự sống dướimọi hình thức, và vì thế dẫn dắt, lôi kéo con người mãi mãi phiêu bạttrong dòng luân hồi Muốn thoát khỏi khổ não phải tận diệt ái dục, xoá
vô minh đó
Diệt đế (nirodha satya): Diệt đế là giải thoát luận và cũng là lý
tưởng luận của Phật giáo Nó là phương pháp diệt trừ từ gốc tới ngọn(từ quả cho tới nhân) nỗi khổ, giải thoát con người khỏi nghiệp chướngluân hồi Theo triết lý Phật giáo, muốn vậy phải diệt mọi ái dục (phảidập tắt ngọn lửa ái dục trong lòng mỗi người), dứt bỏ mọi vô minh, đạttới sự sáng tỏ bản nhiên trong tâm con người, đưa chúng sinh tới NiếtBàn, thường trụ
Đạt tới cõi Phật là đạt tới Bát Nhã trí tuệ, thấy được chân như tâmkhông còn vọng động, không còn tham dục luyến ái Đó là trạng tháiNiết Bàn, là cõi tịch diệt, thanh tịnh vắng lặng tuyệt đối, an lạc sáng tỏbản nhiên, là trạng thái diệt được mọi dục vọng, chấm dứt mọi phiềnnão luân hồi, nghiệp báo, tái sinh, không phải ở một cõi nào khác mà là
ở ngay trên thế gian này, ở chính tâm mình, nhờ sự nỗ lực tu luyệnnghiêm túc
Trong kinh "Pháp cú" Đức Phật dạy: "Chỉ có ta làm điều tội lỗi,chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm, chỉ có ta tránh điều tội lỗi, chỉ có ta gột
Trang 17rữa cho ta trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta, không ai có thể làm chongười khác trở nên trong sạch" [1; tr258].
Chữ Niết Bàn tiếng phạn là Nibbànava Niết Bàn là dứt bỏ, sự phủđịnh tách rời (ni) ra khỏi ái dục (vana) là dứt bỏ sự thèm khát ái dục.Niết Bàn theo cách giải thích khác còn là sự dập tắt ngọn lửa dục vọng,tham (lobha), sân (dosa), si (moha), luôn ngầm chứa, luôn nhen nhómtrỗi dậy trong lòng con người Kinh pháp cú viết: "Không lửa nào bằnglửa tham dục, không ác nào bằng ác sân hận, không khổ nào bằng khổngũ uẩn, không vui nào bằng vui Niết Bàn" Cho nên "Niết Bàn là anlạc là hạnh phúc tối thượng, Niết Bàn là sự diệt trừ tham ái đưa đến táisinh" Do vậy, Niết Bàn không phải là hư vô, Niết Bàn có thể thấutriệt được bằn nhãn quan tinh thần, như một trạng thái tinh thần Đạođức do sự từ bỏ tất cả luyến ái bên trong đối với thế giới quan bênngoài Và như thế Niết Bàn là một trạng thái không thể dùng ngôn từ và
tư duy để định nghĩa mà phải bằng chứng ngộ trực giác Nhưng để nắmđược nó, Đức Phật đã phải mô tả nó bằng một loạt các danh từ như "vôtận", "bất tuỳ thế", "tối thượng", "tối cao", "chỗ nương tựa tối cao",
"chân toàn","hạnh phúc", "an lạc", "bât khả diệt", "tuyệt đối thanhtịnh", "siêu thế", "vĩnh cửu", "vắng lặng", " giải thoát", "duy nhất"
Muốn đạt đến Niết Bàn phải diệt đế, phải chứng quả "duyêngiác" Diệt đế trước hết phải diệt vô minh Nói chung, diệt đế là tiến bộ.Cái yếu của diệt đế là ở chỗ diệt vô minh bao gồm cả việc không thừanhận sự tồn thực của con người và của vạn pháp
Đạo đế (marga): là cách thức con đường để giải thoát khỏi nỗi
khổ, con đường đó không phải là cách tu luyện khổ hạnh ép xác, cũngkhông phải là chìm đắm trong dục lạc, thấp hèn, thô bỉ Đó là hai tháicực không thể đưa đến giải thoát Theo Đức Phật, giải thoát là conđường ở giữa hai thái cực kia, con đường tu luyện đạo đức theo giớiluật (sila), và tu luyện tri thức (jâna), trí tuệ bằng "thực nghiện tâmlinh", "trực giác"(intuition) Trong kinh "Chuyển pháp luân", Đức Phậtnói: "Bây giờ, hỡi này các Tỳ Khưu, đây là chân lý cao thượng về con
Trang 18đường dẫn đến sự diệt khổ (đạo diệt khổ khánh đế) Đó là Bát chánhđạo: Chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh,chính tinh tiến, chính niệm và chính định".
