Biên chế của Khu bảo tồn thiên nhiên Bà nà cân đối trong tổng biên chế được Uỷ ban nhân dân Thành phố phân bổ hàng năm cho Chi cục Kiểm lâm Thành phố”Tháng 6 năm 2004, Chi cục Kiểm lâm T
Trang 1CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN KHÔNG TƯƠNG XỨNG
VỚI NHIỆM VỤ ĐƯỢC GIAO
LỜI NÓI ĐẦU
Vừa qua Ủy ban nhân dân tỉnh Gia lai đã phối hợp Học viện Hành chính Quốc gia tổ chức lớp bồi dưỡng thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên chính cho cán bộ quản lý của các cơ
quan Nhà nước trên địa bàn Tỉnh, tại Trường chính trị tỉnh Gia lai (thời gian học từ 17/5 đến /8/2010) Qua thời gian ba tháng học tập, được bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên chính, được thầy, cô của Học viện Hành chính Quốc gia truyền đạt những kiến thức và kỹ năng về quản lý hành chính nhà nước gồm những nội dung:Nhà nước và pháp luật; Hành chính nhà nước và công nghệ hành chính; Quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực Đây
là những nội dung hết sức bổ ích và cần thiết cho người cán bộ, công chức trong việc thực thi nhiệm vụ tại đơn vị đang công tác Qua 27 chuyên đề về quản lý hành chính nhà nước đã giúp cho học viên nhận thức được nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn mới trong công tác quản lý nhà nước Vận dụng những kiến thức đã tiếp thu từ thầy cô, học viên áp dụng vào công tác của
cơ quan mình, ngành mình, học viên thấy rằng : Hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam đã được thành lập và hoạt động trong gần 50 năm qua theo quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng
và Luật Đất đai Chức năng và nhiệm vụ chính của hệ thống rừng đặc dụng là bảo vệ và bảo tồn các hệ sinh thái rừng, đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên và các giá trị văn hóa, lịch sử môi trường Hiện nay, cả nước có trên 13 triệu ha rừng, trong đó có 2,2 triệu ha rừng đặc dụng
và hình thành được 164 khu, gồm 30 vườn quốc gia, 58 khu dự trữ thiên nhiên, 10 khu bảo tồn loài, 46 khu bảo vệ cảnh quan và 20 khu rừng nghiên cứu khoa học Hầu hết các khu rừng đặc dụng đã được tổ chức, quản lý và được nhà nước cấp kinh phí hoạt động nhằm bảo vệ rừng, bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học Tuy nhiên, trên thực tế, công tác tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng đang có những vấn đề tồn tại: các cơ quan quản lý nhà nước đối với các khu rừng đặc dụng không thống nhất; thiếu căn cứ, cơ sở để quyết định biên chế; chức năng, nhiệm
vụ và cơ cấu tổ chức của các ban quản lý khu rừng đặc dụng chưa rõ ràng; làm cho việc quản
lý lỏng lẻo, chồng chéo kém hiệu quả Quá trình quản lý rừng đặc dụng còn gặp nhiều khó khăn
và thách thức Khu BTTN Bà nà (giả định), là một điển hình, của sự bất cập trong công tác tổ chức, và quản lý hệ thống rừng đặc dụng của Việt nam hiện nay.thực trạng trên, để thực hiện nghiêm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thủy sản và Luật Đa dạng sinh học, đồng thời phục vụ tốt công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững hệ thống rừng đặc dụng, học viên thấy cần thiết phải đổi mới, chính sách và thống nhất về
tổ chức, quản lý đối với hệ thống rừng đặc dụng của Việt nam nói chung, khu BTTN Bà nà nói riêng Đó là lý do học viên mạnh dạn chọn tình huống : Cơ cấu tổ chức của Khu rừng đặc dụng không tương xứng với nhiệm vụ được giao Tiểu luận tình huống quản lý Nhà nước lần này là bài kiểm tra nhằm đánh giá khả năng vận dụng kiến thức lý luận vào điều kiện thực tiễn của hoạt động quản lý Nhà nước hiện hành, và đề xuất những kiến nghị cho việc giải quyết một tình huống cụ thể Do kinh nghiệm bản thân có hạn, nên bài viết này chắc chắn còn những hạn chế nhất định, rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn, để bài viết được hoàn chỉnh hơn Nhân đây Học viên chân thành cảm ơn TS Đào Đăng Kiên, GVC Ths Phan Ánh Hè
và các thầy cô trong học viện hành chính Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình hướng dẫn cho học viên hoàn thành tiểu luận này NỘI DUNG TÌNH HUỐNG Khu BTTN Bà nà nằm tại huyện Hòa vang thành phố Đà nẵng, và cách thành phố Đà nẵng 190 Km, về phía Tây, có tổng diện tích tự nhiên là 16000 Ha, trong đó có 15600 Ha là rừng tự nhiên, đây là một khu BTTN có tính đa dạng sinh học cao của Việt nam và thế giới Để quản lý khu BTTN Bà nà, ngày
