1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyển giá trong hoạt động đầu tư nước ngoài

64 266 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyển giá trong hoạt động đầu tư nước ngoài
Tác giả GS.TS Võ Thanh Thu
Trường học Cao học Thương Mại
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 847,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công ty đa quốc gia có thể chuyển giá nhằm tránh thuế, chiếm lĩnh thị phần, biến liên doanh thành công ty 100% vốn nước ngoài… 1.2 Quan điểm 2 Là hoạt động mang tính chủ quan, cố ý của c

Trang 1

I TỔNG QUAN CHUYỂN GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

1 Khái niệm “chuyển giá” (transfering pricing)

1.1 Quan điểm 1

Chuyển giá là thuật ngữ ám chỉ hành vi đặt giá của các công ty đa quốc gia khác với giá

cả theo nguyên tắc thị trường nhằm thực hiện mục đích nào đó

Công ty đa quốc gia có thể chuyển giá nhằm tránh thuế, chiếm lĩnh thị phần, biến liên

doanh thành công ty 100% vốn nước ngoài…

1.2 Quan điểm 2

Là hoạt động mang tính chủ quan, cố ý của các tập đoàn đa quốc gia nhằm tối thiểu hóa

số thuế phải nộp bằng cách ấn định giá mua bán sản phẩm, nguyên vật liệu… giữa các

công ty trong cùng một tập đoàn, không theo giá thị trường nhằm thu được lợi nhuận cao

nhất

1.3 Quan điểm 3

Là một hành vi thông đồng giữa các công ty của cùng một tập đoàn để thực hiện dàn xếp

áp đặt về mặt giá cả giữa các công ty không dựa trên giá thị trường nhằm chuyển lợi

nhuận từ nước này sang nước khác, tránh nộp thuế đầy đủ, từ đó nâng cao hiệu quả kinh

doanh của cả tập đoàn

1.4 Quan điểm 4

Chuyển giá là việc định giá hàng hóa dịch vụ chuyển giao giữa các công ty liên kết đóng

ở các quốc gia khác nhau nhằm tối ưu hóa lợi nhuận của tập đoàn

2 Đặc điểm

Cho đến nay, tồn tại rất nhiều khái niệm về chuyển giá, tuy nhiên, dù hiểu theo

cách nào thì để kết luận một hành vi có phải là chuyển giá hay không, thì nó phải bao

gồm 3 đặc điểm đặc trưng sau đây:

Trang 2

2.1 Giá cả: giá mua bán hàng hóa, tài sản hữu hình, vô hình, các hoạt động vay, tài trợ…

đều dựa trên sự tính toán chủ quan của các nhá quản lý tập đoàn đa quốc gia, giá này có

thể cao hơn, hoặc thấp hơn giá thị trường

2.2 Định giá chuyển giao: (price tranfering) là việc sử dụng các phương pháp để xác định

giá cả của các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ trong một công ty đa quốc gia phù hợp với

thông lệ quốc tế và được chấp nhận bởi các quốc gia nơi mà các công ty con của công ty

đa quốc gia đang hoạt động

2.3 Mối quan hệ của các công ty: các công ty liên quan trong hoạt động chuyển giá này

đều có mối quan hệ đặc biệt với nhau, như quan hệ giữa công ty mẹ - công ty con, giữa

các công ty liên kết,… Có thể nói đây là mối quan hệ cộng sinh về quyền lợi tài chính và

tổ chức

3 Phân biệt các hoạt động: giá chuyển giao - gian lận giá - chuyển giá

Chuyển giao, hay cụ thể là chuyển giao nội bộ là những hoạt động mua bán qua lại

giữa công ty mẹ và công ty con hoặc giữa các công ty con của MNCs với nhau Các công

ty con của MNCs hoạt động trên phạm vi của nhiều quốc gia khác nhau do đó các giao

dịch nội bộ của các MNCs diễn ra rất đa dạng và phức tạp với số lượng ngày càng nhiều

và giá trị ngày càng lớn Các hoạt động này được thực hiện thông qua các giao dịch như:

giao dịch chuyển giao nội bộ tài sản cố định hữu hình hay tài sản cố định vô hình; chuyển

giao nguyên vật liệu, thành phẩm, thông qua sự dịch chuyển nguồn vốn như cho vay và đi

vay nội bộ; qua việc tài trợ và nhận tài trợ về các nguồn lực như tài lực và nhân lực, qua

sự cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính, tư vấn quản lý; qua các chi phí cho việc quảng

cáo và chi phí nghiên cứu phát triển

Giá chuyển giao là giá của các loại hàng hóa hữu hình và vô hình hay giá của việc

cung cấp dịch vụ của một công ty chuyển giao cho một công ty liên kết Giá chuyển giao

của các hàng hóa hữu hình và dịch vụ là các khoản thanh toán về phí dịch vụ và tiền bản quyền

cho công ty mẹ, hay là tiền lãi trả cho công ty mẹ

Trang 3

Gian lận giá là hành vi doanh nghiệp khai giá thấp hơn giá thực tế để trốn thuế

hoặc thực bán hàng giá cao nhưng lập hoá đơn, hạch toán theo mức giá thấp hơn để trốn

thuế giá trị gia tăng (GTGT), trốn thế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)… Tình trạng khá

phổ biến hiện nay trong kinh doanh ô tô, xe máy là người mua phải trả theo mức giá thực

tế cao hơn rất nhiều so với giá ghi trên hóa đơn, phần chênh lệch ngoài hóa đơn được

nhiều người giải thích rằng sẽ dùng để rải cho nhiều khâu gian lận từ nhập khẩu, khai hải

quan đến các khâu luân chuyển trong nội địa

Gian lận giá thường có phạm vi rộng hơn hành vi chuyển giá bởi vì hành vi

chuyển giá chỉ có thể được thực hiện bởi cả 2 bên mua và bán hoặc cùng với cả bên thứ

3 Trong khi gian lận giá có thể đồng thời được thực hiện bởi cả 2 hoặc nhiều bên trong

giao dịch mua/bán hàng hoá, dịch vụ (cùng thông đồng giữa các bên) nhưng cũng không

ít trường hợp gian lận giá được thực hiện ngay tại ở một bên bằng những thủ đoạn nghiệp

vụ

 Tóm lại, khi giá chuyển giao nội bộ cao hơn hay thấp hơn giá thị trường thì xảy ra

hoạt động chuyển giá Hoạt động chuyển giao là hợp pháp nếu giá chuyển giao phù

hợp với giá thị trường, còn chuyển giá và gian lận giá đều là những hoạt động phạm

pháp, và bị cấm.

4 Nguyên nhân của hiện tượng chuyển giá

Hành vi chuyển giá thông qua việc các tập đoàn,các công ty mẹ tại nước ngoài ký kết hợp

đồng sản xuất kinh doanh, dịch vụ với các nước với đơn giá cao, sau đó giao lại cho các

công ty con tại Việt Nam với giá rất thấp và ngược lại một phần là do các nguyên nhân

sau đây:

4.1

Đ ộng cơ tối đa hoá lợi nhuận : DN nói chung, các tập đoàn đa quốc gia nói riêng,

không bao giờ từ bỏ các cơ hội, các biện pháp nhằm tối đa hoá lợi nhuận, kể cả các hành

vi chuyển giá, gian lận giá, gian lận thương mại,… Chuyển giá thông qua các giao dịch

hàng hoá, dịch vụ, vốn đầu tư qua biên giới sẽ khó bị phát hiện hơn so với các gian lận

Trang 4

khác và kể cả trong trường hợp bị phát hiện thì việc xử lý cũng không hề đơn giản bởi

chính phủ của mỗi nước thường có thiên hướng bảo vệ DN của mình vì lợi ích quốc gia

4.2 Quyền tự do định đoạt trong kinh doanh thương mại và đầu tư: đã tạo cơ hội cho các

DN được quyền quyết định giá trong các giao dịch Do đó, trong quan hệ với các bên liên

kết, các DN được toàn quyền định mua, bán, trao đổi những hàng hoá hoặc dịch vụ theo

mức giá họ mong muốn và được thể hiện trong các văn kiện, hợp đồng được luật pháp

quốc tế bảo hộ

4.3 Mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa các nhóm liên kết: vừa thuận lợi trong điều

hành trong phạm vi rộng lớn, vừa có được lợi ích kinh tế nhiều hơn Sự khác biệt về mức

giá giao dịch được thực hiện giữa các bên so với giá chung của thị trường sẽ đưa đến kết

quả là một bên có thể được lợi ít hơn hoặc thiệt hại, trong khi bên kia được lợi nhiều hơn

nhưng xét về tổng thể lợi ích của toàn cục họ sẽ được nhiều Chuyển giá mang lại lợi ích

toàn cục được nhiều hơn do “né thuế”, do đó, các DN có mối quan hệ liên kết không thể

bỏ qua hành vi này

4.4 Sự khác biệt về môi trường đầu tư, kinh doanh; sự khác biệt về chính sách, pháp luật,

thể chế giữa các quốc gia,… cũng vừa tạo ra động cơ, đồng thời cũng tạo ra những điều

kiện để các tập đoàn đa quốc gia xây dựng và triển khai thực hiện được chiến lược

chuyển giá của họ Sự khác biệt trong chính sách thuế, đặc biệt là các ưu đãi thuế là bức

tranh phổ biến và rõ nét trong thời gian vừa qua, có thể nói rất nhiều, gần như đại đa số

các nước đang phát triển đều sử dụng các chính sách ưu đãi thuế là một trong những công

cụ thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Bên cạnh đó, các yếu tố về chính trị, về chính sách đối ngoại của những nơi,

những khu vực bị “lép vế” hơn so với các khu vực khác cũng làm nảy sinh hành vi

chuyển giá và nó được triển khai thực hiện vòng vèo hơn, qua các nước trung gian khác