Chính kiến (Samyak dristi): nhận thức đúng, không để cho sự saitrái che lấp sự sáng suốt của mình
Chính tư duy(samyyak samkalpa): suy nghĩ đúng đắn để đạt tớichân lý và giác ngộ
Chính nghiệp (Samyak karmata): hành động, làm việc đúng đắn,không làm những điều tàn bạo, gian ác giả dối
Chính ngữ (samyak vaca): chỉ nói những điều đúng đắn, điềuphải, điều tốt, không được nói những điều gian dối điều ác, điều xấu
Chính mệnh (Samyak ajiva): sống đúng đắn, trung thực nhânnghĩa, không tham lam, gian tà, vụ lợi
Chính tinh tiến (Samyak vayma): nỗ lực, sáng suốt, vươn lên mộtcách đúng đắn
Chính niệm (Samyak smrti): phải luôn tâm niệm và luôn nghĩ tớiđạo chân chính, đến điều tốt, không được nghĩ tới điều xấu xa, bạongược và tà đạo
Chính định (Samyak samadhi): kiên định tập trung tư tưởng tâmtrí vào con đường, đạo lý chân chính, không để bất cứ điều gì làm laychuyển tâm trí, đạt tới giác ngộ
Trong tám biện pháp tu luyện để đạt tới giác ngộ và giải thoát thìchính kiến, chính tư duy thuộc về môn tu luyện trí tuệ (parajnâ); chínhngữ, chính nghiệp, chính mệnh thuộc về môn tu luyện về đạo đức theogiới luật(sila); còn chính tinh tiến, chính niệm, chính định thuộc vềmôn tu thiền định (samadhi) Triết học Phật giáo khái quát ba phươngpháp tu luyện đó gọi là "Tam học" gồm: Giới (sila), Định (dhyâna) vàTuệ (samadhi)
Giới: giữ những điều kiêng kỵ để con người trở nên trong sạch,làm cho thân, khẩu, ý được thanh tịnh
Trang 19Định: làm cho thân, tâm, trụ, định, an lạc không bị tán loạn,không bị chi phối bởi hoàn cảnh Định gồm có Chỉ và Quán Nhờ Chỉ
mà mọi nghiệp dừng lại và ngưng đọng Nhờ Quán mà trí tuệ minh triếtphát sinh
Tuệ: nhờ định mà trí tuệ bát nhã phát sinh, lúc đó con người liềnvượt qua bể khổ đạt đến bờ giải thoát (giác ngộ, niết bàn, quốc độ, tĩnhlặng )
Như vậy, tư tưởng của Đạo đế chính là đạo đức và tri thức luậncủa Phật giáo Cùng với Bát chánh đạo, Đạo Phật đưa ra phép tu tổngquát cho tất cả hàng Phật tử, để ngăn ngừa việc gây ra những điều ác,thi hành những điều thiện, điều tốt cho người và cho mình Đó là Ngũgiới và Lục độ
1.2.2 Biểu hiện trong kinh "Mười thiện nghiệp đạo".
Kinh mười thiện nghiệp đạo gồm bốn phần chính:
Phần mở đầu, Phật nói về thế và xuất thế gian Theo Phật tất cảmọi sự xấu xa và tốt đẹp ở cuộc đời và trên bậc thánh đều do hành độngcủa thân, miệng và ý tạo nên Tâm ý tốt, lời nói và việc làm tốt, giúpích cho đời cả hiện tại và tương lai Ngược lại, tâm ý xấu, dẫn lời nói
và việc làm không tốt đẹp, đem lại tai ương cho cuộc đời cả hiện tại vàmai sau Kinh nói: "Tất cả hình sắc chủng tộc của chúng sinh có khácnhau đều do tâm tạo thiện hoặc bất thiện nơi thân, ngữ, ý gây ra".Người đời thường nói trong tâm thế nào thì hành vi thế ấy (thánh ưtrung, hình ư ngoại) Từ đó cho thấy, Phật và Bồ tát có sắc tướng tốtđẹp, hào quang sáng chói do thu tập phúc đức thiện nghiệp mà thành.Còn các chúng sinh có khác nhau Chánh báo và y báo cũng do gây thânthiện ác không đồng Bởi thế để cho con người và xã hội tốt đẹp, về cơbản con người phải tu tâm, dưỡng tính thể hiện bằng lời ăn, tiếng nói vàhành vi cử chỉ tốt đẹp
Thứ đến, kinh nói về hành tướng của Mười thiện nghiệp qua thân,khẩu, ý: Thân có ba điều xấu, do thân thể chúng ta tạo tác là: sát sinh,trộm cắp, tà dâm Khẩu có bốn điều xấu, do miệng chúng ta tạo tác là:
Trang 20nói dối, nói xảo quyệt, nói ác, nói hai lưỡi Ý có ba ý niệm xấu do tâmchúng ta gây ra: tham dục, sân hận, tà kiến.
