1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG & CÔNG NGHIỆP với NGÀNH CÔNG NGHỆ PHẦN mềm của VIỆT NAM

25 311 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách ngoại thương và công nghiệp với ngành công nghệ phần mềm của Việt Nam
Chuyên ngành Chính sách ngoại thương và công nghiệp với ngành công nghệ phần mềm của Việt Nam
Thể loại Bài viết
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 519,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài nghiên cứu sử dụng mô hình tăng trưởng năng lực CMM, được phát triển bởiViện Công Nghệ Phần Mềm SEI của Đại học Carnegie Mellon, để đưa ra kiếnnghị cho các doanh nghiệp trong ngành c

Trang 1

CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG

& CÔNG NGHIỆP VỚI NGÀNH CÔNG NGHỆ PHẦN MỀM CỦA

VIỆT NAM

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

TÓM TẮT

“Ngành công nghiệp phần mềm và một tỷ đô la” Đó là câu chuyện chưa bao giờ cũtrong những bước đi của phần mềm Việt Điều được nhắc đến nhiều nhất trong câuchuyện này đó là chính sách của chính phủ Vậy, các nhà làm chính sách Việt Namnên có những động thái nào giúp ngành công nghiệp phần mềm không đi vào vết xe

đổ một lần nữa Đó chính là mục tiêu bài viết dưới đây

Bài viết này dựa trên một số nghiên cứu và báo cáo của các tác giả trên thế giới vềngành công nghiệp phần mềm ở Việt Nam Sử dụng phương pháp nghiên cứu địnhtính, bài viết sẻ cung cấp một bức tranh tổng quan về tình hình phát triển của ngành

từ lúc hình thành cho đến nay Ngoài ra, bài viết sẽ trình bày cụ thể những chínhsách, nghị quyết của chính phủ để thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệpphần mềm ở Việt Nam

A Giới thiệu

Edsger Dijkstra, nhà khoa học máy tính nổi tiếng người Hà Lan đã từng nói rằng:

“Khi máy tính chưa xuất hiện, thì việc lập trình chưa có khó khăn gì cả Khi mới

xuất hiện một vài chiếc máy tính chức năng kém thì việc lập trình bắt đầu gặp một vài khó khăn nho nhỏ Giờ đây khi chúng ta có những chiếc máy tính khổng lồ thì những khó khăn ấy trở nên vô cùng lớn Như vậy ngành công nghiệp điện tử không giải quyết khó khăn nào cả mà họ chỉ tạo thêm ra những khó khăn mới.”

Vậy ai sẽ là người tháo gỡ những khó khăn này?

Đó chính là ngành công nghiệp phần mềm

Lịch sử đã chứng minh rằng, công nghiệp phần mềm từ lâu đã là một ngành có vaitrò rất quan trọng với cuộc sống của chúng ta Thập niên 1940, ngành công nghiệpphần mềm ra đời với những sản phẩm đầu tiên được phát triển bằng tay Thập niên

1970, các doanh nghiệp sản xuất phần mềm bắt đầu xuất hiện và không ngừng tănglên về số lượng Đến thập niên 1990, phần mềm đã trở thành một phần không thểthiếu trong cuộc sống cũng như trong công việc ở các nước phát triển trên thế giới

Trang 4

Tại Việt Nam, ngành công nghiệp phần mềm được coi là một ngành có tuổi đời cònnon trẻ Các doanh nghiệp sản xuất phần mềm chỉ được thành lập trong khoảng 13năm trở lại đây.