18 tháng 3 Năm 2004, UBND thành phố Đà nẵng ra quyết định số 28/2004/QĐ-UB “ V/v thành lập khu BTTN Bà nà ” Trong quyết định có nêu: Thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Bà nà, là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà nẵng, có tư cách pháp nhân, có tài khoản có con dấu, trụ sở đặt tại huyện Hòa vang.Điều 2 : Nhiệm vụ cụ thể của Khu bảo tồn thiên nhiên Bà nà thực hiện theo Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11/01/2001 của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của cơ quan chức năng cấp trên Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tổ chức bộ máy Khu bảo tồn thiên nhiên Bà nà theo quy định hiện hành để thực hiện tốt
Trang 2nhiệm vụ được giao Biên chế của Khu bảo tồn thiên nhiên Bà nà cân đối trong tổng biên chế được Uỷ ban nhân dân Thành phố phân bổ hàng năm cho Chi cục Kiểm lâm Thành phố”Tháng
6 năm 2004, Chi cục Kiểm lâm Thành phố Đà nẵng tổ chức hoạt động cho Khu BTTN Bà nà như sau: Về tổ chức bộ máy, chế độ đãi ngộ: Điều động từ 12 đến 15 CBCCVC Kiểm lâm từ các đơn
vị trực thuộc về công tác tại Khu BTTN Bà nà (Hầu hết có trình độ trung cấp Lâm nghiệp, Kiểm lâm), trong đó có Giám đốc kế toán, lái xe và 9 cán bộ Kiểm lâm làm nhiệm vụ Bảo vệ rừng, không có hạt Kiểm lâm, không có các phòng, ban, không có các trạm Kiểm lâm hay trạm Bảo vệ rừng Cán bộ CBCCVC được hưởng chế độ đãi ngộ và phải thực hiện qui chế hoạt động như của các đơn vị khác của lực lượng Kiểm lâm thành phố (trong qui chế này có qui định CBCCVC trong lực lượng thực hiện luân chuyển cán bộ từ đơn vị này sang đơn vị khác trong phạm vi Thành phố - chu kỳ luân chuyển từ 1 đến 3 năm luân chuyển 1 lần - tùy theo từng trường hợp cụ thể) Thực hiện chế độ hạch toán báo sổ đối với nguồn kinh phí chi thường xuyên (Đây là cơ quan dự toán cấp 3) Cơ sở vật chất kỹ thuật của Khu BTTN Bà nà:
Nhiệm vụ, Quyền hạn: Khu BTTN Bà nà có nhiệm vụ, đồng thời có quyền hạn được qui định tại quyết định số 28/2004/QĐ-UB của UBND Thành phố Đà nẵng “ V/v thành lập khu BTTN Bà nà ” cụ thể:
“1 Chịu trách nhiệm trước Nhà nước về QLBV, xây dựng và sử dụng khu BTTN Bà nà theo quy chế quản lý 3 loại rừng và các quy định khác của pháp luật; tổ chức quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên; khôi phục và bảo vệ nguyên vẹn hệ sinh thái; bảo tồn tính đa dạng sinh học của khu rừng đặc dụng, gồm thực hiện các biện pháp nhằm phát triển bền vững tài nguyên sinh vật, tài nguyên đất, tài nguyên nước, đồng thời phối hợp với các cấp chính quyền
sở tại để bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác thực hiên các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng phòng trừ sâu bệnh hại rừng ngăn chặn các hành vi gây thiệt hại đến khu BTTN Bà nà
2 Lập dự án bổ sung đầu tư xây dựng khu rừng đặc dụng đồng thời lập dự án chi phí hàng năm cho các hoạt động của đơn vị để trình cấp thẩm quyền phê duyệt , quản lý sử dụng kinh phí đầu tư từ ngân sách Nhà nược theo quy định hiện hành
3 Tổ chức thực hiện nội dung các dự án đầu tư của khu rừng đặc dụng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, tổ chức các hoạt động về hợp tác Quốc tế theo
sự phân công của cơ quan có thẩm quyền và theo các qui định hiện hành của nhà nước về lĩnh vực này Xây dựng và tổ chức thực hiện các hoạt động của khu BTTN Bà nà theo hướng dẫn của cơ quan chủ quản
5 Định kỳ báo cáo cấp trên về diễn biến tài nguyên rừng và các hoạt động của khu BTTN Bà nà;
6 Tiến hành các hoạt động dịch vụ nghiên cứu khoa học, văn hóa xã hội và du lịch sinh thái theo quy định của pháp luật.”
Sau khi Khu BTTN Bà nà được thành lập, Giám đốc cùng CBCCVCC Khu BTTN Bà nà đã
cố gắng trong việc lãnh đạo Khu BTTN Bà nà tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao và
đã đạt được một số thành tích đáng kể như :
-Quản lý bảo vệ tốt tài nguyên rừng, tài nguyên thiên nhiên có trong khu BTTN Bà nà.
-Xây dựng được dự án đầu tư xây dựng khu BTTN Bà nà và đã được UBND thành phố Đà nẵng phê duyệt, cho thực hiện.
