Một trong những nguyên nhân chính giải thích tại sao việc sụt giảm của thặng dư thương mại được giới hạn là do nhập khẩu của Trung Quốc giảm cùng với sự đánh giá thực đồng nhân dân tệ..
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
1.LỜI GIỚI THIỆU: 3
2.NHÌN LẠI CÁC PHÂN TÍCH 5
3.GIẢ ĐỊNH VÀ DỮ LIỆU 9
4.PHƯƠNG PHÁP LUẬN 15
5.KẾT QUẢ 17
6.KẾT LUẬN: 27
7
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Bài viết này nhấn mạnh cán cân thương mại của Trung Quốc ảnh hưởng bởi độ dao động về tỷ giá của đồng nhân dân tệ, mặc dù độ lớn của thặng dư thương mại không chỉ bị ảnh hưởng bởi một chính sách tỷ giá Một trong những nguyên nhân chính giải thích tại sao việc sụt giảm của thặng dư thương mại được giới hạn là do nhập khẩu của Trung Quốc giảm cùng với sự đánh giá thực đồng nhân dân tệ Bằng việc ước tính
về cán cân thanh toán nhập khẩu song phương, chúng ta thấy rằng nhập khẩu từ những nước Đông Nam Á giảm Kết quả này phản ánh sự hội nhập sâu giữa các nước Đông Nam Á và Trung Quốc thông qua “mạng lưới các nhà sản xuất châu Á” Quay lại vấn
đề, chúng ta thấy rằng nhập khẩu từ Đức – nước phục vụ nhu cầu nội địa của Trung Quốc – có thể được xem là đúng theo mong đợi vì nó tăng cùng với sự đánh giá thực của đồng nhân dân tệ Từ tất cả những điều ở trên, chúng ta có thể thấy được mối quan
hệ giữa sự tác động của việc định giá đồng nhân dân tệ đến Đông Nam Á ngay cả khi những đồng tiền khu vực không cho phép xu hướng tăng giá của đồng nhân dân tệ
Trang 31 LỜI GIỚI THIỆU:
Trong những năm gần đây, sản phẩm xuất khẩu của Trung Quốc trong thương mại thế giới đã tăng trưởng một cách cực kỳ nhanh chóng Trung Quốc đã trở thành nước xuất khẩu lớn thứ ba trên thế giới và có thể vượt Mỹ trong tương lai gần nếu như vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nhanh như hiện nay
Tính đến thời điểm hiện tại thì thương mại của Trung Quốc đã giữ được vị thế cân bằng rất lâu Theo cục thống kê hải quan của Trung Quốc, thặng dư thương mại đạt chỉ 32 tỷ đôla (hay 1,7% GDP) năm 2004 (Biểu đồ 1) Tuy nhiên, từ năm 2005 thặng dư thương mại đã bùng nổ, và đạt gần 180 tỷ đôla năm 2006, hay xấp xỉ 7% GDP Trung Quốc
Độ lớn thặng dư thương mại làm phát sinh những vấn đề quan trọng không chỉ ở Trung Quốc mà còn ở các nước khác trên thế giới Việc thặng dư tăng trưởng nhanh của Trung Quốc gây ra nhiều tranh cãi trên diễn đàn của các nước trên thế giới Một mặt, cần nhấn mạnh rằng những nhà hoạch định chính sách Trung Quốc đang duy trì việc mất giá trong tỷ giá hối đoái để thu lợi từ nhu cầu bên ngoài và đạt được một tỷ lệ tăng
Trang 4trưởng cao hơn nhiều so với mức cần thiết Mặt khác, có những nghi ngờ rằng tỷ giá hối đoái có thể là một công cụ hữu hiệu trong việc làm giảm thặng dư thương mại, xác định rằng Trung Quốc là một nền kinh tế trong thời kỳ đổi mới và ở đó giá cả có thể vẫn giữ vai trò nhỏ trong những quyết định liên quan đến cung và cầu
Mặc dù có tạo ra lợi ích chung nhưng lý thuyết hiện hành về nhận định này thì ít được đề cập Việc thiếu những dữ liệu thích hợp và thời gian dài đã ngăn cản cuộc nghiên cứu về mối liên hệ giữa tỷ giá của đồng nhân dân tệ và thương mại quốc tế của Trung Quốc cho đến nay