Trang 5

5 Các hình thức chuyển giá

Trên thực tế, các hình thức chuyển giá quốc tế rất đa dạng, phong phú Tuỳ vào

hoàn cảnh kinh doanh khác nhau mà các MNCs sử dụng các biện pháp khác nhau để thực

hiện chuyển giá nhằm tối đa hóa lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu Bằng cách nhóm các

hình thức theo đặc điểm chung, ta có thể chia thành các dạng hình thức chuyển giá như

sau:

5.1 Định giá các yếu tố đầu vào cao hơn giá thị trường

Các yếu tố đầu vào được định giá cao từ trong giai đoạn đầu của quá trình đầu tư (như

kê khai vốn góp bằng tài sản vô hình cũng như vô hình để góp vốn kinh doanh) đến khi

dự án trong giai đoạn triển khai (như chi phí nhập nguyên phụ liệu, chi phí tư vấn, làm

quảng cáo ở nước ngoài…)

 Chuyển giá thông qua hình thức nâng cao giá trị tài sản góp vốn: là nhà đầu tư, bất

cứ ai cũng muốn phần vốn của mình chiếm giá trị lớn trong tổng số vốn pháp định, nên

dù đầu tư bằng hình thức liên doanh hay 100% vốn đầu tư nước ngoài, đều tìm mọi cách

để nâng cao trị giá phần vốn góp của mình Việc làm này mang lại lợi ích to lớn và cụ

thể, như đầu tư dưới dạng liên doanh, sẽ giúp gia tăng quyền chi phối các quyết định liên

quan đến hoạt động của dự án, tăng mức lợi nhuận được chia, tỷ lệ trị giá tài sản được

chia sau khi kết thúc dự án cũng được tăng Hoặc đối với công ty 1oo% vồn nước ngoài,

việc tăng tài sản góp vốn ảnh hưởng đến việc khấu hao tài sản cố định Chủ đầu tư sẽ

mau hoàn vốn, giảm rủi ro và giảm mức thuế thu nhập doanh nghiệp do chi cao

 Chuyển giá bằng cách nâng khống trị giá công nghệ, thương hiệu…: quản lý, sở

hữu và sử dụng tài sản vô hình đã khó, việc định giá các tài sản vô hình này lại còn phức

tạp hơn nhiều Vì vậy, mặc dù lợi ích của việc chuyển giao/ góp vốn bằng tài sản vô hình

dễ dàng nhận thấy cho nhà tiếp nhận, nhưng đây cũng là một kẽ hở mà các nhà đầu tư

thường hay lợi dụng, bằng cách định giá cao phần vốn góp này

Trang 6

 Nhập khẩu nguyên phụ liệu từ công ty mẹ ở nước ngoài hoặc từ công ty đối tác

trong liên doanh với giá cao: Hành động này nhằm hai mục đích, một là thông qua việc

thanh toán tiền hàng nhập khẩu, vô hình chung đã chuyển một phần lợi nhuận ra nước

ngoài Hai là, khi mua hàng nhập khẩu với giá đắt, chi phí được hạch toán tăng lên, thu

nhập chịu thuế của doanh nghiệp giảm xuống, làm cho tổng lợi nhuận sau thuế tăng

 Làm quảng cáo ở nước ngoài với chi phí cao: tương tự, việc thuê các công ty nước

ngoài (hầu hết các trường hợp, công ty này là công ty con con trong cùng một tập đoàn)

với chi phí quảng cáo rất cao, thậm chí là cao ở mức bất thường cũng là một hình thức

chuyển lợi nhuận sang cho tập đoàn mẹ Việc này đồng thời gây thất thu nguồn thuế đáng

kể cho quốc gia tiếp nhận đầu tư, do chi phí quảng cáo nằm trong khoản mục chi phí kinh

doanh, chi phí tăng cao kéo theo lợi nhuận chịu thuế giảm

 Chuyển giá thông qua hình thức nâng chi phí các đơn vị hành chính và quản lý:

thông qua các hợp đồng tư vấn, thuê chuyên gia, thuê quản lý từ công ty mẹ hoặc công ty

con khác trong cùng một tập đoàn; hoặc cử chuyên viên, công nhân sang thực tập, tham

gia các khóa huấn luyện tại công ty mẹ với chi phí cao, các công ty có vốn FDI đã thực

hiện hành vi chuyển giá để chuyển lợi nhuận về nước

5.2 Định giá các yếu tố đầu ra thấp hơn giá thị trường

Một số doanh nghiệp FDI (chủ yếu là các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) khi

xuất hàng ra khỏi lãnh thổ nước tiếp nhận đầu tư thường xuất về công ty mẹ hoặc công ty

con khác tại các nước có thuế suất thuế thu nhập công ty thấp, với hóa đơn xuất bán thấp

hơn nhiều so với giá thành; hoặc có tình trạng một số dịch vụ thu tiền ở nước ngoài

không được phản ánh đúng doanh thu để giảm số thuế phải nộp tại các nước này Việc

này nhằm mục đích giảm đi lợi tức phải kê khai ở nước tiếp nhận đầu tư, trong khi số lợi

tức này trên sổ sách của đơn vị được hiểu ngầm rằng đã được bù trừ bởi số “lãi đầu vào”

thu được từ việc khai khống các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp

Trang 7

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp FDI được thành lập từ một công ty mẹ ở chính

quốc, hoạt động trên thị trường nội địa cũng có chính sách tương tự như trên: tiêu thụ

hàng hóa với giá thấp hơn nhiều so với giá thị trường

5.3 Chuyển giá thông qua hoạt động tài trợ

Hoạt động tài trợ gồm có tài trợ bằng nghiệp vụ vay và tài trợ bằng cách cung cấp

thiết bị, máy móc, dịch vụ tư vấn… cho nước được tài trợ vốn (ODA) Công ty mẹ tài trợ

vốn cho công ty con nhưng không phải với mục đích tăng vốn góp chủ sở hữu, mà tài trợ

cho các tài sản cố định làm cho chi phí hoạt động tài chính tăng cao như chi phí chênh

lệch tỷ giá, chi phí lãi vay… và chuyển một phần lợi nhuận về nước dưới dạng lãi vay

và chi phí bảo lãnh vay vốn để tránh thuế thu nhập doanh nghiệp, tránh lỗ do chênh lệch

tỷ giá về sau Bên cạnh đó, khi tài trợ cung cấp máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, dịch

vụ tư vấn cho nước được tài trợ vốn, nhiều nhà cung cấp ở nước tài trợ nâng giá thiết bị,

nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ lên cao đẩy giá đầu tư lên cao có lợi cho nước tài trợ

5.4 Chuyển giá thông qua chênh lệch thuế suất

Lợi dụng sự chênh lệch về thuế suất thuế lợi tức và thuế quan giữa hai quốc gia mà

các công ty MNCs thực hiện hành vi chuyển giá Cụ thể là về thuế lợi tức, nhằm tối thiểu

hóa tổng số thuế lợi tức hay thuế quan phải nộp, một MNCs sẽ tối đa hóa chi phí tại một

nước có thuế suất cao và tối đa hóa thu nhập ở nước có thuế suất thấp Thủ thuật của

hành vi chuyển giá của MNCs tại một nước có thuế suất cao là định giá cao ở các đầu vào

nhập khẩu và định giá thấp ở các đầu ra xuất khẩu Mặt khác, sự khác biệt về thuế quan

cũng là động cơ của chuyển giá Nếu thuế suất nhập khẩu ở nước tiếp nhận đầu tư cao

hơn, công ty mẹ ở nước ngoài sẽ định giá thấp hàng nhập khẩu vào công ty con để giảm

thuế phải nộp Tương tự, nếu thuế suất thuế xuất khẩu ở nước tiếp nhận đầu tư thấp hơn,

các công ty con này sẽ định giá thấp hàng xuất khẩu cho công ty mẹ

6 Vai trò và hậu quả của chuyển giá

6.1 Đối với quốc gia xuất khẩu vốn đầu tư

Trang 8

a Vai trò

Thu được ngoại tệ nhiều hơn nhờ đó góp phần cải thiện cán cân thương mại, cán cân

thanh toán quốc tế Sự hoạt động của các công ty mẹ tốt hơn về hình thức cũng tác động

