1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẠI THẮNG mùa XUÂN 1975 ý NGHĨA LỊCH sử và tầm vóc THỜI đại

52 900 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đại Thắng Mùa Xuân 1975 Ý Nghĩa Lịch Sử Và Tầm Vóc Thời Đại
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 1975
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 363,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do ta bị tổn thất trong Tết Mậu Thân và các cuộc Tổng tiến công đợt 2 , đợt 3 năm 1968 và đánh giá không sát đúng tính chất phức tạp, nham hiểm của chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh”,

Trang 1

NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ - YẾU TỐ QUAN TRỌNG

TẠO THẾ VÀ LỰC CHO ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975

I TÌNH HÌNH CÁC CHIẾN TRƯỜNG VÀ HÌNH THÁI BA NƯỚC ĐÔNG DƯƠNG

1 Đế quốc Mỹ tiếp tục xâm lược Việt Nam bằng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia, Lào

Sau bốn năm đưa quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược miền Nam và dùng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam, chẳng những Mỹ không đạt đượcmột mục tiêu nào trong bốn mục tiêu chúng đã đề ra, mà còn bị quân và dân ta đánh cho thất bại nặng nề, làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh cục bộ” Thất bại này đã tác động sâu sắc đến tình hình chính trị nước Mỹ, Ních-xơn trong ngày nhậm chức Tổng thống Mỹ (20- l-1969) đã phải thú nhận: “Nước

Mỹ đang có khủng hoảng về tinh thần, mắc kẹt trong chiến tranh, cấu xé và chia rẽ nội bộ Cuộc chiến tranh Việt Nam đã gây ra căng thẳng gay gắt với nước Mỹ không riêng về mặt kinh tế, quân sự mà cả xã hội cũng như chính trị Sự bất đồng cay đắng đã xé rách cơ cấu đời sống tinh thần nước Mỹ và bất kể kết quả chiến tranh như thế nào, vết xé rách vẫn còn lâu mới lành”

Ních-xơn và những chiến lược gia Mỹ nhận thấy chiến lược quân sự toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” thời Ken-nơ-đi, L.Giôn-xơn không có khả năng ngăn chặn và đẩy lùi phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân Á - Phi - Mỹ La-tinh, mà tiêu biểu là Việt Nam, nó đã tỏ rõ “lỗi thời” trước cuộc tiến công của

ba dòng thác cách mạng thế giới

Để cứu vãn tình hình đang thua của Mỹ, Tổng thống Mỹ Ních-xơn sau nửa năm cầm quyền đã đề ra “Họcthuyết Ních-xơn” và chiến lược quân sự toàn cầu “Răn đe thực tế” thay thế cho chiến lược “Phản ứng linhhoạt”

Nội dung chủ yếu của Học thuyết Ních -xơn là :

1 Chia sẻ trách nhiệm: Mỹ tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho các nước đồng minh Các nước đồng minh phải “thực hiện” nghĩa vụ của mình trong khu vực

2 Xây dựng sức mạnh: Mỹ gánh chịu phần chủ yếu về lực lượng hạt nhân chiến lược, nhưng các nước đồng minh phải cùng Mỹ “Chung sức gạch vác” việc xây dựng lực lượng tác chiến trên khu vực chiến trường

3 Thương lượng: Mỹ thương lượng với các nước đồng minh thành lập nhưng liên minh khu vực, thương lượng giải quyết xung đột xảy ra giữa các nước thứ ba, thương lượng với Liên Xô về việc hạn chế sự pháttriển vũ khí chiến lược

Mục tiêu tập trung của Học thuyết Ních-xơn là ra sức phá hoại phe xã hội chủ nghĩa, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, duy trì và củng cố sự thống tn của chủ nghĩa thực dân kiểu mới Mỹ trong phạm vi toàn cầu… Chiến lược quân sự toàn cầu mới dùng sức mạnh làm nản lòng đối phương một cách thực tế, gọi tắt là chiến lược “Răn đe thực tế”, chủ trương:

Trang 2

Duy trì lực lượng mạnh để giữ thế cân bằng và “răn đe”, đồng thời giữ mọi cam kết của Mỹ với đồng minh trên cơ sở cùng nhau ‘chia sẻ trách nhiệm”, nhưng Mỹ vẫn khẳng định vai trò lãnh đạo đối với “thế giới tự do” “Việt Nam hóa chiến tranh” là sự áp dụng đầu tiên của Học thuyết Ních-xơn vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, mà thực chất là chính sách “dùng người Việt đánh người Việt” bằng vũ khí, kỹthuật của Mỹ, do Mỹ điều khiển Áp dụng Học thuyết Ních-xơn vào Việt Nam, trước tiên Mỹ điều chỉnh clủ trương “Phi Mỹ hóa” thành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” Nếu trước đây Giôn-xơn chủ trương “Phi Mỹ hóa” nhằm đẩy quân ngụy ra phía trước, quân Mỹ đứng phía sau yểm trợ bằng pháo binh,không quân để tránh cho quân Mỹ khỏi bị thương vong và từng bước rút khỏi cuộc chiến tranh trong danh

dự Nay chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” là một kế hoạch hoàn chỉnh cả về quân sự, chính trị, kinh

tế, ngoại giao nhằm tiếp tục thực hiện âm mưu cơ bản của đế quốc Mỹ là chiếm giừ miền Nam Việt Nam,nhưng quân Mỹ lui về phía sau để rút dần về nước, giảm bớt sự dính líu của quân chiến đấu Mỹ trên bộ

Lê-đơ (Laird) - Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ coi “Việt Nam hóa chiến tranh” là “Học thuyết Ních-xơn trong hành động”, là ‘biện pháp kết thúc sự tham gia của Mỹ, bước mở đầu tăng cường lực lượng đồng minh ở châu Á”, Việt Nam hóa nghĩa là chuyển dần cho người Việt Nam trách nhiệm Ních-xơn đánh giá:

“Chính sách này thỏa mãn được mục tiêu của chúng ta (Mỹ) là giảm bớt sự dính líu của Mỹ” Ngày 18 tháng 2 năm 1970 Ních-xơn công bố nội dung chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” là một chương trình nhằm tăng cường khả năng tự vệ của Chính phủ và nhân dân Việt Nam bằng kế hoạch 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Từng bước chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu trên bộ cho ngụy quân, rút dần quân chiến đấu trên bộ của Mỹ ra khỏi Nam Việt Nam

Giai đoạn 2: Chuyển giao nhiệm vụ trên không cho quân đội Sài Gòn, làm cho quân ngụy đủ sức đương đầu với lực lượng cách mạng, giữ vững được Việt Nam và Đông Dương trong quỹ đạo của Mỹ

Giai đoạn 3: Hoàn tất những mục tiêu của Việt Nam hóa chiến tranh Củng cố kết quả đã đạt được, “Việt cộng” suy yếu và chiến tranh sẽ tàn lụi

Trong ba giai đoạn đó, theo Mỹ, giai đoạn 1 (dự kiến thực hiện từ năm 1969 đến giữa năm 1972) là giai đoạn quan trọng nhất được chia làm ba bước để thực hiện:

Buớc 1: (từ năm 1969 đến giũa năm 1970) Bình định một số vùng đông dân quan trọng Xóa bỏ hoàn toàn các cơ sở cách mạng ở vùng ta kiểm soát Rút một số đơn vị chiến đấu của Mỹ ra khỏi chiến trường Việt Nam Khống chế và đẩy lùi lực lượng vũ trang giải phóng, làm cho ta không hoạt động được ở quy

mô từ đại đội trở lên

Bước 2: (từ giữa những năm 1970 đến giữa năm 1971): Bình định được tất cả các vùng đông dân quan trọng Làm cho lực lượng vũ trang cách mạng bị phân tán nhỏ, không hoạt động được từ cấp đại đội trở lên ở những vùng căn cứ Hoàn thành kế hoạch “hiện đại hóa quân ngụy”, rút phần lớn quân Mỹ về nước Bước 3: (từ giữa năm 1971 đến giữa năm 1972): Cơ bản bình định xong cả miền Nam Lực lượng vũ trang cách mạng không còn hoạt động được ở các vùng căn cứ trên biên giới Lào, Cam-pu-chia, quân

Trang 3

ngụy đủ sức đương đầu với khối chủ lực miền Bắc Việt Nam Rút hết quân chiến đấu trên bộ của Mỹ về nước

Để thực hiện kế hoạch chiến lược này, Mỹ đề ra các biện pháp cụ thể:

1 Phát triển và hiện đại hóa quân ngụy để có đủ sức đối phó với ta, thay thế dần quân Mỹ bằng cách ráo riết bắt lính, tăng cường và đổi mới trang bị, vũ khí cho quân ngụy, huấn luyện cấp tốc cho quân nguỵ nhằm tiêu hao và đẩy lùi chủ lực ta ra khỏi các vùng đông dân, nhiều của, xây dựng cơ sở xã hội cho bọn tay sai, củng cố ngụy quyền.

2 Bao vây đánh phá kinh tế, đánh phá đường hành lang vận chuyển chiến lược, cắt đứt sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, tăng cường chiến tranh ở Lào, mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia, xúc tiến liên minh khu vực, đảm bảo cho “Việt Nam hóa chiến tranh” thành công.

3 Xúc tiến thủ đoạn ngoại giao xảo quyệt, tranh thủ hoà hoãn giữa các nước lớn, hạn chế viện trợ cho ta, tiến tới cô lập cách mạng Việt Nam và Đông Dương, buộc ta phải chấp nhận những điều kiện của Mỹ trong cuộc thương lượng tại Hội nghị Pa-ri.

Những biện pháp chiến lược nêu trên chứng tỏ bản chất ngoan cố hiếu chiến và thâm độc của đế quốc Mỹ “Việt Nam hóa chiến tranh” không phải là sự rút lui chịu thua để tìm một lối thoát gọn ghẽ cho Mỹ Trái lại, Ních-xơn đang tìm mọi cách giành giật với ta để kết thúc chiến tranh trên thế mạnh Thực hiện kế hoạch của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, Mỹ gấp rút củng cố

và phát triển quân ngụy, có đủ sức đảm nhận toàn bộ trách nhiệm về an ninh của Nam Việt Nam

và làm lực lượng nòng cốt cho “Khơ-me hóa”, “Lào hóa” chiến tranh của Mỹ; đồng thời đẩy mạnh chương trình bình định, mở rộng chiến tranh sang Cam-pu-chia, Lào

Việc phát triển quân ngụy miền Nam, Mỹ và chính quyền Sài Gòn dự kiến cứ mỗi năm tăng từ 50.000 đến 100.000 quân cho đến khi quân đội chính quy Việt Nam cộng hoà đạt 1 100.000 vào cuối năm 1971 Trong kế hoạch này, Mỹ chú trọng phát triển cả ba quân chủng Hải, Lục, Không quân, nhưng ưu tiên củng cố và phát triển Lục quân Nếu năm 1969, Lục quân ngụy chia thành 4 loại lực lượng xung kích, lực lượng chống xâm nhập; lực lượng bảo vệ đô thị; lực lượng yểm trợ xây dựng nông thôn thì từ năm 1970 trở đi, lực lượng này được tổ chức thành 2 loại:

1 “Lực lượng lưu động” làm nhiệm vụ thường xuyên đánh phá căn cứ, hệ thống tiếp vận của ta, đẩy lùi, ngăn chặn chủ lực ta trở lại hoạt động trong nội địa.

2 “Lực lượng lãnh thổ” làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh nội địa, bình định nông thôn.

Các sư đoàn chủ lực bộ binh được bổ sung quân số, hoàn thiện biên chế: một sư đoàn có 12 tiểu đoàn, một trung đoàn có 4 tiểu đoàn Các đơn vị biệt kích được cải tổ thành các tiểu đoàn biệt động quân biên phòng (37 tiểu đoàn) Hỏa lực yểm trợ cho Lục quân cũng được tăng cường Trong 3 năm quân ngụy lên 1.300 khẩu pháo và 10.000 súng cối các loại Tăng, thiết giáp từ 1

037 chiếc năm 1968 lên 1.879 chiếc năm 1972 Địch rất quan tâm xây dựng khối bộ binh cơ động, dù, thủy quân Lục chiến Khối bộ binh cơ động năm 1968 mới có 50 tiểu đoàn, chiếm tỷ lệ l8%, đến cuối năm 1970 tăng lên 90 tiểu đoàn (đạt tỷ lệ 42%).

Trang 4

Với sự phát triển Lục quân như trên, đến tháng 6 năm 1970, theo Mỹ, quân ngụy có thể đảm nhiệm hầu hết nhiệm vụ chiến đấu trên bộ Ngày 1 tháng 7 năm 1970, bộ tư lệnh Lục quân ngụy miền Nam chính thức được thành lập Cùng với Lục quân, Hải quân cũng được phát triển Cuối năm 1971, đầu năm 1972 lực lượng đã lên đến gần 50.000 quân, với 1.600 tàu các loại hoạt động trên biển và trên sông Không quân ngụy được củng cố và kiện toàn, quân số tăng nhanh từ 35.000 năm 1968 lên hơn 50.000 năm 1971 Với lực lượng đã được tăng cường, năm 1970, không quân ngụy được tổ chức lại thành 6 sư đoàn, 1 phi đoàn liên lạc, 1 phi đoàn vận tải, 5 phi đoàn trực thăng, 3 phi đoàn khu trục Mỹ đã trang bị cho bộ binh quân đội Sài Gòn 70.000 súng M.16 - loại súng trường cực nhanh và hiện đại nhất của quân đội Mỹ lúc đó và 30.000 súng phóng lựu, 10.000 súng máy các loại

Bên cạnh lực lượng chủ lực, Mỹ còn chú trọng xây dựng, phát triển quân địa phương (bảo an, dân vệ và phòng vệ dân sự) Đây là lực lượng quân sự trực tiếp làm nhiệm vụ bình định và kìm kẹp đồng bào ta ở nông thôn Từ năm 1969, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã xây dựng thêm nhiều đại đội, trung đội bảo an, dân vệ và phòng vệ dân sự; bảo đảm mỗi xã có 2 trung đội phòng vệ dân sự để đưa dần lực lượng này thay thế cho dân vệ, lấy dân vệ đôn lên bảo an, bảo an đôn lên

bổ sung cho quân chính quy.

