Các hình thức chuyển giao công nghệ Theo đặc điểm của chuyển giao công nghệ, hình thức chuyển giao công nghệ đượcphân loại dựa vào hai kênh: Kênh trực tiếp Là doanh nghiệp do hai bên hoặ
Trang 1CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CÔNG NGHỆ VÀ VẤN ĐỀ
CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
1.1 CÔNG NGHỆ
1.1.1 Khái niệm công nghệ
Công nghệ là tri thức khoa học, phương pháp khoa học để sản xuất (hoặc cải thiệnsản xuất) một sản phẩm vật chất hay một dịch vụ Công nghệ ở đây không giới hạn trongcông nghệ sản xuất (có thể gọi là công nghệ cứng) mà còn bao gồm tri thức quản lý, kinhdoanh (có thể gọi là công nghệ mềm) Công nghệ cứng được thể hiện thông qua máymóc, thiết bị, văn thư, đồ biểu, kỹ sư, chuyên viên… Công nghệ mềm chủ yếu được thểhoá trong nhà quản lý, nhà doanh nghiệp…Hay nói cách khác công nghệ là hệ thống cácgiải pháp được tạo nên bởi sự ứng dụng các tri thức khoa học để giải quyết một vấn đềthực tiễn
Uỷ ban kinh tế và xã hội Châu Á Thái Bình Dương ESCAP (Economic and Social
Commission for Asia and Pacific) đưa ra định nghĩa: “Công nghệ là một hệ thống kiến thức về qui trình và kỹ thuật chế biến sản phẩm vật chất hay thông tin” Sau đó ESCAP
mở rộng khái niệm trên “Nó bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong chế tạo, dịch vụ, quản lý, thông tin”.
Theo luật Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm 2003, Công nghệ được định nghĩa là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm.
1.1.2 Phân loại công nghệ
Căn cứ vào mức độ tiên tiến của công nghệ Chia công nghệ làm 3 loại:
- Công nghệ cao
- Công nghệ thường
- Công nghệ thấp hơn
Các chỉ tiêu để xác định loại công nghệ cao:
- Áp dụng những giải pháp, kiến thức khoa học mới nhất, sử dụng nhiều phát minhsáng chế mới
Trang 2- Sản phẩm trong giai đoạn đầu của chu kỳ sống của một sản phẩm
- Trình độ tự động hóa cao
- Vận dụng phức hợp nhiều giai pháp công nghệ
- Có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp khác
Căn cứ vào mức độ hàm lượng các nguồn lực trong công nghệ:
- Công nghệ có hàm lượng lao động cao: ngành may mặc, ngành dệt…
- Công nghệ có hàm lượng vốn cao: ngành đóng tàu, ngành cơ khí, khai kháng…
- Công nghệ có hàm lượng tri thức cao: công nghệ sinh học, công nghệ phần mềm…
1.2 CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
1.2.1 Khái niệm về chuyển giao công nghệ
Theo ủy ban kinh tế và xã hội Châu Á Thái Bình Dương – ESCAP: “Chuyển giao
công nghệ có nghĩa là việc tiếp nhận công nghệ nước ngoài và là một quá trình vật lý (trí tuệ) – là quá trình đi kèm với việc huấn luyện toàn diện của một bên và sự hiểu biết, học hỏi của một bên khác”.
Theo Nghị định Chính phủ số 11/2005/NĐ-CP ngày 02/02/2005, Chuyển giao
công nghệ được định nghĩa như sau: “Chuyển giao công nghệ là hình thức mua và bán
công nghệ trên cơ sở hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được thỏa thuận phù hợp với các quy định của pháp luật Bên bán có nghĩa vụ chuyển giao các kiến thức tổng hợp của công nghệ hoặc cung cấp máy móc, thiết bị, dịch vụ, đào tạo…kèm theo các kiến thức công nghệ cho bên mua và bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán để tiếp thu, sử dụng các kiến thức công nghệ đó theo các điều kiện đã được thỏa thuận và ghi nhận trong hợp đồng chuyển giao công nghệ”
Thuật ngữ chuyển giao công nghệ chỉ sự dịch chuyển công nghệ từ bên sở hữucông nghệ tới bên nhận công nghệ Trong chuyển giao công nghệ, bên có quyền chuyểngiao có thể chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hay toàn bộ côngnghệ cho bên nhận công nghệ
Trong đó:
o Chuyển giao quyền sở hữu công nghệ: là việc chủ sở hữu công nghệ chuyển giao
Trang 3khác Trường hợp công nghệ là đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì việcchuyển giao quyền sở hữu công nghệ phải được thực hiện cùng với việc chuyển giaoquyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
o Chuyển giao quyền sử dụng công nghệ: là việc tổ chức, cá nhân cho phép tổ
chức, cá nhân khác sử dụng công nghệ của mình
Phạm vi chuyển giao quyền sử dụng công nghệ do các bên thỏa thuận bao gồm:+ Độc quyền hoặc không độc quyền sử dụng công nghệ
+ Được chuyển giao lại hoặc không được chuyển giao lại quyền sử dụng công nghệcho bên thứ ba
+ Lĩnh vực sử dụng công nghệ
+ Quyền được cải tiến công nghệ, quyền được nhận thông tin cải tiến công nghệ+ Độc quyền hoặc không độc quyền phân phối, bán sản phẩm do công nghệ đượcchuyển giao tạo ra
+ Phạm vi lãnh thổ được bán sản phẩm do công nghệ được chuyển giao tạo ra
+ Các quyền khác liên quan đến công nghệ được chuyển giao
o Việc chuyển giao công nghệ chỉ thành công khi bên nhận công nghệ hiểu đúngcách và sử dụng có hiệu quả công nghệ
o Chuyển giao công nghệ trong nước là chuyển giao công nghệ trong lãnh thổ Việt
Nam trừ việc chuyển giao qua ranh giới các Khu chế xuất của Việt Nam
o Chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam là chuyển giao công nghệ
từ ngoài biên giới quốc gia Việt Nam hoặc từ khu chế xuất của Việt Nam vào lãnh thổViệt Nam
o Chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài là chuyển giao công nghệ từ
trong biên giới ra ngoài biên giới quốc gia Việt Nam hoặc chuyển giao vào khu chế xuấtcủa Việt Nam
1.2.2 Các mức độ chuyển giao công nghệ
Có bốn mức độ của hoạt động chuyển giao công nghệ :
Mức độ 1 : Trao đổi kiến thức
Trang 4Việc chuyển giao công nghệ chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức bằng cáchđưa công thức, hướng dẫn, tư vấn về kỹ thuật
Mức độ 2 : Chìa khóa trao tay
Bên chuyển giao thực hiện lắp đặt máy móc, hướng dẫn quy trình, hoàn tất toàn bộquá trình sản xuất Bên nhận tiếp nhận máy móc, quy trình và đưa ngay vào sản xuất
Mức độ 3 : Trao đổi sản phẩm
Bên chuyển giao không chỉ có trách nhiệm giúp bên tiếp nhận hoàn tất việc lắp đặttoàn bộ dây chuyền sản xuất mà còn giúp họ sản xuất thành công sản phẩm sử dụng côngnghệ được chuyển giao
Mức độ 4 : Trao thị trường