Tổng hợp những việc xấu do ba nghiệp tạo tác gọi là thập ác, nếukhông vi phạm thì gọi là thập thiện :
1- Không sát sinh: tức là không làm tổn hại tới sinh mạng độngvật
2- Không trộm cắp: không cướp dật đồ vật của người
3- Không tà dâm: không trái với đạo đức pháp luật đối với nữ sắc.4- Không vọng ngữ: không nói dối
5- Không ác khẩu: không dùng lời ác độc, thoá mạ, ô uế
6- Không nói lời hai lưỡi: không nói khích bác để ly gián, không
"đâm bị thóc, chọc bị gạo" phá hoại tình cảm giữa người với người
7- Không ỷ ngữ: không nói lời dâm đảng ô uế bất chính
8- Không tham dục: không nên tham đắm quá mức, không biếtchán Nên ít muốn biết đủ
9- Không sân hận: tâm bình tĩnh không bực tức, không giận dữ 10- Không tà kiến: là hiểu rõ phải trái Phàm một việc gì cũng nênlấy trí tuệ để quán sát, nhờ vào lý trí suy xét kỹ sẽ không thể sinh tàkiến và hiểu nhầm
Tiếp theo, con người thực hành Mười thiện nghiệp sẽ có nhữnghiệu quả tốt ở tương lai và hiện tại Không giết hại được pháp khôngbức não, thân ít bệnh, trường thọ không oán thù, thế giới hoà bình Không trộm cắp được pháp bảo tín, giàu có không bị lường gạt, sẵnsàng bố thí, nhà nhà không phải đóng cửa, ra đường lượm được củađánh rơi đem trả Không tà hạnh, sống chính hạnh, được người trí ngợikhen, vợ chồng không bị ai xâm phạm tiết hạnh, cuộc sống thuần phong
mỹ tục Nếu có lòng hướng thiện khi thành thánh được tướng trượngphu ẩn mật tàng của Phật Nếu giữ được khẩu thiện miệng sẽ đượcthanh tịnh, thơm mùi hoa ưu-bát, nói không sai làm được người nghetín cẩn, gia đình, bạn bè, làng xóm hoà thuận Nếu giữ được ý thiện tức
là không sân hận, tham dục và không tà kiến sẽ được tự tại, lòng không
Trang 21tổn não, gây oán hờn, kiện tụng, sáng suốt, phán đoán được mọi vấn đềkhúc mắc
Sau cùng nhờ thực hành Mười thiện nghiệp đạo con người khôngcòn ích kỷ mà vị tha bằng cách thực hành lục độ, vạn hạnh như bố thí,giữ giới, nhẫn nhục, siêng năng, hành Thiền và trí tuệ Rồi cũng từ đó
mở rộng tâm rừ, bi, hỉ, xả, thực hành bốn nhiếp pháp là bố thí, ái ngữ,lợi hành và đồn sự
Như vậy, tính đạo đức trong pháp mười thiện nghiệp chính lànhằm mục đích cải thiện con người, xây dựng một quốc gia xã hội tốt
