1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyển giao công nghệ quốc tế thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp FDI thực trạng và giải pháp ở việt nam

60 902 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyển giao công nghệ quốc tế thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp FDI thực trạng và giải pháp ở Việt Nam
Tác giả Nhóm 5
Người hướng dẫn
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 611,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Công nghệ thứ cấp: Là những công nghệ đã được chuyển giao lần thứ nhất,thứ 2, thứ 3 …Các nước đang phát triển trong đó có Việt nam thường sử dụngcông nghệ thứ cấp.1.1.2.2 Phân loại the

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Một trong những xu hướng phát triển hiện nay là sự bùng nổ của cuộc cáchmạng khoa học công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới Công nghệ đãlàm cho năng lực sản xuất tăng nhanh chưa từng có, chất lượng sản phẩm nâng caothoả mãn được hầu hết những đòi hỏi khắt khe của cuộc sống hiện đại Nhữngngành sản xuất có công nghệ càng cao thì tỉ suất lợi nhuận thu được càng lớn trongkhi đó nguyên vật liệu sử dụng không đáng kể Do vậy nước nào càng nắm giữđược nhiều công nghệ sản xuất hiện đại tiên tiến thì kinh tế càng phát triển Chính

vì thế hoạt động chuyển giao công nghệ phát huy vai trò của nó hơn bao giở hết.Các nước trao đổi, chuyển giao công nghệ để tranh thủ lợi thế so sánh, nâng caonăng lực sản xuất và năng lực cạnh tranh của các quốc gia

Việt Nam không nằm ngoài xu hướng trên Những hiểu biết chung về côngnghệ và chuyển giao công nghệ cũng như những bài học kinh nghiệm thực tiễn cácnước bạn giúp chúng ta nhìn nhận chính xác hơn về thực trạng cũng như đề ra giảipháp giải quyết khó khăn thực tế Đó chính là nội dung chính tiểu luận Nhóm 5 thựchiện: “Chuyển giao công nghệ quốc tế thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp FDI -Thực trạng và giải pháp ở Việt Nam”

Tiểu luận được chia ra làm 3 chương:

Chương 1: Những hiểu biết về công nghệ và chuyển giao công nghệ

Chương 2: Kinh nghiệm quốc tế trong thúc đẩy quá trình tiếp nhận và chuyển

giao công nghệChương 3: Thực trạng CGCN qua các dự án FDI vào Việt Nam

Chương 4: Các giải pháp nhằm tăng cường thu hút và sử dụng có hiệu quả

hoạt động CGCN qua FDI tại Việt NamNhóm chúng em rất cám ơn sự hướng dẫn của Cô để hoàn thiện tiểu luận này

Trang 2

CHƯƠNG 1 NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ CÔNG NGHỆ VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

1.1 Những hiểu biết cơ bản về công nghệ

1.1.1 Khái niệm về công nghệ

Có nhiều khái niệm về công nghệ theo tổ chức ESCAP “Công nghệ là kiếnthức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến sản phẩm hoặc thông tin

Nó bao gồm: kiến thức, khả năng , thiết bị,sáng chế, công thức chế tạo, phươngpháp và các hệ thống dùng trong việc tạo sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ”

Theo UNIDO (United Industrial Development Organization –Tổ chức pháttriển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc), “Công nghệ là việc áp dụng khoa học vàocông nghiệp bằng cách sử dụng các nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và

1.1.2 Phân loại công nghệ

1.1.2.1 Phân loại theo số lần công nghệ đã được chuyển giao

Công nghệ chia làm 2 nhóm:

- Công nghệ nguồn: là công nghệ tạo ra lần đầu từ các phát minh sáng chế, giảipháp hữu ích Công nghệ nguồn là công nghệ mới nhưng mang tính hiện đại,chúng thường có nguồn gốc từ các nước công nghiệp phát triển Các nướcđang phát triển cũng có khả năng tạo ra công nghệ nguồn như CUBA: trongnăm 2008 công bố đã tìm ra thuốc làm chậm sự phát triển của căn bệnh ungthư

Trang 3

- Công nghệ thứ cấp: Là những công nghệ đã được chuyển giao lần thứ nhất,thứ 2, thứ 3 …Các nước đang phát triển trong đó có Việt nam thường sử dụngcông nghệ thứ cấp.

1.1.2.2 Phân loại theo mức độ tiên tiến của công nghệ

Có 3 loại công nghệ:

- Công nghệ cao, hiện đại: Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao vềnghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tạo ra các sản phẩm, đơn vị cóchất lượng và giá trị gia tăng cao, có khả năng hình thành các ngành sản xuất,dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có

- Công nghệ trung bình: Thường là công nghệ thứ cấp, đã được chuyển giaonhiều lần nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu sản xuất hoạc dịch vụ, tuy nhiên khi sửdụng công nghệ này không cho phép tạo ra các sản phẩm dịch vụ có khả năngcạnh tranh cao Ở các nước kém phát triển thường sử dụng công nghệ trungbình vì nó phù hợp với khả năng tài chính và trình độ chuyên môn

- Công nghệ lạc hậu: Là những loại công nghệ mà việc sử dụng chúng tạo ra cácsản phẩm có khả năng cạnh tranh thấp, năng suất lao động không cao, phầnlớn ô nhiễm môi trường

1.1.2.3 Phân loại theo hình thức biểu hiện công nghệ

- Công nghệ phần cứng: thiết bị, máy móc, công cụ, máy tính…đây là sự biểuhiện hữu hình của công nghệ

- Công nghệ phần mềm: là tập hợp các chương trình, quy tắc, các hướng dẫn…đây là sự biểu hiện vô hình của công nghệ

Công nghệ phần cứng và phần mềm chỉ phát huy tác dụng khi gắn kết vớinhau, muốn nâng cấp công nghệ thì người ta phải thay đổi phần mềm và nâng cấpphần cứng của công nghệ

1.1.2.4 Căn cứ vào hàm lượng các nguồn lực trong công nghệ

Chia làm 3 loại chính

Trang 4

- Công nghệ có hàm lượng lao động cao: may mặc, dệt, lắp ráp điện tử, sản xuấtgiáy dép, chế biến nông sản.

- Công nghệ có hàm lượng vốn cao: Đóng tàu, cơ khí,khai khoáng, chế biến dầu

mỏ, sản xuất điện năng

- Công nghệ có hàm lượng tri thức cao: phần mềm, sinh học…

1.1.2.5 Công nghệ phân loại theo ngành

- Công nghệ nano

- Công nghệ thông tin và truyền thông

- Công nghệ cơ khí và tự động hóa

- Công nghệ vật liệu mới

- Công nghệ sinh học

- Công nghệ khác

1.1.2.6 Phân loại công nghệ theo mức độ khuyến khích của Nhà nước.

Vì công nghệ là sản phẩm đặc biệt nên bất cứ quốc gia nào chính phủ cũngtham gia vào kiểm soát mua bán (xuất nhập khẩu) công nghệ Ở Việt nam phânloại theo tiêu chí này công nghệ chia thành 3 nhóm:

Nhóm 1: Công nghệ được khuyến khích chuyển giao(nêu ở điều 9 Luật công nghệ)

Công nghệ được khuyến khích là công nghệ cao, công nghệ tiên tiến đáp ứngmột trong các yêu cầu sau:

1 Tạo ra sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao

2 Tạo ra ngành công nghiệp, dịch vụ mới

3 Tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu

4 Sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo

Trang 5

6 Phòng, chống thiên tai dịch bệnh

7 Sản xuất sạch, thân thiện môi trường

8 Phát triển ngành, nghề truyền thống

Nhóm 2:Công nghệ hạn chế chuyển giao (nêu ở điều 10 Luật công nghệ)

Hạn chế chuyển giao một số công nghệ nhằm mục đích sau đây:

1 Bảo vệ lợi ích quốc gia

2 Bảo vệ sức khỏe con người

3 Bảo vệ giá trị văn hóa dân tộc

4 Bảo vệ động vật,thực vật,tài nguyên môi trường

5 Thực hiện quy định của điều ước quốc tế mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ NghĩaViệt Nam là thành viên