Ngày 24/8/2009, Hiệp hội Doanh nghiệp Phần mềm Việt Nam (Vinasa) phối hợpvới công ty Dữ liệu quốc tế IDC (thuộc tập đoàn IDG – Mỹ) lần đầu tiên công bốkết quả khảo sát toàn cảnh ngành công nghiệp phần mềm VN Kết quả cho thấy, cảnước có 145 doanh nghiệp trong ngành, 50% con số đó hoạt động trong lĩnh vực giacông phần mềm Hơn nữa, đa số các doanh nghiệp có vốn điều lệ nhỏ (65% công ty

có vốn dưới 8 tỷ đồng) Một điều đáng lưu ý là theo khảo sát, nhận thức về chínhsách của các doanh nghiệp phần mềm nước ta rất hạn chế Nhiều chính sách quantrọng của ngành không được các doanh nghiệp cập nhật Có tới 40% số doanhnghiệp không biết đến hai chương trình quan trọng đó là: Chương trình phát triểncông nghiệp phần mềm VN đến năm 2010 và Chương trình phát triển công nghiệpnội dung số VN đến năm 2010 đã được Bộ TT&TT đề xuất và Thủ tướng Chínhphủ thông qua đầu năm 2007

Ngày 07/05/2012, trong một báo cáo về hành vi vi phạm bản quyền toàn cầu, liênminh Phần mềm Doanh nghiệp (BSA) cho biết, 81% phần mềm máy tính ở ViệtNam vi phạm bản quyền phần mềm Đây là một con số quá lớn so với một ngànhcông nghiệp chỉ mới hoạt động chưa tới 15 năm Phải chăng, ngành công nghiệpphần mềm của Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề tiêu cực? Nguyên nhân của nhữngbất cập này là do bản thân doanh nghiệp, do đặc thù ngành hay do các chính sáchvẫn chưa được vận dụng triệt để?

Để có câu trả lời cho những thắc mắc trên, bài viết này sẽ nói về những chính sáchcủa chính phủ về ngoại thương và công nghiệp trong ngành công nghiệp phần mềm

ở Việt Nam

Trang 5

B Các khái niệm.

1 Phần mềm.

Theo từ điển tin học, phần mềm hay còn gọi là phần mềm máy tính là một tập hợpnhững câu lệnh hoặc chỉ thị được viết bằng một hoặc nhiều ngôn ngữ lập trình theomột trật tự xác định Phần mềm cũng bao gồm các dữ liệu hay tài liệu liên quannhằm tự động thực hiện một số nhiệm vụ hay chức năng hoặc giải quyết một vấn đề

2.2 Phần mềm mã nguồn mở

Theo Tổ chức Sáng kiến mã nguồn mở, phần mềm nguồn mở là phần mềm với mãnguồn được công bố và sử dụng một giấy phép nguồn mở Giấy phép này cho phépbất cứ ai cũng có thể nghiên cứu, thay đổi và cải tiến phần mềm, và phân phối phầnmềm ở dạng chưa thay đổi hoặc đã thay đổi

C Tổng quan tài liệu.

1 “Vietnam’s emerging software industry: Competitiveness, positioning, and strategy in a global market” của hai tổ chức Examtrade và Kenan Institute Asia.

Bài nghiên cứu sử dụng mô hình tăng trưởng năng lực CMM, được phát triển bởiViện Công Nghệ Phần Mềm (SEI) của Đại học Carnegie Mellon, để đưa ra kiếnnghị cho các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp phần mềm, đồng thời các tác

Trang 6

giả cũng có những phân tích nhằm đưa ra chính sách phù hợp để phát triển ngànhcông nghiệp phần mềm ở Việt Nam Kết quả cho thấy:

• Phân tích chiến lượt cho các doanh nghiệp trong ngành

- Các doanh nghiệp cần vượt qua các rào cản gia nhập ngành ban đầu nhờ vàokhả năng tiếp thị và bán hàng của mình

- Các doanh nghiệp cần hợp tác, hoạt động theo cụm và tuân theo nhữngnguyên tắc mà mô hình CMM đề xuất

• Phân tích chiến lượt cho các nhà làm chính sách

- Sử dụng phân tích PEST để có thể kết hợp các công cụ hợp lí

- Cần có sự chọn lọc và ưu tiên trong việc phát triển các thành phần của ngànhcông nghiệp phần mềm

- Chấp nhận sử dụng các phần mềm miễn phí và mã nguồn mở

2 “Software outsourcing in Vietnam: A case study of a locally operating Pioneer” của Jonh Gallagher và các cộng sự.