- Tổ chức thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu BTTN Bà nà đã được UBND thành phố Đà nẵng phê duyệt, và một số dự án liên quan khác Sau năm năm thực hiện các dự án liên quan thì cơ sở vật chất bước đầu của khu BTTN bà nà như trụ sở làm việc, chỗ ăn ở của CBCCVC,
và các phương tiện phục vụ sinh hoạt và công tác của CBCCVC cơ bản đã được đáp ứng Những bất cập trong Cơ cấu tổ chức của khu BTTN Bà nà: Qua gần 6 năm hoạt động của khu BTTN Bà nà, đã lộ rõ một số bất cập, vướng mắc trong Cơ cấu tổ chức không tương xứng
với nhiệm vụ được giao của khu BTTN Bà nà, gây rất nhiều khó khăn cho việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của khu BTTN Bà nà như sau :
1.1 Tên gọi của cơ quan không đúng bản chất
Trang 3Tên gọi : “Khu BTTN Bà nà ” không thể hiện mục tiêu của tổ chức (không rõ ràng là một Ban quản lý rừng Đặc dụng hay cơ quan chuyên môn, hay hạt Kiểm lâm của Chi cục Kiểm lâm Thành phố), dẫn tới “Danh chưa chính thì ngôn chưa thuận” Khu BTTN Bà nà là một đơn vị sự nghiệp có thu, thì đương nhiên cán bộ Của Khu BTTN Bà nà cơ bản phải là viên chức, nhưng thực tế cán bộ của khu BTTN Bà nà lại khoác áo của lực lượng Kiểm lâm, và hầu hết đều là công chức nhà nước, nhưng không có thẩm quyền sử phạt VPHC như các kiểm lâm viên ở các hạt kiểm lâm khác, chính vì vậy một số cán bộ của khu BTTN Bà nà (nhất là cán bộ mới nhận công tác) ngộ nhận mình cũng có nhiệm vụ quyền hạn như cán bộ kiểm lâm của các hạt Kiểm lâm khác Người dân, thậm chí cả chính quyền địa phương xã, và một số cơ quan chức năng không hiểu khu BTTN Bà nà là một cơ quan Kiểm lâm hay chủ rừng, dẫn tới khó khăn trong giao tiếp ở các mối quan hệ công tác như:
-Cơ cấu tổ chức của Khu BTTN nhỏ (là 1 cơ quan dự toán cấp 3, hạch toán báo sổ, số CBCCVC ít, cơ cấu tổ chức gần giống một trạm Bảo vệ rừng của chủ rừng) nhưng chính quyền địa phương, và các cơ quan chuyên môn từ cấp xã, thôn đến cấp Thành phố, lại thường mời Khu BTTN Bà nà sinh hoạt, họp ở cả hai lĩnh vực chủ rừng và Kiểm lâm (giống như một một cơ quan chuyên môn trực thuộc Thành phố quản lý).
-Người dân tưởng khu BTTN bà nà là một hạt Kiểm lâm (vì tất cả CBCCVC trong khu BTTN
Bà nà đều được trang bị lâm phục, lâm hàm, lâm hiệu như ở các hạt kiểm lâm khác) nên người dân thường báo các vụ việc vi phạm trong lĩnh vực QLBVR cả ở ngoài ranh giới khu BTTN bà nà, thậm chí đôi khi chính quyền địa phương, chi cục Kiểm lâm Thành phố giao nhiệm vụ QLBVR cho khu BTTN Bà nà, cả ở lâm phần của các chủ rừng khác quản lý 1.2 Nhiệm vụ không tương xứng với cơ cấu tổ chức
Nhiệm vụ của khu BTTN Bà nà được giao thực hiện trong địa bàn phức tạp, phạm vi rộng
16000 ha, tiếp giáp với 4 tỉnh lân cận và có tới 6 nhiệm vụ khác nhau, các nhiệm vụ lại có tính đặc thù và ở các lĩnh vực khác nhau như Quản lý, Bảo vệ, xây dựng, sử dụng rừng, bảo
vệ nguyên vẹn hệ sinh thái và tài nguyên đa dạng sinh học, cũng như tài nguyên thiên nhiên khác có trong khu BTTN Bà nà Xây dựng, thực hiện các dự án đầu tư liên quan, tổ chức các hoạt động hợp tác Quốc tế, nghiên cứu khoa học, phát triển du lịch… Thế nhưng cơ cấu tổ chức của khu BTTN Bà nà để thực hiện các nhiệm vụ trên lại chỉ là một đơn vị sự nghiệp trực thuộc chi cục Kiểm lâm Thành phố Đà nẵng, có cơ cấu tổ chức gần giống như một trạm Bảo vệ rừng của chủ rừng, không có các phòng, ban, không có hạt, trạm Kiểm lâm, CBCCVC của khu BTTN Bà nà đã thiếu về số lượng (biên chế khu BTTN Bà nà là 15 người, bình quân chưa được 1 biên /1000 ha rừng), lại yếu về chất lượng, không yên tâm công tác, vì liên tục bị luân chuyển sang các đơn vị khác, trong khi cở vật chất kỹ thuật của khu BTTN Bà nà hầu như chưa có gì đáng kể, giao thông, liên lạc tới khu BTTN Bà nà thì cực kỳ khó khăn, thường xuyên tắc đường, thậm chí phải đi xa hàng chục km mới liên lạc bằng điện thoại được nên đã gây không ít khó khăn cho Khu BTTN Bà nà hoàn thành các nhiệm vụ được giao như :
- Đào tạo, phát triển cán bộ gặp rất nhiều khó khăn, vì khu BTTN Bà nà ở vùng sâu vùng xa, đường đi vào Khu BTTN cực kỳ khó khăn, trong khi điều kiện sinh hoạt và làm việc có rất nhiều thiếu thốn, thì định mức chi thường xuyên cho một người, chế độ đãi ngộ cho CBCCVC lại không có gì đặc biệt so với các đơn vị khác ở gần hơn CBCCVC Khu BTTN Bà
nà bình quân 2 năm thay người một lần (Theo qui chế luân chuyển cán bộ của lực lượng Kiểm lâm Đà nẵng) dẫn tới thiếu nguồn cán bộ kế cận để bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, thiếu cán bộ có chuyên môn chuyên sâu để thực hiện các nhiệm vụ đặc thù của Đơn vị, như nhiệm vụ xây dựng, thực hiện các dự án đầu tư liên quan, bảo vệ nguyên vẹn tính đa dạng sinh học, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác trong khu BTTN Bà nà, làm các dịch
vụ nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái…
- Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn của khu BTTN Bà nà, có những vấn
đề vượt thẩm quyền quyết định của khu BTTN bà nà, về nguyên tắc tổ chức, thì Khu BTTN
Bà nà phải trình cơ quan chủ quản là chi cục kiểm lâm thành phố Đà nẵng xin chỉ đạo giải quyết, tuy nhiên hầu hết các nhiệm vụ của khu BTTN Bà nà như nhiệm vụ xây dựng, thực
Trang 4hiện các dự án đầu tư liên quan, bảo vệ nguyên vẹn tính đa dạng sinh học, bảo vệ các nguồn tài nguyên đất, tài nguyên nước, làm các dịch vụ nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái thì chi cục kiểm lâm thành phố Đà nẵng không có chức năng, năng lực, không có thẩm quyền giải quyết các yêu cầu phát sinh trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ trên của Khu BTTN
Bà nà, do đó cũng không thể chỉ đạo, đôn đốc, giám sát, quản lý được các hoạt động của khu BTTN Bà nà trong việc thực hiện các nhiệm vụ này Khu BTTN Bà nà buộc phải làm việc trực tiếp với các cơ quan chức năng, cấp thẩm quyền cao hơn đế giải quyết các hồ sơ liên quan, như sở Kế hoạch, Tài chính, nông nghiệp & PTNT, Tài nguyên môi trường …và UBND Thành phố Đà nẵng, việc làm đó đã vô tình làm nảy sinh mâu thuẫn giữa cấp trên (chi cục kiểm lâm thành phố Đà nẵng) và cấp dưới (khu BTTN Bà nà) càng làm cho việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ của khu BTTN Bà nà khó khăn hơn.
