1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng về rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK của các doanh nghiệp việt nam từ năm 1990 đến nay

77 769 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng về rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK của các doanh nghiệp Việt Nam từ năm 1990 đến nay
Tác giả Trần Thị Phương Thảo
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh doanh xuất nhập khẩu
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 494,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rủi ro, tổn thất xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK là hiện ợng phổ biến do môi trờng kinh doanh XNK có nét đặc trng là luôn tiềm ẩn cácnhân tố làm gia tăng rủi ro nh sự khác

Trang 1

Lời nói đầu

Cha bao giờ trong lịch sử nớc ta, kinh doanh xuất nhập khẩu (XNK) lại cóvai trò quan trọng hơn lúc này Kinh doanh XNK không chỉ đóng vai trò là cầunối cho giao lu kinh tế giữa Việt nam và thế giới mà còn là động lực phát triểncho các lĩnh vực kinh tế trong nớc và nâng cao sức cạnh tranh của toàn bộ nềnkinh tế

Tuy nhiên, kinh doanh XNK bên cạnh những mặt tích cực còn đem theonhiều rủi ro, tổn thất khó dự đoán, lờng trớc Rủi ro, tổn thất trong kinh doanhXNK đa dạng, phong phú, phức tạp song hầu hết xảy ra trong quá trình thực hiệnhợp đồng bởi đây là quá trình dài nhất, bất định nhất và chịu ảnh hởng của nhiềuyếu tố không thể kiểm soát đợc

Rủi ro, tổn thất xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK là hiện ợng phổ biến do môi trờng kinh doanh XNK có nét đặc trng là luôn tiềm ẩn cácnhân tố làm gia tăng rủi ro nh sự khác biệt về luật pháp, văn hoá, tập quán, ngônngữ, chủ thể hợp đồng Ngoài ra, quá trình thực hiện hợp đồng còn gắn chặt vớicác mặt kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thơng nh làm thủ tục hải quan, giao nhận hànghoá XNK, thuê tàu, mua bảo hiểm, khiếu nại, kiện tụng, đây vốn dĩ là nhữngnghiệp vụ phức tạp, chứa đựng nhiều nguy cơ rủi ro, tổn thất

t-Rủi ro, tổn thất thờng xuyên xảy ra kéo theo nhiều thiệt hại, đe doạ tớihiệu qủa của thơng vụ, ảnh hởng tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp vàtoàn bộ nền kinh tế Tuy nhiên, rủi ro, tổn thất và hạn chế rủi ro, tổn thất trongthực hiện hợp đồng XNK còn là phạm trù khá mới mẻ và cha nhận đợc sự quantâm thích đáng của các nhà nghiên cứu cũng nh từ phía các doanh nghiệp Do

đó, nghiên cứu về rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK và cácbiện pháp phòng ngừa hạn chế rủi ro, tổn thất là việc làm vừa có ý nghĩa lý luậnvừa có ý nghĩa thực tiễn cao

Rủi ro, tổn thất trong thực hiện hợp đồng XNK là một mảng đề tài rấtrộng, song trong phạm vi của khoá luận này, ngời viết chỉ có tham vọng nghiêncứu rủi ro, tổn thất giới hạn trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK hàng hoáhữu hình và thực trạng vấn đề này của các doanh nghiệp Việt Nam từ đầu thập kỉ

90 trở lại đây với mục đích tìm ra nguyên nhân rủi ro, tổn thất, từ đó đa ra một

số kiến nghị về hạn chế phòng ngừa rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp

đồng XNK tại Việt nam

Để giải quyết vấn đề này, ngời viết lựa chọn cách tiếp cận từ cái chung

đến cái riêng, từ những vấn đề vĩ mô đến vi mô thông qua một số phơng pháp

Trang 2

nghiên cứu: duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, t duy lôgic, phỏng vấn-điều tra,thống kê, phân tích- tổng hợp, đối chiếu- so sánh.

Nhằm làm sáng tỏ nội dung cơ bản của khoá luận, khoá luận đợc kết cấulàm 3 chơng:

Chơng 1: Lý luận chung về rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp

đồng XNK

Chơng 2: Thực trạng về rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng

XNK của các doanh nghiệp Việt nam từ năm 1990 đến nay

Chơng 3: Một số biện pháp hạn chế rủi ro, tổn thất trong quá trình thực

hiện hợp đồng XNK

Do những hạn chế về hiểu biết và kinh nghiệm của ngời viết, khoá luậnkhông thể không có những thiếu sót Em rất mong nhận đợc sự đóng góp, phêbình của thầy cô, bè bạn và độc giả để vấn đề “Rủi ro, tổn thất trong quá trìnhthực hiện hợp đồng XNK và một số biện pháp hạn chế phòng ngừa” có tác dụngthiết thực hơn nữa đối với hoạt động kinh doanh XNK của các doanh nghiệp Việtnam và rộng hơn là đối với nền kinh tế nớc nhà

Chơng 1: Lý luận chung về rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu

Kinh doanh trong nền kinh tế thị trờng luôn mang trong mình nó nhữngmầm mống rủi ro, tổn thất Xu thế hội nhập kinh tế thế giới và làn sóng tự do hóathơng mại luôn ẩn chứa nhiều “sóng gió lớn” buộc doanh nghiệp phải đối mặtvới sự mạo hiểm Dù không mong muốn rủi ro vẫn tồn tại khách quan và luôn đedọa các nhà kinh doanh Tuy nhiên thực tiễn cho thấy lĩnh vực kinh doanh nào

có độ rủi ro càng cao thì càng có nhiều cơ hội đem lại tỷ suất lợi nhuận lớn vàngợc lại Do đó, hiện nay phổ biến quan điểm chấp nhận rủi ro, mạo hiểm

Nếu nh kinh doanh nói chung luôn mang tính mạo hiểm thì mức độ rủi ro,mạo hiểm lại tăng lên bội phần trong môi trờng kinh doanh XNK

Rủi ro, tổn thất trong kinh doanh XNK chủ yếu xảy ra trong quá trình

Trang 3

thực hiện hợp đồng, bởi thực hiện hợp đồng thờng là khâu dài nhất và cọ xátnhiều nhất với các yếu tố bất định Do đó, muốn quy trình thực hiện hợp đồngXNK triển khai suôn sẻ, doanh nghiệp cần chủ động phòng ngừa rủi ro, giảmthiểu tổn thất Để làm đợc điều này, trớc hết cần trang bị cho mình những kiếnthức cơ bản về rủi ro, tổn thất.

I Rủi ro, tổn thất trong kinh doanh

1 Khái niệm rủi ro, tổn thất

a) Rủi ro

Rủi ro là sự kiện không may mắn Rủi ro hết sức đa dạng, phức tạp, tồn tạidới nhiều hình thái khác nhau và gắn liền với hoạt động sống, sản xuất và kinhdoanh của con ngời Do đó, nhiều năm qua rủi ro đã trở thành đối tợng nghiêncứu của nhiều học giả trong lĩnh vực kinh tế và bảo hiểm trên thế giới Xoayquanh khái niệm rủi ro, hiện đang có rất nhiều quan điểm khác nhau Sau đây làmột số khái niệm phổ biến nhất

Frank Knight, một học giả ngời Mỹ trong lĩnh vực bảo hiểm và quản trị rủi ro, cho rằng “ rủi ro là sự bất trắc có thể đo lờng đợc”( Risk Management,Frank Knight, Prentice Hall, 1998, tr.23) Theo ông, các loại bất trắc không thể

đo lờng đợc thì đợc gọi là bất trắc, còn loại bất trắc có thể đo lờng đợc gọi là rủi

ro Cách tiếp cận này dựa trên cơ sở bất trắc có đo lờng đợc hay không Tuynhiên, trên thực tế không phải bất trắc nào cũng có thể đo lờng đợc hoàn toàn

Một học giả ngời Mỹ khác, ông Allan Willett trong cuốn “ Risk andInsurance”, Mc Graw-Hill, 1995 lại quan niệm rằng “rủi ro là bất trắc cụ thể liênquan đến một biến cố không mong đợi” Nh vậy, theo ông rủi ro liên quan tớithái độ của con ngời Những biến cố ngoài mong đợi thì đợc xem là rủi ro cònnhững biến cố mong đợi không phải là rủi ro

Theo ông Nguyễn Hữu Thân, tác giả cuốn “ Phơng pháp mạo hiểm vàphòng ngừa rủi ro trong kinh doanh”, NXB Thông Tin,1991, thì rủi ro là sự bấttrắc gây ra mất mát thiệt hại Theo cách tiếp cận này, rủi ro phải là bất trắc gâyhậu quả cho con ngời, còn những bất trắc không gây tổn thất thì không phải làrủi ro

Theo giáo trình “Thị trờng chứng khoán”, NXB Giáo dục, 1998 “Rủi ro làmột hiện tợng khách quan, liên quan đến và có thể ảnh hởng tới mục tiêu do conngời vạch ra mà con ngời có thể thấy đợc các hiện tợng khách quan đó nhng lạikhông lợng hóa đợc nó sẽ xảy ra lúc nào, ở đâu và mức độ thiệt hại thực sự đốivới mục tiêu đó”

Nhìn từ góc độ bảo hiểm, rủi ro là những đe dọa nguy hiểm mà con ngời

Trang 4

không lờng trớc đợc và là nguyên nhân trực tiếp gây tổn thất cho đối tợng bảohiểm.

Tóm lại, qua các khái niệm khác nhau về rủi ro của các học giả đề cập ởtrên, ta thấy các khái niệm có sự giao thoa và tồn tại mối liên hệ giữa chúng ởhai vấn đề cơ bản sau:

Một là, các khái niệm đều đề cập tới sự bất định, không chắc chắn và sựngờ vực đối với tơng lai Đây chính là thuộc tính cơ bản nhất của rủi ro

Hai là, các khái niệm đều hàm ý về hậu quả của rủi ro do một hay nhiềunguyên nhân gây ra cho con ngời trong một tình huống cụ thể và hậu quả của rủi

ro chính là tổn thất

Nh vậy, rủi ro không chỉ đơn thuần là mối ngờ vực trong tơng lai mà còn

ám chỉ cả một thực tế là nó có thể kéo theo thiệt hại cho con ngời

Tuy nhiên, các khái niệm nêu trên cha phân biệt rõ sự kiện nguy hiểm đãxảy ra hay cha, rủi ro đã xuất hiện hay chỉ mới ở dạng tiềm ẩn Do vậy, trongkhóa luận này, ngời viết muốn nhấn mạnh tới việc xem xét xem rủi ro đã xảy rahay cha để làm cơ sở đề xuất các biện pháp phòng ngừa hạn chế Cụ thể là đốivới rủi ro cha xảy ra, thì sẽ tập trung vào biện pháp ngăn chặn phòng ngừa, còn

đối với rủi ro đã xảy ra sẽ tập trung vào biện pháp khoanh lại rủi ro, giảm thiểuthiệt hại

Do đó, quan điểm của ngời viết là rủi ro tồn tại ở hai dạng: rủi ro và nguycơ rủi ro

Rủi ro là những sự kiện không may mắn bất ngờ đã xảy ra gây thiệt hại vềlợi ích cho con ngời Lợi ích này tồn tại ở cả hai dạng: vật chất và phi vật chất.Trong hoạt động kinh doanh, rủi ro là một hoàn cảnh trong đó xảy ra sự sai lệchtrái với kết quả mong muốn, gây ra mất mát về tài sản, thua lỗ cho hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp

Những sự kiện bất lợi cha xảy ra nhng có khả năng xảy ra đợc gọi là nguycơ rủi ro Nói khác đi, nguy cơ rủi ro là những rủi ro có khả năng xảy ra

Nguy cơ là tình thế có thể gây ra những sự cố bất lợi, có nghĩa là, nó phản

ánh trạng thái của hoàn cảnh có thể là nguồn gốc tạo ra sự kiện bất lợi

Nguy cơ đợc đặc trng bởi hai tính chất cơ bản:

- Nguy cơ diễn tả khả năng xảy ra sự cố

- Nguy cơ tồn tại với mức độ cao thấp khác nhau tùy thuộc vào các yếu tốtác động tạo ra nguy cơ

Nguy cơ rủi ro phản ánh trạng thái tiềm ẩn và khả năng xảy ra rủi ro.Nguy cơ càng cao thì khả năng xảy ra rủi ro càng lớn Nguy cơ rủi ro luôn tiềm

ẩn song hành với hoạt động kinh doanh và làm cho rủi ro có thể xảy ra bất kỳ lúcnào gây thiệt hại mất mát cho doanh nghiệp Tuy nhiên, nguy cơ rủi ro ít nhiều

Trang 5

mang tính quy luật Nó luôn vận động, biến đổi theo môi trờng tự nhiên, chínhtrị, kinh tế, Do vậy, khả năng làm chủ tự nhiên và khả năng t duy của con ngờicàng cao thì việc nhận dạng, dự đoán nguy cơ rủi ro càng chính xác.

Tổn thất có thể tồn tại dới dạng vật chất nh giá trị, giá trị sử dụng bị mấtmát, các chi phí phát sinh thêm trong hoạt động kinh doanh Tổn thất cũng cóthể tồn tại dới dạng phi vật chất nh mất uy tín kinh doanh, mất bạn hàng

Nhìn từ góc độ tài chính, khi nghiên cứu tổn thất, cần xét xem tổn thất đó

có khả năng lợng hóa đợc thành tiền hay không Có những tổn thất có thể tínhtoán trực tiếp đợc thành tiền nh thiệt hại về tài sản, thua lỗ trong một thơng vụ.Song có những dạng tổn thất, việc lợng hóa thành tiền phụ thuộc vào mức độphát triển của đời sống kinh tế xã hội thông qua quan niệm chủ quan của con ng-ời

Do vậy, tổn thất là những thiệt hại, mất mát về tài sản vật chất, tinh thần,cơ hội mất hởng của con ngời do các nguyên nhân từ rủi ro gây ra

Tóm lại, từ khái niệm về rủi ro và tổn thất có thể dễ dàng nhận thấy rủi ro

- tổn thất là hai phạm trù khác nhau Tuy nhiên, chúng có quan hệ mật thiết vớinhau do tồn tại quan hệ nhân quả giữa rủi ro và tổn thất Rủi ro là nguyên nhân,tổn thất là hậu quả Mối quan hệ này còn thể hiện ở chỗ cả rủi ro và tổn thất đều

có liên quan chặt chẽ với một sự kiện bất lợi, không may mắn Sự kiện này đợcphản ánh qua hai mặt:

 Rủi ro phản ánh mặt chất của sự kiện, thông qua rủi ro xác định đợcnguyên nhân và tính chất nguy hiểm của sự kiện

 Tổn thất phản ánh về mặt lợng của sự kiện, nghĩa là tổn thất phản ánhmức độ thiệt hại, mất mát về vật chất và tinh thần khi sự kiện đã xảy ra

Do đó, cần nghiên cứu đồng thời rủi ro và tổn thất trong mối quan hệ biệnchứng giữa chúng Nghiên cứu rủi ro đồng thời phải nghiên cứu tổn thất bởi quanghiên cứu tổn thất sẽ thấy đợc sự nguy hiểm, tác hại và mức độ nghiêm trọngcủa rủi ro đối với hoạt động kinh doanh Ngợc lại, nghiên cứu về tổn thất phải

Trang 6

đồng thời nghiên cứu rủi ro để biết đợc nguyên nhân nào đã gây ra tổn thất Vìvậy, nghiên cứu mối quan hệ mật thiết giữa rủi ro và tổn thất là điều kiện hết sứccần thiết để đề ra các biện pháp phòng ngừa rủi ro, hạn chế tổn thất trong kinhdoanh.