tốt hơn đến hiệu quả kinh tế xã hội: đóng góp nhiều thuế hơn cho nhà nước, tác động tốt

tới tăng trưởng GNP của nước xuất khẩu vốn đầu tư

b Hậu quả

Thất thu một khoản thuế nhất định: khoản thuế thất thu này bắt nguồn từ việc

chênh lệch thuế suất giữa nước xuất khẩu vốn và nước tiếp nhận vốn Khi các khoản thuế

này ở nước xuất khẩu vốn cao hơn nước tiếp nhận thì các khoản lợi nhuận núp bóng dưới

nhiều hình thức sẽ chạy từ công ty mẹ ra nước ngoài sang các công ty con, để công ty mẹ

có thể tối thiểu hóa số thuế phải nộp Từ đó, quốc gia xuất khẩu vốn thất thu một khoản

thuế do hoạt động chuyển giá của các tập đoàn có trụ sở tại nước mình gây ra

6.2 Đối với quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư

a Vai trò

Quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư thường có mức thuế thu nhập thấp để thu hút đầu

tư, do đó xảy ra hoạt động chuyển giá ngược, tức là thông qua hình thức trả các chi phí

cao, như chi phí mua hàng, chi phí tư vấn…lợi nhuận sẽ được chuyển từ công ty mẹ sang

công ty con Việc làm này giúp cho công ty mẹ tránh được các mức thuế thu nhập cao tại

nước mình, đồng thời làm cho quốc gia tiếp nhận đầu tư tăng thu nhập ngoại tệ

b Hậu quả

 Cơ cấu vốn của nền kinh tế ở quốc gia tiếp nhận vốn sẽ bị đột ngột thay đổi do

việc thực hiện hành vi chuyển giá của các MNCs làm các luồng vốn chảy vào nhanh

mạnh, sau đó lại có xu hướng chảy ra trong thời gian ngắn Hậu quả là tạo ra một bức

tranh kinh tế bị sai lệch ở các quốc gia này trong các thời kì khác nhau

Trang 9

 Đối với các quốc gia được coi là thiên đường về thuế, họ là những người hưởng

lợi từ hoạt động chuyển giá trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn, họ phải đương đầu với

các khó khăn tài chính khi các MNC thoái vốn do các thu nhập không bên vững trước đây

trong ngắn hạn không phản ánh chính xác sức mạnh của nền kinh tế

 Với việc thực hiện hành vi chuyển giá và thao túm thị trường, chính phủ các nước

tiếp nhận đầu tư sẽ khó khăn hơn trong việc hoạch định chính sách điều tiết nền kinh tế vĩ

 Hoạt động chuyển giá sẽ phá vỡ cán cân thanh toán quốc tế và các kế hoạch kinh

tế của các quốc gia tiếp nhận đầu tư, chính vì thế nếu không kiểm soát tốt sẽ dẫn tới lệ

thuộc vào nền kinh tế của chính quốc, về lâu dài có thể dẫn tới lệ thuộc về chính trị

 Tạo ra một sự độc quyền về nhãn hiệu sản phẩm từ chính sách bán hạ giá sản

phẩm đầu ra Đẩy các doanh nghiệp cạnh tranh trong nước vào thế bất lợi, quốc gia tiếp

nhận đầu tư khó khăn trong việc thúc đẩy các ngành sản xuất trong nước phát triển

 Ngoài ra hoạt động chuyển giá, trong ngắn hạn, người tiêu dùng tại quốc gia này

được hưởng lợi khi mua hàng giá rẻ ví các doanh nghiệp FDI trong giai đoạn đầu có thể

hạ giá để giành thị phần và bóp chết các doanh nghiệp nội địa cạnh tranh với mình

Nhưng về lâu dài, khi họ thành công và chiếm lĩnh thị trường và thị phần, người tiêu

dùng buộc phải tuân theo luật chơi, mà chính xác hơn là phụ thuộc vào sản phẩm và giá

cả mà các doanh nghiệp này đưa ra

6.3 Nhìn dưới góc độ MNCs

a Tác động tích cực

Được hưởng lợi từ chính sách ưu đãi đầu tư (như thuế suất, lĩnh vực đầu tư…) tạo

điều kiện cho các MNC dễ dàng trong việc thực hiện giảm thiểu trách nhiệm ở quốc gia

MNC đang đầu tư Thực hiện chuyển giá, các MNC sẽ bảo toàn được nguồn vốn đầu tư,

Trang 10

nhanh chóng cóđược dòng ngân lưu cho các cơ hội đầu tư khác.Thực hiện chuyển giá sẽ

giúp các MNC nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường ở các nước đang đầu tư

b Tác động tiêu cực

Nếu bị các quốc gia phát hiện và thực hiện chế tài thì các MNC phải chịu một

khoản phạt rất lớn, bị rút giấy phép kinh doanh tại quốc gia đó hoặc ảnh hưởng nghiêm

trọng trên thương trường quốc tế dẫn tới sự chú ý nhiều và chặt chẽ hơn của các cơ quan

thuế ở những nước MNC đi đầu tư sau đó

7 Vai trò và hậu quả của chống chuyển giá

7.1 Vai trò

Nếu việc hoạt động chống chuyển giá được kiểm soát chặt chẽ, cả quốc gia tiếp

nhận và quốc gia xuất khẩu vốn đầu tư đều có thể hạn chế tối đa sự thất thu vế thuế do

các MNC gây ra

Đối với quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư, chống chuyển giá sẽ giúp quốc gia này ít

khó khăn hơn trong việc kiểm soát được luồng vốn chảy vào trong nước và trong việc

thực hiện hoạch định chính sách để điều tiết nên kinh tế vĩ mô Từ đó, quốc gia tiếp nhận

vốn có thể chủ động hơn trong các kế hoạch kinh tế của ḿnh Môi trường cạnh tranh trở

nên lành mạnh hơn, giúp các ngành sản xuất trong nước phát triển một cách công bằng,

dưới sự hỗ trợ, tạo điều kiện của nhà nước Điều này cũng đồng nghĩa với việc người

tiêu dùng trong nước cũng được bảo vệ và có nhiều sản phẩm thay thế hơn để lựa chọn

7.2 Hậu quả

Chống chuyển giá quá gắt gao sẽ dẫn đến tình trạng các tập đoàn không còn thấy

hấp dẫn đối với môi trường đầu tư, và tìm kiếm cơ hội đầu tư ở một quốc gia khác có

Trang 11

chính sách thông thoáng và mức thuế suất thấp hơn, hậu quả là quốc gia tiếp nhận đầu tư

sẽ không có nhiều cơ hội nhận được vốn từ các tập đoàn này, thiếu hụt một lượng thu

nhập ngoại tệ đáng kể để phát triển kinh tế xã hội trong nước

8 Tại sao một số quốc gia “lơ là” trong việc chống chuyển giá

Chuyển giá là hiện tượnng tất yếu, xảy ra trên phạm vi thế giới Trong hoạt động

kinh doanh mang tính toàn cầu, thuế rẻ tạo nên một lợi thế cạnh tranh và vì vậy các tập

đoàn đa quốc gia luôn tìm cách chuyển các hồ sơ thuế về nơi có mức thuế thấp để khai

thác lợi thế cạnh tranh ấy

Có thể dễ dàng nhận thấy nhiều quốc gia rất lỏng lẻo trong công tác quản lý, kiểm

soát hoạt động chống chuyển giá Lý do không phải là vì họ không nhìn thấy tác động

tiêu cực của hiện tượng chuyển giá hay không có khả năng xây dựng hệ thống pháp luật

chặt chẽ…, mà bởi vì các quốc gia đó đặt mục tiêu thu hút vốn đầu tư lên trên hết, bằng

cách hạ mức lãi suất thấp nhất, cho phép bảo vệ sự bí mật thông tin về tài sản cho các

doanh nghiệp và cá nhân bất chấp một số hậu quả do nó mang lại

Vậy với mức thuế suất thấp gần như bằng 0 đó, ngoài mục tiêu thu hút vốn đầu tư,

việc lơ là hoạt động chống chuyển giá còn mang lại lợi ích gì cho các quốc gia thiên