2 PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG
2.1 Mục tiêu phân tích tình huống
Tìm ra cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, nguyên nhân xảy ra tình huống, từ đó đánh giá hậu quả do tình huống tạo ra đối với xã hội, để làm cơ sở cho phần xử lý tình huống, và kiến nghị với Đảng, Nhà nước và cơ quan chức năng trong việc ban hành các văn bản liên quan đến giải quyết tình huống đã chọn, và các tình huống tương tự.
2 2 Cơ sở lý luận:
Những căn cứ pháp lý để phân tích tình huống:
- Căn cứ Luật Bảo vệ và phát triển rừng đã được Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam thông qua tại kỳ họp thứ 6 từ ngày 25 tháng 11 đến ngày 03 tháng 12 năm 2004
-Căn cứ Luật Cán bộ, công chức đã được Quốc hội khóa XII nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam thông qua 13 tháng 11 năm 2008.
-Căn cứ Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/03/2006 của chính phủ “V/v thi hành luật Bảo
vệ và phát triển rừng ”;
- Căn cứ Nghị định số 119/2006/NĐ-CP ngày 16/10/2006 của chính phủ “ Về tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm”;
-Căn cứ quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11/01/2001 của Thủ tướng chính phủ “V/v ban hành Qui chế quản lý 3 loại rừng ”
-Căn cứ quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng chính phủ “V/v ban hành Qui chế quản lý rừng ”;
-Căn cứ Thông tư liên tịch Số: 22/2007/TTLT-BNN-BNV ngày 27 tháng 3 năm 2007 của bộ
NN & PTNT và bộ Nội vụ Hướng dẫn về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Kiểm lâm ở địa phương
-Thông tư liên tịch số 61/2008/TTLT-BNN-BNV ngày 15/5/2008 Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và nhiệm vụ quản lý nhà nước của Uỷ ban nhân dân cấp xã về nông nghiệp
và phát triển nông thôn
-Căn cứ Thông tư số 86/2005/TT-BNV ngày 22/08/2005 hướng dẫn về biên chế của ban quản
lý rừng phòng hộ, rừng Đặc dụng khi thực hiện Đề án sắp xếp, đổi mới và phất triển lâm trường Quốc doanh;
-Căn cứ Quyết định số: 2370/QĐ/BNN-KL ngày 05/8/2008 của Thứ trưởng Bộ NN&PTNT “
Về việc phê duyệt đề án về chương trình đầu tư xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng hệ thống rừng Đặc dụng Việt nam giai đoạn 2008-2020”;
-Căn cứ Quyết định Số: 28/2004/QĐ-UB ngày 18 tháng 3 năm 2004 của UBND thành phố
Đà nẵng (V/V Thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Bà nà )
2 3 Phân tích diễn biến tình huống:
*Trong quyết định số 28/2004/QĐ-UB ngày 18 tháng 3 năm 2004 của UBND thành phố
Đà nẵng “ V/v thành lập khu BTTN Bà nà ” có qui định tại điều 3 như sau :
Trang 5“Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tổ chức bộ máy Khu bảo tồn thiên nhiên Bà nà theo quy định hiện hành để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
Biên chế của Khu bảo tồn thiên nhiên Bà nà cân đối trong tổng biên chế được Uỷ ban nhân dân Thành phố phân bổ hàng năm cho Chi cục Kiểm lâm thành phố”.