Từ mùa hè năm 2003, khi những cuộc thảo luận về việc định giá thấp đồng nhân dân tệ đặt lên hàng đầu thì cuộc nghiên cứu về tỷ giá hối đoái của Trung Quốc đã được diễn ra Phần lớn được tập trung vào việc ước tính xem tỷ giá ổn định lâu dài hay chế
độ tỉ giá thận trọng phù hợp nhất với nền kinh tế của Trung Quốc Khi cả hai câu hỏi được làm sáng tỏ, chúng ta thấy rằng điều cần thiết phát sinh cho độ lớn của mất cân bằng toàn cầu và áp lực gây ra bởi các nước công nghiệp, thì liệu Trung Quốc có cho phép định giá cao đồng tiền như là một công cụ để giảm thặng dư thương mại của mình không Câu trả lời phụ thuộc rất nhiều vào việc định giá giá trị của đồng nhân dân tệ có thể tạm thời làm giảm xuất khẩu và khuyến khích nhập khẩu như thế nào
Bài viết của chúng tôi phân tích câu hỏi này trên cơ sở thực nghiệm việc sử dụng phương pháp đồng liên kết (đây là một phương pháp xác định mối quan hệ dài hạn giữa một nhóm các biến) Theo đó kết quả là thặng dư thương mại của Trung Quốc có thể bị thu hẹp theo sau sự tăng giá trị của đồng nhân dân tệ, nhưng việc giảm sút cũng có giới hạn Mối tương quan nhỏ về độ lớn của sự mất cân đối được giải thích phần lớn bởi sự
co dãn về giá, chúng ta nhận thấy trong nhập khẩu: nhập khẩu Trung Quốc có dấu hiệu giảm theo sau sự tăng giá thực sự Bằng việc ước tính về sự cân đối cán cân nhập khẩu, chúng ta thấy rằng nhập khẩu từ những nước châu Á khác giảm, trong khi đó việc nhập khẩu từ những nước công nghiệp (điển hình là nước Đức) tăng Điều này có thể được giải thích bởi phương pháp phân tích chiều dọc của Đông Nam Á và vai trò then chốt của Trung Quốc trong mạng lưới sản xuất trong khu vực
Trang 5Trong phần thứ nhất, Cerra và Dayal – Gulati (1999) sử dụng một mẫu đã sửa các lỗi để ước lượng độ nhạy cảm với các thay đổi giá cả của xuất khẩu và nhập khẩu Trung Quốc trong thời kỳ từ 1983 – 1997 và tìm ra rằng chúng bị âm (-) và tác động đáng kể đối với xuất khẩu (mức -0.3) và dương (+) và tác động đáng kể đối với nhập khẩu (mức 0.7) Thêm vào đó, chúng cho thấy là cả hai đều tăng qua thời gian Bảng 1 tổng hợp những tài liệu hiện có như một phương pháp luận đã được sử dụng.
Trang 6Dees (2001) cải tiến phân tích đã qua bằng cách tách xuất và nhập khẩu của Trung Quốc thành hai loại, gia công và phần còn lại Ông ta thấy rằng, trong dài hạn, việc đánh giá tỷ giá hối đoái làm giảm xuất khẩu Ông ta cũng tóm tắt lại xuất khẩu thông thường dễ bị ảnh hưởng hơn xuất khẩu mang tính chế biến Tuy nhiên, trong ngắn hạn, chỉ cầu thế giới ảnh hưởng đến xuất khẩu.
Cùng quan điểm, Yue và Hua (2002) sử dụng những số liệu thường niên của tỉnh thành và cho thấy sự giảm sút trong xuất khẩu với sự nâng giá tỷ giá hối đoái thực tế Như Cerra và dayal – Gulati, nhưng với những số liệu gần hơn, Yue và Hua cho thấy là xuất khẩu của Trung Quốc trở nên nhạy cảm với giá hơn
Bénassy – Quéré và Lahrèche – Révil (2003) giả định mức ảnh hưởng của việc giảm giá đồng nhân dân tệ đi 10% và tuyên bố rằng việc tăng trong xuất khẩu của Trung Quốc vào các nước OECD và việc giảm trong nhập khẩu của Trung Quốc từ các
Trang 7nước Châu Á mới nổi, cung cấp những tỷ giá hối đoái khác mang tính khu vực được duy trì không đổi.