đường về thuế? Thực tế cho thấy, nhiều quốc gia có được nguồn thu đáng kể trong việc

thu các loại phí liên quan tới hoạt động đăng ký, cấp giấy phép kinh doanh, phí ngân

hàng, và phát triển một số ngành công nghiệp ăn theo khi đông đảo các nhà đầu tư nước

ngoài thành lập doanh nghiệp tại quốc gia đó

Tuy nhiên, Chính phủ nhiều nước trên thế giới bắt đầu tập trung nhiều nỗ lực công

kích với mục đích dần loại bỏ những “thiên đường thuế” trên khắp trái đất Hiện cả Mỹ

và châu Âu đều cho biết, đã đến lúc không cho phép làm ngơ trong quan hệ với những

quốc gia cung cấp offshore (chính sách miễn thuế hoặc có ưu đãi đặc biệt về thuế với các

công ty nước ngoài) Trong khi bản thân những nước trên cũng không dễ dàng từ bỏ một

nguồn lợi béo bở của mình

Trang 12

Một số quốc gia/vùng lãnh thổ được coi là thiên đường về thuế: Antigua và

Barbuda, Bahamas, Bermuda, BVI, Cyprus, Hồng Kông, Isle of Man, Jersey,

Liechtenstein, Macau, Mauritius, Monaco, Panama, quần đảo Cayman, Singapore, tiểu

bang Delaware Hoa Kỳ, Thụy Sỹ, United States Virgin Islands Giờ đây, danh sách đen

chỉ còn lại 4 quốc gia, đó là Liechtenstein, Monaco, Andorra và Switzerland

9 Các biện pháp chung chống chuyển giá trong hoạt động đầu tư quốc tế

9.1 Các biện pháp mang tính học thuật

Nguyên tắc cơ bản của việc chống chuyển giá: bản chất của chuyển giá là việc xác

định giá không theo nguyên tắc giá thị trường, nên một trong những biện pháp chống

chuyển giá là quy định các cách thức định giá thị trường trong giao dịch giữa các bên liên

kết

 Các cơ quan Thuế cần thường xuyên theo dõi, kiểm tra liệu có hiện tượng chuyển

giá tại các công ty có vốn đầu tư nước ngoài hay không bằng 5 phương pháp xác định giá

thị trường của sản phẩm trong giao dịch liên kết theo thông tư 66/2010/TT-BTC đã đưa

ra đó là:

 Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập

 Phương pháp giá bán lại

 Phương pháp giá vốn cộng lãi

 Phương pháp so sánh lợi nhuận

 Phương pháp tách lợi nhuận

 Thông tin về giá cả, giá thành, giá trị mua bán, lợi nhuận… và các thông tin của

các công ty FDI phải được lưu giữ lại mang tính hệ thống trong nhiều năm để có khả

năng đánh giá về những thỏa thuận về giá trong quá khứ và hiện tại

Trang 13

 Hoàn thiện các văn bản pháp luật đặt cơ sở pháp lý cho việc phát hiện và phạt hiện

tượng chuyển giá

 Nhân viên thuế của các cơ quan quản lý phải có nghiệp vụ giỏi để xem xét các

chứng từ, thông tin… để phát hiện một cách thuyết phục các hành vi chuyển giá

9.2 Năm phương pháp xác định giá thị trường của sản phẩm trong giao dịch liên kết

Để xác định giá thị trường phải tuân thủ nguyên tắc dựa trên cơ sở so sánh tính

tương đương giữa giao dịch liên kết với giao dịch độc lập từ đó lựa chọn ra phương pháp

xác định giá phù hợp Theo đó, dù là sử dụng phương pháp nào thì việc so sánh cũng phải

đưa giao dịch độc lập làm cơ sở quy chiếu về điều kiện tương đương với giao dịch liên

kết Do đó các giao dịch tương đối dùng để so sánh có thể không hoàn toàn giống

giaodịch liên kết nhưng phải đảm bảo là không có các khác biệt trọng yếu Trường hợp

có khác biệt trọng yếu, việc so sánh phải dùng biện pháp phân tích và đánh giá các tiêu

thứcảnh hưởng dẫn đến khác biệt nhằm loại trừ sự khác biệt mang lại sự tương đồng Có

4 tiêu thức được xem là những yếu tố có thể gây ra sự khác biệt, đó là đặc tính của

sản phẩm, chức năng hoạt động của cơ sở kinh doanh, điều kiện của hợp đồng giao dịch

và điều kiện kinh tế khi diễn ra giao dịch Quá trình phân tính, đánh giá sẽ chỉ ra phương

thức xác định giá thị trường nào là phù hợp nhất

- Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập: dựa vào đơn giá sản phẩm được

vận dụng trong trường hợp giao dịch độc lập có điều kiện tương đương với giao dịch liên

kết Chẳng hạn như việc so sánh 2 hợp đồng được ký kết với 2 công ty khác nhau, 1 công

ty có quan hệ liên kết và 1 công ty không có liên hệ gì Sau khi trừ các khác biệt trọng

yếu để hai hợp đồng trên tương đương về điều kiện giao dịch Lúc đó sẽ có thể nhận thấy

được sự chênh lệch giữa mức giá thị trường và mức giá khống được kê cao/ thấp để thực

hiện chuyển giá

Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập thường được áp dụng cho các trường hợp:

 Các giao dịch riêng lẻ về từng chủng loại hàng hóa lưu thông trên thị trường

Trang 14

 Các giao dịch riêng lẻ về từng loại hình dịch vụ, bản quyền, khế ước vay nợ.

 Cơ sở kinh doanh thực hiện cả giao dịch độc lập và giao dịch liên kết về cùng một

chủng loại sản phẩm

- Phương pháp giá bán lại: dựa vào giá bán lại (hay giá bán ra) của sản

phẩm do doanh nghiệp bán cho bên độc lập để xác định giá mua vào của sản phẩm đó từ

bên liên kết

Phương pháp giá bán lại thường được áp dụng cho các trường hợp giao dịch đối với các

sản phẩm thuộc khâu cung cấp dịch vụ đơn giản và thương mại phân phối có thời gian

quay vòng từ khi mua vào đến khi bán ra ngắn, ít chịu biến động về tính thời vụ Đồng

thời, sản phẩm trước khi được bán ra không qua khâu gia công, chế biến, lắp ráp, thay đổi

tính chất sản phẩm hoặc gắn với nhãn hiệu thương mại để làm gia tăng đáng kể giá trị sản

phẩm

- Phương pháp giá vốn cộng lãi: được lựa chọn khi giao dịch liên kết thuộc khâu

sản xuất khép kín để bán cho bên liên kết hoặc cung ứng đầu vào và bao tiêu đầu ra cho

bên liên kết Phương pháp này xác định giá dựa vào giá vốn hay giá thành của sản phẩm

để xác định giá bán ra của sản phẩm đó cho bên liên kết

Phương pháp giá vốn cộng lãi thường được áp dụng cho các trường hợp:

 Giao dịch thuộc khâu sản xuất, lắp ráp, chế tạo, chế biến sản phẩm để bán cho

các bên liên kết;

 Giao dịch giữa các bên liên kết thực hiện hợp đồng liên danh, hợp đồng hợp

tác kinh doanh để sản xuất, lắp ráp, chế tạo, chế biến sản phẩm, hoặc thực hiện các thỏa

thuận về cung cấp các yếu tố sản xuất đầu vào và bao tiêu sản phẩm đầu ra;

 Giao dịch về cung cấp dịch vụ cho các bên liên kết

- Phương pháp so sánh lợi nhuận: để thực hiện phương pháp này phải dựa trên tỷ

suất sinh lời của sản phẩm trong giao dịch độc lập được chọn Phương pháp này không

Trang 15

cho ra kết quả về giá mà tính ra được thu nhập thuần trước thuế là cơ sở tính thuế TNDN.

Đây được xem là phương pháp mở rộng của phương pháp giá bán lại và giá vốn cộng lãi,

nên có thể áp dụng đối chiếu trong trường hợp có những điều kiện tương tự

- Phương pháp tách lợi nhuận: Phương pháp tách lợi nhuận dựa vào lợi nhuận thu

được từ một giao dịch liên kết tổng hợp do nhiều cơ sở kinh doanh (hoặc bên) liên kết

thực hiện để xác định lợi nhuận thích hợp cho từng cơ sở kinh doanh (hoặc bên) liên kết

đó theo cách các bên độc lập thực hiện phân chia lợi nhuận trong các giao dịch độc lập

tương đương

Phương pháp này được áp dụng trong trường hợp nhiều bên liên kết cùng thực

hiện một giao dịch liên kết tổng hợp, chẳng hạn như cùng tham gia nghiên cứu phát triển

sản phẩm mới, hoặc sản phẩm là tài sản vô hình độc quyền, kinh doanh chuyển tiếp từ

khâu đầu đến khâu cuối gắn với quyền sở hữu trí tuệ

Trường hợp do tính đặc thù hoặc duy nhất của giao dịch liên kết mà không có có

giao dịch độc lập tương đương để chọn một trong các phương pháp trên so sánh thì có thể

sử dụng biện pháp tổng hợp (như mở rộng phạm vi lựa chọn sang phân ngành khác, xác

định biên độ giá thị trường thích hợp bằng các phương pháp tổng hợp ) hoặc vận dụng

các số liệu giữa kỳ (để tính mức giá sản phẩm, tỷ suất lợi nhuận )