* Trong Qui chế quản lý 3 loại rừng đã được Thủ tướng chính phủ ban hành theo quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11/01/2001 có nêu:
“1 Mọi khu rừng đặc dụng có diện tích tập trung từ 1000 ha trở lên … được thành lập ban quản lý, …
2 Khu rừng đặc dụng có diện tích tập trung từ 15000 ha trở lên được tổ chức hạt kiểm lâm trực thuộc Ban quản lý rừng Đặc dụng…
4 Định xuất biên chế ban quản lý khu rừng Đặc dụng … bình quân 1000 ha có một định xuất biên chế (Trường hợp khu rừng có ý nghĩa quan trọng về bảo tồn loài hoặc sinh cảnh, văn hóa, lịch sử… thì có dưới 500 ha một định xuất) tối thiểu một ban quản lý được biên chế
5 người”
Sau khi nhận được 2 Quyết định trên, chi cục kiểm lâm Thành phố Đà nẵng không tổ chức
bộ máy khu BTTN Bà nà theo quy định hiện hành, cụ thể:
Không tham mưu cho UBND Thành phố thành lập BQL và hạt Kiểm lâm khu BTTN bà nà theo điều 11 của qui chế quản lý 3 loại rừng đã được thủ tướng chính phủ ban hành theo quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11/01/2001
* Sau khi Quy chế Quản lý rừng được Ban hành kèm theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực thi hành, Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà nẵng vẫn chưa tham mưu cho cơ quan chức năng và UBND thành phố Đà nẵng phân bổ biên chế cho Khu BTTN Bà nà theo đúng điều 16 ; 18 của Quy chế Quản lý rừng về Tổ chức bộ máy của Ban quản lý rừng đặc dụng, trong đó: Lực lượng chuyên trách
về bảo vệ rừng của Ban quản lý khu rừng thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 18 Quy chế này, tức là Chủ rừng được tổ chức các lực lượng bảo vệ rừng trong đó có tổ chức lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng của chủ rừng; lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng được
bố trí bình quân 500 ha/người (nếu thực hiện đúng quy chế này thì riêng lực lượng chuyên trách Bảo vệ rừng trực thuộc BQL khu BTTN Bà nà, tối thiểu đã là 31 người, nhưng đến nay toàn bộ biên chế của BQL khu BTTN Bà nà mới chỉ có 15 người).
2 4 Nguyên nhân dẫn đến xảy ra tình huống
2.4.1 Về khách quan do:
Sự bất cập trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, và thiếu sót trong tổ chức hoạt động quản lý nhà nước của cấp trên, liên quan đến tình huống đã chọn (nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức khu BTTN) Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, chỉ có 2 văn bản quy phạm pháp luật quy định về nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức khu rừng đặc dụng, tuy nhiên,
cả hai văn bản này đều qui định chưa rõ về cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ cụ thể của BQL khu rừng Đặc dụng, cụ thể:
+ Tại Qui chế quản lý 3 loại rừng đã được Thủ tướng chính phủ ban hành theo quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11/01/2001, chỉ quy định về nhiệm vụ của BQL khu BTTN, không quy định rõ về cơ cấu tổ chức khu BTTN trực thuộc cơ quan chủ quản nào, cơ sở phân bổ biên chế cho BQL tính làm sao BQL rừng Đặc dụng có những phòng ban nào, đồng thời Quy chế không giải thích rõ thế nào là khu BTTN có ý nghĩa quan trọng
+Tại Quy chế Quản lý rừng Ban hành kèm theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ, không quy định rõ về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, của khu rừng đặc dụng, về cơ cấu tổ chức thì tại điều 16 có ghi:
“Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định cụ thể về cơ cấu tổ chức của Ban quản lý khu rừng đặc dụng thống nhất trong toàn quốc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về tiêu chuẩn giám đốc, phó giám đốc Ban quản lý rừng đặc dụng cho phù hợp với từng loại hình rừng đặc dụng để làm căn cứ bổ nhiệm, đào tạo, quy hoạch cán bộ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rừng đặc dụng ’’
Trang 6Nhưng đến nay, sau gần 4 năm, bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vẫn chưa ban hành được văn bản nào quy định cụ thể về cơ cấu tổ chức của Ban quản lý khu rừng đặc dụng thống nhất trong toàn quốc Do bất cập Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và thiếu sót trong tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước cấp trên, như nêu trên, dẫn tới quy định không thống nhất về nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức ở các khu rừng Đặc dụng trên toàn Quốc,
cụ thể như ở tỉnh Kon tum thì tất cả BQL rừng Đặc dụng trực thuộc UBND tỉnh Kon tum, ở Gia lai BQL rừng Đặc dụng có BQL trực thuộc UBND tỉnh, có BQL trực thuộc chi cục Kiểm lâm Tỉnh, sau này lại chuyển đổi thành BQL rừng Đặc dụng trực thuộc sở NN & PTNT Tỉnh,
ở một số tỉnh miền Tây Nam bộ như ở Cà mau thì có BQL rừng Đặc dụng lại trực thuộc sở Tài nguyên môi trường, hầu hết các hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng trên toàn Quốc đều trực thuộc các BQL khu rừng đặc dụng, ngược lại hầu hết các BQL khu rừng đặc dụng không thành lập các lực lượng QLBVR chuyên trách tách biệt với hạt Kiểm lâm ( trái với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành nhưng vẫn được các địa phương, bộ NN & PTNT chấp nhận vì có tính khả thi) Tóm lại cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của các BQL rừng Đặc dụng trên toàn Quốc từ trước đến nay không thống nhất, không ổn định,và còn nhiều bất cập, trong đó khu BTTN Bà nà không nằm trong diện ngoại lệ này.
2.4.2 Về chủ quan do
Sự hiểu biết pháp luật, kinh nghiệm, hiểu biết thực tế của những cán bộ làm công tác tổ chức tham mưu cho chi cục Kiểm lâm, UBND thành phố Đà nẵng về quy định cơ cấu tổ chức
và nhiệm vụ cho các khu BTTN, còn hạn chế Có thể những cán bộ có trách nhiệm tham mưu vấn đề này, cho cơ quan chức năng, và UBND thành phố Đà nẵng, chưa nghiên cứu kỹ, chưa cập nhật kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật, về quy định cơ cấu tổ chức và nhiệm
vụ cho các khu BTTN Cũng có thể do những cán bộ này chưa được đi tham quan, học tập kinh nghiệm, về tổ chức ở các BQL rừng Đặc dụng trên toàn Quốc, nên chưa có kinh nghiệm trong việc xây dựng cơ cấu tổ chức của các khu BTTN, sao cho phù hợp với nhiệm vụ của BQL khu BTTN đó Không loại trừ việc có thể, có những cán bộ có phẩm chất đạo đức kém,
cố tình sử dụng ảnh hưởng của mình tham mưu cho UBND thành phố Đà nẵng trong việc qui định cơ cấu tổ chức của khu BTTN Bà nà, không tương xứng với nhiệm vụ được giao,
để mưu cầu lợi ích cá nhân.