Bài viết này chấp nhận quan điểm của Goodman và Press, (1995), tức là Việt Nam

là một nước có tốc độ đổi mới chậm, những biện pháp bảo hộ cho các ngành côngnghiệp non trẻ chưa hiệu quả và thiếu sự minh bạch Vì vậy, nhóm tác giả khuyếnkhích tự do hoá thương mại Đồng thời, bài viết còn nhận định rằng chính phủ nên

có những chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp phần mềm

Cụ thể là các gói tài trợ tài chính và áp dụng mức thuế ưu đãi cho các doanh nghiệptrong ngành

3 Báo cáo của BSA.

Liên minh Phần mềm Doanh nghiệp (BSA) là tổ chức có mối liên hệ chặt chẽ vớichính phủ các nước có liên quan nhằm giảm tỉ lệ vi phạm bản quyền sử dụng phầnmềm Trong báo cáo này, BSA đã tổng quan tình hình vi phạm bản quyền trên thếgiới Kết quả cho thấy, ở các thị trường mới nổi, tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềmcao hơn so với các thị trường cũ Việt Nam là một trong những thị trường mới nổi

có tỷ lệ vi phạm bản quyền cao, khoản 81%, giảm 2% so với hai năm liên tiếp, sovới mức 83% năm 2010 và 85% của năm 2009 Theo BSA, kết quả này là nhờ vào

Trang 7

những chính sách hợp lí của chính phủ Việt Nam Vì vậy, Việt Nam cần tiếp tụctheo đuổi và hoàn thiện những chính sách đã áp dụng trong thời gian qua.

D Phương pháp nghiên cứu.

Bài viết sử dụng phương pháp quy nạp, so sánh và liệt kê

Đầu tiên là những phân tích về tình hình chung của ngành công nghiệp phần mềm ởViệt Nam, đồng thời liệt kê các chính sách thương mại và công nghiệp được chínhphủ sử dụng trong thời gian qua Sau khi có một cái nhìn tổng quan về ngành côngnghiệp phần mềm của Việt Nam, chúng ta có thể so sánh với ngành công nghiệp phầnmềm ở Ấn Độ, quốc gia được coi là đầu tàu trong lĩnh vực phần mềm

Từ những cơ sở trên, bài viết sẽ có đánh giá về ưu và nhược điểm trong chính sách

ở Việt Nam, đồng thời đưa ra những khuyến nghị cho các nhà làm chính sách để cóhướng đi đúng đắn cho ngành công nghiệp phần mềm ở Việt Nam

Cuối cùng là trường hợp cụ thể về phần mềm diệt virut Bkav của Việt Nam và kếtluận của bài viết

E Nội dung:

1 Công nghệ phần mềm thế giới – xu thế nổi bật:

1.1 Động thái và những chuyển đổi trong trào lưu phát triển.

Theo số liệu của Trung tâm Dữ liệu Quốc tế (IDC), những năm gần đây doanh thu

từ lĩnh vực công nghiệp phần mềm thế giới đã có bước tăng trưởng vượt bậc

Những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, công nghệ phần mềm (chiếm 97%doanh thu toàn cầu) tập trung chủ yếu ở các nước phát triển thuộc Tổ chức Hợp tác

và Phát triển kinh tế (OECD)

Từ thập niên 1990, Ấn Độ được xếp là một cường quốc xuất khẩu phần mềm Năm

2005, Ấn Độ có 1,3 triệu người làm việc trong lĩnh vực công nghệ phần mềm,doanh thu đạt trên 29,3 tỷ USD, khoảng 80% doanh số là từ xuất khẩu

Cho đến nay, công nghiệp phần mềm đã trở thành ngành mũi nhọn ở hầu hết cácquốc gia trên thế giới