Ngoài trách nhiệm chuyển giao công nghệ cho bên tiếp nhận, bên chuyển giao cònphải bàn giao một phần thị trường của mình cho bên tiếp nhận Thông thường mức độchuyển giao này được thể hiện thông qua hình thức liên doanh
1.2.3 Các hình thức chuyển giao công nghệ
Theo đặc điểm của chuyển giao công nghệ, hình thức chuyển giao công nghệ đượcphân loại dựa vào hai kênh:
Kênh trực tiếp
Là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại nước sở tại trên
cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước sở tại và Chính phủnước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác vớidoanh nghiệp nước sở tại hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nướcngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh
- Nhà đầu tư nước ngoài đồng thời là người
nắm công nghệ và sử dụng công nghệ vì
vậy sẽ thuận lợi cho bên nhận chuyển giao
trong quá trình áp dụng công nghệ
- Đối với nhà đầu tư nước ngoài, đầu tưtại một nước đang phát triển mà nhiềuvấn đề dài hạn đang còn là những ẩn sốthì mục tiêu cao nhất của dự án là tối đa
Trang 5- Thông qua việc nắm được công nghệ mới
và những kỹ thuật phức tạp, lực lượng lao
động của bên nhận sẽ nhận được sự đào tạo
có giá trị Đôi khi có thể tham gia vào quá
trình phát triển, nâng cao công nghệ
- Bên nhận tạo ra được sản phẩm mới mà
không tốn thời gian, chi phí rủi ro trong
nghiên cứu và phát triển
- Bên nhận hy vọng trong quá trình sử dụng
công nghệ mới sẽ tạo ra các cải tiến hoặc
tạo ra các sản phẩm hoàn toàn mới
- Bên nhận muốn thiết lập quan hệ với bên
giao công nghệ để từ đó có thể mở rộng
hợp tác cùng có lợi trong tương lai
hóa lợi nhuận trong ngắn hạn Để đạtđược mục tiêu như vậy trong môi trườngđầu tư mà yếu tố hấp dẫn chính chỉ baogồm lao động rẻ và tài nguyên rẻ thì côngnghệ được chuyển giao khó có thể lànhững công nghệ đang trong giai đoạn tốtnhất và cũng không thể là những côngnghệ có trình độ tiên tiến, hiện đại cao
Là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn vào nước sở tại.Thực tế là trong hoạt động chuyển giao công nghệ bên nhận công nghệ không chỉ
là doanh nghiệp nhận công nghệ mà còn là chính phủ nước sở tại nhận công nghệ
- Chính phủ muốn tiết kiệm ngoại tệ bằng
cách thay thế việc nhập khẩu sản phẩm
bằng cách nhận chuyển giao công nghệ
bằng hình thức này để thực hiện việc sản
xuất trong nước
- Tăng nguồn thu nhập từ thuế
- Ô nhiễm môi trường: công nghệ có thểgây ra các tác nhân về môi trường, khinhận những công nghệ chuyển giao lạchậu, lỗi thời, nước nhận công nghệ cónguy cơ trở thành “bãi thải công nghệ”của các nước công nghiệp phát triển Điều
Trang 6- Chính phủ muốn sử dụng nguyên liệu địa
phương trong việc sản xuất sản phẩm và từ
đó có điều kiện mở rộng cơ sở công nghiệp
- Nâng cao trình độ của lực lượng lao động,
giải quyết việc làm trong nước, do đó về
lâu dài sẽ tạo ra môi trường tốt cho đầu tư
nước ngoài trong tương lai
này rất khó tránh khỏi đặc biệt là đối vớicác quốc gia đang phát triển khi mới bắtđầu không có kiến thức và kinh nghiệmtrong việc tiếp nhận, nghiệm thu côngnghệ chuyển giao
- Lãng phí nguồn tài nguyên và thiếunguồn năng lượng: công nghệ nhập về cóthể yêu cầu một nguồn năng lượng lớn mànước nhận công nghệ chưa sẵn có hoặccòn thiếu Công nghệ thấp dẫn đến việckhai thác lãng phí các nguồn tài nguyêntrong nước, đến khi tiếp nhận được côngnghệ cao thì tài nguyên đã cạn kiệt
- Rủi ro về sự trùng lặp công nghệ: cónhiều doanh nghiệp trong nước cũng đãnhập cùng một loại công nghệ tương tự,dẫn đến lãng phí nghiêm trọng
o Hỗ trợ kỹ thuật và nhượng quyền: thường liên quan đến một quá
trình công nghệ hay sản phẩm cụ thể do bên giao cho phép bên nhận sử dụng các sángchế, giải pháp hữu ích để Bên nhận sản xuất các sản phẩm có sử dụng công nghệ của Bêngiao theo mục tiêu đã định và nhận được một khoản thanh toán theo thoả thuận Hìnhthức này có thể được thực hiện dưới dạng chuyển giao một lần hay chuyển giao liên tục
kỹ năng/ kiến thức tuỳ theo tính chất và mức độ phức tạp của hoạt động chuyển giao lixăng
- Đây là hình thức chuyển giao công nghệ
điển hình nhất, luôn có hai bên tham gia
hoàn toàn độc lập với nhau, không bên nào
- Để áp dụng hình thức này, bên nhậnchuyển giao phải có một khoản vốn nhất
để trả cho bên giao và để đầu tư thực hiện
Trang 7kiểm soát, chi phối bên nào (trừ trường hợp
hỗ trợ kỹ thuật và nhượng quyền kèm theo
dự án kinh doanh) Do đó, bên nhận có
nhiều thuận lợi để hoàn toàn làm chủ công
nghệ được chuyển giao và sử dụng công
nghệ đó trước hết vào việc phục vụ cho lợi
ích trước mắt và lâu dài của mình
- Do đứng ở vị trí “người mua” và chấp
thuận thanh toán sòng phẳng, độc lập về tài
chính, đồng thời được bảo hộ và được điều
chỉnh bởi các điều luật của nước sở tại nên
bên nhận có vị thế tương đối thuận lợi để
chủ động lựa chọn công nghệ chuyển giao,
thương lượng về các điều khoản của hợp
đồng chuyển giao công nghệ và đòi hỏi
trách nhiệm theo quy định của hợp đồng
của bên chuyển giao Trên cơ sở đó, bên
tiếp nhận công nghệ cũng có thể tiếp tục
phát triển công nghệ mà không cần thương
lượng lại với bên chuyển giao công nghệ
các giải pháp công nghệ được chuyển giao(mua thiết bị, cải tạo hạ tầng, đào tạo nhânlực…)
- Bên nhận cần có những hiểu biết cầnthiết về nghiệp vụ chuyển giao công
- Bên nhận luôn gặp khó khăn lớn là làmsao nhận được đúng và đủ những yếu tốcông nghệ mà mình cần và xác định đúnggiá cả công nghệ, cũng như không có đủ
cơ sở để chứng minh việc mua quyền sửdụng sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãnhiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, bíquyết kỹ thuật sẽ thực hiện tạo ra lợi thếcạnh tranh và nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh của mình
o Hình thức “chìa khóa trao tay” trong giao thầu: Hợp đồng chìa
khóa trao tay là thỏa thuận giao cho nhà thầu/ bên giao công nghệ thực hiện mọi bước từ đầu đến cuối một dự án đầu tư (kể cả các dịch vụ tư vấn, quản lý, thiết kế kỹ thuật và các dịch vụ khác) cho đến khi dự án sẵn sàng đi vào sản xuất thương mại hoặc sử dụng ngay.