2.5 Hậu quả của Tình huống
- CBCCVC không yên tâm công tác: hầu hết CBCCVC đều xin chuyển công tác sang đơn vị khác có thu nhập cao hơn, gần thị trấn hơn, có nhiệm vụ đơn giản hơn, ít phải học hỏi thêm
về nghiệp vụ, hậu quả chất lượng làm việc của cán bộ khu BTTN bà nà không cao, làm mất
uy tín của cơ quan, của CBCCVC và giảm sút lòng tin của nhân dân, gây bất bình trong nhân dân Làm mất dần CBCCVC nên liên tục chi cục Kiểm lâm thành phố Đà nẵng phải điều động cán bộ Kiểm lâm từ nơi khác đến bổ sung cho khu BTTN bà nà.
- BQL khu BTTN Bà nà không hoàn thành tốt, thậm chí không đủ điều kiện để triển khai, hoàn thành hầu hết các nhiệm vụ đặc thù của đơn vị được giao như: Nhiệm vụ xây, thực hiện các dự án đầu tư liên quan, tiến hành các hoạt động dịch vụ nghiên cứu khoa học, văn hóa xã hội và du lịch sinh thái theo quy định của pháp luật
-Sự giảm sút pháp chế XHCN: Do khu BTTN Bà nà không có hạt Kiểm lâm trực thuộc, nên không có chức năng xử lý VPHC trong lĩnh vực QLBVR, tất cả các vụ việc VPHC trong lĩnh vực QLBVR tại khu BTTN Bà nà, đều phải chuyển tới chính quyền địa phương, hoặc hạt Kiểm lâm huyện Hòa vang xử lý, làm cho việc xử lý VPHC kéo dài, nhiều vụ không xử lý kịp thời, dẫn đến làm chết các động vật hoang dã bị săn, bẫy, bắt trong khu BTTN Bà nà Một số
vụ VPHC trong lĩnh vực QLBVR bị các lực lượng Bảo vệ rừng phát hiện trong khu BTTN Bà
nà, nhưng do đường vận chuyển tang vật, phương tiện vi phạm về nơi xử lý quá xa, hoặc không có, nên các cán bộ Bảo vệ rừng buộc phải xử lý tại chỗ, bằng các hình thức không đúng với các văn bản quy phạm pháp luật, như hình thức đốt, phá hủy tang vật, phương tiện
vi phạm, thả chim thú bị bắt tại chỗ khi chưa có các thủ tục của cơ quan có chức năng xử lý VPHC trong lĩnh vực QLBVR theo quy định hiện hành.
3 XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
Trang 73.1 Mục tiêu xử lý tình huống:
* Mục tiêu chung:
-Thiết kế được cơ cấu tổ chức của khu BTTN Bà nà tương xứng với nhiệm vụ cụ thể của khu BTTN Bà Nà, vừa đảm bảo cơ bản đúng với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Nhà nước, vừa đúng với tình hình thực tế của Địa phương, nhằm tạo cho khu BTTN Bà Nà ,
có đủ năng lực hoàn thành tốt tất cả các nhiệm vụ được giao.
-Giải quyết hài hòa giữa các lợi ích trước mắt và lâu dài, các lợi ích kinh tế - xã hội, và tính pháp lý trong việc thiết kế được cơ cấu tổ chức của khu BTTN Bà nà tương xứng với nhiệm vụ cụ thể của khu BTTN Bà nà,.
-Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
-Trên cơ sở thiết kế, vẽ được sơ đồ cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ cụ thể của khu BTTN Bà
Nà, theo nhiều phương án, đáp ứng được yêu cầu là tương xứng với nhiệm vụ của khu BTTN
Bà Nà được giao, từ đó phân tích được các đặc trưng, ưu, nhược điểm, và điều kiện áp dụng của từng phương án, để chọn được phương án về cơ cấu tổ chức tối ưu nhất cho khu BTTN
Bà nà nói riêng, có kiến nghị với cấp trên, trong việc hoàn thiện chính sách về tổ chức, quản
lý đối với cả hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam.
3 2 Đề xuất, xây dựng phương án, giải pháp xử lý tình huống
3.2.1 Phương án 1:
3.2.1.1.Mục tiêu
-
Phát huy được sức mạnh tổng lực của khu BTTN Bà nà, với hạt Kiểm lâm Bà nà nói riêng, lực lượng Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng nói chung, trong việc tổ chức thực hiện chức năng nhiệm vụ của khu BTTN Bà Nà.