10 Kinh nghiệm của các nước trong vấn đề chống chuyển giá

Hiện nay, trên thế giới có hai hệ thống quan điểm chủ yếu về chuyển giá là của Tổ

chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và của Mỹ Hai hệ thống này tương tự như

nhau ở những nội dung chính như khái niệm, phương pháp xác định giá, yêu cầu về thông

tin, chứng từ lưu giữ của đối tượng nộp thuế… Mỹ có xu hướng sáng tạo ra các phương

pháp xác định giá mới, đưa ra hướng dẫn riêng cho hàng hoá hữu hình và vô hình bởi Mỹ

là nước tiên phong trong phát triển sản phẩm sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, hầu hết các nước

hiện nay đều thừa nhận quan điểm của OECD trong xử lý về giá chuyển giao vì nó có

tính trung lập và tương đồng trong khả năng quản lý

Trang 16

10.1 Mỹ

Các quy định về giá chuyển giao đã trở thành một phần trong luật thuế của Mỹ từ

thời điểm chiến tranh thế giới lần thứ nhất Khởi đầu là phần 482 của Luật Thu nhập nội

bộ (IRC) ban hành năm 1968 Điều khoản 482 này được xây dựng nhằm cải thiện tình

hình thất thu thuế của cơ quan Thuế Theo đó, giá chuyển giao tài sản hữu hình và vô

hình giữa các chi nhánh của một doanh nghiệp ở các nước khác nhau phải được xác định

tương đương với giá cung cấp cho bên thứ ba, hoặc tương đương với giá của một doanh

nghiệp khác có sản phẩm tương tự

Khi giá chuyển nhượng của doanh nghiệp làm thay đổi đáng kể số thuế thu nhập

phải nộp, điều khoản này cho phép cơ quan thuế xác định lại giá chuyển giao nhằm tính

lại lợi nhuận trước thuế để tính thuế thu nhập doanh nghiệp Ví dụ trường hợp của

Nissan, công ty này chuyển nhượng ô tô và các phụ tùng với giá cao cho các chi nhánh ở

Mỹ, làm cho lợi nhuận chi nhánh ở Mỹ giảm và lợi nhuận của công ty mẹ ở Nhật tăng lên

gần 1 tỷ USD Điều này đồng nghĩa với việc một phần số thuế thu nhập doanh nghiệp

đúng ra phải nộp ở Mỹ đã được chuyển về cho Nhật Năm 1993, Cơ quan Thuế nội địa

của Mỹ (IRS) đã điều tra và phán quyết rằng hãng ô tô Nissan của Nhật Bản đã tránh thuế

bằng cách định giá rất cao các loại xe nhập khẩu vào Mỹ, cuối cùng Nissan phải nộp một

khoản tiền phạt là 170 triệu USD

Tháng 10/1988, Cơ quan Thuế nội địa Mỹ (IRS) đề nghị hai phương pháp nhằm

thiết lập tiêu chuẩn cân xứng với thu nhập Một là dựa trên phân tích các giao dịch có thể

so sánh; hai là dựa trên việc tách lợi nhuận giữa các bên có liên kết

Tháng 1/1992, IRS ban hành quy định giới thiệu ba phương pháp định giá mới, tất

cả dựa trên việc đối chiếu các tài liệu về kết quả giao dịch Tháng 1/1993, IRS ban hành

quy định tạm thời Ngày 1/7/1994 quy định chính thức được ban hành, có hiệu lực từ

ngày 8/7/1994 cho đến nay

Quy định yêu cầu giá chuyển giao tài sản vô hình phải được xác định theo một

trong bốn phương pháp sau: Phương pháp giao dịch không liên kết có thể so sánh (CUT);

Trang 17

Phương pháp lợi nhuận có thể so sánh (CPM); Phương pháp tách lợi nhuận; và các

phương pháp khác không định rõ Về hình thức xử phạt, số tiền phạt vi phạm về giá

chuyển giao dao dộng từ 20-40% số thuế khai thiếu

10.2 OECD

Ngày 8/7/1994, OECD đưa ra dự thảo “Hướng dẫn giá chuyển giao đối với các

công ty đa quốc gia và các cơ quan quản lý thuế ” OECD hướng dẫn cho các công ty đa

quốc gia và các cơ quan quản lý thuế dựa trên nguyên tắc “định giá công bằng” Trong

việc kiểm soát giao dịch giữa hai công ty ở hai nước khác nhau, hai cơ quan thuế có thể

thống nhất cách áp giá giao dịch để tránh bị đánh thuế hai lần Khi đó, mỗi bên sẽ được

chia một phần lợi nhuận, chứ không có chuyện một nước gánh toàn bộ chi phí, còn nước

kia được hưởng toàn bộ lợi nhuận

Hướng dẫn cũng đề ra các phương pháp tính giá chuyển giao, trong đó phương

pháp phân chia lợi nhuận được coi là tốt nhất trong phần lớn các trường hợp, và là

phương pháp tương đối trực tiếp Phương pháp này xác định lãi gộp để phân chia giữa

các công ty liên kết dựa trên cơ sở giá trị kinh tế để phân chia phần lợi nhuận dự kiến và

được phản ánh trong hợp đồng ký kết giữa các bên

Tháng 7/1995 OECD bản hướng dẫn chính thức được ban hành Trong đó

chương 6 của bản hướng dẫn là “Những xem xét đặc biệt đối với quyền sở hữu tài sản vô

hình” được ban hành vào tháng 3/1996

10.3 Một số nước khác

a Anh

Luật về chuyển giá đã ban hành vào tháng 08/98 tại Anh, các văn bản hướng dẫn

và xử phạt cũng được ban hành sau đó 2 tháng Luật của Anh cũng thống nhất với các

nguyên tắc của OECD, chỉ ra rằng các giao dịch nội bộ phải theo nguyên tắc tiêu chuẩn

thị trường Phương pháp áp dụng: Không quy định phương pháp cụ thể để xác định giá

chuyển giao phù hợp, mặc dù yêu cầu nguyên tắc giá giao dịch sòng phẳng được áp dụng

Trang 18

phù hợp với hướng dẫn của OECD Trong thực tế, Cục Thu nội địa Anh ưu tiên phương

pháp nào hợp lý nhất, nói chung các phương pháp dựa vào giao dịch được ưu tiên hơn

các phương pháp dựa vào lợi tức

Hình thức phạt: Khoản phạt có thể đến 100% số thuế bị truy thu trong trường hợp

phát hiện chuyển giá nếu đối tượng nộp thuế cố ý không tuân thủ các quy định pháp lý

về chuyển giá

Tóm lại, hoạt động chống chuyển giá tại Anh chưa đạt được nhiều tiến bộ, thậm

chí Anh quốc còn được mệnh danh là thiên đường cho hoạt động trốn thuế phát triển Nói

cách khác, chính phủ Anh có lí do để cố tình “làm ngơ” trước hoạt động chuyển giá của

các tập đoàn, mà một trong những lí do quan trọng đó là dòng chảy của vốn ồ ạt đổ vào

trong nước, không cần quan tâm nguồn gốc của lượng vốn khổng lồ đó là hợp pháp hay

không, và mục đích của chủ nhân số vốn đó là đầu tư nghiêm túc hay rửa tiền

b Trung Quốc

Luật chống chuyển giá của Trung Quốc được tham khảo từ nhiều chuyên gia,

được xây dựng năm 1998 dựa theo hướng dẫn của OECD, sử dụng nguyên tắc giá thị

trường và các phương pháp định giá chuyển giao tương tự của Hoa kỳ và các nước thuộc

OECD

So với luật của Hoa kỳ, Luật chống chuyển giá của Trung Quốc được tăng cường

hơn ở nhiều điểm như: Cơ chế hạch toán thuế đối với các nhà đầu tư nước ngoài không

thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ, điều này cho phép Trung Quốc sử dụng các công cụ

chống chuyển giá để điều tiết việc thu hút vốn FDI; Trung Quốc thường sử dụng phương

pháp chiết tách lợi nhuận để định giá chuyển giao nhằm phát hiện hoạt động chuyển giá;

bên cạnh đó, nước này cũng sử dụng các biện pháp về thuế để hạn chế hoạt động này;

ngoài ra, Trung Quốc còn thực hiện kiểm toán mang tính bắt buộc và thường xuyên đối

với các đối tượng có khả năng vi phạm; để góp phần vào việc phát hiện và xử lý hành vi

chuyển giá, các cơ quan thuế còn được hỗ trợ bằng các công cụ công nghệ thông tin

Trang 19

Hình thức phạt: Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài bị phát hiện kê khai giảm

thu nhập thì sẽ bị phạt đến 3 lần số thuế trốn (5 lần trong trường hợp nghiêm trọng) Thời

hiệu truy thu thuế thông thường là 3 năm trở về trước, và từ 5 đến 10 năm đối với những

trường hợp trốn thuế lớn gây hậu quả nghiêm trọng Lãi suất tính lãi đối với số thuế nợ:

0,05%/ngày, tương đương với 20%/năm

Luật chống chuyển giá của Trung Quốc là một trong những bộ luật được đầu tư kỹ

lưỡng, đáng để các nước tham khảo và học hỏi Bằng cách nghiên cứu luật chống chuyển

giá của Mỹ và OECD, cùng với sự tư vấn của nhiều chuyên gia Châu Âu và Mỹ, Cơ quan