Công tác đào tạo, huấn luyện cũng được Mỹ quan tâm nhằm “cải tiến” và nâng cao chất lượng quân ngụy Đến đầu năm 1970, Mỹ - ngụy đã mở 23 trung tâm huấn luyện, 25 trường quân sự cho cấp các quân binh chủng

Nhìn chung sau 3 năm thực hiện kế hoạch “phát triển và hiện đại hóa quân đội”, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã thu được kết quả đáng kể Quân số linh ngụy tăng nhanh, vũ khí trang bị được hiện đại hóa với tỷ lệ khá cao (vũ khí đạt 98,7%, quân xa cơ giới đạt 100%, thiết giáp, chiến xa đạt 99,5%, vô tuyến điện các loại đạt 75%), cơ cấu, tổ chức được củng cố thêm một bước Dù vậy, quân ngụy cũng không thể sánh được với quân Mỹ về chất lượng Việc thay thế dần quân

Mỹ bằng quân ngụy đương nhiên tạo ra thế bất lợi cho chúng.

Nội dung chủ yếu thứ 2 của chiến lược “Việt Nam hóa” theo Ních-xơn là vấn đề “bình định”.

Trong “Việt Nam hóa chiến tranh”, bình định không chi là một biện pháp chiến lược quan trọng

mà còn là mục đích xâm lược của Mỹ Vì vậy, Ních-xơn coi bình định là “trận cuối cùng, ai thắng trận này sẽ thắng cuộc chiến tranh” Theo Mỹ và chính quyền Sài Gòn thì bình định, dồn dân vào các ấp Tân sinh đời mới là biện pháp chiến lược quyết định sự tồn vong của chế độ Sài Gòn và sự thành, bại của “Việt Nam hóa” chiến tranh Cho nên, Mỹ - ngụy quyền miền Nam chia bình định làm nhiều giai đoạn để thực hiện:

Bình định cấp tốc từ tháng 11 năm 1968 đến tháng 6 năm 1969; bình định phát triển nông thôn từ tháng 7 năm 1969 đến tháng 6 năm 1970; bình định đặc biệt (7-l970 đến 2-1971) rồi chương trình “cộng đồng tự vệ” và “phát triển nông thôn” (3- 1971 đến 3 - 1972).

Biện pháp cơ bản hàng đầu để thực hiện bình định là tăng cường mở rộng và đẩy mạnh quy mô, mật độ hành quân càn quét Từ năm 1969, các cuộc hành quân càn quét của quân đội Mỹ - ngụy tăng lên một cách đột ngột so với các năm trước đó, nhất là chiến trường Nam Bộ Năm 1968 có 2.192 cuộc hành quân càn quét, năm 1969 tăng lên 4.344 cuộc, song chỉ riêng 10 tháng đầu năm

Trang 5

1970 đã có tới 745 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên Nếu tính cả hoạt động dưới cấp tiểu đoàn, thì năm 1969 có 10.980 cuộc, năm 1970 tăng lên 23.783 cuộc hành quân càn quét.

Cùng với tăng cường và đẩy mạnh hành quân càn quét, địch còn sử dụng tổ chức Phượng Hoàng

do phân cục tình báo CIA Mỹ ở Sài Gòn lập ra từ cuối năm 1967 dưới danh nghĩa là Văn phòng phụ tá đặc biệt (OSA) để đánh phá cách mạng, hỗ trợ cho chương trình bình định Từ năm 1969,

tổ chức này phát triển nhanh với quy mô to lớn và sâu rộng từ trung ương đến địa phương với phương thức hoạt động rất thâm độc như sử dụng các tổ chức tình báo, cảnh sát chìm kết hợp khai thác những đối tượng đầu hàng, đầu thú của ta, điều tra phân loại hạ tầng cơ sở cách mạng Trên cơ sở đó phát hiện cộng sản nằm vùng hoặc những người có cảm tình với cách mạng để bắt giam và tiêu diệt

Theo đánh giá của chính quyền Sài Gòn, từ năm 1969 đến giữa năm 1970 là thời kỳ bình định đạt kết quả tốt nhất Trong thời gian này địch đã chiếm lại được đại bộ phận vùng nông thôn giải phóng, kiểm soát được thêm nhiều dân Chỉ tính riêng năm 1969, địch đã kiểm soát thêm được 2.622 ấp (tăng 34,5%) và 2.932.700 dân (tăng 16,6%) so với năm 1968 Từ tháng 6 năm 1970, chương trình bình định của địch mới bị chặn lại.

Những năm 1971, 1972, công tác bình định của địch càng gặp khó khăn hơn Cuối năm 1971, theo báo cáo của địch thì chúng đã kiểm soát được 7.194 ấp, chiếm 4,4% tổng số ấp loại A và B (loại ấp có an ninh vững - theo phân loại cửa địch) và 14 triệu/17 triệu dân toàn miền Nam lúc bấy giờ, song theo đánh giá của Tôm-sơn (Thom xon) cố vấn bình định của Ních-xơn sau khi đi kiểm tra 117 xã ở miền Nam thì: “An ninh bấp bênh, 70% số xã có chế độ cộng sản Nếu không giải quyết ngăn chặn thì ngày nào đó cộng sản sẽ lật đổ chế độ”.

Một biện pháp chiến lược không kém phần quan trọng mà Mỹ đã thực hiện trong “Việt Nam hóa chiến tranh” là mở các cuộc phản kích ra vòng ngoài nhằm đánh phá hậu phương, đánh phá vùng giải phóng, đánh phá căn cứ đầu não của cuộc kháng chiến đánh phá hệ thống giao thông tiếp tế hậu cần để cô lập và làm suy yếu lực lượng cách mạng Không kể các cuộc hành quân hỗ trợ trực tiếp cho công tác bình định, trong 3 năm (từ 1969 đến 1971) Mỹ - ngụy đã mở tất cả 27.968 cuộc hành quân phản kích từ cấp tiểu đoàn trở lên trong đó có 724 cuộc quy mô cấp sư đoàn trở lên, 4.208 cuộc cấp trung đoàn với hàng chục ngàn lần chiếc máy bay chiến thuật và máy bay B52 rải khoảng 623 13 tấn bom Địch tập trung chủ yếu vào việc đánh giá căn cứ, hành lang tiếp tế, cơ

sở hậu cần, kinh tế nhằm ngăn chặn ta từ xa, thu hẹp phạm vi vùng g li phóng và đẩy chu lực ta

ra xa tận biên giới.

Cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ trong những năm 1969, 1970 vô cùng gian khổ và quyết liệt Ta và địch đều cố giành nhau từng tấc đất, từng xóm làng Địch dồn dân vào ấp Tân sinh, ta đấu tranh phá ấp, giải phóng dân Trong cuộc đấu tranh đó, địch đã gây cho ta muôn vàn khó khăn Đây là một trong những thời kỳ khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua.

Do ta bị tổn thất trong Tết Mậu Thân và các cuộc Tổng tiến công đợt 2 , đợt 3 năm 1968 và đánh giá không sát đúng tính chất phức tạp, nham hiểm của chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh”, địch lại ngăn chặn ‘tuyến hành lang chiến lược ác liệt, tiếp tế từ miền Bắc vào miền Nam bị gián đoạn, làm cho đời sống của bộ đội và nhân dân vùng giải phóng thiếu thốn, sức chiến đấu giảm sút ở Tây Nguyên, toàn bộ gạo tồn lại của năm 1968 chỉ bằng 1/3 số tồn kho năm 1967 Dự trữ

Trang 6

lương thực đến giữa năm l969 chỉ nuôi được bộ đội trong khoảng 1 tuần Ở cực Nam Trung Bộ

và Trị Thiên, do địch dành phá ác liệt, nhất là việc chúng dùng chất độc rải thảm, phát quang, cộng với thiên tai mất mùa dẫn đến nạn đói hoành hành nghiêm trọng Bộ đội trực tiếp chiến đấu

ở tuyến trước cũng chỉ được cấp phát mỗi người một ngày từ 1 đến 3 lạng gạo, tuyến sau chỉ ăn

củ rừng, khoai, sắn thay cơm Riêng ở Khu 5 từ năm l969 đến 1970, bộ đội và nhân dân gặp rất nhiều khó khăn Bộ đội đói, mỗi chiến sĩ trực tiếp chiến đấu ăn nửa lon gạo một ngày; còn cán bộ, chiến sĩ cơ quan cứ 8 người một lon gạo một ngày Vì thế Khu 5 phải giải thể Sư đoàn 3 Sao Vàng; đưa ra Đường 9 - bắc Quảng Trị Sư đoàn và các trung đoàn 141 , 220 cùng một số đơn vị thu dung, phục vụ ở Tây Nguyên, các đơn vị không trực tiếp chiến đấu được đưa ra miền Bắc, một số đơn vị chiến đấu bổ sung cho B2, các trung đoàn 6, 24, 28, 95, Tiểu đoàn 631, còn lại phải cơ động vào nam Tây Nguyên ăn gạo từ Cam-pu-chia chuyển sang Ở Nam Bộ, địch lấn

và chiếm lại gần hết vùng giải phóng của ta ở đồng bằng Có nơi như ở Trà Vinh, Vĩnh Long chỉ qua hai đợt “bình định cấp tốc” vùng giải phóng từ 182 ấp chỉ còn 1 ấp, vùng tranh chấp từ 192

ấp giảm còn 1 -‘8 ấp Lực lượng vũ trang ta ở đây cũng giảm sút rất nhanh, nhất là Tây Nam Bộ Chỉ sáu tháng đầu năm 1969, du kích xã, ấp tại Tây Nam Bộ bị tổn thất trên 15.000 người Bộ đội chủ lực Quân khu 8 từ 2 trung đoàn dồn lại còn 1; Quân khu 9, 3 trung đoàn dồn lại còn 1 trung đoàn và 1 tiểu đoàn Vùng giải phóng bị thu hẹp, mất bàn đạp và chỗ đứng chân ở đồng bằng, các sư đoàn 5, 7, 9 chủ lực Miền bị đẩy lên tận biên giới Cam-pu-chia Thừa cơ hội này, địch tăng cường hành quân, càn quét, lấn chiếm Trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, các sư đoàn 1 kỵ binh không vận, sư đoàn 101 dù, sư đoàn 25 bộ binh cơ giới Mỹ luân phiên đánh phá dọc biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia Ở Tây Nam Bộ, sư đoàn 21 bộ binh và liên đoàn 4 biệt động ngụy chốt chặn biên giới đoạn từ Kiến Tường đến kênh Vĩnh Tế Ở Khu 5, sư đoàn 1 lính thủy đánh bộ, sư đoàn A-mê-ri-cơn, lữ đoàn dù 173 Mỹ cùng lữ đoàn 2 “Rồng xanh” thủy quân Lục chiến, sư đoàn Bạch Mã (Nam Triều Tiên) đánh vào vùng căn cứ ta ở Giằng, Đại Lộc (Quảng Đà), An Lão, Kim Sơn, Núi Bà (Bình Định), Cây Vừng, Kỳ Lộ, Sông Hình (Phú Yên)…

Cách mạng miền Nam đang đứng trước những thử thách nghiêm trọng Cục diện chiến trường tạm thời cólợi cho địch Trước tình hình đó, tháng l năm 1969, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp bàn biện pháp tháo gỡ khó khăn Bộ Chính trị nhận định, lợi dụng lúc ta có khó khăn địch tập trung lực lượng phản kích quyết liệt trên nhiều hướng làm cho lực lượng vũ trang, chính trị của ta bị tiêu hao, cơ sởcủa ta tiếp tục bị vỡ, vùng giải phóng bị thu hẹp Tuy vậy, địch không mạnh mà là hành động điện cuồng trong thế thua, vì thất bại, suy yếu buộc phải xuống thang chiến tranh, nhưng lại muốn xuống thang trên thế mạnh, thế chủ động là một mâu thuẫn vốn có trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ Mâu thuẫn đó càng bị khoét sâu mỗi khi chiến tranh kéo dài Bộ Chính trị chủ trương động viên những nỗlực cao nhất của cả 2 miền tiến công và nổi dậy tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân chủ lực ngụy, phá

vỡ chương trình bình định, đánh đổ và làm suy yếu ngụy quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương, khôi phục và mở rộng vùng giải phóng, đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, buộc chúng phải từ bỏ ý đồ kết thúc chiến tranh, rút quân Mỹ v nước trên thế mạnh

Thực hiện nghị quyết Bộ Chính trị và quân ủy Trung ương đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm tăng cườngcông tác tư tưởng, kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang trên cả hai miền Bắc - Nam

Tại Hà Nội, tháng 5 năm 1969, Hội nghị cán bộ cao cấp toàn quân được tổ chức Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trang 7

đã nói chuyện thân mật với các đại biểu dự hội nghị Bác chỉ thị cho quân đội: “Phải xây dựng lực lượng thật tốt, chất lượng thật cao Luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu giỏi, bảo vệ tốt miền Bắc xã hội chủ nghĩa Chú ý tiết kiệm sức người và sức của, giừ gìn thật tốt vũ khí trang bị”.

