1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CẢI CÁCH hệ THỐNG THUẾ VIỆT NAM hậu WTO

22 384 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cải cách hệ thống thuế Việt Nam hậu WTO
Tác giả Lê Thị Thúy Vy
Người hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Ngọc Hựng
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 161,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Cải cách hệ thống thuế là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệpphát triển kinh tế, nhằm thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đ

Trang 1

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cải cách hệ thống thuế là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệpphát triển kinh tế, nhằm thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và thực hiệnhội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại quốc

tế WTO vào ngày 07/11/2006 Theo đó, khó khăn lớn đầu tiên đối với hệ thống thuế của ViệtNam là phải xây dựng lộ trình cắt giảm thuế phù hợp với các nguyên tắc của WTO Phải sử dụngthuế như một công cụ kích thích và điều tiết sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tăng cường sức cạnhtranh của các DN, góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Đây là chiến lược cải cách toàn diện, đồng bộ và thống nhất cả về hệ thống chính sáchthuế và hệ thống quản lý thuế hiện hành nhằm đảm bảo chính sách động viên thu nhập quốc dâncủa Đảng và Nhà nước, đảm bảo nguồn lực tài chính phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước; góp phần thực hiện bình đẳng, công bằng xã hội và chủ động hội nhập kinh tế quốc

tế Đó cũng chính là lý do đề tài “Cải cách hệ thống thuế Việt Nam hậu WTO” ra đời nhằm làm

rõ hơn một số nội dung liên quan đến vấn đề này

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài được thực hiện hướng đến các mục tiêu:

(i) Nguyên tắc cải cách hệ thống thuế

(ii) Phân tích thực trạng hệ thống chính sách thuế và công tác quản lý thuế, từ đó chỉ ra nhữngthành tựu đã đạt được và hạn chế còn tồn tại trong quá trình cải cách hệ thống thuế ViệtNam

(iii) Mục tiêu của việc cải cách chính sách thuế, thuận lợi và khó khăn gặp phải, từ đó địnhhướng và đề xuất những biện pháp cải cách hệ thống thuế Việt Nam giai đoạn hậu WTO

3 Phương pháp nghiên cứu

Khảo sát, thống kê các tài liệu thứ cấp

Do còn hạn chế về mặt thời gian và kiến thức nên đề tài chắc chắn sẽ không tránh khỏinhững thiếu sót Tôi rất mong ý kiến đóng góp ý kiến của thầy, cô, các bạn và những người quantâm đến vấn đề này để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Người thực hiện

LÊ THỊ THÚY VY

Trang 2

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC CẢI CÁCH HỆ THỐNG THUẾ

1 Nguyên tắc cải cách hệ thống thuế

Không có một hệ thống thuế nào được xem là hoàn hảo và lý tưởng duy nhất cả Để đánhgiá một hệ thống thuế mới người ta thường đặt ra ba tiêu chí:

+ Hệ thống thuế có hiệu quả kinh tế hơn hay không?

+ Hệ thống thuế có công bằng về mặt xã hội hơn không?

+ Hệ thống thuế có tạo nhiều nguồn thu ngân sách ròng hơn không?

Trong khi những tiêu chí đánh giá vẫn không đổi thì điều gì là tốt nhất sẽ thay đổi theo thời gianphụ thuộc vào cấu trúc thu chi ngân sách của quốc gia, tức là một hệ thống thuế có tính động thay

vì tĩnh

1.1 Việc cải cách thuế phải dựa trên nguyên tắc mức thuế suất thấp và cơ sở thuế rộng

Do mất mát xã hội vô ích tỷ lệ với bình phương thuế suất nên một mức thuế suất thấp hơn

sẽ làm giảm tổn thất phúc lợi xã hội Thuế suất giảm còn làm giảm các hành vi trốn, tránh thuếthông qua các hoạt động dịch chuyển thu nhập hay chuyển giá - những hành vi làm thất thu thuế,tăng chi phí quản lý và tuân thủ thuế Việc giảm thuế suất phải đi đôi với định nghĩa lại cơ sở thuếtrên cơ sở rộng hơn nhằm có thể tăng doanh thu thuế ròng Bởi vì, mục đích chính của chiến lượccải cách thuế phải là tối đa hóa nguồn thu, trong khi vấn đề công bằng và phúc lợi xã hội cònđược giải quyết thông qua chính sách chi tiêu của chính phủ