Eckaus (2004) sử dụng những số liệu tổng hợp hàng năm từ 1985 – 2002 để khám phá ra việc nâng giá thực tế đồng nhân dân tệ làm giảm xuất khẩu của Trung Quốc vào nước Mỹ và phần đóng góp của nhập khẩu Trung Quốc trong tổng nhập khẩu của Mỹ Gần đây sẽ chỉ ra một tác động thay thế từ những nước xuất khẩu khác vào nước Mỹ, nhưng kết quả phải được xem xét cẩn thận với một số lượng nhỏ mẫu quan sát và việc sử dụng các giá trị xuất và nhập khẩu thay vì số lượng
Lau, Mo và Li (2004) đánh giá xuất khẩu của Trung Quốc vào và nhập khẩu từ các nước trong G3 Trong dài hạn, việc nâng giá tỷ giá hối đoái thực tế có tác động đáng kể trong việc xuất khẩu thấp Và ngược lại, nhập khẩu thông thường hoặc nhập khẩu cho chế biến dường như cũng không bị tác động bởi REER Trong bất kỳ trường hợp nào, kết quả cũng khó làm sáng tỏ từ khi không làm rõ làm sao mà chúng làm giảm xuất và nhập khẩu, và số lượng mẫu quan sát là rất thấp (số liệu hàng quý từ năm 1995 đến 2003)
Thorbecke (2006) sử dụng mô hình tương hỗ để nghiên cứu tác động của sự thay đổi tỷ giá hối đoái lên kiểu mua bán ba bên ở Châu Á và tách xuất khẩu thành các dạng bán thành phẩm, tư liệu sản xuất và hàng hóa tiêu dùng cuối cùng Kết quả của ông ta thể hiện là nâng giá 10% đồng nhân dân tệ làm giảm xuất khẩu cuối cùng của Trung Quốc khoảng gần 13% Tuy nhiên, việc nâng giá sẽ không tác động đáng kể đến nhập khẩu của Trung Quốc từ Mỹ
Voon, Guangzhong và Ran (2006), lần lượt, sử dụng dữ liệu lĩnh vực trong thời
kỳ từ 1978 đến 1998 và kết hợp chặt chẽ với mức độ đánh giá cao đồng nhân dân tệ khi ước lượng phương trình xuất khẩu của Trung Quốc; họ tuyên bố rằng sự sa sút trong xuất khẩu của Trung Quốc như là hậu quả của việc nâng giá tỷ giá hối đoái thực tế
Cuối cùng, Shu và Yip (2006) đánh giá tác động của sự vận động của tỷ giá hối đoái lên nền kinh tế Trung Quốc nói chung và tìm ra rằng việc nâng giá đồng tiền có thể làm giảm xuất khẩu vì tác động của việc thay đổi đột ngột tiêu dùng, là kết quả của việc
Trang 8giảm sút vừa phải trong tổng cầu.