Cùng với việc tổ chức hội nghị cán bộ cao cấp toàn quân, quân ủy Trung ương ra chỉ thị về “Kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng và điều chỉnh số lượng bộ đội thường trực một cách thích hợp” nhằm bảo đảm cho các đơn vị làm tốt nhiệm vụ chiến đấu ở miền Nam, bảo vệ miền Bắc, giúp cách mạng Lào và phát triển lực lượng khi cần thiết Một đề án chấn chỉnh lực lượng do Bộ Tổng tham mưu đề xuất đã được quân ủy Trung ương phê duyệt Theo đó các sư đoàn, trung đoàn bộ binh chủ lực của Bộ Tổng tư lệnh và các quân khu được kiện toàn đủ quân số và trang bị Khối cơ quan, đơn vị phục vụ thuộc quân binh chủng, quân khu, nhà trường giảm bớt để tăng cường lực lượng trực tiếp chiến đấu

Đến cuối năm l969, toàn quân đã kiện toàn một bước biên chế tổ chức các đơn vị, rút được 13.200 cán bộ,chiến sĩ tăng cường cho chiến trường

Nhằm bảo đảm sức chiến đấu cho lực lượng vũ trang ở miền Nam trong tình hình mới, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh quyết định điều động nhiều đơn vị với đủ quân số và trang bị vào chiến trường, đồng thời điều chỉnh các đơn vị chủ lực ở chiến trường cho phù hợp với khả năng bảo đảm vật chất cũng như đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới trên từng địa bàn Vừa củng cố tổ chức, các lực lượng vũ trang ta ở miền Nam vừa tiếp tục tiến công và phản công địch Chỉ trong tháng đầu năm 1969, ta đã mở 2 đợt hoạt động lớn Đợt hoạt động Xuân (từ 22-2 đến 30-3-1969) và đợt hoạt động Hè (từ 11-5 đến 25-6-1969)

Trong đợt hoạt động Xuân năm 1968, quân và dân ta ở miền Nam đã đánh vào 3 thành phố, thị xã, trên

100 quận lỵ, nhiều kho tàng, sân bay, sở chỉ huy của Mỹ - ngụy, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều sinh lực địch Đợt hoạt động hè các lực lượng vũ trang ta đánh vào 830 mục tiêu cửa địch, trong đó có 57 căn cứ

sở chỉ huy từ cấp trung đoàn trở lên, 41 sân bay quân sự Đáng chú ý trong đợt hoạt động này, ngoài những trận đánh vừa và nhỏ nhằm tiêu hao một bộ phận lực lượng địch, ta mở được một số chiến dịch và trận đánh lớn như chiến dịch Đắc Tô II ở Tây Nguyên từ 5-5 đến 11-7-1969, chiến dịch Long Khánh ở miền Đông Nam Bộ (từ 5-5 đến 20-6-1969) Ở Trị Thiên, ta chặn đánh quyết liệt các cuộc tấn công của địch vào tuyến vận tải chiến lược ở các khu vực Cô Ca Va, Tam Tanh, A Lưới, A Bia, trong đó trận đánh

ở đồi A Bia là trận dành đẫm máu nhất đối với quân Mỹ A Bia được báo chí Mỹ và phương Tây đặt cho cái tên là Hamburger (đồi băm thịt) còn Thượng nghị sĩ Mỹ Ken-nơ-đi thì chua xót nhận xét: “Cuộc tiến công lên núi A Bia là vô đạo đức, là dã man, là vô nghĩa, vô trách nhiệm Không thể đem sinh mệnh của người Mỹ làm vật hy sinh vì lòng tự ái quân nhân” (AP ngày 21-5- 1969)

Mặc dù trong nửa đầu năm 1969, ta tiếp tục tiến công, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận lớn lực lượng địch, song do hoạt động liên tục và bị tổn thất nặng trong năm l968, ta chưa có thời gian củng cố, nguồn tiếp tế

từ miền Bắc vào gặp nhiều khó khăn, lực lượng và cơ sở vật chất có hạn, trong khi đó, địch phản kích quyết liệt, nhất là sau đợt hoạt động Hè đã đẩy đại bộ phận chủ lực ta bật lên vùng rừng núi Ở nông thôn đồng bằng, lực lượng vũ trang địa phương cũng bị tiêu hao nặng Mùa mưa năm 1969, địch tiếp tục lấn tới đẩy mạnh “bình định cấp tốc” giành lại nông thôn đồng bằng và đánh phá các căn cứ ở miền núi các hành lang vận chuyển tiếp tế của ta, kết hợp với các hoạt động tình báo, gián điệp thông qua chương trình Phượng Hoàng gây cho ta nhiều khó khăn

Tháng 7 năm 1969, Trung ương Cục tổ chức Hội nghị lần thứ 9 Hội nghị đánh giá: “Từ Xuân năm l969 đến nay, trên cơ sở quán triệt quyết tâm chiến lược cửa Trung ương, ta đã có một bước tiến bộ rõ rệt trong

Trang 8

việc vận dụng phương châm, phương thức đấu tranh và xây dựng cả về quân sự và chính trị… Nhưng so với yêu cầu và nhiệm vụ to lớn của chiến trường, ta vẫn chưa tạo ra được những chuyển biến nhảy vọt có

ý nghĩa quyết định… Bên cạnh những thắng lợi và những ưu điểm lớn, chúng ta còn khuyết điểm và khó khăn… Mũi tiến công binh vận còn quá yếu, du kích chiến tranh phát triển chậm và không đều… Việc bổsung lực lượng, công tác bảo đảm vật chất cho chiến trường còn nhiều thiếu sót và nhiều nơi đang gặp khó khăn” Nguyên nhân của những khuyết điểm trên là các cấp lãnh đạo chưa nhận thức đầy đủ và vận dụng chưa linh hoạt chủ trương của Trung ương và hoàn cảnh cụ thể của địa phương, chưa thấy hết âm mưu và thủ đoạn mới của địch Trung ương Cục đã đề ra nhiệm vụ trước mắt cho quân và dân Nam Bộ là:

“Động viên nỗ lực phi thường của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ra sức phát huy thắng lợi đã giành được, kiên quyết khắc phục các khuyết điểm và nhược điểm, nắm vừng và sáng tạo thời cơ, tiếp tục đẩy mạnh Tổng tiến công và nổi dậy với 3 mũi giáp công đến đinh cao nhất, kết hợp với tấn công ngoại giao, khẩn trương xây dựng lực lượng quân sự và chính trị, phát triển thế tiến công chiến lược một cách toàn diện liên tục và mạnh mẽ trên cả 3 vùng chiến lược, đánh bại chiến lược “quét và giữ”, chính sách bình định và các mục tiêu biện pháp phòng ngự của địch, đánh bại âm mưu kết thúc chiến tranh trên thế mạnh

và chủ trương “Phi Mỹ hóa chiến tranh” của chúng, đánh cho Mỹ phải rút quân, đánh cho ngụy phải suy sụp và ta giành được thắng lợi quyết định”

1 Đẩy mạnh tấn công quân sự và xây dựng lực lượng vũ trang: Phối hợp hoạt động của ba thứ quân trên các chiến trường, ra sức tiêu diệt, tiêu hao và kìm chân lực lượng lớn Mỹ - ngụy ở đô thị, mặtkhác căng địch ra trên các chiến trường nông thôn đồng bằng, miền núi, tập trung chủ lực mạnh trên chiến trường có lợi, kéo địch ra để tiêu diệt sinh lực và mở rộng vùng giải phóng, tập trung những cố gắng cao nhất, đẩy mạnh tấn công quân sự, kết hợp chặt chẽ với tấn công chính trị và ngoại giao, giành thắng lợi lớn nhất, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của địch; đồng thời tạo ra thế và lực mạnh, tạo ra thời cơ mới để giành thắng lợi quyết định trong thời gian tới và bảo đảm đánh thắng địch trong mọi tình huống

2 Tăng cường công tác dân vận làm cơ sở đẩy mạnh phong trào chính trị và binh vận tiến kịp tình hình mới

3 Ra sức phát huy vai trò của chính quyền cách mạng, tăng cường lãnh đạo công tác an ninh, đẩymạnh mặt trận kinh tế tài chính, ra sức mở rộng và xây dựng căn cứ địa

4 Xây dựng Đảng mạnh về tư tưởng, chính trị vá tổ chức để hoàn thành mọi nhiệm vụ trong tình hình mới

Về tổ chức chiến trường, Trung ương Cục quyết định lập lại Khu 7 gồm phân khu 4, tỉnh Biên Hoà, Bà Rịa, Long Khánh và Đặc khu rừng Sác Các quận nội thành Sài Gòn trước kia tách về các phân khu, nay nhập lại như cũ Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phó bí thư Trung ương Cục kiêm

Bí thư Thành ủy Sài Gòn Miền Tây Nam Bộ cũng được tăng cường lãnh đạo chỉ huy Đồng chí

Võ Văn Kiệt được cử làm Bí thư Khu ủy, đồng chí Lê Đức Anh làm Tư lệnh Quân khu 9 Ở Khu

5, tháng 9 năm 1969, Quân khu ủy cũng họp và chỉ rõ nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của quân khulà: “diệt kẹp, giành dân” Mọi hoạt động tác chiến của bộ đội chủ lực cũng như bộ đội địa phươngđều phải nhằm đạt được mục tiêu này Muốn vậy, cùng với phát triển lực lượng vũ trang địa phương phải tập trung củng cố các đơn vị chủ lực, phải đánh được những trận lớn làm chuyển biến tình hình

Trang 9

Giữa lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trên cả hai miền nỗ lực khắc phục mọi khó khăn để đưa cách mạng miền Nam tiến lên thì ngày 2 tháng 9 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần Ngườimất đi là một tổn thất lớn cho đất nước và dân tộc đang anh dũng kháng chiến chống Mỹ, không

có gì bù đắp được cho cách mạng Việt Nam, làm chấn động sâu sắc tình cảm, niềm tin, ý chí của đồng bào, chiến sĩ cả nước

Nén đau thương, biến thành hành động cách mạng làm theo Di chúc của Người, quân và dân ta ở miền Nam mở các cuộc tiến công và phản công đánh bại địch càn quét vào khu vực Đỗ Xá (căn

cứ của Quân khu 5), vùng Nam Bộ lộ 4 (căn cứ của Quân khu , vùng rừng núi phía bắc miền Đông Nam Bộ (căn cứ Bộ tư lệnh Miền), U Minh (căn cứ Quân khu 9)

Tháng 11 năm 1969, lực lượng vũ trang Quân khu 9 đập tan kế hoạch “nhổ cỏ” U Minh lần thứ nhất của Mỹ - ngụy Chiến thắng này một lần nữa khẳng định vai trò của bộ đội chủ lực, đồng thời nó chứng minh với sự phối hợp chặt chẽ của ba thứ quân, ta có thể đánh bại các cuộc hành quân càn quét quy mô lớn của địch, bảo vệ vững chắc căn cứ

Trên địa bàn Tây Nguyên, ta mở chiến lịch Bu-prăng - Đức Lập (từ 29-10 đến 5- 1969) tiến công vào tuyến phòng thủ của địch ở Tây Nam thị xã Buôn Ma Thuột Sau hơn một tháng chiến đấu liên tục, lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã loại khỏi vòng chiến đấu các chiến đoàn 220, 53 và một chiến đoàn hỗn hợp Đây là một chiến công lớn của lực lượng vũ trang Tây Nguyên sau chiến dịch Đắc Tô II hồi giữa năm 1969 Nó chứng tỏ sức chiến đấu bền bỉ dẻo, dai của bộ đội chủ lực Tây Nguyên

Mặc dù nửa cuối năm 1969, các lực lượng vũ trang ta trên các chiến trường đã có nỗ lực rất lớn, song việc chống phá các kế hoạch bình định của trịch nhất là vùng đông dân cơ ở đồng bằng sôngCửu Long và Khu 5, ta vẫn gặp nhiều khó khăn Đến cuối năm 1969 địch đã lấn chiếm hầu hết vùng đồng bằng sông Cửu Long, trừ căn cứ U Minh, Đồng Tháp Mười và một số “lõm” giải phóng ở phía bắc đường 14 Khu 5 và Tây Nguyên đến năm 1968 số dân vùng giải phóng là 1.110.000 người thì năm 1969 chỉ còn 838.000 Trên toàn chiến trường, địch lập 5.800 ấp chiến lược, đóng 6.964 đồn bốt, kiểm soát 10.000.000 dân Vùng giải phóng và vùng làm chủ của ta từ

1114 xã với 7,7 triệu dân năm 1968 nay tụt xuống còn 950 xã với 4,7 triệu dân Ngay các vùng căn cứ và vùng giải phóng mà ta đã làm chủ cũng thường xuyên bị địch bao vây Tình hình này làm một số cán bộ, chiến sĩ và nhân dân lo ngại, có người bi quan, dao động

Tháng 1 năm 1970, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 18 được triệu tập Hội nghị phân tích sự phát triển cục diện chiến trường từ đầu Xuân Mậu Thân, chủ yếu là đánh giá lại tình hình năm 1969, vạch rõ những thiếu sót về chỉ đạo sau đợt tiến công Tết, đánh giá âm mưu thủ đoạn mới của địch và đề ra những chủ trương, nhiệm vụ công tác lớn Nghị quyết khẳng định:

“Sang năm 1969, quân và dân ta đã nỗ lực vượt bậc, tiếp tục phát huy thế chiến lược tiến công… Mặc dầu địch ra sức giành giật quyết liệt với ta, gây cho ta một số khó khăn, đồng thời ta cũng cónhững thiếu sót và những chỗ yếu, song về căn bản địch không sao gỡ được khỏi thế phòng ngự, xuống thang và thất bại”

2 Nghị quyết chỉ rõ những mặt yếu và hạn chế của ta là: “Hoạt động của bộ đội chủ lực tiến lên không đều Có chiến trường còn chưa phát huy hiệu lực lớn Đặc biệt là chiến tranh

Trang 10

du kích chưa được đẩy mạnh đúng tầm chiến lược của nó Việc phá âm mưu bình định, giành dân chưa được coi trọng đúng mức Về mặt đấu tranh chính trị nhất là ở các thành thị, phong trào chưa phát triển kịp với tình hình, chưa khai thác hết khả năng to lớn của nhân dân, công tác binh vận còn yếu Việc giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, chúng

ta làm chưa tốt, có nơi vùng giải phóng bị thu hẹp Việc động viên sức người, sức của tại chỗ để bồi dưỡng lực lượng của ta cũng còn hạn chế Việc xây dựng lực lượng vũ trang nói chung có tiến bộ, nhưng chưa cân đối về nhiều mặt, chất lượng bộ đội chủ lực chưa tiến kịp yêu cầu của nhiệm vụ tác chiến Bộ đội địa phương chưa được tăng cường đúng mức và có nơi còn yếu Lực lượng du kích phát triển chậm”.

Sau khi phân tích những mặt mạnh, yếu của ta, âm mưu và chủ trương chiến lược mới của địch, Hội nghị Trung ương lần thứ 18 đề ra nhiệm vụ trước mắt cho quân và dân ta là: “Động viên nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên cả hai miền, phát huy thắng lợi đã đạt được, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tiếp tục phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ, đẩy mạnh tiến công quân

sự, chính trị và kinh tế, kết hợp với tiến công ngoại giao, vừa tiến công địch, vừa ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính trị của ta ngày càng lớn mạnh, đánh bại âm mưu việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ, đánh bại âm mưu xuống thang từng bước, kéo dài chiến tranh để tạo thế mạnh, hòng duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, làm thất bại thế chiến lược phòng ngự của địch, tạo ra chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh giành thắng lợi từng bước đi đến giành thắng lợi quyết định, đánh cho Mỹ phải rút hết quân, đánh cho ngụy phải suy sụp, tạo điều kiện cơ bản để thực hiện một miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập tiến tới thống nhất đất nước”.