1.2 Qúa trình cải cách thuế là phải sắp xếp thứ tự ưu tiên

Thứ tự này đảm bảo mục tiêu thu ngân sách phải là thứ yếu trong giai đoạn đầu Tuy nhiên,trong dài hạn, mục tiêu cuối cùng vẫn phải là tăng doanh thu thuế ròng Có một số tiêu chí đểđánh giá khả năng tạo nguồn thu thuế ròng Chẳng hạn, nếu so với nền kinh tế người ta thường sửdụng các chỉ tiêu: tỷ số thuế, độ nổi thuế, độ co giãn của thuế, và tính ổn định của thuế; nếu sovới tiềm năng: năng lực thuế, nỗ lực thuế; nếu so với hiệu quả hành chính: tỷ lệ thu, chi phí của tỷ

lệ thu, thu nợ thuế Bên cạnh đó, một chính sách thuế mới cũng phải trên cơ sở đơn giản hóa, từvấn đề quy trình thủ tục đến công tác quản lý, tuân thủ và thực thi thuế

Chiến lược cải cách thuế cần phải tính toán, cân nhắc một cách thận trọng và cụ thể Cáccuộc cải cách vội vã thường dẫn đến thất bại, gây khó khăn hơn cho những đợt cải cách trongtương lai Các thành công bước đầu mặc dù ở một quy mô nhỏ nhưng tăng được doanh thu cũng

Trang 3

sẽ tạo cơ sở cho việc mở rộng phạm vi cải cách thuế và làm tăng cơ hội thành công Tăng tối đakhả năng thu tại nguồn, tức thiết kế một quai thuế vững chắc, sẽ đảm bảo hạn chế tối thiểu tìnhtrạng thất thoát nguồn thu.

Trang 4

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH THUẾ

VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ

Từ khi hệ thống thuế Việt Nam ra đời đã trải qua hai lần cải cách Cải cách bước 1: giaiđoạn 1990 - 1995, cải cách bước 2: giai đoạn 1996 - 2000

2.1 Giai đoạn 1990 - 1995

Đây là giai đoạn tiếp tục đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước, cả nước từngbước chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thịtrường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Vì vậy, chính sách thuế phải đápứng được các yêu cầu cấp bách của chính sách đổi mới kinh tế một cách toàn diện và sự phát triểncủa kinh tế thị trường

Thực hiện cải cách thuế trong giai đoạn này, Nhà nước đã ban hành một hệ thống chínhsách thuế phù hợp với đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, tạo cơ sở vàđộng lực phát triển kinh tế nhiều thành phần, phát huy cao độ nội lực để phát triển kinh tế Hệthống chính sách thuế đã được áp dụng thống nhất đối với tất cả các thành phần kinh tế, tạo sựcông bằng về nghĩa vụ thuế đối với tất cả các ĐTNT Tổ chức ngành Thuế cũng được tổ chức lạithành một hệ thống thống nhất từ Trung ương đến địa phương trên cơ sở thống nhất 3 hệ thốngthu trước đây là Cục thu quốc doanh, Cục thuế công thương nghiệp và Vụ thuế nông nghiệp Hệthống thuế Nhà nước chịu sự chỉ đạo của Bộ Tài chính, cơ quan Thuế địa phương còn chịu sự chỉđạo song trùng của UBND cùng cấp trên một số mặt công tác