Nhóm 3: Công nghệ cấm chuyển giao (Nêu ở điều 11 Luật công nghệ)

1 Công nghệ không đáp ứng các quy định của pháp luật về an toàn lao động,

vệ sinh lao động, bảo đảm sức khỏe con người, bảo vệ tài nguyên môitrường

2 Công nghệ tạo ra sản phẩm gây hậu quả xấu đến phát triển kinh tế - xã hội vàảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh , trật tự, an toàn xã hội

3 Công nghệ không được chuyển giao theo quy định của điều ước quốc tế màCộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là thành viên

4 Công nghệ thuộc danh mục bí mật nhà nước, trừ trường hợp pháp luật có quyđịnh khác

1.1.3 Các bộ phận cấu thành công nghệ.

Muốn sáng tạo công nghệ, xác lập quyền sở hữu công nghệ, chuyển giaocông nghệ và quản lí công nghệ có hiệu quả chúng ta cần biết rằng thành phần củacông nghệ gồm 4 yếu tố cấu thành:

Trang 6

- Phần cứng – Technowere(hardware): công nghệ hàm chứa trong vật thể (máymóc, thiết bị, công cụ, hạ tầng kỹ thuật, nguyên liệu…)

- Con người – Humanware: công nghệ hàm chứa trong con người (kiến thức, kỹnăng công nghệ, kinh nghiệm, kỷ luật công nghệ, tính sáng tạo…)

- Thông tin – Infoware : công nghệ hàm chứa trong tài lệu (thiết kế, quy trình,phương pháp, công nghệ, số liệu, hướng dẫn kỹ thuật, phương pháp, kế hoạch

và phương tiện lưu trữ thông tin khác)

- Tổ chức – Orgaware: công nghệ hàm chứa trong các thể chế (cơ cấu tổ chức,phạm vi chức năng, trách nhiệm, thẩm quyền trong các bộ máy, cơ cấu điềuhành, các chuẩn mực lề lối quan hệ trong các cơ quan…trong quản lý côngnghệ)

Ba yếu tố sau gọi là phần mềm của công nghệ

1.1.4 Các thuộc tính của công nghệ

Để sáng tạo quản lý công nghệ, chuyển giao công nghệ (mua bán công nghể)

có hiệu quả chúng ta cấn biết công nghệ có 4 thuộc tính quan trọng:

1.1.4.1 Công nghệ mang tính hệ thống

Như ở trên đã đề cập thành phần của công nghệ gồm 4 bộ phận cấu thành:phần cúng, con người, thông tin và tổ chức Cho nên không thể tách rời từng bộphận của công nghệ vì các bộ phận này gắn với nhau một cách hữu cơ, mang tínhcộng sinh

Tính hệ thống của công nghệ cho thấy một sai lầm thường gặp là việc mua báncông nghệ đồng nhất với việc mua bán máy móc thiết bị - phần cứng của công nghệ

mà bỏ qua yếu tố phần mềm.Thiếu bất kì một giải pháp nào sẽ không đảm bảo tính

hệ thống và nhà đầu tư chỉ nhận được một thứ công nghệ “què quặt” không thể sửdụng có hiệu quả

1.1.4.2 Công nghệ mang thuộc tính sinh thể

Trang 7

Công nghệ là một loại hàng hóa đặc biệt có đặc điểm như là một cơ thể sống,

có chu kỳ phát triển Chu kỳ phát triển của công nghệ trải qua các giai đoạn: nghiêncứu sản xuất thửtriển khai rộngphát triểnbảo hòalỗi thờibị thay thếbởi các công nghệ mới khác

Ngày nay chu kỳ sống của công nghệ rút ngắn đi rất nhiều: Nếu ở đầu thế kỷ

20 “tuồi thọ” của công nghệ bình quân 15 -20 năm, đến giữa thế kỷ: 7-12 năm, đầuthế kỷ 21: 3 – 5 năm, thậm chí tuổi thọ sản phẩm trong ngành sản xuất điện thoại diđộng chỉ còn 3-6 tháng lại ra công nghệ mới hiện đại hơn Cho nên khi chuyển giaocông nghệ các doanh nghiệp phải ước đoán công nghệ mình lựa chọn ở giai đoạnnào của chu kỳ sống, bao lâu công nghệ sẽ bị lạc hậu, bị thay thế Từ đó mới xâydựng chiến lược mua sắm hoặc nâng cấp công nghệ

1.1.4.3 Công nghệ mang thuộc tính đặc thù

Đây là sự biểu hiện tính tương thích của công nghệ

- Tính đặc thù về địa điểm: Mổi công nghệ chỉ phù hợp với môi trường khíhậu,văn hóa,đất đai,vị trí địa lý cụ thể…điều này chẳng những đúng trong lĩnhvực công nghệ sinh học: Công nghệ có thể ứng dụng tốt ở vùng này, nhưng ởvùng khác không phát huy tác dụng…mà còn thể hiện trong lĩnh vực côngnghiệp: ví dụ TV, sản phẩm điện tử có thể dùng tốt ở Châu Âu nơi khí hậukhô, lạnh Nhưng cũng sản phẩm đó khi mang về Việt Nam thì dùng không tốt

vì nó chưa được nhiệt đới hóa, nên các sản phẩm điện tử không vận hành cóhiệu quả trong môi trường có khí hậu ẩm

- Tính đặc thù về mục tiêu: Sử dụng công nghệ, sản phẩm nào thì công nghệ ấy,khi quy cách sản phẩm thay đổi thì công nghệ cũng phải điều chỉnh cho phùhợp Ngoài ra khi mục tiêu về thị trường, phân khúc thị trường thay đổi thìviệc chọn sử dụng công nghệ cũng thay đổi

- Tính tương thích về môi trường văn hóa và trình độ lao động: Có những côngnghệ được sử dụng hiệu quả ở các nước công nghiệp sử dụng tốt nhưng đưasang nước khác kém phát triển ít phát huy tác dụng vì năng lực và trình độ của

Trang 8

người lao động kém hay công nghệ biểu diễn ở nước này được chấp nhậnnhưng đưa sang nước khác bị “tẩy chay”

- Tính đặc thù về pháp lý: Luật lệ ở các nước ,đặc biệt là luật về môi trường tácđộng vào việc chuyển giao và sử dụng công nghệ Nhiều nước công nghiệpphát triển Hoa Kỳ, EU, Nhật…có danh mục kỹ thuật và công nghệ cấmchuyển giao ra nước ngoài Cho nên nhiều nước có tiền nhưng không thể muasắm được công nghệ tiên tiến Ngoài ra cần lưu ý có những công nghệ bị cấm

sử dụng ở nước này (thường là công nghệ gây ô nhiễm) nhưng lại được sửdụng ở nước khác

1.1.4.4 Công nghệ mang thuộc tính thông tin

Như phần trên đã đề cập thông tin (bản thiết kế, hướng dẫn sử dụng, côngthức…) là một bộ phận cấu thành công nghệ.Cho nên, việc chuyển giao công nghệ

mà không kèm theo chuyển giao thông tin hoặc chuyển giao thông tin không đầy đủthì không khác nào chúng ta mua sắm một sản phẩm khoa học bị “khuyết tật”

Để đảm bảo công nghệ không bị sao chép, đánh cắp thì các thông tin về côngnghệ phải được xác lập bảo hộ sở hữu trí tuệ

Tóm lại, muốn xây dựng chiến lược phát triển công nghệ thì phải nắm rõ 4

thuộc tính của chúng

1.1.5 Những nơi hàm chứa công nghệ (nơi cất giữ công nghệ)

Nắm vững nơi cất giữ công nghệ cho phép ta xác định hình thức chuyển giao(mua, bán) công nghệ; xác lập quyền sở hữu trí tuệ; xác lập cách khai thác và bảoquản công nghệ

Có 3 nơi hàm chứa công nghệ:

- Công nghệ hàm chứa trong máy móc thiết bị

- Công nghệ hàm chứa trong tài liệu in ấn, viết tay; các dữ liệu ghi trong băngđĩa, thiết bị điện tử: phim, ảnh…Những thông tin này hướng dẫn vế cách vận

Trang 9

hành máy móc, cách tạo sản phẩm; hoặc hướng dẫn nuôi trồng nông- thủysản.