và là nhân tố đưa con người đến bậc giác ngộ, giải thoát thánh thiệnhoàn toàn
1.2.3 Biểu hiện trong "Lục độ".
"Độ" theo Phạn văn là "ba la mật", ý là "đáo bỉ ngạn" Cũng tức là
có thể vượt qua biển khổ sinh tử đến bờ an lạc bên kia Cho nên "lụcđộ" chính là sáu phương pháp giúp cho con người vượt qua khỏi biểnkhổ sinh tử
Sáu phương pháp ấy là: Bố thí, Trì giới, Nhẫn, Tinh tấn, Thiềnđịnh, Trí tuệ
1- Bố thí: tức là đem phước lợi ân huệ ban cho người khác, thấyngười đói rách gặp nạn cũng như chính mình đói rách gặp nạn, việcgiúp của, giúp sức cho họ cũng như làm cho chính mình, mà không cómột mong cầu nào Kinh "Vô lượng thọ" có nói bố thí ân huệ cũng gọi
là bố thí Bố thí có thể chia ra làm ba loại: tài thí, pháp thí và vô uý thí
a/ Tài thí là cho những gì mình có mà người cần với tâm vô cầu.Việc bố thí tự nhiên đến độ người thọ ân không biết được người ban ân
b/ Pháp thí là đem giáo lý hoặc bất cứ lời thiện nào giúp ngườinghe giác ngộ, hoặc gây nơi họ lòng thanh thản, yên vui mà không lợidụng ở cầu danh giáo hoá, cũng không chủ vào việc tuyên truyền tôngiáo
c/ Vô thí uý: Con người lo sợ nhiều về cái chết Người tu hànhđem cái gương không sợ của Bồ Tát trước việc sinh - tử, để giác ngộ
Trang 22làm cho chúng sinh biết rõ sinh tử - tử sinh là lẽ vô thường, khiến họbình thản trước cái chết hợp đạo nghĩa và cái chết tự nhiên
2- Trì giới: Tức là phải tuân thủ giới luật, khiến cho hành vikhông vượt qua phép tắc Trì giới không nhằm vào mục đích cầu phúc,cũng không cầu lấy cái danh là người cao đạo hạnh, việc trì giới ởnghĩa này là một thói quen đến độ được xem là trì giới mà không trìgiới gì cả
3- Nhẫn: Được phát sinh ở tính điềm đạm, bất tranh không cầuthắng Nhẫn nại, kiên nhẫn mọi khách nộ một cách tự nhiên, khônggượng ép Nhẫn ở cao độ là nhẫn nhục mà không phải là nhẫn nhục
4- Tinh tấn: Là hướng thượng nỗ lực không mệt mỏi
5- Thiền định: Là gom tư tuởng về một mối, chiêm nghiệm cáibản thể đồng nhất của vạn hữu Nhờ đó người tu khai sáng được trí huệbát nhã (cảm thấu được cái đồng nhất của vạn sự vạn vật, không còn cáitâm biện biệt nhĩ - ngã Đây là đỉnh cao nhất của Phật học, để bướcsang quả Phật), để đến cái tâm bình đẳng tâm như
1.2.4 Biểu hiện trong thuyết "nghiệp báo" và "luân hồi".
Thuyết "nghệp báo" và "luân hồi" là một quy luật có giá trị kháchquan nhất, nó đề cao ý thức trách nhiệm của mỗi người đối với cá nhâncũng như đối với cộng đồng xã hội
Nghiệp (karma) theo truyền thống Ấn Độ cổ phải được hiểu là:
Mỗi hành động là kết quả tất nhiên có trước; là khuynh hướng của nhânthành quả (thiện thành thiện, ác thành ác); là cái tâm linh cao cái tựnhiên vốn có của con người (con người là một bộ phận của tự nhiên vàmột bộ phận cao trong quan hệ xã hội), là sự tự do của con người bằng
sự kết hợp nhất tự do của linh hồn với thượng đế (brahama); là ánhsáng tâm linh bên trong của con người (Đức sáng tự mình) Ánh sángtâm linh này có phản chiếu ánh sáng tối cao hay không là chuyện bấtkhả tri; cách truyền nghiệp là tâm truyền (muốn là được)
Nghiệp theo Phật giáo phải được hiểu là nghiệp theo truyền thống
ấy Nhưng có đôi điểm khác biệt như: Bí truyền và hành động như một
Trang 23định luật nhân quả khắt khe (là nhân quả), có thể hiểu như định mệnhtrong các tôn giáo khác Nghiệp của đạo Bà - La - Môn là sự tái sinhcủa một Atman vào một trong sáu cõi: thần tiên, thần, người, địa ngục,
ma đói, súc sinh Nghiệp của Phật là một dây liên tục của các nghiệpriêng chung, nó không là định mệnh mù quáng, không là tự do muốn gìđược nấy mà có luật nghiệp được định bởi trật tự của tự nhiên và tinhthần Khi nói đến nghiệp Phật giáo đã chứng minh con người có ý chí,
có khả năng làm chủ được nghiệp trong khi phải tuân thủ luật nghiệp.Khi giác ngộ với nghiệp không còn tác dụng Nghiệp là sức mạnh ngấmngầm thúc đẩy từ bên trong, là tiềm thức của con người mà muốn nhìnthấy nó thì phải nhất tâm thiền định
Nghiệp có phúc nghiệp, tội nghiệp Nghiệp cũng có nghĩa là tạotác, việc làm Tam nghiệp góp chung thành một sức mạnh gọi là nghiệpcủa người đang sống: bao gồm thân nghiệp, khẩu nghiệp, và ý nghiệp.Khi chết có một trong bốn nghiệp sau chi phối mà quen gọi là dẫnnghiệp: cực trọng nghiệp (cơ thể thiện hoặc ác), cận tử nghiệp, tập quánnghiệp, tích luỹ nghiệp
Trong vòng tam giới (dục, sắc, vô sắc), vạn pháp đều chịu bốnnghiệp là: Nghiệp đen (ác), nghiệp trắng (thiện), nghiệp đen và nghiệptrắng (có thiện có ác), nghiệp không đen cũng không trắng (nghiệp vô
vi của hàng đắc đạo - nghiệp vô lậu) Ngoài ra tuỳ hoàn cảnh còn cónhiều nghiệp khác
Nghiệp (karma) cần hiểu nghiệp theo các nghĩa là: 1- là nhân quả,
là từ nhân đến quả (có thể quan niệm như định mệnh), có nghiệp phước,
có nghiệp tội Do nghiệp mà có các hạng: Tiên, Thần, Người, Ngã quỷ,Địa ngục, Súc sinh Có biệt nghiệp (riêng), tổng nghiệp (chung) 2-Nghiệp cũng có nghĩa là tạo tác (thân, ý, khẩu)
Có hắc nghiệp (đen, ác); bạch nghiệp (trắng, thiện); hắc nghiệpbạch nghiệp (đen, trắng); bất hắc bất bạch nghiệp (giác ngộ) Là tạo tácnghiệp, tạo mệnh nghiệp (tam nghiệp), trước tác, sau là thọ nghiệp Vậy
có nghiệp ảnh, nghiệp báo, nghiệp cản
Trang 24Nghiệp lực: là sức nghiệp, là hành nghiệp đưa ta đến tiên, thần,người; cũng có thể đưa ta đến địa ngục, ngã quỷ, súc sinh.