2.2 Giai đoạn 1996-2000

Đây là giai đoạn thực hiện cải cách thuế trong bối cảnh nền kinh tế phát triển theo cơ chế thịtrư¬ờng định hư¬ớng Xã hội chủ nghĩa, đất nước bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá, mở rộng quan hệ hợp tác với các nư¬ớc trong khu vực và thế giới, tham gia hộinhập quốc tế phải thực hiện bảo hộ có chọn lọc Các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế đadạng hoá gồm nhiều loại hình và thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau Hệ thống chính sáchthuế qua cải cách bước 1 vẫn còn những tồn tại nhất định, chưa đáp ứng được sự phát triển củanền kinh tế

Vì vậy, để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệphoá và hiện đại hoá đất nước, cuộc cải cách hệ thống thuế bước 2 được thực hiện nhằm khắc phụcnhững nhược điểm, tồn tại của cải cách hệ thống thuế bước I, phát huy vai trò của công cụ thuếtrong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế, khuyến khích SX- KD phát triển, đảm bảo tỷ lệ động viên

Trang 5

hợp lý cho NSNN, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp tích tụ vốn để đầu tư, phát triển vànuôi dưỡng nguồn thu lâu dài Chính sách thuế tiến tới đơn giản, ổn định, công bằng.

2.3 Những kết quả đạt được

Nhìn chung, trong bối cảnh kinh tế xã hội trong nước, quốc tế có nhiều yếu tố không thuậnlợi nhưng công cuộc cải cách hệ thống thuế đã góp phần tích cực vào việc ổn định và phát triểnkinh tế xã hội theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Thu ngân sách ngày càng tănglên; phù hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế theo cơ chế thị trường và thực hiện đúng lộ trìnhhội nhập quốc tế Cụ thể như sau:

2.3.1 Về chính sách thuế

- Hình thành một hệ thống chính sách thuế bao quát được hầu hết các nguồn thu, áp dụng thốngnhất đối với mọi thành phần kinh tế và từng bước thích ứng với yêu cầu chuyển đổi nền kinh tếtheo cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa Hệ thống chính sách thuế gồm: 9 sắc thuế cơbản (thuế giá trị gia tăng; thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; thuế thu nhậpdoanh nghiệp; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuếtài nguyên; thuế nhà đất; thuế chuyển quyền sử dụng đất) Ngoài ra, còn một số loại thu dưới hìnhthức phí và lệ phí

- Hệ thống chính sách thuế đã trở thành công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tếgóp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu,bảo hộ sản xuất trong nước, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập chongười lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo

+ Góp phần đưa tổng sản phẩm trong nước (GDP) sau 10 năm tăng hơn gấp đôi (2,07 lần) + Thúc đẩy cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực: Trong GDP, tỷ trọng nông nghiệp từ 38,7% giảmxuống 24,3%, công nghiệp và xây dựng từ 22,7% tăng lên 36,6%, dịch vụ từ 38,6% tăng lên39,1%

+ Thúc đẩy xuất khẩu, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng qua các năm: bình quânhàng năm trên 21% gấp gần 3 lần mức tăng trưởng GDP, sản phẩm xuất khẩu đã qua chế biếntăng từ 8% năm 1991 lên 40% năm 2000 Nhờ xuất khẩu tăng, về cơ bản đã bảo đảm được nguồnngoại tệ để nhập khẩu thiết bị, vật tư, nguyên nhiên vật liệu, hàng hoá cần thiết cho nhu cầu pháttriển sản xuất và đời sống nhân dân

- Hệ thống chính sách thuế được ban hành dưới hình thức luật, pháp lệnh tạo cơ sở pháp lý cao đểđộng viên một phần thu nhập của doanh nghiệp, dân cư vào Ngân sách Nhà nước làm cho dự toán