- Công nghệ hàm chứa trong bộ não con người (nhà bác học; chuyên gia kỹthuật; nhà quản lý; công nhân…)

Muốn sử dụng công nghệ có hiệu quả thì phải đồng thời khai thác 3 nơi hàmchứa công nghệ

1.2 Chuyển giao công nghệ và các hình thức chuyển giao công nghệ

1.2.1 Khái niệm chuyển giao công nghệ

- Theo tổ chức ESCAP

+ Khái niệm hẹp: CGCN là sự cho phép của một Người có thẩm quyền tuyệtđối cho một Người khác để sử dụng nội dung công nghệ trong một thời giannhất định và cam kết không sử dụng quyền tuyệt đối của mình để chống lạiNgười được trao quyền trong suốt thời gian đó

+ Khái niệm mở rộng: Là sự chuyển giao các kiến thức kỹ thuật từ Người cókiến thức sang Người chưa có kiến thức và mong muốn có được kiến thứcđó

- Khái niệm CGCN ở Việt Nam: “CGCN là chuyển giao quyền hoặc quyền sửdụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao côngnghệ sang bên nhận công nghệ

- Thực chất về hoạt động CGCN: là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sửdụng các đối tượng sỡ hữu công nghiệp như: sáng chế, kiểu dáng côngnghiệp, nhãn hiệu hàng hóa,

1.2.2 Các hình thức CGCN

1.2.2.1 Phân loại theo mức độ khống chế của bên chuyển giao công nghệ

Có 3 hình thức chuyển giao: chuyển giao giản đơn, chuyển giao không độcquyền, chuyển giao độc quyền

Trang 10

a) Chuyển giao giản đơn: Là hình thức người chủ công nghệ trao cho người

mua nó quyền sử dụng công nghệ trong một thời gian và phạm vi hạnchế Đặc điểm của hình thức chuyển giao này là:

- Người chủ công nghệ có thể bán cho một hoặc nhiều người muốn mua trêncùng một địa phương

- Người mua công nghệ không có quyền bán lại công nghệ đã được chuyểngiao

- Giá cả công nghệ thấp

b) Chuyển giao công nghệ không độc quyền (chuyển giao đặc quyền)

Đặc điểm của hình thức này là:

- Người bán trao quyền sử dụng công nghệ cho người mua giới hạn trong mộtphạm vi lãnh thổ (tỉnh, khu vực, trong một nước…)

- Người bán công nghệ không được bán cho đối tượng sử dụng khác trongphạm vi địa lý quy định của hợp đồng

- Người mua công nghệ không có quyền chuyển nhượng nó cho người thứ badưới bất kỳ hình thức nào

- Giá cả công nghệ khá cao

c) Chuyển giao công nghệ độc quyền: Là hình thức người bán trao toàn bộ

quyền sử dụng công nghệ cho người mua trong suốt thời gian có hiệu lựccủa hợp đồng Đặc điểm của hình thức này là:

- Người mua trở thành chủ thực sự của công nghệ trong suốt thời gian có hiệulực của hợp đồng

- Người mua có thể bán lại công nghệ đã mua

- Người chủ sỡ hữu thứ nhất của công nghệ có thể đơn phương hủy bỏ hợpđồng nếu bên mua công nghệ không chịu thực hiện các cam kết ghi tronghợp đồng như thanh toán chậm…

1.2.2.2 Phân loại theo chiều sâu công nghệ chuyển giao

- Mức độ 1: Trao kiến thức, việc chuyển giao công nghệ chỉ dừng ở mức

truyền đạt kiến thức bằng cách đưa công thức, hướng dẫn, tư vấn về kỹ thuật

Trang 11

- Mức độ 2: Chuyển giao công nghệ dưới dạng chìa khóa trao tay, ở đây người

bán công nghệ phải thực hiện các công việc như lắp đặt máy móc, hướng dẫnquy trình, hoàn tất toàn bộ quá trình sản xuất và người mua công nghệ chỉviệc nhận công trình và bước ngay vào sản xuất Ở mức độ chuyển giao nàygiá trị của hợp đồng chuyển giao đắt hơn gấp nhiều lần so với mức độ 1

- Mức độ 3: Trao sản phẩm, ở mức độ này người chấp nhận có trách nhiệm

chẳng những giúp người mua công nghệ hoàn tất việc lắp đặt toàn bộ dâychuyền sản xuất, mà còn giúp họ sản xuất thành công sản phẩm sử dụng kỹthuật được chuyển giao

- Mức độ 4: Trao thị trường, đây là mức độ chuyển giao công nghệ sâu nhất.

Ngoài trách nhiệm ở mức độ 3, bên bán công nghệ phải gánh thêm tráchnhiệm bàn giao một phần thị trường của mình, nơi mà họ đã xâm nhập thànhcông cho bên mua công nghệ Thông thường, mức độ chuyển giao “trao thịtrường” được thực hiện dưới dạng liên doanh sản xuất

1.2.2.3 Phân loại theo hình thái công nghệ được chuyển giao

Có 2 hình thức chuyển giao:

Các chu kỳ của quá trình phát triển công nghệ:

- Giai đoạn 1: Nghiên cứu khoa học để phát minh ra công nghệ (nghiên cứu cơ

bản)

- Giai đoạn 2: Triển khai thực nghiệm (cho ra đời sản phẩm trong phòng thí

nghiệm)

- Giai đoạn 3: Triển khai sản xuất (để nhằm hoàn thiện sản xuất)

- Giai đoạn 4: Sản xuất đại trà (đưa ra thị trường)

a) Chuyển giao công nghệ theo chiều dọc.

Là hình thức chuyển giao thực hiện bao gồm các công đoạn:

- Giai đoạn 1 và 2

- Giai đoạn 1; 2 và 3

- Giai đoạn 1; 2; 3 và 4

Trang 12

Như vậy, CGCN dọc thể hiện dòng công nghệ từ nghiên cứu trong phòng thínghiệm qua các giai đoạn triển khai và cuối cùng là thương mại hóa

Ưu điểm của CGCN theo chiều dọc:

- Bên nhận công nghệ có thể sỡ hữu công nghệ mới chưa xuất hiện trên thịtrường

- Bên nhận công nghệ hoàn toàn làm chủ công nghệ được chuyển giao

b) Chuyển giao công nghệ theo chiều ngang

Là hình thức chuyển giao bao gồm các công đoạn:

- Giai đoạn 3 và 4

- Giai đoạn 4

Như vậy, CGCN ngang thực chất là việc chuyển giao công nghệ đã hoàn chỉnh

từ một môi trường hoạt động này tới môi trường hoạt động khác Những môitrường này có thể là quốc tế cũng như quốc gia

1.3 Tác động của chuyển giao công nghệ

1.3.1 Lợi ích và hạn chế đối với bên thực hiện CGCN

1.3.1.1 Lợi ích đối với bên thực hiện CGCN

- Cải tiến và hoàn thiện công nghệ chuyển giao nhằm làm cho nó thích ứngvới môi trường kinh doanh cụ thể

- Cho phép bên CGCN có thêm lợi nhuận mà không cần tổ chức sản xuất: nhờthu tiền kỳ vụ từ bên tiếp nhận công nghệ trả

- Tiếp nhận nhanh chóng các thị trường mới ở nước ngoài thông qua CGCN

Trang 13

- Chuyển giao công nghệ thông qua liên doanh đầu tư ở nước ngoài tạo điềukiện cho bên CGCN sử dụng nguồn lao động với giá rẻ giúp giảm chi phí sảnxuất.