Nghiệp quả: là quả báo, gieo gì thì được đó (cũng được hiểu lànghiệp báo
Cận tử nghiệp: không phải chỉ tu khi thân còn khoẻ mạnh mà phảiluôn tu giữ cho thân, ý , khẩu lành, tinh, chính từ lúc còn trẻ trung chođến khi chung cuộc kiếp người Phật giáo cũng quan niệm, có thể suốt
cả cuộc đời chưa tu nhưng đến khi lâm chung, nếu niệm Phật, tưởngPhật, nhờ Phật thì cũng sẽ được giải thoát Nếu không thì nghiệp cũng
sẽ dẫn ta đến một trong sáu cõi
Vạn pháp đều do thức mà thành Thiện- Ác, Hoà bình hay Ô trọcđều do tâm mà ra Tâm có hai loại: 1-Tâm sở: là những điều sở hữu củatâm, tình ý ở trong tâm (tham, sân, si, mạn ) Các cảm giác nảy sinh
do lục căn chạm với lục trần 2- Tâm vương: tâm chủ của các cảm giác,các tình ý, chỉ huy điều khiển các tâm sở
Với thuyết "nhân quả", "Nghiệp -Nghiệp báo", Phật giáo cho rằng
"không có một hành vi nào dù thiện, ác, to, nhỏ, của con người, dùđược bưng bít che đậy thì cũng không thể tránh khỏi "quả báo" Cácsách "tu tâm", "Nghiệp dẫn luân hồi trong lục đạo" nói rất rõ về điềunày (Theo luận văn Thạc sỹ Lịch sử triết học của Hoàng Ngọc Vĩnh)
Luân hồi: luân hồi là bánh xe quay tròn, hồi là trở về Luân hồi lànói tới vạn pháp trong tam giới luôn luân chuyển không ngừng theo chukỳ: thành - trụ - hoại -không; sinh- trụ- dị- diệt hoặc sinh- lão- bệnh-
tử Đối với con người có thân thì có nghiệp, có nghiệp thì vào luân hồi
để trả nghiệp báo
Tiểu kết chương 1: Sau hơn hai nghìn năm vào Việt Nam, đạo
Phật đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển của xã hội ViệtNam Phật giáo Việt Nam đã tạo dựng cho mình một truyền thống gắn
bó với dân tộc và xứ sở, góp phần quan trọng vào việc xây dựng nềnvăn hoá dân tộc tạo nên nhiều nét khắc sâu trong tư tưởng và tâm lý, lốisống của nhân dân Trong đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ
Trang 25năm diễn ra ngày 5 tháng 12 năm 2002, hoà thượng Thích Trí Tịnh phó
đệ nhất pháp chủ, chủ tịch hội đồng trị sự TW Giáo hội Phật giáo ViệtNam nêu rõ: "Phật giáo Việt Nam ở trong lòng đất nước, dân tộc suốthơn hai mươi thế kỉ, đã cùng nhân dân làm nên những trang sử vẻ vangtrong việc xây dựng và bảo vệ đất nước Với phương châm "Đạo pháp -dân tộc - chủ nghĩa xã hội", Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhập thế thựchành pháp thế dân gian bằng tinh thần từ, bi, hỉ, xã, vô ngã, vị tha, vượtqua mọi khó khăn trở ngại, để luôn luôn là một khối đại đoàn kết Vớibản chất của giáo lý là lòng nhân ái, từ bi, niềm vui và hoà bình, Giáohội phật giáo Việt Nam luôn kề vai sát cánh cùng dân tộc, gắn bó vớivận mệnh của đất nước; mọi hoạt động của mình luôn xuất phát từ lợiích của dân tộc, của tổ quốc và cuộc sống nhân sinh, vì sự xương minhcủa đạo Phật, vì sự tiến bộ của xã hội"[13; Tr7]
Chương 2 : ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI NHÂN CÁCH CÁ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM.