Trang 6

thu ngân sách Nhà nước luôn đạt và vượt mục tiêu đề ra Nhờ đó đã bảo đảm nhu cầu chi thườngxuyên, dành một phần tăng chi đầu tư phát triển, chi trả nợ, góp phần kiềm chế lạm phát ở mức

độ cho phép

Tổng thu thuế và phí luôn hoàn thành vượt mức dự toán thu hàng năm được Quốc hội thông qua

và có tốc độ tăng trưởng cao qua các năm: Năm 2000 tăng 13,7 lần so với năm 1990 Số thu vềthuế và phí trong tổng thu Ngân sách Nhà nước năm 1990 chỉ chiếm 76,78%, đến năm 2003 đãchiếm 92,9% Tỷ lệ động viên qua thuế và phí/GDP đã đạt và vượt mục tiêu đề ra: năm 1991 đạt13,1% GDP, đến năm 2000 đạt 19,7% GDP và đến năm 2003 đạt 21,8% GDP

- Hệ thống chính sách thuế đã xoá bỏ sự chênh lệch về nghĩa vụ thuế giữa các thành phần kinh tếtrong nước; thu hẹp chênh lệch về nghĩa vụ thuế giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng trong cơ chế thị trường

- Trong hợp tác quốc tế về thuế đã đạt được các thành tựu chủ yếu là:

+ Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thuế đã mở rộng hiểu biết, tích luỹ kinh nghiệm ứng dụngchính sách thuế tiên tiến và quản lý thuế hiện đại của quốc tế vào hệ thống thuế Việt Nam Qua

đó, hệ thống chính sách thuế Việt Nam từng bước được hoàn thiện và phù hợp với yêu cầu củahội nhập

+ Vừa bảo hộ được sản xuất trong nước, vừa chủ động thực hiện chính sách mở cửa để thu hútđầu tư, tự do hoá thương mại, thực hiện lộ trình cam kết về thuế với các nước ASEAN, EU, Hoa

Kỳ và các tổ chức quốc tế khác

+ Đã đàm phán và ký Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần với 42 nước, tạo cơ sở pháp lý để các nhàđầu tư nước ngoài, người nước ngoài đến Việt Nam kinh doanh sinh sống không bị đánh thuếtrùng lắp, thực sự được hưởng chính sách ưu đãi thuế của Việt Nam, tạo môi trường thuận lợikhuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam; thu hút các nhà nghiên cứu, các giáo sư, cácchuyên gia nước ngoài đầu tư chất sám vào Việt Nam

- Hệ thống chính sách thuế từng bước tiến tới đơn giản, rõ ràng, tạo điều kiện giảm chi phí hànhchính thuế cho cả người nộp thuế và cơ quan thuế

- Tăng cường quản lý hạch toán kinh doanh trong từng doanh nghiệp, thúc đẩy việc tổ chức vàsắp xếp lại doanh nghiệp

2.3.2 Về quản lý thuế

Trang 7

- Đã hình thành một hệ thống tổ chức quản lý thuế thống nhất trong cả nước ngày càng được củng

cố và tăng cường về mọi mặt; chịu sự lãnh đạo song trùng của ngành dọc và cấp uỷ, chính quyềnđịa phương Đội ngũ cán bộ quản lý thuế được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ quản lý vàphẩm chất Áp dụng công nghệ tin học vào quản lý thuế Do đó hiệu lực, hiệu quả của bộ máyquản lý thuế ngày càng được nâng cao, góp phần quyết định vào việc hoàn thành và hoàn thànhvượt mức dự toán thu Ngân sách Nhà nước hàng năm đã được Quốc hội thông qua