Thuế của Trung Quốc đã phát triển luật chống chuyển giá khá chặt chẽ để phát hiện kịp

thời các hành vi chuyển giá của các công ty đa quốc gia, thậm chí là của các tập đoàn

kinh tế nội địa Tuy nhiên, hoạt động chuyển giá của các MNC rất đa dạng và ngày càng

tinh vi, chính vì vậy, dù luật chống chuyển giá có phát triển như thế nào thì cũng khó

lòng ngăn chặn tuyệt đối, mà chỉ có thể hạn chế được một phần nào đó

c Singapore

Không có luật riêng để quản lí hoạt động chuyển giá Các quy định liên quan đến

hoạt động chuyển giá nằm trong luật chung về thuế:

IRAS (Inland Revenue Authority of Singapore) phát hành hướng dẫn về

hoạt động chuyển giá ngày 23/2/2006

Singapore Tranfer Pricing Guidelines: Hướng dẫn về chuyển giá của Singapore

dựa trên và thống nhất với hướng dẫn của OECD

Những hướng phương pháp định giá được đưa ra bởi OECD được chấp

nhận ở Singapore IRAS hầu như không ưu tiên cho phương pháp nào trong số 5

phương pháp được liệt kê trong hướng dẫn của OECD Phương pháp xác định giá

chuyển giao nào tạo ra kết quả tin cậy nhất sẽ được lựa chọn và áp dụng tùy từng trường

hợp cụthể Singapore không quy định mức phạt cụ thể dành riêng cho hành vi chuyển

giá Mức phạt chung cho các vi phạm về thuế nằm từ khoảng 100% đến 400%

khoản thuế phải trả Một điểm đáng lưu y trong thực tế là khi một vụ điều tra về

Trang 20

chuyểngiá được tiến hành, án phạt gần như sẽ được áp dụng nếu đơn vị đóng thuế không

có hoặc không đầy đủ các tài liệu liên quan đến việc điều tra chuyển giá Luật thuế của

Singapore cũng như hướng dẫn về vấn đề chuyển giá không đưa ra một yêu cầu về

việc phải chuẩn bị xuất trình các tài liệu về chuyển giá IRAS mong muốn các

đơn vị và cá nhân đóng thuế phải tự đánh giá nguy cơ rủi ro bị kết tội chuyển giá và tự

chuẩn bị những tài liệu phù hợp với rủi ro đó Các tài liệu tối thiểu cần có khi kiểm tra

về vấn đề chuyển giá bao gồm:

 Mô tả về các bên liên quan trong các chuyển nhượng, bao gồm giá trị

mua bán và các điều khoản kí kết

 Một phân tích sâu trong đó mô tả những yếu tố chính liên quan đến quá trình mua

bán như chức năng, sự phát triển của tài sản, việc sử dụng tài sản và các rủi ro được dự

báo

 Bảng đánh giá của đơn vị đóng thuế về những rủi ro về thuế của đơn vị Ngoài ra,

tùy vào mức độ rủi ro bị kết tội chuyển giá cũng như mức độ phứctạp và quy

mô của các hoạt động mua bán, chuyển nhượng mà doanh nghiệp có thể cần

chuẩn bị những tài liệu chi tiết hơn

Singapore hầu như không quy định thời hạn cho việc xuất trình các tài

liệu.Tuy nhiên, khi đơn vị đóng thuế tin rằng mình có khả năng bị kiểm tra chuyển giá,

thì việc chuẩn bị các tài liệu liên quan cần được chuẩn bị một cách đồng thời

Không có yêu cầu nộp hoặc thời hạn nộp các tài liệu, tuy nhiên việc xuất trình các tài

liệu phải được thực hiện ngay nếu được yêu cầu từ IRAS Có thể nhận thấy việc ban

hành hướng dẫn về chuyển giá của Singapore chủyếu nhằm nâng cao nhận thức

và hiểu biết của doanh nghiệp về vấn đề chuyển giá Các thỏa thuận APA đơn phương,

song phương hay đa phương đều được chấp nhận ở Singapore Tuy nhiên, đối với

các thỏa thuận song phương và đa phương thì phải có thỏa thuận thuế đôi (double

tax agreement) giữa Singapore và quốc gia liên quan

Trang 21

10.4 Bài học rút ra

Càng phát triển, các nền kinh tế càng có sự phụ thuộc và vấn đề chuyển giá càng

trở nên dễ dàng hơn Cùng với đó, khó khăn trong việc điều tra chuyển giá cũng ngày

càng lớn hơn, cách thức tiến hành điều tra để đi tới một kết luận thỏa đáng đòi hỏi có sự

chuẩn bị nghiêm túc và sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia

Việt Nam đang kêu gọi đầu tư nước ngoài, nhiều công ty nước ngoài đã và đang

mở chi nhánh hoạt động tại nước ta Ngược lại, nhiều công ty Việt Nam đã và sẽ mở chi

nhánh hoạt động tại nước ngoài Các doanh nghiệp này lựa chọn giá chuyển giao dựa trên

cơ sở nào là vấn đề đáng quan tâm, vì chúng không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của doanh

nghiệp, mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi quốc gia

Vì vậy, chúng ta cần nhận thức đầy đủ về giá chuyển giao trong kinh doanh quốc

tế để có đối sách phù hợp, vừa tạo động lực khuyến khích đầu tư nước ngoài, vừa giảm

thiểu thất thoát thuế do tác động của giá chuyển giao Do đó, cần xây dựng một khuôn

khổ pháp lý về giá chuyển giao, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp các chế tài dự theo

OECD Đồng thời linh hoạt sử dụng các phương pháp xác định giá phù hợp và

cho kết quả chính xác nhất với từng trường hợp cụ thế và tình hình, tập quán cũng

như các quy định về kế toán tại Việt Nam Việc nâng cao trình độ của nhân viên

thuế vụ đủ khả năng góp phần quản lí, kiểm tra và phát hiện các hiện tượng chuyển giá

của doanh nghiệp được nhanh chóng và hiệu quả Chú ý xây dựng hệ thống cơ sỡ dữ liệu

về giá cả phục vụ việc so sánh đối chiếu Và đây cũng là điều các nhà hoạch định chính

sách thuế ở Việt Nam cần vận dụng để đảm bảo chống thất thu thuế

Trang 22

II HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN

ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 1988 - 12/2011

1.1 Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam 1988-12/2011

a Vốn đăng ký và thực hiện

Biểu đồ 1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài thời kỳ 1991 – 2010

Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư

Trong thời kỳ 1991-1995, vốn đầu tư nước ngoài đã tăng và có tác động tích cực

đến tình hình kinh tế-xã hội đất nước Thời kỳ 1991-1996 được xem là thời kỳ “bùng nổ”

ĐTNN tại Việt Nam (có thể coi như là “làn sóng ĐTNN” đầu tiên vào Việt Nam) với

1.781 dự án được cấp phép có tổng vốn đăng ký (gồm cả vốn cấp mới và tăng vốn) 28,3

tỷ USD Trong giai đoạn 2001-2005 thu hút vốn cấp mới (kể cả tăng vốn) đạt 20,8 tỷ

USD vượt 73% so với mục tiêu tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày 28/8/2001 của

Chính phủ, vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD tăng 30% so với mục tiêu Nhìn chung trong 5

Trang 23

năm 2001-2005, vốn đầu tư nước ngoài cấp mới đều tăng đạt mức năm sau cao hơn năm

trước (tỷ trọng tăng trung bình 59,5%), nhưng đa phần là các dự án có quy mô vừa và

nhỏ Đặc biệt trong 2 năm 2006-2007, dòng vốn vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta đã

tăng đáng kể (32,3 tỷ USD) với sự xuất hiện của nhiều dự án quy mô lớn đầu tư chủ yếu

trong lĩnh vực công nghiệp (sản xuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệ cao, ) và dịch

vụ (cảng biển, bất động sản, công nghệ thông tin, du lịch-dịch vụ cao cấp v.v.), đỉnh cao

thu hút là năm 2008 với hơn 70 tỷ USD Điều này cho thấy dấu hiệu của “làn sóng

ĐTNN” thứ hai vào Việt Nam Tuy nhiên sự khủng hoảng kinh tế năm 2008 bắt đầu có

tác động và biểu hiện rõ nét qua việc thu hút đầu tư nước ngoài giảm đột biến trong

những năm sau đó, năm 2009 thu hút 23,1 tỷ USD, năm 2010 19,8 tỷ USD với vốn thục

hiện đạt 11 tỷ USD

Về vốn đăng ký năm 2011: tính đến 15/12/2011, vốn đăng ký mới và tăng thêm tại

Việt Nam đạt 14,7 tỷ USD, bằng 74% so với năm 2010 Riêng vốn đăng ký mới đạt 11,6

tỷ USD, bằng 65% năm 2010 nhưng đã có những chuyển biến theo hướng tích cực Vốn

đăng ký năm 2011 tập trung 76,4% vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, cao hơn hẳn

tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực này năm 2010 (54,1%) Đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh bất