2.1 Quan niệm về cá nhân và nhân cách của chủ nghĩa Mác-Lênin 2.1.1 Quan niệm về cá nhân
2.1.1.1 Khái niệm.
Có nhiều quan niệm khác nhau về cá nhân Giáo trình triết họccho rằng, "cá nhân - cá thể người với tính cách là sản phẩm của sự pháttriển xã hội, là chủ thể của lao động, của quan hệ xã hội và của nhậnthức Cá nhân là một con người hoàn chỉnh trong sự thống nhất củanhững khả năng riêng có của người đóvới chức năng xã hội do người đóthực hiện" [3; tr15] Khái niệm trên đặt cá nhân trong mối quan hệ làsản phẩm của lịch sử xã hội, đồng thời là sự thống nhất của chức năng
cá nhân và chức năng xã hội trong mỗi con người
Một quan niệm khác xem cá nhân là một chỉnh thể thống nhất, đốilập với toàn thể cộng đồng "con người tồn tại trong những cá nhânngười, mỗi cá nhân người là một chỉnh thể đơn nhất, gồm cả hệ thốngnhững đặc điểm cụ thể, không lặp lại, khác biệt với những cá nhân khác
về cơ thể, tâm lý, trình độ Nhưng đó mới nói sự khác biệt lộ ra bên
Trang 26ngoài so với những cá nhân khác, còn đi vào chiều sâu cá nhân với toàn
bộ hoạt động sống của nó, người ta sử dụng phạm trù nhân cách" [3;tr15,16]
Từ những quan niệm trên có thể định nghĩa khái nịêm cá nhânnhư sau:
Cá nhân là một phạm trù triết học, dùng để chỉ cá thể người, với
tư cách là sản phẩm của sự phát triển xã hội, là chủ thể của hoạt động,của mọi quan hệ xã hội và của nhận thức do những điều kiện lịch sử -
cụ thể của đời sống xã hội quy định" [3; tr16]
Cá nhân là cá thể người có nhân cách phát triển đầy đủ và hoàn
chỉnh Để thực hiện dúng tư cách là cá nhân, con người phải trải quamột quá trình phát triển nhất định để có một nhân cách đầy đủ mangtính chỉnh thể Ở đây phạm trù cá nhân đặc trưng cho con người hoànchỉnh trong sự thống nhât những đặc điểm riêng biệt của con người vớibản chất chung của cộng đồng Xét trên nhiều bình diện khác nhau, thì
cá nhân là một thực thể sinh vật - xã hội - văn hoá với các đặc điểm vềsinh lý, tâm lý và xã hội trong sự liên hệ thống nhất với các chức năng
xã hội chung của giống loài người
Từ quan niệm trên cần phải xem xét cá nhân trong các mối quan
hệ sau:
Cá nhân là phương thức tồn tại của giống loài người, là sự tồn tạicảm tính, cụ thể của giống loài, loài phần tử đơn nhất tạo thành cộngđồng xã hội
Xét với tư cách là chủ thể của hoạt động thực tiễn, thì cá nhân làchủ thể của lao động sáng tạo, chủ thể của các quá trình hoạt động thựctiễn của con người nhằm cải tạo thế giới tự nhiên và xã hội
Cá nhân được hình thành phát triển chỉ trong mối quan hệ xã hội.Nhưng xã hội thay đổi theo tiến trình lịch sử, nên cá nhân là một hiệntượng có tính lịch sử Mỗi thời đại sản sinh ra một kiểu cá nhân đặctrưng, do điều kiện lịch sử cụ thể của đời sống xã hội quy định
Trang 27Trong sự chế ước của điều kiện lịch sử, cá nhân là sự thống nhấtnhững yếu tố và đặc điểm riêng biệt với các chức năng và chuẩn mực xãhội chung được biểu hiện sinh động và cảm tính qua từng cá thể Bởivậy, trong đời sống hàng ngày, quan hệ cá nhân - xã hội được biểu hiệntrước hết ở sự giao tiếp với mỗi cá nhân trong xã hội đó.