Trang 8- Bên nhận ít rủi ro, có thể vận hành nhà máy
ngay
- Đảm bảo các yếu tố đồng bộ
- Đây là hình thức chuyển giao côngnghệ thụ động nhất, có thể có tácdụng ngay về thương mại, nhưng ít
có tác dụng về phương diện nângcao năng lực công nghệ của bênnhận
- Công nghệ được chuyển giao hoàntoàn do bên giao quyết định do đóđôi khi có một số điểm không phục
vụ cho các mục tiêu phát triển côngnghệ của nước chủ nhà
- Chi phí cao hơn rất nhiều so vớihình thức khác do không tận dụngđược năng lực cung ứng dịch vụphụ trợ của công ty nước sở tại
- Công nghệ được chuyển giao làmột đối tượng tĩnh, nếu muốn tồntại lâu dài thì phải ký kết hợp đồng
hỗ trợ kỹ thuật/ hợp đồng quản lývới bên nước ngoài
o Hợp tác nghiên cứu và cùng triển khai công nghệ:
- Thực hiện đúng nguyên tắc: cùng đầu tư, cùng
chịu rủi ro
- Tận dụng được thế mạnh của mỗi bên, tạo ra
thế mạnh chung mà trước đó mỗi bên không có
- Trong nhiều trường hợp, hình thứcnày khó thực hiện vì các công tynước sở tại thực chất không có cácnguồn lực gì cho việc hợp tác
Trang 9- Mỗi bên đều tham gia tích cực vào quá trình
tạo ra công nghệ, học hỏi lẫn nhau
- Có nhiều nguy cơ là bên chuyểngiao muốn lợi dụng công ty nước sởtại về mặt nào đó (cung cấp số liệu,làm thuê với giá thấp ) hoặc muốnkhai thác/ tình báo những bí quyếtcủa chủ nhà đối với một số côngnghệ độc đáo, truyền thống củamình, hoặc đó chỉ là hợp tác trêndanh nghĩa vì các lý do chính trị
Kênh gián tiếp
- Mua máy móc thiết bị và linh kiện
- Thuê chuyên gia nước ngoài
- Đào tạo nhân viên kỹ thuật ở nước ngoài
- Tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại tại nước ngoài
Phân loại theo nguồn cung cấp công nghệ
o Chuyển giao dọc: là việc chuyển giao công nghệ trực tiếp từ các cơ
sở nghiên cứu (viện nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu) tới các cơ sở sản xuất (xí nghiệp,nhà máy, doanh nghiệp)
o Chuyển giao ngang: là chuyển giao công nghệ từ cơ sở sản xuất đến
cơ sở sản xuất Đây là hình thức phổ biến hiện nay khi thị trường cạnh tranh gay gắt buộccác nhà sản xuất phải không ngừng đổi mới công nghệ, những công nghệ cũ sẽ đượcchuyển giao cho cơ sở sản xuất ở các nước khác
Ưu, nhược điểm của từng hình thức
Ưu điểm :
- Công nghệ hoàn toàn mới, chưa từng
được áp dụng ở quốc gia nào khác
- Bên tiếp nhận có thể độc quyền sản xuất
Trang 10loại sản phẩm do công nghệ mới này tạo ra.
- Bên chuyển giao công nghệ : nếu không
có điều kiện áp dụng công nghệ mình vừa
tạo ra thì vẫn thu được lợi nhuận do bên
mua công nghệ trả Hoặc có thể xem cơ sở
sản xuất của bên tiếp nhận như nơi thí
nghiệm công nghệ mới của mình
nghệ này vì công nghệ này đã từng được
sử dụng
- Bên chuyển giao đã có kinh nghiệmtrong việc áp dụng công nghệ
Nhược điểm :
- Gặp rủi ro trong quá trình áp dụng công
nghệ mới trong trường hợp bên chuyển
giao cũng chưa có kinh nghiệm trong việc
ứng dụng công nghệ mới này
1.2.4 Động lực và rủi ro của bên nhận công nghệ và bên chuyển giao công nghệ
Đối với bên nhận công nghệ:
Đối với doanh nghiệp nhận công nghệ
- Doanh nghiệp muốn có lợi nhuận từ sản
phẩm mới
- Doanh nghiệp muốn tạo là được sản phẩm
mới mà không tốn thời gian, chi phí rủi ro
trong nghiên cứu và phát triển
- Thông qua việc nắm được công nghệ mới
và những kỹ thuật phức tạp, lực lượng lao
động của doanh nghiệp sẽ nhận được sự
đào tạo có giá trị
- Doanh nghiệp hy vọng trong quá trình sử
dụng công nghệ mới sẽ tạo ra các cải tiến
hoặc tạo ra các sản phẩm hoàn toàn mới
Đối với doanh nghiệp nhận công nghệ:
- Nhập công nghệ lạc hậu, không đầy đủhay công nghệ không phù hợp với điềukiện kinh tế, kỹ thuật, môi trường trongnước dẫn đến thất bại về công nghệ
- Bị phụ thuộc lâu dài vào bên chuyểngiao, thông thường bên nhận công nghệ
bị lệ thuộc dưới các dạng như sau:
+ Phụ thuộc dạng Tie-ins (bắt mua kèm),
để có thể vận hành sản xuất theo côngnghệ được chuyển giao, bên nhận côngnghệ buộc phải mua máy móc thiết bị,nguyên vật liệu, bán thành phẩm, linh
Trang 11- Doanh nghiệp muốn thiết lập quan hệ với
bên giao công nghệ để từ đó có thể mở
rộng hợp tác cùng có lợi trong tương lai
kiện của bên chuyển giao hoặc từ cácnguồn do bên chuyển giao chỉ định Sựràng buộc của bên chuyển giao đối vớibên nhận còn thể hiện trong các dịch vụbảo dưỡng, sửa chữa, kiểm định chấtlượng, tiếp thị, cung cấp thông tin
+ Tie-outs (không được mua của ngườikhác): một khi đã mua công nghệ từ mộtnguồn, bên nhận công nghệ bị ràng buộcchỉ có thể sử dụng công nghệ đó, khôngđược phép (hoặc được phép nhưng thựcchất là không thể) mua một công nghệtương tự hoặc công nghệ bổ sung từnguồn khác;
+ Grant-backs, bắt buộc bên nhận phảicung cấp miễn phí mọi thông tin, mọi ýtưởng, giải pháp về cải tiến, đổi mới liênquan tới công nghệ cho bên chuyển giao
- Không làm chủ được công nghệ: Bênnhận công nghệ có thể bị phụ thuộc quáđáng vào chuyên gia nước ngoài ở những
vị trí, công đoạn chủ chốt dẫn đến vừakhông nắm được bí quyết công nghệ vừaphải chịu chi phí chuyên gia rất cao trongmột thời gian dài Một khả năng nữa làbên nhận có thể không nắm được bảnchất của công nghệ, do đó không xử lýđược khi tình huống thay đổi, không thểcải tiến được công nghệ
Trang 12- Thiếu thông tin về công nghệ, khả năngđàm phán hợp đồng chuyển giao côngnghệ kém dẫn đến phải chịu chi phí chohoạt động chuyển giao công nghệ nhiềuhơn so với thực tế.