- Cho phép sử dụng tài nguyên và các lợi thế so sánh khác của nước tiếp nhậnđầu tư

- Thông qua CGCN bên chuyển giao có thể tạo thêm những ràng buộc về kinh

tế đối với bên tiếp nhận công nghệ có lợi cho mình

- Qua CGCN bên chuyển giao tạo mối quan hệ gắn kết mang tính cộng sinhvới bên tiếp nhận công nghệ

1.3.1.2 Những hạn chế (thiệt hại) đối với bên thực hiện CGCN

- Tạo thêm đối thủ cạnh tranh khi công nghệ chuyển giao bị phát tán, đặc biệtkhi bên tiếp nhận công nghệ lại tiếp tục chuyển giao cho bến thứ ba

- Bên CGCN bị cách ly đối với khách hàng: CGCN ra nước ngoài làm cho bênCGCN ít tiếp cận trực tiếp với khách hàng ở nước nhập khẩu hơn trong khiviệc tiếp cận này đối với khách hàng sử dụng sản phẩm là rất cần thiết

- Bên CGCN giảm bớt sự kiểm soát đối với sự phát triển thị trường của sảnphẩm

- Bên CGCN có thể bị mất các chuyên gia giỏi

- Bên CGCN có thể bị đối tác vi phạm hợp đồng CGCN

1.3.2 Lợi ích và hạn chế đối với bên tiếp nhận công nghệ

1.3.2.1 Những lợi ích đối với bên tiếp nhận công nghệ:

- Giảm thiểu chi phí cho việc nghiên cứu và triển khai công nghệ

- Giúp cho bên tiếp nhận công nghệ cải thiện nâng cấp về trình độ khoa học kỹthuật và công nghệ nhờ đó làm cho sản phẩm mang tính ưu việt hơn, mangkhả năng cạnh tranh cao hơn

- Giúp cho bên tiếp nhận nâng cao trình độ cán bộ và tay nghề công nhân quacông tác huận luyện và đào tạo để thực hiện CGCN và qua việc tiếp xúc vớiđội ngũ chuyên gia của bên CGCN

- Có thể mở rộng thêm thị trường và lĩnh vực kinh doanh

Trang 14

- Nâng cao năng lực kinh doanh đáp ứng yêu cầu toàn cầu hóa về kinh tế, củng

cố thương hiệu, nâng cao giá trị của sản phẩm

1.3.2.2 Những hạn chế (bất lợi) đối với bên tiếp nhận công nghệ:

- Bị lệ thuộc vào bên CGCN về việc huấn luyện, đào tạo, chỉ dẫn lắp đặt máymóc trang thiết bị…

- Có thể bị mất vốn đầu tư vào mua công nghệ

- Bên CGCN có vấn đề: không có năng lực hoặc không có kinh nghiệmchuyển giao dẫn tới CGCN không đầy đủ kéo dài thời gian… gây thiêt hạicho bên tiếp nhận công nghệ

- Do việc đàm phán kém hiệu quả nên hợp đồng CGCN có một số điều khoảnbất lợi cho bên tiếp nhận công nghệ: tiếp thu công nghệ không trọn vẹn, thờigian sở hữu công nghệ quá ngắn chưa kịp thu hồi vốn, không được chuyểngiao thị trường, giá cả công nghệ đắt…

1.4 Hợp đồng chuyển giao công nghệ quốc tế

1.4.1 Những hiểu biết về hợp đồng CGCN

Hợp đồng CGCN quốc tế là sự thỏa thuận bằng văn bản mang tính pháp lýgiữa các bên tham gia ký kết, trong đó nêu rõ trách nhiệm, nghĩa vụ và quyềnlợi của mỗi bên có lien quan đến quá trình CGCN

1.4.2 Đặc điểm của hợp đồng CGCN quốc tế

- Hợp đồng lập thành văn bản (Fax, telex: các thư giao dịch cũng là dạng vănbản của hợp đồng)

- Có bên nước ngoài tham gia ký kết

- Sản phẩm công nghệ được chuyển dịch qua biên giới

- Hợp đồng CGCN quốc tế chảng những chịu sự điều tiết của pháp luật ViệtNam mà còn pháp luật, điều ước quốc tế

- Hợp đồng lập bằng tiếng nước ngoài và tiếng Việt đều có giá trị pháp lý nhưnhau

- Với công nghệ thuộc danh mục Nhà nước hạn chế nhập khẩu thì chỉ có hiệulực khi nhập khẩu chấp thuận

Trang 15

1.4.3 Những lưu ý khi xây dựng hợp đồng CGCN

- Lưu ý thứ nhất: Những điều khoản không được đưa vào hợp đồng CGCN

quốc tế (trừ trường hợp cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam cho phép)

1 Ràng buộc Bên nhận công nghệ mua nguyên liệu, vật liệu, tư liệu sản xuất,sản phẩm trung gian hoặc sử dụng nhân lực từ nguồn do Bên giao công nghệchỉ định

2 Khống chế quy mô sản xuất, giá cả và phạm vi tiêu thụ sản phẩm của Bênnhận công nghệ, kể cả chọn đại lý tiêu thụ sản phẩm hoặc đại diện thươngmại

3 Hạn chế thị trường xuất khẩu của Bên nhận công nghệ, từ những thị trường

mà Bên giao công nghệ đang tiến hành sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cùngloại hoặc đã cấp lisence độc quyền cho bên thứ ba

4 Hạn chế Bên nhận công nghệ nghiên cứu và phát triển công nghệ đượcchuyển giao hoặc tiếp nhận từ những nguồn khác các công nghệ tương tự

5 Ràng buộc Bên tiếp nhận công nghệ phải chuyển giao vô điều kiện cho BênCGCN quyền sử dụng các kết quả đổi mới, phát triển công nghệ do Bên tiếpnhận công nghệ tạo ra từ các công nghệ được chuyển giao hoặc cho phépBên CGCN có quyền đăng ký quyền bảo hộ sỡ hữu trí tuệ cho các cải tiến,đổi mới phát triển công nghệ được chuyển giao

6 Miễn trừ trách nhiệm của Bên CGCN trong các trường hợp:

- Sai sót hoặc chuyển giao không đầy đủ

- Máy móc trang thiết bị chuyển giao không đảm bảo chất lượng đã thỏathuận

7 Ngăn cấm Bên tiếp nhận công nghệ được tiếp tục sử dụng công nghệ sau khi

đã kết thúc thời hạn hợp đồng CGCN

- Lưu ý thứ hai: Vấn đề đổi mới và hoàn thiện công nghệ chuyển giao

Trang 16

Trong quá trình CGCN ở phía Bên được chuyển giao có thể diễn ra sự hoànthiện hoặc đổi mới công nghệ Cần phân biệt sự đổi mới và hoàn thiện côngnghệ

- Đổi mới công nghệ: Là sự thay đổi cơ bản sản phẩm hoặc quy trình công

nghệ

- Sự hoàn thiện công nghệ: Là sự tác động làm cho công nghệ thay đổi phù

hợp với những điều kiện sản xuất cụ thể Để đảm bảo CGCN một cách hoàndiện, có hệ thống, Bên mua công nghệ nên đưa vào hợp đồng CGCN nhữngđiều khoản mà Bên bán công nghệ phải chuyển giao hoặc thông báo nhữnghoàn thiện và đổi mới có liên quan đến công nghệ được chuyển giao

Trang 17

CHƯƠNG 2 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG VIỆC THÚC ĐẨYQUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

2.1 Chuyển giao công nghệ ở Hàn Quốc

2.1.1 Nét chung về con đường tiếp nhận:

Chúng tôi đề cập đến tình hình nhập công nghệ ở Hàn Quốc và hoạt độngchuyển giao công nghệ được tập trung chủ yếu vào các thập kỷ 70, 80 và 90 Chínhphủ Hàn Quốc đã có những chính sách nhập công nghệ qua các giai đoạn: Giai đoạn