- Công tác quản lý thuế được chuyển từng bước từ chế độ chuyên quản khép kín sang chế độngười nộp thuế tự tính, tự khai và nộp thuế theo thông báo của cơ quan thuế Cơ chế này đã đềcao nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp thuế trước pháp luật; cơ quan thuế tăng cường đượcchức năng tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn, đôn đốc thu nộp, kiểm tra, thanh tra xử lý vi phạm

về thuế

- Tổ chức quản lý thuế được tổ chức thành 3 bộ phận độc lập: Bộ phận cấp đăng ký mã số thuế,nhận và kiểm tra tờ khai thuế; Bộ phận tính thuế, thông báo nộp thuế và đôn đốc thu nộp thuế; Bộphận thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về thuế; đã hạn chế được tiêu cực trong công tác quản

lý thuế theo kiểu "khép kín" trước đây Từng bước thực hiện chuyên môn hoá quản lý thuế theochức năng, nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ thuế

- Công tác quản lý thuế đã có những chuyển biến tích cực theo hướng rõ ràng, công khai, dân chủ

và minh bạch hơn Từng bước củng cố, mở rộng áp dụng chế độ kế toán hoá đơn chứng từ đối vớicác thành phần kinh tế, đặc biệt là đối với thành phần kinh tế tư nhân, từ đó tình trạng thất thuNgân sách đã giảm nhiều so với trước đây

2.4 Những hạn chế còn tồn tại

Mặc dù đã từng bước được cải cách và hoàn thiện vào những năm 1990-2000, nhưng hiện naychính sách thuế vẫn còn nhiều vướng mắc cần tiếp tục cải cách, sửa đổi cho phù hợp với cácnguyên tắc của WTO

Hệ thống chính sách thuế hiện nay vẫn còn phức tạp và thiếu tính ổn định, làm cho chi

phí quản lý thu thuế lớn, ảnh hưởng tới hiệu quả thu thuế, tạo điều kiện cho việc trốn thuế

và bóp méo hệ thống thuế Đồng thời, nó làm mất định hướng của nhà đầu tư, bóp méo sựlựa chọn của người sản xuất và vi phạm một nguyên tắc chung của thông lệ quốc tế là tính

rõ ràng và có thể dự đoán trước của hệ thống chính sách thuế Việc thường xuyên thay đổitrong chính sách thuế, quy định không rõ ràng về phạm vi của các sắc thuế và trong mộtsắc thuế có quá nhiều thuế suất, nhiều chế độ ưu đãi, miễn giảm khác nhau đã cản trở quá

Trang 8

trình hội nhập quốc tế trên các phương diện: khuyến khích xuất khẩu, nâng cao khả năngcạnh tranh của DN và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

Việc quy định các sắc thuế thiếu tính rõ ràng, còn lẫn lộn trong chức năng của từng sắc thuế, thể hiện ở phạm vi của đối tượng chịu thuế, các mức thuế suất quá cao vì gặp

nhiều loại thuế trong một sắc thuế Ví dụ, thuế tiêu thụ đặc biệt, ngoài chức năng điều tiếttiêu dùng với một số mặt hàng đặc biệt còn đảm đương cả chức năng của thuế VAT, vìđối tượng chịu thuế VAT không áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuếtiêu thụ đặc biệt Vì vậy, thuế suất cao của thuế tiêu thụ đặc biệt đã gồm thuế VAT Thuếtiêu thụ đặc biệt còn được sử dụng cho chức năng bảo hộ sản xuất trong nước, nên có sựphân biệt đối xử giữa một số mặt hàng nhập khẩu và sản xuất trong nước (như ô tô, thuốclá…) dẫn đến vi phạm nguyên tắc của WTO Mặt khác, có một số mặt hàng tiêu dùng cótính chất xa xỉ lại không thuộc diện điều chỉnh của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, nên trongbiểu thuế nhập khẩu đang được áp dụng mức thuế suất cao, tạo sự hiểu lầm của dư luậnquốc tế về thuế nhập khẩu không phù hợp thông lệ quốc tế

Hệ thống chính sách thuế được xây dựng để phục vụ nhiều mục tiêu trong từng sắc thuế, làm mất đi tính trung lập – một yếu tố dẫn tới hiệu quả trong phân bổ nguồn lực.

