1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động nhận tái bảo hiểm nghiệp vụ bảo hiểm hàng không ở công ty tái bảo hiểm quốc gia việt nam VINARE

79 350 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Biện Pháp Nhằm Thúc Đẩy Hoạt Động Nhận Tái Bảo Hiểm Nghiệp Vụ Bảo Hiểm Hàng Không Ở Công Ty Tái Bảo Hiểm Quốc Gia Việt Nam VINARE
Người hướng dẫn Thạc Sĩ Nguyễn Hoàng Ánh
Trường học Đại học Ngoại thương
Chuyên ngành Kinh Tế Ngoại Thương
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 261,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều khi đây là yếu tố quan trọng để cáccông ty bảo hiểm gốc quyết định sẽ ký kết hợp đồng tái bảo hiểm với công tytái bảo hiểm nào II.Các phơng pháp tái bảo hiểm hàng không 1.Phơng phá

Trang 1

Lời mở đầu

Trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ nh vũ bão, xuhớng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang tạo ra mối liên hệ vàphụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế của các quốc gia Vận tải hàng không

có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế thế giới nói chung và buôn bán quốc tếnói riêng Hơn nữa, vận tải hàng không còn là chiếc cầu nối giữa các nền vănhoá của các dân tộc, là phơng tiện chính trong du lịch quốc tế, là mắt xíchquan trọng trong quy trình tổ chức vận tải đa phơng thức quốc tế

Để khôi phục, phát triển kinh tế hay mở rộng quan hệ hợp tác kinh tếvới các quốc gia trên thế giới, vận tải hàng không là chiếc cầu nối nhanh nhất,thuận tiện nhất và đợc xem nh một chất xúc tác cho hoạt động kinh tế diễn ranhanh hơn

ở Việt Nam, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu giao lubằng đờng hàng không cũng tăng lên không ngừng Trên thực tế, ngành Hàngkhông dân dụng đã tự khẳng định mình là một trong những ngành kinh tế mũinhọn đại diện cho phơng thức vận tải tiên tiến và hiện đại nhất, ngày càng

đóng vai trò to lớn và có ảnh hởng quan trọng trong công cuộc phát triển kinh

tế văn hoá - xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nớc

Hàng không là một ngành có khối lợng vốn đầu t lớn tới hàng trăm tỷ

đô la Mỹ Xác xuất rủi ro trong hoạt động Hàng không là rất nhỏ tuy nhiênmỗi khi xảy ra lại mang tính chất nghiêm trọng, thiệt hại lớn ảnh hởng trựctiếp đến hoạt động kinh doanh của ngành Do đó, việc bảo hiểm cho hoạt độngcủa ngành hàng không là một việc không thể thiếu đợc, vì bảo hiểm hoạt độngtheo nguyên tắc lấy số đông bù số ít Nên bảo hiểm hàng không đã thực sự làmột dịch vụ tài chính hữu hiệu giúp cho doanh nghiệp và dân c khắc phục hậuquả thiệt hại, ổn định đời sống và sản xuất trớc những rủi ro nhân tai và thiêntai Song phải nói thêm rằng, khả năng tài chính của bảo hiểm hàng khôngkhông phải là vô hạn mà luôn gặp khó khăn về giới hạn tài chính Do vậy, vớichức năng làm giá đỡ về mặt tài chính cho bảo hiểm hàng không, tái bảo hiểmhàng không có vai trò quan trọng đối với ngành bảo hiểm còn non trẻ này

Là một sinh viên đào tạo trong chuyên ngành Kinh Tế Ngoại Thơng củatrờng Đại học Ngoại Thơng, em luôn mong muốn có đợc cơ hội tìm hiểu sâuhơn về mặt lý luận cũng nh thực tiễn của hoạt động bảo hiểm trên cơ sở đó đểcủng cố và hoàn thiện, nâng cao kiến thức của mình Trong thời gian thực tậptại công ty VINARE, đợc sự hớng dẫn tận tình của cô giáo Nguyễn Hoàng

ánh cùng cán bộ trong công ty em chọn đề tài Một“Một số biện pháp nhằm

Trang 2

thúc đẩy hoạt động nhận tái bảo hiểm nghiệp vụ bảo hiểm hàng không ở công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam-VINARE” cho khoá luận tốt

nghiệp của mình

Do hạn chế về thời gian, kiến thức và t liệu trong phần lý luận củachuyên đề, khoá luận này sẽ trình bày một số nét khái quát về bảo hiểm hàngkhông bên cạnh những vấn đề chính và cơ bản về kỹ thuật tái bảo hiểm Trêncơ sở đó tập trung vào phân tích hoạt động nhận và tái bảo hiểm nghiệp vụ bảohiểm hàng không ở VINARE Phần cuối của khoá luận sẽ đề xuất một số cácgiải pháp và kiến nghị với hy vọng sẽ khắc phục khó khăn và tồn tại củaVINARE và một số doanh nghiệp bảo hiểm gốc gặp phải trong quá trình hoạt

động sản xuất kinh doanh của mình

Nội dung của khoá luận gồm 3 chơng nh sau:

Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn cô giáo - Thạc sĩ Nguyễn Hoàng

ánh – giảng viên Khoa Kinh Tế Ngoại Thơng trờng Đại học Ngoại Thơng đãchỉ bảo và giúp đỡ em tận tình trong quá trình làm khoá luận: từ khi lập đề c-

ơng đến lúc hoàn thành bản thảo

Chơng I

Lý luận chung về bảo hiểm hàng không và tái bảo hiểm hàng không.

I.Khái quát chung về bảo hiểm và tái bảo hiểm hàng không.

1.Giới thiệu chung về tái bảo hiểm

1.1.Khái niệm và sơ lợc về lịch sử ra đời và phát triển của tái bảo hiểm

Nếu nh bảo hiểm là hình thức dàn trải tổn thất của một ít ngời cho nhiều ngời cùng chịu thì tái bảo hiểm là hình thức dàn trải một lần nữa những tổn thất mà công ty bảo hiểm phải gánh chịu Nói một cách ngắn gọn: Tái bảo hiểm là bảo hiểm cho các nhà bảo hiểm.

Trang 3

Song song với sự ra đời và phát triển của bảo hiểm, tái bảo hiểm ra

đời nh một tất yếu khách quan và ngày càng khẳng định vai trò không thể thiếu trong sự phát triển của thị trờng bảo hiểm thế giới nói chung.

Vào giai đoạn cuối cùng của thời đại trung cổ, khi ngành bảo hiểm bắt đầu phát triển và mở rộng ở Châu âu thì nhu cầu tái bảo hiểm đã xuất hiện và ngày càng tăng nhanh cùng với sự phát triển của nền kinh tế

T bản chủ nghĩa Italia là nớc đầu tiên chứng kiến sự ra đời của dịch vụ tái bảo hiểm Bản giao ớc cổ nhất đợc biết đến với tính chất pháp lý nh một hợp đồng tái bảo hiểm đã đợc ký kết tại thành phố Genoa vào năm

1370 giữa một bên là hai thơng nhân hoạt động với t cách nh nhà tái bảo hiểm và một bên là đại diện cho một nhà bảo hiểm Sau này với sự phát triển rộng rãi về những mối quan hệ giữa các thành phố của Italia va các nớc Bắc âu, đặc biệt là nớc anh, dịch vụ tái bảo hiểm đã phát triển hơn.

Do có những tiêu cực xảy ra trong thời kỳ này, nớc anh đã cấm hoạt

động tái bảo hiểm hàng hải trong một thời gian dài đặc biệt là từ 1946

đến 1804 Đạo luật này đã tạo điều kiện cho tổ chức Lloy d phát huy ảnh’d phát huy ảnh

hởng của mình bằng cách đồng bảo hiểm và sau năm 1804 đã nghiễm nhiên trở thành một cơ sở tái bảo hiểm quan trọng nhất thế giới Trong thời gian này hình thức tái bảo hiểm duy nhất đợc sử dụng đó là tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn cho từng hợp đồng riêng lẻ.

Đến giữa thế kỷ 19, nền kinh tế của các nớc t bản chủ nghĩa đã có những bớc tiến nhảy vọt do áp dụng thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Quan hệ thơng mại giữa các nớc đợc mở rộng

và phát triển mạnh Do đó hình thức hợp đồng tái bảo hiểm trao đổi qua lại giữa các nhà bảo hiểm nh trên không còn đáp ứng đợc nhu cầu Điều này dẫn đến sự tất yếu khách quan cho việc thành lập các công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp Năm 1846 tại Kohn (Đức) công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp đầu tiên đã ra đời lấy tên là công ty tái bảo hiểm Kohn (KolnischeRuck AG) Tiếp theo đó một số công ty bảo hiểm có tên tuổi trên thị trờng tái bảo hiểm thế giới hiện nay cũng đã đợc thành lập nh: Công ty tái bảo hiểm Thuỵ Sỹ (Swiss Re) năm 1963; Công ty tái bảo hiểm London (London Guarantee Reinsurance Co.Ltd năm 1869); Công ty tái bảo hiểm Munich Re (Munchences Ruck AG) năm 1880.

Trong thời kỳ này có nhiều hình thức và phơng pháp tái bảo hiểm

đợc xây dựng, kỹ thuật tái bảo hiểm cũng đợc cải tiến Tuy nhiên, do ảnh

Trang 4

hởng của hai cuộc chiến tranh thế giới cùng với cuộc khủng hoảng kinh

tế, lạm phát tiền tệ đã làm tổn hại lớn đến sự phát triển của ngành bảo hiểm nói chung và tái bảo hiểm nói riêng Bị tổn hại nhiều nhất có lẽ phải

kể đến các công ty tái bảo hiểm Đức Trong khi đó các công ty tái bảo hiểm quốc tế nh công ty tái bảo hiểm Thuỵ Sỹ đã phát triển lên thành một lên công ty tái bảo hiểm đồ sộ Ngoài ra, trong thời gian này cũng có rất nhiều công ty tái bảo hiểm ra đời, nhất là ở Mỹ, Thuỵ Sỹ…

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, đặc trng cơ bản của sự phát triển hoạt động tái bảo hiểm đợc thể hiện thông qua những biến động lớn sau:

- Các công ty tái bảo hiểm của CHLB Đức phục hồi nhanh chóng

- Các công ty bảo hiểm nhà nớc ở các nớc XHCN đợc thành lập

- ở những nớc chậm phát triển hay những nớc mới giành đợc độc lậpcác tổ chức độc quyền tái bảo hiểm, cục bộ hay toàn phần đã đợc thành lậpnhằm bảo vệ lợi ích riêng của họ

- Nhiều công ty tái bảo hiểm mới đợc thành lập và ngày càng có nhiềucông ty bảo hiểm tiến hành đồng thời dịch vụ tái bảo hiểm

- Hình thức tái bảo hiểm phi tỷ lệ là hình thức tối u nhất đáp ứng đợcnhu cầu đảm bảo của các công ty bảo hiểm gốc và ngày càng đợc phổ biếnrộng rãi

Cho đến nay tái bảo hiểm đã trở nên biết hết sức quen thuộc và phổ biếntrong hoạt động kinh doanh bảo hiểm Ngày nay, khi quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế diễn ra trên cả bề rộng và bề sâu thì tái bảo hiểm càng có cơ hộiphát triển và trở thành một hệ thống mang tính quốc tế cao

1.2.Sự cần thiết khách quan và tác dụng của tái bảo hiểm.

Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, bảo hiểm ngày càng trởthành một nhu cầu không thể thiếu đợc trong đời sống kinh tế xã hội của mỗiquốc gia Tuy nhiên, trong quá trình kinh doanh bảo hiểm các công ty thờngxuyên bị đe doạ phá sản do các nguyên nhân sau:

- Đối tợng tham gia có giá trị quá lớn mà khả năng tài chính của công

ty có hạn

- Những tổn thất lớn xảy ra liên tục trong một thời gian ngắn

- Xác định phí bảo hiểm không chính xác gây ra hiện tợng thu không đủ

bù chi

-Đối tợng tham gia bảo hiểm hoạt động ở địa bàn quá xa công ty không

đủ khả năng kiểm soát và quản lý rủi ro cũng dễ bị phá sản

Trang 5

Đứng trớc những khó khăn đó, việc đa ra hình thức nhằm bảo vệ cáccông ty bảo hiểm đặt ra Xuất hiện hình thức là đồng bảo hiểm tức là nhiềucông ty cùng bảo hiểm cho một đối tợng tham gia, tuy nhiên hình thức này cóhai nhợc điểm lớn đó là:

- Việc ký kết hợp đồng thờng bị kéo dài mất hết cơ hội kinh doanh

- Nếu tổn thất xảy ra, rất khó tập trung bồi thờng dẫn đến tình trạng đốitợng tham gia bảo hiểm dễ nghi ngờ khả năng tài chính của công ty bảo hiểm.Chính vì vậy cần có hình thức thích hợp hơn, đó chính là tái bảo hiểm, tronghình thức này công ty hiểm ban đầu là công ty gốc (hay công ty nhợng tái bảohiểm) các công ty còn lại là các công ty tái bảo hiểm hay công ty nhận tái bảohiểm

Tái bảo hiểm có bốn tác dụng chủ yếu sau:

- Phân tán rủi ro nhanh để tránh phá sản góp phần ổn định tài chính chocông ty gốc

- Góp phần làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nớc và tăng ngoại tệcho các quốc gia

- Công ty gốc còn nhận đợc một tỷ lệ phần trăm hoa hồng nhất địnhtính trên phí tái bảo hiểm đồng thời nó còn tăng uy tín cho công ty gốc

- Tái bảo hiểm ra đời còn góp phần thực hiện đờng lối kinh tế đối ngoạicủa các quốc gia

Nh vậy, sự ra đời của tái bảo hiểm là một tất yếu khách quan nhằm mục

đích thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của thị trờng bảo hiểm đầy triển vọng củacác quốc gia nói riêng và thế giới nói chung

2.Bảo hiểm hàng không

2.1.Khái niệm về bảo hiểm hàng không

Bảo hiểm hàng không là tổng hợp của bảo hiểm tài sản thân máy bay và bảo hiểm trách nhiệm dân sự trên các điểm chính sau:

1.Bảo hiểm tài sản : Dựa trên các loại rủi ro thông thờng hoặc các

nguy hiểm cơ bản chỉ định cho: Thân máy bay, điều hành bay tự động, các dụng cụ kỹ thuật, radio dẫn đờng và các thiết bị trên máy bay đợc đề cập đến trong ngành.

2.Bảo hiểm trách nhiệm dân sự : Dựa trên tình huống do các hành

động ngoài ý muốn, những khiếm khuyết dẫn đến thơng tích hoặc tổn hại

đến tài sản của hàng không và của ngời thứ ba.