Khi nói cá nhân, cần có sự phân biệt với cá tính Khái niệm cátính dùng để chỉ cái đơn nhất, không lặp lại trong tâm lý hoặc sinh lýcủa cá thể người nói cách khác cá tính là sự biểu hiện là một trongnhững chất lượng vốn có của cá nhân, là nội dung riêng biệt nói cáchkhác cá tính là sự biểu hiện là một trong những chất lượng vốn có của
cá nhân, là nội dung riêng biệt, mang tính đặc thù của mỗi cá nhân, làcái biểu hiện cảm tính của sự khác biệt cá nhân này với cá nhân khác.Nhưng tuyệt nhiên, nó không thể đồng nhất với cá nhân, vì nó chỉ mớibiểu hiện cái nét riêng biệt mà chưa nói lên nét tương đồng, chỉ nói lêncái đơn nhất mà chưa nói lên cái chung trong con người
Khái niệm cá nhân cũng được phân biệt với khái niệm nhân cách.Nhân cách là toàn bộ những năng lực và phẩm chất xã hội - sinh lý -tâm lý tạo thành một chỉnh thể điều chỉnh mọi hành vi và hoạt động củamình trong quan hệ đối với tự nhiên và xã hội Nó là sự phân biệt giữacác cá nhân, là bản sắc độc đáo của con người trong mỗi cá nhân Bởivậy cá nhân khác với xã hội bởi tính hiện thực cụ thể của nó còn khácvới các cá nhân khác nhau bởi nhân cách của mình
2.1.1.2 Những đặc trưng của cá nhân
Cá nhân như chúng ta đã quan niệm, là cá thể người được tách rađem đối lập với cộng đồng, với xã hội nói chung, trước hết là về mặtnhận thức Nó là phương thức tồn tại của giống loài người Cộng đồngngười chỉ có thể tồn tại cảm tính trong từng cá thể Thông qua cá thể
mà xem xét toàn bộ loài người Như vậy, xã hội là tổng hợp của các cáthể người trong sự đa dạng khác biệt và thống nhất biện chứng
Lý luận về hình thái kinh tế xã hội của triết học Mác - Lênin đãchỉ ra rằng, thước đo trình độ phát triển xã hội là sự phát triển của lực
Trang 28lượng sản xuất Nhưng, con người là yếu tố quyết định của lực lượngsản xuất Vì vậy, suy cho đến cùng trình độ phát triển xã hội được biểuhiện ở trình độ phát triển cá nhân Trong mỗi giai đoạn nhất của lịch sử,
sự phát triển cho cá nhân là đặc trưng cho sự phát triển của xã hội Mặc
dù, trình độ phát triển của các cá nhân không đồng nhất, nhưng xét mộttập hợp những cá nhân với tổng hợp đầy đủ các yếu tố thì đó là đặctrưng của sự vận động và phát triển của xã hội loài người
Cá nhân bao giờ cũng mang nội dung, bản chất của cá thể trongcộng đồng xã hội Do đó, đề cập tới khái niệm cá nhân phải hiểu rằng,
đó là nhân cách con người thể hiện trong mỗi cá nhân, là chỉnh thể toànvẹn của mọi mối quan hệ Bởi vậy nhân cách chính là đặc trưng bảnchất cá nhân trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử Nó lànội dung, trạng thái, tính chất, xu hướng bên trong của riêng biệt củamỗi cá nhân Với đặc điểm về di truyền, về sinh lý, thần kinh, về giađình hoàn cảnh sống mỗi cá nhân tiếp thu và chuyển những giá trị vănhoá của xã hội vào bản thân mình, thực hiện quá trình lọc bỏ, tiếp nhận,
tự đánh giá, tự giáo dục để tạo nên thế giới riêng Quá trình đó hìnhthành trong các cá nhân các yếu tố về động lực, lợi ích, lòng tin, địnhhướng giá trị trong xúc cảm, niềm tin và hành động thực tiễn Mốiquan hệ giữa cá nhân và xã hội tạo nên quá trình kép: cá nhân hoá xãhội và xã hội hoá cá nhân, cá nhân - xã hội và cá nhân - nhân cách làthống nhất biện chứng Với nhân cách độc đáo, riêng biệt, mỗi cá nhân
có khả năng tự đánh giá, tự ý thức về mình, làm chủ cuộc sống củamình, lựa chọn chức năng và trách nhiệm trong cộng đồng xã hội
2.1.2 Quan niệm về nhân cách
2.1.2.1 khái niệm.