Một cách ngạc nhiên, những tài liệu khác đưa ra cái nhìn hơi khác một chút về việc chính sách tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng đến thặng dư thương mại của Trung quốc như thế nào Nói cụ thể, Kamada và Takagawa (2005) sử dụng mô hình giả định
để ước lượng tác động của cải cách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc và chỉ ra là việc nâng giá lên 10% sẽ nâng nhập khẩu của Trung Quốc một cách không đáng kể, trong khi tác động lên xuất khẩu rất nhỏ Tuy nhiên, những đánh giá OLS của họ đối với phương trình nhập khẩu của Trung Quốc không chỉ ra tỷ giá hối đoái thực có tác động đáng kể đến lượng nhập khẩu Thật không may, họ không ước lượng phương trình xuất khẩu của Trung Quốc Dựa vào kết quả của họ, xuất khẩu đẩy mạnh nhập khẩu, điều có thể cho thấy là có thể có những tác động gián tiếp từ tỷ giá hối đoái lên nhập khẩu thông qua xuất khẩu
Jin (2003) đánh giá mối quan hệ giữa mức lãi suất thực, tỷ giá hối đoái thực và cán cân thanh toán và bao gồm là việc nâng giá thực tế có xu hướng tăng thặng dư cán cân chi thanh toán
Cuối cùng, Cerra và Saxena (2003) sử dụng dữ liệu lĩnh vực để nghiên cứu hành
vi của nhà xuất khẩu Trung Quốc và tìm ra việc nâng giá đồng nhân dân tệ đã thật sự thúc đẩy mạnh xuất khẩu, đặc biệt là trong những năm gần đây Trong bất kỳ tình huống nào, kết quả của họ trong các dữ liệu lĩnh vực khác nên được xem xét cẩn thận, vì chỉ khoảng một nửa xuất khẩu của Trung Quốc được bao trùm trong dữ liệu lĩnh vực/khu vực và không có những điều chỉnh chất lượng nào được tuyên bố cho dữ liệu theo đơn giá
Cố gắng mới nhất để ước lượng phương trình xuất và nhập khẩu cho Trung Quốc là của Marquez và Schindler (2006) Thay vì căn cứ vào số lượng hàng xuất nhập khẩu, họ ước lượng tác động của tỷ giá hối đoái thực trên phần đóng góp của Trung Quốc trong tổng thương mại thế giới Điều này để tránh việc tận dụng ủy thác đối với giá nhập và xuất của Trung Quốc Như Dees (2001) và Lau Mo và Li (2004), họ tách xuất và nhập khẩu thành hai nhóm là mua bán hàng hóa thông thường và đã qua chế biến Một lần nữa, việc nâng giá thực tế đồng nhân dân tệ dường như làm giảm xuất
Trang 9khẩu và nhập khẩu, ít ra là đối với mua bán hàng hóa thông thường Kết quả không thực
tế để phân biệt độ trễ, đặc biệt là đối với nhập khẩu và xuất khẩu chế biến Ở đây có hai vấn đề thêm trong việc sử dụng phân tích của họ để trả lời cho câu hỏi mà chúng ta
đã đặt ra Thứ nhất, ước lượng tác động vào phần đóng góp của nhập và xuất khẩu, vì vậy không có kết luận nào có thể được đưa ra đối với tài khoản thương mại Thứ hai, không có kỹ thuật tập hợp lại, vì vậy chỉ có thể định được độ co giãn trong ngắn hạn.Nhìn chung, những kết quả nghiên cứu trên liên hệ không hoàn hảo về mặt dữ liệu
và phương pháp toán học và có thể hầu như không thể được sử dụng để đưa ra những kết luận về chính sách tỷ giá trong việc nâng giá đồng nhân dân tệ với cán cân thương mại Trung Quốc Trong bài nghiên cứu này, chúng ta sẽ dùng những dữ liệu mới hơn và chứng minh phương pháp luận kinh nghiệm để đánh giá tốt hơn là việc nâng giá thực tế đồng nhân dân tệ
có thể làm giảm thặng dư thương mại của Trung Quốc hay không Thêm vào đó, chúng ta đa dạng trong phân tích bằng cách đánh giá phương trình nhập và xuất song phương Nó giúp chúng kiểm tra chéo thành quả cũng như khám phá ai được lợi và mất từ việc nâng giá thực
tế đồng nhân dân tệ Như chúng ta sẽ chỉ ra sau đây, như là một bài tập có liên quan một cách đặc biệt trong trường hợp của Trung Quốc
3 GIẢ ĐỊNH VÀ DỮ LIỆU
Để xác định độ nhạy của xuất nhập khẩu Trung Quốc đối với sự thay đổi trong tỉ giá thực của đồng nhân dân tệ, chúng ta ước tính sự co giãn của khối lượng xuất-nhập khẩu theo giá
Cơ sở thực nghiệm cho việc phân tích này được thể hiện qua 2 phương trình sau:
Xt = α0 + α1REERt + α2 Y*t + + εt
Mt = β0 + β1REERt + β2 Yt + + ε
Xt là lượng xuất khẩu từ Trung Quốc
Mt là lượng nhập khẩu vào Trung Quốc
Trang 10REERt là tỉ giá thực của đồng nhân dân tệY*t là cầu nước ngoài và
Yt là cầu nội địa Trung Quốc
Do đó, α1 là độ co giãn của xuất khẩu theo giáα2 là độ co giãn của xuất khẩu theo thu nhậpβ1 là độ co giãn của nhập khẩu theo giáβ2 là độ co giãn của nhập khẩu theo thu nhập
Căn cứ vào tầm quan trọng của ngành chế biến đối với thương mại Trung Quốc, chúng ta phân biệt hàng nhập khẩu được sử dụng cho hàng hóa chế biến để tái xuất và hàng nhập khẩu thông thường Tương tự, chúng ta cũng phân biệt hàng xuất khẩu để chế biến và hàng xuất khẩu thông thường Thương mại dùng cho chế biến bao gồm các
bộ phận nhập khẩu để lắp ráp thành hàng xuất khẩu, các bộ phận xuất khẩu để lắp ráp bên ngoài Trung Quốc và xuất khẩu các loại hàng hóa được lắp ráp từ các bộ phận nhập khẩu.Thương mại hàng bình thường, ý chỉ những hàng hóa mà không phải tiếp tục thực hiện gia công, chế biến hay lắp ráp từ các bộ phận nhập khẩu Thương mại chế biến chiếm một nửa thương mại Trung Quốc Biểu đồ A1 và A2 cho thấy xu hướng trong trong nhập và xuất khẩu chế biến và thông thường: cả 2 đều tăng rất nhanh từ năm 2001 trở đi, đi cùng với việc Trung Quốc gia nhập WTO
Trang 11Một khó khăn lớn trong việc phân tích các dữ liệu thương mại Trung Quốc là không thể gỡ rối khối lượng và giá trị xuất nhập khẩu bởi vì không có các số liệu về giá hàng nhập khẩu và xuất khẩu Do đó, chúng tôi sử dụng những dữ liệu thay thế Đối với giá nhập khẩu, chúng tôi tính toán chỉ số giá xuất khẩu của 25 đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc và giảm nhập khẩu của Trung Quốc với chỉ số này (nguồn dữ liệu
có thể tìm thấy trong bảng 1) Như là dữ liệu thay thế đối với giá xuất khẩu, chúng ta sử dụng chỉ số giá tiêu dùng của Trung Quốc (CPI) Nguyên nhân tại sao chúng ta sử dụng thước đo giá chung này cho toàn bộ ví dụ chứ không phải là chỉ số giá của người sản xuất hay chỉ số giá bán buôn Trong bất kì trường hợp nào, giá hàng xuất khẩu của HongKong vào Trung Quốc được sử dụng như là dữ liệu thay thế đối với giá xuất khẩu của Trung Quốc và kết quả được duy trì
Trang 12Tỉ giá thực được IMF đưa ra, được xây dựng như sau:
REER = II(reri)Wi
Trong đó:
N là số lượng tiền tệ có trong chỉ số
Wi là trọng lượng của tiền tệ thứ i
Trang 13rer i , t là tỉ giá hối đoái thực giữa 2 đối tác thương mại
Như đã trình bày trong biểu đồ A3, từ năm 1994 đến 1997, tỉ giá thực dốc đứng
và gần đây có khuynh hướng đi xuống Tỉ giá thực giảm có thể giải thích tại sao có sự tăng mạnh trong xuất khẩu
Từ lý thuyết, chúng tôi mong độ co giãn của xuất khẩu theo giá sẽ âm, khi hàng hóa Trung Quốc cạnh tranh với thị trường thế giới Những tín hiệu mong đợi về co giãn của nhập khẩu theo giá thì không được rõ ràng, ít nhất là đối với trường hợp của Trung Quốc Việc đánh giá đúng thực tế có thể thúc đẩy nhập khẩu nếu sức mua tăng mạnh hơn là cầu giảm do sự giảm liên đới trong xuất khẩu Cái nào tác động mạnh hơn sẽ phụ thuộc rất nhiều vào cơ cấu nhập khẩu Thực tế là nếu hàng nhập khẩu thay thế cho hàng hóa Trung Quốc, co giãn theo giá nên là dương (nghĩa là: sự đánh giá đúng sẽ làm tăng nhập khẩu) Đến lượt nó, những bộ phận nhập khẩu dùng cho công nghiệp xuất khẩu có thể bị ảnh hường tiêu cực bởi sự đánh giá đúng của đồng nhân dân tệ nếu giảm xuất khẩu
Cầu nước ngoài được đo lường bởi nhập khẩu thế giới và bình giảm bởi chỉ số giá nhập khẩu toàn cầu Đối với cầu nội địa Trung Quốc, chúng ta lấy sản xuất công nghiệp, bình giảm bởi CPI Sản xuất công nghiệp được ưu đãi trong GDP bởi vì nó sẵn
có thường xuyên hàng tháng Có những tín hiệu mong đợi tích cực về co giãn theo thu
Trang 14nhập ở cả hàng xuất khẩu và nhập khẩu.