Trang 6

2.2.Sự cần thiết của bảo hiểm hàng không

Có thể nói rằng hoạt động bảo hiểm cho ngành hàng không là rất cầnthiết, điều đó xuất phát từ ba nguyên nhân sau:

2.2.1.Giá trị bảo hiểm của các đối tợng trong ngành hàng không rất lớn

Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II, công nghiệp Hàng không vàngành vận chuyển Hàng không dân dụng phát triển cực kỳ nhanh chóng Từloại máy bay hai động cơ, sức chở không quá 20 hành khách, đã đợc thay thếbằng loại máy bay bốn động cơ, rồi máy bay phản lực, và ngày nay xuất hiệncác loại máy bay phản lực khổng lồ bay với tốc độ siêu âm, khả năng chởkhách lớn và đặc biệt giá trị cao tới hàng triệu USD Tình hình giá cả máy baytăng lên không ngừng biểu hiện vốn rất lớn mà các hãng sản xuất máy bay,các nhà điều hành bay và các tổ chức tài chính đang đầu t vào lĩnh vực côngnghiệp Hàng không và vận chuyển hàng không dân dụng chẳng hạn loại máyBoeing 747 tốc độ kinh tế nhất 600 dặm/giờ, sức chở trên 400 khách, giá trịhàng trăm triệu USD/chiếc Tuy nhiên, đối với hoạt động bảo hiểm hàngkhông Việt Nam, để bảo đảm cho hoạt động bình thờng của ngành hàngkhông, ngoài máy bay còn cần rất nhiều yếu tố nh đờng băng, sân đỗ, thiết bịphục vụ hạ cất cánh, thiết bị bảo đảm an toàn của sân bay, hệ thống điều hànhchỉ huy bay, hệ thống cung cấp nhiên liệu cho máy bay, hệ thống kho tàngcung cấp phụ tùng cho máy bay…mà hầu hết đều phải nhập của nmà hầu hết đều phải nhập của nớc ngoài vớigiá trị rất lớn

Ví dụ: 1ra đa phục vụ cho điều hành bay từ 1-2 triệu USD, xe đặcchủng từ 0,5-1 triệu USD, xe tiếp nhận nhiên liệu 1 triệu USD, hệ thống phùtrợ không vận từ 2-3 triệu USD, máy bay loại B747- 400 là 150 triệu USD,B767-300 là 85 triệu USD, A320 là 45 triệu USD…mà hầu hết đều phải nhập của n

Nh vậy giá trị bảo hiểm của các đối tợng bảo hiểm trong ngành hàngkhông rất lớn Do vậy, nếu xảy ra tai nạn thì hậu quả không thể lờng trớc đợc,chỉ cần một vụ tai nạn máy bay xảy ra cũng đủ làm một hãng Hàng không phásản Tuy nhiên thực tế cho thấy rằng các tai nạn máy bay vẫn xảy ra, dù là rất

ít Thờng là các hãng hàng không tai nạn dẫn đến tổn thất toàn bộ cả ngời vàtài sản, nếu tính trung bình mỗi máy bay chuyên chở 100 hành khách và giátrị máy bay khoảng 4 triệu USD thì tổng số tiền ớc tính bồi thờng lên tới 50-60triệu USD/01 vụ tổn thất

Hơn nữa, hành khách đi trên một chuyến bay thờng mang nhiều quốctịch khác nhau, do vậy mức thu nhập của các hành khách cũng khác nhau rấtnhiều và tất nhiên các phong tục, tập quán, luật lệ các nớc hành khách mangquốc tịch cũng khác nhau Mỗi khi có tổn thất về hàng không mà đặc biệt là

Trang 7

các tổn thất liên quan đến hàng không thì vấn đề này cần phải đợc lu ý thích

đáng, có nh vậy mới tạo điều kiện cho việc giải quyết hậu quả một cách nhanhchóng, chính xác

2.2.2.Bảo hiểm hàng không đảm bảo an toàn xã hội

Trong nền kinh tế thị trờng, việc tham gia bảo hiểm cho hoạt động kinhdoanh là rất cần thiết, không chỉ vì sự an toàn của bản thân ngời kinh doanh

mà còn vì sự an toàn của xã hội, nhất là kinh doanh trong lĩnh vực hàngkhông Vì phí bảo hiểm hàng không cùng các loại hình bảo hiểm khác đợc tậptrung vào cơ quan bảo hiểm hình thành quỹ tập trung lớn có khả năng bồi th -ờng kịp thời cho ngời đợc bảo hiểm mà ngân sách nhà nớc không phải cấpkinh phí để tham gia giải quyết

2.2.3 Bảo hiểm hàng không đảm bảo ổn định kinh doanh của hãng hàng không.

Trên thực tế, hàng năm các hãng vận chuyển tham gia bảo hiểm chỉ

đóng một số kinh phí bảo hiểm nhỏ để góp phần vào quỹ nhà nớc, khi xảy ratổn thất thuộc trách nhiệm của mình, các hãng vận chuyển không phải bỏ ramột số tiền lớn đột xuất để bồi thờng Cách đóng phí này kinh tế hơn nhiều sovới loại lập quỹ dự trữ của từng loại vận chuyển vì qui mô nhỏ không tự đápứng đợc khi có tổn thất xảy ra Hơn nữa việc tham gia bảo hiểm tạo nên cơ cấugiá cớc vận chuyển ổn định vì hãng vận chuyển đã tính giá phí bảo hiểm vàogiá thành vận chuyển từ đầu năm Khi có tổn thất xảy ra, công ty bảo hiểmthay mặt chủ phơng tiện giải quyết bồi thờng cho ngời bị thiệt hại, hãng vậnchuyển hàng không phải điều chỉnh giá cớc tăng lên do tai nạn xảy ra, điều đógóp phần ổn định kinh doanh cho các hãng hàng không Nh vậy, sự ra đời vàphát triển của công tác bảo hiểm hàng không làm giảm đáng kể nguy cơ phásản căn bệnh lây truyền nguy hiểm vốn có của nền kinh tế thị trờng

2.3.Các loại hình bảo hiểm trong lĩnh vực Hàng không dân dụng

Bảo hiểm hàng không là một loại hình khá phức tạp liên quan đến nhiềurủi ro và phạm vi trách nhiệm khác nhau (bảo hiểm tài sản, con ngời và tráchnhiệm dân sự) Hiện nay trên thế giới trong lĩnh vực bảo hiểm hàng không đốitợng tham gia bảo hiểm gồm:

2.3.1.Bảo hiểm thân máy bay

Là một dạng của bảo hiểm tài sản, công ty bảo hiểm có trách nhiệm bồithờng tổn thất toàn bộ hoặc tổn thất bộ phận của thân máy bay do tai nạnhoặc rủi ro bất ngờ gây ra (trừ những nguyên nhân thuộc phần loại trừ quy

định trong quá trình bảo hiểm hàng không) Đối với loại bảo hiểm này thờng

Trang 8

quy định tỷ lệ % trên giá trị bảo hiểm hoặc ấn định một số tiền nhất định đốivới mỗi vụ tổn thất.

2.3.2.Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của hãng Hàng không đối với hành khách, hành lý, hàng hoá, bu kiện và t trang của hành khách:

Đây là loại bảo hiểm trách nhiệm theo luật định (luật quốc tế hay luậtquốc gia) Công ty bảo hiểm sẽ bồi thờng những khoản tiền mà các hãng Hàngkhông (theo luật áp dụng) do gây thơng vong cho hành khách khi họ đang lênxuống máy bay hoặc đang trong quá trình bay hoặc gây thiệt hại đối với hành

lý, hàng hoá, bu kiện, nhận chuyên chở Đối với loại bảo hiểm này tráchnhiệm của công ty bảo hiểm không vợt quá trách nhiệm bảo hiểm quy địnhtrong giấy chứng nhận bảo hiểm

Loại hợp đồng này không áp dụng đối với nhân viên tổ bay khi họ đitrên máy bay với t cách phục vụ chứ không phải hành khách và cũng không ápdụng đối với thiệt hại (về ngời và tài sản) liên quan đến ngời thứ ba

2.3.3.Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của hãng hàng không đối với

ng-ời thứ ba.

Là loại bảo hiểm dân sự theo luật định Công ty bảo hiểm sẽ bồi thờngthiệt hại (về ngời và tài sản) mà ngời đợc bảo hiểm có trách nhiệm đợc bồi th-ờng do máy bay hoặc bất kỳ ngời nào, vật thể nào từ trên máy bay rơi xuốnggây thiệt hại cho ngời thứ ba trên mặt đất Trách nhiệm này cũng bao gồm cảthiệt hại đối với máy bay và hành khách trên máy bay đó đang bay trên không.Loại bảo hiểm này không áp dụng đối với hành khách đi máy bay và nhânviên của hãng Hàng không Hiện nay trên thế giới giới hạn trách nhiệm củahãng Hàng không đối với ngời thứ ba theo trọng lợng cất cánh của máy bay,nhất là máy bay đang hoạt động trên lãnh thổ của nớc khác

2.3.4.Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ sân bay và ngời điều hành sân bay:

Đây là loại hình bảo hiểm theo luật định Công ty bảo hiểm sẽ bồi ờng những khoản tiền mà ngời đợc bảo hiểm phải trả do phát sinh trách nhiệmcủa họ trong quá trình hoạt động của sân bay đối với :

th Tổn thất về ngời và tài sản của ngời thứ ba trong khu vực quy định dohoạt động của sân bay hoặc nhân viên của ngời đợc bảo hiểm gây ra (bao gồmcả việc điều hành máy bay hạ cánh hoặc cất cánh)

- Tổn thất về ngời và tài sản do việc cung ứng lơng thực và thực phẩm

do các loại sản phẩm khác gây ra

Trang 9

Loại bảo hiểm này không áp dụng đối với thiệt hại về ngời và tài sảncủa nhân viên của ngời đợc bảo hiểm.

2.3.5.Bảo hiểm mất khả năng sử dụng

Công ty bảo hiểm sẽ bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm (hãng Hàngkhông) phần thu nhập bị mất do máy bay bị tai nạn bất ngờ phải ngừng bay đểsửa chữa Loại bảo hiểm này chỉ áp dụng đối với trờng hợp máy bay bị tổnthất bộ phận Trờng hợp máy bay bị tổn thất toàn bộ, ngời đợc bảo hiểmkhông đợc hởng quyền bồi thờng này vì họ đã đợc bồi thờng trong bảo hiểmthông thờng (bảo hiểm thân máy bay) một số tiền đủ để mua lại một máy baytơng tự do vậy không bị mất thu nhập trong loại bảo hiểm này, ngời đợc bảohiểm và công ty bảo hiểm sẽ thoả thuận một mức bồi thờng theo ngày hoặctuần và một mức miễn bồi thờng theo ngày (thờng là 7-10 ngày) Bảo hiểm chỉ

có hiệu lực trong một thời gian nhất định (thờng là từ 10 –15 tuần) là khoảngthời gian bình thờng để sửa chữa và kết thúc trong khoảng thời gian nhất địnhtrong hợp đồng

Theo nguyên tắc của loại bảo hiểm này số tiền bảo hiểm có thể gần đủ

để thuê ngắn hạn một máy bay khác Trong trờng hợp này, công ty bảo hiểm

sẽ thanh toán mọi chi phí liên quan đến việc bảo dỡng máy bay trừ nhữngkhoản buộc phải chi trong mọi trờng hợp (dù có tai nạn hay không)

2.3.6.Bảo hiểm trách nhiệm đối với sản phẩm:

Hợp đồng này thờng đợc ký với hãng sản xuất máy bay nhằm bảo vệcho những rủi ro là hậu quả do lỗi của ngời đợc bảo hiểm trong quá trình đợcthiết kế, sửa chữa thay thế phụ tùng sản xuất Công ty bảo hiểm có tráchnhiệm phải trả do hậu quả của lỗi tay nghề hoặc lỗi của nhà sản xuất gây ra:

- Chết hoặc bị thơng đối với hành khách,

- Thiệt hại về ngời và tài sản đối với ngời thứ ba

- Mất khả năng sử dụng máy bay…mà hầu hết đều phải nhập của n

Trách nhiệm này phát sinh không chỉ do lỗi hay sơ suất trong quá trìnhsản xuất mà cả trong quá trình bán sản phẩm

2.3.7.Bảo hiểm tai nạn nhân viên tổ bay

Là loại bảo hiểm tai nạn đối với đối tợng là hành khách hoặc nhân viên

tổ bay Hợp đồng bảo hiểm này thờng là hợp đồng tự nguyện đợc ký kết trựctiếp giữa ngời đợc bảo hiểm với công ty bảo hiểm hoặc ký thông qua cơ quanchủ quản hoặc cơ quan vận chuyển trong đó thoả thuận số tiền bảo hiểm.Công ty bảo hiểm sẽ bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm toàn bộ số tiền bảo

Trang 10

hiểm trong trờng hợp chết và bồi thờng theo tỷ lệ thơng tật và các chi phí kháctrong trờng hợp bị thơng.

2.3.8.Bảo hiểm rủi ro chiến tranh.