động sản năm 2011 chỉ chiếm 5,8% tổng vốn đăng ký (trong khi năm 2010 lĩnh vực này

chiếm 34,3% tổng vốn đăng ký) Vốn đăng ký tăng thêm đạt 3,1 tỷ USD, tăng 1,65 lần

mức vốn đăng ký tăng thêm của năm 2010 (1,89 tỷ USD) Điều này cho thấy các nhà đầu

tư nước ngoài vẫn có sự đánh giá tích cực về môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam

Về vốn thực hiện và kết quả hoạt động của doanh nghiệp FDI năm 2011: vốn

thực hiện của khu vực FDI tại Việt Nam năm 2011 ước đạt 11 tỷ USD, bằng với mức

thực hiện của năm 2010 và đóng góp 25,9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội

Một trong những điểm nổi bật của năm 2011 là xu hướng cấp giấy chứng nhận đầu

tư cho những dự án quy mô lớn và rất lớn với quy mô vốn đăng ký hàng tỷ USD, nhất là

các dự án bất động sản, đã giảm hẳn Nếu như năm 2008, năm thu hút FDI đạt mức 71,7

tỷ USD, cao nhất trong 25 năm thực hiện thu hút FDI có đến 11 dự án có quy mô vốn

đăng ký từ 1 tỷ USD trở lên với tổng vốn đăng ký của các dự án này là 45,7 tỷ USD

Trang 24

(chiếm tới 64% tổng vốn đăng ký năm 2008) thì năm 2011, chỉ có 2 dự án có mức vốn

đăng ký trên 1 tỷ USD Hơn nữa, các dự án quy mô lớn của năm 2011 đều là các dự án

trong lĩnh vực công nghiệp, dự án BOT điện lực Jak Hải Dương với quy mô vốn đăng ký

2,26 tỷ USD, dự án sản xuất pin mặt trời First Solar do Singapore đầu tư tại thành phố Hồ

Chí Minh với quy mô vốn đăng ký trên 1 tỷ USD Ngoài ra, các dự án chú ý khác như

Công ty TNHH lốp xe Việt Luân với tổng vốn đầu tư 400 triệu USD đầu tư vào lĩnh vực

sản xuất lốp xe do Trung Quốc đầu tư, dự án Công ty TNHH Kính chuyên biệt NSG do

Pilkington Group Ltd (PGL) – Vương Quốc Anh liên doanh với Việt Nam, tổng vốn đầu

tư 323,01 triệu USD với mục tiêu sản xuất và tiêu thụ thuỷ tinh tại Bà Rịa- Vũng Tàu

b Đầu tư nước ngoài phân theo ngành kinh tế (1988 – 2010)

Biểu đồ 2: Đầu tư nước ngoài phân theo ngành kinh tế (1988 – 2010)

Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư

Từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Việt Nam đã chú trọng thu hút

đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp-xây dựng Cơ cấu đầu tư có chuyển

biến tích cực theo hướng gia tăng tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, lọc dầu và

công nghệ thông tin (IT) với sự có mặt của các tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng thế giới:

Intel, Panasonic, Canon, Robotech.v.v Xu thế đó vẫn duy trì trong năm 2011, lĩnh vực

công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư

Trang 25

nước ngoài với 382 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 6,24

tỷ USD, chiếm 49,1% tổng vốn đầu tư đăng ký trong 11 tháng năm 2011 Lĩnh vực sản xuất

phân phối điện đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 2,53 tỷ

USD, chiếm gần 20% tổng vốn đầu tư Đứng thứ 3 là lĩnh vực xây dựng với 119 dự án

đầu tư mới, tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm khoảng 1,19 tỷ USD, chiếm

9,4% Tiếp theo là lĩnh vực kinh doanh bất động sản với tổng số vốn đăng ký cấp mới và

tăng thêm là 464,13 triệu USD, chiếm 3,7%

c Đầu tư nước ngoài phân theo đối tác đầu tư tính đến 12/2010

Bảng 1: Đầu tư nước ngoài phân theo đối tác đầu tư tính đến 12/2010

Trang 26

10 Thái Lan 5,842.60 3.02%

Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư

Tính đến hết năm 2010 thì đã có 52 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại

Việt Nam Đứng đầu là Đài Loan vốn đăng ký 22,9 tỷ USD, thứ 2 là Hàn Quốc 22,3 tỷ

USD, thứ 3 là Singapore 21,8 tỷ USD, thứ 4 là Nhật Bản 20,9 tỷ USD Trong khi đó, tính

từ đầu năm 2011 đến nay, Hồng Kông dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và

tăng thêm là 3,09 tỷ USD, chiếm 24,3% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Nhật Bản đứng

vị trí thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 2,12 tỷ USD, chiếm

16,7 % tổng vốn đầu tư; Singapore đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới

và tăng thêm là 1,58 tỷ USD, chiếm 12,5% tổng vốn đầu tư; tiếp theo là Hàn Quốc đứng

ở vị trí thứ 4 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 1,16 tỷ USD, chiếm 9,1%

tổng vốn đầu tư vào Việt Nam

Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, Việt Nam vẫn là địa chỉ hấp dẫn đầu tư đối

với các nhà đầu tư thế giới Điều tra triển vọng đầu tư thế giới (WIPS) 2010-2012 của

Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD) cho thấy Việt Nam đã

thăng hạng 3 bậc, đứng thứ nhất trong ASEAN về mức độ hấp dẫn FDI và là một trong

10 nền kinh tế hấp dẫn nhất đối với các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đối với các nhà

đầu tư Nhật Bản và các nền kinh tế đang phát triển ở Châu Á Việt Nam vẫn tiếp tục là

điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Nhật Bản như kết quả điều tra đầu tư hải ngoại

của JETRO đối với các doanh nghiệp công nghiệp chế biến Kết quả điều tra trực tuyến

của Thời báo Kinh doanh Nikkei, Việt Nam được lựa chọn là địa điểm đầu tư hấp dẫn

nhất để mở cơ sở sản xuất, trên cả Ấn Độ và Thái Lan Với tư cách là thị trường tiêu thụ,

Việt Nam là điểm đầu tư hấp dẫn thứ ba sau Ấn Độ và Indonesia

Tuy nhiên, trong năm 2012 và thời gian tới, quản lý FDI sẽ chú trọng và tăng

cường theo hướng: nâng cao chất lượng, hiệu quả vốn FDI; nâng cao hiệu lực, hiệu quả

Trang 27

của công tác quản lý nhà nước; hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về FDI Đặc biệt,

việc thu hút FDI sẽ không đặt nặng về lượng vốn đăng ký mà tập trung vào thúc đẩy giải

ngân Bên cạnh đó là thu hút FDI có chọn lọc, định hướng vào những lĩnh vực cơ sở hạ

tầng, công nghiệp “xanh”, thân thiện với môi trường; lĩnh vực tạo liên kết với các khu

vực kinh tế khác và liên kết vùng; công nghiệp hỗ trợ, tham gia mạng sản xuất và chuỗi

giá trị toàn cầu; lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh; lĩnh vực công nghệ cao, đào tạo nguồn

nhân lực… Mặt khác, nước ta sẽ hạn chế thu hút FDI trong lĩnh vực phi sản xuất, làm gia

tăng nhập siêu, sử dụng không hiệu quả tài nguyên và đất đai, công nghệ lạc hậu, gây ô

nhiễm môi trường.

1.2 Vai trò tích cực của đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội ở

Việt Nam

Là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế

Các dự án đầu tư nước ngoài góp phần tăng thu ngân sách, góp phần cải thiện cán

cân thanh toán và cán cân vãng lai của quốc gia

Các dự án đầu tư nước ngoài góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam theo

hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Các dự án đầu tư nước ngoài đóng góp quan trọng trong nâng cao trình độ kĩ

thuật và công nghệ của Việt Nam

Các dự án có vốn đầu tư nước ngoài góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị

trường ở Việt Nam, đưa nền kinh tế nước ta hội nhập nhanh với nền kinh tế thế

giới

Đầu tư nước ngoài góp phần giải quyết công ăn việc làm, đào tạo nguồn nhân lực

và nâng cao mức sống cho người lao động

 Tóm lại, vốn nước ngoài đã góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội trong 20

năm đổi mới; tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế khá cao và liên tục thông

qua mở rộng quy mô đầu tư nội địa với chi phí vốn thấp hơn; mở rộng cạnh tranh trên thị

trường; tiếp cận trình độ công nghệ hiện đại, kiến thức quản lý tiên tiến; tăng tính thanh

Trang 28

khoản cho thị trường, đồng thời cũng đẩy mạnh hoạt động sâu rộng, mạnh mẽ của các thị

trường chứng khoán Kkhu vực đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng đối với sự phát

triển kinh tế của Việt Nam, vì thế Chính phủ cần quan tâm hoàn thiện môi trường đầu tư

để tăng tính hấp dẫn thu hút nguồn vốn nước ngoài

2 Thực trạng hoạt động chuyển giá trong các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước

ngoài (FDI).