2 Bản chất rủi ro, tổn thất

Nói tới rủi ro, tổn thất là đề cập tới sự kiện không may mắn, bất ngờ xảy

ra gây thiệt hại về lợi ích cho con ngời Qua nghiên cứu khái niệm về rủi ro, tổnthất có thể rút ra một số tính chất cơ bản nhất của rủi ro, tổn thất nh sau:

Một là, rủi ro, tổn thất tồn tại khách quan Bản chất này xuất phát từ thực

tế là rủi ro khộng phụ thuộc vào ý chí của con ngời do mọi hiện tợng trong môitrờng kinh doanh luôn vận động, biến đổi không ngừng Trong quá trình vận

động, biến đổi, sự vật, hiện tợng có thể đem lại lợi ích nhng cũng có thể gây tác

động có hại Những tác động có hại này buộc nhà kinh doanh phải đối mặt vớirủi ro, tổn thất

Hai là, rủi ro, tổn thất là những sự cố ngẫu nhiên, bất ngờ Đó là sự kiện

mà ta không lờng trớc đợc một cách chắc chắn Con ngời có thể thấy đợc cáchiện tợng khách quan và chủ quan có thể gây ra rủi ro, tổn thất nhng lại khôngthể lợng hóa đợc chắc chắn nó sẽ xảy ra lúc nào, ở đâu

Tuy nhiên, mức độ bất ngờ của rủi ro, tổn thất còn phụ thuộc vào khả năng

dự đoán của con ngời Nếu không dự đoán đợc rủi ro thì khi rủi ro xảy ra, nóhoàn toàn bất ngờ với con ngời Nếu khoa học nhận dạng và dự báo giúp con ng-

ời dự báo đợc chính xác tuyệt đối sự kiện xảy ra khi nào, rủi ro sẽ giảm tới mức

đợc coi là sự kiện chắc chắn và do vậy sự kiện đó không đợc coi là rủi ro mà chỉ

là sự kiện bất lợi

Ba là, rủi ro, tổn thất là sự kiện ngoài mong đợi của con ngời Rủi ro xảy

ra đem theo tổn thất Tổn thất đến lợt nó lại là những thiệt hại mất mát về lợi ích

Do đó, không ai mong muốn rủi ro tổn thất xảy ra với mình Vì thế, rủi ro, tổnthất là sự kiện ngoài mong đợi

Nghiên cứu bản chất của rủi ro, tổn thất giúp chúng ta có cái nhìn đúng

đắn hơn về rủi ro, tổn thất Một sự kiện đợc coi là rủi ro, tổn thất phải đồng thờithỏa mãn cả ba thuộc tính trên Nếu sự kiện đã biết trớc chắc chắn xảy ra hoặcxảy ra nhng không gẩy tổn thất hoặc xảy ra do mong muốn của con ngời thìkhông đợc coi là rủi ro

3 Một số khái niệm có liên quan

3.1 Bất trắc

Bất trắc là những biến cố mà trong đó khả năng xảy ra một sự kiện không

Trang 7

đợc biết Hay nói cách khác, bất trắc là biến cố ngoài mong đợi, không lờng trớc

và không thể dự đoán đợc, là sự nghi ngờ trong việc tiên đoán kết quả tơng laicủa một loạt những hoạt động hiện tại

3.2 Hiểm họa

Hiểm họa là trạng thái có thể gây ra tổn thất nghiêm trọng Hiểm họa ờng nằm ngoài tầm kiểm soát của con ngời Hiểm họa là rủi ro nếu ngời takhông biết trớc, lờng trớc nó một cách chắc chắn

Chi phí rủi ro cũng có thể tồn tại dới dạng chi phí vô hình nh lợi nhuậnmất hởng, thiệt hại mất thời cơ, mất uy tín, mất bạn hàng, mất thị trờng

Trên đây là một số vấn đề cơ bản về rủi ro, tổn thất trong kinh doanh.Nghiên cứu rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK trớc hết phảinghiên cứu rủi ro, tổn thất trong kinh doanh nói chung vì thực chất rủi ro, tổnthất trong thực hiện hợp đồng XNK cũng là rủi ro, tổn thất trong kinh doanh nh -

ng là rủi ro, tổn thất xảy ra trong môi trờng kinh doanh XNK Do đó, nắm vữngkhái niệm về rủi ro, tổn thất trong kinh doanh sẽ là tiền đề cho việc đi sâunghiên cứu rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK

II Quy trình thực hiện hợp đồng XNK

Quá trình thực hiện hợp đồng XNK thông thờng là quá trình lâu dài, phứctạp và trải qua nhiều công đoạn Nó bắt đầu sau khi hợp đồng đợc ký kết và kếtthúc khi các bên đã hoàn thành mọi nghĩa vụ và quyền lợi của mình trong quan

hệ hợp đồng Trong quá trình đó, rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào khi điều kiệnphát sinh rủi ro xuất hiện Do đó, muốn tìm hiểu về rủi ro, tổn thất trong quátrình thực hiện hợp đồng XNK, trớc hết phải nắm vững quy trình thực hiện hợp

đồng XNK

Thực hiện hợp đồng XNK là một quá trình hết sức phức tạp vì các bêntham gia thờng là những chủ thể có quốc tịch khác nhau, có sự xa cách nhau vềmặt địa lý, khác biệt về hệ thống luật pháp, tập quán thơng mại và chính sáchkinh tế đối ngoại Do đó, thực hiện hợp đồng XNK thờng liên quan tới nhiềukhâu công việc hơn thực hiện hợp đồng mua bán trong nớc Tùy vị trí là nhà XK

Trang 8

hay NK mà các khâu công việc phải thực hiện có khác nhau.

Để thực hiện một hợp đồng XK, doanh nghiệp phải tiến hành các côngviệc sau:

 Giục mở L/C và kiểm tra L/C (nếu hợp đồng quy định sử dụng phơngthức tín dụng chứng từ)

 Xin giấy phép XK (nếu mặt hàng XK thuộc diện quản lý Nhà nớc bằnggiấy phép)

 Chuẩn bị hàng XK, thu gom, tập trung hàng hoá, đóng gói bao bì, kẻ kímã hiệu

 Kiểm tra, kiểm dịch hàng hóa ở cấp cơ sở và cấp cửa khẩu

 Thuê tàu hoặc lu cớc ( nếu cần)

 Mua bảo hiểm (nếu cần)

 Làm thủ tục hải quan

 Giao hàng lên tàu

 Làm thủ tục thanh toán quốc tế

 Giải quyết khiếu nại (nếu có)

Để thực hiện một hợp đồng NK, doanh nghiệp thờng phải tiến hành cáccông việc sau:

 Xin giấy phép NK (nếu mặt hàng thuộc diện quản lý nhà nớc bằng giấyphép)

 Mở L/C (nếu hợp đồng quy định thanh toán bằng L/C)

 Thuê tàu hoặc lu cớc (nếu cần)

 Mua bảo hiểm (nếu cần)

 Làm thủ tục hải quan

 Nhận hàng từ tàu

 Kiểm tra hàng hóa - Kiểm dịch và giám định

 Làm thủ tục thanh toán

 Khiếu nại (nếu có)

Tóm lại, trên đây là những bớc cơ bản và quan trọng của quá trình thựchiện hợp đồng XNK Nghiên cứu quy trình thực hiện hợp đồng XNK giúp ta cómột cái nhìn tổng quan về thực hiện hợp đồng XNK để từ đó có thể nhận dạng,phát hiện ra những khâu nào tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao, ở những khâu nào nếurủi ro xảy ra thờng đem lại tổn thất nặng nề và qua đó có thể đề ra các phơng ánphòng ngừa thích hợp

III Rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp

đồng XNK

Rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK là những sự kiện không

Trang 9

may mắn bất ngờ xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng, gây ra thiệt hại, tổnthất, mất mát cho ngời tiến hành hoạt động kinh doanh XNK.

Thực hiện hợp đồng XNK nh đã khẳng định ở trên, là một quy trình phứctạp, đòi hỏi nhiều nỗ lực, cố gắng của các bên tham gia Có thể nói, sự phức tạptrong quy trình thực hiện hợp đồng đã tạo nên một đặc trng hết sức cơ bản củakinh doanh XNK, đó là kinh doanh XNK luôn tiềm ẩn các nhân tố và nguyênnhân làm gia tăng rủi ro tổn thất

1 Rủi ro tổn thất và các yếu tố làm gia tăng rủi ro tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK.

Kinh doanh XNK là hoạt động trao đổi hàng hóa dịch vụ vợt đờng biêngiới quốc gia Thực hiện hợp đồng XNK liên quan mật thiết với toàn bộ các giaodịch giữa các chủ thể có quốc tịch khác nhau, đợc điều chỉnh bởi hệ thống phápluật khác nhau, có trụ sở giao dịch khác nhau, có trình độ chuyên môn hiểu biếtkhác nhau Do đó, có thể nói việc thực hiện hợp đồng XNK có nhiều khác biệt

và mang tính đặc trng hơn so với thực hiện hợp đồng mua bán thông thờng Với

ý nghĩa này, quá trình thực hiện hợp đồng có thể đem lại cho doanh nghiệp kinhdoanh XNK nhiều cơ hội mới và kèm theo đó là những nguy cơ mới

Bên cạnh các nhân tố ảnh hởng và nguyên nhân gây rủi ro, tổn thất trongkinh doanh nói chung, quá trình thực hiện hợp đồng XNK còn chịu sự chi phốicủa nhiều nhân tố ảnh hởng và nguyên nhân gây rủi ro, tổn thất riêng có trongkinh doanh XNK

Trớc hết phải kể đến những rủi ro phát sinh từ môi trờng pháp lý Nguồn

luật áp dụng cho hợp đồng mua bán ngoại thơng rất nhiều, bao gồm: điều ớcquốc tế về ngoại thơng, luật quốc gia, tập quán quốc tế về thơng mại, án lệ vàhợp đồng mẫu Việc lựa chọn nguồn luật nào đợc áp dụng cho quan hệ hợp đồng

là do các bên hoàn toàn tự do thỏa thuận Tuy nhiên, trên thực tế, bất kỳ thơngnhân nào cũng muốn áp dụng nguồn luật nớc họ do họ cho rằng nguồn luật đóbảo vệ tốt nhất quyền lợi của họ Do đó, trong trờng hợp không có điều ớc quốc

tế, các bên thờng tranh chấp trong thỏa thuận luật áp dụng Nếu không bên nàochịu nhợng bộ, họ có thể lựa chọn luật của nớc thứ ba Đây chính là nguồn gốc

có thể đem lại rủi ro do không phải bao giờ các bên cũng hiểu biết cặn kẽ luậtpháp của nớc thứ ba đó Hơn nữa, cách giải thích, áp dụng nguồn luật đó cũngkhác nhau ở các nớc khác nhau

Ngoài việc tuân thủ luật áp dụng đã đợc lựa chọn trong hợp đồng, mỗi bêntrong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng còn phải tôn trọng luật quốc gia Hệthống pháp luật của các quốc gia thờng có những khác biệt vì ba lý do: thứ nhất,

Trang 10

nhau; thứ hai, có sự khác biệt về trình độ phát triển về các mặt đặc biệt là về kinh

tế giữa các quốc gia; thứ ba, có sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, lịch sử, vănhóa, tập quán của các dân tộc và cộng đồng ngời

Các quy định pháp luật khác nhau là trở ngại rất lớn tới quá trình thực hiệnhợp đồng XNK bởi vì sự khác biệt trong hệ thống luật pháp có nghĩa là tồn tạicác quy định khác nhau về thuế quan, thủ tục XNK, về địa vị pháp lý của cácbên tham gia, về hình thức và nội dung của hợp đồng Nếu các bên không nắmvững những quy định khác biệt này trong pháp luật của nớc đối tác thì khả năngxảy ra những sự cố bất lợi là rất lớn Do đó, để hạn chế rủi ro có thể xảy ra cácbên trong quan hệ hợp đồng cần am hiểu luật pháp nớc mình, luật pháp đối tác

và các điều ớc quốc tế có liên quan để vận dụng chúng trong quá trình thực hiệnhợp đồng sao cho có lợi nhất cho mình

Nhân tố ảnh hởng và nguyên nhân thứ hai làm gia tăng rủi ro, tổn thất

trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK chính là chủ thể của hợp đồng.

Thông thờng, trong hợp đồng mua bán quốc tế, các bên có quốc tịch khácnhau hoặc trụ sở giao dịch ở các nớc khác nhau Điều này dẫn tới địa vị pháp lýcủa các cá nhân và tổ chức tham gia quan hệ hợp đồng cũng khác nhau Mộtcông dân Việt Nam đủ 18 tuổi và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có thể trởthành thơng nhân nếu đăng ký kinh doanh Trong khi đó, một công dân Mỹ nữphải đủ 19 tuổi, nam đủ 21 tuổi thì mới có điều kiện để trở thành thơng nhân.Các thơng nhân mang quốc tịch Việt Nam phải thành lập doanh nghiệp thì mới

đợc ký kết hợp đồng XNK, còn ở Châu Âu các cá nhân, tổ chức chỉ cần có đăng

ký kinh doanh là đủ Nh vậy, chủ thể của hợp đồng XNK có thể hợp pháp theoluật của nớc này nhng lại không hợp pháp theo luật của nớc khác Trong trờnghợp hợp đồng đợc ký kết thì hợp đồng sẽ vô hiệu và nếu hai bên không nắmvững điều này thì rủi ro có thể phát sinh vì hợp đồng đã vô hiệu tuyệt đối thì khi

có tranh chấp xảy ra, thiệt hại cho bên nào, bên đó phải tự gánh chịu

Ngoài ra, chủ thể của hợp đồng thờng bất đồng về ngôn ngữ và có tậpquán, văn hóa khác nhau Điều này gây ra không ít khó khăn cản trở cho quátrình đàm phán, ký kết hợp đồng và kết quả là khi thực hiện hợp đồng, có thể sựhiểu lầm sẽ xảy ra, đem lại rủi ro cho ngời kinh doanh XNK Thực tiễn cho thấy,

đã có không ít doanh nghiệp Việt Nam do không thạo tiếng Anh nên đã ký hợp

đồng với nhiều điều khoản bất lợi cho mình và chỉ trong quá trình thực hiện hợp

đồng mới phát hiện ra rằng mình đã lâm vào thế yếu Đến lúc đó tìm cách thoáithác, từ chối thực hiện hợp đồng thì đã quá muộn

Hơn nữa, các bên trong quan hệ hợp đồng thờng có năng lực tài chính, cótrình độ hiểu biết, trình độ chuyên môn và ý thức tôn trọng luật pháp khác nhau

Sự chênh lệch này thể hiện rất rõ giữa các đối tác ở các nớc lớn, những ngời luôn

Trang 11

muốn giữ chữ tín và quan hệ bạn hàng với các đối tác ở các nớc nhỏ, rất nhiềungời trong số họ chỉ chuyên lừa đảo, chụp giật Do đó, trớc khi ký kết hợp đồngcần quan tâm kiểm tra năng lực tài chính, t cách pháp lý và phạm vi trách nhiệmvật chất của đối tác để phòng tránh rủi ro có thể xảy ra khi thực hiện hợp đồng.

Nhân tố thứ ba làm gia tăng rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp

đồng XNK là việc giao dịch, trao đổi thông tin thờng qua phơng tiện trung gian.