Để hoàn thành nhiệm vụ này, Trung ương chỉ ra những công tác lớn:

1 Đẩy mạnh tiến công quân sự và xây dựng lực lượng vũ trang

2 Đẩy mạnh đấu tranh chính trị và xây dựng lực lượng chính trị ở thành thị.

3 Đẩy mạnh đấu tranh quân sự và chính trị ở nông thôn, phát động cao trào nôi dậy của quần chúng, ra sức giành dân, giữ dân, mở rộng vùng giải phóng, đánh bại kế hoạch bình định nông thôn của địch

4 Đẩy mạnh công tác binh vận, địch vận.

Đối với miền Bắc, Trung ương xác định: “Miền Bắc có nhiệm vụ tích cực khắc phục những hậu quả của chiến tranh, khôi phục và phát triển một bước nền kinh tế, tiếp tục đưa

sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội tiến lên; ra sức tăng thêm tiềm lực kinh tế và quốc phòng; củng cố tổ chức Đảng vững mạnh, đồng thời hết lòng chi viện cho miền Nam để góp sức lớn nhất cùng đồng bào miền Nam đánh tháng đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, làm tròn nghĩa vụ thiêng liêng của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn”.

2 Tình hình chiến trường ba nước Đông Dương

Trang 11

Lúc này ở Lào, cuộc chiến tranh đặc biệt được Mỹ đẩy lên với quy mô và cường độ ngày càng cao Cuộc hành quân Cù Kiệt ở Mỹ chỉ đạo tháng 8 năm 1969 có thể xem như một cuộc hành quân điển hình việc áp dụng Học thuyết Ních-xơn ở Lào: Quân ngụy Viên Chăn cộng với hậu cần và hỏa lực tối đa của không quân Mỹ Địch đã gây thiệt hại đáng

kể cho cả ta và bạn Lào Trên 200 bản làng, 3.000 nóc nhà bị phá hủy, hàng ngàn dân thường thuộc các bộ tộc Lào bị thương vong, hàng ngàn người phải dời làng đi nơi khác Lực lượng vũ trang Pa-thét Lào và Trung đoàn 174 bộ đội tình nguyện Việt Nam, mặc dù chặn đánh địch quyết liệt, diệt được một số, nhưng sức địch quá mạnh, cuối cùng ta phải rút ra ngoài để ‘củng cố, chỉ để lại 1 tiểu đoàn cùng quân đội bạn giữ bàn đạp tiến công Lợi dụng cơ hội này, địch mở rộng phạm vi đánh chiếm ra những vùng xung quanh Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, tiến gần tới phía tây Nghệ An.

Nhằm khôi phục lại địa bàn chiến lược vừa bị mất, đập tan cuộc hành quân Cù Kiệt, tạo thế thuận lợi cho cách mạng Lào phát triển, từ ngày 25 tháng 10 năm 1969, ta và bạn phối hợp mở chiến dịch phản công mang tên chiến dịch 139 còn gọi là chiến dịch Toàn

Thắng) Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 2 Sư đoàn 316, 312, Trung đoàn 86 bộ binh, Trung đoàn i6 pháo binh, 6 tiểu đoàn đặc công, công binh và 10 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội xe tăng của Pa-thét Lào Đồng chí Vũ Lập được cử làm Tư lệnh, đồng chí Huỳnh Đắc Hương làm Chính ủy chiến dịch Chiến dịch bắt đầu vào mùa mưa, hệ thống đường sá kém phát triển, thường xuyên bị sụt lở, lầy lội, địch lại liên tục đánh phá ác liệt, việc chuẩn bị vật chất, tập kết và triển khai đội hình chiến đấu gặp rất nhiều khó khăn.

Đến đầu tháng 2 năm 1970, giai đoạn tạo thế chiến dịch mới xong Ngày 11 tháng 2 năm

1970, bộ đội tình nguyện Việt Nam và bộ đội Pa-thét Lào bắt đầu nổ súng tiến công địch

ở Cánh Đồng Chum Sau 3 ngày tiến công, ta hoàn toàn làm chủ trận địa, địch phải rút toàn bộ lực lượng khỏi Cánh Đồng Chum vào ngày 21 tháng 2 năm 1970 Cùng thời gian,

ở hướng tây, bộ đội Pa-thét Lào tiến công Sa-la Phu-cum, buộc địch rút bỏ Xiêng Khoảng (25-2-1970).

Phát huy thắng lợi, ngày 18 tháng 3 năm 1970, liên quân Lào - Việt tiến công giải phóng Sảm Thông, uy hiếp sào huyện của “lực lượng đặc biệt” Vàng Pao ở Long Chứng Địch phải rút lực lượng từ các quân khu 1, 2, 3 về tăng cường phòng thủ Long Chứng và tổ chức phản kích chiếm lại Sảm Thông Đây cũng là lúc mùa mưa ở Lào bắt đầu Việc vận chuyển tiếp tế của ta gặp khó khăn Bộ chỉ huy quyết định kết thúc chiến dịch để bảo toàn lực lượng, tổ chức chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng Lào

Ta loại khỏi vòng chiến đấu 6.500 tên, diệt 5 tiểu đoàn, đánh thiệt hại 4 tiểu đoàn Nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại của địch bị phá hủy và phá hỏng Khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng được giải phóng Với chiến thắng trong chiến dịch mang tên 139, Đông Xuân năm 1970, ta đã đập tan cố gắng quân sự cao nhất của đế quốc Mỹ và tay sai trong việc tăng cường chiến tranh đặc biệt ở Lào, khôi phục

và mở rộng vùng giải phóng Lào, làm thất bại âm mưu ngăn chặn và bóp nghẹt cách mạng miền Nam của

Mỹ

Trên chiến trường miền Nam Việt Nam, tháng 3 năm 1970 quân giải phóng Tây Nguyên mở chiến dịch Đắc Siêng (Bắc Kon Tum) Từ ngày 31 tháng 3 đến ngày 28 tháng 4 năm 1970, quân ta tiêu diệt 361 tên địch, bắt sống 86 tên khác, thu 122 súng các loại, bắn rơi, phá hủy 17 máy bay các loại Với chiến thắng

Trang 12

Đắc Siêng, Tây Nguyên đã sáng tạo một hình thức chiến thuật dùng bao vây công kích liên tục để đánh tiêu diệt các đơn vị địch đóng quân dã ngoại (trận núi Éc trong chiến dịch Đắc Siêng)

Ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, Khu 5, Trị Thiên, chiến tranh du kích sau một thời gian chìm lắng, nay trỗi dậy phát triển mạnh, tiêu diệt các đồn bốt nhằm cô lập địch, hỗ trợ cho nhân dân phá thế kìm kẹp của địch, giải phóng được nhiều vùng địch đã lấn chiếm trước đây Các đơn vị chủ lực cơđộng bắt đầu di chuyển xuống các vùng ven đô thị và vùng giáp ranh, tạo ra một thế đứng mới chủ động trên các chiến trường

Giữa lúc cách mạng Việt Nam ở miền Nam đang hồi phục và trên đà phát triển, ngày 8 tháng 3 năm 1970,

đế quốc Mỹ chỉ huy bọn tay sai Lon-non Xi-rích Ma-tắc làm cuộc đảo chính lật đổ chính phủ trung lập Vương quốc Cam-pu-chia do Hoàng thân Xi-ha-núc đứng đầu Tình hình Cam-pu-chia xấu đi rõ rệt Mới lên cầm quyền, Lon-non đã gửi tối hậu thư cho chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa miền Nam Việt Nam, buộc lực lượng ta phải rời khỏi Cam-pu-chia trong vòng 48 giờ; trong khi đó chúng đưa quân ngụy Nông Pênh áp sát biên giới Việt Nam từ Tây Ninh, Kiến Tường đến Châu Đốc, Hà Tiên Cách mạng Việt Nam ở miền Nam, Lào, Cam-pu-chia đang đứng trước những thử thách nghiêm trọng

Động viên nỗ lực cao nhất của cả nước, đoàn kết với nhân dân Cam-pu-chia và Lào, kiên quyết đánh bại

âm mưu, hành động mở rộng chiên tranh ra toàn cõi Đông Dương của Mỹ

Sau cuộc đảo chính Xi-ha-núc, ngày 4 tháng 4 năm 1970, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chỉ thị cho Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền (B2), Tây Nguyên chuẩn bị sẵn sàng lực lượng và kế hoạch tác chiến để khi bạn yêu cầu, sẽ giúp đỡ bạn giành quyền làm chủ ở các tỉnh tiếp giáp với ta Bộ Chính trị nhắc các chiến trường “cần nghiên cứu tổ chức, bố trí lại lực lượng cho thích hợp với tình hình mới, bảo đảm đẩy mạnh tiến công ở miền Nam, giúp cách mạng Cam-pu-chia có hiệu lực vừa mạnh, vừa vững chắc, chủ động và lâu dài”

Ngày 24 tháng 4 năm 1970, Hội nghị cấp cao nhân dân Đông Dương được tổ chức tại Trung Quốc, gần biên giới Việt Nam - Lào nhằm tăng cường đoàn kết giữa nhân dân ba nước Đông Dương chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước Hội nghị gồm những người đứng đầu Việt Nam dân chủ cộng hòa, Phạm Văn Đồng; Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ; Vương quốc Cam-pu-chia Hoàng thân Xi-ha-núc; và Pa-thét Lào Hoàng thân Xu-pha-nu-vông Thủ tướng Quốc vụ viện nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai cũng tham gia hội nghị

Tại hội nghị, Thủ tướng Phạm Văn Đồng phát biểu: Trên đà thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở ba nước chúng ta, và trong tình hình rất nghiêm trọng hiện nay do sự can thiệp và xâm lược của đế quốc Mỹ gây ra

Hội nghị cấp cao của nhân dân Đông Dương lần này là hội nghị tăng cường đoàn kết, xiết chặt hàng ngũ của nhân dân Cam-pu-chia, nhân dân Lào và nhân dân Việt Nam để kiên trì và đẩy mạnh chiến đấu ngoancường và quyết liệt, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn Các đại biểu tham dự hội nghị căm phẫn lên án hành động xâm lược của đế quốc Mỹ và nhất trí, quyết tâm lãnh đạo nhân dân ba nước đoàn kết chiến đấuchống Mỹ và bè lũ tay sai của mỗi nước Hội nghị đã ra một bản tuyên bố chung có tính chất cương lĩnh

Trang 13

đấu tranh của nhân dân ba nước Đông Dương, đồng thời cũng là hiến chương về mối quan hệ đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia.

Ngày 30 tháng 4 năm 1970, đế quốc Mỹ huy động 10 vạn quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn vượt biên giới, tiến công xâm lược Cam-pu-chia, nhằm xóa bỏ nền trung lập Cam-pu-chia, đưa nước này vào quỹ đạo của Mỹ, phá “đất thánh của Việt cộng” trên đất Cam-pu-chia, cắt đứt hành lang vận chuyển của ta qua cảng Xi-ha-núc Vin và bao vây, uy hiếp cách mạng miền Nam Việt Nam từ hướng tây

Những hành động của đế quốc Mỹ được Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta chỉ rõ: Đây là một trong những sai lầm chiến lược rất quan trọng của Mỹ, ta phải nắm lấy để đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ba nước Đông Dương sang giai đoạn phát triển mới Đông Dương trở thành một chiến trường thống nhất, là đặc điểm mới trong cuộc kháng 20’ chiến chống Mỹ Bộ Chính trị chỉ thị cho Trung ương Cục và Quân ủy Miền phải quán triệt nhiệm vụ của lực lượng vũ trang ta trong tình hình mới:

“Đoàn kết chiến đấu với nhân dân Cam-pu-chia, cùng nhau chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, phối hợp chặt chẽ với bạn, làm thất bại âm mưu quân sự của địch trên chiến trường Cam-pu-chia, giữ vừng và mở rộng cho được những địa bàn đứng chân của ta và căn cứ của bạn, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân Cam-pu-chia và của Việt kiều, bảo đảm các dường giao thông chiến lược và các cơ sở hậu cần của ta,đồng thời tích cực giúp cách mạng Cam-pu-chia phát triển và củng cố theo phương hướng đã định, chủ động đánh nhanh, đánh mạnh, đánh liên tục nhằm tạo nên một chuyển biến có lợi cho ta trong một thời gian ngắn trong khi địch chưa kịp củng cố, đồng thời chuẩn bị đối phó với khả năng khó khăn và kéo dài "

Bộ Chính trị đánh giá: “Cam-pu-chia là một địa bàn khá quan trọng về mặt quốc tế, nên ta cần ngăn chặn

và hạn chế sự tập hợp của các lực lượng phản động quốc tế ta phải làm nhanh, làm mạnh phát động được nhân dân Cam-pu-chia nổi dậy càng mạnh mẽ bao nhiêu, càng làm cho bọn đế quốc và lực lượng phản động khác lăm le can thiệp vào Cam-pu-chia phải lúng túng bấy nhiêu”

Trên tinh thần đoàn kết chiến đấu mà Hội nghị cấp cao nhân dân Đông Dương đã xác định, đồng thời thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị, ta đã phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Cam-pu-chia mở cuộc phản công nhằm đánh bại âm mưu và hành động mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương của

đế quốc Mỹ

Cuộc phản công được mở trên cả hai hướng Hướng Đông và Đông Nam có các Sư đoàn 1, 5, 7, 9 bộ đội chủ lực Miền dưới sự lãnh đạo và chỉ huy trực tiếp của đồng chí Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục và đồng chí Hoàng Văn Thái, Tư lệnh Bộ chỉ huy quân sự Miền từ Nam Bộ đánh sang Hướng Đông Bắc có các trung đoàn 24, 95 và Tiểu đoàn 631 độc lập do các đồng chí Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh và Trần Thế Mông Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên từ Tây Nguyên tiến sang và từ Hạ Lào đánh xuống

Mặc dù chưa quen chiến trường mới lạ với điều kiện địa hình phức tạp, thời gian chuẩn bị gấp, nhưng với quyết tâm cao, các lực lượng vũ trang ta đã phối hợp chặt chẽ với bạn chiến đấu giành thắng lợi lớn Chỉ sau 2 tháng (cuối tháng 4 đến cuối tháng 6 năm 1970), ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 17.000 tên địch, (trong đó có hàng ngàn tên Mỹ), phá hủy trên 1.500 xe quân sự, (trong đó có 750 xe tăng và xe bọc thép), thu 113 xe vận tải, hơn 5.000 súng các loại 400 tấn đạn, 1.570 tấn gạo, 100 tấn thuốc và nhiều đồ dùng quân sự khác Ta đã giúp bạn giải phóng hoàn toàn 5 tỉnh đông bắc Cam-pu-chia với hơn 4 triệu dân

Trang 14

Thắng lợi quân sự trên chiến trường, cùng với phong trào phản đối mạnh mẽ của nhân dân thế giới kể cả nhân dân Mỹ, ngày 30 tháng 6 năm 1970, Ních-xơn phải tuyên bố rút quân khỏi Cam-pu-chia Đây là thấtbại nặng nề đầu tiên của việc ứng dụng Học thuyết Ních-xơn trên chiến trường ba nước Đông Dương.