Có nhiều mục tiêu trong chính sách thuế không thống nhất với nhau, do đó nếu đạt đượcmục tiêu này thì lại gây thiệt hại tới mục tiêu khác Một số mặt hàng nhập khẩu như: phânbón, sắt xây dựng, kính xây dựng, đường… có thuế suất thuế nhập khẩu thấp vì là đầu vàocủa một số ngành sản xuất, nhưng biện pháp quản lý lại là bảo hộ phi thuế quan (hạn chế

số lượng nhập khẩu), rõ ràng là vi phạm quy định của WTO Một số mặt hàng thuế nhậpkhẩu quá cao sẽ kính thích sản xuất hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu; đồng thời cũng sẽchiếm mất nguồn vốn, lao động, công nghệ của những hoạt động sản xuất hàng hóa khác

có hiệu quả cao hơn Việc kết hợp các mục tiêu của chính sách xã hội trong các sắc thuếxét về khía cạnh xã hội là tốt, tuy nhiên nó thực sự làm chính sách thuế trở nên phức tạp,tạo ra sự bất bình đẳng trong kinh doanh, ảnh hưởng đến sự minh bạch của hệ thống thuế

Còn thiếu sự kết hợp hài hòa giữa các sắc thuế trong hệ thống chính sách thuế, giữa

mục tiêu số thu cho ngân sách và mục tiêu kích thích sản xuất phát triển và điều tiết vĩ mônền kinh tế thông qua từng sắc thuế Trong điều kiện mở cửa hội nhập và tích cực chuẩn

bị để tham gia WTO, hệ thống chính sách thuế phải được sửa đổi cho phù hợp với cácnguyên tắc của tổ chức này, đồng thời phải đảm bảo được nguồn thu cho ngân sách nhà

Trang 9

nước, tăng cường sức cạnh tranh cho các DN trong nước, đồng thời phải có sự bảo hộ hợp

lý cho một số ngành then chốt trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước

Trang 10

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG CẢI CÁCH HỆ THỐNG THUẾ VIỆT NAM HẬU WTO 3.1 Mục tiêu

Là một công cụ của chính sách quản lý kinh tế, chính sách thuế phải hướng vào thực hiệncác mục tiêu tổng thể của chính sách kinh tế mà Đại hội Đảng lần thứ IX của VN đề ra: “Đưa đấtnước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, tinh thần của nhândân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướnghiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh

tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩađược hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao”

Tuy nhiên, với tư cách là một công cụ trọng tâm của chính sách tài chính quốc gia, liên quanđến việc huy động và phân bổ các nguồn lực tài chính của xã hội, nên vấn đề xuyên suốt củachính sách thuế là phải thực hiện các mục tiêu có tính đặc thù, đó là:

 Giữ kỷ luật tài chính tổng thể để lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia, ổn định kinh tế vĩ

mô Nguồn thu từ thuế phải có khả năng tài trợ các nhu cầu chi tiêu cần thiết ngày càngtăng của Chính phủ mà không phải viện đến sự vay mượn quá mức của khu vực công.Theo tính toán của Bộ tài chính được xác định trong chiến lược phát triển tài chính đếnnăm 2010, thì tỷ lệ thu NSNN phải ở mức bình quân năm vào khoảng 20-21% GDP, trong

đó thuế, phí và lệ phí đạt 18-19% GDP Trên cơ sở đó, đảm bảo quy mô chi ngân sách nhànước vào khoảng 24-25% GDP, khống chế bội chi ngân sách nhà nước 4-5%GDP; bù đắpbội chi ngân sách bằng nguồn vốn trong nước khoảng 3-5% GDP và vay nước ngoài 1-1,5% GDP

 Nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút vốn đầu tư của nền kinh tế trong bối cảnh hộinhập và cam kết quốc tế nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững và thực hiệnthành công chiến lược giảm nghèo