1.2 Nhân lực công nghệ phần mềm - thách thức phát triển ở mọi quốc gia

Trang 8

Nét nổi bật ở mọi quốc gia trong phát triển công nghệ phần mềm là sự thiếu hụttrầm trọng nguồn nhân lực (đặc biệt là ở các nước đã phát triển) Hoa Kỳ hiện cókhoảng 1.000.000 kỹ sư phần mềm, hàng năm chỉ đào tạo được thêm 20.000 nênkhông thể đáp ứng được nhu cầu ngày một gia tăng Nhật Bản hiện có 600.000 kỹ

sư phần mềm (ước tính thiếu trên 70.000 người)

1.3 Công ty toàn cầu và xu thế chuyển hoá sản phẩm

Phân tích trào lưu phát triển công nghệ phần mềm trên thế giới có thể thấy, vào thậpniên 1980-1990, ưu thế công nghệ phần mềm thuộc về những nước trong tổ chứcOECD Đến nay đang có xu thế chuyển dịch sang những nước đang phát triển.Trước thách thức về nguồn nhân lực và giá lao động gia tăng, nhiều công ty phầnmềm đang chuyển hướng sang tìm đối tác ở nước ngoài để thực hiện gia công mộtphần hoặc toàn bộ sản phẩm Vì vậy, phát triển phần mềm ra nước ngoài đã nhanhchóng trở thành một trào lưu của các nước phát triển trong thời gian qua

Tận dụng được xu thế này, những nước đang phát triển, cụ thể là Việt Nam sẽ có cơhội thu hút một nguốn vốn đầu tư lớn trong lĩnh vực phần mềm từ nước ngoài

2 Tình hình phát triển của ngành công nghệ phần mềm tại Việt Nam:

Ngày 17/10/2000, Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Việt Nam (khóaVIII) đã ban hành Chỉ thị số 58-CT/TW về “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển côngnghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.”

Dưới sự chỉ đạo của Đảng và điều hành của Chính phủ, ngành công nghệ thông tinnói chung và lĩnh vực công nghệ phần mềm nói riêng đã đạt được nhiều thành tựuquan trọng và trở thành ngành kinh tế-kỹ thuật mũi nhọn quan trọng của đất nước

Từ năm 2000-2005, tốc độ tăng trưởng bình quân của thị trường nội địa đạt khoảng35%/năm, gần gấp 3 lần tốc độ phát triển trung bình của toàn ngành công nghiệp.Tổng doanh thu của các doanh nghiệp phần mềm năm 2005 đạt khoảng 250 triệuUSD, trong đó có khoảng 70 triệu USD xuất khẩu Quy mô ngành CNPM nước ta cả

về lực lượng lao động lẫn tổng doanh thu đã tăng lên gấp 4 lần so với năm 2000

Trang 9

Từ năm 2006-2010, tốc độ tăng trưởng doanh thu lĩnh vực này trung bình hơn30%/năm, đạt 1 tỷ USD vào năm 2010, tăng gấp 4 lần so với năm 2005, trong đóxuất khẩu chiếm khoảng 35%, tăng gấp 5 lần so với năm 2005 Các thị trường xuấtkhẩu chính của các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam là Nhật Bản và Bắc Mỹ ViệtNam thường xuyên được các tổ chức tư vấn hàng đầu thế giới như KPMG, Gratner,A.T.Kearney,…đánh giá cao trong danh sách các điểm đến hấp dẫn về gia côngphần mềm.

Bảng: Doanh thu ngành công nghiệp CNTT (Triệu USD)

12/200 8

12/200 9

12/201 0

Tốc độ tăng trưởng năm 2010 (%)