Trớc đây bảo hiểm rủi ro chiến tranh đợc bảo hiểm trong hợp đồng bảohiểm thông thờng và ngời đợc bảo hiểm chỉ phải nộp thêm một tỷ lệ phí nhất

định Ngày nay, thị trờng bảo hiểm thế giới đã thống nhất loại bỏ rủi ro chiếntranh ra khỏi hợp đồng bảo hiểm thông thờng và sẽ bảo hiểm theo một hợp

đồng bảo hiểm riêng

2.3.9.Bảo hiểm rủi ro bắt cóc và chiếm đoạt :

Cũng nh rủi ro chiến tranh, rủi ro bắt cóc và chiếm đoạt máy bay cũng

bị loại trừ ra khỏi hợp đồng bảo hiểm thông thờng và đợc bảo hiểm riêng với

điều kiện đặc biệt Hợp đồng này chỉ có hiệu lực sau một khoảng thời giannhất định để có thể khẳng định rằng : máy bay sẽ không đợc hoàn trả lại chongời đợc bảo hiểm

Ngoài ra còn tồn tại các dạng bảo hiểm khác nhau trong ngành Hàngkhông trên thế giới nh: bảo hiểm mất khả năng bay cho phi công và nhân viêncông tác trên không, bảo hiểm cuống vé cho hành khách, bảo hiểm lợi nhuậncho các hãng Hàng không

3.Tái bảo hiểm hàng không

3.1.Khái niệm về tái bảo hiểm hàng không

Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về tái bảo hiểm song khái

niệm đơn giản nhất, dễ hiểu nhất tái bảo hiểm là sự bảo hiểm cho những rủi ro

mà công ty bảo hiểm này gánh chịu cho công ty bảo hiểm khác Nói cụ thểhơn tái bảo hiểm về cơ bản là một phơng thức mà trong đó các công ty bảohiểm (công ty bảo hiểm gốc) chuyển một hay nhiều phần rủi ro cho một haynhiều công ty bảo hiểm khác (công ty nhận tái bảo hiểm)

Tái bảo hiểm hàng không với t cách là một bộ phận của tái bảo hiểm

Nó đợc ra đời để phân tán rủi ro và giảm trách nhiệm bồi thờng của các công

ty bảo hiểm gốc trong trờng hợp có tổn thất xảy ra trong quá trình hoạt độnghàng không gây ra, đảm bảo số tiền bồi thờng không vợt quá khả năng tàichính của công ty

3.2.Sự cần thiết của tái bảo hiểm hàng không

Về mặt lý luận, mỗi công ty bảo hiểm đều đợc thành lập với một số vốnnhất định do vậy khả năng nhận bảo hiểm cho một rủi ro nào đó hoàn toàn bị

Trang 11

giới hạn trong số vốn của công ty Nhng trong quá trình hoạt động kinh doanhcông ty có thể nhận đợc những yêu cầu bảo hiểm vợt quá xa khả năng tàichính của mình, trong nền kinh tế thị trờng sự cạnh tranh ngày càng trở nêngay gắt nên việc xác định của công ty không đợc phép chậm trễ, đồng thờicông ty cố gắng duy trì mối quan hệ tốt với khách hàng Nhờ có tái bảo hiểm

mà công ty bảo hiểm có thể đảm đơng đợc dịch vụ vợt quá khả năng tài chínhcủa mình đồng thời có thể khai thác đợc sự giúp đỡ từ phía công ty tái bảohiểm đối với lĩnh vực mới, nghiệp vụ mới

Trong thực tiễn, đặc trng của nghiệp vụ bảo hiểm hàng không là các

đơn vị rủi ro đợc bảo hiểm thờng có giá trị rất lớn, vợt quá khả năng tài chínhcủa các công ty bảo hiểm gốc Chẳng hạn nh chỉ có hợp đồng bảo hiểm tráchnhiệm giới hạn có trờng hợp lên tới 1 tỷ USD cho một vụ tổn thất, nh vậy khi

có một tai nạn xảy ra, tổn thất có thể lên tới hàng trăm triệu USD, thậm chítrên 1 tỷ USD Mặt khác tổn thất về hàng không mang tính quốc tế cao bởi lẽkhách hàng đi trên một chuyến bay thờng mang các quốc tịch khác nhau nêncông ty bảo hiểm không đủ khả năng để kiểm soát và quản lý rủi ro nên cầntái bảo hiểm tránh phá sản Tuy tai nạn xảy ra rất ít song phần lớn thờng là tổnthất toàn bộ cả ngời và tài sản làm trách nhiệm bồi thờng của công ty bảohiểm rất lớn và tăng đột biến Chính vì vậy tái bảo hiểm cần phải tốt thì mới

có thể giúp công ty tránh đợc nguy cơ phá sản trớc những rủi ro xảy ra

Một đặc điểm nữa của bảo hiểm hàng không dẫn đến việc cần thiết phảitái bảo hiểm là đối tợng tham gia bảo hiểm là rất khác nhau, chẳng hạn nh đốitợng bảo hiểm có thể là thân máy bay, con ngời, hàng hoá, việc định phí màkhông chính xác thì cũng sẽ dẫn đến thu không bù đợc chi, do đó cần phải táibảo hiểm

3.3.Vai trò của tái bảo hiểm

3.2.1.Đối với nền kinh tế quốc dân

Nghiệp vụ tái bảo hiểm làm tăng thêm khả năng nhận bảo hiểm của thịtrờng bảo hiểm trong nớc Nh vậy, ngời đợc bảo hiểm sẽ không phải lo lắng vềviệc tìm công ty bảo hiểm nớc ngoài để mua bảo hiểm Điều này giúp chohoạt động kinh tế trong nớc phát triển và hạn chế việc chuyển ngoại tệ ra nớcngoài, hơn nữa còn tăng thu ngoại tệ thông qua việc bán bảo hiểm cho các cánhân và công ty nớc ngoài

Hoạt động tái bảo hiểm diễn ra giữa nhiều tổ chức tái bảo hiểm củanhiều nớc Nh vậy, một thiệt hại có tính thảm hoạ ở một nớc, qua tái bảo hiểm

Trang 12

sẽ đợc bù đắp từ những khoản tiền bồi thờng mang tính quốc tế Tổn thất đợcphân tán trên một phạm vi rộng, việc gánh chịu trở nên dễ dàng hơn.

3.3.2.Đối với ngời đợc bảo hiểm

Ngời đợc bảo hiểm sẽ đảm bảo rằng số tiền tổn thất sẽ đợc thanh toánkhi số tiền bảo hiểm và số tiền tổn thất là quá lớn

Nghiệp vụ tái bảo hiểm sẽ hạn chế xu hớng gia tăng phí bảo hiểm, vìthế không có tái bảo hiểm thì công ty bảo hiểm gốc sẽ phải thu một khoản phíbảo hiểm rất lớn để đề phòng bị phá sản khi có thảm hoạ xảy ra

3.3.3.Đối với công ty nhợng tái bảo hiểm

Tác dụng đầu tiên là tái bảo hiểm giúp cho công ty nhợng tái bảo hiểm

có thể tăng khả năng nhận bảo hiểm và có thể nhận bảo hiểm những rủi ro lớn

mà không cần phải tăng thêm vốn, tức là tăng khả năng ký kết của ngời Bảohiểm, đặc biệt là đối với các công ty mới thành lập, vốn kinh doanh còn hạnchế

Thứ hai, tái bảo hiểm đảm bảo khả năng thanh toán tiền bồi thờng trongtrờng hợp xảy ra những thiệt hại lớn hay những rủi ro mang tính thảm hoạ,chẳng hạn nh một trận bão đánh vào hàng nghìn hợp đồng trong cùng một sự

cố Nhờ đó tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của công ty nhợng táibảo hiểm ổn định hơn

Thứ ba, tái bảo hiểm có thể giúp ngời bảo hiểm sửa chữa tính bất thờng,

đột biến của rủi ro - khả năng sai lệch giữa thực tế và dự đoán mà ngời bảohiểm có đợc qua số liệu thống kê rủi ro từ quá khứ Ngời bảo hiểm cũng cóthể nhận đợc sự t vấn nghiệp vụ từ những nhà nhận tái bảo hiểm

Cuối cùng, sau khi chuyển phần phí tái bảo hiểm cho công ty nhận táibảo hiểm, công ty bảo hiểm gốc còn nhận đợc một khoản tiền hoa hồng chocác dịch vụ mà mình khai thác đợc Nhiều khi đây là yếu tố quan trọng để cáccông ty bảo hiểm gốc quyết định sẽ ký kết hợp đồng tái bảo hiểm với công tytái bảo hiểm nào

II.Các phơng pháp tái bảo hiểm hàng không

1.Phơng pháp tái bảo hiểm tạm thời

Tái bảo hiểm tạm thời hay còn gọi là phơng pháp tái bảo hiểm lâu đờinhất cho đến nay cũng đợc sử dụng khá phổ biến, theo phơng pháp này công

ty bảo hiểm gốc chuyển nhợng cho công ty tái bảo hiểm từng dịch vụ hay từng

đơn bảo hiểm một cách riêng lẻ Công ty tái bảo hiểm về phần mình không cónghĩa vụ phải nhận tái bảo hiểm cho dịch vụ hay đơn bảo hiểm đó Công ty

Trang 13

bảo hiểm gốc cũng có toàn quyền quyết định đối với dịch vụ nào, bao nhiêu

và cho công ty bảo hiểm nào Mặt khác công ty tái bảo hiểm cũng có quyền từchối nhận tái bảo hiểm cho dịch vụ hay chỉ nhận với một tỷ lệ mà họ cho làphù hợp Để tiến hành tái bảo hiểm tạm thời, công ty bảo hiểm gốc phải cungcấp cho công ty tái bảo hiểm tất cả những thông tin có liên quan đến dịch vụ

đợc bảo hiểm Mỗi rủi ro phát sinh, muốn đợc công ty tái bảo hiểm chấp nhậnphải tiến hành một lần thơng lợng và mỗi nghiệp vụ riêng biệt đợc xếp thànhmột hợp đồng tái bảo hiểm riêng biệt

1.1.Thủ tục tiến hành thu xếp một hợp đồng tái bảo hiểm tạm thời

B

ớc 1: Công ty nhợng thông báo cho nhà bảo hiểm một dịch vụ nào đó

mà mình cần tái bảo hiểm dới hình thức bản chào (ship), trong đó có ghi đặc

điểm chính của rủi ro đợc bảo hiểm nh : tên và địa chỉ ngời đợc bảo hiểm, tỷ

lệ phí bảo hiểm, mức giữ lại của công ty nhợng, thủ tục phí tái bảo hiểm cácthông tin về rủi ro đợc bảo hiểm

B

ớc 2: Sau khi nhận đợc bản chào, nhà nhận tái bảo hiểm có toàn quyền

tự do để lựa chọn nhận toàn bộ hay một phần nào đó (tỷ lệ hoặc số tiền) hoặc

từ chối nhà nhận tái bảo hiểm xác nhận phần tham gia, thông thờng bằng cáchghi trực tiếp vào bản thứ hai của bản chào và gửi lại công ty nhợng Tuy nhiên,khó khăn chủ yếu của công ty nhợng là thời gian vì vậy trên thực tế việc xácnhận thờng đợc thông qua điện tín hoặc điện thoại trớc rồi sau đó xác nhậnbằng văn bản để đảm bảo tính pháp lý của hợp đồng

Trớc khi có ý kiến nhận hay khớc từ nhà nhận tái bảo hiểm có thể yêucầu biết thêm về những chi tiết khác để đánh giá những rủi ro mà mình sẽnhận Cuối cùng chỉ khi nào nhận đợc thông báo chấp nhận của nhà nhận táibảo hiểm thì hoạt động tái bảo hiểm tạm thời mới đợc coi là thu xếp xong.Dịch vụ tái bảo hiểm cũng bị động chấm dứt khi hết hạn hợp đồng Tuy nhiên

dù hợp đồng này có đợc tái lập thì không có ý nghĩa là nhận tái bảo hiểm bắtbuộc phải cấp nhận tái bảo hiểm tạm thời cho thời hạn kế tiếp, mà họ cóquyền tự lựa chọn tiếp tục hay từ chối không tham gia tiếp nữa Ngoài ra mọi

sự thay đổi về nội dung, điều khoản trong hợp đồng đã thoả thuận đều phải đ

-ợc thông báo trớc và đ-ợc sự đồng ý của nhà nhận tái bảo hiểm

1.2.Đánh giá về phơng pháp tái bảo hiểm tạm thời

a.Ưu điểm :

- Cho phép công ty bảo hiểm gốc duy trì một cơ cấu dịch vụ và khảnăng vốn có của các nhà tái bảo hiểm

- Cho phép công ty tái bảo hiểm nhỏ với kinh nghiệm hết sức hạn chế

có thể cạnh tranh để nhận dịch vụ lớn nằm ngoài khả năng tài chính của mình,

Trang 14

bởi vì họ có thể sử dụng đợc chuyên môn nghiệp vụ và khả năng vốn có củacác nhà tái bảo hiểm.

- Cho phép công ty bảo hiểm gốc có thể trao đổi dịch vụ nhằm phân tánrủi ro và đảm bảo doanh thu ổn định

- áp dụng phơng pháp tái bảo hiểm này công ty tái bảo hiểm nghiêncứu kỹ lỡng và kiểm tra từng rủi ro riêng lẻ trớc khi quyết định nhận haykhông nhận

b.Nh ợc điểm:

Phơng pháp này đòi hỏi nhiều thời gian và cũng rất tốn kém vì mỗi dịch

vụ phải giải quyết một cách riêng lẻ

- Công ty bảo hiểm gốc phải thu xếp tái bảo hiểm tạm thời trớc khiquyết định nhận một dịch vụ Nên việc quyết định nhận bảo hiểm sẽ bị chậmlại cho đến khi thu xếp xong toàn bộ tái bảo hiểm tạm thời Nh vậy công tybảo hiểm gốc có khả năng phải nhờng dịch vụ đó cho đối thủ cạnh tranh lớnmạnh hơn nhiều hoặc nhận bảo hiểm mà không đợc bảo vệ đầy đủ bằng táibảo hiểm và đôi khi mất thiện chí với khách hàng do chậm trễ

- Trớc khi tái tục, công ty bảo hiểm gốc phải lập lại toàn bộ quy trình

đàm phán trớc khi trao đổi về vấn đề tái tục với vấn đề khách hàng của mìn

- Sự cần thiết phải tiết lộ thông tin về dịch vụ nhận bảo hiểm cho công

ty tái bảo hiểm có thể dẫn đến việc dò rỉ tin tức cho đối thủ cạnh tranh

c.Tr ờng hợp áp dụng ph ơng pháp tái bảo hiểm tạm thời

- Rủi ro nhận bảo hiểm có giá trị lớn vợt quá phạm vi và khả năng củanhững thoả thuận tái bảo hiểm theo hợp đồng cố định cần thiết phải thu xếptái bảo hiểm cho phần vợt này

- Những thoả thuận bảo hiểm theo hợp đồng cố định hiện có của công

ty gốc có thể không áp dụng cho một số rủi ro nào đó nếu công ty bảo hiểmvẫn quyết định bảo hiểm cho những rủi ro đó thì phải tiến hành tái bảo hiểmtạm thời

- Tái bảo hiểm chỉ định theo yêu cầu của khách hàng (ngời đợc bảohiểm) trong số trờng hợp khách hàng lớn của công ty bảo hiểm gốc yêu cầucông ty nhận bảo hiểm cho những tài sản lớn, sau đó tái bảo hiểm phần vợtquá mức giữ lại cho nhà nhận tái bảo hiểm theo yêu cầu của khách hàng

Với tất cả những đặc điểm nêu trên phơng pháp tái bảo hiểm tạm thời

có nhiều mặt giống nh nghiệp vụ bảo hiểm trực tiếp đòi hỏi công ty nhợngphải cung cấp các thông tin nhanh, đầy đủ và chính xác Đồng thời các nhà táibảo hiểm phải có nhiều kinh nghiệm, có trình độ chuyên môn cao và có khả

Trang 15

năng xét đoán rủi ro chuẩn xác kịp thời Mặc dù có những hạn chế nhất địnhnhng lại có thể áp dụng đợc trong những trờng hợp đặc biệt nên phơng pháptái bảo hiểm tạm thời vẫn đợc áp dụng khá phổ biến trong nghiệp vụ bảo hiểmhàng không và tỏ ra rất hiệu quả khi kết hợp bổ sung cho phơng pháp tái bảohiểm theo hợp đồng cố định.