Theo số liệu của Bộ Tài Chính thu thập được thì tình hình khai lỗ cuả các doanh

nghiệp FDI trên cả nước diễn ra rất nghiêm trọng, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt

động trong các lĩnh vực: lắp ráp ô tô, nước giải khát, sản xuất chế biến chè các

doanh nghiệp FDI kinh doanh lỗ ngày càng tăng ẩn chứa dấu hiệu của hoạt động

chuyển giá

2.1 Tình hình kê khai lỗ của các doanh nghiệp FDI trên cả nước

Biểu đồ 3: Tình hình kê khai lợi nhuận của các Doanh nghiệp FDI tại Việt Nam

Nguồn: Tổng cục thống kê

Trang 29

Theo Tổng cục Thuế, qua đợt khảo sát về tình hình sản xuất- kinh doanh mới đây

của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn cả nước, thì trong

tổng số các doanh nghiệp FDI đã tiến hành sản xuất, kinh doanh, số doanh nghiệp báo

cáo có lãi và đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp giảm dần qua hằng năm từ 55,46%

(năm 2007) 49,5% (năm 2008) 47,3% (năm 2009) và chỉ chiếm 39,9% (năm 2010);

ngược lại với xu hướng đó tỷ lệ doanh nghiệp kê khai lỗ tăng dần chỉ từ 44,54% (năm

2007) và lên đến 60,1% (năm 2010)

Qua 20 năm thu hút, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trải rộng khắp cả nước, không

còn địa phương “trắng” đầu tư trực tiếp nước ngoài nhưng tập trung chủ yếu tại các địa

bàn trọng điểm, có lợi thế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương, làm cho

các vùng này thực sự là vùng kinh tế động lực, lôi kéo phát triển kinh tế - xã hội chung và

các vùng phụ cận Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây liên tiếp đứng đầu

trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tiếp đến là Hà Nội và các tỉnh như

Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa –Vũng Tàu

Bảng 2: Tình hình thu hút FDI phân theo một số địa phương nổi bật (2009)

Địa phương Tỷ trọng về số

dự án

Tỷ trọng về tổng vốn đầu tư đăng ký

Trang 30

Tuy nhiên tính đến thời điểm 30/12/2011, Hải Dương là địa phương thu hút nhiều

vốn đầu tư nước ngoài nhất với 2,56 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm chiếm 20,1%

tổng vốn đầu tư TP Hồ Chí Minh đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm

là 2,15 tỷ USD, chiếm gần 17% Hà Nội đứng thứ 3 với tổng số vốn đăng ký cấp mới và

tăng thêm 1,095 tỷ USD Tiếp theo là Bà Rịa- Vũng Tàu, Đồng Nai, Hải Phòng với quy

mô vốn đăng ký lần lượt là 912,8 triệu USD; 830,8 triệu USD và 806,7 triệu USD

Rõ ràng, không thể phủ nhận sự đóng góp to lớn của các doanh nghiệp có vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài vào sự phát triển của nền kinh tế Tuy nhiên, về tình hình kinh

doanh của các doanh nghiệp này vẫn còn nhiều vấn đề đáng được quan tâm và lưu ý khi

mà tình hình kê khai lỗ thường xuyên diễn ra Mặc dù chuyển giá là một hiện tượng phức

tạp và khó nhận diện, nhưng có thể thấy rằng ở một mức độ nào đó, chúng đang tồn tại ở

nước ta, có thể thấy được điều này qua hai khảo sát tại Thành phố Hồ Chí Minh – thành

phố luôn đứng thứ 1 hoặc 2 trong thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

2.2 Tình hình chuyển giá ở thành phố Hồ Chí Minh

Trong cuộc họp Quốc hội vào tháng 5/2008 bàn về quyết toán ngân sách nhà nước

của năm 2006, hầu hết nguồn thu tăng, chỉ có thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

(FDI) là thấp hơn dự toán tới -7%, đây là thông tin được công bố trong báo cáo của Kiểm

toán nhà nước và thẩm tra của Ủy ban Tài chính ngân sách, đại biểu Trần Du Lịch

(TpHCM) nhận xét "nhìn bản quyết toán thấy nó hơi chói" vì tốc độ tăng trưởng của các

doanh nghiệp rất cao nhưng ngân sách lại thất thu và yêu cầu Bộ Tài chính trả lời hiện

tượng chuyển giá ở Việt Nam đã nghiêm trọng cỡ nào bởi nếu không rút kinh nghiệm,

đây sẽ là thiệt hại rất lớn cho đất nước

Ngày 5-7-2011, ông Nguyễn Trọng Hạnh, cục phó Cục Thuế TP.HCM, cho biết

sau khi Cục Thuế TP.HCM đẩy mạnh thanh tra kể từ kỳ họp quốc hội 2008, kiểm tra các

doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển giá, năm 2010, 1.342 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài trên địa bàn TP.HCM đã khai có lãi, chiếm 55,14% số doanh nghiệp phải nộp báo

cáo quyết toán 44,86% doanh nghiệp FDI còn lại có số thu nhập chịu thuế âm và chưa

Trang 31

phát sinh doanh thu, con số giảm rất nhiều so với năm 2006 với tỷ lệ doanh nghiệp khai

lỗ là 60% Tuy nhiên bình quân thì các doanh nghiệp kê khai lỗ vẫn nằm ở con số xấp xỉ

50% doanh nghiệp đang hoạt động và việc các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài kinh doanh lỗ thường xuyên đã ẩn chứa dấu hiệu của hoạt động chuyển giá

Biểu đồ 4: Tỷ lệ các DN FDI kê khai lỗ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Nguồn: Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh Biểu đồ 5: Số lượng các DN FDI kê khai lỗ và lãi trên địa bàn thành phố Hồ Chí

Minh

Nguồn: Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh

Trang 32

Theo đại biểu Trần Du Lịch (TpHCM), có nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài khai lỗ dù vẫn kinh doanh tốt, tức là có tình trạng “lời thật, lỗ giả” vì họ

đã thực hiện chuyển giá Nguyên nhân của tình trạng trên là do nhiều doanh nghiệp FDI

nâng khống chi phí đầu vào, tăng mạnh chi phí quảng cáo tiếp thị đồng thời hạ thấp giá

đầu ra để đạt được 4 mục đích:

- Chủ động hạch toán thua lỗ nhiều năm liên tục để bên Việt Nam trong liên

doanh phải rút lui

- Giảm xuống mức thấp nhất số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp

- Công ty mẹ ở nước ngoài được hưởng lợi nhờ gian lận qua chuyển giá

- Đè bẹp các thương hiệu hàng đầu Việt Nam nhờ chi phí tiếp thị quảng cáo

khổng lồ và liên tục hạ thấp giá đầu ra

Việc các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài liên tục hạch toán thua

lỗ đã khiến ngân sách nhà nước thất thu một khoản lớn Phân tích chi tiết từng loại thuế,

ta nhận thấy thuế trực thu chiếm tỷ trọng không cao trong tổng thu từ khu vực có vốn đầu

tư nước ngoài (khoảng 39%), các nguồn thu khác đến từ các loại thuế gián tiếp như thuế

giá trị gia tăng (31%), thuế tiêu thụ đặc biệt (29%), thuế môn bài, thu từ sử dụng mặt đất,

mặt nước, mặt biển… Tuy Việt Nam là quốc gia có thuế suất thuế thu nhập doanh

nghiệp tương đối thấp so với các quốc gia khác, nhưng so sánh với tình hình kinh doanh

thuận lợi của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì tình hình thu thuế thu nhập

doanh nghiệp như vậy là chưa đúng với thực tế Ở đây có sự thất thoát về thuế, ngoài các

lý do đã được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng thì chuyển giá cũng là

một trong những nguyên nhân cần phải xem xét

Ngày đăng: 26/12/2013, 15:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Đầu tư nước ngoài phân theo đối tác đầu tư  tính đến 12/2010 - Chuyển giá trong hoạt động đầu tư nước ngoài
Bảng 1 Đầu tư nước ngoài phân theo đối tác đầu tư tính đến 12/2010 (Trang 24)
Bảng 2: Tình hình thu hút FDI phân theo một số địa phương nổi bật (2009) - Chuyển giá trong hoạt động đầu tư nước ngoài
Bảng 2 Tình hình thu hút FDI phân theo một số địa phương nổi bật (2009) (Trang 28)
Bảng 3: Các động cơ bên ngòai tác động đến hành vi chuyển giá - Chuyển giá trong hoạt động đầu tư nước ngoài
Bảng 3 Các động cơ bên ngòai tác động đến hành vi chuyển giá (Trang 33)
Bảng 4: Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi đối với doanh nghiệp có  vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam - Chuyển giá trong hoạt động đầu tư nước ngoài
Bảng 4 Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (Trang 35)
Bảng trên so sánh các mức thuế suất tại Việt Nam và 7 nước đầu tư nhiều vào Việt  Nam - Chuyển giá trong hoạt động đầu tư nước ngoài
Bảng tr ên so sánh các mức thuế suất tại Việt Nam và 7 nước đầu tư nhiều vào Việt Nam (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w