Nhân cơ hội quân Mỹ - ngụy Sài Gòn đang bị sa lầy ở chiến trường Cam-pu-chia, các lực lượng vũ trang giải phóng tiến công vào hàng loạt căn cứ địch ở các thành phố, thị xã và tuyến phòng thủ vòng ngoài củachúng trên toàn miền Nam Việt Nam

Ở Trị Thiên, Sư đoàn 324 cùng lực lượng vũ trang địa phương tiến công vào tuyến giữa hệ thống phòng thủ tây Thừa Thiên Khu 5, Sư đoàn 2 và chủ lực Mặt trận 4 tiến công tuyến phòng thủ cơ bản của địch ở Thượng Đức, Hiệp Đức, các căn cứ đóng quân của lữ đoàn 198, lữ đoàn 11 Sư đoàn A-mê-ri-cơn Sư đoàn 3 tiến công cứ điểm Núi đá và cùng với lực lượng vũ trang tỉnh Bình Định tiêu diệt 15 cứ điểm địch

ở Hoài ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ

Ở Tây Nguyên, ta vây ép cụm cứ điểm Đắc Siêng, đánh bại các cuộc phản kích của trung đoàn 21 ngụy

Tại cực Nam Trung Bộ, ta liên tục tập kích vào căn cứ Sông Mao, đánh thiệt hại sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn

23 và sở chỉ huy trung đoàn 44 ngụy

Ở Nam Bộ ta liên tục tiến công vào các cứ điểm, sở chỉ huy các chiến đoàn, Sư đoàn ngụy, bẻ gãy nhiều cuộc hành quân lấn chiếm của địch, bảo vệ vững chắc căn cứ của ta

Cùng với đòn tiến công quân sự, trên mặt trận chống phá bình định, quân và dân miền Nam ta cũng thu được kết quả đáng kể Chỉ trong 6 tháng đầu năm 1970, quân và dân đồng bằng sông Của Long đã bao vây, bức rút gần 1.000 đồn bốt, phá hỏng 1.600 ấp chiến lược và khu dồn dân, làm chủ 320 ấp với 40 vạn dân

Ở Khu 5, từng mảng hệ thống cứ điểm địch bị, phá vỡ, gần 2.000 ác ôn đầu sỏ bị tiêu diệt Chương trình bình định của địch từ đầu năm 1970 đã chững lại

Những thắng lợi của ta trong nửa đầu năm 1970 trên chiến trường ba nước Đông Dương đã mở ra bước ngoặt mới để ta đưa cuộc kháng chiến vượt qua những khó khăn ác liệt, tiếp tục phát triển đi lên trong những năm sau

Từ khi Ních-xơn công khai mở rộng chiến tranh xâm lược sang Cam-pu-chia và Lào, nhân dân Mỹ càng nhận ra rằng chính phủ đã lừa dối họ thật sự Chiến tranh chẳng những không chấm dứt như hàng triệu người dân Mỹ cũng như trên thế giới mong đợi, mà ngày càng lan rộng, ác hệt hơn trước Họ phẫn nộ lên tiếng phản đối chính quyền Ních-xơn Phong trào chống chiến tranh Việt Nam, chống chính phủ Ních-xơn bùng lên mạnh mẽ dưới hình thức biểu tình, tuần hành của các tầng lớp nhân dân Mỹ Hơn 200 tổ chức chống chiến tranh của Uy ban phối hợp toàn quốc đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược ViệtNam được thành lập ở hầu hết các bang nước Mỹ, thu hút hàng vạn công dân Mỹ tham gia Đặc biệt cuộc bãi khóa của sinh viên Mỹ thuộc 1.000 trường cao đẳng và đại học tháng 5 năm 1970, phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của chính quyền Phong trào chống chiến tranh xâm lược Việt Nam

Trang 15

không chỉ diễn ra trong nước Mỹ mà lan rộng trên toàn thế giới Tính ra có đến 160 triệu thanh niên thuộcnhiều nước ở khắp các châu lục ghi tên tình nguyện sang giúp nhân dân Việt Nam đánh Mỹ Ở 16 nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ La-tinh và châu Âu có phong trào hiến máu và quyên góp tiền ủng hộ nhân dân Việt Nam Cảm động trước những tấm lòng cao cả ấy, nhân dân Việt Nam mãi mãi ghi sâu những đóng góp đầy tình hữu nghị của bè bạn trên thế giới Những cuộc đấu tranh đó đã tác động đến nhiều nghị

sĩ quốc hội Mỹ đứng về phía nhân dân tiến bộ Mỹ phản đối chiến tranh Ngày 6 tháng 4 năm 1970, Quốc hội Mỹ buộc phải bỏ phiếu chấm dứt hiệu lực Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ, tước quyền sử dụng quân đội Mỹ

ở nước ngoài của tổng thống Ngày 30 tháng 4, Thượng nghị viện Mỹ thông qua quyết định bổ sung cấm việc sử dụng quân Mỹ ở Cam-pu-chia Cùng ngày, Ních-xơn phải tuyên bố rút quân Mỹ khỏi Cam-pu-chia Đó là thất bại có tính chất chiến lược của Ních-xơn và chính quyền hiếu chiến Mỹ

Chiến tranh còn diễn biến phức tạp và ác liệt trên nhiều mặt, những gì ta và bạn giành được trong năm

1969 và nửa đầu năm 1970 là rất quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, mở ra thời cơ và thế chiến lược mới cho cách mạng 3 nước Đông Dương Từ nay 3 nước Đông Dương có một vùng căn cứ cách mạng rộng lớn bao gồm vùng đông bắc Cam-pu-chia, Hạ Lào và Đông Nam Bộ, Tây Nguyên nối với miền Bắc xã hội chủ nghĩa

Mặc dù, ta đã giành được những thắng lợi to lớn, nhưng đến lúc này nhiều vấn đề mới đặt ra trong sự pháttriển của từng chiến trường và cục diện chiến tranh cần phải nghiên cứu giải quyết, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng thấy cần kịp thời đề ra những chủ trương, quyết sách lãnh đạo, đưa cách mạng tiến lên Trên tinh thần đó, ngày 19 tháng 6 năm 1970, Bộ Chính trị họp ra Nghị quyết về “tình hìnhmới ở bán đảo Đông Dương và nhiệm vụ mới của chúng ta” Bộ Chính trị nhận định, tình hình Cam-pu-chia là sự kiện nổi bật nhất trong thời gian gần đây trên bán đảo Đông Dương, “tuy đã bị thất bại nặng nề,nhưng do bản chất ngoan cố, lại còn có tiềm lực đế quốc Mỹ sẽ tìm cách kéo dài chiến tranh, vừa xuống thang, vừa phản công bộ phận, vừa rút quân Mỹ, vừa tiếp tục những hành động phiêu lưu trong thế bị động và thất bại; chúng còn tìm cách mở rộng chiến tranh xâm lược ra các nước trên bán đảo Đông Dương theo phương thức và hạn độ chúng cho là có lợi và thích hợp nhằm phối hợp với “Việt Nam hóa”

ở miền Nam Việt Nam và để đàn áp cách mạng Cam-pu-chia, Lào; đồng thời chúng sẽ dựa vào bọn tay sai để xây dựng tuyến chiến lược mới bao gồm miền Nam Việt Nam, Cam-pu-chia, Lào, Thái Lan, ra sức tập hợp bọn phản động khác ở châu Á nhằm tiếp sức cho đế quốc Mỹ trên chiến trường Đông Dương Nhưng trước âm mưu xảo quyệt và hành động phiêu lưu của đế quốc Mỹ, “Mặt trận đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương chống Mỹ đã phát triển lên một bước mới rất cơ bản”

Từ nhận định trên, Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ cho quân và dân ta là: “Động viên nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên cả hai miền nước ta, tăng cường khối đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương, làm cho lực lượng của ba nước trở thành một khối thống nhất, có một chiến lược chung, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ba nước chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai” Miền Nam Việt Nam được Bộ Chính trị xác định là chiến trường quan trọng nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ba nước Đông Dương Quân chủ lực ngụySài Gòn là lực lượng nòng cốt để thực hiện “Việt Nam hóa”, “Khơ-me hóa”, “Lào hóa” chiến tranh Vì vậy, chúng ta phải “kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến, kết hợp chặt chẽ hơn nữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và binh vận, tiếp tục xây dựng thế tiến công chiến lược mới ngày càng mạnh mẽ, tiêu diệt thật nhiều lực lượng quân sự của Mỹ - ngụy Tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng quân độingụy tay sai, tập trung lực lượng đập tan kế hoạch bình định và âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh” làm thất bại chiến lược phòng ngự và kéo dài chiến tranh của chúng”

Trang 16

Trên cơ sở nhiệm vụ chung, mỗi chiến trường có đặc điểm và tính chất khác nhau, Bộ Chính trị cho rằng Cam-pu-chia là chiến trường mới mở Tại đây đang diễn ra một kiểu chiến tranh xâm lược rất đặc biệt vớilực lượng tham gia không chỉ có tay sai bản xứ với sự viện trợ của Mỹ, mà có lúc, quân Mỹ cũng trực tiếptham gia, lại có quân ngụy Nam Việt Nam làm nòng cốt Thắng lợi của nhân dân Cam-pu-chia không những có tác dụng quyết định đối với cách mạng nước này mà còn có tác dụng quan trọng đối với cách mạng miền Nam Việt Nam và Lào Nhiệm vụ của chúng ta là phải “ra sức giúp đỡ bạn và phối hợp với bạn nắm vững thời cơ, tiếp tục phát triển thế tiến công liên tục, đưa cách mạng Cam-pu-chia tiến lên mạnh mẽ” Vấn đề quan trọng là phải tiêu diệt quân ngụy Nam Việt Nam vì đây là lực lượng nòng cốt trên chiến trường này Do đó phải có chủ trương và biện pháp cụ thể để thực hiện.

Lào là một chiến trường quan trọng Từ khi chiến tranh mở rộng sang Cam-pu-chia, vị trí của chiến trường này càng trở nên hiểm yếu, nhất là bộ phận Trung, Hạ Lào vì đó là hành lang nối liền hậu phương miền Bắc nước ta với chiến trường miền Nam và Cam-pu-chia “Chúng ta cần ra sức giúp đỡ bạn và phối hợp với bạn tiếp tục khuếch trương thắng lợi vừa qua, kiên quyết tiến công định về mọi mặt, đưa cách mạng Lào tiếp tục tiến lên” Nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết trong thời gian tới là “Giúp đỡ bạn và phối hợp với bạn mở rộng và xây dựng vùng Trung, Hạ Lào thành căn cứ địa ngày càng vững mạnh, có kế hoạch sẵn sàng đánh bại các cuộc tiến công lớn hoặc những hành động lấn chiếm của địch, bảo vệ hành lang chiến lược của ta” Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ba nước Đông Dương đòi hỏi phải có một chiến lược chung Chiến lược đó hướng vào mục đích “đánh bại âm mưu kéo dài và tăng cường chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên bán đảo Đông Dương, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi quyết định ở miền Nam Việt Nam, ở Cam-pu-chia và lào, đuổi đế quốc Mỹ ra khỏi Nam Việt Nam và toàn cõi Đông Dương”

Miền Bắc lúc này, không chỉ là hậu phương lớn của tiền tuyến miền Nam mà còn là hậu phương chung của cả cách mạng Lào và Cam-pu-chia Nhiệm vụ của chúng ta ở miền Bắc là: “Phải ra sức động viên sứcngười sức của chi viện cho tiền tuyến góp phần lớn nhất của mình vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta ở miền Nam cũng như của nhân dân hai nước Cam-pu-chia và Lào

Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 6 năm 1970 là sự phát triển của Nghị quyết Trung ương 18 (1-1970) Nó thể hiện tầm nhìn chiến lược rộng lớn và sâu sắc của Đảng ta Nghị quyết đã đáp ứng kịp thời yêu cầu củatình hình đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra cả bán đảo Đông Dương

Nhằm động viên hơn nữa nỗ lực của quân và dân miền Bắc phát huy sức mạnh của hậu phương lớn phục

vụ các chiến trường, tháng 6 năm 1970, Bộ Chính trị quyết định thành lập Hội đồng chi viện Trung ương Đồng chí Đỗ Mười, ủy viên Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ được cử làm Chủ tịch

Cũng trong tháng 6 năm 1970, Quân ủy Trung ương tổ chức hội nghị bàn các biện pháp cấp bách nhằm phát triển lực lượng củng cố tuyến vận tải chiến lược Từ đây Đoàn 559 được sáp nhập thêm Mặt trận 968

và Đoàn chuyên gia quân sự 565 ở Hạ Lào để xây dựng thành một đơn vị tương đương cấp quân khu do Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp lãnh đạo và chỉ huy Đồng chí Đồng Sĩ Nguyên được

cử làm Tư lệnh, đồng chí Đặng Tính làm Chính ủy

Cùng với củng cố và phát triển tuyến vận tải chiến lược, Quân ủy Trung ương chủ trương đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng chủ lực mạnh làm trụ cột cho cả chiến trường Đông Dương Theo phương hướng này,

Trang 17

các Sư đoàn chủ lực 308, 304, 312, 320 được tập trung củng cố, huấn luyện nâng cao sức mạnh chiến đấu

và khả năng cơ động Các Sư đoàn 325, 320B được chuyển từ nhiệm vụ huấn luyện quân bổ sung thành