Đối với chính phủ nước nhận công nghệ :
- Chính phủ muốn tiết kiệm ngoại tệ bằng
cách thay thể việc nhập khẩu sản phẩm
bằng nhập khẩu công nghệ để thực hiện
việc sản xuất trong nước
- Chính phủ muốn tạo ra việc làm từ đó
tăng nguồn thu nhập từ thuế
- Chính phủ muốn sử dụng nguyên liệu địa
phương trong việc sản xuất sản phẩm và từ
đó có điều kiện mở rộng các cơ sở công
nghiệp
- Chính phủ muốn nâng cao trình độ của
lực lượng lao động trong nước, do đó về
lâu dài sẽ tạo ra môi trường tốt cho đầu tư
nước ngoài trong tương lai
Đối với chính phủ nước nhận công nghệ :
- Ô nhiễm môi trường: công nghệ có thểgây ra các tác nhân về môi trường, khinhận những công nghệ chuyển giao lạchậu, lỗi thời, nước nhận công nghệ cónguy cơ trở thành “bãi thải công nghệ”của các nước công nghiệp phát triển, làm
ô nhiễm môi trường, thay đổi cân bằngsinh thái
- Lãng phí nguồn tài nguyên và thiếunguồn năng lượng: công nghệ nhập về cóthể yêu cầu một nguồn năng lượng lớn
mà nước nhận công nghệ chưa sẵn cóhoặc còn thiếu Công nghệ thấp dẫn đếnviệc khai thác lãng phí các nguồn tàinguyên trong nước, đến khi tiếp nhậnđược công nghệ cao thì tài nguyên đã cạnkiệt
- Rủi ro về tài chính: Công nghệ đòi hỏimột khoản đầu tư lớn hoặc tiếp tục phảichi những khoản ngoại tệ lớn trong quátrình sử dụng công nghệ như nhậpnguyên liệu, bán thành phẩm
Trang 13- Rủi ro về sự trùng lặp công nghệ: cónhiều doanh nghiệp trong nước cũng đãnhập cùng một loại công nghệ tương tự,dẫn đến lãng phí nghiêm trọng.
Đối với bên chuyển giao công nghệ:
- Thu được một khoản lợi từ việc bán công
nghệ
- Thu được lợi nhuận từ việc bán hàng tiếp
theo bán công nghệ, bao gồm việc bán
nguyên vật liệu, bộ phận, bán thành phẩm,
hỗ trợ kỹ thuật, bảo dưỡng, bán phụ tùng
- Tạo ra danh tiếng ở một thị trường mới
- Có điều kiện phát triển, cải tiến và thích
ứng đối với sản phẩm đặc biệt là sự phù
hợp của sản phẩm với điều kiện mới
- Tạo ra sản phẩm với chi phí sản xuất thấp
hơn tại cơ sở sản xuất của bên nhận công
đã sản xuất ra những sản phẩm điện tửtương tự với giá hạ và chất lượng khôngthua kém là bao so với các công ty của
Mỹ, Nhật cạnh tranh trở lại với chính cáccông ty này
- Uy tín của bên giao công nghệ bị tổnthương: bên nhận công nghệ có sử dụng
Trang 14nhãn hiệu hàng hoá của bên giao, nhưngtrong quá trình sản xuất không làm theođúng các điều kiện sản xuất, nên chấtlượng của sản phẩm kém, gây tổn thươngđến nhãn hiệu hàng hoá của bên chuyểngiao công nghệ.
CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ CỦA MỘT SỐ NƯỚC THÔNG QUA ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
2.1 NHẬT BẢN
Nhật Bản là nước sớm nhận ra rằng trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuậtdiễn ra mạnh mẽ sau Chiến tranh thế giới lần II, con đường phát triển hiệu quả nhất đốivới các nước lạc hậu là vươn lên nắm bắt các thành tựu kỹ thuật hiện đại bằng cách nhậpcác công nghệ, sáng chế của nước ngoài Sau đó, trên cơ sở tiềm lực khoa học kỹ thuật,công nghệ với năng lực công nghệ nội sinh của mình, Nhật Bản hoàn thiện, triển khai vàbán lại các sáng chế đó
Với quan điểm trên, Nhật Bản đã thực hiện chiến lược tiếp cận công nghệ nướcngoài, chủ yếu là công nghệ của các nước phương Tây Ngay từ thời kỳ chiến tranh lạnh,chính phủ Nhật Bản đã có những chính sách chỉ cho phép các công ty nước ngoài giaodịch tại thị trường nội địa với mục tiêu bán công nghệ Do đó, các nhà đầu tư nước ngoài,đặc biệt là các thương gia Mỹ, với mục tiêu xâm nhập thị trường Nhật Bản nhằm thuđược lợi nhuận đã không ngần ngại chuyển giao các công nghệ cao vào Nhật Bản Hàng
Trang 15loạt các công ty liên doanh Nhật – Mỹ được hình thành và đưa vào hoạt động từ nhữngnăm 50 – 80 và đã chuyển giao trực tiếp các kiến thức nghiên cứu và phát triển công nghệcho các nhà sản xuất Nhật Bản Tính trong thời gian này, số hợp đồng chuyển giao côngnghệ vào Nhật Bản lên tới 42.000 hợp đồng với tổng giá trị là 17 tỷ USD.