2.Phơng pháp tái bảo hiểm theo hợp đồng cố định

Có thể nói rằng, do tái bảo hiểm tạm thời có một số nhợc điểm nên

ph-ơng pháp tái bảo hiểm theo hợp đồng cố định đã ra đời và phát triển nh là kếtquả của những nỗ lực nhằm tìm ra phơng pháp tái bảo hiểm hiệu quả hơn khắcphục các nhợc điểm của phơng pháp tái bảo hiểm tạm thời

Hợp đồng cố định là sự thoả thuận bằng văn bản giữa công ty bảo hiểmgốc và công ty tái bảo hiểm Theo đó, công ty bảo hiểm gốc thoả thuận sẽ nh-ợng tái bảo hiểm một loại hình dịch vụ nhất định và công tác tái bảo hiểm sẽnhận toàn bộ phần tái bảo hiểm đó, tái bảo hiểm theo hợp đồng cố định tạo ra

sự bảo hiểm này, công ty nhợng có toàn quyền tự do chấp nhận và đánh giáphí bảo hiểm cho những đơn vị rủi ro đợc bảo hiểm yêu cầu mà không cầntham khảo ý kiến của nhà nhận tái bảo hiểm Tuy nhiên, nhà nhận tái bảohiểm sẽ không vì thế mà bị ràng buộc bởi những hành động hoặc sơ xuất củacông ty nhợng đi ngợc lại với quyền lợi của họ

Theo phơng pháp tái bảo hiểm bắt buộc, nhà nhận tái bảo hiểm sẽ hoàntoàn chia sẻ những vận may với công ty nhợng và sẽ chấp nhận thanh toán chophạm vi hợp đồng tái bảo hiểm đã thoả thuận mà công ty nhợng thay mặt họgiải quyết

Đánh giá về ph ơng pháp tái bảo hiểm theo hợp đồng cố định

a.Ưu điểm

- Về phía công ty bảo hiểm gốc, đó là sự chắc chắn do hợp đồng cố

định mang lại Công ty bảo hiểm gốc có thể nhận một dịch vụ và biết chắcchắn rằng họ không phải lo thu xếp tái bảo hiểm cho dịch vụ đó vì nó đã đợc

tự động tái bảo hiểm

- Với phơng pháp tái bảo hiểm theo hợp đồng cố định thì một số lợnglớn các dịch vụ đợc nhợng tái với chi phí thấp hơn nhiều so với phơng pháp táibảo hiểm tạm thời đó, chi phí quản lý của công ty nhợng tái và nhận tái đềugiảm đi Đồng thời, khi thoả thuận, ký kết hai bên đã nhất trí với các điềukiện, điều khoản trong hợp đồng Vì vậy, không cần thiết phải cân nhắc từngrủi ro một, theo phơng pháp này thì tiết kiệm đợc thời gian của công ty tái bảohiểm và không gây chậm trễ cho công ty nhợng

Trang 16

Việc nhận tái bảo hiểm theo hợp đồng cố định cho phép công ty tái bảohiểm nhận đợc nhiều dịch vụ hơn so với việc nhận từng hợp đồng tạm thời,riêng lẻ Với khối lợng dịch vụ lớn nh vậy “Mộtquy luật số đông” đã phát huy đợctác dụng và điều đó có lợi cho việc kinh doanh của công ty Nên công ty táibảo hiểm có điều kiện đẩy mạnh tiến độ khoa học kỹ thuật của ngành bảohiểm bằng việc chấp nhận những điều kiện rủi ro mới.

b.Nh ợc điểm

- Có thể có một số dịch vụ gốc nằm ngoài phạm vi của hợp đồng dophạm vi của hợp đồng tái bảo hiểm cố định thờng bị giới hạn và cần thiết phảithu xếp tái bảo hiểm tạm thời

Trong thực tế, có một số hình thức và phơng pháp tái bảo hiểm cố định,công ty nhợng phải nhợng tất cả gốc kể cả những dịch vụ nhỏ mà họ có thểgiữ lại cho riêng mình Điều này có nghĩa họ phải chuyển phí đi lớn hơn mongmuốn

c.Tr ờng hợp áp dụng : Nên dùng phơng pháp này dới dạng tái bảo hiểmtheo phơng thức số thành hay mức dôi, hoặc dạng tái bảo hiểm phi tỷ lệ theophơng thức vợt mức bồi thờng đảm bảo nghiệp vụ hay vợt mức bồi thờng bảo

đảm tai hoạ lớn

Tuy nhiên, do có nhiều u điểm nên phơng pháp tái bảo hiểm theo hợp

đồng cố định đợc áp dụng khá phổ biến đặc biệt là tái bảo hiểm hàng không

3.Phơng pháp tái bảo hiểm lựa chọn bắt buộc

Nh vậy phơng pháp tái bảo hiểm lựa chọn bắt buộc đợc sự kết hợp củahai phơng pháp tái bảo hiểm là phơng pháp tái bảo hiểm tạm thời và phơngpháp tái bảo hiểm theo hợp đồng cố định Trong thực tế phơng pháp tái bảohiểm lựa chọn bắt buộc là sự thoả thuận theo đó công ty nhợng có quyền lựachọn (chứ không phải là bắt buộc) chuyển nhợng một số rủi ro nhất định vàcông ty tái bảo hiểm có nghĩa vụ (chứ không phải tự ý lựa chọn) phải chấpnhận những rủi ro đợc chuyển nhợng Phơng pháp tái bảo hiểm này không hẳn

là một dạng của phơng pháp tái bảo hiểm cố định vì nó không có đầy đủ củaphơng pháp tái bảo hiểm theo hợp đồng cố định, nhng cũng không thể coi làmột dạng của phơng pháp tái bảo hiểm tạm thời vì công ty bảo hiểm không cóquyền từ chối những rủi ro đợc chuyển nhợng, nghĩa là việc nhận tái bảohiểm của họ mang tính bắt buộc

Đánh giá về ph ơng pháp tái bảo hiểm lựa chọn bắt buộc:

a.Ưu điểm:

Trang 17

- Công ty nhợng tái bảo hiểm không bắt buộc phải nhợng tất cả nhữngdịch vụ mà mình nhận bảo hiểm Họ có thể lựa chọn dịch vụ để chào tái bảohiểm từng phần trách nhiệm vợt quá khả năng giữ lại của mình thay vì phải

đem phân chia toàn bộ phần vợt đó cho các nhà tái bảo hiểm theo hợp đồng cố

định

- Công ty nhận tái bảo hiểm có điều kiện thu phí lớn hơn và có phầncân bằng hơn so với phơng pháp tái bảo hiểm tạm thời

b.Nh ợc điểm :

- Nhà tái bảo hiểm không có quyền từ chối nhận những rủi ro mà công

ty bảo hiểm gốc chuyển cho họ tuy nhiên những rủi ro đó phải phù hợp với nộidung và điều khoản thoả thuận trong hợp đồng

- Khi nhận tái theo phơng pháp lựa chọn bắt buộc, nguồn dịch vụ đa vàokhông thờng xuyên, không đồng đều và tổn thất xảy ra thất thờng

Khi có khá nhiều đơn vị rủi ro có giá trị cao vợt quá khả năng của hợp

đồng cố định sẵn có và cũng cha phải thu xếp hợp đồng cố định mới Nếu đemchào tái từng đơn vị rủi ro thì sẽ rất tốn kém về thời gian cũng nh tiền bạc.Trong những trờng hợp nh vậy, phơng pháp tái bảo hiểm lựa chọn bắt buộcphát huy tác dụng

c.Tr ờng hợp áp dụng: Phơng pháp tái bảo hiểm lựa chọn bắt buộc đợc

áp dụng khi khả năng nhận tái bảo hiểm trong các hợp đồng số thành và mứcdôi không thể đáp ứng đợc hoặc trong trờng hợp các rủi ro có giá trị lớn cácdịch vụ mà hợp đồng tái bảo hiểm số thành và mức dôi không cho phép đa vào100% giới hạn trách nhiệm hợp đồng

III.Hình thức tái bảo hiểm theo tỷ lệ

Trên thực tế, để tiến hành phân tán rủi ro các công ty bảo hiểm và táibảo hiểm thờng vận dụng một cách linh hoạt các phơng pháp tái bảo hiểmkhác nhau do đó có thể chia ra ba nhóm các hình thức tái bảo hiểm là: hìnhthức tái bảo hiểm theo tỷ lệ, phi tỷ lệ và hình thức tái bảo hiểm kết hợp

Tuy nhiên, không phải mọi phơng pháp đều vận dụng mọi hình thức táibảo hiểm, mà tuỳ theo đặc điểm của từng phơng pháp và nghiệp vụ cũng nh

điều kiện cụ thể của công ty mà các hình thức tái bảo hiểm đợc vận dụng chophù hợp Cụ thể nh tái bảo hiểm hàng không do tính chất và đặc thù riêng nênchỉ áp dụng hình thức tái bảo hiểm theo tỷ lệ Do vậy, dới đây sẽ chỉ tập trung

đi sâu vào nghiên cứu hình thức tái bảo hiểm theo tỷ lệ

1.Khái niệm về hình thức tái bảo hiểm theo tỷ lệ

Trang 18

Là hình thức tái bảo hiểm mà trong đó việc phân chia chi phí và tráchnhiệm giữa công ty nhợng và công ty tái bảo hiểm dựa trên cơ sở tỷ lệ thamgia của mỗi bên trên số tiền bảo hiểm Nh vậy, tái bảo hiểm theo tỷ lệ có hai

Trang 19

2.Các dạng chính của hình thức tái bảo hiểm theo tỷ lệ

2.1.Tái bảo hiểm số thành

Là hình thức tái bảo hiểm mà mọi quan hệ giữa công ty nhợng và công

ty nhận tái bảo hiểm đều đợc phân chia theo tỷ lệ nhất định (thờng tỷ lệ phầntrăm), tỷ lệ đó thờng đợc xác định ngay từ khi ký kết hợp đồng việc phân bổphí và trách nhiệm bồi thờng giữa công ty nhợng và công ty tái bảo hiểm đềudựa vào tỷ lệ mà hai bên đã thoả thuận

Hình thức tái bảo hiểm số thành đợc quy định số tiền hạn mức tráchnhiệm nhận bảo hiểm, tức số tiền bảo hiểm tối đa dùng làm hạn mức áp dụngcho hợp đồng tái bảo hiểm

Ta có thể lấy ví dụ minh hoạ cho hình thức tái bảo hiểm số thành nhsau:

Hạn mức tối đa 5.000.000USD

Giữ lại 30%, chuyển tái bảo hiểm 70%

Đơn vị tính:1000USDRủi ro Số tiền bảo

hiểm (STBH)

STBH thuộc tráchnhiệm hợp đồng

1002001.0003.0005.0005.000

30603009001.5001.500

701407002.1003.5003.500

000004.000

Vì khả năng của hợp đồng trên là 5.000.000 USD nên số tiền bồi thờngvợt quá hạn mức hợp đồng là : (4.000.000 USD) sẽ quay trở lại công ty bảohiểm gốc và công ty thờng phải thu xếp tái bảo hiểm tạm thời cho phần này

Để đơn giản, ta giả sử phí tái bảo hiểm là 1%, khi đó tổng số phí thuộchợp đồng số thành sẽ là :

14.300.000 x 1% = 143.000 USD

số phí này sẽ đợc phân chia nh sau :

+ Công ty bảo hiểm gốc : 30% x 143.000 = 42.900 USD

+ Công ty tái bảo hiểm số thành : 70% x 143.000 = 100.100 USD

Cần lu ý rằng số phí 100.100 USD của công ty tái bảo hiểm số thành làcha trừ đi thủ tục phí tái bảo hiểm mà công ty này phải trả cho công ty bảohiểm gốc

Trang 20

Giả sử rủi ro thứ 4 có tổn thất 2.000.000 khi đó số tiền bồi thờng thuộctrách nhiệm của :

+ Công ty bảo hiểm gốc là : 30% x 2.000.000 = 600.000 USD

+Công ty tái bảo hiểm số thành là : 70% x 2.000.000 = 1.400.000 USDHình thức này có đặc điểm là số tiền bảo hiểm mà công ty bảo hiểmgốc giữ lại với mỗi rủi ro là không giống nhau Sở dĩ nh vậy là do tỷ lệ giữ lại

đợc ấn định nh nhau ngay từ khi ký kết hợp đồng, trong khi đó số tiền bảohiểm của mỗi đơn vị rủi ro lại khác nhau

Từ khái niệm và đặc điểm của hình thức tái bảo hiểm số thành có thểthấy những u nhợc điểm sau:

Do vậy nhận tái bảo hiểm theo hình thức này có tính cân đối và có khả năngphân tán rủi ro tốt hơn so với các hình thức tái bảo hiểm khác

- Với công ty nhợng thì hình thức tái bảo hiểm này mang lại lợng thủtục phí cao nhất

Việc phân chia số tiền bảo hiểm theo tỷ lệ nhận ấn định giữa các bên

Do vậy, tái bảo hiểm theo hình thức này đôi khi không hạn chế đợc số tiềntuyệt đối cho công ty bảo hiểm gốc Hơn nữa, vì số tiền bảo hiểm không đồngnhất nên công ty bảo hiểm gốc nhiều khi không đạt đợc mục tiêu giảm hệ sốbiến thiên phần tổn thất thuộc trách nhiệm giữ lại

Trang 21

- Đối với công ty bảo hiểm còn “Mộtnon trẻ” thì việc áp dụng hình thức táibảo hiểm này là rất phù hợp vì hình thức tái bảo hiểm này tạo ra mối quan hệchặt chẽ giữa công ty nhợng và công ty nhận tái bảo hiểm Nên công ty nhợng

có thể nhận đợc từ sự hỗ trợ, t vấn kỹ thuật từ công ty bảo hiểm

2.2.Tái bảo hiểm mức dôi

Tái bảo hiểm mức dôi là hình thức tái bảo hiểm, theo đó công ty bảohiểm gốc giữ lại cho mình một số tiền nhất định, phần vợt quá mức giữ lại sẽchuyển tái cho các công ty tái bảo hiểm Trách nhiệm bồi thờng của các bên

đợc tính toán trên cơ sở số tiền bảo hiểm của mỗi bên gánh chịu trên tổngtrách nhiệm trong hợp đồng

Trong tái bảo hiểm mức dôi, trách nhiệm tối đa của các công ty nhận táibảo hiểm gánh chịu đối với mỗi rủi ro đợc xác định theo bội số của mức giữlại của công ty bảo hiểm gốc và đợc gọi là số lần Một lần chính là mức giữ lạicủa công ty bảo hiểm gốc

Hình thức tái bảo hiểm mức dôi có những u, nhợc điểm sau:

a.Ưu điểm:

- Công ty bảo hiểm gốc có thể tối đa phí giữ lại do chỉ phải nhợngnhững rủi ro có giá trị lớn hơn mức giữ lại

- áp dụng hình thức tái bảo hiểm này công ty nhợng có thể đạt đợc sự

đồng nhất về số tiền bảo hiểm trong cơ cấu nghiệp vụ, do đó giảm đợc số tiềnbồi thờng

h-3.Phí tái bảo hiểm

Phí tái bảo hiểm là khoản tiền công ty nhợng tái bảo hiểm trả cho công

ty nhận tái bảo hiểm để bảo vệ cho những rủi ro mà họ chuyển giao cho công

ty tái bảo hiểm

Về bản chất, phí tái bảo hiểm không có gì khác so với phí bảo hiểmgốc, có nghĩa là nó cũng đảm bảo các yếu tố :

Trang 22

- Kinh nghiệm tổn thất quá khứ và xu hớng đó.