Ngày nay, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong kinh doanh ngày càng lớn

và làm xuất hiện một phơng thức kinh doanh mới, đó là thơng mại điện tử Vớinhững nét u việt của nó, thơng mại điện tử đang chiếm vị trí quan trọng trong thếgiới kinh doanh bởi nó mở ra phạm vi hoạt động to lớn cho nhà kinh doanh, rútngắn thời gian thu thập, xử lý, phân tích thông tin Tuy nhiên, do thực hiện kinhdoanh đợc tiến hành qua mạng máy tính điện tử, một yếu tố không thể đợc kiểmsoát chặt chẽ nên nguy cơ rủi ro lớn hơn nhiều so với phơng thức giao dịch thôngthờng Khung pháp lý điều chỉnh thơng mại điện tử càng chặt chẽ và hoàn thiệnthì rủi ro trong thơng mại điện tử càng có ít điều kiện để xuất hiện Tuy nhiên,ngay cả trong trờng hợp đó, cũng không ai dám chắc rằng các giao dịch trênmạng là có thực 100% Ngời mua luôn lo sợ sau khi thanh toán, không nhận đợchàng; ngời bán luôn sợ sau khi giao hàng, không nhận đợc tiền Đây là mối lo th-ờng trực của các nhà kinh doanh XNK theo phơng thức truyền thống Trong th-

ơng mại điện tử, sự lo ngại này tăng lên bội phần bởi cả hai bên đều không “xuất

đầu lộ diện” trong giao dịch Đến khi thơng vụ rõ ràng đã thất bại thì ngời bánkhông biết tìm ngời mua ở đâu để đòi tiền, còn ngời mua lại không biết tìm ngờibán ở đâu để đòi hàng Kết quả là nhà kinh doanh phải hứng chịu hậu quả nặng

nề của những rủi ro trong phơng thức kinh doanh hiện đại này

Một nhân tố nữa phải đề cập ở đây là khoảng cách địa lý Trong quá trình

thực hiện hợp đồng XNK, hàng hóa thờng đợc di chuyển qua biên giới quốc gia.Khoảng cách địa lý càng lớn, nguy cơ rủi ro càng cao và ngợc lại Chuyên chởhàng hóa giữa các quốc gia chủ yếu đợc thực hiện bằng đờng biển (chiếmkhoảng 80%) Trong quá trình chuyên chở bằng đờng biển muôn vàn rủi ro rìnhrập, đe dọa ngời kinh doanh XNK và sẵn sàng giáng những tai họa lên đầu họ.Các trận bão, lũ, sóng thần, lốc có thể bất ngờ ập đến gây tổn thất cho hàng vàtàu Trong quá trình lênh đênh trên biển, sơng muối, hiện tợng hấp hơi, lây bẩn,lây hại có thể xảy ra làm h hỏng, mất mát, thiếu hụt hàng hóa Trong quá trình

điều khiển và quản trị tàu, thuyền trởng, thuyền viên có thể sơ suất, bất cẩn, gây

ra lỗi thơng mại và lỗi hàng vận làm tổn hại đến hàng hóa đợc chuyên chở trêntàu Ngoài ra, hàng và tầu còn có thể bị xâm phạm bởi nạn cớp biển, trộm cắp

Đây thực sự là một lo ngại lớn của chủ hàng và chủ tàu mỗi khi có hàng và tàu

Trang 12

Chuyển tiền và thanh toán quốc tế cũng là nhân tố ảnh hởng và nguyên

nhân làm gia tăng rủi ro, tổn thất Đặc trng của hợp đồng mua bán ngoại thơng là

đồng tiền tính giá hoặc đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với ít nhất một trongcác bên trong hợp đồng Việc thanh toán giữa ngời mua và ngời bán thờng quatrung gian là ngân hàng.Thời điểm thanh toán và thời điểm giao hàng thờng khácnhau Do đó, rủi ro thờng xuyên xuất hiện trong khâu thanh toán

Đứng từ phía ngời XK, biểu hiện rõ rệt nhất của rủi ro trong thanh toán làngời bán đã giao hàng nhng không nhận đợc tiền hàng Trong một số phơng thứcthanh toán nh ghi sổ (open account), chuyển tiền (remittance), nhờ thu(collection), nếu ngời bán không có các biện pháp đảm bảo thì khả năng khôngnhận đợc tiền là rất lớn

Thanh toán bằng ghi sổ và chuyển tiền hoàn toàn dựa trên uy tín và quan

hệ tốt đẹp giữa các bên Nếu ngời mua không có thiện chí, sau khi nhận hàng,anh ta có thể từ chối trả tiền hoặc thậm chí từ chối thực hiện hợp đồng bằng cáchkhông nhận hàng và không thanh toán tiền hàng

Trong phơng thức nhờ thu, có 2 loại: nhờ thu phiếu trơn (Clean Bill

Collection) và nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection) Nhờ thu phiếu

trơn là phơng thức nhờ thu không kèm chứng từ thơng mại; trong đó ngời bán

sau khi giao hàng và giao chứng từ sẽ ký phát hối phiếu và gửi chỉ thị nhờ thu

đến Ngân hàng XK, Ngân hàng XK ủy thác Ngân hàng nớc ngoài (Ngân hàngNK) thu hộ tiền Ngân hàng NK xuất trình hối phiếu đi đòi tiền ngời NK Ngời

NK sau khi kiểm tra sẽ ra quyết định có chấp nhận thanh toán hay không Nhvậy, ở phơng thức này nguy cơ rủi ro rất lớn Việc có đòi đợc tiền hay không, đủhay không và kịp thời hay không hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của ngời

mua, ngân hàng không chịu trách nhiệm Nhờ thu kèm chứng từ là phơng thức

trong đó ngời bán chỉ giao hàng chứ không giao chứng từ kèm theo hàng Chứng

từ gửi hàng sẽ đợc gửi kèm với hối phiếu và chỉ thị nhờ thu Ngời mua muốn lấy

đợc chứng từ để đi nhận hàng sẽ phải thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán lênhối phiếu Mặc dù nhờ thu kèm chứng từ có an toàn hơn nhờ thu phiếu trơn songrủi ro vẫn tồn tại khi ngời mua không muốn nhận hàng nên cũng không cần lấy

bộ chứng từ và từ chối thanh toán

Ngay cả ở những phơng thức tởng chừng đảm bảo an toàn nh phơng thứctín dụng chứng từ (L/C) và bảo lãnh thanh toán (Letter of guarantee), ngời XKvẫn có thể gặp phải rủi ro

ở phơng thức tín dụng chứng từ, nếu ngời bán không kiểm tra kỹ L/C,không phát hiện ra những điều khác biệt so với hợp đồng gây bất lợi cho mình đểyêu cầu ngời mua tu chỉnh L/C và vẫn tiến hành giao hàng thì phải chấp nhận

Trang 13

những sai biệt đó và lập bộ chứng từ theo quy định của L/C Đây chính là một rủi

ro vì nó mang lại sự kiện bất lợi cho ngời XK Ngoài ra, trong quá trình lập bộchứng từ, ngời bán có thể có những sai sót chẳng hạn nh đáng lẽ phải ký phát hốiphiếu đòi tiền ngân hàng phát hành L/C thì lại ký phát đòi tiền ngời NK Kết cục

là khi xuất trình, bộ chứng từ không đợc ngân hàng thanh toán

ở phơng thức bảo lãnh thanh toán, có hai loại bảo lãnh: bảo lãnh theo yêucầu (demand guarantees) và bảo lãnh kèm chứng từ (documentarry guarantees).Nếu thanh toán bằng bảo lãnh theo yêu cầu, quyền lợi nhận tiền hàng của ngờibán đợc bảo đảm do khi anh ta xuất trình yêu cầu thanh toán thì ngân hàng pháthành L/C có nghĩa vụ trả tiền Tuy nhiên nếu thanh toán bằng bảo lãnh kèmchứng từ, trớc khi ngân hàng trả tiền cho ngời bán ngân hàng phải có sự đồng ýcủa ngời mua Nếu ngời mua có lý do chính đáng, ngời mua có thể từ chối thanhtoán Kết quả là ngời bán không nhận đợc tiền hàng

Đứng từ phía ngời NK, rủi ro có thể gặp phải trong thanh toán là đã trảtiền nhng không nhận đợc hàng Nếu thanh toán bằng phơng thức chuyển tiền tr-

ớc khi nhận hàng thì có thể ngời bán sau khi nhận tiền lại không giao hàng Nếuthanh toán bằng L/C, trong trờng hợp ngời bán không thực hiện hợp đồng -không giao hàng thì ngời mua dù không phải trả tiền hàng song cũng phải trả chiphí mở L/C, ngoài ra còn có thể chịu chi phí gián đoạn kinh doanh, lợi nhuậnmất hởng Trong trờng hợp ngời bán lập bộ chứng từ khống, giả mạo, thì ngânhàng chỉ căn cứ vào sự hợp lệ trên bề mặt chứng từ để trả tiền nên ngời mua cóthể gặp phải rủi ro là phải trả tiền hàng mà không nhận đợc hàng

Một biểu hiện nữa của rủi ro trong thanh toán quốc tế là sự biến động của

tỷ giá hối đoái Xuất phát từ đặc trng đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với mộthoặc cả hai bên trong hợp đồng, sự biến động của tỷ giá hối đoái có thể làm tănggiảm hiệu quả của thơng vụ Nếu đồng tiền thanh toán giảm giá trị so với nội tệngời XK sẽ bị thiệt hại còn ngời NK sẽ đợc lợi và ngợc lại Rủi ro xảy ra đối vớingời này có thể trở thành may mắn với ngời khác Do đó, các bên khi ký kết hợp

đồng thờng lựa chọn một đồng tiền ổn định làm đồng tiền tính giá và đồng tiềnthanh toán để tránh rủi ro do biến động của tỷ giá khi thực hiện hợp đồng

Nhân tố ảnh hởng và nguyên nhân khác song cũng khong kém phần quan

trọng làm gia tăng rủi ro, tổn thất là tranh chấp và giải quyết tranh chấp trong

quá trình thực hiện hợp đồng Tranh chấp thờng xảy ra khi một trong các bênkhông thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp

đồng Bên bán không thực hiện nghĩa vụ giao hàng đúng quy định về số lợng,chất lợng, bao bì, thời gian và địa điểm giao hàng Bên mua không nhận hàng, từchối thanh toán hoặc không trả đủ và đúng thời hạn Ngoài ra, tranh chấp còn có

Trang 14

nhau dẫn đến việc hiểu sai và thực hiện sai Khi thực hiện hợp đồng, gặp phảitranh chấp kiện tụng tức là gặp phải rủi ro vì dù thắng hay thua thì các bên cũng

có nguy cơ chịu thiệt hại, tổn thất Đó có thể là thiệt hại về uy tín, trí lực, thờigian, tiền bạc

Từ phía ngời vi phạm, ngoài những chi phí về bồi thờng do các hành vi viphạm gây thiệt hại cho đối tác, bên vi phạm còn phải trả các chi phí phát sinhtrong quá trình khiếu nại kiện tụng nh chi phí trọng tài, phí tòa án, chi phí đi lạitrong quá trình giải quyết tranh chấp, chi phí luật s Đứng từ phía ngời bị viphạm, anh ta cũng có thể gặp phải rủi ro khi không đợc bồi thờng hoặc không đ-

ợc bồi thờng đầy đủ Hơn thế, trong quá trình khiếu nại kiện tụng nếu hàng hóa

h hỏng mà ngời bị vi phạm không có biện pháp hạn chế lây lan tổn thất thì phầntổn thất phát sinh thêm không đợc bồi thờng Trong trờng hợp bên vi phạmkhông có lỗi vì hành vi vi phạm là do quyết định của cơ quan nhà nớc có thẩmquyền, do gặp bất khả kháng hoặc do bên thứ ba gặp bất khả kháng thì ngời viphạm đợc miễn, giảm trách nhiệm và bên bị vi phạm có thể không đợc bồi th-ờng

Ngoài thiệt hại vật chất mà các bên phải gánh chịu trong tranh chấp, cả haibên còn đứng trớc nguy cơ mất uy tín, mất quan hệ bạn hàng Tranh chấp xảy ranếu không đợc giải quyết thỏa đáng, hợp tình, hợp lý sẽ làm đổ vỡ quan hệ kinhdoanh giữa các bên Ngay cả khi quan hệ đó không hoàn toàn chấm dứt thì trongcác thơng vụ sau, các bên cũng có tâm lý e ngại, dè chừng, nghi ngờ lẫn nhau.Hơn nữa nếu vụ kiện bị tiết lộ ra bên ngoài, các bên có thể gặp nhiều khó khăntrong thiết lập quan hệ bạn hàng mới với các đối tác khác Điều này đặc biệt

đúng tại các nớc có nền kinh tế cha phát triển bởi trong văn hóa kinh doanh tạicác nớc này ngời ta rất sợ tai tiếng do tranh chấp, kiện tụng

Qua nghiên cứu về rủi ro, tổn thất và các nhân tố làm gia tăng rủi ro, tổnthất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK, ta có thể thấy sự phức tạp đặc biệtcủa rủi ro, tổn thất trong môi trờng kinh doanh quốc tế, từ đó có thể rút ra một số

đặc điểm của rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng

2 Đặc điểm của rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK

Kinh doanh XNK diễn ra trong môi trờng đặc biệt phức tạp Quá trìnhthực hiện hợp đồng bao gồm một chuỗi các bớc nghiệp vụ kế tiếp nhau và trongtừng khâu của quá trình này, các nhân tố ảnh hởng và nguyên nhân gây rủi ro,tổn thất xuất hiện ngày càng nhiều Tất cả những điều này làm cho rủi ro, tổnthất trong kinh doanh XNK mà chủ yếu là trong quá trình thực hiện hợp đồngxảy ra thờng xuyên hơn, mức độ nghiêm trọng hơn và biểu hiện dới các hình

Trang 15

thức đa dạng, phức tạp hơn so với kinh doanh trong nớc.

a) Rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK xảy ra với tần suất lớn hơn thực hiện hợp đồng trong nớc

Trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK, nhà kinh doanh phải luôn đốimặt với môi trờng kinh doanh đầy biến động, kèm theo đó là muôn vàn nguy cơrủi ro ở tất cả các lĩnh vực hoạt động diễn ra trong và ngoài nớc Các nhân tố ảnhhởng, các nguyên nhân chủ quan và khách quan ở cả trong nớc và nớc ngoài làmcho rủi ro, tổn thất xảy ra thờng xuyên hơn với tần suất lớn hơn so với kinhdoanh trong nớc Sự xuất hiện dồn dập, thờng xuyên của các sự cố bất lợi có thể

lý giải bằng sự khác biệt trong hệ thống luật pháp, văn hóa kinh doanh, chủ thểtrong quan hệ hợp đồng, khoảng cách địa lý Nguyên nhân gây rủi ro, tổn thấtcàng nhiều thì rủi ro, tổn thất xảy ra với tần số càng lớn và ngợc lại Việc rủi ro,tổn thất xảy ra thờng xuyên với tần số lớn hơn chính là đặc điểm nổi trội của rủi

ro, tổn thất trong thực hiện hợp đồng XNK

b) Rủi ro, tổn thất xảy ra với mức độ nghiêm trọng hơn

Khi đã xảy ra, rủi ro, tổn thất thờng gây hiệu quả nghiêm trọng hơn chongời kinh doanh XNK vì hai lý do Một là, giá trị của thơng vụ XNK thờng lớnhơn so với các thơng vụ kinh doanh trong nớc Hai là, quá trình thực hiện hợp