Nhờ việc nhận và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật của nước ngoài mặc
dù cơ sở nghiên cứu khoa học trong nước còn yếu, nhưng Nhật Bản đã thành công trongmột số nhiệm vụ kinh tế quan trọng như:
- Tạo được điều kiện thay đổi sâu sắc cơ cấu công nghệ bằng cách đẩy mạnh pháttriển những ngành công nghiệp mới có hàm lượng khoa học công nghệ cao
- Nâng cao sức lao động xã hội
- Tiết kiệm đáng kể chi phí cho nghiên cứu khoa học và trong thời gian ngắn đãnhảy vọt từ trình độ kỹ thuật lạc hậu sang trình độ tiên tiến
Sau những năm 80, một mặt Nhật Bản tiếp tục đẩy mạnh việc nhận chuyển giaocông nghệ từ nước ngoài trong những lĩnh vực mà Nhật còn yếu kém, mặt khác, NhậtBản đã xác định chỉ có thể thành công dựa trên cơ sở khoa học kỹ thuật của chính bảnthân mình chứ không thể chỉ dựa vào công nghệ kỹ thuật nhập khẩu Xuất phát từ quanđiểm đó Nhật Bản đã chuyển dần từ việc nhập khẩu công nghệ sang tự đảm đương lấyviệc nghiên cứu và triển khai, dần dần tự sản xuất và xuất khẩu công nghệ, kỹ thuật.Như vậy, nhờ có chính sách công nghệ và chuyển giao công nghệ thích hợp, xuất phát từviệc tiếp nhận chuyển giao công nghệ thông qua thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, chủyếu là từ các nước phương Tây đặc biệt là Mỹ, Nhật Bản đã phát triển được năng lựccông nghệ của quốc gia Sau khi năng lực công nghệ trong nước đã phát triển đủ mạnh,Nhật Bản đã đầu tư cho nghiên cứu phát triển, nâng cao trình độ công nghệ trong nước để
từ giai đoạn bắt chước, hoàn thiện công nghệ tiến tới sáng tạo và xuất khẩu công nghệsang các nước khác
2.2 ẤN ĐỘ
Sau ngày Ấn Độ giành được độc lập, các cơ sở nghiên cứu phục vụ công nghiệpcòn rất nghèo nàn vì vậy việc ưu tiên hàng đầu từ năm 1947 đến cuối năm 1960 là việcxây dựng cơ sở hạ tầng, bao gồm đội ngũ cán bộ và hệ thống rộng lớn các viện, phòng thí
Trang 16nghiệm quốc gia Hiện đại hoá công nghiệp thời gian này chủ yếu dựa vào công nghệ đầu
tư từ nước ngoài
Tuy nhiên, trong khi công nhận đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng trong sựnghiệp công nghiệp hoá thì cũng chỉ rõ công nghệ nhập phải được quản lý rất chặt chẽ,không nhập các công nghệ mà trong nước có khả năng tự làm được Điều này được quyđịnh trong nghị quyết đầu tiên về chính sách công nghiệp của Chính phủ Ấn Độ (1948)
Hiện nay, chính sách trong chuyển giao công nghệ của Ấn Độ là ưu tiên trước hếtcho công nghệ phục vụ sản xuất, xuất khẩu và thay thế nhập khẩu, phát triển hạ tầng vàphát triển nguồn nhân lực
Bởi vậy, chính phủ Ấn Độ đã đưa ra chính sách mở cửa về chuyển giao công nghệqua FDI Cụ thể, mở cửa ngành công nghiệp Ấn Độ cho đầu tư nước ngoài và chấp nhậncạnh tranh
Theo chính sách công nghiệp mới, cổ phần của nước ngoài được phép tăng từ 40đến 50% trong các ngành ưu tiên, bao gồm 31 khu vực khác nhau và các công ty có số cổphần nước ngoài dưới 51% không cần xin giấy phép của chính phủ
Chính phủ bảo đảm quyền tự chủ thông qua các hiệp định, hợp đồng chuyển giaocông nghệ với nước ngoài trong các lĩnh vực: công nghiệp luyện kim, thiết bị điện, giaothông, đóng tàu, đường sắt, chế tạo máy, công nghiệp hoá chất, công nghệ phần mềm,máy vi tính
Tiếp tục đẩy mạnh mở cửa kinh tế thông qua việc xoá bỏ một loạt thủ tục cấp giấyphép và kiểm soát, mở rộng và tự do hoá hệ thống cấp giấy phép bổ sung nhằm thúc đẩyxuất khẩu gắn với nhập khẩu, xoá bỏ chế độ trợ cấp xuất khẩu nhằm khuyến khích thuhút đầu tư nước ngoài chuyển giao công nghệ hiện đại, cải tiến chất lượng, giảm giáthành, tăng cường xuất khẩu
Về tài chính: Chính phủ cố gắng cải thiện cán cân thanh toán và hạn chế thâm hụt
thương mại Để khuyến khích các nhà đầu tư, chính phủ Ấn Độ tuyên bố nới lỏng luậtkiểm soát ngoại hối (FERA) cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được chuyển vốn ngoại
tệ, lợi nhuận, tiền thưởng ra khỏi Ấn Độ
Trang 17Nhìn chung, chính sách quản lý chuyển giao công nghệ của Ấn Độ ngày càngđược nới lỏng, nhất là đối với ngành công nghiệp và công nghệ có tính chất mũi nhọn, đểdần nâng cao năng lực cạnh tranh và năng lực công nghệ nội sinh của đất nước.
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ Ở
VIỆT NAM THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG FDI
3.1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, đến nay mới chỉ có trên 200 hợp đồng chuyểngiao công nghệ được phê duyệt, đăng ký, chiếm phần rất nhỏ trong số các dự án chuyểngiao công nghệ thực thi tại Việt Nam Theo báo cáo về sức cạnh tranh của Diễn đàn Kinh
tế Thế giới (WEF) cho thấy năm 2004 tính trên 104 nền kinh tế được nghiên cứu, ViệtNam xếp hạng 79 về mức độ sử dụng bằng sáng chế, hạng 99 về mức sử dụng bằng sángchế công nghệ nước ngoài
Bảng 1 Chỉ số xếp hạng về công nghệ của Việt Nam năm 2004
Chỉ số về công nghệ thông tin 86
Chỉ số về chuyển giao công nghệ 66
Nguồn: Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) (2004) “Báo cáo năng lực cạnh tranh”
http://www.weforum.org/
Bảng 2 Xếp hạng về tình trạng phát triển công nghệ của Việt Nam năm 2003 (trên tổng số 104 quốc gia)
Mức độ sử dụng bằng sáng chế công nghệ nước ngoài 99
Hợp tác giữa trường đại học và nghiên cứu công nghiệp 82
Trang 18ĐTNN và chuyển giao công nghệ 79
Chi tiêu DN về nghiên cứu triển khai 71
Nguồn: Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) (2003) “Báo cáo năng lực cạnh tranh”
http://www.weforum.org/
3.2 THỰC TRẠNG PHÊ DUYỆT VÀ TRIỂN KHAI CÁC HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUA FDI Ở VIỆT NAM
Từ khi nước ta tiến hành công cuộc Đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế đất nước
và đồng thời nâng cao năng lực công nghệ quốc gia, đã có rất nhiều các dự án FDI kèmtheo nội dung chuyển giao công nghệ vào Việt Nam Nhà nước đã giao cho Bộ khoa học
và công nghệ trực tiếp quản lý và phê duyệt các hợp đồng chuyển giao công nghệ thôngqua hoạt động FDI
3.2.1 Số hợp đồng chuyển giao công nghệ qua FDI vào nước ta còn ít
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, số hợp đồng chuyển giao công nghệ qua FDIđược phê duyệt mặc dù còn khiêm tốn nhưng qua các năm đã tăng dần lên, năm sau caohơn năm trước Ta có thể thấy được điều đó qua thống kê sau:
Bảng 3: Số hợp đồng chuyển giao công nghệ qua FDI đã được phê duyệt
Năm Hợp đồng được phê duyệt
Trang 19Mặc dù những dự án đầu tư nước ngoài đầu tiên được thực hiện từ năm 1988nhưng mãi đến giữa năm 1993 đầu năm 1994 (tức là đến 5, 6 năm sau) các đối tác đầu tưnước ngoài mới trình Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học vàCông nghệ) những hợp đồng chuyển giao công nghệ đầu tiên Từ đó cho đến nay, BộKhoa học và Công nghệ đã phê duyệt hơn 300 hợp đồng chuyển giao công nghệ qua FDItrong tổng số hơn 6.880 dự án đầu tư nước ngoài Trong số các hợp đồng đã phê duyệt cókhoảng 86% Hợp đồng có nội dung chuyển giao các bí quyết công nghệ, 33% hợp đồngchuyển giao các đối tượng sở hữu công nghiệp, 100% số hợp đồng có nội dung cung cấpcác dịch vụ kỹ thuật và đào tạo.