Tổng doanh thu công

Công nghiệp phần cứng 4.100 4.627 5.631 21,69

Công nghiệp phần mềm 680 850 1.064 25,17

Công nghiệp nội dung số 440 690 934 39,71

Số lượng doanh nghiệp phần mềm, dịch vụ công nghệ thông tin tăng nhanh Tínhđến năm 2010, có khoảng 1.000 doanh nghiệp, tăng gấp 5 lần so với năm 2005,trong đó tập trung ở các thành phố lớn với nguồn nhân lực là 70.000 người Năngsuất lao động bình quân toàn ngành công nghệ phần mềm và dịch vụ đạt trên 14.800USD/lao động, nhưng với các doanh nghiệp có thâm niên cung cấp dịch vụ chonước ngoài thì mức doanh thu đạt trên 20.000 USD/lao động, đặc biệt đối với lĩnhvực tích hợp hệ thống doanh thu đạt trên 30.000 USD/lao động

Việt Nam hiện đã có nhiều doanh nghiệp phần mềm có quy mô trên 1.000 ngườinhư FPT Information Systerm, TMA, PSV,…, đặc biệt FPT Software đã có trên3.500 người lao động Cả nước có 02 doanh nghiệp đạt chứng chỉ quản lí chất lượngquốc tế CMMi cấp 5 và hàng chục công ty có chứng chỉ CMMi cấp 4, CMMi cấp 3hoặc ISO-9001 Hiện nay có 7 khu phần mềm tập trung đang hoạt động, trong đó cómột số khu khá thành công, được nhiều người biết đến như Công viên phần mềmQuang Trung, Công viên phần mềm Đà Nẵng, khu Công nghệ phần mềm Đại họcquốc gia TP.HCM,…v.v

Trang 10

Hiện nay, dù kinh tế toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng vẫn còn nhiều khókhăn, song doanh thu từ xuất khẩu phần mềm của doanh nghiệp Việt từ đầu năm

2012 tới nay không quá ảm đạm Các doanh nghiệp làm dịch vụ cả trên thị trườngtrong nước và quốc tế đều có tăng trưởng rất tốt, đặc biệt trong lĩnh vực gia côngxuất khẩu phần mềm, dịch vụ BPO, có những doanh nghiệp có doanh thu tăng trên200% Các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam đã tạo được chỗ đứng vững chắc tạithị trường Nhật Bản với danh hiệu đối tác được ưa chuộng số 1 và là đối tác lớn thứ

3 của Nhật Bản sau Trung Quốc và Ấn Độ

Biểu đồ lợi nhuận sau thuế các DNPM & DV trong 6 tháng đầu năm 2012

Đơn vị tính: Tỷ đồng Số liệu: VNDIRECT

3 Các chính sách:

3.1 Quan điểm của Chính phủ :

(Mic.gov.vn) - Trích Nghị quyết số 07/2000/NQ-CP về việc Xây dựng và phát

triển công nghiệp phần mềm

• Công nghiệp phần mềm là một ngành kinh tế mới, có giá trị gia tăng cao, cónhiều triển vọng Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi để khuyến khích các

tổ chức và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư và pháttriển ngành công nghiệp này

Trang 11

• Nhà nước khuyến khích và ưu đãi tối đa việc phát triển công nghiệp phầnmềm Bước đầu, chú trọng hình thức xuất khẩu qua gia công và cung cấpdịch vụ cho các công ty nước ngoài Đồng thời, mở rộng thị trường trongnước, trước mắt tập trung phát triển phần mềm trong một số lĩnh vực sớmđem lại hiệu quả kinh tế - xã hội, thay thế các sản phẩm phần mềm nhập khẩu

• Kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đào tạo vàsản xuất làm tiền đề cho các bước phát triển tiếp theo trong lĩnh vực côngnghiệp phần mềm Đặc biệt khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư nghiêncứu khoa học và phát triển công nghệ trong lĩnh vực này

3.2 Chính sách hỗ trợ phát triển ngành công nghệ phần mềm Việt Nam:

Với Chỉ thị số 58/CT/CW của Bộ Chính Trị ra ngày 17/10/2000 đã xác định mụctiêu: “Công nghiệp công nghệ thông tin trở thành thành ngành kinh tế mũi nhọn, cótốc độ và chất lượng cao nhất so với các khu vực khác, có tỷ lệ đóng góp cho tăngtrưởng GDP của cả nước ngày càng tăng Phát triển công nghiệp công nghệ thông tin trởthành một ngành kinh tế quan trọng, đặc biệt là phát triển công nghệ phần mềm.”