- Những yếu tố khác có thể ảnh hởng đến tổn thất trong tơng lai

- Dự phòng những rủi ro có thể xảy ra trong tơng lai

- Chi phí khai thác, chi phí hành chính và môi giới phí của nhà tái bảohiểm

- Một khoản chi phí thêm để công ty bảo hiểm có lãi trong tơng laiVì nghiệp vụ Hàng không chỉ áp dụng hình thức tái bảo hiểm theo tỷ lệnhng theo số thành nên ta chỉ xem xét phí tái bảo hiểm cho các hình thức táibảo hiểm theo tỷ lệ Do việc phân chia phí giữa công ty gốc và công ty tái bảohiểm đợc tính theo tỷ lệ tham gia của mỗi bên về số tiền bảo hiểm Chẳng hạn,nếu phần tham gia của nhà tái bảo hiểm trên một rủi ro là 40% của giá trị rủi

ro đó thì họ cũng nhận đợc 40% của số phí bảo hiểm và sẽ đóng góp tiền bồithờng vào mỗi vụ tổn thất thuộc rủi ro đó là 40% Tức là phần phí tái bảo hiểm

do nhà tái bảo hiểm nhận đúng nh phần rủi ro họ đảm nhận tính theo tỷ lệ

4.Thủ tục phí tái bảo hiểm

Thủ tục phí tái bảo hiểm là một khoản tiền mà công ty tái bảo hiểm trảcho công ty nhợng khi nhà tái bảo hiểm tham gia nhận hợp đồng tái bảo hiểm

Số tiền này đợc biểu thị bằng một tỷ lệ % của số phí đem tái bảo hiểm Mục

đích của phí tái bảo hiểm là để bù đắp khoản chi phí liên quan đến việc thựchiện các dịch vụ bảo hiểm đợc đem tái bảo hiểm của công ty nhợng và mộtphần đóng góp vào chi phí quản lý của công ty nhợng

Việc tính toán thủ tục phí tái bảo hiểm không có một quy tắc cứng nhắcnào cả mà nó phụ thuộc vào sự thoả thuận giữa các bên tham gia trong hợp

đồng tái bảo hiểm Thủ tục tái bảo hiểm đợc chia làm ba loại là: thủ tục phí cố

định, thủ tục phí theo lãi và thủ tục phí theo thang luỹ tiến

Tuy nhiên, đối với nghiệp vụ tái bảo hiểm Hàng không do đặc tínhriêng nên chỉ áp dụng thủ tục phí cố định Thủ tục phí cố định là một khoảntiền nhà tái bảo hiểm trả cho công ty nhợng đợc biểu thị bằng một tỷ lệ % cố

định của số phí tái bảo hiểm

Nh vậy: mặc dù có nhiều hình thức tái bảo hiểm khác nhau, mỗi hìnhthức đều có u nhợc điểm riêng, tuy nhiên việc chọn hình thức phù hợp là cầnthiết, nếu chọn đợc hình thức thích hợp công ty bảo hiểm sẽ tận dụng đợc hếtkhẳ năng tài chính, kỹ thuật và các điều kiện sẵn có Chính vì vậy, đối vớinghiệp vụ hàng không do đặc tính riêng nên hiện nay chỉ áp dụng hình thứctái bảo hiểm theo tỷ lệ và song song với nó là áp dụng thủ tục phí cố định

Trang 23

IV.Kinh nghiệm của một số nớc

1.ở Thái Lan

Thái Lan là một nớc thuộc khối ASEAN, những năm gần đây đã đạt

đ-ợc nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế Với những điều kiện về địa lý, vănhoá, con ngời rất gần với Việt Nam, Thái Lan có một tiềm năng to lớn về dulịch và là một trong những cửa ngõ (gateway) lớn nhất ở vùng Đông Nam á

Có thể nói Hàng không Thái Lan phát triển ngày càng mạnh mẽ, tuy nhiêntrong thực tế hoạt động của mình Hàng Không Thái Lan đã có một số tổn thất

về máy bay và hành khách Nhờ có vai trò của hoạt động bảo hiểm hàngkhông, Hàng Không Thái Lan đã đứng vững về mặt tài chính mặc dù gặp phảicác tổn thất lớn

Sơ đồ 1: Bảo hiểm – tái bảo hiểm hàng không Thái Lan

: Mối quan hệ trực tiếp

: Mối quan hệ gián tiếp

Sơ đồ cho thấy, từ khi thành lập Công ty Vận tải Hàng không, Hàngkhông Thái Lan đã có bộ phận chuyên trách về bảo hiểm Ban bảo hiểm đợcphép quan hệ trực tiếp với công ty bảo hiểm Thái Lan cũng nh môi giới tái bảohiểm hàng không quốc tế Sau khi đã thống nhất với môi giới bảo hiểm và đợcthị trờng tái bảo hiểm quốc tế chấp nhận và nhận bảo hiểm 100% dịch vụ, Banbảo hiểm đứng ra chọn 1 công ty bảo hiểm Thái Lan để tiến hành cấp đơn bảohiểm theo kết quả đã đàm phán Công ty bảo hiểm Thái Lan sẽ làm nhiệm vụ

t vấn cần thiết cũng nh khi có tổn thất xảy ra, sẽ đứng ra là ngời đại diện pháp

lý cho Hàng không Thái Lan để giải quyết khiếu nại Với cơ chế này Ban bảohiểm Hàng không Thái Lan là cơ quan trực tiếp và thực chất đảm đơng côngtác bảo hiểm hàng không, còn công ty Bảo hiểm Thái Lan chỉ là đại diện vềmặt hình thức đáp ứng yêu cầu của luật pháp

2.ở Singapore

Có thể nói rằng, Hàng không Singapore là một trong những cánh chim

đầu đàn không những của hàng không Châu á mà còn rất có tên tuổi trên thếgiới Ngay từ khi ra đời, Hàng không Singapore đã rất chú ý tới công tác bảohiểm hàng không Công ty BHHK Singapore đợc thành lập năm 1976 và thuộc

Ban BH HK Thái Lan Môi giới bảo hiểm Các nhà nhận tái bảo hiểm

Công ty bảo hiểm

Thái Lan

Công ty bảo hiểm

Thái Lan

Trang 24

Tập đoàn Hàng không Singapore đặt trụ sở tại Singapore Công ty bảo hiểmHàng không Singapore đợc đặt trực tiếp dới sự quản lý của ban giám đốc tập

đoàn Hàng không Singapore và cùng hoạt động với phòng bảo hiểm củaSingapore airlines Từ năm 1976 đến 1990, công ty BHHK Singapore nhậnbảo hiểm các dịch vụ bảo hiểm chung và bảo hiểm hàng không, từ năm 1990chuyên sâu vào bảo hiểm rủi ro phục vụ cho kinh doanh của Tập đoàn Hàngkhông Singapore là chủ yếu Là Công ty thành viên của Tập đoàn Hàng khôngSingapore có vai trò chủ yếu là đầu mối tham gia bảo hiểm cho các hợp đồngbảo hiểm chính về hàng không Các loại rủi ro đều đợc tái bảo hiểm đầy đủ tạicác công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm thông qua Công ty BHHK Singapore.Trong thời gian qua, với việc thực hiện các hợp đồng tái bảo hiểm chung vàcác hợp đồng tự bảo hiểm, Công ty BHHK Singapore đã tự hoàn thiện, hoạt

động tốt và có hiệu quả

Sơ đồ 2: Bảo hiểm tái bảo hiểm hàng không ở Singapore

: Mối quan hệ trực tiếp

: Mối quan hệ gián tiếp

Sơ đồ cho thấy, Công ty BHHK Singapore ngoài việc thực hiện các hợp

đồng bảo hiểm cho Tập đoàn hàng không Singapore, Công ty BHHKSingapore còn có quan hệ trực tiếp với môi giới bảo hiểm tiến hành giám địnhtổn thất, đòi bồi thờng, môi giới bảo hiểm đàm phán trực tiếp với các nhà nhậntái bảo hiểm

Nh vậy qua tham khảo hoạt động bảo hiểm hàng không ở 2 nớc TháiLan và Singapore, trên cơ sở đó chúng ta có thể nghiên cứu vận dụng vào ViệtNam Nhng có thể nói thêm rằng để hoạt động bảo hiểm hàng không ở ViệtNam phát triển ngày mạnh mẽ hoà nhập với xu hớng phát triển chung của thịtrờng bảo hiểm hàng không trên thế giới, đòi hỏi các nhà lãnh đạo Việt Namphải năng động và sáng tạo vận dụng sao cho phù hợp với tình hình thực tế ởViệt Nam

Môi giới bảo hiểm

Các nhà nhận tái bảo hiểm

Các nhà nhận tái bảo hiểm

Công ty BHHK

Singapore

Công ty BHHK

Singapore

Trang 25

Chơng II Thực trạng hoạt động tái bảo hiểm hàng

không ở công ty VINARE

I.KháI quát Tình hình bảo hiểm-tái bảo hiểm hàng không ở Việt Nam

1.Vài nét về thị trờng bảo hiểm tái bảo hiểm hàng không ở Việt Nam

Trớc khi chính phủ ban hành nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm(năm 1993), nhà nớc thực hiện độc quyền trong lĩnh vực bảo hiểm Tái bảohiểm cũng là hoạt động độc quyền nên còn nhiều hạn chế Nghiệp vụ bảohiểm- tái bảo hiểm cho ngành hàng không vẫn còn rất mới mẻ đối với cáccông ty bảo hiểm Do đó, giai đoạn này thị trờng bảo hiểm - tái bảo hiểm hàngkhông hầu nh cha có, phần lớn Bảo Việt vẫn độc quyền trong kinh doanh bảohiểm hàng không và tái bảo hiểm hàng không ra nớc ngoài

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động bảo hiểm và tái bảohiểm đợc mở rộng, do vậy, việc đa dạng hoá thị trờng bảo hiểm – tái bảohiểm là một vấn đề hết sức cần thiết Trớc tình hình đó, ngày 18/2/1993,Chính phủ nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Nghị định 100/

CP quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm làm tiền đề cho việc mở rộng

và phát triển thị trờng bảo hiểm – tái bảo hiểm Việt Nam Nghị định này cóhiệu lực từ 1/1/1994 là nền tảng pháp lý đầu tiên trong lĩnh vực kinh doanhBảo hiểm Đây chính là bớc ngoạt lớn cho hoạt động bảo hiểm và tái bảo hiểm

ở Việt Nam

Việc thực hiện nghị định trên của Chính phủ đã tạo hớng đi mới cho thịtrờng bảo hiểm – tái bảo hiểm hàng không ở Việt Nam Trớc hết là sự thànhlập Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (VINARE) ngày 23/8/1994, mở

đờng cho sự ra đời của hàng loạt các công ty bảo hiểm khác nh Bảo Minh,công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng, công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex,công ty bảo hiểm dầu khí Năm 1995 có thể đợc coi là năm khởi đầu thực sựcủa thị trờng bảo hiểm Việt Nam với đầy đủ ý nghĩa của từ đó

Trong những năm qua việc quản lý Nhà nớc về bảo hiểm – tái bảohiểm hàng không đã đợc tăng cờng thông qua việc ban hành các văn bản kinhdoanh bảo hiểm – tái bảo hiểm hàng không của Bộ Tài Chính

Thị trờng bảo hiểm – tái bảo hiểm hàng không Việt Nam hoạt độngtheo cơ chế thị trờng Việc phát triển tái bảo hiểm hàng không ra thị trờngquốc tế, mở rộng quan hệ hợp tác với các công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm có

Trang 26

uy tín trên thế giới đã tranh thủ đợc sự giúp đỡ về kỹ thuật nghiệp vụ và đảmbảo an toàn kinh doanh Tuy phí tái bảo hiểm cho ngành hàng không chuyểnnhợng ra nớc ngoài ngày càng tăng nhng tỷ trọng của nó so với tổng phí bảohiểm gốc lại giảm đi, bên cạnh đó doanh thu phí nhận tái bảo hiểm cũng tăngchứng tỏ hoạt động tái bảo hiểm ngành hàng không ở Việt Nam đã đi đúng h-ớng Tuy nhiên, chúng ta cần phải tăng cờng quản lý, giám sát hoạt động kinhdoanh bảo hiểm, tái bảo hiểm hàng không để tránh tình trạng cạnh tranh hạphí và chuyển phần lớn dịch vụ tái bảo hiểm ra nớc ngoài.