Ta có thể thấy, số hợp đồng chuyển giao công nghệ qua FDI đã được phê duyệtthời gian qua tại Bộ Khoa học và Công nghệ còn quá bé nhỏ so với số dự án đầu tư đượccấp phép, số hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được phê duyệt bao gồm nhiều lĩnh vựcnhư: điện tử, luyện kim, vật liệu xây dựng, hoá chất, dầu mỡ bôi trơn, điện, điện tử côngnghiệp và dân dụng, lắp ráp ô tô, xe máy, sửa chữa và đóng tàu thuỷ, thực phẩm (bia, bộtngọt, nước giải khát, mía đường, sữa ), dệt may, mỹ phẩm, dược phẩm, khám chữabệnh
Sở dĩ số hợp đồng chuyển giao công nghệ qua FDI thời gian qua, đặc biệt là tronggiai đoạn đầu còn ít là do một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất, thời gian đầu ta mới ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, do
chưa có đủ thông tin về môi trường đầu tư, phần lớn các dự án đầu tư trong giai đoạn nàytập trung vào lĩnh vực dịch vụ như kinh doanh khách sạn, nhà hàng, văn phòng chothuê nên có rất ít dự án có nội dung chuyển giao công nghệ
Thứ hai, hoạt động chuyển giao công nghệ còn mới với Việt Nam (ta chỉ đặt vấn đề
ban hành các quy định pháp luật về chuyển giao công nghệ sau khi có luật đầu tư trựctiếp nước ngoài) Nhiều nhà đầu tư nước ngoài lầm tưởng rằng với việc cấp giấy phépđầu tư, nội dung chuyển giao công nghệ của dự án đã được Nhà nước Việt Nam chấpnhận (do thực hiện chính sách một cửa) như dự án Công ty liên doanh nhà máy bia ViệtNam sản xuất bia Tiger, Heniken Thực ra chuyển giao công nghệ thuộc nội dung quản
Trang 20lý Nhà nước đã giao cho Bộ Khoa học và Công nghệ và chỉ khi có sự chấp nhận của cơquan này thì hợp đồng mới có giá trị pháp lý.
Thứ ba là các nhà đầu tư nước ngoài, do chưa có thông tin đầy đủ về quy định pháp lý
chuyển giao công nghệ của Việt Nam nên thường né tránh việc lập Hợp đồng chuyểngiao công nghệ và thường đưa chi phí chuyển giao công nghệ vào chi phí mua máy móc,thiết bị cho dự án Tuy nhiên, khi các dự án sản xuất công nghiệp có quy mô lớn vào ViệtNam, chi phí chuyển giao công nghệ đồng thời cũng khá cao so với chi phí của dự án thìchủ dự án không thể đưa chi phí này vào giá máy móc, thiết bị mà phải lập thành một hợpđồng riêng
Hơn nữa, mục tiêu hàng đầu của nhà đầu tư là thu được lợi nhuận, nên họ quan tâmtrước tiên đến vấn đề đầu tư sản xuất và kinh doanh những sản phẩm nào để có thể thuhồi vốn đầu tư và lợi nhuận nhanh nhất, chỉ khi nào có sức ép lớn về khả năng cạnh tranhsản phẩm đòi hỏi phải có đổi mới công nghệ thì họ mới quan tâm đến vấn đề chuyển giaocông nghệ sản xuất của dự án Về mặt chiến lược, thời kỳ này ta đang hướng chủ yếu vàochiến lược “thay thế nhập khẩu”, sản phẩm chỉ cần đáp ứng được nhu cầu thị trườngtrong nước là được nên sức ép về tính cạnh tranh về công nghệ của sản phẩm không lớn
3.2.2 Cơ cấu của hợp đồng chuyển giao công nghệ qua FDI tập trung vào lĩnh vực công nghiệp
Bảng 4: Số hợp đồng CGCN qua FDI được phê duyệt theo ngành/lĩnh vực
(Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ)
Như vậy, ta thấy rằng số hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được phê duyệt chủyếu trong các ngành công nghiệp và tập trung nhiều nhất vẫn là công nghiệp nặng với
Trang 2127,4%, tiếp đó là lĩnh vực điện, điện tử, bưu chính viễn thông 14,6%, hóa mỹ phẩm113,7% Riêng trong ngành sản xuất, lắp ráp ô tô đã có 11 Hợp đồng chuyển giao côngnghệ của nhiều hãng sản xuất ô tô nổi tiếng trên thế giới như Toyota, Daihatsu, Mazda,Mitsubishi (Nhật Bản), Mercedes-Ben, BMW (Đức), Daewoo, Hyundai (Hàn Quốc) Vềsản xuất, lắp ráp xe máy có các công ty sản xuất xe máy từ Nhật Bản Như: Honda,Yamaha, Suzuki, từ Đài Loan như VMEP Trong lĩnh vực hóa mỹ phẩm có hầu hết cáccông ty nổi tiếng thể giới như: Unilever (Anh – Hà Lan), Procter & Gamble, Colgate –Palmolive (Hoa Kỳ), Debon, Essence (Hàn Quốc).