Sư đoàn cơ động trực thuộc Bộ Sư đoàn 316 làm nhiệm vụ ở Lào được tăng cường thành phần binh chủng Một số đơn vị binh chủng như pháo binh, đặc công, thông tin, công binh được xây dựng thêm, bộ đội chủ lực ở miền Nam cũng được xây dựng đủ mạnh để có thể đánh những trận tiêu diệt lớn

Trong lúc ta đang củng cố, tăng cường phát triển lực lượng, thì Mỹ - ngụy ở miền Nam đẩy mạnh kế hoạch bình định, giành được một số vùng nông thôn đồng bằng đông dân ở Nam Bộ và Khu 5, đã tạo điềukiện thuận lợi cho địch bắt lính, tăng quân Đến cuối năm 1970 quân đội Sài Gòn đã có 70 vạn trong đó

có 35 vạn quân chính quy Quân ngụy Lon-non ở Cam-pu-chia cũng được Mỹ chú trọng xây dựng từ 4 vạn tháng 3 năm 1970 đến cuối năm tăng lên 12 vạn tên Ngụy Lào có 6 vạn (tăng 1 vạn), chưa kể 10 tiểu đoàn quân Thái -Lan vẫn hoạt động trên chiến trường này Quân Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam lúc này vẫn còn gần 40 vạn

Tuy đã bị thất bại liên tiếp trên chiến trường ba nước Đông Dương, song Mỹ - ngụy vẫn ngoan cố tiếp tụcthực hiện các mục tiêu của Việt Nam hóa chiến tranh, trước mắt là củng cố Cam-pu-chia không xấu thêm

và giằng co với ta ở Lào Để đạt được mục tiêu trên, Mỹ cho rằng phải cắt đứt được hoàn toàn tuyến vận tải chiến lược của ta làm cho các lực lượng chiến đấu của ta ở chiến trường không còn nguồn chi viện về người và vật chất kỹ thuật lúc đó cách mạng miền Nam sẽ tàn lụi, Việt Nam hóa chiến tranh sẽ thành công

Một trong những trọng điểm mà Mỹ nhằm vào là khu vực Đường 9 - Nam Lào Theo địch, đây là nơi tập trung nhiều kho tàng dự trừ chiến lược của ta, là cuống họng của tuyến vận tải chiến lược 559 Vì vậy, chúng sử dụng một lực lượng lớn mở cuộc hành quân mang tên Lam Sơn 719 đánh vào khu vực này Cùng với cuộc hành quân Lam Sơn 719, Mỹ - ngụy còn mở cuộc hành quân “Toàn thắng 1-1971” đánh sang vùng đông bắc Cam-pu-chia và cuộc hành quân “Quang Trung 4” đánh ra Vùng 3 biên giới tại tỉnh Kon Tum Cùng một lúc mở 3 cuộc hành quân tại 3 địa điểm trên tuyến hành lang chiến lược Bắc - Nam,

âm mưu của Mỹ là phân tán lực lượng chủ lực của ta để chúng tập trung đánh sang Nam Lào; đồng thời thực hiện chia cắt “kép” tuyến hành lang chiến lược của ta ở điểm Sê Pôn, A-tô-pơ, Mỏ Vẹt - Lưỡi Câu, trọng điểm là Sê Pôn

Sớm nhận rõ âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù, từ tháng 6-1970, Bộ Chính trị đã nhận định mùa khô

1970-1971, địch có thể mở những cuộc tiến công với quy mô vừa và lớn vào vùng Trung và Hạ Lào, đông bắc Cam-pu-chia Mùa Hè năm 1970, Bộ Tổng tham mưu bắt đầu vạch kế hoạch tác chiến, chuẩn bị chiến trường và điều động lực lượng ém sẵn ở các hướng dự kiến địch có thể tiến công lớn

Ở khu vực đường 9, các lực lượng thuộc mặt trận B4, B5 gấp rút điều chỉnh lực lượng, tổ chức thế trận sẵn sàng đánh địch Sư đoàn 2 chủ lực Quân khu 5 cũng được bí mật điều động từ Quế Sơn lên khu vực này Các cơ quan tiền phương của Tổng cục Hậu cần, Đoàn 559 gấp rút xây dựng tuyến hậu cần chiến dịch Tháng 11 năm 1970, các trạm hậu cần và các cụm kho chiến dịch bắt đầu được xây dựng Một số đoạn đường mới được mở thêm, bảo đảm cho các đơn vị vận tải cơ giới vận chuyển vật chất vào các khu tập kết chiến dịch

Tính đến tháng 1 năm 1971, dự trữ vật chất của các binh trạm thuộc Đoàn 559 trên các hướng chiến dịch

đã đạt 6.000 tấn, cùng với dự trữ của Bộ, có thể bảo đảm cho 5 đến 6 vạn quân tác chiến trong thời gian

Trang 18

là bước phiêu liêu quân sự cực kỳ nghiêm trọng của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.

Bộ Chính trị đã chỉ thị cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng:

"Nhất thiết phải đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người sức của và hy sinh như thế nào, vì đây là một trong những trận có ý nghĩa chiến lược, thắng trận này, không những ta giữ được tuyến vận tải chiến lược, tiêu diệt được một bộ phận quan trọng quân chủ lực địch, phá hủy một khối lượng lớn phươngtiện chiến tranh của chúng, làm thất bại cố gắng cao nhất trong quá trình thực hiện “Việt Nam hóa chiến tranh”, tạo chuyển biến căn bản có tính chiến lược cho phong trào cách mạng ba nước Đông Dương Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn

719 của Mỹ - ngụy ở Đường 9 - Nam Lào

Ngày 7 tháng 2 năm 1971, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Đường 9 với mật danh Bộ tư lệnh 702 được thành lập do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Phó tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê QuangĐạo - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy Đại tá Cao Văn Khánh - Phó tư lệnh đại tá Phạm Hồng Sơn - Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng, đại tá Hoàng Phương - Phó chính ủy Thượng tướng Văn Tiến Dũng - ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng được cử làm đại diện của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh tại mặt trận chỉ đạo chiến dịch

Lực lượng tham gia chiến dịch, nòng cốt là binh đoàn 70 với 3 Sư đoàn bộ binh 308, 304, 320; Sư đoàn 2 chủ lực Quân khu 5, Sư đoàn 324 chủ lực Quân khu Trị Thiên, các lực lượng tại chỗ của B4 (Quân khu Trị Thiên) và B5 (Mặt trận Đường 9 - bắc Quảng Trị), 4 trung đoàn pháo mặt đất, 3 trung đoàn cao xạ, trung đoàn công binh, 4 tiểu đoàn thiết giáp, một số tiểu đoàn đặc công của Bộ và lực lượng Đoàn 559

Từ 30 tháng 1 năm 1971, khi địch bắt đầu triển khai lực lượng chuẩn bị phát động tiến công, thì các lực lượng chiến đấu của ta trên toàn mặt trận cũng nhanh chóng tổ chức đội hình, tạo thế trận sẵn sàng đánh địch Các bộ phận thuộc Đoàn 559 khẩn trương chấn chỉnh tổ chức, bổ sung nhiệm vụ cho phù hợp với yêu cầu chiến đấu Một số cán bộ cơ quan ở các binh trạm và kho được rút bớt để tổ chức thêm lực lượng chiến đấu, lực lượng phòng không được tăng cường để bảo vệ tuyến vận chuyển, các kho tàng gần các trọng điểm địch đánh phá được sơ tán để bảo đảm an toàn Các đơn vị thuộc Binh đoàn 70 và Sư đoàn 2 khẩn trương hành quân đến các vị trí tập kết Các lực lượng của B5 cũng gấp rút được triển khai theo phương án đánh địch đã xác định Đến ngày 7 tháng 2 năm 1972, việc bố trí lực lượng theo kế hoạch chiến dịch về cơ bản đã hoàn tất

Ngày 8 tháng 2 năm 1971, địch chính thức mở cuộc hành quân Lam Sơn 7 19 đánh sang Đường 9 - Nam Lào Dưới sự yểm trợ đắc lực của không quân và hỏa lực Mỹ, 7 trung đoàn bộ binh, dù, thiết giáp ngụy

Trang 19

Sài Gòn hình thành 3 cánh vượt biên giới đánh sang Nam Lào Cánh chủ yếu do chiến đoàn đặc nhiệm bao gồm lữ đoàn 1 dù, 2 thiết đoàn số 11 và 17 theo đường 9 qua Lao Bảo đánh chiếm Bản Đông, Sê Pôn.Hai cánh khác ở phía bắc có lữ đoàn 3 dù, liên đoàn 1 biệt động quân và phía nam do Sư đoàn 1 bộ binh đảm nhiệm chiếm các điểm cao phía bắc đường số 9 và phía nam sông Sê Pôn, khu vực Sa Đi, Mường Noọng, bảo vệ hai bên Sườn cho cánh quân chủ yếu.

Ngay khi địch vừa xuất phát hành quân, Bộ tư lệnh mặt trận ra lệnh cho các lực lượng tại chỗ đánh ngăn chặn, làm chậm bước tiến của địch, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực cơ động đánh những trận tiêu diệt lớn Ở phía bắc đường 9, trong những ngày đầu tiên, lực lượng tại chỗ đã bắn rơi hàng chục máy bay lên thẳng của địch khi chúng đổ quân xuống khu vực này Kết hợp với lực lượng tại chỗ, các đơn vị thuộc Binh đoàn 70 kịp thời cơ động lực lượng đến tiến công vào cánh quân bảo vệ Sườn phía bắc của địch Đến ngày 3 tháng 3 năm 1971, lữ đoàn 3 dù và liên đoàn 1 biệt động quân bảo vệ Sườn phía bắc bị ta đánh thiệt hại nặng

Phía nam, các chốt, điểm tựa phòng ngự trên các điểm cao do lực lượng tại chỗ của Đoàn 559 đảm nhiệm đánh địch đạt kết quả tốt và cùng với Sư đoàn 394 (thiếu) đẩy lùi được mũi tiến công phía nam của địch

và đánh thiệt hại cánh quân này

Trên hướng chủ yếu trục đường số 9, trong 2 ngày 8 và 9 tháng 2 năm 1971, Trung đoàn 24 Sư đoàn 304

và lực lượng tại chỗ của Đoàn 559 đã chặn đánh và bẻ gãy nhiều đợt tiến công vượt biên giới của quân ngụy Sài Gòn, giữ vừng điểm tựa 351

Ngày 10 tháng 2 năm 1971, địch dùng một lực lượng lớn với trên 100 xe tăng, thiết giáp chở chiến đoàn đặc nhiệm có sự chi viện mạnh của hỏa lực pháo binh, vượt qua trước điểm tựa 351 lên Bản Đông Đồng thời chúng dùng máy bay lên thẳng đổ tiểu đoàn 9 dù xuống Bản Đông Do điểm tựa 351 cách xa đường (khoảng 400 mét), địch lại dùng tốc độ cao kết hợp thả khói màu che khuất; hệ thống phòng ngự ở Bản Đông của ta chưa đủ mạnh và chắc, nên ta đã để mất Bản Đông

Từ ngày 10 tháng 2, một mặt ta sử dụng lực lượng vây chặt địch tại Bản Đông, kiên quyết không cho chúng phát triển lên Sê Pôn, mặt khác ta tiếp tục đánh cắt đường số 9 đoạn Lao Bảo - Bản Đông, nhằm chặn tiếp tế đường bộ và cô lập địch

Hai cánh quân địch bảo vệ sườn phía bắc và nam đường 9 bị đánh thiệt hại nặng, lực lượng chủ yếu của địch bị ta vây chặn ở Bản Đông không phát triển được, chúng buộc phải đưa lực lượng dự bị chiến lược vào tham chiến

Ngày 28 tháng 2 năm 1970, lữ đoàn 2 dù, 2 thiết đoàn 4 và 7 (lực lượng phát triển lên Sê Pôn theo kế hoạch chúng đã dự tính) được tung vào tăng cường phòng thủ Bản Đông và bảo vệ đường 9 đoạn Lao Bảo - Bản Đông Trong khi ở mặt trận chính, địch bị ta đánh thiệt hại trên các hướng phải co cụm chống

đỡ không thực hiện được ý đồ đánh chiếm Sê Pôn, thì ở tuyến sau các lực lượng của Mặt trận Đường 9 - bắc Quảng Trị liên tiếp tổ chức các trận phục kích giao thông, pháo kích và tập kích vào các căn cứ hậu cần, sở chỉ huy của địch ở Khe Sanh, Sa Mưu, Đông Hà, Ái Tử gây nhiều tổn thất về sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ, ngụy

Trang 20

Bị bất ngờ vì chủ lực ta xuất hiện sớm ngoài dự kiến, lại bị đánh thiệt hại nặng ngay từ đầu, nên địch lúngtúng tìm cách đối phó Trong thế bất lợi đó, để tiếp tục thực hiện ý đồ của cuộc hành quân, địch đã tăng cường thêm lực lượng và chuyển cánh phía nam (do Sư đoàn 1 bộ binh đảm nhiệm thành hướng chủ yếu

để phát triển lên Sê Pôn

Từ ngày 3 đến 6 tháng 3 năm 1971, địch dùng máy bay bay lên thẳng đưa phần lớn Sư đoàn 1 bộ binh xuống chiếm các điểm cao 660, 723, Phu Rệp, Phu Om ở nam đường 9 Sau khi tạo được bàn đạp, chúng

đổ 2 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 2, Sư đoàn 1 xuống đông bắc Sê Pôn Đồng thời, từ Bản Đông, địch cũng

tổ chức một mũi theo đường 9 đánh lên Sê Pôn để phối hợp với 2 tiểu đoàn của trung đoàn 2, Sư đoàn 1

Quyết không cho địch chiếm Sê Pôn và tiến xuống Sa Đi - Mường Noọng, Bộ tư lệnh chiến dịch điều Trung đoàn 64 của Sư đoàn 320 lên phía tây để tăng cường giữ Sê Pôn, dùng Sư đoàn 2 (thiếu) tiến công tiêu diệt Sư đoàn 1 và Trung đoàn 24 của Sư đoàn 304 đánh cắt đường 9 đoạn Lao Bảo – Bản Đông và đánh địch từ Lao Bảo về Hướng Hóa Sau khi Sư đoàn 1 của địch bị diệt, Sư đoàn 308 có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở Bản Đông Với sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị chủ lực cơ động với lực lượng tại chỗ, ta

Ở hướng chính của chiến dịch, trên cơ sở thế trận bao vây, ta tập trung lực lượng đánh tập đoàn chiến dịch chủ yếu của địch đang co cụm ở Bản Đông

Ngày 13 tháng 3 năm 1971, quân ta bắt đầu đột phá Bản Đông Trước sức tiến công mãnh liệt của ta, ngày 18 tháng 3 địch bắt đầu rút khỏi Bản Đông Ta công kích vào toàn bộ khu vực Bản Đông Đến 20 tháng 3 ta đã diệt 1.762 tên, bắt sống 107 tên, thu và phá hủy 113 xe quân sự, 24 khẩu pháo, bắn rơi 52 máy bay lên thẳng, trong đó có lữ đoàn dù 3, bắt sống đại tá Nguyễn Văn Thọ, lữ đoàn trưởng

Hỗ trợ cho hướng chính, ở cánh nam, ngày 16 tháng 3 năm 1971, Sư đoàn 2 được tăng cường 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 48, Sư đoàn 320 tiến công tiêu diệt đại bộ phận trung đoàn 1 của Sư đoàn 1 ngụy ở điểm

Trang 21

cao 723 (Phu Rệp).