2.Các bên tham gia thị trờng tái bảo hiểm hàng không ở Việt Nam

Sự đa dạng hoá các loại công ty bảo hiểm đã cho phép thị trờng tái bảohiểm hàng không ở Việt Nam phát triển với đầy đủ các thành viên cần thiếtcho thị trờng điển hình Các công ty tham gia vào thị trờng tái bảo hiểm hàngkhông Việt Nam đợc chia làm bốn nhóm sau:

- Các công ty bảo hiểm gốc

- Công ty tái bảo hiểm

- Môi giới tái bảo hiểm

- Các công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm quốc tế

2.1 Các công ty bảo hiểm gốc

Hiện nay, số lợng các doanh nghiệp bảo hiểm đợc cấp giấy phép tính

đến năm 2002 đã lên tới 18 công ty trong đó có 2 công ty cha khai trơng Sựgóp mặt của các công ty bảo hiểm 100% vốn nớc ngoài và các doanh nghiệpbảo hiểm một bên là đối tác Việt Nam và một bên là đối tác từ các n ớc có nềntài chính và dịch vụ phát triển, đã tạo cho thị trờng bảo hiểm Việt Nam mộtsắc thái mới diện mạo mới năng động hơn, cạnh tranh đã là động lực thúc đẩy

sự năng động của mọi công ty, đôi lúc sự cạnh tranh trong một số lĩnh vực lêntới đỉnh cao và không khoan nhợng Hiện nay, trong số các công ty bảo hiểm

và tái bảo hiểm hoạt động trên thị trờng Việt Nam, ngoài công ty tái bảo hiểmquốc gia Việt Nam và công ty liên doanh môi giới bảo hiểm (Inchibrock), hầuhết các công ty còn lại tham gia vào thị trờng tái bảo hiểm với t cách là công

ty bảo hiểm gốc Hoạt động của họ chủ yếu là nhợng tái bảo hiểm Ngoài BảoViệt các công ty nhợng tái khác đều có điểm chung và mới thành lập từ khi cónghị định 100/CP, vốn và kinh nghiệm còn hạn chế và phải mất nhiều thờigian để ổn định cơ chế tổ chức, cách thức kinh doanh và lựa chọn nghiệp vụphù hợp Do đó nhiều công ty chỉ tham gia một số nghiệp vụ nhất định

2.1.1.Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt)

Trang 27

Có thể nói rằng từ sau khi chính phủ ban hành nghị định 100/CP, số ợng các công ty bảo hiểm tham gia vào thị trờng bảo hiểm Việt Nam ngàycàng tăng làm cho thị phần của Bảo Việt ngày càng giảm Tuy nhiên, với khảnăng tài chính mạnh lại có mối quan hệ mật thiết với các công ty bảo hiểm, táibảo hiểm, môi giới bảo hiểm, có uy tín trên thế giới, Bảo Việt đã nhận bảohiểm cho những công trình có vốn đầu t lớn Hình ảnh của Bảo Việt không chỉ

l-đợc tạo bằng con số phí thu l-đợc Trong những năm qua cùng với việc cung cấpnhững sản phẩm bảo hiểm mới, cải tiến các sản phẩm cũ theo hớng mở rộngphạm vi bảo hiểm phục vụ khách hàng, Bảo Việt tiếp tục chú trọng và đổi mớicông tác bồi thờng Trên thực tế, Bảo Việt là một công ty bảo hiểm gốc thamgia tích cực vào thị trờng tái bảo hiểm nói chung và thị trờng bảo hiểm - táibảo hiểm hàng không nói riêng Bằng khả năng tài chính của mình Bảo Việtthực hiện tốt công tác bồi thờng, hạn chế tổn thất, Bảo Việt còn tham gia vàothị trờng tái bảo hiểm hàng không với t cách là ngời nhận tái bảo hiểm từ cáccông ty bảo hiểm gốc khác trong nớc

2.1.2 Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh)

Cùng với Bảo Việt, Bảo Minh là công ty bảo hiểm gốc thứ hai đợcthành lập từ nguồn vốn ngân sách Nhà nớc với số vốn 40 tỷ đồng

Với chủ trơng đúng đắn cùng sự nỗ lực không ngừng, thị phần của BảoMinh ngày càng tăng trên thị trờng bảo hiểm – tái bảo hiểm Việt Nam Hiệnnay thị phần của công ty đối với nghiệp vụ tái bảo hiểm hàng không là lên tới98-99%

Có thể nói rằng, Bảo Minh là công ty bảo hiểm gốc lớn tham gia vào thịtrờng bảo hiểm - tái bảo hiểm hàng không ở Việt Nam Năm 1996, có một sựkiện nổi bật trong ngành bảo hiểm là việc Bảo Minh trúng thầu đợc phép cấp

đơn bảo hiểm cho hãng hàng không Việt Nam (Vietnam airlines) với tổng chiphí bảo hiểm khoảng 4 triệu USD Theo tính toán nếu Vietnam airline gặp rủi

ro thì mức bảo hiểm tối đa sẽ đợc hởng khoảng 600 triệu USD Vì vậy trongnghiệp vụ này trách nhiệm của Bảo Minh khá nặng nề và tất yếu công ty cầnphân tán rủi ro trên thị trờng tái bảo hiểm Ngoài ra, Bảo Minh cũng nhận táibảo hiểm từ các công ty bảo hiểm trong nớc (qua VINARE) nhằm cân đốidịch vụ

2.2.Công ty Tái Bảo Hiểm Quốc Gia Việt Nam

Trên thị trờng tái bảo hiểm Việt Nam hiện nay chỉ có duy nhất mộtcông ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp là Công ty Tái Bảo Hiểm Quốc Gia ViệtNam (VINARE) Vì vậy, mọi hoạt của thị trờng tái bảo hiểm Việt Nam đều đ-

Trang 28

ợc thể hiện chủ yếu qua hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm của VINARE.Hiện nay, VINARE là công ty tái bảo hiểm tham gia rất tích cực vào thị tr ờngbảo hiểm và tái bảo hiểm hàng không với hai nghiệp vụ chủ yếu nhận tái bảohiểm nghiệp vụ bảo hiểm hàng không và sau đó chuyển nhợng lại tái bảo hiểmcho các công ty bảo hiểm trong nớc cũng nh nớc ngoài.

2.3.Công ty môi giới tái bảo hiểm

Có thể nói, đóng góp không nhỏ vào thị trờng bảo hiểm và tái bảo hiểmViệt Nam là công ty Inchinbrock, công ty này liên doanh giữa Bảo Việt và tập

đoàn AON (Mỹ) Đây cũng là công ty tham gia tích cực vào thị trờng bảohiểm và tái bảo hiểm hàng không Hoạt động chủ yếu của công ty là cung cấpdịch vụ môi giới tái bảo hiểm gồm tính phí bảo hiểm lựa chọn nhà tái bảohiểm …mà hầu hết đều phải nhập của nVề thực chất tập đoàn AON là công ty t vấn và môi giới hàng đầu thếgiới Nh vậy, công ty liên doanh giữa hai đối tác mạnh nh Bảo Việt và AON-Inchinbrock sẽ có lợi thế về vốn cũng nh kinh nghiệm kinh doanh

2.4.Các công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm quốc tế

Nh chúng ta biết rằng, khả năng tài chính cũng nh kinh nghiệm hoạt

động của các doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam còn hạn chếnên bớc đầu việc kinh doanh nhận tái bảo hiểm chủ yếu từ các công ty bảohiểm trong nớc Do vậy, hiện nay các công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm quốc

tế thờng tham gia vào thị trờng tái bảo hiểm ở Việt Nam với t cách là các nhànhận dịch vụ tái bảo hiểm mà thôi

Cũng nh nhiều ngành kinh doanh khác của Việt Nam, đứng trớc xu thếhội nhập của nền kinh tế nớc ta với nền kinh tế thế giới, thông qua hình thứcnớc ta gia nhập các tổ chức AFTA, APEC, WTO đang đặt ra những yêu cầu vàthách thức mới cho ngành bảo hiểm Việt Nam nói chung và lĩnh vực bảo hiểmcho ngành hàng không nói riêng Nhà nớc cũng rất quan tâm đến lĩnh vựcnày- lĩnh vực bảo hiểm đòi hỏi vốn lớn, công nghệ bảo hiểm cao mà các công

ty bảo hiểm trong nớc cha đáp ứng đợc đầy đủ Do đó, Nhà nớc đã có nhữngchính sách bảo hộ các doanh nghiệp bảo hiểm trong nớc trong giai đoạn mớihình thành để các doanh nghiệp này có thời gian chuẩn bị đối mặt với cạnhtranh của các doanh nghiệp bảo hiểm nớc ngoài Cuối năm 2000, Nhà nớc banhành Luật kinh doanh bảo hiểm tạo hành lang pháp lý để các doanh nghiệpbảo hiểm hoạt động và cạnh tranh lành mạnh Tuy nhiên, bên cạnh đó bảnthân ngành bảo hiểm Việt Nam ngay từ bây giờ cần tạo đà cho giai đoạn pháttriển tiếp theo sau chuẩn bị cho mình sức mạnh để đối mặt với một thị trờng tự

do hoá và toàn cầu hoá

Trang 29

3.Khái quát tình hình bảo hiểm hàng không tại Việt Nam trong thời gian qua

3.1.Hoạt động bảo hiểm Hàng Không Việt Nam từ năm 1989 trở về trớc

Ngày 11/07/1917, Toàn quyền Đông Dơng đã quyết định thiết lập sởhàng không Đông Dơng Ngày 2/12/1937, Pháp thành lập sở Hàng không dândụng Đông Dơng và thiết lập các đờng bay quốc tế từ Hà Nội Năm 1951,Công ty Hàng không Việt Nam (air Vietnam) ra đời Theo thời gian NgànhHàng không dân dụng Việt Nam (HKDD VN) đã lớn mạnh về nhiều mặt, mởrộng quan hệ quốc tế và đã khắc phục đắc lực cho công cuộc phát triển miềnbắc, góp phần đấu tranh thống nhất nớc nhà Năm 1980, Tổng cục HKDDVNđã trở thành thành viên chính thức của tổ chức Hàng Không Dân Dụngquốc tế (IACO) Đây là giai đoạn mới đánh dấu sự trởng thành của HKDD

VN và đã từng bớc hoà nhập vào Hàng Không Dân Dụng quốc tế

Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng của ngành đã không ngừng đợc duy trì

và phát triển theo hớng ngày càng hiện đại, số lợng máy bay ngày càng đợctăng cờng và duy trì khả năng khai thác Nguồn năng lực Hàng không đã từngbớc đợc bổ sung, đào tạo và sắp xếp theo chiều hớng ngày càng hợp lý hơn

Bộ máy quản lý nhà nớc và quản lý sản xuất kinh doanh ngày càng đợc củng

cố, phát triển theo hớng hoàn thiện hơn Từng bớc mở rộng quan hệ quốc tế và

đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ mới hiện đại Nhà nớc thay đổi cáchnhìn nhận về ngành HKDD VN Đây là một trong những yếu tố đặt nền móng,chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo của thời kỳ mở cửa

Có thể nói rằng, cùng với sự phát triển của ngành kinh tế quốc dânkhác, từ khi đợc thành lập (năm 1976) ngành HKDD VN đã phát triển nhanhchóng Tuy trực thuộc Bộ Quốc Phòng nhng lại hoạt động trên lĩnh vực dân

sự, không những thực hiện chuyến bay trong nớc mà còn cả thực hiện cảchuyến bay quốc tế Để đáp ứng yêu cầu này, năm 1980 nghiệp vụ bảo hiểmhàng không đã ra đời nhằm góp phần ổn định của ngành Hàng Không DânDụng, góp phần đẩy mạnh nền kinh tế quốc dân

Giai đoạn 1980-1989, nghiệp vụ bảo hiểm hàng không cũng nh hoạt

động khác tồn tại và phát triển trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, mặc

dù đã từng mở rộng phạm vi của mình

3.1.1.Về công tác khai thác bảo hiểm hàng không

Trong hệ thống do có sự hợp tác giữa các nớc xã hội chủ nghĩa, côngtác bảo hiểm hàng không trong giai đoạn này tồn tại và phát triển theo xu h-ớng chung của nền kinh tế Giá trị bảo hiểm của thân máy bay đều quy ra Rúpvới mức chi phí cố định trong suốt cả thời kỳ là 1,75% bất kỳ trong kỳ bảohiểm có tai nạn hàng không

Trang 30

Về bảo hiểm trách nhiệm của nhà chuyên chở ta dựa vào thị trờng bảohiểm của hệ thống t bản chủ nghĩa là chính (chiếm tới gần 90%) Còn lại thamgia hợp tác với các nớc trong hệ thống xã hội chủ nghĩa Phí bảo hiểm tráchnhiệm đợc các nhà đứng đầu nhận bảo hiểm định đoạt một chiều theo sự tínhtoán đơn phơng của họ Bảo Việt cũng nh Hàng không Việt Nam chỉ có thểchấp nhận mức phí do các nhà môi giới đa đến vào một thời điểm sát nút củanăm hợp đồng sắp kết thúc (ngày 31/12/hàng năm).

3.1.1.1.Quy trình bảo hiểm hàng không :

Theo quy trình này hàng năm sau khi nhận các bản câu hỏi về các tiêuchuẩn liên quan đến bảo hiểm hàng không từ các nhà môi giới bảo hiểm, BảoViệt chuyển cho Hàng không Việt Nam từ Bảo Việt, môi giới tái bảo hiểm sẽthông báo cho Bảo Việt một mức phí (phí này đã có các khoản thuế và phí môigiới bảo hiểm) Căn cứ vào mức phí này Bảo Việt cộng thêm một tỷ lệ % nhất

định theo sự tính toán riêng của Bảo Việt và thông báo cho Hàng không ViệtNam thực hiện Về phía hàng không Việt Nam chỉ trả lời các câu hỏi, nhận tỷ

lệ phí bảo hiểm để đóng góp theo các kỳ định trong năm

Với cơ chế trên, cả Hàng không Việt Nam và Bảo Việt chỉ còn cáchchấp nhận các điều kiện phí bảo hiểm do các nhà môi giới đa đến Việc đàmphán để buộc các nhà môi giới giảm phí rất khó khăn Quan hệ quốc tế rất hạnchế chủ yếu diễn ra giữa Bảo Việt và thị trờng bảo hiểm còn phía Hàng khôngViệt Nam hầu nh không có gì

Các loại hình mới chỉ thực hiện cho cho những loại hình cơ bản nh :Bảo hiểm thân máy bay, trách nhiệm pháp lý của nhà chuyên chở đối với hànhkhách, hành lý, hàng hoá bu kiện và ngời thứ ba, bảo hiểm tai nạn nhân viên

tổ bay, còn các đối tợng khác nh bảo hiểm trách nhiệm của chủ sân máy bay,ngời điều hành bay, bảo hiểm trách nhiệm đối với sản phẩm…mà hầu hết đều phải nhập của n cha tiến hành

đợc và nhu cầu của hoạt động Hàng không trong giai đoạn này cũng cha đòihỏi một cách cấp thiết

3.1.1.2.So sánh công tác bảo hiểm hàng không giữa năm 1980 và 1989

1 Số lợng máy bay đợc bảo hiểm 16 chiếc 30 chiếc

2 Loại máy bay đợc bảo hiểm Chủ yếu là các máy

bay nhỏ nh IL14,IL18,TU134,YA

Đa dạng, nhiều loại gồm cả máy bay dân dụng và chuyên dụng

Các nhà nhận tái bảo hiểm

Các nhà nhận tái bảo hiểm

Trang 31

K40,DC3…mà hầu hết đều phải nhập của n

3 Giá trị bảo hiểm thân máy bay 95 triệu VND 3,8 triệu USD

4 Giới hạn trách nhiệm chung cho

các chuyến bay quốc tế

5 triệu USD/1 vụ tổn thất

50 triệu USD/1 vụ tổn thất

5 Giới hạn trách nhiệm chung cho

các chuyến bay trong nớc

10 triệu VND/1 vụ tổn thất

1 tỷ VND/1 vụ tổn thất

6 Giới hạn trách nhiệm riêng đối với

hành khách

3 nghìn VND/1 ngời 5 triệu VND/1 ngời

7 Số tiền bảo hiểm đối với tai nạn

hành khách

2 nghìn VND/ngời 1 triệu VND/ ngời

8

Số tiền bảo hiểm đối với tái bảo

hiểm tai nạn nhân viên tổ bay cho

chuyến bay trong nớc

3 nghìn VND/ ngời 10 triệu VND/ ngời

9

Số tiền bảo hiểm đối với bảo hiểm

tai nạn nhân viên tổ bay cho

chuyến bay quốc tế

3 nghìn VND/ ngời 22 nghìn USD/ ngời

10 Tổng phí bảo hiểm 108 triệu VND 4 tỷ VND

Nh vậy trong giai đoạn này bảo hiểm đã quan tâm chú ý đổi mới giớihạn trách nhiệm và số tiền bảo hiểm cho phù hợp với tình hình biến động giácả ngoài xã hội cũng nh sự phát triển của thị trờng bảo hiểm thế giới Đồngthời với phạm vi hoạt động ngày càng mở rộng và giới hạn trách nhiệm đợcnâng lên số phí bảo hiểm hàng không cũng đợc tăng lên đáng kể