- Tạo ra cơ cấu tổ chức cho khu BTTN Bà Nà tương xứng với chức năng nhiệm vụ được giao 3.2.1.2.Nội dung chính
Giữ nguyên chức năng, nhiệm vụ, của khu BTTN Bà nà tại quyết định Số: 28/2004/QĐ-UB ngày 18 tháng 3 năm 2004 của UBND thành phố Đà Nẵng (V/V Thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà ) nhưng, yêu cầu ông Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, tổ chức bộ máy Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà, theo đúng các quy định hiện hành, để giúp chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, phải Tham mưu cho sở NN & PTNT, sở nội vụ, UBND Thành phố Đà Nẵng xây dựng, phê duyệt phương án tổ chức lại bộ máy, khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà tương xứng với nhiệm vụ của khu BTTN bà nà được giao
3.2.1 3 Nhu cầu tài chính cho thực hiện phương án 3 năm là: 11.280 triệu đồng, trong đó: + Chi thường xuyên, bình quân cho một biên chế là: 40 triệu đồng / bc năm
+ Chi Đầu tư xây dựng bình quân : 2000 triệu đ /năm
3.2.1.4.Tổ chức bộ máy:
Trang 8a/ Cơ cấu tổ chức khu BTTN Bà nà Phương án 1 (xem sơ đồ PA1)
Trong sơ đồ cơ cấu tổ chức khu BTTN Bà Nà PA1 có một số nội dung chính sau: BQL khu BTTN Bà nà là một đơn vị sự nghiệp có thu, trực thuộc chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng quản lý BQL khu BTTN Bà Nà có 1 hạt kiểm lâm và 3 phòng trực thuộc sau:
- Hạt Kiểm lâm Bà nà trực thuộc Khu BTTN Bà nà,
Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của hạt Kiểm lâm Bà Nà được quy định cơ bản theo điều 10; 11; của Nghị định số 119/2006/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2006 của Chính phủ
Về tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm, và theo đúng Thông tư liên tịch Số: 22/2007/TTLT-BNN-BNV ngày 27 tháng 3 năm 2007 của bộ NN & PTNT và bộ Nội vụ Hướng dẫn về nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Kiểm lâm ở địa phương Trong đó quy định rõ giám đốc khu BTTN Bà nà kiêm nhiệm chức vụ hạt trưởng hạt Kiểm lâm Bà nà
-Các phòng chuyên môn trực thuộc khu BTTN Bà nà.
Thành lập 3 phòng chuyên môn để giúp khu BTTN Bà nà tổ chức thực hiện các mảng nhiệm
vụ như: Tổ chức, Hành chính, Kế hoạch, Tài chính, Khoa học kỹ thuật và hợp tác Quốc tế, Giáo dục môi trường, dịch vụ môi trường rừng, cứu hộ, nghiên cứu phát triển sinh vật b/ Định biên
Biên chế của hạt Kiểm lâm Bà nà tính theo đúng điều 15 của Nghị định số 119/2006/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2006 của Chính phủ Về tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm là 15 người Biên chế của các phòng chuyên môn thuộc BQL khu BTTN Bà nà tính theo đúng điều 16 ; 18 của Quy chế Quản lý rừng Ban hành kèm theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ, riêng phòng QLBVR là : 31 người, hai phòng còn lại tùy theo tình hình thực tế tại địa phương để bố trí biên chế cho phù hợp, nhưng không nên bố trí dưới 3 người một phòng.
Tổng biên chế của khu BTTN Bà Nà là : 54 biên chế, trong đó:
+ Ban giòám đốc : 2 biên chế (Giám đốc kiêm nhiệm Hạt trưởng kiểm lâm) Phòng QLBVR : 31 biên chế
+Phng KHKT : 3 biên chế
+Phòng HCTH : 3 biên chế
+Hạt Kiểm lâm : 15 biên chế
3.2.1.5 Tiến độ thực hiện:
+Từ nay đến hết năm 2010 hoàn thành các thủ tục, hồ sơ phương án tổ chức bộ máy Khu bảo tồn thiên nhiên Bà nà, nên biên chế và kinh phí giữ nguyên như kế hoạch năm 2010 đã được UBND Thành phố phê duyệt.
Trang 9+ Năm 2011 nhu cầu biên chế tăng 19, nhu cầu kinh phí là 3.360 triệu đồng
+ Năm 2012 nhu cầu biên chế tăng 10 , nhu cầu kinh phí là 3.760 triệu đồng
+ Năm 2013 nhu cầu biên chế tăng 10 , nhu cầu kinh phí là 4.160 triệu đồng
B Phương án 2:
3.2.2.1.Mục tiêu
- Thực hiện đúng các văn bản quy phạm pháp luật, tạo ra sự minh bạch cần thiết trong việc
tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của BQL khu BTTN Bà nà
- Tạo ra cơ cấu tổ chức cho khu BTTN Bà nà tương xứng với chức năng nhiệm vụ được giao 3.2.2.2.Nội dung chính
Ông Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, phải tham mưu cho sở NN & PTNT, sở nội vụ, và UBND Thành phố Đà nẵng xây dựng, phê duyệt phương án chuyển đổi khu BTTN Bà nà trực thuộc chi cục Kiểm lâm, thành BQL khu BTTN Bà nà trực thuộc sở NN & PTNT thành phố Đà nẵng: cụ thể ông Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, phải Tham mưu cho sở NN & PTNT, sở nội vụ, UBND Thành phố Đà nẵng xây dựng, phê duyệt phương án tổ chức bộ máy khu bảo tồn thiên nhiên Bà nà tương xứng với nhiệm vụ của khu BTTN bà nà được giao Trong phương án này ngoài những vấn đề khác (không liên quan đến tình huống đặt ra thì không nêu ra ở đây) phải giải quyết được những vấn đề cơ bản về cơ cấu tổ chức, và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của BQL, các đơn vị trực thuộc cùa BQL khu BTTN Bà nà, và hạt Kiểm lâm Bà nà, đồng thời xây dựng được mối quan hệ công tác giữa BQL khu BTTN Bà
nà và hạt Kiểm lâm Bà nà.