1 năm 1978, giai đoạn 2 năm 1984- giai đoạn được gọi là thông thoáng nhất và giaiđoạn 3-1994, gọi là “Chiến lược Quốc tế hóa kinh tế mới” nhằm tự do hóa mà thựcchất là đơn giản hóa các thủ tục nhập công nghệ

Kết quả thực tế nhập công nghệ: Nhập công nghệ ở Hàn Quốc gia tăngtrung bình 15%/năm cho đến năm 1984, nhưng từ năm 1989 bắt đầu giảmcho đến năm 1992 và sau năm 1993 mới khôi phục và tăng dần

Bảng 2.1 Số vụ nhập công nghệ qua các năm Hàn Quốc

(Đơn vị: Số vụ nhập công nghệ, triệu USD)

Tổng 1962- 1993

Trang 18

Ở Hàn Quốc, một kênh nhập công nghệ được coi là quan trọng nữa làđầu tư trực tiếp nước ngoài, chúng ta tự phân tích ý kiến này qua số liệu ởBảng 4 dưới đây:

Bảng 2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hàn Quốc

(Đơn vị: Số vụ đầu tư, triệu USD)

Tổng 1962- 1993

Con đường du nhập công nghệ và mục đích của du nhập công nghệ:

Theo kết quả điều tra năm 1991 của Ngân hàng Công nghiệp Hàn Quốc, cácdoanh nghiệp của Hàn Quốc hiểu rằng tự mình phát triển công nghệ hơn là du nhậpcông nghệ để học tập công nghệ mới liên quan đến sản xuất hoặc sản phẩm (46%).Trường hợp công nghiệp hóa và công nghiệp máy móc, mức độ phụ thuộc vào dunhập công nghệ là 59% và 47%, vẫn còn là cao Mặt khác, nếu bằng con đường chủyếu để học tập công nghệ nước ngoài của các doanh nghiệp Hàn Quốc thì chủ yếu

du nhập công nghệ thông qua hợp đồng chuyển nhượng licence, 34% thông quanhập thiết bị và nguyên liệu, 18% qua đầu tư hợp tác Theo số liệu điều tra của Hiệphội Phát triển Công nghệ Hàn Quốc, trong hợp đồng chuyển nhuợng licence của cácdoanh nghiệp Hàn Quốc, 90,2% của toàn bộ giao dịch là diễn ra giữa các doanhnghiệp độc lập không có sự quan hệ về vốn giống như các công ty con hay là công

ty hợp tác Phần lớn hợp đồng du nhập công nghệ của Hàn Quốc là có mối quan hệ

Trang 19

giao dịch của người thứ ba trung gian giữa các doanh nghiệp độc lập Trường hợp

đã có kinh nghiệm làm ăn với doanh nghiệp cung cấp công nghệ trong quá khứchiếm 42,8%, trường hợp chưa có kinh nghiệm là 57,2% Điều này có ý nghĩa là dunhập công nghệ từ các doanh nghiệp độc lập công nghệ không có kinh nghiệm giaodịch là đa số

Bảng 2.3 Con đường học tập công nghệ mới và công nghệ nước ngoài của các

doanh nghiệp Hàn Quốc

Đơn vị: %

Phương pháp học côngnghệ mới

Con đường học công nghệ nướcngoài

Trung tâm

du nhậpcông nghệ

Trung tâm

tự pháttriển côngnghệ

Hợp đồngchuyểngiao côngnghệ

Du nhậpthiết bị vànguyênliệu

Đầu tưhợp tácnướcngoài

Trang 20

Xu hướng mà các doanh nghiệp Hàn Quốc du nhập công nghệ từ cácdoanh nghiệp độc lập của Nhật Bản và châu Âu là nhiều hơn so với Mỹ Nếu

so sánh việc nhập công nghệ với doanh nghiệp vừa và nhỏ, thì các doanhnghiệp quy mô lớn có tính chủ động và tích cực hơn, chúng ta thử quan sátcác số liệu trong Bảng 7 dưới đây sẽ rõ:

Bảng 2.4 Quy mô tương đối của du nhập công nghệ

Nguồn: Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Hàn Quốc.

Như trên đã nêu, du nhập công nghệ của Hàn Quốc có xu hướng chính

là du nhập công nghệ thông qua hợp đồng chuyển nhượng licence từ công tyxuyên quốc gia nước ngoài không có quan hệ làm ăn trước đây hoặc từ cácdoanh nghiệp chuyên ngành Nếu nhìn từ quan điểm mang tính dài hạn củamục đích chủ yếu du nhập công nghệ của Hàn Quốc, thì việc du nhập côngnghệ không phải là nâng cao cơ sở kỹ thuật mà là đẩy mạnh hệ thống sảnxuất, tăng sức cạnh tranh về giá cả, linh hoạt với những thay đổi ngắn hạncủa thị trường Đặc trưng này thông qua sự ưu đãi đầu tư nước ngoài củaHàn Quốc, đó chính là sự khác biệt so với các nước châu á khác cũng đang

du nhập công nghệ nước ngoài Đồng thời nó cũng rất giống với quá trình du

Trang 21

nhập công nghệ trước đây của Nhật Bản Cùng với sự mạnh lên của Chủnghĩa bảo hộ công nghệ mang tính quốc tế, du nhập công nghệ bằng hợpđồng chuyển nhượng licence đã khó khăn hơn, đặc biệt trong trường hợpchuyển giao công nghệ mũi nhọn lại càng khó khăn hơn Đứng trước tìnhtrạng khó khăn này, bên cạnh đó cơ sở công nghệ và năng lực tiếp thu và làmchủ công nghệ nhập còn yếu, buộc Hàn Quốc phải tìm ra một chiến lực mới,

đó là việc nhập công nghệ thông qua nhận vốn nước ngoài (vốn không hoànlại, vốn vay ưu đãi hoặc vốn đầu tư liên doanh với nước ngoài)

Nội dung và những đặc điểm du nhập công nghệ ở Hàn Quốc

Đặc trưng công nghệ được du nhập vào Hàn Quốc: Phần lớn công nghệhướng về thị trường chủ đạo là sản phẩm hoàn chỉnh Theo số liệu điều tra

327 hợp đồng nhập công nghệ trong giai đoạn1988-1990 do Hiệp hội Pháttriển Công nghệ Hàn Quốc tiến hành (1992) thì khoảng 90% toàn bộ côngnghệ được nhập, trong đó 45,2% trường hợp chỉ nhập công nghệ liên quanđến sản phẩm và quy trình sản xuất, 44,6% trường hợp nhập công nghệ liênquan đến quá trình sản xuất (Bảng 8) Xu hướng nhập công nghệ liên quanđến sản phẩm như thế cho thấy rõ trường hợp các doanh nghiệp vừa và nhỏnhiều hơn các doanh nghiệp quy mô lớn và việc nhập công nghệ từ Mỹ rõhơn từ Nhật Bản và ba nước châu Âu Điều đó có nghĩa là du nhập côngnghệ từ Mỹ có trọng tâm là sản phẩm và nếu so sánh du nhập công nghệ từNhật Bản với du nhập công nghệ từ Mỹ thì tỷ lệ công nghệ liên quan đến quátrình sản xuất của Nhật Bản tương đối cao Ngoài ra, nếu căn cứ theo kết quảđiều tra này, tỷ lệ công nghệ phát triển sản phẩm mới trong công nghệ liênquan đến sản phẩm, tỷ lệ công nghệ nâng cao năng lực thiết kế và mẫu mãtrong công nghệ liên quan đến quá trình sản xuất là cao nhất

Bảng 2.5 Loại hình công nghệ tiếp nhận

(Đơn vị: %)

Trang 22

liên quan đếnsản phẩm

quy trình sảnxuất

phẩm và quytrình sản xuấtCác quy mô

doanh nghiệp

Doanh nghiệpvừa và nhỏ

Ba nước châuÂu

sự phát triển mạnh mẽ của các ngành bán dẫn ở nước này:

Chỉ trong một thời gian ngắn, từ giữa những năm 80 đến nay, ngànhcông nghiệp bán dẫn của Hàn Quốc đã có những bước phát triển nhảy vọt,chủ yếu là việc sản xuất, xuất khẩu một số lượng lớn bộ nhớ truy cập ngẫunhiên (DRAM) Việc sản xuất và kinh doanh DRAM được khởi đầu với hìnhthức dựa hoàn toàn vào việc nhập công nghệ của nước ngoài và sau đó cácdoanh nghiệp lớn của Hàn Quốc như SAMSUNG, GOLDSTAR đã thànhcông trong việc làm chủ và tạo ra công nghệ cho riêng mình Từ giữa thập kỷ

90 đến nay, công nghệ sản xuất DRAM của Hàn Quốc đã được công nhận làngang bằng với với trình độ các nước tiên tiến như Mỹ, Nhật Bản Có thểnêu 5 đặc trưng về sản xuất và công nghệ của ngành bán dẫn mà trọng tâm làsản xuất DRAM: thứ nhất, về mặt công nghệ cũng như với tư cách là loạihàng hoá, sự cạnh tranh khốc liệt có tính liên tục trên thị trường thế giới làmạch tích hợp (IC), trong đó bộ nhớ đóng vai trò trung tâm và cốt lõi cấu

Trang 23

thành nên nó là DRAM Thứ hai, DRAM được xem như là một linh kiện,cóvai trò về mặt công nghệ cấu thành nên bộ phận cốt lõi của máy tính Thứ

ba, vòng đời của DRAM rất ngắn nên để đảm bảo khả năng cạnh tranh củaloại hàng hoá này, buộc các doanh nghiệp phải đẩy tốc độ phát triển côngnghệ của DRAM vượt lên trên tốc độ tăng của nhu cầu.Thứ 4, công nghệ bándẫn đã được Hàn Quốc đầu tư rất lớn, nó đã mang tính chính trị ngoài tínhquan trọng chiến lược sẵn có của nó Thứ 5, sản xuất DRAM hàng loạt, đầu

tư lớn và đạt hiệu quả kinh tế cao

2.1.3 Bài học kinh nghiệm rút ra:

Tóm lại, khi phân tích, dánh giá, rút kinh nghiệm trong việc thúc đẩy quá trìnhtiếp nhận và chuyển giao công nghệ của Hàn Quốc, chúng ta có thể rút ra nhữngvấn đề chính sau đây:

- Dòng du nhập công nghệ vào Hàn Quốc chủ yếu là từ Mỹ và Nhật Bản, nhữngcông nghệ nhập chủ yếu cho các ngành: Điện - điện tử, hoá công nghiệp vàmáy móc thiết bị

- Con đường du nhập công nghệ của Hàn Quốc chủ yếu là thông qua các hợpđồng chuyển nhượng licence từ các công ty đa quốc gia, sau đó mới là nhậpcác công nghệ, thiết bị máy móc

- Phần lớn những công nghệ mà các doanh nghiệp Hàn Quốc nhập về là nhữngcông nghệ trung tâm được tiêu chuẩn hoá hoặc phổ cập hoá, là những côngnghệ hoàn chỉnh tạo ra sản phẩm hàng loạt có chất lượng và khả năng cạnhtranh cao trên thị trường nội địa cũng như xuất khẩu

- Chính phủ Hàn Quốc đã có những chính sách hợp lý trong việc khuyến khích,

hỗ trợ các doanh nghiệp nhập công nghệ, làm chủ công nghệ và sáng tạo côngnghệ Đồng thời Chính phủ và các doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽtrong việc thống nhất điều chỉnh dòng nhập công nghệ, các chủng loại côngnghệ phù hợp với đặc điểm, năng lực trong nước cũng như nắm bắt được cơhội thị trường quốc tế nên việc du hập công nghệ đạt được hiệu quả kinh tếcao

Trang 24

2.2 Chuyển giao công nghệ ở Thái Lan

2.2.1 Nét chung về con đường tiếp nhận

Ở Thái Lan, ngành chế tạo đã ổn định trên 3 thập kỷ nay Tuy vậy, côngnghệ chế tạo lại nằm trong tay các công ty nước ngoài, có thể nêu ra các lýdo: Thứ nhất, sự phát triển của ngành chế tạo phụ thuộc vào đầu tư của nướcngoài hơn là đầu tư trong nước Thứ hai, ngành chế tạo phát triển trong thời

kỳ hướng ra xuất khẩu hơn là thời kỳ thay thế nhập khẩu Thứ ba, Chính phủThái Lan hỗ trợ cho các doanh nghiệp tư nhân trong R&D và chuyển giaocông nghệ nhưng không phát huy được vai trò tích cực để phát triển côngnghệ của Thái Lan Trong ngành chế tạo ở Thái Lan, có 2 nhóm ngành cóđặc trưng cho ngành chế tạo: Thứ nhất, là ngành điện tử, dựa vào sự đầu tưcủa nước ngoài nên phát triển khá cao, xuất khẩu được nhiều mặt hàng điện,điện tử Thứ hai, là ngành công nghiệp máy công cụ, đầu tư của nước ngoàithấp hơn nên xuất khẩu ít, kém phát triển hơn, ngành chỉ giới hạn trongphạm vi một số sản phẩm nhất định

A/ Ngành sản xuất điện tử:

(i) Thời kỳ thay thế hàng nhập khẩu (1960-1970):

Từ nửa đầu của thời kỳ này, 50% đầu tư vào ngành sản xuất điện tử là

từ Nhật Bản Nhờ chính sách thay thế hàng nhập khẩu và quy chế khuyếnkhích đầu tư của Chính phủ Thái Lan nên 10 công ty được thành lập trongthời kỳ này, trong đó có 5 công ty liên doanh với Nhật Bản chi phối phần lớnsản phẩm điện-điện tử Năm công ty đó là Công ty Điện máy SANYO-Yunibasaru (Công ty Điện tử Sanyo), National Thailand (Công ty Điện tửMatsushita), Công ty Điện tử Kanyong (Mitsubishi), Công ty Điện tửToshiba Thai Ltd (Toshiba) và Công ty Điện tử Hitachi Consuma Product(Công ty Hitachi) Điều đó chứng tỏ đầu tư của Nhật Bản chiếm một vị trírất quan trọng nên ngành công nghiệp đó của Thái Lan trong thời kỳ nàyphát triển rất mạnh Thứ nhất, là do thị trường Thái Lan rộng lớn đang được

Trang 25

bảo hộ Thứ hai, là Chính phủ khuyến khích tuyên truyền, quảng cáo rấtmạnh Thứ ba, thực tế trong thời kỳ này Tivi đen trắng và đài bán dẫn lànhững sản phẩm mới đang bán chạy ở thị trường Thái Lan.

(ii) Thời kỳ chuyển tiếp (1971-1980):

Thời kỳ này Chính phủ Thái Lan khuyến khích xuất khẩu nhằm chuyểnhướng nền kinh tế từ sản xuất thay thế nhập khẩu sang sản xuất hướng vềxuất khẩu Thời kỳ này có 3 công ty của Mỹ đầu tư vào lĩnh vực IC để xuấtkhẩu sản phẩm Năm 1974, nhiều công ty đa quốc gia của Mỹ đã được thànhlập ở Thái Lan như Công ty Noshonal, Semicontactor, Shikunetiks, DetaGeneral Nhờ có các công ty này sản xuất xuất khẩu IC với kim ngạch lớnnên việc sản xuất các mặt hàng lắp ráp tiêu dùng trong nước được chuyểnsang sản xuất hàng điện tử xuất khẩu Đây là bước nhảy vọt quan trọng trongngành chế tạo ở Thái Lan lần thứ hai, dựa chủ yếu vào các công ty Mỹ

(iii) Thời kỳ khuyến khích xuất khẩu (1981-1985):