3.1.2.Về công tác bồi thờng :

3.1.2.1.Đối với phần bảo hiểm thân máy bay

Có thể nói rằng, trong giai đoạn từ năm 1989 trở về trớc đã xảy ra 28 vụtai nạn máy bay trong đó tổn thất toàn bộ có 9 vụ chiếm 32% tổng số vụ tainạn: tổn thất bộ phận có 19 vụ chiếm 68% tổng số vụ tai nạn Trong đó dotrục trặc kỹ thuật là 21%, do rủi ro bất ngờ 2%, do sơ xuất của ngời lái 59%,

do thời tiết 18%

Trong nguyên nhân do sơ xuất của con ngời thì số tai nạn do hạ cánhlệch đờng băng chiếm 5/16 vụ Qua thống kê số vụ tai nạn máy bay có xu h-ớng ngày một tăng chỉ tính riêng từ năm 1987-1990 liên tiếp xảy ra 14 vụ máybay, trong đó có tháng xảy ra hai hoặc ba vụ tai nạn máy bay liền

Ví dụ

Tháng 6/1987 xảy ra 02 vụ tai nạn:

- Vụ TU134 A – VNA 120: nổ 02 lốp tại Băng Cốc – Thái Lan

- Vụ TU134 A – VNA 112: bị chìm khung tại Tân Sơn Nhất TP HCM

Tháng 3/1988 xảy ra 03 vụ tai nạn:

- Vụ TU134 A – VNA 102: Hạ cánh chệch đờng băng tại Nội Bài – HàNội

- Vụ TU134 A – VNA 108: Sập càng khi hạ cánh tại Nội Bài – Hà Nội

Trang 32

- Vụ AN2 – VNC 801: Bị cháy tại xởng A75 - TPHCM

Trong 28 vụ tai nạn máy bay xảy ra, có 04 vụ không thuộc trách nhiệmbảo hiểm hàng không 5 vụ tổn thất nhỏ không làm thủ tục bồi thờng, còn lại

19 vụ tai nạn bảo hiểm đã giải quyết bồi thờng 9 vụ với số tiền bồi thờng6.214.284 VND Còn 5 vụ bồi thờng 250.000 rúp và 31.000.000 VND tơng đ-

ơng với 406 triệu VND Nếu so sánh với phí bảo hiểm thân thời gian này tỷ lệbồi thờng thân máy bay là: 80,44 % (tỷ lệ bồi thờng: 3.672.471.769VND/4.106.115.012 VND)

Quá trình tiến hành bảo hiểm cho thấy giá trị bảo hiểm của máy bay

ch-a đợc đánh giá trị thực tế củch-a máy bch-ay bảo hiểm, sch-au các đợt sửch-a chữch-a định kỳhoặc đại tu, giá trị khôi phục của máy bay không đợc tính vào, do vậy xảy ratình trạng tổn thất bộ phận thân máy bay lớn hơn cả giá trị bảo hiểm toàn bộmáy bay

Ví dụ: Vụ cháy máy bay AN2 – VNC801 ngày 16/3/1988 tại xởngA75, máy bay bị cháy nổ, bon sơn, phải cạo và sơn lại, số tiền bồi thờng là 1,2triệu VND Để giải quyết tình trạng bảo hiểm dới giá trị này, nghiệp vụ đã bổsung bảng tỷ lệ cấu thành máy bay trong hợp đồng bảo hiểm đối với trờng hợptổn thất bộ phận thân máy bay

3.1.2.2.Đối với phần bảo hiểm trách nhiệm đối với hành khách, hành lý,hàng hoá

Có thể nói rằng, tuy xảy ra 28 vụ tai nạn máy bay, nhng chỉ có 02 vụliên quan đến tính mạng hành khách, đó là vụ IL18-VNB 196 đâm vào núi tại

Hà Sơn Bình ngày 26/3/1981 làm hai hành khách bị chết và vụ TU134A-VNA

102 bị tai nạn tại Bangkok ngày 9/9/1988 làm 72 hành khách bị chết, 03 hànhkhách bị thơng và 04 nhân viên tổ bay bị chết, 02 nhân viên bị thơng Nh vậy

số vụ tai nạn là một chuyến bay trong nớc và một chuyến bay quốc tế

Đối với hành lý, hàng hoá trên tuyến bay trong nớc phát sinh 34 vụkhiếu nại với trọng lợng hàng hoá bị khiếu nại là 1.0583 kg, tổng số tiền bồithờng phần trách nhiệm trong nớc (gồm cả hành khách hành lý, hàng hoá) là13,3 triệu VND Nếu so với phí bảo hiểm phần trách nhiệm trong nớc thì tỷ lệbồi thờng là 2,7 % (tỷ lệ bồi thờng =13,3 triệu VND/478,9 triệu VND)

Trên chuyến bay quốc tế phát sinh 68 vụ khiếu nại với trọng lợng hành

lý, hàng hoá bị tổn thất 2.576 kg Tổng số tiền đã bồi thờng thì phần tráchnhiệm quốc tế (bao gồm cả hàng hoá và t trang, hành khách, hành lý ) là 781,6triệu VND Trong đó có hơn 4.000 USD, 10.882 Ztoly, 3320 Rúp 8000 Kíp

và 3630 Bath Đã xem xét việc vận chuyển và bốc dỡ tại các đầu sân bay, chỉ

Trang 33

riêng từ năm 1987 đến 1990, số vụ tổn thất do thất lạc hành lý, hàng hoá đãtăng lên đáng kể, chiếm trên 70% trong tổng số vụ tổn thất.

Tuy nhiên, việc quy đổi tiền bồi thờng cho khách trên chuyến bay quốc

tế còn cha hợp lý: quy đổi tiền bồi thờng từ USD sang VND theo tỷ giá quyếttoán nội bộ Do vậy, bảo hiểm đã trình Bộ Tài Chính ban hành thông t số27/TC ngày 10/04/1987 hớng dẫn thanh toán tiền bồi thờng tổn thất hành lý,hàng hoá cho ngời Việt Nam chuyên chở trên chuyến bay quốc tế, đã đáp ứng

đợc một phần nguyện vọng của hành khách đi máy bay của HKVN

Đặc biệt, vụ tai nạn máy bay TU134A-VNA 102 ngày 9/9/1988 tạiBangkok là vụ tai nạn máy bay đầu tiên tại nớc ngoài Đây cũng là lần đầutiên phải bồi thờng vụ tai nạn máy bay liên quan đến trách nhiệm bay quốc tếcủa Hàng không Việt Nam Do vậy bớc đầu còn bỡ ngỡ và cha lờng hết đợctính phức tạp trong việc xét bồi thờng Bảo hiểm đã bàn bạc với cơ quan hữuquan lập các phơng án bồi thờng trình hội đồng Bộ trởng, hớng dẫn các gia

đình nạn nhân làm thủ tục để xét bồi thờng đồng thời đàm phán với các luật scủa các nhà nhận tái bảo hiểm để đạt đợc phơng án bồi thờng tốt nhất cho cácgia đình nạn nhân

Qua việc giải quyết vụ tai nạn máy bay này bảo hiểm hàng không đã rútkinh nghiệm về cách giải quyết tai nạn cũng nh hoàn chỉnh các văn bảnnghiệp vụ để phù hợp với điều kiện nớc ta

3.1.3.Những tồn tại trong cơ chế hoạt động bảo hiểm hàng không từ năm 1989 trở về trớc.

Trong khuôn khổ của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, kinh nghiệmcũng nh khả năng của cán bộ bảo hiểm hàng không, cơ chế tổ chức, chức năngnhiệm vụ của ngành Hàng không bảo hiểm hàng không đã đạt đợc những kếtquả đáng khích lệ, công tác bồi thờng bảo hiểm đã góp phần đắc lực cho hoạt

động sản xuất kinh doanh của ngành Hàng không bảo đảm các chuyến bay

đều đợc bảo hiểm, do vậy khi có tai nạn bất ngờ xảy ra đều đợc bồi thờng theo

đúng giá trị bảo hiểm đã tham gia và đúng giá trị bảo hiểm đã tham gia và

đúng với công ớc vận chuyển Hàng không quốc tế Tuy nhiên, ở giai đoạn nàybảo hiểm hàng không còn một số tồn tại :

3.1.3.1 Bảo hiểm hàng không còn bị động

Bảo hiểm hàng không phụ thuộc vào thị trờng bảo hiểm thế giới

Nh chúng ta đã biết, trong giai đoạn này ở nớc ta tồn tại cơ chế quản lýtập trung quan liêu bao cấp, hơn nữa hoạt động của Bảo Việt mang tính chất làmột cơ quan độc quyền của Việt Nam Với cơ chế này hoạt động của bảohiểm hàng không cũng nằm trong sự ràng buộc và kiểm soát đó, hàng năm

Trang 34

Hàng không Việt Nam có nhu cầu đề nghị Bảo Việt thực hiện bảo hiểm chomình, trên cơ sở đó Bảo Việt sẽ đề nghị nớc ngoài cung cấp phí bảo hiểm, saukhi nhận đợc yêu cầu này thì nớc ngoài sẽ yêu cầu Bảo Việt cung cấp cácthông tin số liệu, cũng nh tình hình hoạt động của Hàng không Việt Nam Căn

cứ vào đó Bảo Việt sẽ quay lại đề nghị Hàng không Việt Nam cung cấp mọitình hình cho đến khi xác nhận tái bảo hiểm, do đó các nhà môi giới bảo hiểmhàng không hiểu rõ, dẫn đến dễ lộ thông tin

Phí bảo hiểm hoàn toàn do nớc ngoài định

Nh chúng ta biết phí bảo hiểm (chủ yếu là phí bảo hiểm về trách nhiệm)của Hàng không thờng đợc gửi vào trung tuần tháng 12 (tháng cuối cùng củanăm bảo hiểm) và Hàng không Việt Nam chỉ còn chấp nhận các yêu cầu củaBảo Việt để đảm bảo cho ngày 01 tháng 01 năm sau phải đợc tái tục bảo hiểmcho mọi máy bay tham gia hoạt động của mình Thực tế cho thấy là, giai đoạn1980-1989 là giai đoạn thị trờng bảo hiểm hàng không trên thế giới hoạt độngrất kém, tai nạn máy bay lớn liên tục xảy ra, phí bảo hiểm trong năm không

đủ bù đắp bồi thờng các vụ tai nạn phát sinh và phải tăng phí bảo hiểm liêntục, Hàng không cũng chịu sự tăng phí bảo hiểm này mà không đợc đàm phán

và hiểu rõ tận tờng về nguyên nhân tăng phí Và nh vậy phí bảo hiểm là hoàntoàn phụ thuộc vào nớc ngoài

3.1.3.2.Bảo hiểm hàng không nắm bắt thông tin ch a kịp thời

Có thể nói rằng, do hạn chế về thông tin trong lĩnh vực kinh tế giữa ViệtNam và thế giới nên các nhà kinh tế thế giới nói chung và các nhà nhận táibảo hiểm hàng không nói riêng ít có điều kiện hiểu về nền kinh tế Việt Nam,hiểu về hoạt động Hàng không Việt Nam Cán bộ làm nghiệp vụ bảo hiểmHàng không Việt Nam không nắm bắt đợc thông tin về thị trờng bảo hiểmhàng không thế giới, thậm chí các tài liệu ở nớc ngoài gửi về cũng không có

đủ điều kiện để đọc (do hạn chế về ngoại ngữ) chẳng hạn Chính vì lẽ đóthông tin của thị trờng bảo hiểm Hàng không thế giới không đợc nắm bắt mộtcách thờng xuyên nên đã hạn chế trong việc đàm phán để giành đợc quyềnbảo hiểm, phí bảo hiểm có lợi cho Việt Nam

Ngợc lại sự hiểu biết số liệu thông tin về Hàng không Việt Nam của cácnhà nhận tái bảo hiểm Hàng không, các nhà môi giới bảo hiểm hàng không rất

ít ỏi, mơ hồ, do vậy họ thờng đa ra số phí bảo hiểm cao và điều kiện bảo hiểmkhông sát với thực tế Hàng không Việt Nam

3.1.3.3.Thời điểm tái tục lại hợp đồng bảo hiểm ch a thích hợp

Trang 35

Hoạt động của bảo hiểm hàng không cũng nh các hoạt động của nềnkinh tế khác ở Việt Nam phát triển theo kế hoạch chung của nhà nớc (đầu nămgiao kế hoạch, cuối năm xét hoàn thành kế hoạch …mà hầu hết đều phải nhập của n) và thời điểm của nămhợp đồng, năm bảo hiểm theo quy định bắt đầu từ ngày 01/01/ và kết thúc vàongày 31/12/hàng năm Điều này nếu áp dụng cho nghiệp vụ bảo hiểm hàngkhông là hoàn toàn không thích hợp, bất lợi cho ta về điều kiện, điều khoản và

tỷ lệ phí bảo hiểm, bởi vì nghiệp vụ bảo hiểm hàng không là nghiệp vụ bảohiểm đối ngoại các dịch vụ hầu nh phải tái bảo hiểm gần 100% trên thị trờngbảo hiểm quốc tế

Trên thực tế hàng năm thị trờng bảo hiểm quốc tế diễn ra rất sôi động,các hãng hàng không lớn trên thế giới thờng lấy các thời điểm tái tục hợp

đồng của họ vào thời điểm cuối năm (quý III và IV) đây là thời điểm làm ănsôi động mà các nhà nhận tái bảo hiểm chú ý nhất trong năm, khả năng nhậntái bảo hiểm của họ thờng đợc quyết định chính trong giai đoạn này, họ có đặcbiệt chú ý đến những hãng hàng không lớn và có nhiều sự u đãi lâu dài Vàothời điểm cuối năm khi các nhà nhận tái bảo hiểm đã lo xong hợp đồng vớicác hãng hàng không lớn (tổng số phí mỗi hợp đồng tới 60-70triệu USD/năm)

Đây là thời điểm khả năng tài chính của họ bị hạn chế, hơn nữa đây cũng làthời điểm có nhiều ngày lễ, ngày nghỉ của các nớc châu âu (thị trờng bảohiểm chính của nghiệp vụ bảo hiểm hàng không thế giới) Trong khi đó đốivới Hàng không Việt Nam là một hãng hàng không nhỏ, tổng phí bảo hiểmhàng năm không cao (trên dới 1 triệu USD một năm) đội máy bay do Liên Xô(cũ) chế tạo đã quá cũ kỹ và lạc hậu, lu lợng hành khách chở trong năm ít (gầnmột triệu hành khách một năm), thời gian tái tục hợp đồng vào ngày 01/01hàng năm là hoàn toàn không thích hợp bất lợi cho ta

3.1.3.4.Việc xác định giá trị của đối t ợng bảo hiểm, mức trách nhiệmch

a phù hợp với thị tr ờng quốc tế

Nh chúng ta đã biết, lực lợng máy bay trong giai đoạn này của Hàngkhông Việt Nam chủ yếu là máy bay của Liên Xô (cũ) sản xuất nên việc quản

lý giá cả, quy định về khấu hao cơ bản hàng năm đã làm cho giá trị của các

đối tợng bảo hiểm không phản ánh đúng, giá trị còn lại rất ít, thậm chí hết cảkhấu hao, trong khi đó vẫn là máy bay đủ điều kiện bay và thậm chí còn có kếhoạch sử dụng lâu dài Mỗi khi có tổn thất xảy ra (nhất là tổn thất bộ phận)giá trị khôi phục của bộ phận đó còn cao hơn giá trị của toàn máy bay đangtham gia bảo hiểm

Trang 36

Bảo hiểm trách nhiệm cho nhà chuyên chở trong thời kỳ này đợc chialàm nhiều mức.