đồng XNK thờng liên quan tới nhiều bên hơn nên khi xảy ra rủi ro, tổn thất cóthể tất cả các bên cùng phải gánh chịu Nói một cách khác, mức độ nghiêm trọnghơn đợc thể hiện ở phạm vi ảnh hởng của rủi ro, tổn thất rộng lớn hơn

c) Rủi ro, tổn thất đa dạng phức tạp hơn

Đặc điểm này xuất phát từ thực tế là các nguyên nhân làm phát sinh rủi ro,tổn thất trong kinh doanh hoạt động ngoại thơng vốn dĩ đa dạng và phức tạp hơn

so với hoạt động kinh doanh thông thờng trong nớc Do đó, rủi ro, tổn thất trongthực hiện hợp đồng XNK liên quan tới nhiều vấn đề phức tạp hơn nh vận tải quốc

tế, thanh toán quốc tế, bảo hiểm Hơn nữa, đặc trng của hợp đồng mua bán

ngoại thơng là có yếu tố nớc ngoài, thể hiện ở chủ thể của hợp đồng là các bên

có quốc tịch khác nhau hoặc có trụ sở ở các nớc khác nhau, hàng hóa là đối tợng

của hợp đồng thờng đợc di chuyển qua biên giới quốc gia hoặc từ khu vực pháp

lý này sang khu vực pháp lý khác, đồng tiền tính giá, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ với một trong các bên, luật điều chỉnh hợp đồng hoặc cơ quan giải

quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng có yếu tố nớc ngoài Vì vậy rủi ro, tổnthất xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK đa dạng, phức tạp hơn

Tóm lại, rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK xảy ravới tần suất lớn hơn, mức độ nghiêm trọng hơn và đa dạng, phức tạp hơn Điều

đó có nghĩa là các nhà kinh doanh XNK cần hết sức thận trọng trong thực hiện

Trang 16

3 Phân loại rủi ro, tổn thất

Phân loại rủi ro, tổn thất là một công việc cần thiết và có ý nghĩa to lớncho quá trình nhận thức và đề ra biện pháp phòng ngừa hạn chế rủi ro, tổn thấtmột cách hợp lý

Trớc hết, rủi ro, tổn thất tồn tại dới nhiều hình thức biểu hiện, nhiều loại

* Căn cứ vào khả năng đo lờng

 Rủi ro có thể tính toán đợc: Là rủi ro mà tần số xuất hiện của nó có thểtiên đoán đợc ở mức độ tin cậy nào đó

 Rủi ro không thể tính toán đợc: rủi ro mà tần số xuất hiện của nó bất ờng, khó tiên đoán

th-* Căn cứ vào phạm vi ảnh hởng của rủi ro

 Rủi ro cơ bản: Là rủi ro xuất phát từ các biến cố khách quan và ảnh h ởng

đến toàn xã hội Ví dụ: bão, lũ, chiến tranh, bạo động chính trị

 Rủi ro riêng biệt: Là rủi ro xuất phát từ biến cố chủ quan của từng cánhân, doanh nghiệp và chỉ ảnh hởng đến một số ít ngời Ví dụ: rủi ro phátsinh do hàng hoá hỏng hóc, thơng vụ thua lỗ do biến động giá cả

*Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh rủi ro

 Rủi ro do thiên tai: Là những hiện tợng do thiên nhiên gây ra nh bão giólốc, sét, sóng thần, động đất, núi lửa, lở đá

 Rủi ro do tai họa của biển: Là những tai nạn xảy ra đối với con tàu ởngoài biển nh: tàu bị mắc cạn, cháy, nổ, đâm va, mất tích

 Rủi ro do các hiện tợng chính trị, xã hội: rủi ro chiến tranh, đình công,hành động khủng bố

*Căn cứ vào nguyên nhân gây ra rủi ro

 Rủi ro có nguyên nhân khách quan: Là rủi ro do tác động của môi trờng vĩmô và nguyên nhân bên ngoài mà doanh nghiệp không thể kiểm soát chi

Trang 17

phối đợc Nh rủi ro do chính trị bất ổn, kinh tế suy thoái, tỷ giá biến

động

 Rủi ro có nguyên nhân chủ quan: Là rủi ro bắt nguồn từ các nguyên nhânchủ quan nh những yếu kém của doanh nghiệp về nghiệp vụ chuyên môn,thiếu thông tin, sai lầm trong chính sách kinh doanh

* Căn cứ vào nghiệp vụ của bảo hiểm

 Rủi ro thông thờng đợc bảo hiểm: Là rủi ro có tính chất bất ngờ, ngẫunhiên, xảy ra ngoài ý muốn của ngời và đợc bảo hiểm theo các điều kiệnbảo hiểm A, B, C Ví dụ: Rủi ro do thiên tai, tai nạn bất ngờ

 Rủi ro phải bảo hiểm riêng, không đợc bồi thờng theo các điều kiện bảohiểm gốc A, B, C Ví dụ: chiến tranh, đình công

 Rủi ro loại trừ: Là rủi ro không đợc bảo hiểm trong mọi trờng hợp Ví dụ:Rủi ro do nội tỳ, ẩn tỳ của hàng hóa, lỗi của ngời đợc bảo hiểm

Ngoài ra, ngời ta còn phân biệt rủi ro mang tính đầu cơ và rủi ro thuần tuý.Rủi ro mang tính đầu cơ là rủi ro mà doanh nghiệp sẵn sàng chấp nhận với

hy vọng có cơ hội tạo ra lợi nhuận Rủi ro thuần tuý là rủi ro chỉ đem lạithiệt hại

b) Phân loại tổn thất

* Căn cứ vào khả năng đo lờng đợc thiệt hại

 Tổn thất có khả năng đo lờng: Là tổn thất có thể cân đong đo đếm, tínhtoán tơng đối chính xác Ví dụ: tổn thất do hàng bị h hỏng, rách bao bì

 Tổn thất không có khả năng đo lờng: là tổn thất mà hậu quả của nó khôngxác định đợc theo phơng pháp cân đong trực tiếp mà chủ yếu thông quaphơng pháp định tính Ví dụ: thiệt hại tính mạng, sức khỏe, uy tín

* Căn cứ vào đối tợng bị tổn thất

 Tổn thất về tài sản: là tổn thất vật chất gồm mất mát tài sản, tiền bạc, lợinhuận mất hởng

 Tổn thất về con ngời: thiệt hại tính mạng, giảm sút sức khỏe, tinh thần

 Tổn thất về pháp lý: là tổn thất liên quan đến trách nhiệm pháp lý của chủthể trớc pháp luật đối với hành vi gây thiệt hại cho ngời khác Ví dụ: tráchnhiệm dân sự với ngời thứ ba, trách nhiệm sản phẩm

* Căn cứ theo mức độ, quy mô tổn thất

 Tổn thất bộ phận: là sự mất mát, giảm giá trị, giá trị sử dụng, số lợng,trọng lợng, thể tích của đối tợng hàng hóa

 Tổn thất toàn bộ: là sự h hại hoặc mất mát toàn bộ giá trị sử dụng củahàng hóa Tổn thất toàn bộ gồm hai loại:

+ Tổn thất toàn bộ thực tế: là tổn thất trong đó đối tợng bị h hỏng

Trang 18

hoàn toàn, nghiêm trọng, không còn nh là vật phẩm ban đầu nữa+ Tổn thất toàn bộ ớc tính: là tổn thất trong đó đối tợng bị tổn thấttới mức xét thấy khả năng tổn thất toàn bộ thực tế không sao tránhkhỏi hoặc có thể tránh khỏi song phải bỏ khoản chi phí lớn hơn giátrị của đối tợng

* Căn cứ vào quyền lợi và trách nhiệm đối với tổn thất

 Tổn thất riêng: là tổn thất của riêng từng quyền lợi bảo hiểm, quyền lợinào bị tổn thất thì phải tự gánh chịu

 Tổn thất chung: là tổn thất do hành động tổn thất chung gây nên là nhữngthiệt hại do chi phí và hy sinh đặc biệt đợc tiến hành một cách hữu ý, hợp

lý nhằm cứu tàu, hàng hóa và cớc phí trong một hành trình chung trênbiển

IV Quan hệ tơng tác giữa rủi ro, tổn thất và hiệu quả thực hiện hợp đồng XNK

1 Hiệu quả thực hiện hợp đồng XNK

Hiệu quả thực hiện hợp đồng XNK là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ

sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp kinh doanh XNK để tạo ra kết quả caonhất trong quá trình thực hiên hợp đồng với chi phí thấp nhất

Hiệu quả thực hiện hợp đồng XNK thờng đợc đánh giá bằng các chỉ tiêusau:

Tỷ suất ngoại tệ của hợp đồng NK thể hiện một đồng ngoại tệ bỏ ra thu về

đợc bao nhiêu đồng nội tệ:

N

N N

Trang 19

Hợp đồng XK: pX là chênh lệch tỷ giá trên thị trờng và tỷ suất ngoại tệXK: pX = r - RX

Hợp đồng NK: pN là chênh lệch tỷ suất ngoại tệ NK và tỷ giá trên thị ờng: pN = RN - r

ra làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận thậm chí gây thua lỗ cho thơng vụ và do đó,hạn chế hiệu quả hợp đồng XNK Vì vậy, có thể nói rủi ro, tổn thất luôn có tác

động tỷ lệ nghịch với hiệu quả thực hiện hợp đồng XNK

Trớc hết, gia tăng rủi ro, tổn thất làm giảm hiệu quả thực hiện hợp đồngXNK Rủi ro xảy ra đem theo thiệt hại to lớn về lợi ích vật chất và phi vật chất

Do vậy, khi rủi ro, tổn thất đã xảy ra, doanh nghiệp sẽ tốn kém thêm các chi phí

để xử lý, khoanh vùng rủi ro, giảm thiểu tổn thất, chi phí phục hồi sản xuất kinhdoanh Chi phí tăng trong khi doanh thu về không đổi làm các chỉ tiêu hiệu quảbiến đổi theo chiều hớng xấu Khi đó, tỷ lệ lãi/một đơn vị ngoại tệ giảm, tổng lãihợp đồng giảm, tỷ suất ngoại tệ hợp đồng XK tăng, hợp đồng NK giảm

Hiệu quả thực hiện hợp đồng chỉ có thể đạt đợc khi doanh nghiệp có biệnpháp phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu rủi ro Để phòng ngừa, hạn chế rủi ro,doanh nghiệp phải phân tích môi trờng kinh doanh, phân tích hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp nhằm loại trừ hoàn cảnh phát sinh rủi ro, tiết kiệm để

bù đắp mất mát rủi ro bằng lập quỹ dự trữ, mua bảo hiểm cho hàng hóa Mặc dù

để tiến hành các hoạt động này doanh nghiệp phải bỏ ra khoản chi phí nhất địnhsong nếu đem so sánh nó với chi phí khắc phục rủi ro, tổn thất thì chi phí phòngngừa có thể chấp nhận đợc Đến lợt nó, các biện pháp phòng ngừa, giúp doanhnghiệp kiểm soát đợc rủi ro, làm cho công việc kinh doanh ổn định và tạo tâm lýyên tâm cho nhà kinh doanh khi thực hiện hợp đồng

Tóm lại, rủi ro là những sự kiện bất lợi ngẫu nhiên bất ngờ xảy ra đem

Trang 20

theo tổn thất và tổn thất là hệ quả trực tiếp của rủi ro Rủi ro, tổn thất luôn tồn tạitiềm ẩn song hành với quá trình thực hiện hợp đồng XNK, đe doạ hiệu quả củathơng vụ

Trong môi trờng kinh doanh XNK, rủi ro, tổn thất xảy ra thờng xuyên hơn

và đem theo hậu quả nặng nề hơn so với kinh doanh trong nớc do môi trờng pháp

lý phức tạp hơn, thể hiện ở sự phức tạp trong lựa chọn nguồn luật áp dụng, cácquy định pháp lý khác nhau, chủ thể thờng có quốc tịch khác nhau, năng lực tàichính khác nhau, văn hoá khác nhau, khoảng cách địa lý thờng xa xôi nên hànghoá dễ h hỏng, dễ gặp thiên tai, tai nạn bất ngờ, việc thanh toán và thời điểmgiao hàng thờng khác nhau nên rủi ro thờng xảy ra trong khâu thanh toán

Nh vậy, rủi ro, tổn thất xảy ra luôn đem theo thiệt hại cho doanh nghiệp vàtác động nghịch với hiệu quả thực hiện hợp đồng Do đó, điều cần thiết để tănghiệu quả là ngời kinh doanh XNK phải nhận thức đợc rủi ro và chủ động áp dụngcác biện pháp phòng tránh rủi ro, ngăn ngừa rổn thất

Chơng 2: Thực trạng rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK của các doanh nghiệp Việt Nam từ năm 1990 đến nay

Trang 21

I Khái quát chung về tình hình phát triển kinh tế

và kinh doanh XNK của thế giới và Việt Nam giai đoạn

Chính trong thời kỳ này, các yếu tố cũ của nền văn minh công nghiệp đãphát huy hết tác dụng và đang thúc đẩy chiều hớng tăng chi phí, giảm hiệu quả.Các yếu tố u việt của nền kinh tế tri thức mới dần hình thành và cha đủ mạnh để

có thể tác động tích cực tới nền kinh tế thế giới Thêm vào đó, sự yếu kém trongquản lý và định hớng phát triển của Nhà nớc ở nhiều quốc gia đã đẩy nền kinh tếthế giới lâm vào khủng hoảng và suy thoái

Trong ba đầu tầu kinh tế thế giới, là Mỹ, EU, Nhật Bản, duy chỉ có nềnkinh tế Mỹ tăng trởng ngoạn mục Tốc độ tăng trởng của Mỹ luôn ở mức cao,tăng từ 2,3% năm 1995 lên 3,4% năm 1996 và đợc duy trì ở mức 3,9% trong banăm 1997, 1998, 1999 Với thành tựu này, kinh tế Mỹ đã trở thành điểm tựa chonhiều nền kinh tế trên thế giới Trong khi đó, bớc vào thập kỷ 90, Nhật Bản đãchấm dứt thời kỳ “phát triển thần kỳ” và lâm vào giai đoạn trì trệ, đặc biệt là saucuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997 với tốc độ tăng trởng âm trong 2 nămliên tiếp, -0,7% (1997) và -2,8% (1998) Kinh tế EU tăng trởng chậm dần, năm

1999 tốc độ tăng trởng EU chỉ đạt 2,1%, giảm 0,8% so với mức 2,9% năm ‘98

Bớc sang năm 2000, năm đầu tiên của thiên niên kỷ mới, nền kinh tế thếgiới đã có những bớc khởi sắc Tốc độ tăng trởng kinh tế toàn cầu đạt mức caonhất kể từ 1990, đạt 3,1% cao hơn 0,6% Trong đó, Châu á đạt mức tăng trởngcao nhất 6,7%, kế đến là Mỹ Latinh 4,25%, EU và Châu Phi 3,4% và thấp nhất là

Đông Âu 3,1%

Tuy nhiên, tình hình cải thiện của nền kinh tế thế giới cha kéo dài đợc lâuthì bóng mây đen đã bao phủ lên nhiều nớc, kèm theo đó là làn sóng suy giảmlan rộng Theo ông Steve Roach - một nhà kinh tế kỳ cựu của Morgan Stanley:

“Thế giới đang ở giữa một thời kỳ suy thoái đồng bộ hiếm có Chặng đờng đầutiên đợc tạo ra bởi sự suy giảm của chu kỳ công nghệ thông tin toàn cầu do Mỹ