Sở dĩ hoạt động chuyển giao công nghệ chủ yếu thực hiện trong lĩnh vực côngnghiệp là do: mục tiêu của ta là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa –hiện đại hóa tăng tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc nội, giải quyếtviệc làm, giảm tỉ lệ lao động nông nghiệp trong tổng số lao động xã hội Bên cạnh đó,Nhà nước Việt Nam luôn có chính sách khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài chuyểngiao những công nghệ tiên tiến nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, côngnghệ vật liệu tiên tiến, công nghệ tự động hóa, cơ điện tử, công nghệ hiện đại trong cáclĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu
3.2.3 Đa số các hợp đồng chuyển giao công nghệ là của Nhật Bản
Bảng 5: Số hợp đồng chuyển giao công nghệ được phê duyệt theo nước CGCN
Trang 22(Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ)
Với 96 hợp đồng chuyển giao công nghệ, Nhật Bản là nước có số hợp đồngchuyển giao công nghệ nhiều nhất, tiếp đến là Hoa Kỳ với 44 hợp đồng, Hàn Quốc với 42hợp đồng, Pháp và Singapore cùng có 18 hợp đồng Có thể nói các nước có công nghệphát triển như Nhật Bản, Mỹ và các nước Tây Âu vẫn là nguồn cung cấp công nghệ
“gốc” dồi dào nhất cho Việt Nam, đồng thời ta cũng thu hút được khá nhiều công nghệ từvòng tròn thứ nhất của hoạt động chuyển giao công nghệ ở Châu Á (các nước NICs)
Các hợp đồng chuyển giao công nghệ của Nhật Bản tập trung vào các lĩnh vựccông nghệ cao như: sản xuất mạch in điện tử của Fujitsu; sản xuất các sản phẩm mô tơnhỏ kỹ thuật cao của Nidec Tosok; sản xuất và lắp ráp tổng đài điện tử số của NEC; sảnxuất và lắp ráp ô tô Toyota, Daihatsu, Hino; sản xuất đĩa cho máy tính xách tay củaCanon, sản xuất và lắp ráp xe máy của Honda, Yamaha, Suzuki Sở dĩ Nhật Bản là nướcchuyển giao công nghệ lớn nhất vào Việt Nam là vì trước hết, ở châu Á nói chung và cácnước Asean nói riêng hiện nay vẫn được xem là “miền đất hứa” đối với nhiều công ty củaNhật Nhiều nhà kinh doanh của Nhật đã đánh giá khu vực Châu Á, trong đó các nướcAsean mà Việt Nam – với nền kinh tế đang phát triển năng động, là “mỏ vàng lớn” và họkhông để lỡ cơ hội ngàn vàng này
Trang 23CHƯƠNG 4: THÀNH CÔNG, TỒN TẠI VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC
ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG FDI Ở VIỆT NAM
4.1 MỘT SỐ THÀNH CÔNG CỦA HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ THÔNG QUA FDI TẠI VIỆT NAM
Nguồn công nghệ sôi động chảy vào Việt Nam qua các dự án đầu tư trực tiếp nướcngoài thời gian qua đã và đang có tác dụng kích thích môi trường công nghệ, làm sốngđộng đời sống công nghệ Việt Nam Đã có nhiều công nghệ mới được chuyển giao vànhiều sản phẩm mới được sản xuất trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,hàng vạn cán bộ công nhân viên đã được đào tạo mới và đào tạo lại phù hợp với côngnghệ được chuyển giao
4.1.1 Hệ thống văn bản pháp luật về chuyển giao công nghệ của Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn
Cùng với sự phát triển của hoạt động chuyển giao công nghệ qua FDI, hệ thốngcác văn bản pháp luật của ta cũng ngày một hoàn thiện dần, tạo điều kiện thuận lợikhuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tăng cường đầu tư và chuyển giao công nghệvào Việt Nam
Trang 24Mới đây nhất, nghị định 11/2005 quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ thay
thế cho nghị định 45/1998 đã có nhiều điểm mới chi tiết, cụ thể hơn và thông thoáng hơn:
Nhà nước đã giảm thiểu sự can thiệp của cơ quan chức năng, nâng cao quyền
tự do ý chí của các chủ thể trong quan hệ hợp tác, đầu tư Bên cạnh đó, các cơ quan nhànước phải nâng cao trách nhiệm, vai trò trong hoạt động chuyên môn, khắc phục nhữngđiểm yếu trong cơ chế quản lý
Quy định rõ việc phân cấp trong xác nhận đăng ký hợp đồng nhưng vẫn đảmbảo tính quản lý thống nhất, chặt chẽ trong hoạt động chuyển giao công nghệ
Thay cơ chế thẩm định và phê duyệt hợp đồng trước đây bằng cơ chế xác nhậnđăng ký hợp đồng thông thoáng hơn Tất cả những quy định này nhằm mục đích cải cáchthủ tục hành chính, xoá dần tình trạng cửa quyền, nhiều cấp quản lý, nhiều khâu trunggian trước đây
Mức phí chuyển giao công nghệ cũng được quy định lại, phương thức thanhtoán linh hoạt, không gò bó như trước đây với nhiều hình thức thanh toán khác nhau tuỳthuộc vào ý muốn của doanh nghiệp như: đưa giá trị công nghệ được chuyển giao vàovốn góp trong các dự án đầu tư; trả kỳ vụ; trả gọn; hay kết hợp cả hai hình thức trên
Nghị định còn bổ sung, sửa đổi những quy định liên quan đến vấn đề: Cấpphép đặc quyền kinh doanh (khoản 6 điều 4); quyền trưng cầu đánh giá, giám định côngnghệ (điều 8); phương thức giải quyết tranh chấp với bên thứ ba và quyền sở hữu, quyền
sử dụng công nghệ (khoản 5 điều 17)
Cùng với việc ban hành Nghị định 11/2005 thay thế cho Nghị định 45/1998, Luật đầu tư 2005 cũng được ban hành Với Luật đầu tư mới, tất cả các hình thức đầu tư của
nước ngoài cũng như của Việt Nam đều chịu sự điều chỉnh chung thống nhất của luật.Chủ trương của Nhà nước là dần tiến tới sự không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tưtrong nước và các nhà đầu tư nước ngoài, khuyến khích đầu tư vào bảo vệ lợi ích hợppháp của các nhà đầu tư Vì vậy, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ yên tâm hơn khi đầu tưvào Việt Nam
Sắp tới, với việc soạn thảo và ban hành Luật chuyển giao công nghệ, hoạt động
chuyển giao công nghệ ở nước ta và đặc biệt là hoạt động chuyển giao công nghệ qua
Trang 25FDI sẽ có được một khung hành lang pháp lý đầy đủ, thống nhất và thông thoáng hơn nữa
để phát triển và góp phần tích cực vào việc nâng cao năng lực công nghệ nước nhà Đồngthời, việc hình thành và hoạt động của các tổ chức dịch vụ hỗ trợ chuyển giao công nghệ(dịch vụ thông tin, tư vấn, môi giới, đánh giá, thẩm định, giám định công nghệ) cũng sẽ
có được cơ sở pháp lý cần thiết
4.1.2 Chuyển giao công nghệ qua FDI đã góp phần nâng cao trình độ công nghệ của sản xuất
Hoạt động chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư nước ngoài thời gian qua
đã góp phần nâng cao một cách rõ nét trình độ công nghệ của sản xuất trong nước so vớithời kỳ trước đây Một số ngành đã tiếp thu được công nghệ tiên tiến, tiếp cận với trình
độ hiện đại của thế giới Trong đó phải kể đến ngành Bưu chính viễn thông, công nghệthông tin, thăm dò khai thác dầu khí Sau đây là kết quả khả quan của một số ngành:
Ngành điện, thiết bị điện và công nghệ thông tin, viễn thông
Công nghệ thông tin phát triển dựa trên 3 ngành kỹ thuật: điện tử, tin học và viễnthông, đây là một ngành có tốc độ phát triển rất nhanh, vì công nghệ thông tin là cơ sở hạtầng cho sự phát triển kinh tế xã hội
Ở nước ta, từ chỗ chỉ có 9 đường dây quốc tế vào năm 1987, đến cuối năm 1995
đã lên đến 2500.Sự tăng tốc này phần lớn là do sự đầu tư vào mạng lưới của hãng Telstra(Australia) vào cuối năm 1987, bên cạnh đó Telstra còn chuyển giao công nghệ và thiết
bị cho hệ thống viba số với tốc độ 65Gb/giây từ Hà Nội đi thành phố Hồ Chí Minh.Trong thời gian này, có hàng loạt các công ty viễn thông nước ngoài đã triển khai các dự
án tại Việt Nam như: Ericsson (Thụy Điển) với trạm viễn thông mặt đất đầu tiên tại HàNội và Hải Phòng, Siemes với hệ thống tổng đài điện thoại, NTT (Nhật Bản) với nhà máysản xuất các thiết bị viễn thông
Một số dự án khác được triển khai cùng với sự tham gia của nhiều công ty nướcngoài với tổng công ty Bưu chính viễn thông như hệ thống sợi cáp quang xuyên biển nốiThái Lan, Việt Nam, Hồng Kông năm 1997 đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền dẫn
số liệu giữa các nước trong khu vực và trên thế giới Cùng với các dự án viễn thông khác,các dự án siêu xa lộ thông tin với đầu tư khoảng 300-500 triệu USD, hệ thống thông tin di
Trang 26động cá nhân toàn cầu GMPCS với đầu tư khoảng 250 tỷ đồng đã làm cho cơ sở hạtầng về thông tin liên lạc phát triển đáng kể.