Ngày 20 tháng 3, Sư đoàn 2 tiếp tục tiến công diệt 2 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 2 của Sư đoàn 1 ở điểm cao 660 Ngày 22 tháng 3, Sư đoàn 324 đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 147 thấy quân lục chiến ở điểm cao 550

Ngày 23 tháng 3 năm 1971, toàn bộ địch ở Đường 9 - Nam Lào bị ta quét sạch Chiến dịch phản công của

ta kết thúc thắng lợi sau 45 ngày chiến đấu quyết liệt ta diệt 2 lữ đoàn (lữ đoàn dù 3 và lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến), 1 trung đoàn bộ binh (trung đoàn 1 Sư l) và 5 tiểu đoàn khác (tiểu đoàn 39 biệt động quân, tiểu đoàn 8 dù, tiểu đoàn 2 của trung đoàn 3, tiểu đoàn 2 và 4 của trung đoàn 2 Sư đoàn l), 4 thiết đoàn (4, 7, 11 và 17), 8 tiểu đoàn pháo (3 tiểu đoàn pháo của Sư đoàn 1, hai tiểu đoàn pháo của Sư đoàn

dù, 1 tiểu đoàn pháo của lữ 147, 1 tiểu đoàn pháo của biệt động quân và 1 tiểu đoàn pháo của lữ đoàn kỵ binh không vận), đánh thiệt hại nặng Sư đoàn dù, Sư đoàn 1 bộ binh, Sư đoàn thủy quân lục chiến, bắn rơi

và phá hủy 556 máy bay (có 505 máy bay lên thẳng) , 43 tàu, xà lan, 1.138 xe quân sự (có 528 xe tăng và

xe bọc thép), 112 khẩu pháo và súng cối cỡ lớn

Đây là thắng lợi rất to lớn có ý nghĩa chiến lược, đúng như Bộ Chính trị đã đánh giá: “Thắng lợi trên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào đã đánh bại một bước quan trọng, mở ra triển vọng hiện thực đánh bại hoàn toànchiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và Học thuyết Ních-xơn ở Đông Dương của đế quốc Mỹ Lực lượng tinh nhuệ nhất của Sài Gòn bị đánh quỵ cũng làm gục luôn vai trò nòng cốt của chúng để thực hiện Học thuyết Ních-xơn dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương, do đó thắng lợi có ý nghĩa rất lớn đối với cục diện chiến tranh, không những ở miền Nam ta mà cả ở hai nước bạn Thắng lợi này là thắng lợi rực rỡ của đường lối chống Mỹ, cứu nước, của đường lối quân sự, của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta trong giai đoạn địch tiến hành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đỉnh cao của quátrình phiêu lưu mở rộng chiến tranh ra toàn bán đảo Đông Dương Ta đã nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công, tạo thế trận mới, tạo thời cơ chiến tranh mới, phối hợp chặt chẽ giữa quân và dân ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia theo tinh thần Đông Dương là một chiến trường, đẩy mạnh diệt địch và đánh phá

“bình định”, kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao Đây là thành công trong việc vận dụng nghệ thuật chiến dịch, điển hình là trong một chiến dịch tiêu diệt lớn Đã phát triển sáng tạo cách đánh, được xây dựng qua quá trình chiến tranh cách mạng mang kiểu cách Việt Nam Đồng thời nó cũng cho ta nhiều kinh nghiệm rất cơ bản trong việc chỉ đạo tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang, nhất là đối với bộ đội chủ lực” Để có thắng lợi này, bộ đội ta thương vong không ít, 2.163 đồng chí hy sinh, 6.176 đồng chí bị thương

Ngày 31 tháng 3 năm 1971, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã gửi thư khen ngợi cán bộ, chiến sĩ trên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào đã “đánh giỏi, thắng giòn giã, lập chiến công xuất sắc”

Song song với cuộc hành quân Lam Sơn 719 địch sử dụng lực lượng tới 23.000 quân, có 15 phi đoàn máybay Mỹ yểm trợ mở cuộc hành quân “Toàn thắng 1-1971” Mục tiêu mà chúng đặt ra trong cuộc hành quân này là phối hợp với Đường 9 - Nam Lào, phân tán lực lượng ta, tiêu diệt một bộ phận quan trọng chủ lực Quân giải phóng, phá căn cứ, kho tàng, hệ thống giao thông chiến lược, giải toả đường 7, lập phòng tuyến ngăn chặn ở Đông Bắc Cam-pu-chia

Cùng với đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở Lào, trên hướng Cam-pu-chia, ta bẻ gãy cuộc hành

Trang 22

quân “Toàn thắng 1-1971”, loại khỏi vòng chiến đấu 17.000 tên địch (có 15.000 ngụy Phnôm Pênh, 180 tên Mỹ, bắn cháy 1.500 xe quân sự (có 750 xe tăng, xe bọc thép), bắn rơi 200 máy bay các loại, phá hỏng

180 khẩu pháo Đây là thắng lợi có ý nghĩa rất quan trọng Nó đập tan cố gắng cuồl cùng của địch đánh sang Cam-pu-chia, tiêu diệt một số sinh lực quan trọng của chúng, phối hợp và chia lửa với chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào và chiến dịch Quang Trung 4 Tây Nguyên

Sau thất bại của cuộc hành quân “Toàn thắng l-1971”, địch tập trung lực lượng cố giữ cho được Snun hòng duy trì bàn đạp tiến công lấn chiếm vùng căn cứ cách mạng, hạn chế mọi hoạt động của lực lượng

vũ trang ta trong mùa mưa năm 1971 Snun là một thị trấn thuộc tỉnh Carachiê, cách thủ đô Phnôm Pênh 184km về phía đông bắc và cách Sài Gòn 136km về phía bắc, cách biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia 20km, nằm ở đầu mối giao thông then chốt nối đường 13 và đường số 7 có vị trí chiến lược quan trọng Lực lượng địch đóng ở đây có 1 chiến đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn 5, 1 tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp và trung đoàn thiết giáp số 1 của quân đội Việt Nam cộng hoà ngụy miền Nam Việt Nam

Từ ngày 25 tháng 5 năm 1971, Sư đoàn 5 và Sư đoàn 7 chủ lực Miền phối hợp với quân và dân chia tổ chức bao vây và tiến công mạnh vào quân địch ở Snun Địch phản kích quyết liệt hòng nới rộng vòng vây của ta Sau 5 ngày cố thủ, địch đã bị ta đánh thiệt hại nặng Trước tình thế nguy ngập, trưa 30 tháng 5 năm 1971, địch tháo chạy khỏi Snun theo đường 13 về Việt Nam Bộ đội ta tiếp tục truy kích Đến ngày 31 tháng 5, toàn bộ chiến đoàn bộ binh địch cùng trung đoàn thiết giáp số 1 và tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp bị tiêu diệt 1.500 tên địch chết và bị thương, 300 tên bị bắt, gần 200 xe quân sự bị tịch thu

Cam-pu-và phá hủy, 40 máy bay bị bắn rơi Đây là một trong những trận đánh hay, thắng lớn của bộ đội ta trên chiến trường đông bắc Cam-pu-chia

Cuộc hành quân Quang Trung 4 trên địa bàn Tây Nguyên bắt đầu từ ngày 27 tháng 2 năm 1971 Lực lượng địch tham gia trong cuộc hành quân này là trung đoàn 42 thuộc Sư đoàn 23, bộ binh, liên đoàn 2 biệt động quân Địch triển khai hành quân trong khi các đơn vị chủ lực Tây Nguyên đang chuẩn bị đợt tácchiến Xuân Hè 1971 trên hướng Đắc Siêng Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên lập tức chuyển phương án sang phản công địch Từ ngày 27 tháng - đến ngày 4 tháng 3 năm 19 71, các trung đoàn 6, 28, 31 đã đánh thiệt hại nặng các tiểu đoàn 1 và 2 của trung đoàn 42, tiểu đoàn 22 biệt động quân ở khu vực Ngọc Tô Ba

Vừa ra quân đã bị tổn thất nặng, địch phải rút khỏi Ngọc Tô Ba về phòng ngự trên tuyến Plây-cu - Đắc Mót - Tân Cảnh Lực lượng vũ trang Tây Nguyên từ phản công chuyển sang tiến công, hướng chủ yếu nhằm vào điểm cao Ngọc Rinh Rua - một vị trí quan trọng trên tuyến phòng ngự cơ bản của địch ở Bắc Tây Nguyên

Tại điểm cao này, ngày 31 tháng 3 năm 1971,Tiêu đoàn 7 Trung đoàn 66 cùng Đại đội đặc công 19 đã đánh diệt một tiểu đoàn địch, làm chủ trận địa

Ngay ngày hôm sau, Đại đội 8 pháo binh thuộc Trung đoàn 40 dùng chính những khẩu pháo đã thu được

ở Ngọc Rinh Rua bắn phá căn cứ Đắc Tô, Tân Cảnh Mất Ngọc Rinh Rua, tuyến phòng ngự của địch bị

vỡ một mảng quan trọng Quân đoàn 2 ngụy vội mở cuộc hành quân “Quang Trung 6” nhằm giải toả khu vực này Liên tục từ ngày 1 đến ngày 16 tháng 4 năm 1971, địch dùng tới 20 tiểu đoàn thuộc các Sư đoàn

22, 23, liên đoàn 2 biệt động quân, lữ đoàn 2 dù ra phản kích song không chiếm lại được vị trí đã mất,

Trang 23

ngược lại chúng còn bị diệt thêm 3 tiểu đoàn, 9 tiểu đoàn khác bị đánh thiệt hại nặng Quân ủy Trung ương đã gửi điện khen bộ đội Tây Nguyên “Đánh giỏi, lập công xuất sắc, trưởng thành nhanh chóng”.

Như vậy, trên cả 3 hướng địch mở các cuộc hành quân lớn là đông bắc Cam-pu-chia, Đtờng 9 - Nam Lào

và Vùng 3 biên giới đều bị ta đánh bại Ta không chi tập trung lực lượng bẻ gãy 3 cuộc hành quân lớn, trên các chiến trường từ Trị Thiên đến Nam Bộ, các lực lượng vũ trang ta hoạt động tích cực gây cho địchnhiều thiệt hại

Ở Trị Thiên, ta chặn đứng cuộc hành quân Lam Sơn 720 với, ý đồ đánh lên miền Tây Thừa Thiên của địch, loại khỏi vòng chiến đấu 1.000 tên, bắn rơi 30 máy bay

Ở Khu 5, quân và dân Quảng Nam làm phá sản cuộc hành quân “Quyết thắng OB” của l tiểu đoàn thuộc

Sư đoàn 2 ngụy đánh vào các huyện Đại Lâm, Quế Sơn

Ở Nam bộ, quân ta đánh vào các hậu cứ, sở chỉ huy, sân bay và các cụm phòng ngự của địch dọc biên giới, Bình Long, Phước Long, Tây Ninh Những thất bại liên tiếp trên chiến trường ba nước Đông Dương cho thấy quân chủ lực ngụy Sài Gòn không thể đảm đương nổi vai trò xung kích trên bán đảo Đông Dương, chúng đã suy yếu nghiêm trọng Trước tình hình đó, Mỹ chủ trương xây dựng phát triển ngụy Lon-non với hy vọng lực lượng này có thể tự đảm đương nhiệm vụ đối phó với phong trào cách mạng ở Cam-pu-chia đê quân chủ lực Sài Gòn rút về Nam Việt Nam Cuộc hành quân lớn đầu tiên mà quân ngụy Phnôm Pênh thực hiện trong chính sách “Khơ-me hóa chiến tranh” của Mỹ là hành quân “Chen-la II” bắt đầu từ ngày 20 tháng 8 năm 1971

Bộ tư lệnh Miền sử dụng Sư đoàn 9 và C40 (bộ đội bảo vệ căn cứ) mở chiến dịch phản công, kiên quyết đánh bại cuộc hành quân của địch Suốt 100 ngày đêm chiến đấu liên tục, các lực lượng vũ trang ta đã phối hợp chặt chẽ với bạn, bao vây chia cắt, cô lập địch ra rừng khúc trên suốt tuyến đường 6 dài 60km từSun tới Công Ông Thom để tiêu diệt từng bộ phận

Ngày 13 tháng 11, ta mở cuộc tiến công tiêu diệt lữ đoàn 17 của địch ở Run Luông Ngày 28, 29 tháng 11

ta đánh chiếm 9 vị trí ngoại vi từ Ba Rá đến Công Ông Thom Đến 1 tháng 12 năm 1971 hầu hết các vị tríthen chốt của địch đều bị ta chiếm Trước nguy cơ bị tiêu diệt, Lon-non ra lệnh rút toàn bộ lực lượng khỏiđường 6 Ngày 3 tháng 12 năm 1971, cuộc hành quân “Chen-la II” của địch kết thúc Trên 12.000 tên ngụy Lon-non bị tiêu diệt, gần 2.000 tên (có 1.000 dân vệ) bị bắt sống Trong số này, có nhiều tên là chỉ huy tiểu đoàn, lữ đoàn Với thắng lợi này ta đã giáng một đòn rất nặng vào âm mưu “Khơ-me hóa chiến tranh” của Mỹ định dùng Lon-non làm lực lượng cơ động mạnh đánh vào sau lưng ta Đồng thời, ta tăng thêm uy thế chính trị cho cách mạng Cam-pu-chia và phát huy mạnh mẽ quyền chủ động chiến trường

Ở Lào sau thất bại Đường 9 - Nam Lào (3-1971), cao nguyên Bô-lô-ven (6-l971), Mỹ vẫn ngoan cố tìm cách khống chế khu vực Cánh Đồng Chum - một vùng chiến lược quan trọng nhằm giữ lợi thế về quân sự

và chính trị ở Lào, hòng kiềm chế, thu hút một bộ phận quan trọng chủ lực ta ở đây, tạo điều kiện cho ngụy Sài Gòn rảnh tay hoạt động ở Nam Việt Nam Lợi dụng mùa mưa, từ tháng 7 năm 1971, Mỹ đưa quân đánh thuê Thái Lan và phỉ Vàng Pao từ Sảm Thông - Long Chúng lấn chiếm vùng Cánh Đồng Chum Lực lượng địch sử dụng vào cuộc hành quân này lên tới 33 tiểu đoàn Kế hoạch của chúng là đánh chiếm toàn bộ Cánh Đồng Chum và theo đường tiến đến sát biên giới Việt - Iào Song kế hoạch này

Trang 24

không thực hiện được.