Chính sách của Chính phủ Thái Lan trong thời kỳ này là hoàn toànhướng về xuất khẩu Có nhiều công ty điện tử quốc tế đã được thành lập vàothời kỳ này như Công ty con của Tập đoàn Minebea của Nhật Bản (1982),Công ty NMB Thái đã bắt đầu sản xuất động cơ quạt vòng bi nhỏ Năm

1985, Công ty Fujikula Nhật Bản bắt đầu hoạt động sản xuất dây cáp, sảnxuất Computer Code cho IBM Công ty Mỹ-Shiget Technologic sản xuất đĩacứng, Công ty AMD và AT&T Microelectrolonics thành lập nhà máy sảnxuất IC xuất khẩu Trong thời kỳ này FDI khá cao, các công ty đã bước vàothời kỳ sản xuất sản phẩm điện tử rất mạnh ở Thái Lan

(iv) Thời kỳ tăng trưởng kinh tế cao độ sau năm 1986:

Sau khi đồng Yên lên giá, đầu tư nước ngoài từ Nhật Bản và các nướcNICs khác ngày càng mở rộng vững chắc Đầu tư mới này chủ yếu hướngvào xuất khẩu, tính đến năm 1990 đã có 250 công ty đi vào hoạt động và trên

100 công ty chuẩn bị vào hoạt động (bao gồm các công ty được khuyến

Trang 26

khích và không được khuyến khích) Thời kỳ này các công ty không chỉ mởrộng quy mô hiện có, mà đầu tư mới của nước ngoài liên tục hướng về TháiLan, tổng kim ngạch đầu tư không ngừng gia tăng Về các công ty Nhật Bản,tập đoàn NMB đã xây dựng nhà máy mới để chế tạo phụ tùng điện tử nhưHybrid IC, đĩa từ, thiết bị máy tính, phụ tùng PCB, FUJIKURA đã thành lậpbốn công ty con để mở rộng sản xuất phụ tùng, linh kiện sản phẩm đã có.Chỉ riêng trong đầu tư mới, đã có nhiều công ty tham gia như SHARP,SONY, MITSUBISHI và nhiều công ty Nhật Bản có quy mô vừa khác.Những công ty này chủ yếu tập trung và xuất khẩu những sản phẩm điện tửnhư phụ tùng linh kiện máy tính, đồng hồ điện tử, thiết bị đĩa từ, lò vi sóng,tivi, cát sét Đầu tư mới của các nước NICs và Mỹ đứng ở vị trí thứ 2, 3 ởThái Lan đã bắt đầu sản xuất hoặc lắp ráp tòan bộ hay một phần những sảnphẩm phức tạp hơn, có giá trị cao hơn như máy fax, điện thoại, điện thoạidùng sóng, máy đàm thoại công cộng, máy thu vệ tinh, đĩa cứng, máy in,tivi, máy tính và nhiều linh kiện điện tử khác.

Sự phát triển sản xuất trong thời kỳ này là kết quả bảo hộ của các nước

và sự lên giá của đồng Yên Sự di chuyển đầu tư nước ngoài sang Thái Landiễn ra nhanh chóng Ví dụ, chỉ riêng trong khoảng 5 năm (1982-1986) tổng

số các công ty không được khuyến khích đã vượt quá tổng số các công tyđược khuyến khích trong vòng 20 năm trước (1960-1981)

Thời kỳ này chỉ ra thời điểm xác lập của ngành công nghiệp hỗ trợ(Supporting Industry) và hợp đồng thầu tại Thái Lan Các công ty Nhật Bản(trừ xu hướng gần đây của nhóm NMB) có khuynh hướng theo các công ty

có hợp đồng thầu ở Thái Lan hoặc thành lập các công ty vệ tinh của công ty

đó Tuy nhiên, do sự cung cấp không đủ từ công ty hợp đồng thầu lại vàcông ty vệ tinh của Nhật Bản và do sự tăng thái quá của cầu về một số linhkiện bằng kim loại và linh kiện nhựa đơn thuần mà một số công ty sở tại (vềmặt truyền thống các công ty này thường tiến hành cung cấp hướng về thị

Trang 27

trường nội địa) mở rộng năng lực sản xuất, nâng cao tính năng để thích hợpvới chất lượng xuất khẩu Ngoài ra, nhiều công ty nước ngoài mới của ĐàiLoan, Hồng Kông cũng đã được thành lập Một số công ty của Thái Lan mởrộng cung cấp PCB và PCBA Các công ty khác (về mặt truyền thống nhữngcông ty này thường sản xuất phụ tùng tiêu chuẩn nhằm xuất khẩu) bắt đầuhoạt động xuất khẩu gián tiếp, cung cấp phụ tùng linh kiện cho sản phẩmxuất khẩu.

Những vấn đề trên đây đã dẫn đến những hoạt động có liên quan rấtquan trọng sau này Những phụ tùng, linh kiện có giá trị gia tăng cao chủyếu lại được sản xuất bởi các công ty nước ngoài hoặc được cung cấp bởicác công ty vệ tinh của công ty đó ở Thái Lan Đến 1990, kể từ những công

ty nước ngoài có quy mô nhỏ đến quy mô lớn, ở Thái Lan có tất cả 200 công

ty cung cấp và công ty hợp đồng thầu lại Trong sản phẩm thì có linh kiệngia công kim loại, PCB, PCBA, steping motor và những phụ tùng, linh kiệnđiện tử khác

B/ Ngành sản xuất máy công cụ

(i) Thời kỳ sản xuất 1971-1980:

Từ sau năm 1960, ở Thái Lan bắt đầu phát triển ngành nghề sản xuất thìviệc sử dụng máy công cụ ngày càng gia tăng Thế nhưng cho đến đầu nhữngnăm 70, Thái Lan vẫn chưa tiến hành sản xuất máy công cụ Chính sách sảnxuất của những năm 60 chủ yếu nhấn mạnh đến thay thế nhập khẩu hàng tiêudùng như tơ sợi, ô tô, đồ dùng gia đình Ngành cơ khí, máy công cụ khôngphải là ngành mục tiêu của chính sách này Không có bảo hộ thuế quan cũngkhông có chính sách khuyến khích sản xuất nào khác đối với ngành này.Bình quân mức thuế hải quan là 15%, thuế kinh doanh là 3%

Vào đầu những năm 70, Thái Lan bắt đầu sản xuất máy công cụ Nhiềucông ty Thái Lan sử dụng linh kiện nhập khẩu chủ yếu bắt đầu tiến hành chếtạo các máy công cụ đơn giản Tất cả các máy công cụ này đều được tiêu

Trang 28

dùng ở trong nước Năm 1973, theo điều tra của Bộ Công nghiệp đã có 8 nhàmáy được bắt đầu chế tạo máy công cụ, đến năm 1977 đã nâng lên tới 18 nhàmáy Tuy nhiên, phạm vi sản phẩm và việc cải tiến chất lượng là vô cùngnhỏ bé trong 10 năm này, tiêu chuẩn công nghệ của máy công cụ sản xuất ravẫn không thay đổi.