Trang 22

cầm đầu đã đẩy hầu hết các nớc Châu á vào suy giảm Chặng thứ hai đợc tạo rabởi các cuộc tấn công khủng bố hôm 11/9, dẫn đến sự “đầu hàng” đã đợc trìhoãn quá lâu của ngời tiêu dùng Mỹ Do nớc Mỹ đã giáng hai cú sốc này xuốngmột nền kinh tế toàn cầu vốn phụ thuộc vào Mỹ, phần còn lại của thế giới đã

“lao xuống dốc theo” (Kinh tế Việt Nam và Thế giới 2001-2002)

Sự bất ổn của nền kinh tế thế giới đã báo hiệu thời kỳ phát triển bấp bênhkèm theo nó là những mầm mống nguy cơ rủi ro cho tất cả các nền kinh tế trênthế giới trong đó có Việt Nam

b) Tình hình kinh doanh XNK

Trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20, tốc độ tăng trởng thơng mại hàng hóa củathế giới đã từng xuất hiện ba đỉnh cao: năm 1994 tăng 10%, năm 1997 tăng10,5% năm 2000 tăng 12% và đó là mức tăng trởng cao nhất trong 50 qua

Nếu nh thập kỷ 60 của thế kỷ 20 thờng đợc coi là “thời đại hoàng kim”của mậu dịch quốc tế thì đến thập kỷ 90, ngoài ba đỉnh cao kể trên, tình hìnhkinh doanh XNK không còn đợc nh trớc nữa và đến năm 2001 đã tụt xuống mứcrất thấp là 2,7%

Trong giai đoạn 1990 - 2000, tốc độ tăng trởng bình quân đạt 6% Nh vậy,tốc độ tăng của năm 2001 là thấp nhất, và không bằng một nửa tốc độ tăng trởngbình quân của 10 năm trớc đó

Năm 2001, yếu tố giá cả và thị trờng trong kinh doanh XNK của của thếgiới mà chủ yếu là ở các mặt hàng nông sản và khoáng sản cũng dao động mạnh

Về giá cả, giá gạo trên các thị trờng thế giới năm 2001 tiếp tục giảm từ 9 15% so với mức thấp của năm 2000; giá dầu thô giảm 30 - 35%; giá đờng biến

-động rất thất thờng, trong 4 tháng đầu năm 2001, giá đờng trắng giảm 8,5% từ249$/tấn xuống 229$/tấn; giá than năng lợng giảm từ 4 - 13% trên các thị trờngthế giới (Kinh tế Việt Nam và thế giới 2001 – 2002, tr.93)

Về thị trờng, một số mặt hàng có những biến động lớn về thị trờng Điểnhình phải kể đến mặt hàng cao su.Theo nhận định của nhiều nhà kinh tế, năm

2001 là năm u ám nhất trong lịch sử ngành cao su thế giới vì giá cao su đã chạmxuống mức thấp nhất do cung nhiều, cầu ít Mặt hàng thứ hai có biến động lớn

về thị trờng là cà phê Thị trờng cà phê biến động mạnh do tình hình thời tiết ảnhhởng tới mùa vụ cà phê ở Brazil; bội thu ở Châu á, Châu Phi, nhu cầu cà phê tạicác thị trờng truyền thống nh Mỹ, EU đã bão hòa và giảm, trong khi đó, mức tiêuthụ cà phê/ngời cao nhất dịch chuyển sang một số nớc nh Phần Lan, Nauy, ĐanMạch Các mặt hàng điện tử, sản phẩm công nghệ thông tin XK từ các quốc gia

Đông á cũng giảm mạnh do ảnh hởng của suy thoái kinh tế Mỹ

Tình hình mậu dịch quốc tế gần đây có nhiều biến động theo chiều hớng

Trang 23

xấu cho thấy môi trờng kinh doanh XNK ngày càng trở nên bất ổn Điều này

đem lại tác động tiêu cực và nguy cơ rủi ro cho thơng mại quốc tế toàn cầu, đặcbiệt là thơng mại quốc tế của các nớc đang phát triển

2 Tình hình phát triển kinh tế và kinh doanh XNK của Việt Nam

a) Tình hình phát triển kinh tế

Hơn 10 năm trở lại đây, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và thơng mạiquốc tế có nhiều biến động, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng kinh tế của khuvực và những diễn biến phức tạp của điều kiện tự nhiên gây ảnh hởng nặng nề tớinền sản xuất nông nghiệp, một ngành kinh tế quan trọng của đất nớc, kinh tếViệt Nam vẫn trụ vững và đang dần dần phục hồi và phát triển Tốc độ tăng tr-ởng GDP luôn đạt mức cao đánh dấu bằng mức kỷ lục là 9,54% trong năm 1995.Thời kỳ 1991 - 1997, tốc độ tăng GDP luôn vợt 8%/năm Sau khủng hoảng tàichính năm 1997, tăng trởng kinh tế của Việt Nam giảm đi rõ rệt, từ 8,15% năm

1997 xuống còn 5,76% năm 1998 và tiếp tục giảm còn 4,77% năm 1999, đâycũng là mức thấp nhất trong vòng hơn 10 năm qua Bớc sang thiên niên kỷ mới,kinh tế Việt Nam dần lấy lại đợc đà tăng trởng với tốc độ tăng GDP tơng ứngqua các năm 2000, 2001, 2002 là 6,75%, 6,84% và 7,0%

Cùng với sự tăng trởng chung, cơ cấu kinh tế Việt Nam đã có sự chuyểndịch theo hớng tích cực Tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm dần, tỷ trọngcông nghiệp xây dựng tăng lên nhanh chóng, tỷ trọng dịch vụ ở mức tơng đối ổn

định Năm 2001, khu vực nông lâm, thủy sản chiếm 23,3% GDP, công nghiệpxây dựng chiếm 37,75% và dịch vụ chiếm 38,95% Tỷ trọng công nghiệp chếbiến trong GDP tăng dần đều, nếu nh năm 1990 đạt 12,3% năm 1995 tăng lên15%, năm 2000 đạt 18,7% thì năm 2001 tăng tới 19,6% Năm 2002, tăng trởngcông nghiệp đạt 14%, đây là năm thứ 12 liên tục tăng ở mức hai chữ số, quy môcông nghiệp tăng 4.7 lần năm 90 và là thời kỳ tăng trởng cao nhất và dài nhất màtrớc đây cha đạt đợc.(Thời báo kinh tế Việt nam số 1/11/02) Đây chính là tiền

đề để thực hiện mục tiêu do Đại hội Đảng IX đã đề ra là đến năm 2020 cơ bảnbiến Việt nam thành một nớc công nghiệp

Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả kinh tế vợt trội, tăng trởng kinh tếViệt Nam hơn 10 năm qua còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập Một là, chất lợngtăng trởng còn thấp, dựa chủ yếu ở việc tăng yếu tố đầu vào là vốn đầu t Hai là,hiệu quả và sức cạnh tranh còn yếu chỉ đứng thứ 52/75 nớc đợc xếp hạng (Kinh tếViệt Nam và thế giới 2001 - 2002, tr 6) Ba là chuyển dịch cơ cấu còn chậm vàmang nặng tính tự phát

Những yếu điểm này chính là rào cản cho nền kinh tế Việt Nam nói chung

Trang 24

và các doanh nghiệp nói riêng trên con đờng phát triển bền vững.

Nguồn: Kinh tế Việt Nam và thế giới 2001 - 2002, tr.55

Thời báo kinh tế Việt Nam số 29/11/02, tr.3

Từ biểu đồ trên, có thể thấy sự tăng trởng trong lĩnh vực XNK đợc thể hiện

ở cả ba mặt

Thứ nhất, kim ngạch XK năm 2002 tăng 6.7 lần so với năm 1990, tốc độtăng bình quân thời kỳ 1990 -2002 vào khoảng 20% Đây là mức tăng trởng caohơn hẳn so với tốc độ tăng bình quân 6% của thơng mại thế giới

Thứ hai, kim ngạch NK trong cùng kỳ tăng 6.6 lần, với tốc độ tăng bìnhquân vào khoảng 19,6%

Thứ ba, xu hớng tăng rất nhanh của nhập siêu trong nửa đầu thập kỷ 90 đãkết thúc vào năm 1996 và liên tục giảm dần qua các năm 1996-1999 Tuy nhiêntrong thời kỳ 2000-2002, nhập siêu lại có xu hớng tăng mạnh Năm 2000, tỉ lệnhập siêu là 8%, 2001 là 7.6% và 2002 tăng lên 13%

Tuy đạt mức tăng trởng khá song kinh doanh XNK của Việt Nam hơn 10năm qua vẫn cha ổn định Nguyên nhân chủ yếu là do cơ cấu XNK của ta cha

thật vững chắc Trong cơ cấu XK, sản phẩm nông nghiệp và nguyên liệu thô

chiếm phần chủ yếu, các mặt hàng chế tạo còn chiếm tỷ trọng khá khiêm tốn.Trong khi đó, nhiều mặt hàng XK chủ lực nh dệt may, giầy da lại phải NK rấtnhiều nguyên liệu từ bên ngoài, phơng thức gia công vẫn là chính nên hiệu quảrất thấp Hàng nông sản và nguyên liệu thô XK thờng xuyên có nguy cơ giảm

Trang 25

giá, thị trờng lại không ổn định nên kim ngạch XK thu về rất bấp bênh Trong cơ

cấu NK, Việt Nam chủ yếu nhập máy móc, thiết bị, vật t nguyên liệu, kỹ thuật

giá cao và thờng xuyên ở vào vị thế bất lợi Tỷ trọng nhóm hàng nguyên liệu NKchiếm khoảng 60% tổng kim ngạch NK (Tạp chí thơng mại số 20/2002) Điềunày cho thấy, Việt Nam phụ thuộc nặng nề vào nguồn nguyên liệu và bán thànhphẩm của nớc ngoài và kinh tế nớc ta còn mang nặng tính chất rất phổ biến củanền sản xuất gia công, lắp ráp

Từ những phân tích trên đây về tình hình phát triển kinh tế và kinh doanhXNK của thế giới và Việt Nam giai đoạn 1990 đến nay, có thể thấy môi trờngkinh tế và kinh doanh XNK luôn tiềm ẩn những nhân tố bất định, ảnh hởng tớithơng mại quốc tế trên phạm vi toàn cầu, từng quốc gia cũng nh từng doanhnghiệp kinh doanh XNK Do đó, điều quan trọng là cần chủ động nắm bắt xu thếbiến động của thị trờng thế giới để tránh rủi ro, tổn thất có thể xảy ra, đồng thờibiến những nguy cơ rủi ro, tổn thất đó thành những sự kiện có lợi cho doanhnghiệp mình

II Thực trạng rủi ro, tổn thất trong thực hiện hợp đồng XNK ở Việt nam

Thực tiễn hơn 10 năm đổi mới, mở cửa hội nhập vừa qua cho thấy nềnkinh tế Việt Nam nói chung và hoạt động kinh doanh XNK nói riêng đã trải quanhững bớc thăng trầm Chính trong giai đoạn đầu tiên của quá trình hòa mình vớinền kinh tế thế giới, các nhà đầu t kinh doanh XNK nớc ta đã gặp rất nhiều rủi

ro Theo đánh giá của các nhà phân tích, tỷ lệ rủi ro, tổn thất trong kinh doanhXNK trong thời gian vừa qua của Việt Nam là khá cao vì nhiều nguyên nhânkhách quan và chủ quan khác nhau

Rủi ro, tổn thất xảy ra ngày một nhiều trong kinh doanh XNK mà chủ yếu

là xuất hiện trong quá trình thực hiện hợp đồng đã để lại nhiều hậu quả nặng nềcho toàn bộ nền kinh tế và cho các doanh nghiệp Giá cả hàng hóa trên thị tr ờngthế giới lên xuống thất thờng, tỷ giá thờng xuyên biến động, điều kiện tự nhiênkhắc nghiệt, bão lũ, hạn hán hoành hành ở nhiều nơi, các vụ lừa đảo kinh tế xảy

ra liên tiếp, sự cố tai nạn hàng hải, cớp biển gia tăng, tranh chấp trong quá trìnhthực hiện hợp đồng ngày một nhiều, tình trạng non kém về nghiệp vụ vẫn là phổbiến ở các doanh nghiệp kinh doanh XNK, tất cả đã cộng hởng cùng tác độngtiêu cực tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Để nhìn nhận vấn đề một cách có hệ thống, chúng ta sẽ đi sâu phân tíchnhững nguy cơ rủi ro, tổn thất và một số rủi ro, tổn thất điển hình trong quá trìnhthực hiện hợp đồng của các doanh nghiệp kinh doanh XNK của Việt Nam từnăm 1990 đến nay

Trang 26

1 Nguy cơ rủi ro

Nguy cơ rủi ro phản ánh trạng thái tiềm ẩn và khả năng xảy ra rủi ro Nó

là tổng hợp những mối nguy hiểm, hiểm họa có thể gây ra rủi ro Một cách đơngiản hơn, nguy cơ rủi ro chính là tình thế có thể gây ra sự kiện bất lợi

Hơn 10 năm cải cách kinh tế vừa qua, Việt Nam đã tích cực hội nhập vàokinh tế thế giới mà nét biểu hiện rõ rệt nhất là thông qua hoạt động kinh doanhXNK ngày càng đa dạng, phong phú Bên cạnh mặt tích cực của nó, tham giavào hoạt động thơng mại quốc tế càng sâu rộng thì các yếu tố ảnh hởng vànguyên nhân gây rủi ro, tổn thất càng nhiều và do đó nguy cơ rủi ro càng cao

Thực tiễn cho thấy, nguy cơ rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồngXNK thể hiện trên tất cả các bình diện và có ảnh hởng nhiều chiều tới môi trờngkinh doanh XNK của nớc ta

a) Nguy cơ rủi ro từ môi trờng tự nhiên

Trong những năm cuối cùng của thế kỷ 20, tình hình thời tiết biến độngthất thờng ở nhiều nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam Sự tàn phá thiên nhiêncủa con ngời đã bị trả giá bằng sự nóng lên của trái đất, bằng bão lũ, ngập úng,hạn hán, cháy rừng, động đất, núi lửa Các hiện tợng thiên nhiên bất thờng xảy

ra ngày càng nhiều, mức độ thiệt hại ngày càng lớn

Chắc hẳn, ngời ta vẫn cha quên những trận động đất khủng khiếp ởSanfrancisco (Mỹ) năm 1989 đã gây ra tổn thất đợc bảo hiểm là 1,1 tỷ USD, ởNorthridge (Mỹ) năm 1994 với tổn thất 6,9 tỷ USD, ở Kobe (Nhật) năm 1994làm hàng nghìn ngời thiệt mạng và thiệt hại lên tới hàng trăm tỷ USD, ở Hà Bắc(Trung Quốc) năm 1998 làm nhiều nhà cửa sụp đổ 50 ngời chết và hơn 10.000ngời bị thơng Gần đây nhất là những trận động đất làm rung chuyển Thổ Nhĩ

Kỳ gây thảm họa tự nhiên lớn nhất trong lịch sử nớc này làm 15.600 ngời chết,20.000 ngời bị thơng và số tiền khắc phục tổn thất lên tới 23 tỉ USD

Năm 1997, 1998 một hiện tợng thiên nhiên bất thờng mới xuất hiện, đó là

El Nino El Nino xảy ra gây hạn hán, úng lụt, bão lũ đã tàn phá nặng nề các nớcvốn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp Thiệt hại cho nền kinh tế thế giới do ElNino 1997/1998 gây nên ớc tính khoảng 34 tỷ USD, 24.000 ngời chết và 6 triệungời mất chỗ ở El Nino tác động nhiều tới nguồn hàng XK của các nớc có nềnkinh tế nông nghiệp Đợt El Nino 1997/1998 đã làm giảm đánh bắt cá của Peru,nớc chiếm khoảng 60% XK bột cá toàn thế giới, giảm 7% sản lợng gạo củaPhilippin Tại Indonexia, ma bất thờng làm giảm diện tích trồng lúa 380.000 ha(3,4%) so với mùa ma trớc Sản xuất thóc gạo giảm cùng với cuộc khủng hoảngtài chính tiền tệ ở Châu á, khiến giá gạo tăng 300% và Indonexia buộc phải NKtrên 5 triệu tấn gạo Tháng 11/2001, con bão Ling Linh xảy ra ở Trung Quốc gây

Trang 27

úng lụt nặng nề cho ngành trồng lúa gạo và ớc tính năm 2002 Trung Quốc sẽphải nhập 4 triệu tấn gạo để đáp ứng nhu cầu trong nớc.(Thời báo kinh tế SàiGòn, 15/12/2001).