3.2.2.3.Nhu cầu tài chính cho thực hiện phương án 2 trong 3 năm là 11.400 triệu đồng, trong đó:
+Chi thường xuyên, bình quân cho một biên chế là: 40 triệu đồng / bc /năm
+Chi Đầu tư xây dựng bình quân : 2000 triệu đ /năm
3.2.2.4.Tổ chức bộ máy
a/ Cơ cấu tổ chức khu BTTN Bà nà Phương án 2 (Xem sơ đồ PA2)
Trong sơ đồ cơ cấu tổ chức khu BTTN Bà nà PA2 có một số nội dung chính sau:
Chuyển đổi khu BTTN Bà nà trực thuộc chi cục Kiểm lâm thành BQL khu BTTN Bà nà trực thuộc sở nông nghiệp & PTNT Thành phố BQL khu BTTN Bà nà là một đơn vị sự nghiệp có thu, có trụ sở, tài khoản và con dấu riêng BQL khu BTTN Bà nà có ban giám đốc và 3 phòng
Trang 10chuyên môn BQL khu BTTN Bà nà có 3 phòng trực thuộc là: phòng QLBVR; KHKT và hợp tác Quốc tế; HCTH Thành lập 3 phòng chuyên môn để giúp khu BTTN Bà nà tổ chức thực hiện các mảng nhiệm vụ như: Tổ chức, Hành chính, Kế hoạch, Tài chính, Khoa học kỹ thuật
và hợp tác Quốc tế, Giáo dục môi trường, dịch vụ môi trường rừng, cứu hộ, nghiên cứu phát triển sinh vật
Chuyển toàn bộ nhiệm vụ của khu BTTN Bà nà được quy định trong Quyết định Số: 28/2004/QĐ-UB ngày 18 tháng 3 năm 2004 của UBND thành phố Đà nẵng (V/V Thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Bà nà ) sang cho BQL khu BTTN Bà nà thực hiện.
Thành lập hạt Kiểm lâm Bà nà trực thuộc chi cục Kiểm lâm
Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của hạt Kiểm lâm Bà nà được quy định cơ bản theo điều 10; 11; của Nghị định số 119/2006/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2006 của Chính phủ
Về tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm, và theo đúng Thông tư liên tịch Số: 22/2007/TTLT-BNN-BNV ngày 27 tháng 3 năm 2007 của bộ NN & PTNT và bộ Nội vụ Hướng dẫn về nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Kiểm lâm ở địa phương
b/ Định biên
Biên chế của BQL khu BTTN Bà nà tính theo đúng điều 16 ; 18 của Quy chế Quản lý rừng Ban hành kèm theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ, riêng ban Giám đốc: 2 người, phòng QLBVR là : 31 người, hai phòng còn lại tùy theo tình hình thực tế tại địa phương để bố trí biên chế cho phù hợp, nhưng không nên bố trí dưới 3 người một phòng Biên chế của hạt Kiểm lâm Bà nà tính theo đúng điều 15 của Nghị định số 119/2006/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2006 của Chính phủ Về tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm là 16 người
Tổng biên chế của khu BTTN Bà nà là : 55 biên chế, trong đó:
*Biên chế của BQL khu BTTN Bà nà là : 39 biên chế, bao gồm:
+Ban giám đốc : 2 biên chế
+Phòng QLBVR : 31 biên chế
+Phòng KHKT và hợp tác quốc tế : 3 biên chế
+Phòng HCTH : 3 biên chế
* Biên chế của hạt kiểm lâm Bà nà là : 16 biên chế.
3.2.2.5.Tiến độ thực hiện:
+Từ nay đến hết năm 2010 hoàn thành các thủ tục, hồ sơ phương án tổ chức bộ máy BQL Khu bảo tồn thiên nhiên Bà nà, và hạt Kiểm lâm Bà nà, nên biên chế và kinh phí cấp cho khu BTTN Bà nà năm 2010, giữ nguyên như kế hoạch năm 2010 đã được UBND Thành phố phê duyệt.
+ Năm 2011 nhu cầu biên chế tăng 20, nhu cầu kinh phí là : 3.400 triệu đồng
+ Năm 2012 nhu cầu biên chế tăng 10 , nhu cầu kinh phí là: 3.800 triệu đồng
+ Năm 2013 nhu cầu biên chế tăng 10 , nhu cầu kinh phí là: 4.200 triệu đồng
C Phương án 3:
3.2.3.1.Mục tiêu
Tạo ra cơ cấu tổ chức cho BQL khu BTTN Bà nà đủ mạnh để hoàn thành tốt các chức năng nhiệm vụ được giao
3.2.3.2.Nội dung chính
Ông Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, phải tham mưu cho sở NN & PTNT, sở nội vụ, và UBND Thành phố Đà nẵng xây dựng, phê duyệt phương án chuyển đổi khu BTTN Bà nà trực thuộc chi cục Kiểm lâm, thành BQL khu BTTN Bà nà trực thuộc UBND thành phố Đà nẵng: cụ thể ông Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, phải Tham mưu cho sở NN & PTNT, sở nội vụ, UBND Thành phố Đà nẵng xây dựng, phê duyệt phương án tổ chức bộ máy khu bảo tồn thiên nhiên Bà nà có đủ các phòng ban( hoặc đơn vị tương đương) cần thiết để thực hiện tốt 6 nhiệm vụ được giao, sao cho các phòng ban hoặc đơn vị tương đương này, không bị chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ để giảm nhu cầu tài chính cho bộ máy BQL khu bảo tồn thiên nhiên Bà nà, nhưng BQL vẫn hoàn thành tốt các chức năng, nhiệm vụ được giao.