(ii) Thời kỳ thay đổi nhu cầu 1981-1985:

Thực tế cho thấy rằng sự tăng trưởng của ngành chế tạo máy công cụtrong vòng 10 năm trước là do nhu cầu của máy công cụ ở Thái Lan quyếtđịnh Thế nhưng vào thập kỷ 80 tình hình đó đã thay đổi, cụ thể là nhu cầumáy công tác trong nước về mặt số lượng thì đáp ứng được, nhưng về chấtlượng thì các doanh nghiệp trong nước không đáp ứng nên ngành này khôngđược phát triển nữa Cùng với chính sách khuyến khích xuất khẩu của Chínhphủ, cơ cấu sản xuất và bản thân nền sản xuất Thái Lan đã thay đổi theo Lúcbấy giờ nền sản xuất đã chuyển hướng không những sang các thị trường xuấtkhẩu cần sản phẩm chất lượngvà giá cả thấp hơn, mà ngay cả thị trườngtrong nước cũng có nhu cầu như vậy Do sự cạnh tranh với máy móc cũ nhậpkhẩu càng trở nên quyết liệt hơn nên nhu cầu máy công cụ đơn giản, kiểu cũcủa Thái Lan đã giảm Trước tình hình như vây, cả Chính phủ và các nhà sảnxuất máy công cụ của Thái Lan đã tập trung phát triển ngành sản xuất nàybằng Kế hoạch Quốc gia lần thứ 5 (1982-1986) Để khuyến khích ngành sảnxuất máy công cụ phát triển theo hướng nâng cao chất lượng và hạ giá thành,năm 1985 Chính phủ Thái Lan đã tăng thuế nhập khẩu lên 30%

Theo báo cáo của Tổ chức JICA của Nhật Bản(1985) trong số 9 công ty

đã được thừa nhận theo điều tra của Bộ Công nghiệp Thái Lan như đã nóitrên, thì 1982 chỉ còn 2 công ty tiếp tục hoạt động như trước Hơn nữa vàothời kỳ này rất ít doanh nghiệp mới được thành lập để chế tạo sản phẩm dạngnhư vậy Theo điều tra của Hiệp hội Phát triển Ngành chế tạo thì đến 1985

có 13 nhà sản xuất máy công cụ, trong đó có 6 nhà sản xuất máy tiện, 3 nhà

Trang 29

sản xuất máy cắt gọt, 2 nhà sản xuất máy nén, 1 nhà sản xuất thiết bị máycưa, 1 nhà sản xuất Ball board (MIDI, 1988) Tất cả những công ty này đều

là những công ty của Thái Lan có quy mô nhỏ dưới 50 công nhân Đại bộphận những sản phẩm sản xuất trong thời kỳ này giống như sản phẩm trongthời kỳ trước Đó vẫn là những sản phẩm kiểu đơn giản đã có như máy cắtgọt, máy tiện, máy tiện đa năng, máy nén mô hình C, máy nén điều khiểnbằng tay

(iii) Thời kỳ tham gia của các công ty nước ngoài sau năm 1986:

Sản xuất của các doanh nghiệp Thái Lan cũ rất trì trệ, một số công tynước ngoài cũng như các công ty mới của Thái Lan bắt đầu đi vào hoạt độngkinh doanh Các chính sách sản xuất của Chính phủ như khuyến khích đầu tư

và chính sách khuyến khích xuất khẩu đều không thay đổi Hầu hết các công

ty, đặc biệt là các công ty đã xây dựng nhà máy ở Thái Lan đều nhằm vàochế tạo sản phẩm chất lượng cao, điều khiển bằng máy tính hướng về xuấtkhẩu Lý do chủ yếu là các công ty này đã bị mất đi vị trí tương đối ở chínhquốc của công ty mẹ Các công ty đó có trong tay những linh kiện bổ sungnhư linh kiện kim loại đã được xử lý nhiệt, gia công máy móc, đúc và nhưngchi phí trực tiếp, gián tiếp cao như chi phí về lao động Về bảo hộ thuế quan,

tỷ lệ thuế cao trong thời gian dài đã giảm xuống do nhu cầu lớn đối với máycông tác nhập khẩu cũng như máy móc sản xuất Vào tháng 10/1995, thuếchủ yếu đối với thiết bị là 5% Theo số liệu của một cuộc điều tra năm1987,thì tổng số các công ty đã tăng lên tới 27, trong đó 15 nhà sản xuất máy nén,

3 nhà sản xuất máy dũa, 3 nhà sản xuất máy cưa, 2 nhà sản xuất máy tiện, 1nhà sản xuất máy gia công rãnh bằng, 1 nhà sản xuất thiết bị tạo khuôn, 1nhà sản xuất EDM (máy gia công phóng điện), 1 nhà sản xuất máy gia công

đa năng Đến năm 1990, tổng số công ty đang hoạt động tăng lên 30, trong

đó công ty của Thái Lan đều là công ty nhỏ không phải là đối tượng củachính sách khuyến khích Một số công ty trong số đó hoạt động trên 20 năm,phần lớn các công ty chỉ thuê một lượng nhân viên ít dưới 50 người Nghiệp

Trang 30

vụ kinh doanh có khuynh hướng mang tính chất gia đình Doanh số bán mộtnăm phần lớn là dưới 15 triệu Bạt (khoảng 600.000 USD) Khách hàng chủyếu là các công ty chế tạo, công ty sửa chữa địa phương Ngược lại, nhữngcông ty mới được thành lập đều là những công ty con của nhà sản xuất máycông tác nổi tiếng của châu á, đặc biệt là của Nhật Bản và Đài Loan Tổngdoanh số một năm là từ 50 triệu bạt đến 150 triệu bạt (khoảng 2 triệu USDđến 6 triệu USD) Các sản phẩm hầu hết được xuất khẩu sang các nước châu

á khác Những linh kiện bán sản phẩm hầu hết được xuất khẩu sang nướccông ty mẹ để lắp ráp cuối cùng

Thời kỳ phát triển ngành sản xuất máy công công tác ở Thái Lan giốngnhư những ngành sản xuất thay thế nhập khẩu khác như ngành sản xuất tơ,ngành sản xuất ô tô, ngành sản xuất điện tử nhưng nó có một số đặc điểmkhác Thứ nhất, các ngành sản xuất khác qua 20 năm vẫn phát triển nhanhnhưng trong ngành sản xuất máy công tác thì không như vậy Thứ hai, nhucầu của máy công tác đã tăng lên rất nhiều trong 20 năm nay nhưng sản xuấttại chỗ lại không tăng Thứ ba, trong thời gian dài ngành sản xuất được bảo

hộ nhưng số lượng của các công ty, năng lực sản xuất, phạm vi sản phẩm củacác công ty chế tạo địa phương lại giảm xuống trong thời kỳ này Lý do làđiều kiện kinh tế và môi trường công nghệ vẫn còn non kém

2.2.2 Thành quả và hạn chế:

Những năm 86, tổng kim ngạch đầu tư vào sản xuất điện tử không ngừng giatăng

Sự di chuyển đầu tư nước ngoài sang Thái Lan diễn ra nhanh chóng

Riêng đối với ngành SX máy công cụ, đầu tư nước ngoài thấp nên XK ít, kémphát triển hơn, ngành chỉ giới hạn trong phạm vi một số sản phẩm nhất định

2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra

Tóm lại, chuyển giao và tích luỹ công nghệ trong ngành chế tạo TháiLan có thể khái quát như sau: Thứ nhất, ngành chế tạo của Thái Lan đã thành

Ngày đăng: 26/12/2013, 15:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hàn Quốc - Chuyển giao công nghệ quốc tế thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp FDI   thực trạng và giải pháp ở việt nam
Bảng 2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hàn Quốc (Trang 16)
Bảng 2.3 Con đường học tập công nghệ mới và công nghệ nước ngoài của các doanh nghiệp Hàn Quốc. - Chuyển giao công nghệ quốc tế thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp FDI   thực trạng và giải pháp ở việt nam
Bảng 2.3 Con đường học tập công nghệ mới và công nghệ nước ngoài của các doanh nghiệp Hàn Quốc (Trang 17)
Bảng 2.4 Quy mô tương đối của du nhập công nghệ - Chuyển giao công nghệ quốc tế thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp FDI   thực trạng và giải pháp ở việt nam
Bảng 2.4 Quy mô tương đối của du nhập công nghệ (Trang 18)
Bảng 2.6 Nhập khẩu thiết  bị công nghệ của Trung Quốc những năm 50 - Chuyển giao công nghệ quốc tế thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp FDI   thực trạng và giải pháp ở việt nam
Bảng 2.6 Nhập khẩu thiết bị công nghệ của Trung Quốc những năm 50 (Trang 31)
Bảng 3.1 Xếp hạng về mức độ CGCN các nước Đông Nam Á - Chuyển giao công nghệ quốc tế thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp FDI   thực trạng và giải pháp ở việt nam
Bảng 3.1 Xếp hạng về mức độ CGCN các nước Đông Nam Á (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w