+Trách nhiệm đối với hành khách vận chuyển trên đờng bay quốc tếtheo đúng công ớc Vác sa va (1929) đợc bổ sung bằng nghị định Lahay(1955)

là 250.000 fran vàng tơng đơng 20.000 USD/01 hành khách

+ Mức trách nhiệm đối với hành khách vận chuyển trên các chuyến baytrong nớc (kể cả hành khách là ngời Việt Nam và ngời nớc ngoài) Mức tráchnhiệm nh nhau: 3.000đ/ngời/vụ (1980), 5.000.000đ/ngời/vụ (1989)

+ Mức trách nhiệm đối với ngời thứ ba trên các chuyến bay quốc tế(giai đoạn này Hàng không Việt Nam chỉ bay từ Việt Nam tới Lào,Camphuchia, Thái Lan, Philipin…mà hầu hết đều phải nhập của nvới tần suất một tuần một chuyến) Hàngkhông Việt Nam tham gia bảo hiểm trách nhiệm mức 5 triệu USD/01 vụ tổnthất và nâng dần lên tới 50 triệu USD/01 vụ tổn thất (năm 1990) Đối với đờngbay trong nớc mức trách nhiệm trên Hàng không Việt Nam bảo hiểm từ 10triệu đồng/01 vụ (1980) và 1 tỷ đồng/01 vụ (1990)

So với các nớc trong khu vực, khai thác cùng loại máy bay có số chỗngồi nh nhau thì mức trách nhiệm của ta thấp, thấp hơn thế nữa lại có sự phânbiệt giữa hành khách bay trên đờng bay trong nớc và quốc tế Nh vậy rất phứctạp nếu tai nạn xảy ra trên đờng bay trong nớc có chuyên chở hành khách nớcngoài

3.1.3.5.Việc giải quyết bồi th ờng chậm làm mất uy tín của Hàng khôngViệt Nam và Bảo Việt

Hàng năm Bảo Việt ban hành tất cả điều khoản của quy tắc bảo hiểmhàng không liên quan đến việc giám định và bồi thờng đối với thân máy bay,trách nhiệm của nhà chuyên chở đối với hành khách, hành lý, hàng hoá, bukiện và ngời thứ ba…mà hầu hết đều phải nhập của nđều đợc đề cập đến tơng đối đầy đủ nhng chỉ trênnguyên tắc, còn việc cụ thể hoá để phù hợp với luật lệ, thông lệ quốc tế và cácquy định của Việt Nam thì không đợc nhắc tới Do đó khi có tai nạn, vấn đềgiám định, giải quyết bồi thờng gặp nhiều khó khăn lúng túng, bị động, cácphơng án bồi thờng chắp vá, vận dụng không đúng luật quốc tế Hành khách

đi trên máy bay, các gia đình nạn nhân phàn nàn thắc mắc trong việc giảiquyết bồi thờng chậm, giải quyết không thoả đáng của Hàng không Việt Nam

và Bảo Việt Chẳng hạn, vụ tai nạn máy bay TU 134A-VNA 102 xảy ra tạiBangkok năm 1988 mà mãi tới 4-5 năm sau vẫn cha giải quyết xong, điều này

ảnh hởng đến uy tín của Hàng không Việt Nam và Bảo Việt

Trang 37

3.1.3.6.Phí bảo hiểm cao qua nhiều khâu nhiều trung gian không cầnthiết.

Phí bảo hiểm cho các loại hình bảo hiểm Hàng không hàng năm đợccác nhà nhận tái bảo hiểm mà trực tiếp là những ngời đứng đầu nhận tái bảohiểm hàng không đa ra để áp dụng cho Hàng không Việt Nam thờng rất cao

do không hiểu biết hết về hoạt động của Hàng không Việt Nam, cũng nh sựphát triển trong tơng lai của đội bay Phí bảo hiểm này đợc các nhà môi giớicộng chi phí và thuế và thông báo cho Hàng không Việt Nam Số phí hàngnăm mà Hàng không phải đóng cho Bảo Việt so với số phí thực mà các nhànhận tái bảo hiểm nhận có sự chênh lệch đáng kể, nguyên nhân là phí bảohiểm không có sự thơng lợng giữa Hàng không Việt Nam - Bảo Việt - các nhàmôi giới…mà hầu hết đều phải nhập của nViệc tính toán các khoản thuế, chi phí thờng áp dụng theo tính toánriêng của Bảo Việt mà không có sự quy định của nhà nớc hay cơ quan chủquản của bảo hiểm

3.1.3.7 Trình độ cán bộ nghiệp vụ còn non kém ch a theo kịp sự pháttriển thế giới

Hàng không Việt Nam tham gia bảo hiểm từ năm 1979 với đội ngũ máybay chủ yếu do Liên Xô (cũ) để lại nh DC3- DC6 (các máy bay này do Mỹsản xuất), giai đoạn 1980-1990 khi các nớc trong hệ thống XHCN còn tồn tạinghiệp vụ bảo hiểm thân máy bay hoàn toàn tuân thủ theo tỷ lệ cố định 1,75%trong suốt cả thời kỳ bất kể có tai nạn hay không Nghiệp vụ bảo hiểm tráchnhiệm chủ yếu dựa vào thờng bảo hiểm hàng không quốc tế và nhận phí bảohiểm một chiều từ bên ngoài

Bối cảnh này đã tạo ra một sức ỳ cho cán bộ nghiệp vụ họ làm cho việcthụ động theo lối mòn có sẵn nh những ngời chuyển công văn giấy tờ Bêncạnh đó công tác cán bộ trong nghiệp vụ bảo hiểm của Bảo Việt không đợcchú trọng, cán bộ nghiệp vụ bảo hiểm thay đổi liên tục, cán bộ bảo hiểm củaHàng không Việt Nam chỉ một ngời tồn tại trong nhiều năm Việc đào tạonâng cao trình độ của các nghiệp vụ hầu nh không có, việc trao đổi nghiệp vụvới các đồng nghiệp trên thị trờng bảo hiểm thế giới thực hiện không thờngxuyên chỉ diễn ra vào thời điểm tháng 12 là thời điểm chuẩn bị cho việc táihợp đồng

Hơn nữa, hoạt động bảo hiểm hàng không của các cán bộ nghiệp vụ củaBảo Việt và Hàng không Việt Nam chủ yếu dành nhiều thời gian cho côngtác đề phòng hạn chế tổn thất, công tác bảo hiểm phi Hàng không và công tácgiám định, bồi thờng các tổn thất Chính vì vậy cách thức hoạt động riêng của

Trang 38

nghiệp vụ bảo hiểm hàng không đã dẫn đến tình trạng lúng túng, bị động, lạchậu của cán bộ với sự phát triển của thị trờng bảo hiểm hàng không thế giới.

3.2.Hoạt động bảo hiểm HKVN từ năm 1989 đến nay.

Do chính sách đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam khởi xớng từ Đạihội VI, nền kinh tế nớc ta chuyển sang giai đoạn phát triển theo cơ chế thị tr-ờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa Cùng với sựphát triển của các ngành kinh tế, hoạt động bảo hiểm nói chung có nhữngchuyển biến cơ bản, bớc đầu có những chuyển biến đáng ghi nhận

3.2.1.Về công tác khai thác bảo hiểm hàng không

Trong giai đoạn phát triển toàn diện của ngành HKDD VN từ 1989 đếnnay nói chung cũng nh sự ra đời và lớn mạnh nhanh chóng của hãng Hàngkhông quốc gia Việt Nam nói riêng, bảo hiểm HKVN đã có bớc tiến nhanh vàvững chắc để đáp ứng với yêu cầu chung của HKVN, bảo đảm một mắt xíchkhông thể thiếu đợc trong dây truyền vận tải hàng không

Cùng với sự phát triển chung của ngành, đội bay của HKVN khôngngừng lớn mạnh, cơ sở vật chất, phơng tiện phục vụ kinh doanh sản xuất liêntục đợc đổi mới hiện đại hoá, bảo hiểm hàng không đã có những bớc tiếnnhanh chóng cả về quy mô lẫn chất lợng, về chiều rộng cũng nh chiều sâu, đadạng hoá các loại hình bảo hiểm thích hợp, đáp ứng với yêu cầu thực tiễn,

đồng thời đào tạo lại đội ngũ cán bộ chuyên trách có năng lực và trình độ

Hiện nay, trong xu thế hội nhập ngày càng diễn ra nhanh chóng thì việcbảo hiểm cho hàng không đặc biệt cho máy bay là điều rất cần thiết, nhằmgóp phần nâng cao uy tín của HKVN trong nớc và quốc tế Nhìn chung từ năm

1980 đến nay số lợng máy bay đợc bảo hiểm tăng lên nhanh chóng, đồng thờicác loại máy bay ngày càng trở lên đa dạng hơn, phí bảo hiểm lên tới 70 tỷVND, giới hạn trách nhiệm chung lên đến 800 triệu USD cho các chuyến bayquốc tế, giới hạn trách nhiệm đối với hành khách, 50.000 VND/01 kg hành lýnăm (1991-1992), bảo hiểm HKVN đã chủ động tăng lên 10 triệu VND/01hành khách,100.000VND/01 kg hành lý năm 1993 Sau đó đã áp dụng mứctrách nhiệm theo công ớc Vacsava (1929) đợc bổ sung bằng Nghị định LaHay(1955) cho các chuyến bay trong nớc năm 1994-1995 (20.000 USD/01 hànhkhách, 20 USD/01 kg hành lý, hàng hoá ) điều này đã góp phần nâng cao uytín của HKVN trong nớc và quốc tế

Theo xu hớng chung của Bộ Hàng không quốc tế và trong khu vực, bảohiểm Hàng không Việt Nam đã nghiên cứu và đề suất mức bảo hiểm 100.000SDR (tơng đơng với 150.000 USD/1hành khách) đa vào áp dụng từ ngày

Trang 39

1/1/1996, góp phần đa HKVN sánh ngang với hãng Hàng không tên tuổi trongkhu vực về lĩnh vực bảo hiểm Bảo hiểm HKVN đã xây dựng và duy trì mốiquan hệ chặt chẽ với các công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm, môi giới trong nớc

và quốc tế từ đó có thêm thông tin, cơ sở để so sánh đối chiếu rút ra nhữngkinh nghiệm cần thiết cho các kết quả hợp đồng bảo hiểm hàng không từ năm

1994 đến nay

3.2.2.Về công tác bồi thờng

Đi đôi với việc triển khai nghiệp vụ bảo hiểm nói chung bảo hiểmHKVN cũng rất chú trọng làm tốt công tác giải quyết bồi thờng, hạn chế đềphòng tổn thất, tai nạn máy bay với công ty bảo hiểm cũng nh chủ động giảiquyết bồi thờng về tai nạn hành khách và trách nhiệm đối với hành khách theohợp đồng bảo hiểm cũng nh thơng lợng ngoài hợp đồng, bồi thờng tổn thấtcho HKVN Sau đây là kết quả của bảo hiểm cho ngành hàng không ở ViệtNam từ năm 1995-2002

Bảng 1: Kết quả hoạt động bảo hiểm HKVN từ năm 1995-2002

Tổng phí

1.000USD 4.235 4.951 5.185 4.444 5.656 5.999 6.348 7.072Tiền bồi

Có thể nói cho đến năm 2002 hầu hết các tổn thất lớn xảy ra trong giai

đoạn từ 1995 - 2002 đã đợc giải quyết dứt điểm Cụ thể là tai nạn máy bayTU134 tại Phnom Penh năm 1997 Toàn bộ hành khách đã đợc bồi thờng vàmọi vấn đề phát sinh từ tai nạn này liên quan đến hành khách cũng đã đợc giảiquyết xong trong năm 2002 Việc giải quyết sự cố hạ cánh thô máy bay B767,S7- RGV năm 2000 cũng đã đợc giải quyết ổn thoả, đảm bảo quyền lợi củakhách hàng Trong năm 2002, tình hình tổn thất của Hàng không Việt Nam t-

ơng đối tốt Sự cố lớn nhất trong năm 2002 là sự cố chim va máy bay A321VN- A346 với tổn thất 2,9 triệu USD cũng đợc giải quyết ổn thoả Ngoài ra,còn xảy ra một số tổn thất với số tiền tổn thất là rất nhỏ Nhìn chung trong giai

đoạn từ năm 1995- 2002 hầu hết các vụ đã đợc bồi thờng tơng đối tốt

Ngày đăng: 26/12/2013, 14:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2: Bảo hiểm tái bảo hiểm hàng không ở Singapore - Một số biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động nhận tái bảo hiểm nghiệp vụ bảo hiểm hàng không ở công ty tái bảo hiểm quốc gia việt nam VINARE
Sơ đồ 2 Bảo hiểm tái bảo hiểm hàng không ở Singapore (Trang 29)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w