 Thuế phải là công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước có hiệu quả và hiệu lực Thuế đivào trong đời sống kinh tế - xã hội trên cơ sở thực thi một chính sách thuế minh bạch,công bằng, có tính luật pháp cao

3.2 Những thuận lợi

- Hệ thống chính trị ổn định, Đảng và Nhà nước quyết tâm đổi mới chính sách và kiện toàn hệthống tài chính – tiền tệ nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững: “Tích cực đổi mới vàhoàn thiện hệ thống chính sách tài chính – tiền tệ quốc gia, động viên hợp lý và phân phối có hiệu

Trang 11

quả mọi nguồn lực nhằm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Thực hiện nguyên tắccông bằng, hiệu quả trong phân phối và phân phối lại nguồn thu nhập trong xã hội Tạo lập môitrường tài chính lành mạnh, thông thoáng nhằm giải phóng và phát triển các nguồn tài chính vàtiềm năng sản xuất của các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư; bồi dưỡng nguồn thu ngân sách,thu hút các nguồn bên ngoài ….” (Văn kiện Đại hội Đảng lần IX – Chiến lược phát triển kinh tế –

xã hội 2001-2010)

- VN đã đạt được thành tựu quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô trong thời gian qua là kiểmsoát lạm phát, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng ổn định trên cơ sở phối hợp đồng bộ các chính sách tàichính – tiền tệ Từ chỗ chặn đứng lạm phát phi mã trong những năm cuối của thập niên 80 bằngnhững giải pháp thắt chặt tiền tệ đến quá trình vượt qua giai đoạn thiểu phát ở những năm cuốithập niên 90 bằng những chủ trương kích cầu kịp thời đã là minh chứng cho thành công củaChính phủ trong điều hành kinh tế Điều này không chỉ góp phần tạo môi trường kinh tế ổn định

mà còn cũng cố lòng tin của người dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong việc cảicách chính sách tài chính – tiền tệ nói chung và chính sách thuế nói riêng)

- Sự thành công của các lần cải cách chính sách thuế trong thời gian qua đã cung cấp cho Chínhphủ có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực cải cách chính sách thuế Việc cải cách chính sách thuế

từ năm 1990 cho đến nay đã có tác dụng tích cực trong việc mở rộng và tập trung kịp thời nguồnthu cho NSNN Qua các năm số thu từ thuế không ngừng tăng lên và chiếm tỷ lệ đáng kể trongtổng thu NSNN, do vậy góp phần đưa ngân sách từ chỗ thu trong nước không đủ chi thườngxuyên tiến tới không những đảm bảo đủ nhu cầu chi thường xuyên mà còn có phần tiết kiệm đểtạo nguồn vốn đầu tư phát triển của Nhà nước ngày một tăng lên

- Là một nước đi sau trong tiến trình hội nhập quốc tế, VN có thể rút ra nhiều bài học kinhnghiệm quý báu của các nước đi trước trong việc đổi mới chính sách thuế

3.3 Những khó khăn

Theo yêu cầu phát triển của nền kinh tế, việc nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chính sáchthuế phải nhằm thiết lập một hệ thống thuế công bằng và hiệu quả, có khả năng tài trợ nhu cầu chicần thiết của tiêu công Đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập vào kinh tế thế giới, thìchính sách thuế đóng vai trò nhạy cảm đặc biệt Như vậy, hệ thống thuế cần: (1) gia tăng đầy đủnguồn thu để tài trợ nhu cầu chi tiêu cần thiết mà không phải viện đến sự vay mượn quá mức củakhu vực công; (2) gia tăng nguồn thu trong cách thức đảm bảo công bằng và giảm thiểu nhữngảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động kinh tế; (3) gia tăng nguồn thu trong cách thức không làmchệnh hướng đáng kể những thông lệ và tiêu chuẩn quốc tế

Ngày đăng: 26/12/2013, 15:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w