Việt Nam nằm trong vành đai bão lũ của thế giới nên hơn ai hết, nớc ta ờng xuyên gặp phải thiên tai gây hậu quả trầm trọng Cơn bão số 5 miền TâyNam Bộ qua đi, để lại nhiều tàn tích cha kịp khắc phục thì năm 98 - 99 ma to,úng lụt ở miền Trung lại tới, ảnh hởng nặng nề tới sản xuất nông nghiệp lúa gạo

th-và hoa màu, làm việc thu mua các mặt hàng nông sản để XK gặp nhiều khókhăn Tháng 7 năm 2000, tình hình thời tiết biến động rõ rệt, hạn hán kéo dài ởmiền Bắc; trong khi đó ở lu vực sông Mê Kông lại xảy ra trận lũ lịch sử Sự biến

động đột ngột của thời tiết làm cho nông nghiệp, ngành phụ thuộc nhiều nhấtvào điều kiện tự nhiên, trở nên hoàn toàn bị động Nhiều hợp đồng XK đã ký, do

đó, không đợc thực hiện hoặc thực hiện chậm vì doanh nghiệp không tìm đợcchân hàng

Năm 2002, diễn biến thời tiết hết sức phức tạp Hạn hán xảy ra ở nhiều nơi

đã làm 17.000 ha lúa, 17.500 ha màu, cây công nghiệp khu vực Nam Bộ bị mấttrắng, hàng trăm ngàn ha bị giảm năng suất (Thời báo kinh tế Việt Nam5/8/2002, tr 3) Tính đến tháng 8, trong mùa khô năm nay, hạn hán, nắng nóngkéo dài đã gây ra 102 vụ cháy rừng, thiêu cháy 10.087 ha rừng các loại Đángbuồn nhất là vụ cháy rừng hoàn toàn vờn quốc gia U Minh Thợng (tỉnh KiênGiang) Cháy rừng trong những năm qua, không chỉ gây tổn thất hàng trăm tỷ

đồng mà còn gây ô nhiễm môi trờng, lũ lụt, xói mòn, sạt lở núi, bồi lấp sông hồlàm mất nguồn nớc cho sản xuất và sinh hoạt

Với tác động biến đổi khí hậu toàn cầu, có nhiều dấu hiệu cho thấy hiện ợng El Nino có khả năng xuất hiện lại vào những tháng cuối năm 2002 và sẽ ảnhhởng mạnh mẽ tới ngành sản xuất lúa gạo của ta Điều đó có nghĩa là việc thựchiện các hợp đồng xuất gạo, mặt hàng XK chủ lực của ta có thể gặp nhiều rủi ro

t-do nguồn hàng trong nớc khan hiếm Thực hiện các hợp đồng NK phân bón cũng

có thể gặp khó khăn do diện tích lúa và hoa màu bị thu hẹp vì thiên tai nên cầutrong nớc về phân bón sẽ giảm mạnh

b) Nguy cơ rủi ro từ môi trờng chính trị quốc tế

Trong giai đoạn 1990 đến nay, trên chính trờng thế giới xảy ra nhiều sựkiện đáng ghi nhớ, ảnh hởng tới kinh doanh XNK của Việt Nam và các quốc gia

có liên quan

Sự kiện mở màn gây chấn động toàn cầu là sự sụp đổ của hệ thống XHCN

ở Liên Xô và Đông Âu đầu thập kỷ 90 Trớc đó, mậu dịch đợc thực hiện chủ yếuvới các nớc thuộc khối SEV, quan hệ hợp đồng thờng là quan hệ anh em “lọt

Trang 28

sàng xuống nia” nên các hợp đồng đã ký kết mà không thực hiện đợc thì cũngkhông thành vấn đề sống còn đối với sự tồn tại của doanh nghiệp Điều này tạotâm lý ỉ lại, thiếu trách nhiệm của các doanh nghiệp ngoại thơng Việt Nam trongquá trình thực hiện hợp đồng với các bạn hàng Liên Xô Sau khi Liên Xô và

Đông Âu tan rã, Việt Nam bị cô lập trên vũ đài chính trị Quan hệ th ơng mại vớicác bạn hàng truyền thống trở nên xấu dần đi Trong hai năm 1990 - 1991, XKgiảm 13,2% từ 2,4 tỷ USD (1990) xuống 2 tỷ USD (1991), NK giảm 15,1% từ2,75 tỷ USD (1990) xuống còn 2,34 tỷ USD (1991) Thêm vào đó, sự bao vây,cấm vận kinh tế của Mỹ là một rào cản lớn cho việc thiết lập các quan hệ thơngmại mới

Chính trờng thế giới tiếp tục chao đảo khi Iran - Irắc chính thức tuyên bốchiến tranh năm 1991 Từ đó tới nay, Irac vẫn cha thoát khỏi vòng vây cấm vậncủa Mỹ nên lợng hàng XK của Việt Nam sang thị trờng này hết sức kiêm tốn,chủ yếu là trao đổi ở cấp chính phủ về mặt hàng gạo Các hợp đồng khi đợc thựchiện cũng gặp nhiều nguy cơ rủi ro do sức ép chính trị từ phía Mỹ

Những bất ổn chính trị liên tiếp xảy ra ở khu vực Trung Đông, túi dầu củathế giới, đặc biệt là những diễn biến của cuộc chiến tranh đẫm máu giữaPalestine và Israel đã kéo dài trong nhiều năm qua làm giá dầu thế giới liên tiếptăng giảm đột ngột, ảnh hởng không nhỏ tới hiệu quả thực hiện các hợp đồngXNK xăng dầu của Việt Nam

Gần đây nhất, cả thế giới bàng hoàng trớc sự kiện ngày 11 tháng 9 ở Mỹ

Sự kiện này ảnh hởng sâu sắc đến tình hình kinh doanh XNK giữa Mỹ và cácquốc gia khác trên thế giới trong đó có Việt Nam Thêm vào đó, cuộc tấn côngtrả đũa của Mỹ và đồng minh vào chế độ Taliban ở Afganistan cũng làm gia tăngnguy cơ rủi ro cho thực hiện hợp đồng XNK với nớc này và khu vực lân cận Cácchi phí cho việc thực hiện hợp đồng tăng vọt vì giờ đây, cớc chuyên chở tăng cao

do các chủ tàu và ngời thuê tàu, ngời XK và ngời NK phải cân nhắc tới việc muabảo hiểm rủi ro chiến tranh Ngoài ra, các doanh nghiệp kinh doanh XNK cònphải đối mặt với nguy cơ rủi ro cầm giữ hàng, tàu khi hàng và tàu đi qua cácvùng biển thuộc địa phận của các nớc tham chiến

Tóm lại, môi trờng chính trị quốc tế luôn biến động khó lờng, đem theo nónhững nguy cơ rủi ro cao và mang nhiều sắc thái khác nhau, ảnh hởng tới thựchiện hợp đồng của các doanh nghiệp kinh doanh XNK

c) Nguy cơ rủi ro từ chính sách quản lý và cơ chế điều hành XNK

Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định nội dung cơ bản của chínhsách ngoại thơng trong 10 năm tới là : “nỗ lực gia tăng tốc độ tăng trởng XK,chuyển dịch cơ cấu XK theo hớng nâng cao giá trị gia tăng, gia tăng sản phẩm

Trang 29

chế biến và chế tạo, các loại sản phẩm có hàm lợng công nghệ và chất xám cao,thúc đẩy XK dịch vụ; về NK, chú trọng thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ sảnxuất nhất là công nghệ tiên tiến, bảo đảm cán cân thơng mại ở mức hợp lý, tiếntới cân bằng kim ngạch XNK; mở rộng và đa dạng hóa thị trờng và phơng thứckinh doanh, hội nhập thắng lợi vào kinh tế khu vực và thế giới” (Kỷ yếu 55 nămThơng mại Việt Nam 2001, Bộ Thơng mại, tr 77)

Để đạt đợc những mục tiêu đã đề ra, chính sách quản lý và cơ chế điều

hành XNK đã từng bớc đợc cải thiện Về cơ chế quản lý điều hành XNK, căn bản

vẫn dựa trên cấp giấy phép song số lợng và các mặt hàng xin giấy phép giảm dầnqua từng năm Chính phủ đã xây dựng và ban hành cơ chế điều hành XNK ổn

định lâu dài cho thời kỳ 2001 - 2005; nới lỏng các quy định về đầu mối XNK

Về công tác thị trờng, Chính phủ tích cực ký các cam kết quốc tế, hiệp định

thơng mại với nhiều nớc trong đó đáng chú ý nhất là Hiệp định ththơng mại Việt Mỹ; song song với đó là tăng cờng các biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp xâmnhập thị trờng bằng mọi con đờng: chính trị, ngoại giao, kinh tế, kỹ thuật nghiệp

-vụ ngoại thơng Về các thủ tục hành chính và hải quan, Luật Hải quan ra đời và

có hiệu lực kể từ 01/01/2002 đã đơn giản hóa, công khai hóa các thủ tục hảiquan, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thực hiện hợp đồng của các doanhnghiệp kinh doanh XNK

Tuy nhiên, bên cạnh những nỗ lực vợt bậc, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế,bất cập trong chính sách quản lý và cơ chế điều hành XNK Điều này gây rakhông ít khó cho các doanh nghiệp và hậu quả là doanh nghiệp phải gánh chịunhững rủi ro, tổn thất không đáng có

Hạn chế đầu tiên phải kể đến là về thủ tục hành chính và hải quan.

Luật hải quan có hiệu lực kể từ 01/01/2002 và cần phải có trên 30 văn bản h ớngdẫn thực hiện nhng đến tháng 7/2002 chỉ mới ban hành đợc 2 Nghị định và 8Quyết định (tạm thời) (Báo Hải quan số 55 từ 8 đến 10/7/2002, tr.9) Việc thiếucác văn bản quy định chi tiết cụ thể làm cho công tác thông quan hàng hóa XNKgặp nhiều khó khăn vớng mắc

Vấn đề thứ nhất, tuy đơn thuần là về mặt nghiệp vụ nhng có ảnh hởng trực

tiếp tới “số phận” lô hàng XNK của doanh nghiệp, là việc quyết định tỉ lệ hànghóa chịu sự kiểm tra của Hải Quan và việc ghi kết quả kiểm hoá trên tờ khai.Hiện nay, với các nghiệp vụ mới nh miễn kiểm tra, kiểm tra xác suất nhng dothiếu hớng dẫn, cán bộ kiểm hóa đôi khi còn lúng túng, không thống nhất trongviệc xác định các phần khai bắt buộc nh “tỷ lệ kiểm tra”, “quy định đóng gói”hay “”tình trạng niêm phong của hàng hóa” Điều này đã kéo dài thời gian chếttại các cửa khẩu, gây chậm trễ cho kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh

Trang 30

Hai là, về vấn đề đảm bảo trách nhiệm của hải quan trong việc xác định

tính chính xác trong “kiểm tra chứng từ nợ thuế” Thời gian vừa qua rất nhiềudoanh nghiệp đã bị cỡng chế nhầm do những sai sót trên mạng máy tính, lạikhông kiểm tra ngay đợc tại chi cục nơi làm thủ tục Do đó doanh nghiệp khi cóvớng mắc phải đi lại nhiều lần gây tốn kém

Ba là, vấn đề áp thuế sai với hàng hóa Qua khảo sát điều tra, có thể kể ra

3 ví dụ hải quan áp sai mã thuế gây thiệt hại cho doanh nghiệp

Trờng hợp 1, ngày 04/5/2002 Công ty sản xuất và thơng mại Thái Hòa

nhập lô hàng 6 tấn cà phê “3 in 1” từ Indonesia về cảng Hải Phòng nhng cho tớingày 24/7 lô hàng vẫn cha giải tỏa đợc do có sự không thống nhất về việc áp mãthuế NK Chi cục Hải quan quản lý đầu t - gia công Hà Nội (nơi mở tờ khai) ápmã thuế mặt hàng là 09019090 với giá tính thuế theo hợp đồng ngoại thơng là1,7 USD/kg; Chi cục Hải quan Hải Phòng khu vực II (nơi kiểm hóa) xếp mặthàng này vào hàng tiêu dùng và áp mã số thuế nhóm 21011110 với mức giá tínhthuế tối thiểu là 8USD/kg ( Báo Hải Quan số 59, 24/7/2002)

Trờng hợp 2, Công ty trách nhiệm Thơng mại Viễn Phát NK mặt hàng

theo giám định của Trung tâm 3 (QUATEST) là thuốc diệt nấm và khử trùngdùng trong xe hơi, máy lạnh, có mã số nằm trong nhóm 3808 áp dụng thuế NK

là 1% Hải quan cửa khẩu khu vực 1 đã gửi lô hàng đi giám định tại Trung tâmgiám định CASPECT Kết quả cũng giống trung tâm 3 với mã số tham khảo là

38082090 Tuy nhiên, Hải quan cửa khẩu lại cho rằng sản phẩm này có côngdụng khử mùi và đề xuất với cục Hải quan TP Hồ Chí Minh áp lô hàng theo mã

3307419 có thuế XNK là 50%

Trờng hợp 3, ngày 17/7/2000 Công ty Ford Việt Nam nhận đợc giấy phép

NK 1 xe Ford Ranger loại 1 tấn ca bin kép với mục đích thử nghiệm để có thểlắp ráp loại xe này trên thị trờng Việt Nam Trong quá trình làm thủ tục, Hảiquan Hải Dơng cho rằng đây là loại xe chuyên dùng chở ngời và áp dụng thuếsuất 20% Công ty Ford Việt Nam đã có văn bản gửi nhiều cơ quan chức nănggiải thích rằng, theo Công ớc quốc tế về hệ thống điều hòa hải quan (mà ViệtNam là một thành viên) đây là xe thiết kế chuyên dùng cho vận tải hàng hóa (mã

HS 8704)) chứ không phải là loại xe thiết kế chở ngời (mã HS 8703) và nh vậy,theo biểu thuế XNK hiện hành, thuế XNK CKD2 cho loại xe này chỉ là 7% (Báo

Đầu t 17/3/2001)

Ba là, các văn bản quản lý, điều hành XNK còn nhiều chồng chéo, không

rõ ràng thậm chí mâu thuẫn nhau Ví dụ nh Luật Hải quan quy định thời hạnxem xét quy trình chấp hành pháp luật của doanh nghiệp đối với hàng XK là 1