Nhiều dây chuyền công nghệ tiên tiến đã được chuyển giao như: sản xuất các máybiến thế điện 35KV đạt chất lượng cao theo tiêu chuẩn ABB, giảm hao tổn điện năng đến30% so với sản phẩm được sản xuất trước đây, giảm 20% trọng lượng máy và đã xuấtkhẩu được sản phẩm sang Tây Âu; công nghệ chế tạo các dây điện từ dùng trong việc sảnxuất các thiết bị điện dân dụng bằng các thiết bị cuốn dây, tẩm sấy chân không tự độngnăng suất cao; công nghệ sản xuất bóng đèn hình của màn hình máy thu hình; công nghệsản xuất các bảng vi mạch máy tính bằng lắp ráp tự động
Thị trường công nghệ thông tin ở nước ta luôn phát triển ở mức rất cao, riêngtrong năm 2004, thị trường công nghệ thông tin đã đạt giá trị 685 triệu USD, tăng trưởng33% so với năm trước (trong khi đó tốc độ tăng trưởng trung bình của thế giới là5%/năm) Các nhà đầu tư nước ngoài thấy ở thị trường Việt Nam một môi trường lýtưởng không chỉ để tiêu thụ sản phẩm mà còn là nơi đặt nhà máy trực tiếp làm ra sảnphẩm Sony và Canon đã tận dụng cơ hội thị trường để đầu tư sản xuất các thiết bị kỹthuật số và các sản phẩm công nghệ thông tin như máy quay, máy chụp ảnh kỹ thuật số
Ngành chế tạo, thiết bị và cơ khí
Ngành chế tạo trong nước đã có những chuyển biến đáng kể do chuyển giao côngnghệ với những liên doanh lắp ráp xe hơi như các liên doanh ô tô Toyota, Ford, VMC ,
xe máy như Honda, Yamaha, Suzuki
Hầu hết các trang thiết bị được đưa vào các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làđồng bộ và là các trang thiết bị có trình độ cơ khí hoá trung bình, bằng hoặc cao hơn cáctrang thiết bị cùng loại đã có ở trong nước và thuộc loại phổ cập ở các nước trong khuvực
Trong ngành cơ khí nhiều công nghệ đã được chuyển giao vào nước ta như:
- Công nghệ sản xuất các ống gang chịu áp lực bằng gang graphite cầu, trướcđây sản xuất ống bằng gang xám độ bền thấp
- Công nghệ sản xuất các ống thép đường kính 20mm dày đến 30mm bằngphương pháp cuốn và hàn tự động theo đường xoắn ốc với chiều dài tuỳ theo ý muốn
Trang 27Trước đây, các nhà máy trong nước sản xuất ống thép theo phương pháp cuốn và hàntheo đường sinh chỉ dày đên 20mm và độ dài không quá 2m.
- Sản xuất phôi đúc bằng khuôn sử dụng furan làm chất kết dính, đảm bảochất lượng sản phẩm và năng suất cao
- Công nghệ sản xuất khuôn kim loại từ thiết kế tự động bằng máy vi tínhđến gia công khuôn tự động điều khiển bằng chương trình
- Công nghệ sản xuất các thanh nhôm định hình bằng gia công áp lực ở nhiệt
độ cao
- Công nghệ sản xuất đồ trang sức bằng kim loại quý với quy mô côngnghiệp bằng phương pháp đúc khuôn mẫu chảy để xuất khẩu
Ngành xây dựng, vật liệu xây dựng
Các chuyên gia Việt Nam và nước ngoài đã tổ chức các hội thảo về vật liệu mớiphục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn, dùng các vật liệu nhẹ với nhiều tính năng,chống cháy, chống nhiệt áp dụng phục vụ trong xây dựng Việt Nam hiện đã làm chủđược một số công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng chất lượng cao: xi măng, gạch men cácloại, kính, thuỷ tinh, đồ sứ vệ sinh bằng phương pháp tiên tiến nhất hiện nay là đúc áplực, trong nước chưa bao giờ áp dụng, đảm bảo chất lượng cao; công nghệ xử lý nềnmóng, xây dựng và thi công các nhà cao tầng, đường cao tốc và các công trình xây dựngcao cấp
Nông nghiệp và nông thôn
Đối với lĩnh vực nông nghiệp, do có phạm vi rộng (bao gồm cả lĩnh vực lâmnghiệp và ngư nghiệp, có thể đến cả thuỷ lợi và công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản),công nghệ được áp dụng trong nông nghiệp bao gồm nhiều loại như công nghệ sinh học,công nghệ chế biến nông lâm hải sản, công nghệ quản lý công trình thuỷ lợi; xây dựngcác giải pháp để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nâng cao hiệu quả của các hìnhthức tổ chức sản xuất, phát triển dịch vụ phụ vụ sản xuất vì vậy quá trình chuyển giaocông nghệ trong nông nghiệp có những đặc điểm khá phức tạp và có tính đặc thù riêng
Do vậy, hoạt động chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp và nông thôn chưa được