Nghị quyết số 07/2000NQ-CP của Chính phủ đã làm rõ thêm: “Công nghiệp phầnmềm là một ngành kinh tế mới, có giá trị tăng cao, có nhiều triển vọng,…, Nhànước khuyến khích và ưu đãi tối đa việc phát triển công nghệ phần mềm.”

Cuối cùng, Quyết định số 95/2002/QĐ-Ttg ra ngày 17/07/2002 khẳng định: “Xâydựng công nghệ phần mềm thành một ngành kinh tế mũi nhọn, có tốc độ tăngtrưởng trung bình hằng năm 30-35%.”

3.2.1 Chính sách ngoại thương:

Theo tinh thần nghị quyết Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa IV, khóaVIII thì Việt Nam phát triển theo mô hình kinh tế mở có sự điều tiết của nhà nước.Chính sách ngoại thương đang áp dụng là chính sách hướng về xuất khẩu

Cơ chế quản lý xuất nhập khẩu hiện nay của Việt Nam được điều hành chủ yếu bởiLuật Thương mại được Quốc hội thông qua ngày 10/5/1997, có hiệu lực thi hành từngày 01/01/1998 và Nghị định 57/1998/NĐ-CP, ban hành ngày 31/7/1998 có hiệulực thi hành từ 01/09/1998: “Quy định chi tiết thi hành luật Thương mại về hoạt

Trang 12

động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hóa với nước ngoài “.Ngoài ra hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) còn chịu sự điều tiết bởi các luật khácnhư luật thuế XNK, luật về thuế giá trị gia tăng (TVA), thuế thu nhập doanh nghiệp,luật đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) và các luật khác

Với Nghị quyết số 07/2000/NQ-CP, Chính phủ đã nêu rõ định hướng phát triển củangành công nghệ phần mềm: “Bước đầu, chú trọng hình thức xuất khẩu qua giacông và cung cấp dịch vụ cho các công ty nước ngoài Đồng thời, mở rộng thịtrường trong nước, trước mắt tập trung phát triển phần mềm trong một số lĩnh vựcđem lại hiệu quả kinh tế-xã hội, thay thế các sản phẩm phần mềm nhập khẩu Nhanhchóng tổ chức xuất khẩu lao động phần mềm và phần mềm đóng gói để công nghiệpphần mềm của Việt Nam từng bước đạt được vị thế trên thị trường thế giới.”

Bằng việc xác định rõ định hướng phát triển của công nghiệp phần mềm, hàng loạtcác chính sách, biện pháp được triển khai như:

• Ban hành chính sách ưu đãi vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước từ Ngân hàngPhát triển Việt Nam tối đa 85% tổng mức vốn đầu tư của dự án và được Chínhphủ xem xét bảo lãnh vốn vay nước ngoài cho từng trường hợp cụ thể

• Miễn thuế suất thuế nhập khẩu hoặc áp dụng mức thuế suất sàn trong cáccam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia đối với các loại vật tư, trang thiết

bị nhập khẩu để sản xuất sản phẩm phần mềm

• Áp dụng mức thuế suất thuế xuất khẩu bằng không (hoặc mức thuế suất sàntrong các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia) và áp dụng mức thuếsuất trần thuế nhập khẩu với thời hạn cho đến khi kết thúc lộ trình miễn,giảm thuế kết thúc mà Việt Nam đã ký cam kết thực hiện với quốc tế đối vớicác sản phẩm và dịch vụ phần mềm

Cụ thể, theo quyết định số 128/2000QĐ-TT của Thủ tướng Chính phủ về một sốchính sách và biện pháp khuyến khích đầu tư, phát triển ngành công nghệ phầnmềm, doanh nghiệp phần mềm được hưởng các ưu đãi như:

 Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài:

Ngày đăng: 26/12/2013, 15:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w