Trang 31

năm, hàng NK là 2 năm để làm cơ sở miễn kiểm Điều này cha khớp với quy

định tại điều 10 Pháp luật xử lý vi phạm hành chính: “sau 1 năm kể từ ngày thihành xong quyết định xử lý vi phạm hành chính tổ chức, cá nhân không tái phạmthì đợc coi nh cha bị xử phạt” Ngoài ra, còn rất nhiều quy định về hồ sơ giấy tờ,thẩm quyền quyết định tỷ lệ kiểm tra giữa các văn bản pháp quy còn nhiều mâuthuẫn, gây thiệt thòi cho các doanh nghiệp XNK

Bốn là, thói nhũng nhiễu, phiền hà của một bộ phận công chức hải quan

vẫn cha đợc loại bỏ triệt để Nếu các quy định trong Nghị định hớng dẫn thi hànhLuật thiếu tính rõ ràng, chi tiết, nhiều doanh nghiệp XNK vẫn lo ngại rằng họ sẽ

bị Hải quan “hành” Chẳng hạn nh trong trờng hợp kiểm tra xác suất 10% hànghóa, cán bộ hải quan muốn kiểm tra kiện hàng ở góc trong cùng của containerthì buộc doanh nghiệp phải tốn thêm phí cẩu, tháo dỡ hàng Không ít trờng hợpdoanh nghiệp còn khổ vì nhân viên Hải quan non nớt về nghiệp vụ, khiến doanhnghiệp phải chịu phiền hà không đáng có

Một bất cập nữa là về cơ chế quản lý, điều hành Vấn đề này thể hiện rõ

nhất trong hình thức quản lý hạn ngạch dệt may vào EU và Canada Hai năm gần

đây, Bộ Thơng mại đã thay đổi nhiều trong quản lý hạn ngạch nhng trên thực tếvẫn còn nhiều vớng mắc cho doanh nghiệp Đầu năm 2001, Bộ Thơng mại vẫn

áp dụng chế độ phân bổ hạn ngạch nh trớc đây Cuối năm 2001, Bộ Thơng mại

đã linh hoạt chuyển sang cấp quota tự động nhằm giúp các doanh nghiệp chủ

động trong việc ký kết hợp đồng và sử dụng hạn ngạch có hiệu quả Tuy nhiên,mặt trái của vấn đề là ở chỗ hạn ngạch của các cat “nóng” đợc sử dụng rấtnhanh Theo Bộ Thơng mại, chỉ đến tháng 3 năm 2002 hạn ngạch sang Canada

đã hết Bốn tháng đầu năm, XK sang EU đã sử dụng hết những hạn ngạch quantrọng nh cat 4, cat 5, cat 6, cat 7 và cat 15 Trớc tình hình đó, Bộ Thơng mại đãphải ngng quota để điều chỉnh, khiến các doanh nghiệp trở tay không kịp vìnhiều hợp đồng đã ký, nguyên liệu đã nhận về, hàng đã sẵn sàng để giao nhngkhông có quota để xuất

Việc đăng ký mã số thuế cũng gây tốn kém và mất thời gian cho doanhnghiệp, có nơi chỉ mất vài ngày nhng có nơi phải chờ đến 40 ngày Riêng ở HàNội phòng đăng ký mã số thuế quá chật, lợng ngời đăng ký đông nên không ítdoanh nghiệp đã phải “năng động” bỏ ra khoảng 100.000 - 500.000 đồng chi phítiêu cực để lấy kết quả nhanh hơn vì sợ lỡ cơ hội kinh doanh (Doanh nghiệp th -

ơng mại số 145-2001, tr.9)

Tóm lại, chính sách quản lý và cơ chế điều hành XNK của Việt Nam cònnhiều bất hợp lý và hay thay đổi Do đó, có thể nói, các doanh nghiệp chắc chắnvẫn còn gặp nhiều nguy cơ rủi ro trong thực hiện hợp đồng trong những năm tới

Trang 32

Nam, hàng hóa XNK của các doanh nghiệp Việt Nam còn chịu sự quản lý củachính sách và cơ chế XNK của các nớc đối tác Vì vậy, việc không thể lờng trớcnhững thay đổi đột ngột trong cơ chế chính sách quản lý XNK của các nớc banhành tự nó đã hàm chứa những nguy cơ rủi ro vô cùng to lớn Một ví dụ điểnhình là ngày 19/9/2001, EU công bố tăng cờng kiểm tra thủy sản NK Từ đó đếnnay, đã có 41 lô hàng của Việt Nam bị phát hiện có chứa Chloramphenicol EU

đã quyết định tiêu hủy toàn bộ số hàng giá trị 5 - 6 triệu USD này, đồng thời chủhàng phải trả chi phí tiêu hủy khoảng 7.000 Euro cho 1 container (18 - 20 tấn).Mỗi một chuyến hàng xuất đi thờng từ 2 - 3 container với giá trị ít nhất cũng là150.000 USD/container Chỉ cần bị hủy một lô hàng là doanh nghiệp sẽ lâm vàotình trạng “khốn đốn”

Bên cạnh hàng rào kỹ thuật, các nớc còn áp dụng các biện pháp quản lý vềgiá Các nớc đang phát triển thờng không sử dụng giá thực tế ghi trên hóa đơn đểtính thuế mà dùng giá trị tính thuế tối thiểu hay giá tham khảo Hải quan TháiLan còn sử dụng hóa đơn cao nhất của sản phẩm cùng loại NK từ bất kỳ nớc nàotrong thời gian trớc đó để xác định giá tính thuế (Tạp chí Thơng Mại số19/2002, tr.18 ) Vì vậy, cách xác định tùy tiện này đôi khi khiến nhà XK phảichịu thuế cao một cách vô lý và không thể dự đoán đợc khả năng cạnh tranh vềgiá của sản phẩm mình

Ngoài ra, các biện pháp bảo vệ thơng mại tạm thời cũng đợc tăng cờng áp

dụng Biện pháp đầu tiên thờng đợc các nớc áp dụng là biện pháp tự vệ Theo đó

các nớc có thể hạn chế NK tạm thời bằng cách tăng thuế NK hoặc áp dụng hạnchế định lợng nếu cơ quan điều tra của nớc đó chứng minh đợc rằng khối lợnghàng hóa NK tăng lên đáng kể và gây tổn hại nghiêm trọng cho ngành sản xuấtnội địa Ngày 28/3/2002 vừa qua, EU đã chính thức điều tra đối với 15 sản phẩmthép NK để áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời trong vòng 6 tháng dới hình thứchạn ngạch thuế quan Trong số này, có mặt hàng các loại khớp nối cho ống dẫnbằng thép do Việt Nam và một số nớc phát triển khác xuất sang EU Nếu EU ápdụng biện pháp tự vệ này, mức hạn ngạch sẽ giảm còn 6076 tấn (khối lợng NK năm

2001 là 13.794 tấn) với tỷ lệ thuế bổ sung cho lợng NK vợt ngoài hạn ngạch lên

15,3% Biện pháp thứ hai là chống phá giá Một sản phẩm bị coi là bán phá giá

nếu giá XK thấp hơn mức giá của sản phẩm tơng tự tại các nớc NK hoặc thấphơn giá thành sản xuất ra sản phẩm Các nớc đợc phép đánh thuế chống bán phágiá với các sản phẩm bán phá giá nếu điều tra đợc rằng hàng NK đã đợc bán phágiá vào thị trờng nớc mình (và tính đợc biên độ phá giá) đồng thời chứng minh

đợc việc bán phá giá gây hại cho ngành sản xuất sản phẩm tơng tự ở trong nớc

Từ năm 1994 đến nay, số vụ kiện bán phá giá đối với hàng XK của Việt Namliên tục tăng Có thể thấy điều này qua bảng sau:

Trang 33

Bảng 1: Các trờng hợp hàng XK Việt nam bị kiện bán phá giá

STT Năm Nớc Mặt hàng Kết luận cuối cùng của phía nớc ngoài

1 1994 Colombia Gạo Không đánh thuế vì mặc dù có bán phá

giá ở mức 9,07% nhng không gây tổn hạicho ngành trồng lúa gạo nớc này

2 1998 EU Mỳ chính đánh thuế chống bán phá giá, mức 16,8%

3 1998 EU Giày dép Không đánh thuế vì thị phần gia tăng nhỏ

so với Trung Quốc, Indonesia và Thái Lan

4 2000 Ba Lan Bật lửa Đánh thuế chống bán phá giá, mức 0,69

Euro/chiếc

5 2001 Canada Tỏi Đánh thuế chống bán phá giá, mức: 1,48

CAD/kg

6 2002 Canada Đế giày Đang điều tra

7 2002 Canada Bật lửa ga Đang điều tra

8 2002 Mỹ Cá da trơn Đang điều tra

Nguồn: Thông tin Thơng mại, Bộ Thơng mại 29/7/2002, tr.7

Các biện pháp hạn chế thơng mại bao giờ cũng đem lại rủi ro, tổn thất chodoanh nghiệp kinh doanh XNK Theo ớc tính của các luật s, chi phí cho cácdoanh nghiệp Việt Nam theo vụ kiện cá da trơn lên tới 1 triệu USD (Thời báokinh tế Việt Nam số 89, ngày 26/7/02, tr.12) Đó là cha kể sau khi vụ việc đã ngãngũ, nếu mặt hàng này của Việt Nam bị đánh thuế chống phá giá thì thiệt hạicho các doanh nghiệp XK còn gia tăng hơn nhiều vì khi đó doanh nghiệp phải

đối mặt với nguy cơ mất thị trờng do mất khả năng cạnh tranh về giá

d) Nguy cơ rủi ro, tổn thất từ môi trờng cạnh tranh

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng diễn ra sâu rộng, các doanhnghiệp XNK của Việt nam đang đứng trớc những cơ hội và thách thức mới Cuộccạnh tranh trên cả thị trờng nội địa lẫn thị trờng nớc ngoài ngày càng trở nên gaygắt Với sự xuất hiện ngày càng đông của các đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp

đang phải chịu sức ép cạnh tranh từ nhiều phía

Sự ra đời ồ ạt của các doanh nghiệp XNK bên cạnh mặt tích cực của nó làbuộc các doanh nghiệp phải tự đổi mới trong kinh doanh còn gây ra hiện tợngtiêu cực là tranh mua, tranh bán Ví dụ điển hình nhất là tình hình thu mua gạocủa các doanh nghiệp XK đầu năm 2002 Sau khi Nhà nớc bỏ quy định về doanhnghiệp đầu mối XK gạo, nhiều doanh nghiệp t nhân tham gia XK gạo Thêm vào

đó, giá gạo trong nớc tăng mạnh vì cầu vợt cung làm cho các doanh nghiệp XKkhông có gạo để mua Hậu quả là nhiều hợp đồng XK gạo đã bị lỗ hoặc khôngthực hiện đợc

Tuy nhiên, áp lực mạnh nhất của môi trờng cạnh tranh trong kinh doanhXNK lại cha thực sự đến từ phía cạnh tranh giữa các doanh nghiệp XNK Việt

Trang 34

Nam với nhau do độ chênh trong năng lực cạnh tranh nội địa cha lớn Sức ép lớnnhất nằm ở cuộc cạnh tranh giữa doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp nớcngoài, đặc biệt là các doanh nghiệp ở những nớc có cơ cấu XK tơng đồng vớiViệt Nam nh các nớc trong khối ASEAN, Trung Quốc Ví dụ, chỉ cần gạo TháiLan giảm giá so với gạo Việt Nam thì việc ký kết và thực hiện hợp đồng XK gạocủa các doanh nghiệp Việt Nam sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều vì phía đối tác

có thể lấy lý do nào đó để từ chối thực hiện hợp đồng và quay sang mua gạo củaThái Lan

Trong kinh doanh XNK, áp lực cạnh tranh quyết liệt còn có thể đến từphía khách hàng XK hàng dệt may sang Mỹ phải thực hiện SA8000, XK thủysản sang EU, Mỹ, Nhật phải tuân thủ nghiêm ngặt những kiểm tra về vệ sinh antoàn thực phẩm, về hàm lợng d lợng kháng sinh Do vậy, chỉ cần một sơ suấtnhỏ trong quá trình thực hiện hợp đồng cũng có thể làm cho toàn bộ lô hàng bịtrả lại và hậu quả là doanh nghiệp phải tự gánh chịu lấy tổn thất

e) Nguy cơ rủi ro từ yếu kém trong năng lực quản lý và trình độ chuyên môn của các doanh nghiệp XNK

Đây là yếu tố ảnh hởng chủ quan gây rủi ro, tổn thất thờng xuyên nhất choquá trình thực hiện hợp đồng XNK của các doanh nghiệp Việt Nam Năng lựcquản lý và trình độ chuyên môn của cán bộ điều hành hoạt động kinh doanhXNK đợc hình thành từ 3 yếu tố:

- Kiến thức đợc đào tạo, học tập và rèn luyện trong nhà trờng

- Quá trình sản xuất, đi sâu, tìm tòi trong thực tế sản xuất - kinh doanh

- Năng khiếu bẩm sinh

Cả 3 yếu tố này ở Việt Nam vừa thiếu lại vừa yếu Qua khảo sát điều tra

25 doanh nghiệp XNK ở Hà nội, tỉ lệ cán bộ trong các doanh nghiệp XNK tốtnghiệp đại học, cao đẳng là 42%, trong số đó chỉ có 38% dợc đào tạo chính quychuyên ngành về ngoại thơng Điều này có nghĩa là trong 6 ngời làm kinh doanhXNK thì chỉ có 1 ngời đợc đào tạo chính quy chuyên nghành Trong khi đó, hiệntợng làm việc trái ngành trái nghề còn rất phổ biến Nhiều sinh viên Ngoại Th-

ơng ra trờng làm công việc không liên quan đến nghiệp vụ nh th ký, tiếp thị,quảng cáo Tình trạng học không đi đôi với hành vẫn diễn ra trên diện rộng Do

đó, phần lớn sinh viên ra trờng không có kiến thức thực tế và kinh nghiệm làmviệc

Thực tiễn kinh doanh XNK những năm qua cho thấy, phần lớn rủi ro, tổnthất xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK đều có nguồn gốc sâu xa từtrình độ non kém của ngời làm kinh doanh XNK

Trớc hết là những yếu kém trong năng lực chuyên môn, nghiệp vụ Trong

Trang 35

khâu đàm phán, kí kết, nhiều trờng hợp kí hợp đồng với nhiều điều khoản bất lợi,không chặt chẽ và bị mắc bẫy của đối phơng Vì vậy, lừa đảo trong kinh doanhXNK ở Việt nam vẫn còn phổ biến Có thể thấy thực trạng này qua bảng sau:

Bảng 2: Số vụ lừa đảo trong kinh doanh XNK ở Việt nam

Nguồn: Báo cáo tổng kết lực lợng cảnh sát kinh tế 1991-2000

Trong khâu thực hiện hợp đồng, phổ biến hiện tợng cán bộ không hiểu rõ

đặc tính của hàng hoá nên khâu đóng gói, bao bì cha tốt, lựa chọn phơng tiện vậnchuyển, cách thức bảo quản nhiều khi không phù hợp Theo đánh giá của cácchuyên gia trong lĩnh vực ngoại thơng, đây chính là nguyên nhân chủ yếu gây rarủi ro về chất lợng

Ngoài ra, sự yếu kém nghiệp vụ còn thể hiện ở những sơ hở trong khâu lập

và kiểm tra bộ chứng từ( BCT ) thanh toán Nhiều doanh nghiệp của ta sau khinhận đợc L/C từ ngời NK đã không kiểm tra lại , kết quả là L/C có nhiều điểmkhác biệt với hợp đồng mà không đợc tu chỉnh và BCT lập ra không đợc ngânhàng thanh toán vì có khác biệt với L/C Trong quá trình lập BCT nhiều khi nộidung và hình thức của chứng từ vênh nhau nhng do không nắm vững nghiệp vụnên không phát hiện ra Bên cạnh đó, các cán bộ ngoại thơng Việt nam còn yếutrong nghiệp vụ thuê tàu và mua bảo hiểm Nhiều trờng hợp, để ‘tiết kiệm chi phí

họ chủ ý thuê tàu già, mua bảo hiểm không đủ, song cũng không ít trờng hợp là

do không nắm đợc kĩ thuật thuê tàu và mua bảo hiểm

Thứ hai, trình độ ngoại ngữ và vi tính còn ở mức khiêm tốn Số doanhnghiệp có đội ngũ cán bộ giỏi ngoại ngữ , máy tính cha nhiều, do đó thờng phải

sử dụng phiên dịch trong giao dịch, đàm phán, quá trình thu thập xử lý thông tinqua phơng tiện điên tử hiện đại gặp nhiều khó khăn

Thứ ba, trình độ luật pháp còn yếu và sơ đẳng Thực trạng này đợc thểhiện rõ rệt nhất ở những sơ hở trong khiếu nại, kiện tụng Đã có không ít doanhnghiệp Việt nam là bên bị vi phạm song thể thức khiếu nại không đợc tuân thủ

nh đơn khiếu nại không đủ nội dung bắt buộc, hồ sơ không có chứng từ kèm theolàm bằng chứng, bỏ lỡ thời hạn khiếu nại nên cuối cùng không đợc bên kia bồithờng Hiện tợng không nắm vững luật pháp của nớc đối tác vẫn còn phổ biến.Thêm vào đó, các doanh nghiệp Việt Nam lại cha có thói quen sử dụng các dịch

vụ t vấn về pháp luật nên khi tranh chấp xảy ra, phần bất lợi thờng thuộc về phíacác doanh nghiệp Việt Nam

Thứ t, trình độ tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh XNK còn nhiều yếu

Trang 36

hợp đồng còn lỏng lẻo, không đợc kiểm tra giám sát kỹ lỡng, không có bộ phậnchuyên trách quản lý rủi ro, do đó khi rủi ro, tổn thất xảy ra nhiều doanh nghiệpcòn lúng túng, bị động Hơn nữa, khả năng thu thập xử lý thông hạn chế nênkhâu quản lý còn nhiều bất cập.