Nói tới nhân cách nhân cách là nói tới đặc trưng của một cá nhântheo khía cạnh sự gia nhập của cá nhân đó vào chính thể xã hội Nhâncách đề cập tới giá trị làm người, nó biểu hiện mức độ hoá xã hội, mức
độ chiếm lĩnh giá trị xã hội và biểu hiện trình độ văn hoá của một cánhân
Trang 29Trong tâm lý học quan niệm: Nhân cách là tổ hợp đặc điểm,những thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện bản sắc và giá trị xã hộicủa con người Điều đó có nghĩa, nhân cách là sự tổng hoà không phảicác đặc điểm cá thể của con người mà chỉ là những đặc điểm quy địnhcon người nhu là một thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lý - xãhội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân
Theo quan niệm của triết học Mác thì: "nhân cách là một kháiniệm chỉ bản sắc độc đáo, riêng biệt của mỗi cá nhân, là nội dung vàtính chất bên trong của mỗi cá nhân Bởi vậy nếu cá nhân là khái niệmchỉ sự khác biệt giữa chủ thể với giống loài thì nhân cách là khái niệmchỉ sự khác biệt giữa các cá nhân Cá nhân là phương thức biểu hiệncủa giống loài còn nhân cách vừa là nội dung, vừa là cách thức biểuhiện của mỗi cá nhân riêng biệt" [16; tr476]
Con người được hình thành như một nhân cách trong tiến trìnhsinh thành cá thể, trong đó những nhân tố sinh vật di truyền, tâm sinh lý
và xã hội xoắn xuýt vào nhau Đối với sự phát triển của nhân cách, cấutạo di truyền sinh vật và tâm lý ở một cá nhân là cơ sở sinh vật, lànhững điều kiện tự nhiên, mà trên cơ sở đó hình thành lên những đặcđiểm lịch sử - xã hội của con người Vì thế con người như là một nhâncách bao giờ cũng là một chỉnh thể thống nhất trong đó những yếu tố xãhội và tự nhiên xoắn xuýt với nhau Nếu chỉ là một cơ thể sinh vật thìcon người không thể là một nhân cách Tổng hoà những phẩm chất xãhội có được trong tiến trình sinh hoạt xã hội thực tiễn đã làm cho conngười có được nhân cách
Con người trước hết là chủ thể của hoạt động, của quá trình lịch
sử và của quá trình nhận thức Con người chỉ được hình thành như làmột nhân cách, khi mà với những điều kiện xã hội nhất định, nó hoạtđộng thực tiễn với tư cách là chủ thể của phát triển xã hội và là chủ thểphát triển của chính nó Trong quá trình đó, mỗi cá nhân tiến hành traodổi kinh nghiệm xã hội và kiến thức, hình thành các phẩm chất xã hội
và tâm lý nhất định
Trang 30Sự phát triển của nhân cách cần được hiểu là sự hình thành cácphẩm chất xã hội nhất định mà cá nhân cần có để thực hiện quá trình táisản xuất xã hội Cá nhân không thể kế thừa những phẩm chất này mộtcách tự nhiên như khi kế thừa những đặc điểm di truyền sinh vật củamình, mà phải tiếp thu chúng bằng sự nỗ lực của cá nhân, bằng hoạtđộng thực tiễn tích cực và thông qua tác động xã hội trong quá trìnhsinh hoạt cá nhân Trong quá trình này mỗi cá nhân đều biểu hiện vừa
là chủ thể vừa là khách thể của sự phát triển xã hội và lịch sử Cho nênnhân cách vừa là người sáng tạo vừa là sản phẩm của sự phát triển xãhội, vừa là chủ thể vừa là khách thể của quá trình lịch sử
Từ những quan niệm trên có thể xem xét, đánh giá nhân cách cánhân trên ba bình diện sau:
Thứ nhất, nhân cách con người được thể hiện trước tiên dưới dạng
cá tính, ở sự khác biệt giữa con người này với con người kia Ở bìnhdiện này, nhân cách bộc lộ trong tính không đồng nhất của nó với mọingười, với cái chung
Thứ hai, nhân cách được thể hiện trong các mối quan hệ và liên
hệ mà nó gia nhập vào đó trong quá trình hoạt động cộng đồng xã hội.Ở bình diện này nhân cách tạo nên đặc trưng của các mối liên hệ vàchính bản thân các mối liên hệ cũng tạo nên đặc trưng của mỗi nhâncách Giá trị của nhân cách ở mức độ này được thể hiện trong các hành
vi ứng xử xã hội của nó
Thứ ba, trên bình diện cao nhất, nhân cách vượt ra ngoài khuôn
khổ của cá tính (bình diện thứ nhất), của mối liên hệ của mỗi cá nhân(bình diện thứ hai), để được xem xét trong mối liên hệ làm biến đổinhững cá nhân khác Tất cả những biến đổi cơ bản mà bằng hoạt độnggiao lưu của mình với những cá nhân khác, đã tạo thành những nét đặctrưng đầy đủ và có giá trị nhất của nhân cách cá nhân
Tất nhiên, nhân cách phải được xem xét trong sự thống nhất của
cả ba bình diện trên như sự đại diện lý tưởng của cá nhân trong mối liên
hệ với các cá nhân khác trong điều kiện lịch sử nhất định