Bộ đội tình nguyện Việt Nam phối hợp với Quân giải phóng Lào đã ngăn chặn, đẩy lùi các cuộc tiến côngcủa địch, buộc chúng phải co lực lượng về phòng ngự tại khu C Cánh Đồng Chum

Tháng 12 năm 1971, ta và bạn mở chiến dịch tiến công khôi phục lại Cánh Đồng Chum Ngày 18 tháng l nam 1971, chiến dịch mở màn, chỉ sau 3 ngày (từ 18 đến 20-l2-l971), ta phá vỡ toàn bộ tập đoàn phòng ngự vòng ngoài của địch từ Cánh Đồng Chum đến Mường Sủi gồm các cụm phòng ngự Phu Tâng - Phu Tợn - Phu Keng, địch phải bỏ Cánh Đồng Chum rút về Sảm Thông - Long Chúng Bộ đội ta tiếp tục truy kích địch

Giải phóng Cánh Đồng Chum là thắng lợi to lớn của cách mạng Lào, nó đánh dấu bước tiến mới về nghệ thuật tổ chức và trình độ tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng của bộ đội ta và bạn Với chiến thắng này, quân Thái Lan chỗ dựa của quân ngụy Lào bị giáng một đòn nặng

Cùng với những thắng lợi to lớn về quân sự trên chiến trường ba nước Đông Dương, mặt trận chống phá bình định ở miền Nam Việt Nam cũng giành được những kết quả đáng kể

Theo nhận định của Bộ Chính trị năm 1971, địch tập trung lực lượng đánh sang Lào và Cam-pu-chia, ở trong nước, chứ lực địch còn lại mỏng và sơ hở Đây là điều kiện thuận lợi để ta phá chương trình bình định của chúng Bộ Chính trị đã điện cho Trung ương Cục, Quân ủy Miền và các khu ủy miền Nam “đẩy mạnh tiến công và nổi dậy, đập tan kế hoạch bình định của địch”

Được sự chỉ đạo kịp thời của Bộ Chính trị, từ Trị Thiên, Khu 5, Tây Nguyên đến đồng bằng Nam Bộ, phong trào chống phá bình định phát triển Ở Trị Thiên, đến cuối năm 1971, ta đã giải phóng thêm 40 thôn xã vùng giáp ranh và tranh chấp với địch, làm chủ về ban đêm 117 thôn, xây dựng được cơ sở cách mạng ở 472 thôn trong tổng số 841 thôn Kế hoạch bình định của địch bị đẩy lùi một bước

Khu 5 lực lượng vũ trang và nhân dân bức địch hàng và rút hàng loạt cứ điểm đồn bốt ở các tỉnh Quảng

Đà, Quang Tín, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên Từng mảng hệ thống ấp chiến lược và khu dồn dân của địch được giải phóng

Nổi bật trong năm 1971 là phong trào chống phá địch bình định ở đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là vùng căn cứ U Minh Từ đầu năm 1969, địch nhiều lần tồ chức những cuộc hành quân lớn nhằm bình định lấn chiếm U Minh nhưng đều thất bại Cuối năm 1970, địch tổ chức Sư đoàn 9 và Sư 21 bộ binh, liênđoàn biệt động quân, lữ đoàn B thủy quân lục chiến, thiết đoàn 9 và nhiều giang đoàn có sự yểm trợ của không quân Đây là cuộc hành quân quan trọng nhất trong toàn bộ kế hoạch bình định của địch ở đồng bằng sông Cửu Long

Rút kinh nghiệm lần trước, địch không tập trung quân đánh phá ồ ạt mà phân tán thành từng bộ phận nhỏ,đánh lấn từng bước, chiếm đến đâu củng cố đến đó Với những thủ đoạn nham hiểm, biện pháp đánh phá

ác liệt, địch đã gây cho ta nhiều thiệt hại Ở U Minh, tính bình quân trong những ngày này, mỗi người dânphải gánh chịu tới 700kg bom đạn, rừng tràm bị hủy diệt tới 70%

Trang 25

Tháng 8 năm 1971, về cơ bản địch đã chiếm được U Minh Thượng, một phần U Minh Hạ chúng còn đặt

kế hoạch “tô dày”, “lấp kín” U Minh sau đó mở rộng lấn chiếm Nam Cà Mau

Trước tình hình trên, được sự chỉ đạo của Trung ương Cục, Bộ tư lệnh Miền, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 9 tập trung lực lượng 3 trung đoàn (2, 10 và 20) mở đợt phản công đánh bại kế hoạch bình định lấn chiếm U Minh của địch Theo dự kiến, đêm 7 rạng 8 tháng 9 năm 1971 cuộc phản công bắt đầu Song kế hoạch bị lộ, nên từ chiều ngày 6 tháng 9, địch đã bắn pháo vào khu vực ta ém quân, đồng thời dùng trực thăng đổ quân bao vây Ta buộc phải nổ súng sớm Chỉ sau 2 giờ Quân giải phóng chiến đấu, ta đã diệt gọn tiểu đoàn 3 trung đoàn 33 và đại đội trinh sát thuộc Sư đoàn 21 ngụy Địch đưa trung đoàn 31 đi cứu nguy cũng bị Trung đoàn 2 chặn đánh làm thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn

Đêm 7 rạng ngày 8 tháng 9 năm 1971, Trung đoàn 10 diệt căn cứ Nỗng Cạn xã Khánh Lâm Đây là sở chỉhuy nhẹ của trung đoàn 32, có 1 tiểu đoàn địch đóng giữ Cùng đêm, Trung đoàn 20 đánh thiệt hại nặng căn cứ Rọ Ghe

Ngày 12 tháng 9 năm 1971, đợt phản công vào U Minh kết thúc Ta diệt 1 căn cứ, 1 đồn, 2 sở chỉ huy nhẹcấp trung đoàn, 2 tiểu đoàn, 5 đại đội, đánh thiệt hại nặng 4 tiểu đoàn khác, loại khỏi vòng chiến đấu 2.057 tên địch Chiến dịch “nhổ cỏ U Minh” lần thứ 3 của địch bị thất bại Chương trình bình định ở miềnTây Nam Bộ bị chững lại Căn cứ U Minh được giữ vừng, củng cố và mở rộng

Phối hợp với U Minh, bộ đội đặc công quân khu đánh thiệt hại nặng căn cứ Xẻo RÔ và chi khu Thứ Ba Trung đoàn 1 ở Long Mỹ đánh qụy 11 đại đội bảo an, diệt 3 đồn ở xã Xà Phiên Trung đoàn 3 hoạt động

ở Vinh Trà diệt một số đồn bốt tạo thế mới cho phong trào Ở Sóc Trăng bộ đội đặc công diệt chi khu PhúLộc Ở Cà Mau, Tiểu đoàn 3 U Minh tập kích địch ở Rau Dừa và cùng với bộ đội du kích huyện Cái Nước diệt 5 đồn ở tuyến Bình Hưng đưa 11.000 dân trở về quê cũ làm ăn

Cuộc chiến đấu chống phá địch bình định ở Trung Nam Bộ, Đông Nam Bộ diễn ra không kém phần quyếtliệt Tại Trung Nam Bộ, từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 1 tháng 5 năm 1970, Quân khu 8 liên tiếp mở 3 đợt hoạt động A, B, C để đánh phá bình định, mở vùng Tuy nhiên sau 2 đợt hoạt động A, B lực lượng ta bị tiêu hao nhiều, lực lượng bổ sung thiếu nên không mở được đợt C Xuân Hè Sang năm 1971, lợi dụng lúc địch tập trung đối phó với ta trên hướng Đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Cam-pu-chia và Vùng 3 biên giới, quân khu 8 đẩy mạnh phá bình định Cuối năm 1971, phong trào chống phá bình định ở Khu 8 đã có chuyển biến rõ rệt

Miền Đông Nam Bộ, năm 1970, tình hình chống phá địch bình định còn nhiều khó khăn Năm 1971, lợi dụng lúc địch đánh sang Cam-pu-chia và bị ta đánh bại ở đó, quân và dân Đông Nam Bộ kết hợp tiến công quân sự với đấu tranh chính trị và nổi dậy của quần chúng giải phóng các sở cao su nằm trên tinh lộ Tráng Lớn, Xà Bang, Quang Minh, Tân Việt Nam, Hoà Lạc, Việt Cường Ta khôi phục và xây dựng được cơ sở ở một số vùng địch tạm chiếm củng cố thế trận chiến tranh nhân dân ở vùng Đất Đỏ, chiếm khu Minh Đạm tỉnh Bà Rịa

Trang 26

Trên toàn miền Nam, năm 1970, địch kiểm soát được 7.200 ấp và khu dồn, đến năm 1971 chúng chỉ còn kiểm soát được 4.860 ấp, khu dồn Chương trình bình định của địch thụt lùi một bước nghiêm trọng Chính Tôm-Sơn, một chuyên gia về bình định trong một báo cáo mật gửi cho Ních-xơn, đã thừa nhận: “Tình hình bình định nông thôn đang suy sụp Lực lượng làm nhiệm vụ

an ninh yếu Chủ lực buộc phải đối phó ở vòng ngoài không thể rút về được Tinh thần quân địa phương kém, nhất là sau Nam Lào và Sun Do đó nếu Việt cộng đánh mạnh, chương trình bình định có thể thất bại”

Thắng lợi về quân sự cũng như trên mặt trận chống phá bình định đã thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị, binh vận phát triển Ở Huế, năm 1971 có 68 cuộc đấu tranh chính trị do tỉnh ủy Thừa Thiên tổ chức đòi Mỹ rút về nước, đòi lật đổ chính quyền tay sai với 65 vạn lượt người tham gia Tại Sài Gòn, Chợ Lớn phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên và nhân dân lao động đều tập trung vào khẩu hiệu đòi Mỹ phải rút nhanh, rút hết, đòi hoà bình, độc lập Trong 3 tháng (từ tháng 12-1970 đến tháng 2-l971) đã có 37 xe Mỹ bị đốt cháy Nhiều truyền đơn phản đối sự có mặt của Mỹ ở Việt Nam được rải khắp các phố, chợ và cả trước Toà Đại sứ Mỹ Phong trào “Nghe đồng bào tôi nói và nói cho đồng bào tôi nghe” lan rộng trong học sinh, sinh viên từ Huế đến Sài Gòn Nổi bật hơn cả trong phong trào học sinh, sinh viên ở các thành phố lớn là đấu tranh chống chế độ “quân sự hóa học đường” của ngụy Ở Sài Gòn, Huế, Đà Lạt, Cần Thơ, nhiều phòng quân sự học đường đã bị đốt Sinh viên còn thành lập các ban vận động đòi bỏ chương trình huấn luyện quân sự học đường, tồ chức mít tinh, biểu tình, bãi khóa với các khẩu hiệu:

“Chương trình huấn luyện quân sự học đường là âm mưu khát máu của đế quốc Mỹ”, “Mỹ cút, ngụy nhào, quân sự học đường dẹp”

Cuối năm 1971, học sinh, sinh viên lại một lần nữa thể hiện vai trò của mình trong việc cùng nhân dân chống trò bầu cử “Hạ viện” và “Tổng thống” độc diễn của Mỹ, ngụy.

Phong trào không chỉ giới hạn trong học sinh, sinh viên Trong công nhân cũng diễn ra những cuộc đấu tranh lớn Đáng chú ý là đấu tranh của công nhân hãng pin Con Ó Cuộc đấu tranh được sự đồng tình ủng hộ của các nghiệp đoàn nên đã giành được thắng lợi.

Ở các vùng nông thôn nổi lên phong trào đấu tranh cửa nông dân chống địch rào nhà, gom dân

Trong năm 1971, phong trào đấu tranh chính trị ở miền Nam có bước phát triển mới góp phần quan trọng đẩy ngụy quân, ngụy quyền miền Nam suy sụp tinh thần, hỗ trợ tích cực cho ta giành thắng lợi to lớn trên mặt trận quân sự, chính trị.

Khối chủ lực cơ động của quân đội Sài Gòn bị đánh quỵ, phải co về phòng ngự chiến lược và chiến dịch Chương trình bình định bị chặn lại Kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh của địch bị đẩy lùi một bước nghiêm trọng Ta đã dần dần giành lại thế chủ động trên chiến trường Trung ương Cục miền Nam khăng định: “Mặc dù ta và địch còn giằng co quyết liệt nhưng tình hình nông thôn đã vượt qua thời kỳ khó khăn nghiêm trọng nhất Ta đã chặn địch lại được, đã đánh lùi chúng ở nhiều nơi và đang tạo ra những điều kiện hết sức cơ bản để tiến lên đánh bại chúng Đó

là những cơ sở để Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương xác định quyết tâm chiến lược giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải thương lượng với ta ở Pa-ri trên thế thua để chấm dứt chiến tranh, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến trong trường hợp chiến tranh kéo dài.

Ngày đăng: 26/12/2013, 15:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w