Chúng tôi lựa chọn thêm vài hạn chế mà có liên quan đến trường hợp Trung Quốc Thứ nhất, việc giảm thuế giá trị gia tăng cho các công ty xuất khẩu được bao gồm trong phương trình xuất khẩu vì họ khuyến khích hàng xuất khẩu Tương tự, thuế nhập khẩu được thêm vào như là một biến hồi quy trong phương trình nhập khẩu Chúng đã giảm với một tốc độ rất nhanh kể từ khi gia nhập WTO, trùng với sự tăng lên trong nhập khẩu Thứ hai, về phía cung, chúng tôi giới thiệu biến thứ 3 trong phương trình xuất khẩu : một đơn vị đo lường về sử dụng vốn Điều này giúp kiềm hãm tài khoản cung ứng mà có thể gây trở ngại cho việc tăng trưởng xuất khẩu Việc sự dụng vốn được định nghĩa như là sự khác nhau giữa sản xuất công nghiệp và xu hướng của
nó Thứ ba, vốn FDI, được bình giảm bởi CPI, sử dụng trong cả phương trình xuất khẩu
và nhập khẩu Nói chung, việc tăng trong FDI có thể làm tăng xuất khẩu của Trung Quốc đến mức như FDI được hướng tới phục vụ cho ngành công nghiệp xuất khẩu Chúng tôi cũng mong đợi một hệ số dương cho hàng nhập khẩu, bởi vì các công ty nước ngoài có thể sử dụng máy móc nhập khẩu, các bộ phận phụ tùng trong việc sản xuất của họ nhiều hơn là các công ty Trung Quốc Mặc dù các số liệu về FDI chỉ mới có
từ năm 1997 trở đi, việc này gây nhiều khó khăn cho việc tìm kiếm vectơ liên kết hơn bằng cách rút ngắn mẫu của chúng ta Điều này giải thích tại sao FDI chỉ xuất hiện phần cuối trong những phương trình ước lượng, cụ thể là cho hàng nhập khẩu thông thường Cuối cùng, xu hướng xác định bao gồm cả phương trình xuất khẩu và nhập khẩu khi mà
nó có ý nghĩa quan trọng về mặt thống kê Biến xu hướng sẽ giúp giữ được sự cải tiến trong năng suất và những cải cách trong kinh tế mà Trung Quốc đang thực hiện, nếu không thì chúng ta không thể đo lường dễ dàng
Chúng ta sử dụng số liệu từng tháng cho thời kì từ 1994 đến 2005 Thời gian nghiên cứu khá ngắn, bắt đầu trước năm 1994, khi mà Trung Quốc cơ bản vẫn là nền kinh tế kế hoạch Thực sự năm 1994 là một năm rất thành công về đối với những cải cách nhằm hướng đến nền kinh tế thị trường Một vài những cải cách đặc biệt có liên quan đến câu hỏi mà chúng tôi đã đặt ra Cụ thể là, 2 hệ thống tỉ giá đã được hợp nhất,
kế hoạch bắt buộc cho hàng nhập khẩu được loại bỏ, những yêu cầu về giấy phép và hạn ngạch giảm Hơn thế nữa, đồng nhân dân tệ đã bắt đầu có thể hoán đổi trên tài