Có thể khẳng định rằng yếu kém trong năng lực chuyên môn và quản lý lànguyên nhân chủ yếu nhất, sâu xa nhất gây rủi ro, tổn thất cho doanh nghiệp Lẽ

dĩ nhiên là không thể thay đổi tình trạng này một sớm một chiều mà vấn đề này

đòi hỏi phải có quá trình lâu dài để ngời làm kinh doanh XNK có thể trang bịcho mình những kiến thức cần thiết Vì vậy, trớc mắt nguy cơ rủi ro từ yếu kémtrong năng lực chuyên môn vẫn còn rất lớn

2 Một số rủi ro, tổn thất điển hình trong thực hiện hợp đồng XNK

Thực hiện hợp đồng là quá trình phức tạp và cọ xát nhiều nhất với các yếu

tố bất định Trên thực tế, rủi ro, tổn thất có thể xảy ra ở bất kỳ khâu nào trongquá trình thực hiện hợp đồng khi có nhân tố làm phát sinh mầm mống rủi ro dẫn

đến hậu quả là rủi ro xuất hiện, kèm theo nó là tổn thất gây thiệt hại nặng nề.Thực tiễn cho thấy rủi ro, tổn thất tồn tại dới nhiều hình thái muôn hình muôn vẻvới mức độ, quy mô và tần số khác nhau Từ quá trình nghiên cứu rủi ro, tổn thấttrong việc thực hiện hợp đồng XNK của các doanh nghiệp Việt Nam trong hơnmột thập kỷ vừa qua, có thể rút ra một số rủi ro, tổn thất điển hình sau đây:

2.1 Rủi ro, tổn thất về số lợng, chất lợng của hàng hóa trong quá trình thực hiện hợp đồng

Rủi ro, tổn thất về đối tợng của hợp đồng thờng đợc biểu hiện dới hình thứcgiảm số lợng, thiếu hụt về trọng lợng, thể tích, mất hoặc giảm giá trị thơng mại, quycách phẩm chất của hàng hóa không đúng với quy định trong hợp đồng

Loại rủi ro, tổn thất này thờng xuất phát từ những quy định không rõ ràng, cụthể về quy cách, phẩm chất hàng; từ sự kém hiểu biết về kỹ thuật nghiệp vụ dẫn đếnbao bì đóng gói không hợp cách, không nắm vững những đặc tính phức tạp củahàng hóa để lựa chọn phơng thức chuyên chở chất xếp cho phù hợp, và từ nguồnhàng không ổn định về số lợng, chất lợng Ngoài ra, rủi ro về số lợng, chất lợngcũng có thể phát sinh do ý thức thực hiện hợp đồng của các bên cha tốt

Rủi ro, tổn thất về đối tợng của hợp đồng xảy ra thờng dẫn đến việc ngờimua khiếu nại đòi giảm giá, trả lại hàng, buộc ngời bán thay thế sửa chữa hàng

h hỏng, đòi bồi thờng hoặc thậm chí còn dẫn tới tranh chấp kiện tụng gây thiệtthòi cho các bên trong quan hệ hợp đồng

Trong thực tiễn kinh doanh XNK của Việt Nam hơn 10 năm trở lại đây,rủi ro, tổn thất về số lợng, chất lợng thờng xuyên xuất hiện và là vấn đề gây

Trang 37

nhiều tranh cãi giữa ngời mua và ngời bán do ta chủ yếu XK các mặt hàng nôngsản nh gạo, cà phê, hạt điều và NK nguyên vật liệu nh phân bón, xăng dầu; đâyvốn là những mặt hàng hay biến đổi về chất lợng và thiếu hụt về số lợng.

Chúng ta hãy xem xét các ví dụ minh họa sau đây để thấy rủi ro về chất ợng đã phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng tại một số doanh nghiệp

l-Ví dụ 1: Ngày 20/01/1992 Vietintim (Việt Nam) và Czimex (Tiệp) ký hợp

đồng mua bán 1.000 tấn ớt bột Ngày 05/3/1992 Czimex gửi cho Vietintim bức

điện với nội dung sau: “Đề nghị lu ý kiểm tra kỹ hàm lợng Aflatoxin vì Nhà nớcTiệp cấm sử dụng thực phẩm có hàm lợng Aflatoxin vợt quá 5 phẩn tỷ” Sau khi

đã hỏi ý kiến cơ quan kiểm nghiệm Vietest, Vietintim điện trả lời với nội dung

“Các ngài yên tâm, ớt bột của chúng tôi đạt tiêu chuẩn quốc tế, nghĩa là không

có Aflatoxin” Sau đó, hàng đợc bốc xuống tàu để gửi cho bên mua Ngày04/5/1992 bên mua khiếu nại về việc Aflatoxin vợt quá 5 phần tỷ, đề nghị gửi trảlại hàng 10 ngày sau, Tổng giám đốc của Vietintim bay qua Praha, nhận đem vềhai gói ớt (khoảng 2 kg) để giám định Cơ quan giám định Việt Nam phát hiệnthấy hàm lợng Aflatoxin là trên 3 phần tỷ Hậu quả là Vietintim phải bồi thờngtổn thất do đã cam kết rằng ớt bột của mình không có Aflatoxin”

Từ vụ việc trên có thể thấy rủi ro, tổn thất về chất lợng đã xảy ra vì hai lý

do Thứ nhất, các bên không quy định cụ thể, chi tiết về phẩm chất hàng cũng

nh giá trị pháp lý của giấy chứng nhận chất lợng Thứ hai, Vietintim cha hiểu rõ

đặc tính mặt hàng ớt bột là rất dễ mốc và khi đã bị mốc thì hàm lợng Aflatoxin

có thể tăng lên rất nhanh làm cho tổn thất lan rộng Vì vậy, 10 ngày sau Vietintinmới giám định lại lô hàng, khi đó hàm lợng Aflatoxin chắc chắn đã tăng cao hơnnhiều so với lúc ban đầu Do đó, phần bất lợi thuộc về Vietintim

Ví dụ hai: Vietart (Việt Nam) ký hợp đồng số 15/XK 280 bán cho Trudel

Co.(Thụy Sĩ) 100MT tơ phế liệu theo mẫu đã giao cho bên mua Trudel mở L/C

từ Swiss Credit qua Vietcombank đến tay Vietart và hàng đợc giao xuống tàu.Sau đó, bên bán nhận đợc th khiếu nại về việc tơ giao không đúng mẫu Haingày sau, bên bán trả lời rằng hàng bán FOB nên bên bán không còn chịu tráchnhiệm kể từ ngày khi hàng qua lan can tàu tại cảng đi Bên mua trả lời rằngkhuyết tật hàng hóa không xảy ra trong quá trình chuyên chở Trớc lập luận hợp

lý của ngời mua, ngời bán bèn nêu lý do nh sau: tơ làm bằng thủ công nên khôngthể đều đợc Kết cục là bên mua đòi giảm giá 60% trị giá lô hàng, nếu không thìhàng sẽ đợc trả lại cho bên bán với chi phí do bên bán chịu

Nh vậy, rủi ro về chất lợng xảy ra ở đây là do nguồn hàng không ổn định,chất lợng hàng hóa không đồng đều Mặc dù biết điều này song vì ý thức thựchiện hợp đồng cha cao nên phía Việt Nam đã tìm cách trốn tránh trách nhiệm

Trang 38

cuối cùng vẫn phải bồi thờng thiệt hại.

Về rủi ro số lợng, hàng hóa trong buôn bán quốc tế trớc khi đến tay ngờimua thờng phải trải qua một quãng đờng dài và một thời gian dài Trong điềukiện này, có nhiều nguyên nhân có thể gây rủi ro về số lợng đối với hàng hóa nhhao hụt tự nhiên, hao hụt do thay đổi thời tiết khí hậu, mất mát, trộm cắp Rủi

ro về số lợng thờng xảy ra với nhóm mặt hàng nông lâm thủy sản và một số mặthàng công nghiệp đặc biệt là hàng rời, không đóng bao nh than, gỗ, phân bón,gạo ngô Theo thống kê trong buôn bán quốc tế nhiều năm qua, hao hụt tự nhiênxảy ra với nhóm hàng này thờng dao động ở mức 0,05% đến 0,3% Căn cứ vào

đó bên bán và bên mua thờng đa ra mức miễn bồi thờng cho hao hụt tự nhiên

2.2 Rủi ro, tổn thất do sự biến động thất thờng của giá cả hàng hóa trên thị trờng thế giới

Giá cả XNK của Việt Nam phụ thuộc vào cung, cầu giá cả hàng hóa trênthị trờng thế giới Thực tiễn cho thấy chỉ cần có biến đổi nhỏ về cung cầu là cóthể gây ra những biến đổi to lớn về giá cả Để thấy đợc những tác động không l-ờng trớc đợc của giá cả hàng hóa trên thị trờng thế giới gây thiệt hại cho quátrình thực hiện hợp đồng của các doanh nghiệp XNK, chúng ta có thể nghiên cứugiá cả một số mặt hàng XNK chủ lực sau:

a) Gạo

Từ một nớc nông nghiệp lạc hậu luôn phải NK gạo, Việt Nam ngày nay đãvơn lên trong sản xuất lúa gạo và liên tục trong nhiều năm qua là một trongnhững nớc XK gạo hàng đầu thế giới Bên cạnh những nỗ lực vợt bậc này, ngànhsản xuất và xuất khẩu lúa gạo Việt nam còn tồn tại nhiều bất cập Mặc dù sản l-ợng gạo XK của Việt Nam khá lớn, chiếm khoảng 15% sản lợng gạo XK toànthế giới song giá gạo của Việt Nam luôn thấp hơn 20% giá gạo thế giới có cùngphẩm cấp Hơn nữa, giá gạo đầu vào cũng biến động theo giá gạo thế giới Điềunày khiến việc thu mua gạo gặp nhiều khó khăn và nhiều hợp đồng bị lỗ vì khi

ký kết giá cả xuống thấp đến khi thực hiện giá lại tăng cao

Trong 10 năm qua (1991 - 2000), nếu tính theo giá trung bình của thế giới,

XK gạo của Việt Nam bị thiệt hại 1,5 tỷ USD do biến động thất thờng của giá cả

Có thể thấy điều này qua bảng sau:

Bảng 3: Trị giá thiệt hại do chênh lệch và biến động giá gạo XK của Việt Nam

SL (%)

Giá XK TB

của VN ( USD /tấn)

Tốc độ tăng, giảm giá so kỳ tr-

ớc (%)

Giá trị

XK của VN

1000 USD

Tốc độ tăng, giảm giá trị XK (%)

Giá

TB thế giới

Chênh lệch giá thế giới

và giá XK VN (USD/tấn)

Tổng thiệt hại do chênh lệch giá XK (1000$)

91 1033 - 229 - 236,557 - 314 85 87805

Ngày đăng: 26/12/2013, 14:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các trờng hợp hàng XK Việt nam bị kiện bán phá giá - Thực trạng về rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK của các doanh nghiệp việt nam từ năm 1990 đến nay
Bảng 1 Các trờng hợp hàng XK Việt nam bị kiện bán phá giá (Trang 39)
Bảng 3: Trị giá thiệt hại do chênh lệch và biến động giá gạo XK của Việt Nam và thế giới 1991 - 2000 - Thực trạng về rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK của các doanh nghiệp việt nam từ năm 1990 đến nay
Bảng 3 Trị giá thiệt hại do chênh lệch và biến động giá gạo XK của Việt Nam và thế giới 1991 - 2000 (Trang 46)
Bảng trên cho thấy sản lợng gạo giai đoạn 1991- 2000 có xu hớng tăng dần qua các năm, duy chỉ có năm 1998 và năm 2000 là sản lợng giảm so với các năm trớc - Thực trạng về rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK của các doanh nghiệp việt nam từ năm 1990 đến nay
Bảng tr ên cho thấy sản lợng gạo giai đoạn 1991- 2000 có xu hớng tăng dần qua các năm, duy chỉ có năm 1998 và năm 2000 là sản lợng giảm so với các năm trớc (Trang 47)
Bảng 4: Thiệt hại do chênh lệch và biến động giá cà phê Robusta của Việt Nam và thế giới - Thực trạng về rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK của các doanh nghiệp việt nam từ năm 1990 đến nay
Bảng 4 Thiệt hại do chênh lệch và biến động giá cà phê Robusta của Việt Nam và thế giới (Trang 48)
Bảng 7: Một số vụ cớp biển điển hình xảy ra ở vùng biển Việt Nam và lân cận - Thực trạng về rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK của các doanh nghiệp việt nam từ năm 1990 đến nay
Bảng 7 Một số vụ cớp biển điển hình xảy ra ở vùng biển Việt Nam và lân cận (Trang 59)
Bảng 9: Bảo hiểm bồi thờng tổn thất cho hàng hóa XNK ở Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 1994 - 2000 - Thực trạng về rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK của các doanh nghiệp việt nam từ năm 1990 đến nay
Bảng 9 Bảo hiểm bồi thờng tổn thất cho hàng hóa XNK ở Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 1994 - 2000 (Trang 72)
Bảng 12: Các điều kiện bảo hiểm cho một số loại hàng hoá XNK phổ biến - Thực trạng về rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK của các doanh nghiệp việt nam từ năm 1990 đến nay
Bảng 12 Các điều kiện bảo hiểm cho một số loại hàng hoá XNK phổ biến (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w